Trên cơ sở những khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN theopháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cánhân nhằm t
Trang 1Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ LẠM PHÁT
Trang 21 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
a Định nghĩa thu nhập
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhập dưới các góc độ khácnhau Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.G Simons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thunhập (sau này gọi là định nghĩa Haig-Simons) cho rằng thu nhập là tổng giá trị của cải ròng tănglên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian nhất định, thường làmột năm Quan điểm này mang tính lý thuyết và được chấp nhận rộng rãi Tuy nhiên, trên thực tếrất khó thực hiện, vì giá trị tăng thêm mới chỉ tồn tại ở tiềm năng, mặt khác lại biểu hiện dưới cáchình thức khác nhau như tiền, hàng hóa và dịch vụ song lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyểndịch quyền sở hữu
Dựa trên cơ sở định nghĩa của Haig-Simons, các nhà kinh tế hiện đại đưa ra quan niệm mới
về thu nhập làm cơ sở đánh thuế TNCN
- Khái niệm bao quát: thu nhập là mọi khoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi khấu trừcác chi phí tạo ra chúng
- Quan niệm hạn hẹp: dựa trên cơ sở thu nhập chỉ giới hạn trong những lợi ích phát sinh lặp
đi lặp lại, có tính liên tục để hình thành phương thức đánh thuế thu nhập từ các nguồn phátsinh thu nhập
Dựa trên các định nghĩa trên có thể nhận thấy thu nhập có đặc điểm chung sau: Thu nhập làtổng các tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ là một chủ thể nào đó trong nềnkinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trìnhphân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định(thường là một năm)
b Thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhànước Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sự phân chia giaicấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ để tạo ra nguồn thu chủ yếu cho mọi nhucầu chi tiêu của bộ máy nhà nước nói chung hay của giai cấp thống trị nói riêng
Trang 3Trên cơ sở những khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN theopháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cánhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sáchnhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làmviệc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinhdoanh, đầu tư,… Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cánhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừđặc biệt.
1.2 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
- Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Do là thuếtrực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịuthuế theo ý nghĩa kinh tế Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCNkhông có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểmđánh thuế
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhânthuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nướchay ở nước ngoài
Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập
từ hoạt động kinh doanh, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những ngườinước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt,làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN
- Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luậtđịnh Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhànước
- Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nó vận độngmột chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do đượchưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
Trang 4- Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu hết các quốc gia đềugắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng,chăm sóc sức khỏe…).
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dânnước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó vàhầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhậpphát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách củathuế TNCN rất cao
Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần Đặcđiểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao,góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đápứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việctăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
1.3 Vai trò của thuế TNCN
Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điều kiệnkinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sức cần thiết
và có vai trò quan trọng về nhiều mặt Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừamang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không cóđược
1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội
* Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng gópmột phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng,khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vàothu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng cóthu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăngnhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
* Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Trang 5Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khảnăng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuy nhiên, cácyếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhậpcủa mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bìnhđẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khácnhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập củanhững người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội.
Hình: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Để thấy rõ vai trò của thuế TNCN , có thể sử dụng đường cong Lorenz sau đây Trên đồ thị,đường cong Loenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự phân phối công bằng Điều đóđược trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua thực hiện thuế TNCN để đảm bảo rút ngắn khoảng cáchphân hóa giàu nghèo xã hội
* Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Trang 6Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầnglớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để kiểm soát thunhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công,chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thểchưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trình mục tiêunghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, phápchế xã hội được nâng lên.
Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng cường hoặcgiảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó
có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế phát triển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mônền kinh tế mà chính sách thuế TNCN góp phần tác dụng đáng kể
Thực hiện điều tiết kinh tế trong điều kiện tăng năng suất và hiệu quả kinh tế theo lý thuyếttrọng cung, các nhà kinh tế học thuộc trường phái này mà đại diện là Laffer đã đưa ra đường cong
lý thuyết nổi tiếng là đường cong Laffer
Trang 7Mô hình đường cong Laffer cho thấy mối quan hệ giữa thuế suất và tổng thu nhập từ thuế.Nếu mức thuế được xác định cao hơn mức t0 sẽ gây ra phản ứng như hạ thấp động lực kinhdoanh, chuyển vốn đầu tư sang lĩnh vực khác chịu thuế thấp hơn, chuyển sang hoạt động ngầm đểtrốn thuế Điều này cho thấy, nếu thuế suất của thuế thu nhập hợp lý sẽ tác động kích thích tăngtrưởng kinh tế và tăng thu cho ngân sách Việc nghiên cứu một mức thuế TNCN phù hợp để nângcao kích thích của nó được đánh giá quan trọng hơn vai trò công bằng mà nó tạo ra trong phânphối thu nhập.
* Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiệncác hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước khôngkiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếmđoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh
tế – xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lạinhững hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuếTNCN
1.3.2 Đối với hệ thống thuế
* Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là cótính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng mộtlượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tínhthuế TNCN theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
* Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 8Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa hailoại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế TNCN còn góp phần khắcphục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp haygiữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế nhữngchi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuếthu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuếTNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăngthường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thốngchính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới Việc banhành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chínhtiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đãhoạch định
Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của chính sáchthuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế TNCN mới ban hành để tuyêntruyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và tráchnhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của LuậtQuản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006
Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, ngàycàng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước Dù không phải là mục tiêu chủ yếu,song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là làviệc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với xu hướng tăngtrưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớnthì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càngtăng và sẽ ngày một dồi dào Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nênnhững vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển
1.4 Nguyên tắc đánh thuế TNCN:
- Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Trang 9Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau nhưng thực tế, không phải toàn bộ thunhập phát sinh đều thuộc đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnhphần thu nhập chịu thuế, vì vậy thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các thu nhập đượcsau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế.
- Đánh thuế TNCN theo phương pháp lũy tiến
Thuế TNCN chủ yếu là thuế lũy tiến: là sắc thuế có tỷ lệ ngày càng tăng theo thu nhập chịuthuế, là loại thuế thu nhiều phần trăm hơn vào thu nhập của người có thu nhập cao và ít phần trămvào thu nhập của người có thu nhập thấp Thuế lũy tiến được coi là phương pháp hữu hiệu đểđánh thuế theo khả năng trả thuế của cá nhân Người thu nhập cao có nhiều khả năng trả thuế hơnngười thu nhập thấp Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhập giảm dần
2 Lạm phát:
2.1 Khái niệm:
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều nàykhông nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theocùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá
Trang 10của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trongbối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụhơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiềutiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định
Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức làsức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuốngtrong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phảichăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng củamức giá hay không Người dân vẫn có thể trở nên khá giá hơn khi thu nhập bằng tiền tăngnhanh hơn tốc độ tăng giá
Lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăngliên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dườngnhư mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượngtăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát
Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chung liên tụcgiảm Khi đó, sức mua của đồng nội tệ liên tục tăng
2.2 Đo lường lạm phát:
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định,các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổicủa mức giá chung Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:
Trong đó:
πe : tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)
Pt : mức giá của thời kỳ t
Pt-1 : mức giá của thời kỳ trước đó
Người ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (D) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đolường mức giá chung Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toànthế giới đều được tính trên cơ sở CPI
2.3 Các lạm nguyên nhân gây ra lạm phát:
Trang 112.3.1 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ:
Những nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiềnthừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó: M: Lượng cung tiền danh nghĩa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Chỉ số giá (mức giá trung bình)
Y: Sản lượng thực
Học thuyết này cho rằng khi tăng lượng tiền cung ứng thì mức giá cả cũng tăngtheo tương ứng (vì V và Y gần như không đổi trong ngắn hạn) Nội dung học thuyết tậptrung luận giải những yếu tố hình thành giá cả có liên quan trực tiếp đến:
- Quá trình hình thành và phát triển thị trường tiêu dùng (cầu hàng hóa, dịch vụ);
2.3.2 Lạm phát do cầu kéo:
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng laođộng, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường AD dịchsang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng.Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta cócầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát
2.3.3 Lạm phát do cầu thay đổi:
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàngkhác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứngnhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫnkhông giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mứcgiá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát