1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng việt nam

111 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng Việt Nam
Tác giả Lương Huyền Thương
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Đăng Tài
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu số liệu về xuất, nhập khẩu để phân tích thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam trong những năm từ 1986 đến nay và liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế khác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÂM HỤT

CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

Họ tên sinh viên : Lương Huyền Thương

Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đăng Tài

Hà Nội, tháng 5/2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

I Tính cấp thiết của đề tài 1

II Mục đích nghiên cứu của đề tài 1

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

IV Phương pháp nghiên cứu 2

V Cấu trúc của luận văn: 2

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 4

I Cán cân thương mại 4

1 Cán cân thanh toán quốc tế 4

1.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế 4

1.2 Nội dung kết cấu của Cán cân thanh toán quốc tế 6

1.2.1 Cán cân vãng lai (Tài khoản vãng lai - Current account) 6

1.2.2 Cán cân vốn và tài chính (Capital and Financial account) 7

1.2.3 Lỗi và sai sót (Net errors and omissions) 8

1.2.4 Cán cân tổng thể (Overall balance – OB) 9

1.2.5 Cán cân bù đắp chính thức (Official financing balance – OFB) 9 2 Cán cân thương mại (Trade balance - TB) 10

II Thâm hụt cán cân thương mại và các nhân tố ảnh hưởng 11

1 Thâm hụt cán cân thương mại và những tác động của thâm hụt cán cân thương mại 11

1.1 Thâm hụt cán cân thương mại 11

1.2 Những tác động của thâm hụt cán cân thương mại 11

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng cán cân thương mại 12

2.1 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước 12

2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 13

2.3 Chính sách thương mại của quốc gia 16

2.4 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 17

Trang 3

2.5 Lạm phát 18

2.6 Giá hàng hóa thế giới 18

2.7 Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước 20

2.8 Ngân sách nhà nước 20

2.9 Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và thế giới 21

III Kinh nghiệm cân bằng cán cân thương mại của một số nước trên thế giới 21

1 Trung Quốc 21

2 Mỹ 23

3 Thái Lan 25

4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc cải thiện cán cân thương mại 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐO ẠN HIỆN NAY 30

I Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam 30

1 Giai đoạn từ 1986 đến khi gia nhập WTO 30

2 Giai đoạn từ khi gia nhập WTO đến nay 38

II Phân tích thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay 42

1 Về chủ thể xuất, nhập khẩu 42

2 Về cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu 44

2.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 44

2.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 49

3 Về các thị trường xuất, nhập khẩu chính 53

3.1 Các thị trường xuất khẩu chính 53

3.2 Các thị trường nhập khẩu chính 58

III Nguyên nhân thâm hụt cán cân thương mại c ủa Việt Nam trong thời gian qua 62

1 Nguyên nhân khách quan 62

2 Nguyên nhân chủ quan 68

Trang 4

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU THÂM HỤT CÁN

CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 71

I Nhận định xu hướng xuất nhập khẩu trong thời gian tới 71

1 Năm 2010 71

2 Từ năm 2011 đến 2015, tầm nhìn 2020 72

II Một số gi ải pháp đề xuất nhằm khắc phục tình trạng thâm h ụt cán cân thương mại của Việt Nam 75

1 Nhóm giải pháp từ phía chính phủ và các cơ quan chức năng 75

1.1 Hoàn thiện chính sách thương mại 75

1.1.1 Chính sách xúc tiến thương mại 75

1.1.2 Cải thiện chất lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu 76

1.1.3 Hạn chế nhập khẩu 78

1.2 Hoàn thiện chính sách tiền tệ 79

1.3 Hoàn thiện chính sách tài khóa 81

1.4 Hoàn thiện chính sách đầu tư, đặc biệt là chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nước và nước ngoài 82

1.5 Nâng cao năng lực điều hành của chính phủ 83

1.6 Cải thiện cán cân thương mại với Trung Quốc 84

1.6.1 Hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc 84

1.6.2 Đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc 85

1.6.3 Giải pháp về biên mậu 88

1.6.4 Giải pháp khác 89

2 Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp 90

2.1 Tổ chức lại sản xuất kinh doanh phù hợp với tình trạng khó khăn hiện nay 90

2.2 Xây dựng chiến lược thị trường, chiến lược phát triển trong hội nhập 91

2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh 92

Trang 5

2.4 Tiến hành sản xuất theo các tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo chất

lượng 92

2.5 Đề cao văn hóa trong kinh doanh, xây dựng truyền thống và uy tín doanh nghiệp 93

2.6 Mở rộng liên doanh, liên kết 94

2.7 Nâng cao năng lực quản trị tài chính đối với hoạt động xuất nhập khẩu 94

3 Một số giải pháp khác 96

3.1 Phát triển nguồn nhân lực 96

3.2 Phát huy vai trò của các hội, hiệp hội ngành nghề 97

3.3 Vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 98

KẾT LUẬN 99

Trang 6

Balance of Payments and

International Investment Position

Manual, sixth edition (2008)

Euro

Foreign Direct Investment

Free Trade Area

Great Britain Pound

International Monetary Fund

Cán cân thanh toán quốc tế Công nghiệp

Đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiệp định thương mại tự do

(Quỹ tiền tệ quốc tế)

Ngân hàng Nhà nước Liên hiệp quốc

Xã hội chủ nghĩa Ngân hàng thế giới

Trang 7

BẢNG DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 1- Chỉ số phát triển xuất nhập khẩu theo giai đoạn

Bảng 2 - Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu theo kế hoạch nhà nước

Bảng 3 - Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu theo kế hoạch nhà nước

Bảng 4 - Thâm hụt cán cân thương mại theo chủ thể

Bảng 5 - Lượng, kim ngạch, tốc độ tăng/giảm xuất khẩu thuỷ sản năm 2009 so với năm 2008

Biểu đồ 1 - Cán cân thương mại Trung Quốc (2000- 2009)

Biểu đồ 2 - Cán cân thương mại Mỹ (2000- 2009)

Biểu đồ 3 - Cán cân thương mại Thái Lan (2000- 2009)

Biểu đồ 4 - Giá trị xuất nhập khẩu phân theo châu lục (1986- 2006)

Biểu đồ 5 - Cơ cấu hàng xuất khẩu theo giai đoạn

Biểu đồ 6 - Trị giá xuất khẩu theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương (SITC) Biểu đồ 7 - Trị giá nhập khẩu hàng hoá theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương (SITC)

Biểu đồ 8 - Giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại từ 1986 đến 2006 Biểu đồ 9 - Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo cơ cấu kế hoạch nhà nước Biểu đồ 10 - Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo cơ cấu kế hoạch nhà nước Biểu đồ 11 - Trị giá xuất nhập khẩu và cán cân thương mại từ 2007-2009

Biểu đồ 12 - Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính năm 2009

Biểu đồ 13 - Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực từ 2007-2009

Biểu đồ 14 - Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chính năm 2009

Biểu đồ 15 - Lượng nhập khẩu ô tô từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009

Biểu đồ 16 - Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chính từ 2007 – 2008 Biểu đồ 17 - Cơ cấu xuất khẩu vào thị trường ASEAN năm 2009

Biểu đồ 18 - Kim ngạch nhập khẩu vào các thị trường chính từ 2007 – 2008 Biểu đồ 19 - Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009

Trang 8

1

LỜI NÓI ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại, diễn ra ngày càng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đã mở cửa hội nhập và thu được nhiều thành công, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, càng phát triển các quốc gia càng phụ thuộc lẫn nhau Để nắm bắt được những cơ hội cũng như chủ động đối phó với các thách thức trong quá trình hội nhập, Việt Nam cần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán quốc tế nói chung và cán cân thương mại nói riêng luôn là biến số kinh tế vĩ mô quan trọng đối với việc hoạch định chiến lược, chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Giữ vị trí quan trọng nhất trong cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại thâm hụt thường dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế Do đó, thâm hụt thương mại lâu dài với mức độ lớn dễ gây ra khủng hoảng cán cân vãng lai, nguy hại tới an ninh tài chính quốc gia

Theo số liệu Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại của Việt Nam thường xuyên trong tình trạng thâm hụt Trong 10 năm trở lại đây, thâm hụt thương mại đỉnh điểm lên tới 18 tỷ USD (năm 2008), gấp gần 90 lần mức thâm hụt 201 triệu USD của năm 1999 Khi nền kinh tế thế giới bắt đầu lâm vào khủng hoảng cũng là lúc nhiều cam kết của Việt Nam về việc gia nhập WTO phải triển khai, điều đó đã tác động lớn đến cán cân thương mại của Việt Nam Đặc biệt, năm 2009, tỷ lệ thâm hụt so với GDP khá cao, có thể gây ra mất cân đối kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn

Vì vậy, ngoài việc thấy rõ thực trạng cán cân thương mại của đất nước, Việt Nam cần phải kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục trên cơ sở nhận dạng đúng bản chất của thâm hụt cán cân thương mại

II Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu với những mục tiêu sau:

 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại và cách thức điều

chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới

Trang 9

2

 Đánh giá tình hình cán cân thương mại của Việt Nam từ sau công cuộc đổi mới

1986 đến nay và phân tích kỹ về thực trạng năm 2009, từ đó tìm ra nguyên nhân gây nên thâm hụt thương mại của Việt Nam

 Dựa trên kinh nghiệm của một số nước và những phân tích về thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam, đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp nhằm khắc phục tình trạng thâm hụt thương mại hiện nay

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của cán cân thương mại và các biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Về mặt lý thuyết, nghiên cứu vị trí của cán cân thương mại trong cán cân thanh toán quốc tế, cấu tạo và các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại, phương thức điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới Về mặt thực tiễn, nghiên cứu số liệu về xuất, nhập khẩu để phân tích thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam trong những năm từ 1986 đến nay và liên

hệ với các chỉ tiêu kinh tế khác để tìm ra nguyên nhân của thâm hụt thương mại Trên cơ sở đó, đưa ra các biện pháp, cơ chế thích hợp điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam, đảm bảo sự phát triển cân đối bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

IV Phương pháp nghiên cứu

Với những mục tiêu trên, khoá luận này sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, nghiên cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp và phân tích, kết hợp với những kết quả thống

kê, vận dụng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

V Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về cán cân thương mại và thâm hụt cán cân

thương mại

Nội dung của chương I đề cập đến những lý thuyết chung nhất về cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân

Trang 10

3

thương mại và phương pháp điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới

Chương II: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay

Chương này nói về tình trạng cán cân thương mại Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, trong đó tập trung phân tích cơ cấu chủ thể, mặt hàng, thị trường xuất khẩu, nhập khẩu năm 2009; trên cơ sở đó, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua

Chương III: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt cán cân thanh toán

quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới

Chương ba, dựa trên những phân tích ở chương hai kết hợp với bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đưa ra một số giải pháp mang tính gợi ý hướng tới cải thiện cán cân thương mại mà vẫn thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Đăng Tài đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Dù đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc triển khai đề tài, em rất mong nhận được sự thông cảm

và góp ý của thầy cô và các bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Trang 11

4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG

MẠI VÀ THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI

I Cán cân thương mại

1 Cán cân thanh toán quốc tế

1.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế

Trước chiến tranh thế giới II, mỗi quốc gia biên lập cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) theo cách riêng của mình Sau khi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được thành lập và công bố một mẫu CCTTQT thống nhất áp dụng cho các nước thành viên, hầu hết các quốc gia đều thấy mẫu này đơn giản, khoa học nên cùng áp dụng

Theo quan điểm của IMF được trình bày trong Balance of Payments and

International Investment Position Manual (BPM6), cán cân thanh toán quốc tế (the

balance of payments) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm mục hàng hóa và dịch vụ (the goods and services account), mục thu nhập cơ bản (the primary income account), mục thu nhập thứ yếu (the secondary income account), tài khoản vốn ( the capital account) và tài khoản tài chính (the financial account) 1

Ngoài ra, chúng ta còn có thể tìm hiểu về cán cân thanh toán qua những sách kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế, thanh toán quốc tế Các định nghĩa về cán cân thanh toán quốc tế trong những tài liệu này cơ bản là giống nhau: “cán cân thanh toán quốc tế (The Balance of Payments – viết tắt là BOP hay BP) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại giá trị tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm”2

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật về cán cân thanh toán quốc tế Tuy nhiên, các quy định và hướng dẫn thi hành vẫn theo BPM5

mà IMF ban hành năm 1993 Cụ thể:

Trang 12

5

 Điều 4.17 Pháp lệnh ngoại hối 2005: “CCTTQT là bảng cân đối tổng hợp thống kê một cách có hệ thống toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa Việt Nam và các nước khác trong 1 khoảng thời gian nhất định”

 Điều 1 Nghị định số 164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về quản

lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, “Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (sau đây gọi tắt là cán cân thanh toán) là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú trong một thời kỳ nhất định.”

Trong các định nghĩa trên, chúng ta đều gặp thuật ngữ “giao dịch kinh tế” (giao dịch), “người cư trú” và “người không cư trú”:

"Giao dịch kinh tế là các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập về đầu tư chuyển giao vãng lai một chiều, chuyển giao vốn một chiều, chuyển vốn vào Việt Nam, chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ giữa Người cư trú với Người không cư trú".3

Về khái niệm “người cư trú” và “người không cư trú”, mỗi quốc gia đều hiểu theo luật định và tương đối thống nhất Căn cứ xác định “người cư trú” hay “không

cư trú” chủ yếu dựa vào quy định thời gian sinh sống, làm việc liên tục, cần thiết tại quốc gia đó của nước sở tại, thường là 1 năm (hoặc hơn 6 tháng) Tại Việt Nam, khái niệm “người cư trú” và “người không cư trú” được quy định tại khoản 2 và 3 Điều 3 Nghị định 164/1999/NĐ-CP Trong thực tế cần chú ý rằng các tổ chức quốc

tế như IMF, WB, UN là người không cư trú đối với mọi quốc gia; các đại sứ quán,

căn cứ quân sự nước ngoài, các lưu học sinh, khách du lịch bất kể thời hạn cư trú đều là người không cư trú; đối với các công ty đa quốc gia để tránh trùng lặp thì các chi nhánh của công ty đặt tại nước nào thì được coi là người cư trú của nước đó

3

Khoản 1, Điều 3 của Nghị định 164/1999/NĐ-CP

Trang 13

6

1.2 Nội dung kết cấu của Cán cân thanh toán quốc tế

Tất cả các giao dịch của nền kinh tế (không kể NHNN) được phản ánh tại cán

cân tổng thể (Overall Balance – OB) Tất cả các hoạt động can thiệp của NHNN được phản ánh tại cán cân bù đắp chính thức (Official Financing Balance – OFB)

Các giao dịch của nền kinh tế rất phong phú và đa dạng nên cán cân tổng thể được tổng hợp từ nhiều cán cân bộ phận Theo BPM5, OB gồm hai cán cân chính là cán

cân vãng lai (Current account – CA), cán cân vốn và tài chính (Capital and

financial account) Theo BPM6, OB gồm ba cán cân lớn là cán cân vãng lai, cán

cân vốn và cán cân tài chính Tuy nhiên, do cấu trúc cán cân thanh toán theo BPM6 (chi tiết tham khảo BPM6 p301-308) chưa được áp dụng tại Việt Nam nên trong khuôn khổ bài luận văn, nội dung của CCTTQT vẫn được trình bày như BPM5 1.2.1 Cán cân vãng lai (Tài khoản vãng lai - Current account)

“Cán cân vãng lai được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật”. 4

Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ); còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen)

Theo BPM5 do IMF biên soạn, tài khoản vãng lai bao gồm:

 Cán cân thương mại (Trade Balance): Phản ánh chênh lệch giữa các khoản

thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa Các khoản thu từ xuất khẩu được phản ánh bên “Có” với dấu “+” và chi cho nhập khẩu hàng hoá ghi ở bên “Nợ” với dấu “-” Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng của cán cân thương mại như: tỷ giá, lạm phát, giá cả hàng hoá, chính sách thương mại

4

Khoản 1, Điều 6- Nghị định 164/1999/NĐ-CP

Trang 14

7

 Cán cân dịch vụ (Servies): Bao gồm các khoản thu, chi từ các hoạt động dịch

vụ về vận tải, tài chính, viễn thông, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác Các dịch

vụ cung ứng cho người không cư trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ, được ghi vào bên “Có” với dấu “+” và các dịch vụ nhận cung ứng phát sinh cầu ngoại tệ sẽ ghi vào bên “Nợ” với dấu “-” Giá trị dịch vụ xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố bao gồm: Thu nhập, tỷ giá, giá cả dịch vụ và các yếu tố về tâm

lý, chính trị, xã hội

 Cán cân thu nhập (Incomes): Bao gồm những khoản thu nhập của người lao

động (tiền lương, thưởng) và thu nhập từ đầu tư (lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và không cư trú) Các khoản thu nhập của người cư trú được trả bởi người không cư trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ nên được ghi vào bên “Có” với dấu “+”; ngược lại, các khoản chi trả cho người không cư trú sẽ làm phát sinh cầu ngoại tệ, được ghi vào bên “Nợ” với dấu “-” Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập bao gồm quy mô thu nhập (mức tiền lương, thưởng, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và lãi suất) và các yếu tố thuộc môi trường kinh

tế, chính trị, xã hội

 Cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers): Bao gồm những khoản

viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa người cư trú và không cư trú; phản ánh sự phân phối lại thu nhập Các khoản thu (nhận) phát sinh cung ngoại tệ/cầu nội tệ nên được ghi vào bên “Có” với dấu “+”; Ngược lại, các khoản chi (cho) phát sinh cầu ngoại tệ/cung nội tệ nên được hạch toán vào bên “Nợ” với dấu “-” Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị - xã hội

và ngoại giao giữa các nước

1.2.2 Cán cân vốn và tài chính (Capital and Financial account)

“Cán cân vốn và tài chính được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh

tế giữa người cư trú với người không cư trú về chuyển vốn từ nước ngoài vào Việt

Trang 15

8

Nam và chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu

tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, chuyển giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ”.5

