1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG của lạm PHÁT đối với THUẾ ĐÁNH vào HÀNG hóa

19 897 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế đánh vào hàng hóa
Tác giả Đặng Lê Hồng Trúc
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 431 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

GV: PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

TIỂU LUẬN:

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐỐI VỚI

THUẾ ĐÁNH VÀO HÀNG HÓA

GVHD : PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng NTH : Đặng Lê Hồng Trúc

Lớp : TCDN - Đêm 1 - K20

Trang 2

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ HÀNG HÓA VÀ LẠM PHÁT 2

1.1 Thuế: 2

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc điểm cơ bản 3

1.1.3 Vai trò của thuế 4

1.1.4 Đặc điểm cơ bản của thuế đánh vào hàng hóa 5

1.2 Lạm phát 7

1.2.1 Khái niệm lạm phát 7

1.2.2 Phân loại lạm phát 8

1.2.3 Các chỉ số đo lường lạm phát 9

1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến Lạm phát 9

1.2.4.1 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ 9

1.2.4.2 Lạm phát do cầu kéo (Demand – pull inflation) 10

1.2.4.3 Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy) 11

CHƯƠNG 2: Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế đánh vào hàng hóa 14

2.1 Tìm hiểu về thuế lạm phát 14

2.2 Tác động của lạm phát lên thuế đánh vào hàng hóa 15 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong tình hình hiện nay, lạm phát là vấn đề trung tâm và nhạy cảm hàng đầu, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới Và việc quan tâm tới lạm phát trong vai trò của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế, luôn

là chủ đề mà các nhà làm chính sách quan tâm Trong xu hướng chịu sự tác động, ảnh hưởng từ lạm phát, Thuế không là ngoại lệ Với vai trò là một công cụ để kiềm chế lạm phát, chính sách thuế được xây dựng và điều chỉnh một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng thời điểm biến động của nền kinh tế, đặc biệt là yếu tố lạm phát Bởi trong quá trình thực thi, chính sách thuế ít nhiều chịu ảnh hưởng, chi phối từ lạm phát

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ LẠM PHÁT

1.1 Thuế

1.1.1 Khái niệm

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng

Thuế đánh vào hàng hóa bao gồm các loại thuế sau:

Thuế giá trị gia tăng

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế xuất khẩu

Thuế nhập khẩu

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của thuế

a Tính bắt buộc

Tính bắt buột là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E Stiglitz cho rằng: “ Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”

b Tính không hoàn trả trực tiếp.

Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với lý do họ không được hoặc ít được hưởng những lợi ích trực tiếp từ Nhà nước

Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước bởi những khoản này có tính chất đối ứng rõ rệt và phần

Trang 5

nào đó mang tính chất tự nguyện, trao đổi ngang bằng giữa khoản phải trả và lợi ích dịch vụ mà họ nhận được

c Tính pháp lý cao

Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao Điều

đó được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà kinh tế học Joseph E Stiglitz nói rằng: “ Việc chuyển giao bắt buộc này giống như là ăn trộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là : trong khi cả hai cách chuyển đều là không tự nguyện, thì cách chuyển qua Chính phủ có mang tấm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do các quá trình chính trị ban cho”

1.1.3 Vai trò của thuế

- Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước

Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện động viên nguồn tài chính cho Nhà nước Đây chính là vai trò truyền thống, căn bản của thuế Nhờ có vai trò này mà Nhà nước mới có thể có trong tay mình nguồn tiền tệ cần thiết để chi tiêu cho các hoạt động của mình, đồng thời tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tái phân phối sản phẩm xã hội theo các mục tiêu quản lý được đặt ra Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thường chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách Ở nước ta, nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế cũng thường chiếm trên 90% tổng các khoản thu của Ngân sách Nhà nước trong vòng một thập kỷ trở lại đây

- Điều tiết kinh tế vĩ mô

Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc qui định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn, giảm thuế Trên cơ sở đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội Trong điều kiện cơ chế thị trường, khi sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào nền kinh tế ngày càng hạn chế thì việc sử dụng công cụ thuế như một biện

Trang 6

pháp điều chỉnh vĩ mô mang lại hiệu quả cao Vai trò này xuất phát từ khả năng tái phân phối của cải làm thay đổi tương quan lực lượng vật chất của các đối tượng điều chỉnh trong nền kinh tế /

1.1.4 Đặc điểm cơ bản của thuế đánh vào hàng hóa

a/ Tỷ trọng khá lớn tại quốc gia đang phát triển

29

30

31

32

33

34

35

36

EU25 Euro12 EU15

Trang 7

b/ Có tính lũy thoái so với thu nhập.

