1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của giá dầu mỏ trên thế giới đến tình hình lạm phát ở việt nam giai đoạn 2000 2010

21 624 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của giá dầu mỏ trên thế giới đến tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Tác giả Nhóm 5
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 364 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài: Dầu mỏ là mặt hàng quan trọng, là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành đểsản xuất ra các hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống con người mà không loại nguyênliệu nào thay t

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ DẦU MỎ TRÊN THẾ GIỚI ĐẾN TÌNH HÌNH

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2010

1 Lý do chọn đề tài:

Dầu mỏ là mặt hàng quan trọng, là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành đểsản xuất ra các hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống con người mà không loại nguyênliệu nào thay thế được; do vậy những biến động của giá dầu, dù lớn hay nhỏ, cũngđều gây tác động sâu sắc đến đời sống con người, không phân biệt giàu nghèo, mầu

da hay địa vị xã hội Chính vì có được vai trò trung tâm đối với nền kinh tế như vậy,nên giá cả của dầu mỏ luôn luôn bị chi phối bởi các mưu tính kinh tế - chính trị củacác thế lực chủ chốt trên thị trường, sau đó mới đến sự chi phối của các quy luậtcung - cầu của thị trường

Trong năm 2010, giá cả một số hàng hóa thiết yếu thế giới tiếp tục tăng cao(giá dầu thô và giá xăng - gas tăng, sắt thép, nguyên vật liệu nhập khẩu tăng do kinh

tế thế giới phục hồi, giá cả nguyên vật liệu tăng trên 10%), giá vàng biến độngmạnh;

Theo những thông tin ở trên thì lạm phát là do giá cả một số mặt hàng thiếtyếu tăng cao trong đó có giá dầu thô Bài nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơngiá dầu thô ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:

 Sự biến động của giá dầu mỏ trên thế giới

 Sự biến động của lạm phát ở Việt Nam

 Ảnh hưởng của giá dầu mỏ thế giới đối với tình hình lạm phát ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên số liệu hàng tháng của các nguồn thống kê như GSO,EAI, NYMEX trong giai đoạn 2000-2010 và đánh giá tác động của giá dầu thô thếgiới trên nền kinh tế cũng như biến động CPI tại Việt Nam

Trang 2

4 Ý nghĩa của đề tài

Với việc nghiên cứu từ tình hình biến động thực tế của thị trường tại Vỉệtnam và thế giới, việc phân tích ảnh hưởng của giá dầu thế giới đến tình hình lạmphát trong nước sẽ đưa ra một cái nhìn toàn diện giúp các nhà chính sách đánh giá,

dự đoán được xu hướng thi trường để có những biện pháp đối phó và đưa ra cácchính sách điều chỉnh thị trường xăng dầu nội địa phù hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phươngpháp phân tích, phương pháp phân tích số liệu bằng hồi quy

Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các tài liệu tham khảo từ báo chí, báo điện

tử, các báo cáo của các tổ chức tài chính, để thu thập thông tin và số liệu

6 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu

Dưới đây là sơ đồ trình bày các bước tiến hành nghiên cứu:

Phân tích dữ liệu Diễn dịch kết quả

Vấn đề nghiên cứu Mục tiêu và phạm vi NCMục tiêu và phạm vi NCVấn đề nghiên cứu

Báo cáo kết quả

và kiến nghị Báo cáo kết quả

và kiến nghị

Trang 3

II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1 Khái niệm về lạm phát:

Lạm phát là sự gia tăng liên tục (persistent) của mức giá chung (price level)trong nền kinh tế (Dermot McAleese, 2002) Như vậy sự tăng giá của một vài mặthàng cá biệt nào đó trong ngắn hạn ngoài thị trường thì cũng không có nghĩa đã cólạm phát

Các nhà kinh tế thường đo lạm phát bằng hai chỉ tiêu cơ bản là CPI(Consumer price index) và chỉ số khử lạm phát GDP (GDP deflator) Cách tính thứnhất sẽ dựa trên một rổ hàng hóa tiêu dùng (goods basket) và giá cả của những hànghóa trong rổ ở hai thời điểm khác nhau Còn cách tính thứ hai thì căn cứ vào toàn bộkhối lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ởhai thời điểm khác nhau, thông thường theo ngôn ngữ thống kê là giá cố định(constant price) và giá hiện hành (current price) Về cơ bản thì hai cách tính nàykhông có sự khác biệt lớn Phương pháp GDP deflator sẽ tính lạm phát chính xáchơn theo định nghĩa của lạm phát Tuy nhiên CPI sẽ có ưu điểm là tính được lạmphát tại bất kỳ thời điểm nào căn cứ vào rổ hàng hóa, còn GDP deflator thì chỉ tínhđược lạm phát của một năm sau khi có báo cáo về GDP của năm đó

