Trong Tuyển tập thơ Đường, các tác giả đã giới thiệu sơ lược về nhà thơ Vương Duy và một số bài thơ tiểu biểu của ông nhưng tuyệt nhiên chưa đề cập đến màu sắc được sử dụng trong thơ củ
Trang 1TRONG THƠ VƯƠNG DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hán Nôm
Trang 2TRONG THƠ VƯƠNG DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hán Nôm
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Hải Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
TS Nguyễn Thị Hải Vân - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn thiện Tôi xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2019
Người thực hiện
Lê Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hải Vân Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 1019
Người thực hiện
Lê Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Vương Duy: thi hào tinh thông hội họa 5
1.1.1 Vương Duy - một nhà thơ nổi tiếng 5
1.1.2 Vương Duy - một họa sĩ tài ba 7
1.1.3 Vương Duy họa sĩ luôn đi liền với Vương Duy thi sĩ 8
1.2 Màu sắc trong hội họa và hội họa Trung Hoa 9
1.2.1 Những màu sắc có trong nghệ thuật hội họa 9
1.2.2 Màu sắc sử dụng trong hội họa Trung Hoa 11
1.3 Từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán 17
1.3.1 Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết 17
1.3.2 Từ chỉ màu sắc đa âm tiết 18
Chương 2 KHẢO SÁT TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ VƯƠNG DUY 22
2.1 Số từ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy 22
2.1.1 Các từ chỉ màu trắng trong các bài thơ của Vương Duy 22
2.1.2 Các từ chỉ màu xanh trong thơ Vương Duy 24
2.1.3.Các từ ngữ chi những màu khác 26
2.2 Tần số xuất hiện từ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy 28
Trang 62.3 Chức năng ngữ pháp của từ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy 32
2.3.1 Cách sử dụng cụm từ trong thơ Vương Duy 32
2.3.2 Chức năng của tính từ chỉ màu sắc trong câu 35
Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ VƯƠNG DUY 38
3.1 Giá trị của các từ chỉ màu sắc trong việc xây dựng bức tranh thiên nhiên 38 3.1.1 Những bức tranh sơn thủy điền viên với những màu sắc tươi tắn 38 3.1.2 Những bức tranh sơn thủy điền viên với màu sắc thanh đạm 41
3.2 Giá trị của các từ chỉ màu sắc trong việc thể hiện con người Vương Duy 45
3.2.1 Một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, giàu tình yêu thiên nhiên 45
3.2.2 Một nỗi lòng mang nhiều tâm sự 48
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trung Quốc là một đất nước nổi tiếng với nền văn học đồ sộ có từ lâu đời Thơ ca đời Đường (618 - 907) đã đóng góp một vị trí quan trọng trong nền văn học ấy Những thành tựu thơ ca đời Đường đã tạo nên thời đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ ca trong xã hội phong kiến Trung Quốc Nhà
Đông phương học Murdoch đã nhận xét về thơ ca đời Đường như sau: “Thời
đó, hiển nhiên Trung-Hoa đứng đầu các dân tộc văn minh trên thế giới Đế quốc ấy hùng cường nhất, văn minh nhất, thích sự tiến bộ nhất và được cai trị tốt nhất thế giới Chưa bao giờ nhân loại được thấy một nước khai hóa phong tục đẹp đẽ như vậy…” [3;18]
Quá trình hình thành và phát triển của thơ ca đời Đường gắn bó chặt chẽ với sự thống trị Trung Quốc suốt gần 300 năm của nhà Đường (618 - 907)
đã để lại số lượng tác phẩm vô cùng đồ sộ Ngày nay, bộ Toàn Đường thi ấn
hành dưới thời Khang Hy ta thấy gồm 900 quyển, 30 tập với gần 500 vạn bài thơ của hơn 2300 nhà thơ, trong đó Lí Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, v.v… là những nhà thơ lớn nổi tiếng thế giới
Sự phồn vinh của văn học Đường không chỉ bởi số lượng các tác phẩm
đồ sộ mà còn do nội dung và hình thức sáng tác của các nhà thơ thời kì này đã
có sự chuyển biến mạnh mẽ Về nội dung đã thay vì đi sâu khám phá cái rỗng tuếch nghèo nàn của văn học quý tộc mà đã bắt đầu hướng đến cuộc sống quý tộc phong phú rộng rãi đồng thời kết hợp được nhiều ngành nghệ thuật vào trong thơ ca như trong thơ có nhạc, trong thơ có họa, có điêu khắc,… Về mặt hình thức đã có nhiều phát triển mới mẻ, sáng tạo Trong số các nhà thơ đó không thể không kể đến Vương Duy - một nhà thơ có tầm ảnh hưởng sâu rộng Ông được đánh giá là một trong bốn “ngôi sao sáng chói” của thơ ca đời Đường (cùng với Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị)