Tuy gồm hai phần cơ bản là tài khoản vốn và tài khoản tài chính nhưng trên thực

tế, tài khoản vốn thường bị coi là phụ so với tài khoản tài chính

Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) bao gồm các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú về tài sản phi tài chính, phi sản xuất (như bằng sáng chế, bản quyền, và giấy phép) và về chuyển giao vốn Những giao dịch này được tách ra từ các giao dịch ghi trong tài khoản vãng lai vì không liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất và tiêu dùng Ta có thể hiểu tài khoản vốn của cán cân thanh toán đồng nghĩa với tài khoản vốn của tài khoản quốc gia

Tài khoản tài chính ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính và những khoản

nợ Các giao dịch trong tài khoản tài chính được phân loại theo: (1) loại có chức năng đầu tư (đầu tư trực tiếp, đầu tư danh mục, đầu tư khác và tài sản dự trữ); (2) tài sản và nợ hoặc hướng đầu tư (trong trường hợp đầu tư trực tiếp); (3) loại công cụ (ví dụ: chứng khoán cổ phần, chứng khoán nợ và khoản vay); ngoài ra, trong một số trường hợp còn có (4) khu vực kinh tế trong nước và (5) hợp đồng gốc đến hạn Trong tương lai, tài sản tài chính và nợ sẽ được chia thành 3 mục hợp lý hơn: (1)

cổ phần và cổ phiếu quỹ đầu tư, (2) công cụ nợ và (3) tài sản tài chính và nợ khác (theo BPM6)

1.2.3 Lỗi và sai sót (Net errors and omissions)

Do việc ghi chép đầy đủ, chính xác và thu thập được số liệu toàn bộ các giao dịch trong nền kinh tế rất khó thực hiện nên giữa phần ghi chép được và thực tế có những khoảng cách Ngoài ra, những ghi chép của những khoản thanh toán hoặc hoá đơn quốc tế được thực hiện vào những thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau và có thể bằng những phương pháp khác nhau Từ đó, cơ sở xây dựng những

5

Khoản 2, Điều 6- Nghị định 164/1999/NĐ-CP

Trang 16

9

thống kê của CCTTQT chắc chắn không hoàn hảo, dẫn đến những sai số thống kê

Vì vậy, khoản mục này phản ánh phần chênh lệch do sai sót thống kê của tất cả các hạng mục trong cán cân thanh toán

OB + OFB = 0 OB = -OFB CA + K + OM = -OFB

 OM = -(CA + K + OFB)

Vì cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được xác định (thể hiện là một số cụ thể) nên trong thực tế lập CCTTQT, đẳng thức trên được

áp dụng để tính số dư lỗi và sai sót

1.2.4 Cán cân tổng thể (Overall balance – OB)

“Cán cân tổng thể là tổng hợp của cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính”6

Trong thực tế, công tác thống kê không thể đạt mức chính xác tuyệt đối Vì vậy, cán cân tổng thể trong thống kê được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai, cán cân vốn và hạng mục sai sót:

Cán cân tổng thể = Cán cân vãng lai + Cán cân vốn + Lỗi và sai sót

1.2.5 Cán cân bù đắp chính thức (Official financing balance – OFB)

Theo khoản 4, điều 6 Nghị định 164/1999/NĐ-CP, cán cân bù đắp chính thức (gọi là phần bù đắp) “được tổng hợp trên cơ sở những thay đổi trong tài sản có ngoại tệ ròng, thay đổi về nợ quá hạn và các nguồn tài trợ khác” Cán cân bù đắp chính thức gồm thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia, tín dụng với IMF và các ngân hàng Trung ương khác; thay đổi dự trữ của các ngân hàng Trung ương khác bằng đồng tiền của quốc gia lập cán cân thanh toán Trong đó, dự trữ ngoại hối quốc gia đóng vai trò quyết định nên để đơn giản trong phân tích, ta coi mục dự trữ ngoại hối chính là cán cân bù đắp chính thức

Dự trữ ngoại hối quốc gia (thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ) là lượng ngoại tệ mà NHNN hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY, ) nhằm mục đích

6

Theo khoản 3, điều 6 Nghị định 164/1999/NĐ-CP

Trang 17

10

thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia Ngoại hối có thể được dự trữ dưới hình thức: tiền mặt; số dư của tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài; hối phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế; vàng và các loại ngoại hối khác

Hình dung quốc gia Việt Nam được chia thành hai bộ phận NHNN và nền kinh

tế (phần còn lại không bao gồm NHNN) với tiêu chí: NHNN có chức năng can thiệp cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, còn nền kinh tế không có chức năng can thiệp Theo quy tắc lập CCTTQT trên cơ sở của nền kinh tế, các hoạt động can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế được xem là quan hệ giữa người cư trú với người không cư trú Khi NHNN can thiệp bán ngoại tệ ra, làm cho dự trữ ngoại hối giảm; làm tăng cung nội tệ cho nền kinh tế, ta phải ghi có (+) Khi NHNN can thiệp mua ngoại tệ vào làm cho dự trữ ngoại hối tăng, làm tăng cầu ngoại tệ đối với nền kinh tế, ta phải ghi nợ (-) Cách lí giải trên giúp ta hiểu rõ, tránh được nhầm lẫn trong hạch toán mục dự trữ ngoại hối Thực tế, do áp dụng nguyên tắc hạch toán kép nên CCTTQT luôn được cân bằng Vì vậy, tổng của cán cân tổng thể và cán cân bù đắp chính thức phải luôn luôn bằng 0 (OB + OFB = 0  OB = - OFB) hay số dư của OFB bằng với số dư của OB nhưng trái dấu Cụ thể, khi cán cân tổng thể thâm hụt (-) thì cán cân bù đắp chính thức dương vì NHNN tiến hành bán ngoại tệ ra (dự trữ ngoại hối giảm) nhằm tăng cung ngoại tệ cho nền kinh tế Ngược lại, khi cán cân tổng thể thặng dư (+) thì cán cân bù đắp chính thức âm do NHNN tiến hành mua ngoại tệ (dự trữ ngoại hối tăng) nhằm tăng cầu ngoại tệ của nền kinh tế

2 Cán cân thương mại (Trade balance - TB)

Cán cân thương mại (cán cân hữu hình) là một bộ phận trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) hay mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng

Trang 18

11

Cán cân thương mại còn có thể hiểu là sự chênh lệch giữa sản lượng hàng hóa của một quốc gia và nhu cầu nội địa của nó (chênh lệch giữa các hàng hóa mà quốc gia đó sản xuất được và số lượng hàng hóa quốc gia đó mua từ nước ngoài; không bao gồm số tiền dùng để tái đầu tư vào chứng khoán nước ngoài và không bao gồm khái niệm hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất cho thị trường nội địa)

II Thâm hụt cán cân thương mại và các nhân tố ảnh hưởng

1 Thâm hụt cán cân thương mại và những tác động của thâm hụt cán cân thương mại

1.1 Thâm hụt cán cân thương mại

Trong cán cân thương mại, các khoản ghi nợ bao gồm nhập khẩu, trợ cấp cho nước ngoài, tiêu dùng và đầu tư của nước đó ở nước ngoài; các khoản ghi có bao gồm xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư của nước ngoài tại nước đó Khi mức chênh lệch giữa tổng các khoản ghi có và ghi nợ đúng bằng 0, cán cân thương mại cân bằng Khi mức chênh lệch lớn hơn 0 thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, cán cân thương mại thâm hụt

Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại nên khi cán cân thương mại thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại

1.2 Những tác động của thâm hụt cán cân thương mại

Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là phần quan trọng nhất và cũng là bộ phận chính cấu thành nên cán cân vãng lai Do đó, thâm hụt cán cân thương mại thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đe dọa tới cán cân tổng thể hoặc tăng gánh nặng nợ nước ngoài, dễ bùng phát khủng hoảng cán cân vãng lai, nguy hại tới an ninh tài chính quốc gia Khi thâm hụt thương mại của một nước trở nên trầm trọng, Chính phủ nước đó sẽ phải đối mặt với thách thức tăng lượng dự trữ ngoại tệ hay tín dụng để giải quyết vấn đề cân bằng CCTTQT Đồng thời, vẫn phải

Trang 19

12

thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm khôi phục lòng tin của nhà đầu tư Việc thắt chặt tiền tệ để hạn chế nhập siêu là biện pháp đúng đắn mà nhiều quốc gia lựa chọn Tuy nhiên, nó cũng có thể tạo ra áp lực với ngành ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn trong cuộc cạnh tranh lãi suất căng thẳng Về lâu dài, một số nước thường kiềm chế nhập siêu bằng đẩy mạnh xuất khẩu và thực hiện chiến lược công nghiệp hóa mở rộng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu; đồng thời cân bằng cán cân thanh toán qua việc huy động các nguồn tiết kiệm dài hạn, phát triển mạnh thị trường chứng khoán