Như vậy, những thông tin về thước đo lạm phát đến dân chúng hàng ngày chủyếu được tính từ phương pháp CPI Nhưng CPI lại không thể đo lạm phát một cáchchính xác bởi nó bị tác động bởi hai yếu tố gây sai lệch Những yếu tố gây sai lệchnày chủ yếu đến từ rổ hàng hóa được qui định trước Sai lệch cơ cấu (compositionbias) vì rổ hàng hóa chậm thay đổi, nó không bao gồm những hàng hóa tiêu dùngmới phát sinh nhưng được đa số người tiêu dùng sử dụng Ví dụ ở TP.HCM khi mọingười đều có mobile phone, giá của mặt hàng này đang giảm theo thời gian nhưng

nó lại không nằm trong rổ hàng hóa Sai lệch thứ hai là sai lệch thay thế(substitution bias), khi giá cả một loại hàng hóa nào đó trong rổ gia tăng, dân chúng

sẽ chuyển sang tiêu dùng mặt hàng hóa thay thế với giá rẻ hơn Ví dụ khi thịt gà trởnên mắc hơn do dịch cúm thì người tiêu dung sẽ chuyển sang ăn cá biển với mụcđích là cung cấp chất đạm cho cơ thể Từ hai sai lệch trên chúng ta nhận thấy rằng,nếu tính lạm phát từ CPI thì có thể dẫn đến một dự báo lạm phát quá mức

Trang 4

(overstated inflation) vì những mặt hàng trong rổ đang tăng giá còn những mặt hàngngoài rổ lại đang giảm giá

Theo một nghiên cứu tại Mỹ (Boskin và cộng sự, 1995) thì CPI đã dự báolạm phát cao hơn mức lạm phát thực tế trung bình 1,1% so với cách tính GDPdeflator Tại Việt Nam, khi CPI đang tăng gần 10 % tính đến cuối tháng 9 năm naynhưng chính phủ và Ngân hàng Nhà nước vẫn cho rằng lạm phát cơ bản vẫn ở mứckiểm soát được và đưa ra con số thấp hơn là 3% cho 06 tháng đầu năm Điều này cóthể lý giải rằng CPI đã tính cao hơn so với thực tế ở một mức độ nào đó và cáchtính của chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước dựa vào một thước đo cơ bảnhơn Tuy nhiên đừng vội lạc quan và đổ thừa cho những yếu tố làm sai lệch lạmphát từ chỉ tiêu CPI Trong rổ hàng hóa tính CPI tại Việt Nam thì hàng lương thực -thực phẩm chiếm 48%, các mặt hàng này thực sự đã tăng giá khá cao trong nhữngtháng vừa qua Ví dụ như chỉ số giá lương thực đã tăng trên 10% do thất bát vụ mùa

ở miền Trung, thu hoạch lúa muộn ở miền Bắc, giá thực phẩm tăng cao hơn do dịchcúm gia cầm (theo số liệu 5 tháng đầu năm thì giá lương thực tăng 10,9%, giá thựcphẩm tăng 12,6 %) Chỉ số giá hàng lương thực thực phẩm tăng cao như vậy có tácđộng rất sâu sắc đến đời sống dân chúng vì những người dân có thu nhập thấp chitiêu cho lương thực thực phẩm có khi lên đến 70% trong tổng chi tiêu Nỗi lo tâm

lý về lạm phát từ phía công chúng ngoài nguyên nhân lịch sử thì nguyên nhân khác

có lẽ đã bắt đầu từ đây và ổn định lạm phát là một nhiệm vụ quan trọng đặt nặngtrên vai chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

2 Phân loại lạm phát

Có ba loại lạm phát chủ yếu trong nền kinh tế Loại lạm phát thứ nhất là lạmphát tiền tệ (monetary inflation) Loại lạm phát này xảy ra khi tốc độ tăng trưởngcung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế Đơn giản hơn là tiềntrong lưu thông tăng nhanh hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ratrong nền kinh tế Ví dụ như tốc độ tăng trưởng cung tiền là 10% nhưng tốc độ tăngtrưởng thực của nền kinh tế 7% thì lạm phát tiền tệ là 3% Loại lạm phát này thườngxảy ra tại các nước đang phát triển khi các nước này theo đuổi cơ chế áp chế tàichính (Financial repression) hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi chính

Trang 5

sách tiền tệ mở rộng Áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng trung ương tài trợ chothâm hụt ngân sách chính phủ bằng cách in tiền, quá nhiều tiền trong lưu thông vượtquá tốc độ tăng trưởng thực sẽ dẫn đến lạm phát Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ kíchthích tổng cầu hang hóa dịch vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầucao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng dẫn đến lạm phát