Trang 8Vốn được tôn là tổ sư của họa phái Nam Tông là “Văn nhân họa” nên trong thơ Vương Duy những câu thơ kết hợp với hội họa được sử dụng rất nhiều Trong thơ Vương Duy, những nét chấm phá của tranh thủy mặc là những dòng thơ đơn giản lạ kì nhưng lại không mất đi vẻ trang trọng, mĩ lệ
Dù Vương Duy là một con người đa tài: đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng nhưng người đời biết đến Vương Duy nhiều nhất là một Vương Duy họa sĩ luôn đi liền với một Vương Duy thi sĩ của núi rừng cây cỏ Chính vì vậy mà câu thơ “Khi xem tranh của Duy Ma Cật ta thấy gồm cả một bài thơ Khi đọc thơ Duy ma Cật ta còn thấy gồm cả một bức tranh” của Tô Thức đã trở thành câu nói cửa miệng để mọi người ca ngợi Vương Duy
Thơ của Vương Duy đã vượt qua 10 thế kỉ để tồn tại cho đến ngày nay,
nó không chỉ có chỗ đứng trong nền văn chương Trung Quốc mà nó còn có ảnh hưởng rất lớn đến văn chương trong khu vực nói riêng và Việt Nam nói chung Vương Duy là tác giả được đưa vào dạy trong chương trình Ngữ văn
THPT hiện hành Vì vậy, việc “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy” là một đề tài đáng được chú ý và quan tâm Qua đó,
người viết có cơ hội mở rộng kiến thức, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy tác phẩm của Vương Duy nói riêng và thơ Đường nói chung ở chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông thêm phong phú và sâu sắc
Trang 9thể phủ nhận rằng tài liệu về thơ Vương Duy cũng đa dạng và phong phú
Trong cuốn Vương Duy - chân diện mục của Vũ Thế Ngọc dịch và chú
giải đã giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Vương Duy
và cũng đã đề cập đến màu sắc trong thơ Vương Duy nhưng đó mới chỉ là lướt sơ qua chứ chưa có những nhận định và tìm hiểu cụ thể
Trong tạp chí nghiên cứu khoa học Vương Duy và Yosa Buson - “Thi
trung hữu họa” của Nguyễn Thị Nguyệt Trinh cũng đã liệt kê được số lượng
màu sắc trong thơ Vương Duy nhưng đó mới chỉ là liệt kê và mới chỉ chạm vào bề nổi của vấn đề chứ chưa đi sâu vào phân tích
Trong Tuyển tập thơ Đường, các tác giả đã giới thiệu sơ lược về nhà
thơ Vương Duy và một số bài thơ tiểu biểu của ông nhưng tuyệt nhiên chưa
đề cập đến màu sắc được sử dụng trong thơ của Vương Duy
Như vậy, những công trình nghiên cứu về nhà thơ Vương Duy đa phần đều đề cập đến phong cách, phần họa trong thơ của ông …nhưng chưa có hệ thống và công trình nghiên cứu hoàn thiện về màu sắc trong thơ Vương Duy Tuy nhiên, đây là những nguồn tư liệu quý báu làm nên nền tảng cơ sở giúp
chúng tôi lựa chọn và xây dựng đề tài “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy”
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận này được thực hiện với mục đích chỉ ra vị trí, ý nghĩa quan trọng của các từ ngữ chỉ màu sắc trong các bài thơ của Vương Duy Từ đó, chúng tôi tiến hành thống kê, khảo sát và phân tích đối chiếu từ các bài thơ của Vương-Duy để chỉ ra sự đa dạng, phong phú và độc đáo của các từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ của ông và tác dụng của chúng đối với việc hình thành phong cách nghệ thuật của Vương Duy
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong
Trang 10thơ Vương Duy” tập trung vào tìm hiểu sự phong phú, đa dạng của màu sắc
của thiên nhiên và cuộc sống, có tác động mĩ cảm sâu sắc đến con người được nhắc đến trong các bài thơ của Vương Duy Đồng thời, người viết tập trung vào các loại màu sắc, màu sắc nổi bật được sử dụng tạo nên nét thanh tịnh trong thơ ông
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát trong khoảng 50 bài thơ tiêu biểu của Vương Duy
5 Nhiệm vụ đề tài
Thông qua việc thống kê, khảo sát và phân tích các bài thơ tiêu biểu cuả Vương Duy, chúng tôi chỉ ra thế giới màu sắc phong phú, sinh động và độc đáo trong thơ Vương Duy tạo nên phong cách riêng của tác giả Đây chính là thái độ, tâm trạng của nhà thơ trước cuộc sống
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh, đối chiếu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài Phần Mở Đầu và Phần Kết Luận, Thư mục tham khảo, Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Khảo sát những từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy Chương 3: Giá trị của các từ ngữ chỉ màu sắc trong việc thể hiện con người Vương Duy
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Vương Duy: thi hào tinh thông hội họa