Tuy nhiên, thâm hụt cán cân thương mại không phải luôn là vấn đề đáng lo ngại Trong thời kì tăng trưởng, các nước nhập khẩu nhiều hơn, tạo nên sự cạnh tranh về giá, từ đó kiềm chế lạm phát và vẫn có thể cung cấp hàng hóa vượt khả năng của nền kinh tế mà không cần tăng giá nhiều Vì vậy, thâm hụt cán cân thương mại có tác dụng tích cực (ngược lại với trong thời kì khủng hoảng) Ngoài ra, với một số nước đặc biệt là những quốc gia phát triển, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu

tư tốt, đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu thì thâm hụt thương mại cao có thể là tiền đề của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo

Mặt khác, vì cán cân thương mại có thể cho biết xu hướng vận động của cán cân vãng lai, mức độ mở cửa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nên tình trạng thâm hụt hay thặng dư của cán cân thương mại ảnh hưởng trực tiếp và nhanh chóng đến cung, cầu, giá cả hàng hoá và sự biến động của tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, tiếp đó tác động đến cung cầu nội tệ và lạm phát trong nước

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng cán cân thương mại

2.1 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia, ảnh hưởng đến cán cân thương mại Nếu hàng hóa sản xuất trong nước của một quốc gia có năng lực cạnh tranh cao, có lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế thì sẽ chiếm lĩnh được

Trang 20

 Tính đa dạng của hàng hóa đó tại thị trường nước ngoài: Nếu thị trường nước ngoài có các hàng hóa tương tự hoặc có giá trị thay thế tương đương thì nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng do sự cạnh tranh giữa các mặt hàng cùng loại hay có khả năng thay thế

 Nhóm nhân tố liên quan đến chất lượng, thương hiệu, kênh phân phối, thị hiếu thị trường của hàng hóa xuất khẩu Đây là nhóm nhân tố cơ bản, tạo ra sức mạnh bền vững cho năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường nước ngoài

 Các nhân tố liên quan đến giá cả gồm chi phí đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu, năng suất lao động trong ngành sản xuất hàng xuất khẩu và tỷ giá hối đoái

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc

tế, mỗi quốc gia cần phải thực hiện đồng bộ nhiều chính sách, chú trọng đến các yếu

tố có ảnh hưởng khác như: tỷ giá hối đoái, chính sách thương mại, chính sách thu hút đầu tư của chính phủ, giá hàng hóa thế giới

2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái

Ba trường phái kinh tế lớn đã nghiên cứu mối quan hệ này, đặc biệt là ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với cán cân thương mại:

 Lý thuyết co giãn (the elasticity appoach)

Đây là cách tiếp cận ra đời sớm nhất, cho thấy sự tồn tại về mặt lý thuyết mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Theo thuyết này, phá giá danh nghĩa đồng nội tệ có thể cải thiện cán cân thương mại Alfred Marshall và Abba Lerner cho rằng phá giá tiền tệ sẽ tạo ra hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng lên xuất khẩu hàng hóa:

Trang 21

14

 Hiệu ứng giá cả: tỷ giá tăng lên giúp các nhà xuất khẩu có thể giảm giá hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ mà không làm giảm doanh thu bán hàng xuất khẩu tính ra đồng nội tệ (dù tổng kim ngạch xuất khẩu khi tính bằng ngoại tệ giảm đi

so với trước)

 Hiệu ứng khối lượng: phá giá đồng nội tệ làm giá hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, nhờ đó tổng kim ngạch xuất khẩu có thể tăng lên

Hiệu ứng ròng của tác động tỷ giá hối đoái lên tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng khối lượng hay hiệu ứng giá cả Ảnh hưởng của tỷ giá tới kim ngạch nhập khẩu cũng được giải thích tương tự

Mối tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu (nhập khẩu) và tỷ giá hối đoái được

biểu thị bằng hệ số co giãn của xuất khẩu (nhập khẩu) với tỷ giá η x (η m):

η x = dXX / dEE và η m = dMM / dEE  dTB/dE = M (x + m - 1)

(Trong đó: X, M là tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; TB là cán cân thương mại; E là tỷ giá hối đoái)

Từ đó, Marshall và Lerner đã đưa ra điều kiện để phá giá tiền tệ có thể cải thiện

cán cân thương mại: tổng hệ số co giãn xuất khẩu và hệ số co giãn nhập khẩu với tỷ

giá phải lớn hơn 1 Khi tổng này nhỏ hơn 1, phá giá sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề

của cán cân thương mại, còn khi tổng hai hệ số này bằng 1, phá giá sẽ không có tác dụng đối với cán cân thương mại

 Lý thuyết chi tiêu (the absorption approach)

Cách tiếp cận này cho rằng cân bằng cán cân thương mại chỉ được cải thiện khi thu nhập quốc dân vượt quá tổng chi tiêu của một quốc gia Lý thuyết này phân tích nền kinh tế từ góc độ tổng chi tiêu, đặc biệt là ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá đối với thu nhập và chi tiêu, cuối cùng đến cán cân thương mại:

Y = C + I + G + (X – M) (1)

Với tổng chi tiêu nội địa A = C + I + G

 cán cân thương mại TB = X – M = Y – A = - If (2)

Trang 22

Các nhà kinh tế đã phát triển lý thuyết này với việc phân tích các yếu tố nằm bên trong tổng thu nhập quốc dân:

 (Y – C – T) – I + (T – G) = (X – M) (T là thuế)

(SD – I) + (T – G) = (X – M)  (S – I) = (X – M) (3)

Trong đó: S là tiết kiệm, SD – I là tiết kiệm ròng của khu vực tư nhân

(2) & (3)  TB = (S – I) tức là tiết kiệm quốc dân ròng (tiết kiệm tư nhân ròng cộng với thặng dư ngân sách nhà nước) bằng với thặng dư cán cân thương mại Giả sử điều kiện Marshall Lerner được thỏa mãn, phá giá tiền tệ làm xuất khẩu ròng tăng lên, khiến cầu tiền cũng tăng trong khi cung tiền không đổi Điều này làm tỷ giá hối đoái tăng, khiến giá tăng theo làm giảm xuất khẩu ròng Mức giá tăng sẽ tạo hiệu ứng thực làm tiết kiệm quốc dân giảm (do chi tiêu bị cắt giảm) đồng nghĩa với làm cán cân thương mại tồi tệ hơn Dù vậy, hiệu ứng thực thường mất một thời gian mới có hiệu lực Trên thực tế, nếu chính phủ muốn cải thiện cán cân thương mại thì các nước thường sử dụng các công cụ cắt giảm chi tiêu hoặc thay đổi cơ cấu chi tiêu Tuy nhiên, khi chính phủ cắt giảm chi tiêu, thu nhập quốc dân cũng giảm

Vì vậy, công cụ này chỉ có ý nghĩa khi tổng chi tiêu giảm nhanh hơn tổng thu nhập

 Lý thuyết của trường phái tiền tệ (the monetary approach)

Lý thuyết này đã bổ sung thiếu sót cho hai lý thuyết trên khi chú ý đến tác động của cung tiền đối với mất cân bằng trong cán cân thanh toán Giả sử một quốc gia tiến hành phá giá tiền tệ Phá giá làm tăng mức giá nội địa, nếu mức giá cả trong nước cũng tăng lên tương ứng thì giá cả của hàng hóa ở nước ngoài không đổi nên không có sự thay đổi cầu tiền của nước ngoài Tuy nhiên, nếu mức giá trong nước không tăng nhanh bằng tỷ lệ phá giá thì mức giá nước ngoài sẽ giảm, khiến cầu tiền

Trang 23

16

nước ngoài cũng giảm Sau khi phá giá, cán cân thương mại sẽ thặng dư nhưng chỉ trong ngắn hạn Do lượng cung tiền trong nước sẽ phải tăng lên để thỏa mãn nhu cầu tiền cao hơn do giá tăng nên cuối cùng nền kinh tế sẽ quay trở lại trạng thái ban đầu với mức giá thấp hơn (tuy vẫn cao hơn mức giá ban đầu) Như vậy, ảnh hưởng của phá giá đối với cán cân thương mại chỉ là tạm thời