Thu nhập càng cao, tỷ lệ thuế gián thu so với thu nhập càng có khuynh hướng giảm (Xét một sản phẩm, trong một thời gian ngắn)

- Hai cá nhân A và B cùng mua một sản phẩm với giá 400.000 đ và chịu VAT 40.000đ

- Thu nhập hàng tháng:

Của A: 1.500.000 đ Của B: 7.000.000 đ

- Tỷ lệ VAT của sản phẩm so với thu nhập tháng:

Của A: 2,67%

Của B: 0,57%

Thu nhập càng cao, tỷ lệ thuế gián thu so với thu nhập càng có khuynh hướng giảm

c/ Tính gián thu; dễ chuyển

Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp thu vào người tiêu dùng thông qua hoạt động của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác trong thuế gián thu thì người nộp thuế và người chịu thuế là hai đối tượng hoàn toàn độc lập với nhau Ưu điểm của loại thuế này là không tạo ra cảm giác chịu thuế cho người chịu thuế

Trang 8

d/ Làm biến dạng tiêu dùng:

Người chịu thuế có thể tránh thuế bằng cách thay đổi cách thức tiêu dùng Làm biến dạng thị trường và gây ra những mất mát vô ích

- Giả sử một người có thu nhập hàng tháng là Y đ

- Giá 1 đơn vị bia và nước ngọt trước khi đánh thuế là: P0B và PS

- Chính phủ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào bia nhưng không đánh vào nước ngọt

- Giá 1 đơn vị bia và nước ngọt sau thuế tiêu thụ đặc biệt là: P 1

B và P S

Trang 9

e/ Nội hóa ngoại tác tiêu cực

Khi tác động tiêu cực bên ngoài xảy ra, chi phí toàn bộ của sản xuất không được phản ánh trên thị trường Ðiều này tạo ra chênh lệch giữa chi phí tư nhân và chi phí xã hội mà kết quả là nguồn lực bị phân bổ quá mức cho ngành liên quan

Một biện pháp phổ biến nhằm hạn chế tiêu dùng một mặt hàng, khi việc tiêu dùng này gây ra ngoại tác tiêu cực, là làm tăng chi phí sản xuất Mục đích là để toàn bộ chi phí bao gồm chi phí sản xuất tư nhân cộng với chi phí đối với xã hội do ngoại tác -được phản ánh trên thị trường Biện pháp này có thể -được thực hiện thông qua các chính sách như đánh thuế hoặc hạn chế tiêu dùng

Ví dụ: Ðơn cử là một đề nghị gần đây cho rằng nên tăng gấp đôi thuế tiêu thụ xe gắn máy và hạn chế lưu thông xe máy trên một số tuyến đường trung tâm thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Lạm phát

1.2.1 Khái niệm lạm phát

Trong quá trình hình thành và phát triển của khoa học kinh tế, không ít các nhà

kinh tế đã đi tìm và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát Có những quan điểm tiếp cận theo hướng tập trung những nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc cũng có trường phái đi sâu vào ảnh hưởng của nó tác động đến nền kinh tế, an sinh xã hội

Trang 10

Song cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất hoàn toàn về lạm phát Tuy nhiên, có thể kể ra một số các quan điểm khác nhau về lạm phát như sau:

 Lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế Điều này có thể được tóm tắt trong phương trình của Fisher:

M.V = P.Y

Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa dịch vụ được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng Và nếu thêm vào đó là tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì (P) lại tăng rất nhanh Quan điểm trên giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không chỉ ra nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát

 Quan điểm khác cho rằng lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức đảm bảo, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao

 Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động) Khi mức giá chung của giá cả

và chi phí tăng, thì lạm phát xảy ra

Như vậy, dù khác nhau về cách nhìn nhận, nhưng các quan điểm này đều đề cập đến một khía cạnh, đó là sự gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt trong nền kinh tế

1.2.2 Phân loại lạm phát

Biểu hiện đặc trưng của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa Xuất phát từ quan điểm này, các nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá để làm căn cứ phân lạm phát ra làm 3 mức độ:

Lạm phát vừa phải (còn gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát một con số),

lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng chậm ở giới hạn dưới 10% một năm Với mức độ lạm phát vừa phải thì giá cả tăng dao động xung quanh mức tăng của tiền lương, trong điều kiện như thế thì giá trị tiền tệ không biến động nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển

Trang 11

Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng từ 10% đến 100%/năm Lạm phát phi mã xảy ra sẽ làm cho đồng tiền mất giá nhanh chóng, thị trường tài chính bất ổn, gây biến động lớn về kinh tế, xã hội

Siêu lạm phát (còn gọi là lạm phát siêu tốc)

Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con số hằng năm trở lên Người ta thường ví siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết người, có những tác hại vô cùng nguy hiểm đến kinh tế-xã hội

1.2.3 Các chỉ số đo lường lạm phát

Mức độ lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát (kí hiệu If): là tỷ lệ phần

trăm gia tăng trong mức giá chung của kỳ này so với kỳ trước

Mức giá chung (hay chỉ số giá) được hiểu là mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế cuả kì này so với kì gốc

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ

số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát:

Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá hàng sản xuất (PPI)

Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)

1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến Lạm phát

Tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, các nhà kinh tế học đã chỉ ra những nguyên nhân gây ra lạm phát Có 3 nguyên nhân chính là:

1.2.4.1 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ

Những nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:

M.V = P.Y

Trong đó: M: Lượng cung tiền danh nghĩa

V: Tốc độ lưu thông tiền tệ

Trang 12

P: Chỉ số giá (mức giá trung bình)

Y: Sản lượng thực

Học thuyết này cho rằng khi tăng lượng tiền cung ứng thì mức giá cả cũng tăng theo tương ứng (vì V và Y gần như không đổi trong ngắn hạn) Nội dung học thuyết tập trung luận giải những yếu tố hình thành giá cả có liên quan trực tiếp đến:

 Quá trình hình thành và phát triển thị trường tiêu dùng (cầu hàng hóa, dịch vụ);

 Cung hàng hoá và dịch vụ;

 Mối tương quan giữa cung và cầu hàng hoá;

 Giá cả sản xuất

Tất cả các yếu tố hình thành giá cả được xem xét như là nguyên nhân tăng giá

Về cảm giác thì ai cũng có thể nhận thấy rằng giá cả năng lượng, nguyên liệu, … có tác động đến lạm phát nhưng sự tác động này phải nằm trong mối liên hệ của 4 yếu tố nêu trên (cung, cầu, mối tương quan giữa cung cầu, giá cả sản xuất)

1.2.4.2 Lạm phát do cầu kéo (Demand – pull inflation)

Là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt quá mức tổng cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tăng giá cả Trong lạm phát do cầu kéo, tiền tệ đồng thời đóng 2 vai trò: vừa là nền tảng, vừa là nguyên nhân Có thể chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản làm cho tổng cầu tăng lên như sau:

 Chi tiêu của Chính phủ tăng lên dẫn đến khối lượng tiền tệ lưu thông gia tăng, làm cho mức cầu về hàng hoá tăng

 Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài nước hoặc của Ngân hàng Trung ương (tức là Ngân hàng Trung ương đã phát hành tiền qua cửa ngõ Chính phủ) đã làm cho khối lượng tiền tệ lưu thông tăng, dẫn đến tổng chi tiêu bằng tiền tăng

 Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên do mức thu nhập tăng hoặc lãi suất giảm

Trang 13

 Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc

độ lưu thông tiền tệ, nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng thì tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng

 Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hoặc do lãi suất giảm

 Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân

dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn

 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như: Tỉ giá hối đoái, mức thu nhập của cư dân nước ngoài, … làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia tăng

Trong các phân tích trên, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá làm xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn Song nếu nền kinh tế chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho kinh tế tăng trưởng, khi đó tổng cung sẽ tăng, sản lượng của nền kinh tế tăng lên Ngược lại với lạm phát do nguyên nhân từ phía cầu

là lạm phát do nguyên nhân từ phía cung, gọi là lạm phát do chi phí đẩy

1.2.4.3 Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy)

Trong lạm phát chi phí đẩy tiền tệ cũng là cơ sở của lạm phát nhưng đóng vai trò thụ động, nghĩa là tiền tệ sẽ bị cuốn vào vòng xoáy của chi phí sản xuất Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít mà chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động thì sẽ sinh ra lạm phát do chi phí đẩy Chi phí sản xuất tăng lên tạo

áp lực “đẩy” giá bán sản phẩm tăng lên hoặc có thể làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội, như vậy trong trường hợp này là do các yếu tố sản suất và tiêu thụ hàng hoá gây ra Chi phí sản xuất tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau:

 Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động: các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề tiền lương

Trang 14

Trong ngắn hạn chi phí nhân công ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động nhưng trong dài hạn do áp lực của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho nhân viên tạo sức ép nâng tiền lương lên, khi lương tăng, giá cả hàng hoá sẽ tăng Quy trình này tác động bởi yếu tố hành chính, có nghĩa khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận Khi giá cả hàng hoá nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương Khi lương tăng

và giá cả lại tăng thì buộc các doanh nghiệp phải tăng giá bán sản phẩm để đảm bảo lợi nhuận

 Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất) Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ thương mại, mậu dịch

 Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà đầu tư do vậy đẩy giá cả tăng lên Để duy trì mức sinh lời mong muốn, các doanh nghiệp sẽ tăng

tỉ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hoá làm cho giá cả tăng, việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền

Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy đều cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hoá tăng lên Trong khi phân tích về các loại lạm phát và nguyên nhân gây ra lạm phát, các nhà kinh tế thừa nhận rằng không phải lạm phát lúc nào cũng gây ra hậu quả xấu đối với nền kinh tế xã hội Lạm phát có tác động tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nó, song nhìn chung khi lạm phát cao xảy ra nó thường để lại không nhiều thì ít những hậu quả cho nền kinh tế

Những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác:

 Nguyên nhân chủ quan: chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của nhà nước như chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất… làm cho nền kinh tế quốc dân

bị mất cân đối, kinh tế tăng trưởng chậm ảnh hưởng đến nền tài chính quốc gia Một

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w