1.1.1 Vương Duy - một nhà thơ nổi tiếng
Vương Duy (701 - 761), biểu tự là Ma Cật, hiệu Ma Cật cư sĩ Quê ông
ở huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc Vương Duy xuất thân trong gia đình thuộc tầng lớp quý tộc Gia đình ông là một gia đình rất danh giá ở thời Đường là Thái Nguyên Vương thị Cha ông là Vương Xử Liêm làm chức
Tư Mã, mẹ là Thôi thị - một tiểu thư của một đại quý tộc phái khác là họ Thôi
ở Bác Lăng Họ Vương ở Thái Nguyên và họ Thôi ở Bác Lăng là hai trong bảy đại quý tộc danh tiếng nhất thời Thịnh Đường Gia đình ông gồm có sáu người con, Vương Duy là con trai trưởng, sau đó tới Vương Tấn cùng hai em trai và một em gái
Vương Duy là một nhà thơ nổi tiếng thời Đường và đã được người đời tôn ông là Thi Phật Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) và
Lý Hạ (Thi Quỷ), Vương Duy với biệt danh Thi Phật đã tạo nên Thánh - Tiên
- Phật - Quỷ cùng xuất hiện trong giai đoạn cực thịnh của thơ Đường Sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp quý tộc, được tiếp xúc với nền giáo dục của nho giáo và những người tài hoa nên ngay từ nhỏ Vương Duy đã sáng tác thơ
ca Năm 716, khi mới mười lăm tuổi, Vương Duy cùng em trai là Vương Tấn lên Trường An và Lạc Dương du học Lúc này, Vương Duy đã khét tiếng về tài làm thơ nên đã được các gia đình quý tộc tiếp đãi trọng vọng Không những thế, em ruột của vua Huyền Tông Đường Minh Hoàng là Kỳ Vương cũng rất nể phục và quý trọng tài làm thơ của ông nên cũng đã tiếp đãi vào hàng thượng khách tri kỉ Vì cảm kích trước tấm lòng của Kỳ Vương nên Vương Duy đã làm một bài thơ thay lời Kỳ Vương đa tạ vua cho mượn Cửu
Trang 12Thành Cung để nghỉ mát Vương Duy sống trong một cuộc sống xa hoa nhung lụa và được tham gia vào các buổi tiệc du hí của hoàng tộc và những nhà đại quý tộc nên danh tiếng của ông ngày một vang xa
Người ta chủ yếu biết Vương Duy là một nhà thơ sơn thủy thi, thơ ông chủ yếu viết về thiên nhiên sông núi bởi Vương Duy chịu ảnh hưởng của đạo Phật và đạo Lão Sở dĩ có điều này là do mẹ ông rất mực tín Phật pháp, Vương Duy chịu ảnh hưởng từ mẹ Ngày nay người ta còn giữ lại được khoảng hơn 400 bài thơ của Vương Duy với phong cách tinh tế trang nhã Thời trẻ, thơ Vương Duy bộc lộ tâm trạng của tầng lớp tri thức có tài, có trí nhưng không đượcc dùng phải sống trong cảnh hàn vi còn bọn công tử quý tộc dốt nát thì sống giàu có, xa hoa, trụy lạc Những năm tháng sống nơi biên
ải, thơ ông có tình điệu khẳng khái, hiên ngang, đề cao lòng yêu nước, đề cao tinh thần của những người chiến sĩ yêu nước sẵn sàng từ bỏ cuộc sống bình yên nơi quê nhà mang gươm đao đi mở mang bờ cõi Nhưng nổi bật nhất trong gia tài thơ ca của Vương Duy là những bài thơ viết về thiên nhiên Bởi ông vốn là người ưa thích cuộc sống tiêu dao, thanh tao, phong nhã, tâm hồn ông hòa hợp với thiên nhiên, cỏ cây, với cuộc sống thanh bình nơi làng quê yên ấm Ông thường miêu tả cảnh núi sông hùng vĩ, cảnh đêm trăng yên bình, cảnh làm ruộng, gặt hái của những người nông dân chất phác hiền lành Không những thế, thơ Vương Vương Duy còn thấm đẫm tư tưởng từ bi hỷ xả của đạo Phật Những bài thơ của ông mang hướng tĩnh phù hợp với cõi tâm thanh tịnh của nhà thơ Ông thường tìm về chốn núi rừng thanh tĩnh cùng với không gian u tịch mang đậm bản chất thiền Thơ Vương Duy có phong cách riêng, tài thơ của ông giàu có ở cách thể hiện những đề tài khác nhau, việc miêu tả thiên nhiên tinh tế và đầy sống động Ngôn ngữ thơ cô đọng và điêu luyện phù hợp với những ý tứ sâu sắc và truyền cảm
Trang 131.1.2 Vương Duy - một họa sĩ tài ba
Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng đời Đường mà Vương Duy còn được biết đến là một họa sĩ tài hoa Phái điền viên sơn thủy không chỉ theo ông vào trong thơ mà ngay cả trong tranh ông cũng thường vẽ những bức tranh thủy mặc Tranh thủy mặc là những bức tranh về thiên nhiên, núi rừng, sông hồ, cảnh vật hoang sơ… mà người và vật chỉ là những nét phụ cho những bức tranhh ấy
Ở đời nhà Đường, Vương Duy không được coi là họa sĩ nổi tiếng nhất nhưng đến đời Tống thì Vương Duy lại trở thành một họa sĩ trác tuyệt và bắt đầu được tôn xưng là tổ sư của cả một họa phái Tuy ở đời Đường ông không được tôn xưng là họa sĩ bậc nhất nhưng Vương Duy vẫn được sách