2.3 Chính sách thương mại của quốc gia

Chính sách thương mại bao gồm các nguyên tắc, công cụ và biện pháp tích cực

mà chính phủ áp dụng để điều chỉnh các hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia Về cơ bản, chính sách thương mại chia làm hai loại: bảo hộ và tự do hóa Chính sách bảo hộ thương mại thường được thực hiện nhằm mục tiêu cải thiện cán cân thương mại Chính sách này ban đầu có tác dụng làm giảm nhập khẩu hàng hóa bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng hàng hóa và dịch

vụ được phép nhập khẩu; qua đó giảm thâm hụt thương mại Tuy nhiên, trong chế

độ tỷ giá thả nổi, chính sách bảo hộ thương mại sẽ làm tăng giá đồng nội tệ và có thể dẫn đến giảm xuất khẩu; điều này khiến cán cân thương mại có thể không thay đổi Trong chế độ tỷ giá cố định, cung tiền phải tăng lên làm tăng tổng cầu và thu nhập, khiến nhập khẩu tăng; kết quả là giảm sự cải thiện cán cân thương mại ban đầu Mặt khác, việc áp dụng các công cụ và biện pháp hạn chế thương mại dễ gây phản ứng trả đũa từ các quốc gia đối tác như áp dụng thuế quan, hạn ngạch với hàng xuất khẩu của quốc gia đó Cuối cùng, cả nhập khẩu và xuất khẩu đều bị thu hẹp, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế Đồng thời sự bảo hộ

dễ khiến các doanh nghiệp trong nước mất đi tính cạnh tranh quốc tế, việc này xét

về dài hạn không hề có lợi

Xu thế hiện nay là tự do hóa thương mại vì nó đem lại lợi ích cho tất cả các nước, cho phép mỗi nước chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm có hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí sản xuất và cung ứng cho mỗi nước danh mục hàng hóa đa dạng hơn Chính sách tự do hóa thương mại gắn liền với việc cắt giảm các hàng rào hạn chế thương mại của các nước, làm tăng khối lượng xuất nhập khẩu của nền kinh

tế Theo lý thuyết co giãn với cán cân thanh toán, ảnh hưởng của chính sách tự do

Trang 24

17

hóa thương mại phụ thuộc vào mức độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu Nếu ảnh hưởng của chính sách tự do hóa được đo bằng đồng ngoại tệ thì doanh thu xuất khẩu sẽ tăng nếu hệ số co giãn lớn hơn 1 và chi phí nhập khẩu sẽ tăng nếu hệ số co giãn tuyệt đối nhỏ hơn 1 Theo phương pháp tiếp cận chi tiêu, ảnh hưởng của chính sách tự do hóa sẽ được hiện thực hóa thông qua thay đổi về thu nhập thực tế Khi thu nhập thực tế tăng, cán cân vãng lai có thể không được cải thiện nếu hệ số chi tiêu cận biên lớn hơn 1 Nếu chính sách tự do hóa thương mại làm giảm giá thì có thể làm tăng chi tiêu thực tế thông qua hiệu ứng thực, nhưng cũng có thể làm giảm chi tiêu thực tế nếu có sự phân phối lại thu nhập sang khu vực hàng hóa trao đổi, nơi khuynh hướng tiết kiệm cao hơn ở khu vực hàng hóa không trao đổi Theo cách tiếp cận của trường phái tiền tệ, chính sách tự do hóa thương mại có thể ảnh hưởng đến cả cung và cầu tiền

2.4 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Theo các nhà nghiên cứu, FDI và thương mại có thể có mối quan hệ hỗ trợ cũng như thay thế lẫn nhau Mối quan hệ hỗ trợ giữa FDI và thương mại thường được tìm thấy khi đầu tư nước ngoài theo chiều thẳng, tức là khi các Công ty đa quốc gia chia nhỏ quy trình sản xuất ở các nước khác nhau để cắt giảm chi phí Theo mô hình Helpman (1984), Grossman và Helpman (1991), sự khác biệt về lợi thế so sánh giữa các quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích cả thương mại và FDI; các mô hình này giải thích các dòng FDI từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển Quan hệ hỗ trợ cũng có thể xảy ra ở những quốc gia có những lợi thế so sánh, công nghệ giống nhau (Markusen, 1984) FDI thay thế thương mại khi đầu tư theo chiều ngang, có nghĩa các công ty đa quốc gia sản xuất cùng một loại hàng hóa và dịch vụ tại các nước khác nhau Khi các công ty đa quốc gia thay thế các doanh nghiệp trong nước, khối lượng thương mại sẽ giảm và FDI do đó sẽ thay thế thương mại Như vậy, chính sách thu hút FDI của quốc gia có thể ảnh hưởng lớn đối với cán cân thương mại của quốc gia đó

Ví dụ, một nước tập trung thu hút đầu tư vào khu vực sản xuất hàng xuất khẩu hoặc hàng phụ trợ cho hàng hóa xuất khẩu có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của

Trang 25

18

hàng hóa xuất khẩu, khai thác các lợi thế so sánh của quốc gia đó, khuyến khích hoạt động xuất khẩu Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều tìm hiểu ảnh hưởng của những thay đổi trong FDI đối với những thay đổi trong thương mại và ngược lại Nói cách khác, các nhà kinh tế nghiên cứu xem các thay đổi hệ thống đối với FDI có liên quan đến các thay đổi hệ thống trong thương mại hay không, đặc biệt xem có hay không mối quan hệ thay thế giữa thương mại và FDI

2.5 Lạm phát

Ảnh hưởng của lạm phát đối với cán cân thương mại thể hiện qua cơ chế giá Với điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn các nước khác có quan hệ mậu dịch, lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá cả đầu vào làm giá hàng xuất khẩu cao hơn trước, giảm lợi thế cạnh tranh, hạn chế xuất khẩu; lạm phát cũng làm hàng hóa trong nước đắt hơn so với hàng hóa nhập khẩu, từ đó khuyến khích nhập khẩu Nhập khẩu tăng, xuất khẩu giảm khiến cho cán cân thương mại xấu đi

Lạm phát tăng cũng làm cầu tiền tăng, tiết kiệm quốc dân giảm Theo lý thuyết chi tiêu, tiết kiệm quốc dân ròng (tiết kiệm tư nhân ròng cộng với thặng dư ngân sách nhà nước) bằng với thặng dư cán cân thương mại nên khi tiết kiệm quốc dân ròng giảm đi thì tình trạng của cán cân thương mại sẽ trở nên trầm trọng hơn

Ngoài ra, lạm phát tăng cũng ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia, đến hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến tổng cung của nền kinh tế (trong đó có cung xuất khẩu)

2.6 Giá hàng hóa thế giới

Giá cả luôn là nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị trường đối với một loại hàng hóa Đối với nền kinh tế nhỏ không tự xác định được mức giá hàng hóa cho mình thì giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu có thể có ảnh hưởng lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu và qua đó ảnh hưởng tới cán cân thương mại Khi giá hàng hóa sản xuất trong nước thấp hơn giá thế giới thì quốc gia đó có tính cạnh tranh tương đối về giá với các quốc gia khác sẽ khuyến khích hoạt

Trang 26

Điểm cân bằng tạm thời được lập tại B Tuy nhiên, giá dầu tăng cũng giảm thu nhập thực tế tại các nước nhập khẩu dầu, làm tổng tiết kiệm quốc dân ròng giảm Đường tiết kiệm quốc dân NS dịch chuyển xuống dưới Điểm cân bằng mới được lập tại C Do hiệu ứng Laursen-Metler, cán cân thương mại thâm hụt nhiều hơn điểm B, nhưng thu nhập quốc dân tăng lên do tăng tiêu dùng nội địa

Trang 27

20

2.7 Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước

Khi thu nhập trong nước tăng, cầu nhập khẩu tăng và làm xấu đi cán cân thương mại Ngược lại, khi thu nhập nước ngoài tăng, cầu xuất khẩu tăng nên khuyến khích hoạt động xuất khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại Như vậy, cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước trong khi đó, thu nhập nước ngoài và cán cân thương mại lại tỷ lệ thuận với nhau

2.8 Ngân sách nhà nước

Theo Sachs (1982) và Shefferin và Woo (1990):

CA = (S-I)khu vực tư + (S-I)khu vực công = tiết kiệm ròng tư + thặng dư ngân sách

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt cán cân thương mại và thâm hụt ngân sách (Darrat, 1998, Enders và Lee, 1990) Một số nghiên cứu khác lại chỉ tìm thấy một mối quan hệ kém thuyết phục hơn Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đối với thâm hụt cán cân thương mại vẫn còn thu hút được sự chú ý của các nhà kinh tế

Trang 28

21

2.9 Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và thế giới

Sự ổn định chính trị của một đất nước là cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế

Một quốc gia có tình hình chính trị ổn định thường có những chính sách nhất quán,

lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển Đây cũng là điều

kiện tiên quyết để các quốc gia khác tăng cường quan hệ kinh tế Bên cạnh đó, trong

điều kiện mở cửa và hội nhập, chính sách đối ngoại phù hợp cũng là yếu tố mở

đường cho mọi yếu tố khác phát triển

Toàn cầu hóa hiện nay đã làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế,

những ảnh hưởng mang tính dây chuyền của các cuộc khủng hoảng ngày càng trở

nên đáng lo ngại Cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra đã lan trên diện rộng,

không chỉ hoạt động ngân hàng, mà tất cả các nền kinh tế, các thị trường đều bước

vào thời kỳ suy thoái, khiến cầu giảm, gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu

III Kinh nghiệm cân bằng cán cân thương mại của một số nước trên thế giới

1 Trung Quốc

Trong thời kì nền kinh tế còn quản lý theo cơ chế kế hoạch tập trung, Trung

Quốc đã phải trải qua một thời gian dài bị thâm hụt cán cân thương mại Tuy nhiên,

nhận ra tính bất cập của cơ chế quản lý đó, Trung Quốc đã bắt đầu cải tổ và chuyển

đổi nền kinh tế từ năm 1979 Đến nay, nhờ mức tăng trư ởng xuất khẩu hàng năm

cao, Trung Quốc đã liên tục đạt thặng dư thương mại:

Biểu đồ 1 - Cán cân thương mại Trung Quốc (2000- 2009)

Trang 29

22

Nguồn: Key Indicators of Developing Asian and Pacific Countries of ADB 2008 7

Trung Quốc có được thành tựu như ngày nay phần lớn là nhờ Chính phủ Trung Quốc đã biết tận dụng các lợi thế cạnh tranh và quyền tự do xuất khẩu, thay đổi chính sách tỷ giá hối đoái

 Tận dụng lợi thế cạnh tranh và tự do hóa quyền xuất khẩu

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, Trung Quốc đã tái cơ cấu dây chuyền cung cấp

và đẩy mạnh sử dụng các nguồn lực từ nước ngoài Trung Quốc còn tận dụng tốt lợi thế nguồn nhân lực giá rẻ, dồi dào trong nước và những lợi thế cạnh tranh khác để xuất khẩu, đem lại thặng dư thương mại cho quốc gia Các nguồn vốn FDI đóng một vai trò quyết định trong việc thay đổi cơ cấu và cân bằng cán cân thương mại của Trung Quốc Nhờ vào các Công ty liên doanh và 100% vốn nước ngoài, Trung Quốc đã trở thành trung tâm chế biến hàng xuất khẩu lớn với dây chuyền sản xuất liên tục được đầu tư phát triển và mở rộng Điều này góp phần tăng sản lượng và doanh số bán hàng cho Trung Quốc, dần dần thay thế các sản phẩm nhập khẩu

 Hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái

Đầu những năm 1990, chính phủ Trung Quốc tiến hành phá giá đồng CNY Năm 1993, Trung Quốc hỗ trợ mạnh cho xuất khẩu (một đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế) nên đã định giá lại đồng CNY Từ 1994 đến ngày

21/7/2005, Trung Quốc ấn định tỷ giá ở mức 8,2-8,3 CNY/USD, coi đây là cơ chế

tỷ giá thả nổi có kiểm soát Theo nhận xét của Hiệp hội các doanh nghiệp của Mỹ (NAM), CNY bị giảm mất 40% so với giá trị thực và đã tạo ra môi trường kinh doanh không công bằng, giúp làm cho giá các mặt hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn, mang lại nhiều lợi thế cho Trung Quốc trong thu hút đầu tư Trước tình hình này,

Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác của Trung Quốc đã gây sức ép để đồng nhân dân tệ tăng giá Cuối cùng ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phải công bố thay

đổi chế độ tỷ giá vào cuối tháng 7/2005 Theo đó, tỷ giá sẽ được xác định dựa trên

một rổ các đồng tiền (ngày 9/8/2005, thành phần và tỷ trọng các đồng tiền được đưa

7

Số liệu năm 2008, 2009 theo Nhận định của Trung Quốc về cán cân thương mại

(http://www.bsc.com.vn/News/2010/4/2/87443.aspx)

Trang 30

23

ra, gồm 11 đồng tiền trong đó các đồng tiền chính là USD, EUR, JPY, KRW và các đồng GBP, RUR,THB cũng có mặt nhưng tỷ trọng nhỏ hơn nhiều) Ngoài ra, ngân hàng trung ương Trung Quốc cho phép biên độ dao động hàng ngày của các tỷ giá song phương là 0,3% Mặc dù tỷ giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá

đa phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần Từ tháng 7/2008, nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đưa đất nước thoát khỏi suy thoái kinh tế, Trung Quốc đã thực hiện "một cơ chế tỷ giá hối đoái đặc biệt" (duy trì tỷ giá 6,83 NDT/USD) mà sẽ bị bãi bỏ vào thời điểm thích hợp Ngoài ra, Trung Quốc còn điều chỉnh chính sách tiền tệ từ "siết chặt" sang "nới lỏng vừa phải" và triển khai gói kích thích kinh tế Những chính sách này đã giúp cho kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được đà tăng trưởng Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế so với các quốc gia bạn hàng Vì vậy, chính sách tỷ giá của Trung Quốc đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thặng dư của cán cân thương mại

2 Mỹ

Mỹ là một cường quốc kinh tế với kỹ thuật tiên tiến bậc nhất trên thế giới Tuy nhiên, Mỹ đã luôn công bố thâm hụt thương mại kể từ những năm 70, và tình trạng này đã gia tăng một cách nhanh chóng từ những năm 1997 Ta có thể thấy rõ tình trạng thâm hụt thương mại của Mỹ những năm gần đây qua biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 2 - Cán cân thương mại Mỹ (2000- 2009)

Nguồn: TradeStats Express (http://tse.export.gov/)

Trang 31

24

Ngoài cơ cấu hiệu quả nền kinh tế, củng cố và mở rộng quan hệ thương mại với các nước, khu vực trên thế giới, Mỹ luôn cố gắng hạ thấp mức thâm hụt thương mại thông qua các biện pháp:

 Hỗ trợ xuất khẩu

Trọng tâm trong chính sách thương mại của Mỹ là mở rộng thị trường cho các nhà xuất khẩu Mỹ Một số chương trình hỗ trợ xuất khẩu được thực hiện như cung cấp bảo hiểm và hỗ trợ tài chính xuất khẩu qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu, chương trình hoàn thuế Việc hỗ trợ cho các nhà sản xuất trong nước được thực hiện dưới hình thức miễn thuế của Liên bang và các bang, cung cấp tài chính và các chương trình tín dụng Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng nhận được nhiều trợ cấp nhất Ngoài ra, hỗ trợ kinh doanh còn được thực hiện thông qua Chương trình

hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại - một phần của chương trình chuyên hỗ trợ những đối tượng phải chịu tác động bất lợi của cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Lượng hỗ trợ của Chính phủ tăng lên khi giá giảm và những sản phẩm đầu ra được hỗ trợ trong việc tiếp cận thị trường Một số sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu cụ thể phải đáp ứng yêu cầu khác so với những yêu cầu dành cho sản phẩm trong nước

 Bảo hộ sản xuất trong nước

Các hàng rào trong tiếp cận thị trường Mỹ và các biện pháp bóp méo khác như trợ cấp được sử dụng ở một số ít các lĩnh vực quan trọng Thuế chống phá giá tiếp tục là một biện pháp quan trọng dù Mỹ đang giảm dần việc áp dụng biện pháp này đối một số hàng nhập khẩu nhất định Trong lĩnh vực nông nghiệp, các mức thuế cao đánh vào hàng hoá vượt quá hạn ngạch và các hàng rào kĩ thuật là những hình thức bảo hộ nhập khẩu chính Để đối phó với khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Mỹ

sẽ tăng cường bảo hộ cho các ngành công nghiệp đang gặp khó khăn và nhóm bị thiệt hại nặng nề do nhập khẩu nhưng trên cơ sở kết hợp giữa luật lệ của Mỹ và các quy định của quốc tế trong việc mở cửa thị trường nhằm tạo ra một chính sách thương mại mà các nước đối tác của Mỹ có thể chấp nhận Khi nền kinh tế được phục hồi và tăng trưởng ổn định trở lại thì áp lực bảo hộ sẽ giảm bớt Ngoài ra, với

Trang 32

25

tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, mức tiết kiệm thấp, chính phủ Mỹ còn áp dụng thêm nhiều biện pháp để cắt giảm tiêu dùng và thắt chặt tiền tệ

 Chính sách tiền tệ

Dù chính phủ Mỹ từ Đảng Dân Chủ đến Cộng Hòa luôn tuyên bố ủng họ đồng

đô la mạnh nhưng họ không có hành động cụ thể nào mà thường đẩy đồng dollar xuống thấp hơn nhằm trả món nợ trái phiếu rẻ hơn Đồng thời, sự sụt giảm trong tỷ

lệ trao đổi của đồng USD làm tăng giá hàng hóa xuất khẩu của các nước khác khiến hàng hóa của Mỹ trở nên cạnh tranh hơn cả trong nước lẫn ngoài nước, bảo vệ thị trường nội địa với các đối thủ nước ngoài Ngoài ra, chính phủ Mỹ còn tiến hành những bước đi hiệu quả để làm mờ nhạt đi giá trị, quá trình in tiền và chấp nhận một tỷ lệ lãi suất gần như bằng không để làm bàn đạp cho sự hồi phục nền kinh tế Những bước đi này đã làm giảm tương đối thâm hụt thương mại Mỹ

3 Thái Lan

Thái Lan hiện là một nước công nghiệp mới (trước vốn là nước nông nghiệp truyền thống) Những năm 1970, Thái Lan thực hiện chính sách sản xuất hướng vào xuất khẩu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phát triển công nghiệp và dịch

vụ Do tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ, dồi dào, có ngành công nghiệp chế tạo phát triển, thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo hướng phục vụ xuất khẩu, Thái Lan đã có nhiều năm tăng trưởng kinh tế nhanh (trước khủng hoảng tài chính 1997) Trong giai đoạn phát triển đó, Thái Lan luôn bị thâm hụt thương mại Nhưng sau này, Thái Lan đã điều chỉnh và cân bằng cán cân thương mại khá tốt, thậm chí thường đạt thặng dư thương mại:

Biểu đồ 3 - Cán cân thương mại Thái Lan (2000- 2009)

Nguồn: Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông hợp tác với hải quan Thái Lan

Trang 33

26

Để đạt được những thành quả trên, Chính phủ Thái Lan đã có những nỗ lực cải thiện cán cân thương mại như sau:

 Cải thiện môi trường kinh tế

Thái Lan mặc dù trải qua hàng loạt các cú sốc tiêu cực đối với nền kinh tế nhưng GDP vẫn tăng trưởng trung bình 5,7% mỗi năm, mức lạm phát kiêm tốn (khoảng 3,4%) nhờ tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu và mức tiêu dùng trong nước

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thái Lan lần thứ 10 được xây dựng trên ý tưởng về xây dựng một nền kinh tế phản ứng linh hoạt với những cú sốc trong và ngoài nước, duy trì mức đầu tư và chi tiêu gia đình bền vững, tăng trưởng với tốc độ

ổn định Đồng thời, Thái Lan cũng triển khai cơ chế đầu tư nước ngoài khá thông thoáng Ngành công nghiệp chế biến vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu FDI quốc gia, tiếp theo là các ngành bán buôn, bán lẻ và các hoạt động xuất nhập khẩu

 Cải thiện cơ cấu chính sách thương mại

Tăng cường xuất khẩu là giải pháp hàng đầu Thái Lan đặt ra nhằm đối phó với tình trạng thâm hụt cán cân thương mại Thái Lan đã thay đổi cơ cấu, tái cơ cấu các ngành công nghiệp sản xuất nội địa và phục vụ xuất khẩu Bên cạnh đó, Thái Lan còn có những chính sách ưu đãi dành cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhằm giảm chi phí hoạt động và đầu tư; hỗ trợ các ngành công nghiệp phụ trợ xuất khẩu như phụ tùng ô tô, linh kiện điện tử và trang thiết bị phụ tùng khác Các doanh nghiệp này được ưu đãi như không hạn chế về vốn đầu tư nước ngoài và miễn thuế Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu gồm cho vay vốn, đứng ra đảm bảo, miễn thuế đối với nguyên liệu thô nhập khẩu cho các nhà sản xuất hàng xuất khẩu, thiết lập hệ thống bảo hiểm xuất khẩu để hỗ trợ các nhà xuất khẩu đối phó với những rủi ro về chính trị và thương mại, đồng thời thành lập ngân hàng xuất khẩu Thái Lan đã xây dựng thành công chiến lược nhạy bén với nhu cầu thị trường thế giới để hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp thông qua hoạt động xúc tiến thương mại chuyên nghiệp nhất khu vực Cục xúc tiến thương mại Thái Lan (DEP) đã hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp: cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường; tìm hiểu tiêu chí đối với sản phẩm ở các thị trường khác để doanh nghiệp có thể tiếp cận;

Trang 34

27

quan tâm tới hoạt động tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh thành lập trung tâm đào tạo

kĩ năng thị trường cho các doanh nghiệp Thái Lan; tư vấn doanh nghiệp chú ý tới yếu tố tăng tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu như các yếu tố về thiết kế sản phẩm để đưa ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, tăng tính cạnh tranh với sản phẩm quốc gia khác

Thái Lan tập trung phát triển ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu; thúc đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tận dụng và phát huy lợi thế cạnh tranh là sản xuất hàng nông sản; đầu tư máy móc trang thiết bị vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển hiệu quả sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng, đa dạng hóa sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu Ngoài ra, chính phủ còn quan tâm tới hoạt động hỗ trợ chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tiêu thụ nông sản; đồng thời đẩy mạnh hình thức hợp đồng chính phủ với chính phủ Khi giá trị thị trường thấp, chính phủ tự bỏ tiền bao tiêu nông sản cho nông dân Để đảm bảo việc tiếp cận thông tin khoa học nông nghiệp và kỹ thuật canh tác mới được thông suốt, chính phủ triển khai điện khí hóa nông thôn, xây dựng các thủy điện

Bên cạnh việc khuyến khích, hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới, vấn đề đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân cũng được chính phủ coi trọng và hướng đến Tại Thái Lan, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và khóa học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi; một số trường đại học đã đầu tư những thiết bị thí nghiệm hiện đại, mời chuyên gia từ những nước đi đầu trong nghiên cứu nông nghiệp; đồng thời tạo cơ chế đãi ngộ cho nhiều nghiên cứu sinh Thái Lan sang các đại học của Mỹ, Nhật Bản, châu Âu nhằm tạo nên biến chuyển mạnh mẽ và sắc thái mới cho nền nông nghiệp Thái Lan Tương lai gần, Thái Lan được xem là nước đi đầu về sản xuất và xuất khẩu vi sinh vật cho nông nghiệp Chính phủ Thái Lan hướng tới cơ giới hóa nông nghiệp, đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng công nghệ sinh học nhằm sản xuất những nông sản sạch, chất lượng

Trang 35

 Phá giá mạnh đồng Baht và tác động đến CCTTQT của Thái Lan

Với Thái Lan, việc thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định so với đồng USD đồng nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht trong khi giá trị của USD với nhiều đồng tiền mạnh khác cũng tăng Dù tỷ giá chính thức giữa Baht với USD có tăng, nhưng theo học thuyết ngang giá sức mua thì đồng Baht đã giảm giá khoảng 20% so với USD mà chỉ được điều chỉnh rất ít (khoảng 6%) Do đó, việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả lại giá trị đích thực của nó Dưới

áp lực của những khoản nợ đến hạn và thâm hụt thương mại kéo dài, mặc dù đã bán

ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối nhưng Thái Lan vẫn không thể duy trì mức tỷ giá Sau khi Chính phủ tuyên bố phá giá, tỷ giá THB/USD tăng

từ 25,61 lên 47,25 Tỷ giá này làm tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Thái Lan nói chung, nông thủy sản nói riêng, hạn chế nhập khẩu Kết quả là Thái Lan giảm nhập siêu từ 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn 4,6 tỷ USD năm 1997 và tiến tới xuất siêu 12,3 tỷ USD năm 1998 Ngày 2/7/1997, Thái Lan đã cạn kiệt các nguồn dự trữ ngoại hối trong nỗ lực bảo vệ đồng Baht và buộc phải thả nổi đồng Baht Đồng Baht ngay lập tức giảm giá mạnh Từ cuối 1998 đến 2006, tỷ giá THB/USD đôi lúc giảm/tăng nhẹ nhưng nói chung duy trì khá ổn định

Mặc dù luôn chú trọng tới xuất khẩu, nhưng Thái Lan đã phải chấp nhận để tỷ giá của nội tệ tăng hơn 20% so với USD và duy trì mức lạm phát trung bình 3% từ năm 2006 tới nay do Chính phủ Thái Lan nhận thức được rằng trong bối cảnh kinh

tế thế giới hiện nay, nội tệ tăng giá so với USD là chính sách có lợi hơn

Trang 36

29

4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc cải thiện cán cân thương mại

Qua nghiên cứu phương pháp điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước như Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Việt Nam có thể rút ra được những bài học quý giá nhằm cải thiện cán cân thương mại

Thứ nhất, cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô Nếu chỉ thay đổi chính sách thương mại mà không điều chỉnh tỷ giá hợp lý và phối hợp với chính sách tài khóa, tiền tệ thì hiệu quả sẽ không cao

Thứ hai, cần duy trì chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn Một chính sách tỷ giá được coi là phù hợp khi: lựa chọn thời điểm phá giá đồng nội tệ phù hợp, duy trì tỷ giá theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, không neo giữ quá lâu đồng nội tệ với duy nhất một đồng ngoại tệ mạnh

Thứ ba, cần tận dụng tối đa những lợi thế cạnh tranh của quốc gia, dựa trên lợi thế so sánh để lựa chọn ngành công nghiệp mũi nhọn, từ đó đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, phát triển xuất khẩu Bên cạnh đó, cải thiện cơ chế luật pháp, tạo sự thông thoáng khuyến khích xuất khẩu phát triển và mở rộng mạng lưới kinh doanh ra các thị trường nước ngoài cũng hết sức quan trọng

Thứ tư, cần hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý Chính phủ có thể giúp xúc tiến thương mại, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu, bao tiêu sản phẩm

và sử dụng hình thức hợp đồng chính phủ với chính phủ để tạo điều kiện tốt nhất cho một số ngành hàng, đặc biệt là nông sản Trong thời kì kinh tế khủng hoảng, suy thoái, nên tăng cường bảo hộ những ngành công nghiệp đang gặp khó khăn, bị thiệt hại nặng nề do nhập khẩu nhưng vẫn phải đảm bảo các quy định của quốc tế trong việc mở cửa thị trường và được các nước đối tác chấp nhận Bên cạnh đó, chính phủ cần nghiên cứu xây dựng hàng rào tiếp cận thị trường một cách khéo léo

và hợp lý, có thể tham khảo các tiêu chuẩn kĩ thuật, thuế chống phá giá - những hình thức bảo hộ mà nhiều nước áp dụng

Trang 37

30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI

CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Sau khi giới thiệu những lý luận cơ bản nhất về cán cân thương mại, chương này

sẽ đề cập đến thực trạng cán cân thương mại Việt Nam từ sau công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, sau đó tập trung phân tích cụ thể năm 2009 về cơ cấu chủ thể, mặt hàng, thị trường xuất khẩu, nhập khẩu Cuối cùng, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua

I Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam

Trước năm 1986, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước độc quyền ngoại thương, chủ yếu căn cứ theo các nghị định thư đã kí kết với các nước XHCN nên cán cân thương mại bị thâm hụt nặng nề và kéo dài (kim ngạch nhập khẩu thường cao gấp xấp xỉ 3 lần kim ngạch xuất khẩu).8 Vì vậy, từ năm 1986, nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó lĩnh vực kinh tế hướng vào việc khai thác mọi tiềm năng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhờ đó, nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đạt được những thành tựu to lớn trong hoạt động ngoại thương Đặc biệt, năm 2007 với việc chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã bước lên một tầm cao mới với nhiều cơ hội và thách thức mới

1 Giai đoạn từ 1986 đến khi gia nhập WTO 9

Năm 1986 với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử ngoại thương Việt Nam Từ đó đến nay, nước ta đã có nhiều chiến lược cải cách kinh tế và từng bước thiết lập, mở rộng đáng kể thị trường xuất nhập khẩu và đối tác thương mại theo phương châm đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại

8 TS Lê Danh Vĩnh, “Ngành thương mại: Nhìn lại 20 năm đổi mới”, Tạp chí Cộng sản

(http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=3&ID=3474)

9

Nguồn số liệu từ năm 1986 đến 2005 là Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới;

nguồn số liệu năm 2006 là Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam năm 2006

Trang 38

31

Sau sự tan rã của hệ thống XHCN đầu những năm 90, nước ta đã có những thay

đổi quan trọng về chính sách ngoại thương, mở cửa đất nước bằng việc tham gia các

tổ chức quốc tế và khu vực: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN - 1995),

Diễn đàn kinh tế các nước châu Á - Thái Bình Dương (APEC - 1998), nối lại quan

hệ ngoại giao với Mỹ (1995), tiến trình hội nhập WTO Con số khiêm tốn 43 (xuất

khẩu 33, nhập khẩu 38) nước và vũng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam

năm 1986 đã nhanh chóng tăng lên 224 (xuất khẩu 220 và nhập khẩu 178) vào năm

2002 Tuy nhiên năm 2006, con số này giảm nhẹ xuống 181 nước và vùng lãnh thổ

Biểu đồ 4 - Giá trị xuất nhập khẩu phân theo châu lục (1986- 2006)

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Thị phần xuất nhập khẩu cũng có những biến chuyển mạnh mẽ Nếu giai đoạn

1986-1990 chiếm tỷ trọng lớn nhất là Châu Âu (65,3%) trong đó chủ yếu là khối

Đông Âu (chiếm 57,1%) thì các giai đoạn sau tỷ trọng giảm (năm 2006 chỉ còn xuất

khẩu 19,6%, nhập khẩu 11,4%), quan hệ thương mại của Việt Nam chuyển hướng

sang các nước châu Á và châu Mỹ (phụ lục) Giai đoạn 1986-1990, tỷ trọng giao

thương với châu Á chỉ có 20,9% nhưng các giai đoạn sau đều trên hai phần ba Tỷ

trọng nhập khẩu từ châu Á tăng nhanh chóng, trong đó Nhật bản, Singapo, Trung

Quốc và các nước ASEAN luôn chiếm vị trí quan trọng Quan hệ với châu Mỹ cũng

tăng khá nhanh, trong đó đóng góp chủ yếu là Mỹ Giai đoạn 1986-1995 tỷ lệ kim

Trang 39

32

ngạch so với tổng số chiếm không đáng kể nhưng đến giai đoạn 2001-2005 tỷ lệ này

đã tăng tới 11,1% và năm 2006 tỷ trọng xuất khẩu với châu Mỹ đã đạt 22,8%

Ngoài ra, cùng với việc mở rộng thị trường và đối tác thương mại, các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu cũng tăng lên nhanh chóng Trước năm 1989, hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu do một số đơn vị chuyên doanh ngoại thương của nhà nước thực hiện (khu vực kinh tế trong nước giai đoạn đầu 1986-1990 vẫn giữ vai trò chủ đạo chiếm tới 96,6% tổng trị giá xuất nhập khẩu), nhưng dần dần các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh cũng được thừa nhận và tạo điều kiện hoạt động Hiện nay, tất cả các loại hình doanh nghiệp đều tham gia xuất nhập khẩu Năm 1985 có 40 đơn vị trực tiếp xuất nhập khẩu, năm 1990 là 270 nhưng năm 2006 đã có khoảng 20000 đơn vị, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng Với sức phát triển mạnh mẽ, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng qua các giai đoạn: giai đoạn 1991-1995 chiếm 17,1% (trong đó từ năm 1994 xuất khẩu có thêm các mặt hàng khác với dầu thô và bắt đầu xuất hiện thêm phần đầu tư nước ngoài ở nhập khẩu), giai đoạn 1996-

2000 chiếm 31,5% và giai đoạn 2001-2005 chiếm 42,8% Nhập khẩu của khu vực

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (từ 1994 đến 2005) cũng tăng mạnh, bình quân 32,8% (trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 13,4%)

Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về qui mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu nhóm ngành hàng… xuất nhập khẩu:

Bảng 1 Chỉ số phát triển xuất nhập khẩu theo giai đoạn

Đơn vị tính: Triệu USD

1986 -1990 1991 -1995 1996 -2000 2001 -2005

Tỷ trọng với tổng kim ngạch(%) 35.7 43.0 45.7 46.0

Tỷ trọng xuất khẩu so GDP (%) 20.5 25.2 37.4 54.0

Chỉ số phát triển 5 năm (%) 130.7 119.3 122.1 117.9

Tốc độ tăng bình quân năm (%) 28.0 17.8 21.6 17.5

Trang 40

33

Tỷ trọng với tổng kim ngạch(%) 64.3 57.0 54.3 54.0

Tỷ trọng nhập khẩu so GDP (%) 37.0 33.5 44.5 63.4 Chỉ số phát triển 5 năm (%) 108.5 127.3 115.0 119.1 Tốc độ tăng bình quân năm (%) 8.2 24.3 13.9 18.8

Tỷ trọng so với xuất khẩu (%) 80.4 32.8 18.9 17.4

(Theo Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới)

Về xuất khẩu, từ 1986 tới 2006, tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu là

21,66%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 50 lần từ 789 triệu đôla (năm 1986) lên

39826 triệu đôla (năm 2006) Tỷ trọng xuất khẩu so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dần từ 35,7% (giai đoạn 1986-1990) lên 46% (giai đoạn 2001-2005) Nếu xuất khẩu bình quân 1 năm ở giai đoạn 1986-1990 là 1,4 tỷ đôla thì giai đoạn 2001-2005 đã tăng gấp gần 16 lần lên 22,2 tỷ đôla Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 20,5% giai đoạn 1986-1990 lên 25,2% giai đoạn 1991-

1995, tới 37,4% giai đoạn 1996-2000 và đạt mức 54% vào giai đoạn 2001-2005 thuộc loại cao so với các nước Với mục tiêu phát triển xuất khẩu cao làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu chiếm trong GDP và xuất khẩu bình quân đầu người cũng ngày càng tăng qua các thời kỳ từ 1986 – 2005

Xét theo mức độ chế biến của hàng hóa, tuy hàng thô hay mới sơ chế còn khá cao nhưng cơ cấu hàng xuất khẩu đã thay đổi theo hướng tăng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm tỷ trọng hàng thô hay mới sơ chế Qua các giai đoạn phát triển 5 năm: hàng thô tăng vào giai đoạn 1990-1995 chiếm 74,6% (do tiếp cận mạnh với thị trường thế giới nhưng các sản phẩm của nước ta không đủ sức cạnh tranh, chỉ chủ yếu cung cấp nguyên nhiên vật liệu dạng thô), tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu giảm xuống mức 54,8% ở giai đoạn 1996-2000 và giai đoạn 2001-2005 là 45,3%

Ngày đăng: 07/05/2014, 19:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 - Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu theo kế hoạch nhà nước - Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng việt nam
Bảng 3 Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu theo kế hoạch nhà nước (Trang 43)
Bảng 4 – Thâm hụt cán cân thương mại theo chủ thể - Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng việt nam
Bảng 4 – Thâm hụt cán cân thương mại theo chủ thể (Trang 50)
Bảng 5 - Lƣợng, kim ngạch, tốc độ tăng/giảm xuất khẩu thuỷ sản năm 2009 - Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng việt nam
Bảng 5 Lƣợng, kim ngạch, tốc độ tăng/giảm xuất khẩu thuỷ sản năm 2009 (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w