“Đường triều danh họa lục” ca tụng bức “Võng xuyên đồ” là một tuyệt phẩm hãn hữu hay sách “Cựu Đường thư” cũng kể lại những kì tích của ông trong giới hội họa
Theo ghi chép, Vương Duy chính là người đã sáng tạo ra lối vẽ sơn thủy bằng thủy mặc Trong lòng Vương Duy luôn muốn chứa đựng thiên địa vạn vật nên khi ông đặt bút có thể ngay lập tức vẽ được những nét vẽ vô cùng
tự nhiên, phóng khoáng với tạo hình nhất sơn nhất thủy tuyệt đẹp Những nét
vẽ của ông luôn giản dị tinh tế, đó không phải là sự đơn giản mà đó là sự giản
dị đã đạt đến cảnh giới cao nhất của nghệ thuật, là phương pháp đạt đến độ
“dường như không có phương pháp” Vương Duy đã từng nói: “Trong lòng thoải mái, không có chướng ngại, như hồ băng trong suốt… thì khi hạ bút vẽ
sẽ mang phong cách khí thế thoát tục” Danh tiếng về tranh sơn thủy của Vương Duy nổi tiếng đến mức gần như lấn át đi tên tuổi của một thi hào Vương Duy Khi thưởng thức tranh của ông, Tô Đông Pha đã từng ca ngợi:
“Trước tranh của Duy Ma Cật ta chỉ biết lùi lại cúi lạy, vô ngôn” Phải tài hoa
và tinh tế đến mức nào thì mới có thể làm cho một người nổi tiếng như Tô Đông Pha thốt ra câu nói đầy kính nể tranh Vương Duy đến thế
Trang 14Vương Duy không phải là người nổi tiếng bậc nhất về họa phái nhưng tranh của ông mới thực sự có ảnh hưởng lớn đến tinh thần hậu thế Vương Duy chưa bao giờ lập trường phái vẽ tranh nào và ông cũng không dạy người khác vẽ tranh nhưng các họa sĩ đời sau lại khởi hứng từ tranh ông rất nhiều đặc biệt là Kinh Hạo, Lý Thành, Đổng Nguyên, Tuy sử sách không ghi rõ các bức tranh của Vương Duy nhưng khi dâng Họa Phổ lên Tống Huy Tông (1101 - 1125) ta thấy còn đến tên 126 bức tranh của ông gồm: tranh Phật, tranh Bồ Tát, tranh Sơn Thủy, và có lẽ số lược các bức họa của ông còn nhiều hơn thế nữa Tuy tất cả những tác phẩm của ông đã thất lạc từ nhiều thế
kỉ nhưng chúng vẫn được người đời sau truyền tụng ngợi ca như: bức Võng Xuyên Đồ và Giang sơn tuyết khê đồ
1.1.3 Vương Duy họa sĩ luôn đi liền với Vương Duy thi sĩ
Vương Duy là một người có tài hội họa và thơ ca trác tuyệt Thi hào Tô Đông Pha khi xem tranh và đọc thơ của ông đã ca ngợi hết lời và lời khen của thi hào họ Tô đã được người đời sau truyền tụng thành câu nói “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” để ca ngợi Vương Duy Khi nói đến trong tranh có thơ của Vương Duy trước hết phải nói đến những bức tranh sơn thủy của ông Vương Duy dùng sự quyến rũ nhẹ nhàng để mô tả vẻ đẹp sông núi nước non
từ đó thăng hoa đến một cảnh giới riêng, một phong cách mà chỉ mình ông có Trong tranh của mình, Vương Duy thường lấy sự mộc mạc thô sơ làm hứng thú, lấy thủy mặc, màu mực để viết ý, vẽ phong cảnh nên đã được người đời sau xưng là “Văn nhân chi họa, tự Vương Hữu Thừa thủy” Tranh của ông tuy
vẽ phong cảnh sơn thủy điền viên mộc mạc nhưng dạt dào cảm xúc, thấm đẫm ưu tư Vương Duy luôn đưa thi cảnh vào họa cảnh làm cho ý tranh đầy đặn hơn, sâu lắng hơn
Một nhà thơ Vương Duy lúc nào cũng đi liền với Vương Duy họa sĩ Ông nổi tiếng với tài vẽ tranh trong thơ mà thế hệ sau đã ca tụng hết mực
Trang 15Nam họa hay văn nhân họa được xác lập chính thức vào đời Tống, tuy nhiên Vương Duy lại được xem là người mở đầu Tranh trong thơ khiến các bài thơ của ông có hình tượng hơn, tinh tế hơn và diệu kì hơn Đọc thơ của Vương Duy ta như thấy từng bức tranh đang hiện ra trước mắt Hình ảnh suối Thanh Khê dưới ngòi bút của thi nhân vừa yên tĩnh, vừa sống động:
“Ngôn nhập hoàng hoa xuyên, mai trục thanh khê thủ
……
Ngã tâm tố dĩ nhàn, thanh xuyên đạm như thử”
(Lời nói chui vào suối Hoàng hoa, hòa theo dòng Thanh Khê cùng chảy
Lòng ta vốn đã an nhàn sẵn, suối trong kia lại rất êm đềm)
Qua giai điệu không ngừng chảy của nó ta có thể thấy hiện ra bức tranh có các cảnh trí thiên nhiên khác nhau, thể hiện rõ đặc tính và sức sống tràn trề của
nó Và đặc biệt để làm nên chất họa trong thơ Vương Duy không thể không nhắc đến màu sắc Có lúc thơ ông hiện lên bức họa với màu sắc sinh động tươi tắn, lúc lại là những màu sắc nhạt màu Ở đây ta có thể thấy màu sắc trong thơ ông là màu sắc của hội họa thủy mắc sơn thủy Nó giúp thơ ông mang vẻ đẹp tĩnh tại, đạm mạc Không những thế, trong các bài thơ của mình Vương Duy cũng sử dụng cấu đồ hội họa rất điêu luyện Thơ ông có sự đối lập mà thống nhất giữa đường nét, màu sắc, hình khối, chiều kích… của các
sự vật hiện tượng giúp cho bài thơ có sự cân đối hài hòa Với nghệ thuật
“dùng tranh vẽ thơ” và “dùng thơ để tả tranh” Vương Duy xứng đáng là một thiên tài nghệ thuật Một con người họa sĩ luôn đi liền với một con người thi
sĩ đã tạo ra thi nhân Vương Duy được người đời kính nể
1.2 Màu sắc trong hội họa và hội họa Trung Hoa
1.2.1 Những màu sắc có trong nghệ thuật hội họa
Màu sắc là con đẻ của ánh sáng, là hiệu quả hiển thị của các loại ánh sáng có bước sóng dài, ngắn khác nhau, là do sựu phản chiếu của ánh sáng lên
Trang 16những vật thể Theo quang học khi luồng ánh sáng trắng đi qua lăng kính mặt trời thì tách ra gồm bảy sắc là: vàng, cam, đỏ, lục, lam, chàm, tím Trong hội họa thì màu là chất liệu cụ thể do những sắc tố được chiết ra từ khoáng chất, hóa chất, thảo mộc Đó gọi là màu sắc tố
Trong hội họa, người ta chia ra rất nhiều các loại màu khác nhau Thứ nhất là màu bậc nhất, hay còn gọi là màu chính, màu cơ bản Loại màu này gồm
ba màu đó là: màu vàng, màu đỏ và màu lam Từ ba màu cơ bản này ta có thể pha ra tất cả các loại màu trong hội họa Tuy nhiên loại màu cơ bản này không thể pha ra màu đen và màu trắng vì không màu nào có thể pha trộn ra chúng
Loại màu thứ hai là màu bậc hai hay còn gọi là màu phụ Loại màu này gồm ba màu là: màu tím, màu lục và màu cam Màu tím có thể được tạo ra từ màu lam kết hợp với màu đỏ, màu lục được tạo ra khi màu vàng kết hợp với màu lam và màu cam được tao ra khi pha màu vàng và màu đỏ với điều kiện pha các màu với dung lượng bằng nhau
Tiếp đến là màu bậc ba gồm các màu: cam vàng, Cam đỏ, Tím lam, Tím đỏ, Lục lam, Lục vàng Được pha với phân lượng bằng nhau từ màu bậc
1 với màu bậc 2 đứng cạnh nhau trên vòng thuần sắc Tương tự ta có màu bậc 4,5,6,7 … Bằng cách pha với phân lượng bằng nhau giữa các màu đứng cạnh nhau trong vòng thuận sắc ta tiếp tục có các màu bậc cao hơn
Cùng với đó ta có các màu tương phản hay còn gọi là màu đối kháng nhau bởi khi đứng cạnh nhau thì màu này sẽ làm tương phản màu kia hoặc ngược lại Các màu tương phản nhau là: vàng - tím, đỏ - lục, lam - cam
Không những thế ta còn có các màu nóng và màu lạnh Màu lạnh là những màu ngả xanh: lục vàng, lục, lục lam, lam, tím lam, tím, tím đỏ tạo cảm giác mát mẻ, dễ chịu hoặc lạnh lẽo Đối lập với màu lạnh là các màu nóng ngả đỏ như: vàng, cam vàng, cam, cảm đỏ, đỏ tạo cả giác ấm áp, gần và gây kích thích thị giác
Trang 17Màu xám thuộc loại màu trung tính, không thuộc màu nóng cũng không thuốc màu lạnh Nó được tạo ra do sự kết hợp của màu trắng và màu đen
Màu trung gian là loại màu điều giải sự mâu thuẫn đối kháng về sắc độ, cường độ, quang độ, được pha từ hai màu đang có sự tương phản với nhau
Màu tương đồng là loại màu thoạt nhìn chúng có vẻ giống nhau, nhóm màu đứng cạnh nhau trong vòng thuần sắc Đó là một dãy các màu nối tiếp nhau, liên kết chặt chẽ, không phân biệt nóng lạnh
Các màu bổ túc xen kẽ: vàng và tím, đỏ và lục, lam và cam dùng để làm màu nhấn, màu trọng điểm Bên cạnh đó còn có màu bổ túc trực tiếp,bổ túc kép, bổ túc bộ ba, bổ túc bộ bốn
Màu chiếm diện tích trội nhất trong toàn bộ không gian, chi phối toàn
bộ hòa sắc của không gian được gọi là màu chủ đạo Màu chủ đạo còn tùy thuộc vào đề tài, không gian, thời gian, vị trí sử dụng, tâm lí người sử dụng, ý
1.2.2 Màu sắc sử dụng trong hội họa Trung Hoa
Trong ngôn ngữ khác nhau người ta lại có những nguyên tắc riêng để vạch ra những ranh giới từ chỉ màu sắc Chính vì vậy đã dẫn đến sự khác màu
và số lượng ngôn ngữ chỉ các màu trong ngôn ngữ Các từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán vì thế mà cũng có sự khác biệt so với các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Ta có thể thấy các từ ngữ chỉ màu sắc trong hội họa Trung Hoa vô cùng phong phú có tài liệu cho rằng lên đến 1100 từ nhưng ở đây chúng tôi chỉ thống kê những màu sắc cơ bản:
Trang 23đơn âm tiết lớn hơn rất nhiều số lượng các từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết Những màu sắc này đã tạo nên một nền hội họa đỉnh cao của một trong những quốc gia có nền văn hóa lâu đời nhất Châu Á
1.3 Từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán
1.3.1 Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết
Các từ ngữ chỉ màu sắc do một âm tiết cấu thành được gọi là từ chỉ màu sắc đơn âm tiết Trong tiếng Hán các từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết vô cùng phong phú: 紅 (đỏ), 黃 (vàng), 白 (trắng), 黑 (đen), 青 (thanh), 蓝 (lam),
灰 (xám), 紫 (tím), 褐 (màu hạt dẻ), 橙 (màu da cam), 赤 (đỏ), 绯 (đỏ), 朱 (đỏ son), 绛 (đỏ thẫm),翠 (xanh biếc), 碧 (ngọc xanh biếc/ xanh biếc),苍 (xanh lá cây/ xanh biếc gồm cả lam và lục)),乌 (đen), 玄 (đen), 漆 (đen), 殷 (đỏ đen), 粉 (hồng), 素(trắng), 缟 (trắng), 葱 (xanh), 赭 (đỏ), 黛 (đen vàng), 黝 (đen xanh),… Những từ chỉ màu sắc đơn âm tiết chiếm số lượng rất lớn trong bảng các từ ngữ chỉ màu sắc
Tuy nhiên, về cấu tạo những từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Hán cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau Theo Lưu Quân Kiệt và Lưu Vân Tuyền Thì từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán hiện đại gồm có mười màu cơ bản như: 红 (đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen),青 (xanh), 蓝 (lam), 灰 (xám), 紫 (tím), 褐 (màu hạt dẻ) Còn ông Lưu Đan Thanh thì lại cho rằng chỉ có chín từ chỉ màu sắc cơ bản là các màu giống ý kiến cuả Lưu Quân Kiệt và Lưu Vân Tuyền nhưng lại bỏ màu 褐 (màu hạt dẻ) đi Ý Kiến của Chiêm Nhân Phương cho rằng chỉ có sáu từ là: 红 (đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen), 蓝 (lam) là từ chỉ màu sắc cơ bản; còn lại màu青 (xanh) và 灰 (xám) được cho rằng là hai màu chuẩn cơ bản
Trong tiếng Hán, nhữung từ chỉ màu sắc đơn âm tiết ngoài mười từ chỉ màu sắc cơ bản: 红 (đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen), 青 (xanh),
蓝 (lam), 灰 (xám), 紫 (tím),褐 (màu hạt dẻ) ra thì phần lớn đều là những từ
Trang 24cổ ngữ Mặc dù những từ trong tiếng Hán có thể sử dụng độc lập nhưng phần lớn các từ ngữ cổ rất ít khi đi một mình mà nó phải kết hợp với các từ khác khi sử dụng trong Hán ngữ hiện đại, ví dụ như: 赤卫队 (đội xích vệ), 彤云 (mây đỏ, ráng đỏ), 丹枫 (cây bàng), 绯红的晚霞 (ráng chiều màu đỏ),
Các từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết trong tiếng Hán đa phần đều là tính
từ Khi kết hợp với chữ 色 (màu) nó sẽ tạo thành danh từ như: 红色 (đỏ), 黄
色 (vàng), 绿色 (lục),-玄色 (đen), 白色 (trắng), 翠色 (xanh biếc), 碧色 (ngọc xanh biếc/ xanh biếc)
Số lượng các từ chỉ màu sắc đơn âm tiết có ít tuy nhiên vai trò của nó là
vô cùng lớn Chúng chính là những từ ngữ chỉ màu sắc cơ bản để tạo ra những từ ngữ chỉ màu sắc đa âm tiết sau này
1.3.2 Từ chỉ màu sắc đa âm tiết
Ngoài những từ chỉ màu sắc đơn âm tiết thì trong tiếng Hán còn có các
từ chỉ màu sắc đa âm tiết Việc chuyển từ từ đơn âm tiết sang từ đa âm tiết là một quá trình Các từ ngữ chỉ màu sắc đa âm tiết được phát triển khá đầy đủ
Số lượng của các từ chỉ màu sắc đa âm tiết đã vượt ra khỏi phạm vi những từ chỉ màu sắc đơn âm tiết vốn hạn hẹp bằng cách sử dụng nhiều phương thức cấu tạo giúp cho sự vật hiện lên rõ ràng và cụ thể Có rất nhiều phương thức cấu tạo của từ chỉ màu sắc đa âm tiết như:
Phương thức tổ hợp, tức là dùng hai từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết ghép lại để hình thành nên từ ngữ chỉ màu sắc đa âm tiết Trong phương thức này ta có thể chia ra làm hai loại Thứ nhất đó là từ chỉ màu sắc đa âm tiết do hai từ chỉ màu sắc đơn âm tiết khác nhau tổ hợp thành: 绛紫 (tím đỏ) 紫红 (đỏ tía), 青紫 (xanh tím), 灰白 (xám trắng), 苍白 (trắng xanh), Chúng biểu thị loại màu sắc hỗn hợp, màu sắc đứng trước biểu thị màu phụ còn màu sắc phía sau biểu thị màu chính, giữa hai hình vụ này là mối quan hệ chính - phụ Ví dụ
Trang 25tía) tức mà trong màu đỏ pha lẫn một chút tía Thứ hai là từ chỉ màu sắc đa
âm tiết được hình thành do hai từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết cùng một phạm trù màu sắc với nhau tạo nên: 赤红 (đỏ), 朱红 (đỏ son), 绯红 (đỏ ửng), 绛红 (đỏ thẫm)… Và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc này đa số thể hiện ở hình vị sau
Phương thức ví von là hình vị trước trong từ chỉ màu sắc mang ý vị ví von, biểu thị ý nghĩa giống như cái gì đó Trong phương thức ví von này ta
có thể chia làm hai loại Ở loại thứ nhất ta có thể thêm chữ 色 (màu) vào sau hình vị gọi tên vật thể như: 米色 (màu kem), 驼色 (màu lạc đà), 茶色 (màu nước chè), 桃红色 (màu hoa đào), 内色 (màu da người), 咖啡色 (màu cà phê), 玫瑰色 (màu hoa hồng),… Những từ chỉ màu sắc đa âm tiết này mang tính hình tượng giúp người nghe hình dung ra tính chất đặc trưng của vật thể
ví dụ như: 古铜色的皮肤 (da dẻ màu đồng cổ), màu đồng cổ đây ngoài ngữ nghĩa màu be, còn khiến người ta nghĩ đến tính bóng láng của màu đồng cổ Loại thứ hai là kiểu do hình vị gọi tên vật thể được thêm vào từ chỉ màu sắc đơn âm tiết mà thành Phạm vi màu sắc của hình vị danh từ đằng trước tương đối hẹp, phạm vi màu sắc của từ chỉ màu sắc đơn âm tiết đằng sau rộng hơn.Ví dụ như: a 米色(màu kem), 杏黄(vàng mơ), 桔黄 (màu da cam),
桃红 (hoa đào), 银色 (trắng bạc), 玫瑰红 (màu hoa hồng), 孔雀蓝(màu
xanh công lông), 月白(trắng xanh),… b 雪白(trắng tuyết), 乌黑 (đen như cốc), 漆黑 (đen như mực), 铁青 (xanh thẫm), 火红 (đỏ gay), 血红 (đỏ lòm),
蜡黄 (vàng bệch),…
Trong đó loại a chủ yếu biểu thị bản thân màu sắc, đằng sau có thêm vào chữ 色(màu), ví dụ: 米黄色 (màu kem), 杏黄色(vàng mơ), 桔黄 (màu da cam), 桃红色(màu hoa đào), nhưng từ chỉ màu sắc phương thức-ví von đa âm tiết như 玫瑰红 (màu hoa hồng), 孔雀蓝 (màu xanh công lông)… do bị hạn
Trang 26chế về nguyên tắc tiết tấu ngữ âm và tiết kiệm ngôn ngữ, thông thường đằng sau chúng không được thêm vào chữ 色 (màu) Ví dụ:一件玫瑰红的毛衣 (một chiếc áo len màu hoa hồng), thông thường không thể nói: 一件玫瑰红色的毛衣 Loại b chủ yếu biểu thị một thứ trạng thái, đằng sau không thêm vào chữ 色 (màu), thông thường không thể nói 雪白色 (trắng tuyết), 漆黑 色(đen như mực), 火红色 (đỏ gay), nhưng chúng có thể láy, ví dụ như 雪白雪白的 (trắng như tuyết), 火红火红的 (đỏ như lửa) còn có thể làm vị ngữ của nhóm
từ chủ-vị, ví dụ: 墙避雪白 (bức tưởng trắng tinh), 头发乌黑 (mái tóc đen nhánh); loại a không láy được, cũng không thể làm vị ngữ Loại từ chỉ màu sắc này là nhờ vào hiện vật để biểu thị màu sắc, nên thông thường không láy bản thân hiện vật Ví dụ không nói 桃红的桃红 (hoa đào màu hoa đào), 驼色的驼色 (lông lạc đà màu lạc đà), 玫瑰红的玫瑰 (hoa hồng màu hoa hồng),…
Phương thức gợi tả: là phương thức do một tính từ biểu thị cảm giác, tính chất và trạng thái hoặc mức độ thêm vào một từ chỉ màu sắc đơn âm tiết hình thành Ví dụ: 嫩绿 (xanh nhạt), 深红(đỏ thẫm), 鲜红 (đỏ tươi), 浅红 (hồng nhạt), 浓黑 (đen đậm), 惨绿 (tái xanh), Loại thừ ngữ màu sắc này thông thường chúng ta có thể thêm chữ 色 (màu) đi cùng để chỉ khái niệm màu sắc, nhưng bản thân chúng đã tỏ ra ý nghĩa mức độ nên thông thường không được
tu từ của từ biểu thị ý nghĩa mức độ nữa
Phương thức láy là những từ chỉ màu sắc gồm có từ chỉ màu sắc đơn
âm tiết thêm vào thành phần hậu tố láy Phương thức láy cũng được chia làm hai loại Loại thứ nhất là từ chỉ màu sắc đơn âm tiết cộng hậu tố hai âm tiết như: 黑洞洞 (tối mò mò), 白茫茫 (trắng xóa một màu), 红通通 (đỏ rực/ đỏ sẫm), 黄灿灿 (vàng ối), 黑蒙蒙 (mờ mịt/mù mịt), 绿油油 (xanh mướt/ xanh biếc),… Loại thứ hai là từ chỉ màu sắc đơn âm tiết cộng với hậu tố ba âm tiết
Trang 27phèo), 灰不叽叽 (xám xìn xịt),… Những từ chỉ màu sắc đa âm tiết theo phương thức láy thường kèm theo cảm giác và ấn tượng nào đó xuất hiện trong tình huống khác nhau của con người Tính quan trọng của cảm giác và
ấn tượng kèm theo này không thua kém hơn bản thân từ chỉ màu sắc trong đa
số tình huống Những từ chỉ màu sắc có thêm hậu tố thường cảm giác gợi tả sống động như 白花花 (trắng ngần/ trắng muốt), 蓝盈盈 (xanh biếc/ xanh thẳm/ bầu trời xanh thẳm), đã miêu tả một cách sinh động sự vật khách thể Tuy nhiên, về cơ bản phạm vi sử dụng của các từ lấy chỉ màu sắc đa âm tiết này tương đối có hạn bởi nó chỉ kết hợp với một số từ nhất định
Ngoài các phương thức cấu tạo như trên thì từ chỉ màu sắc đa âm tiết còn có một số phương thức cấu tạo khác như: 军绿 (màu bộ đội), 公安蓝 (xanh lam công an), 学生蓝 (xanh lam học sinh), tức là lấy những người sử dụng màu sắc thuộc một bộ phận xã hội đặc biệt, tư cách xã hội của họ là cố định với số người đông nên màu sắc của họ sử dụng dần dần hình thành một thứ gọi là màu tiêu chí Còn có 刚果红 (màu hồng Công-gô), 中国白 (màu trắng Trung Quốc), 巴黎绿 (màu xanh Pa-ri), 北京蓝 (màu xanh lam Bắc Kinh), 淮安红 (màu hồng Hoài An), 西洋红 (màu đỏ Tây),… thì là lấy nơi sản xuất để gọi tên màu sắc; 永乐鲜红 (đỏ tươi Vĩnh Lạc), 景泰蓝 (Cảnh Thái lam)… thì dùng niên hiệu thời xưa để tu từ màu sắc
Trang 28Chương 2 KHẢO SÁT TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ VƯƠNG DUY
2.1 Số từ chỉ màu sắc trong thơ Vương Duy
Là một thi hào tinh thông hội họa cho nên Vương Duy nắm rất chắc, rất vững các kiến thức về màu sắc hội họa Chính vì thế mà trong thơ ông sử dụng rất nhiều các màu sắc khác nhau giúp cho các bài thơ của ông muôn màu, muôn vẻ, sinh động, hấp dẫn Theo thống kê của chúng tôi trong các bài thơ của mình, Vương Duy đã sử dụng tới mười ba màu sắc: Bạch (白), Thanh (青), Thương (蒼), Lục (綠), Bích (碧), Chu (朱), Hồng (紅), Xích (赤), Tố (素), Hoàng (黃), Kim (金), Thúy (翠),Tử(紫)
2.1.1 Các từ chỉ màu trắng trong các bài thơ của Vương Duy
Trong hội họa Trung Hoa thì màu trắng là màu biểu tượng cho sự giản
dị, sạch sẽ và tinh khiết tuyệt đối Có lẽ chính vì thế mà Vương Duy thường
sử dụng màu trắng trong các bài thơ của mình bởi ông là một người có tâm hồn thanh tịnh, hướng về nơi cửa phật Từ chỉ màu trắng trong thơ ông gồm hai từ đó là “bạch” (白)và “tố” (素), chủ yếu là từ “bạch” (白):màu trắng của mây, màu trắng của con cò hay màu trắng của đá,… Sắc trắng trong thơ ông gợi cho ta cảm giác yên bình, tĩnh lặng nhưng đôi khi nó cũng tạo cảm giác lạnh lẽo, cô đơn và thất bại bởi màu trắng là màu quá đơn giản
Đặc biệt Vương Duy thường sử dụng hình ảnh mây trắng Trong thơ cổ, mây trắng thường được sử dụng với ý tứ ẩn dật, tiên nhân Có lẽ Vương Duy muốn gửi gắm mong muốn của mình trong những vần thơ một cách đầy tinh
tế Ta có thể thấy cụ thể trong bài thơ Chung nam sơn có câu:
(Bạch vân hồi vọng hợp)
Trang 29Mây trắng bao phủ kín mít xung quanh như chốn bồng lai tiên cảnh, nơi trú ngụ của các tiên nhân Chỉ với một câu thơ, Vương Duy đã vẽ ra trước mặt ta một khung cảnh đầy thơ mộng Mây trắng quấn quýt trên đỉnh núi mờ
mờ hư ảo khiến con người ta có ham muốn được chiêm ngưỡng, được lại gần
Trong bài thơ Tống biệt Vương Duy cũng sử dụng hình ảnh mây trắng trôi
đầy tinh tế:
(Bạch vân vô tận thi) Bài thơ này được Vương Duy viết khi tiễn bạn lên đường về ẩn cư ở núi Chung Nam Đám mây trắng lững lờ trôi từ vô thủy đến vô chung Tình bạn của Vương Duy thấm sâu vào tâm hồn ông, thấm sâu vào từng nét bút để
vẽ nên những đám mây trôi lững lờ Những đám mây kia trôi lững lờ như tâm thức của chính bản thân nhà thơ khi tiễn bạn lên đường
Bên cạnh màu trắng của mây thì Vương Duy còn dùng màu trắng để nói
về các đồ vật, con vật Trong bài thơ Bạch thạch khê Vương Duy có viết:
(Thanh tiện bạch thạch khê) Những viên đá trắng ngần được phô khoe qua sự trong trẻo của nước suối Nước đã làm cho những viên đá mang màu sắc trắng hơn giúp ta thấy được sự kì hiệu của thiên nhiên tạo hóa Đọc câu thơ khiến ta có cảm giác thanh bình yên ả của nơi núi rừng không nhuốm bụi nơi phồn hoa đô thị Ta
còn thấy hình ảnh cò trắng trong bài thơ Tịch vũ võng xuyên trang tác:
(Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ) Bầy cò trắng bay thẳng cánh trên ruộng nước bao la, mênh mông tựa biển khơi vẽ ra một khung cảnh thanh bình, thơ mộng Thiên nhiên vạn vật hòa quyện với nhau sau cơn mưa tạo nên một Võng Xuyên đầy tình tứ
Trang 30Từ “tố” được Vương Duy sử dụng ít hơn tuy nhiên nó vẫn được nhà thơ đưa vào các sáng tác của mình một cách rất chính xác và uyển chuyển
Trong bài thơ Đông vãn đối tuyết ức hồ cư sĩ gia có nói:
(Tịch tố quảng đình nhàn) Một sắc trời vào đông heo hút lạnh lẽo, bao phủ bởi lớp tuyết trắng Và sân nhà cũng bị vùi lấp bởi lớp tuyết trắng xóa lạnh lẽo như kéo rộng ra vô tận
Từ “tố” không phải là sắc trắng đơn thuần, dịu nhẹ mà nó mang cho con người ta cảm giác cô đơn, lạnh lẽo đến tột cùng
Như vậy ta có thể thấy được chỉ với một màu trắng mà Vương Duy lại
có thể gửi gắm nhiều suy nghĩ, ý nghĩa giúp người đọc cảm nhận một cách chân thực thiên nhiên, cảnh vật, con người cũng như tâm trạng của thi nhân
2.1.2 Các từ chỉ màu xanh trong thơ Vương Duy
Trong thơ Vương Duy thì màu xanh cũng được sử dụng rất phổ biến Màu xanh là màu của thiên nhiên, của sự hòa thuận, tươi mát màu mỡ đồng thời nó cũng mang lại cho chúng ta cảm giác an toàn Các từ chỉ màu xanh trong thơ Vương Duy được sử dụng rất đa dạng như: thanh (青), thúy (翠 ), lục (綠), bích (碧), thương (蒼) Từng sắc thái của thiên nhiên vạn vật được Vương Duy thể hiện qua các từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau Nhà thơ đã khéo léo kết hợp màu sắc đối tỷ và hài hòa để nâng tầm tác phẩm của mình
Trong các từ ngữ chỉ màu xanh thì “thanh” (青) là từ ngữ mà Vương Duy sử dụng nhiều nhất Chúng ta có thể thấy rõ điều đó thông qua một số bài
thơ của ông như bài Hàn thực ti thượng tác có câu:
(Dương liễu thanh thanh độ thủy nhân) Màu liễu xanh mướt mềm mại của đất Vấn Dương đã phần nào làm vơi