Lạm phát thứ hai là lạm phát cầu kéo (Demand pull – inflation) Loại lạmphát này xuất phát từ sự thay đổi hành vi tổng cầu mang tính đột biến trong nềnkinh tế Các nguyên nhân có thể là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiệnchính sách thu chi ngân sách mở rộng, hoặc tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bìnhthường do khu vực hộ gia đình quá lạc quan, hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồnthu nhập từ trên trời rơi xuống (winfalls) như viện trợ nước ngoài, thu nhập do giá

cả xuất khẩu tăng đột biến

Loại lạm phát thứ ba là lạm phát chi phí đẩy (cost push – inflation) Lạm phátchi phí đẩy là loại lạm phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanh nghiệp buộclòng phải nâng cao giá bán sản phẩm vì những lý do bất lợi Khác với hai loại lạmphát trên, thì loại lạm phát này chủ yếu đến từ phía cung và nguyên nhân chủ yếu từxuất phát từ hiện tượng tăng chi phí sản xuất không mong đợi từ phía các doanhnghiệp Tăng chi phí không mong đợi từ phía doanh nghiệp tạo ra những cú sốctổng cung bất lợi Công nhân đình công đòi tăng lương ở diện rộng, giá nguyên liệugia tăng đột biến, thảm họa tự nhiên làm đình trệ hoạt động sản xuất của nhiềudoanh nghiệp là những ngòi nổ của loại lạm phát này

3 Giới thiệu về tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)

Thành lập năm 1959 (hoạt động mạnh vào những năm 1960-1970); đến năm

1973 có 13 nước thành viên: ở Trung Đông có 6 nước (Iran, Irắc, Aráp Xêut, Kata,Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất, Kô oét; châu Phi có 4 nước (Gabông,Nigiêria, Libi, Algiêri); châu Mỹ La tinh có 2 nước (Vênêxuêla, Êqudo); Đông Nam

Á có 1 nước (Inđônêxia) Mục đích của tổ chức này là bảo vệ quyền lợi dân tộc củacác quốc gia XK dầu lửa; hạn chế ảnh hưởng của 5 Công ty dầu lửa lớn của Mỹ, 2của Anh và 1 của Pháp đang hoạt động ở các nước này Khi mới thành lập, OPEC

có tác dụng điều chỉnh giá cả, phân chia thị trường, hạn chế mức sản xuất và xuất

Trang 6

khẩu Đến năm 1986, do mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia, tổ chức này bịphân hoá Vào những năm cuối của thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, do nhu cầu về dầulửa thế giới tăng OPEC trở lại với vai trò quan trọng của mình trong hoạt động kinhtế-thương mại Hiện nay, OPEC chiếm 1/3 tổng sản lượng dầu mỏ TG (dẫn đầu làArập Xêút 8,5% và Irắc 4,2% sản lượng dầu mỏ thế giới) Trên thị trường các nướcTBCN thì OPEC cung cấp 45% nhu cầu

4 Tình hình sử dụng dầu mỏ tại Trung Quốc

Kinh tế Trung Quốc trông chờ vào dầu mỏ lớn hơn nhiều Mỹ hoặc châu Âu,trong khi một nửa lượng dầu nhập khẩu của họ đến từ Trung Đông và Bắc Phi, sovới ¼ nguồn nhập khẩu của Mỹ

Nước này đã có chọn lựa để ngăn chặn tiêu thụ xăng dầu quá lớn là ngắm tớingười sử dụng xe cộ của Trung Quốc, nhưng biện pháp kiểm soát giá này cũng cóhạn chế Kết quả thiếu thốn xăng dầu chỉ khiến bất bình trong dân tăng cao Hơnnữa, phần lớn xăng dầu tại Trung Quốc không chỉ sử dụng cho các phương tiện đilại, mà còn trong công nghiệp và nông nghiệp, nơi các biện pháp kiểm soát giá củachính phủ kém hiệu quả Chiếm 1/3 chi phí sản xuất ngũ cốc Giá lương thực đangtăng gấp đôi nhanh như giá tiêu dùng nói chung

Về dài hạn, tốt nhất là Trung Quốc cần giảm bớt nhu cầu dầu để tăng trưởng.Nhưng các kế hoạch đầu tư vào sử dụng năng lượng hiệu quả, xe điện và đường sắtcao tốc sẽ cần có thời gian thực hiện Một chiến lược ổn định nguồn cung quốc tế vìthế là chọn lựa duy nhất trong ngắn hạn Trung Quốc đã nỗ lực khuyến khích bacông ty dầu khí lớn nhất giành cổ phần trong các dự án dầu quốc tế Chính sáchnày, gọi là “cổ phần dầu” với hy vọng có thể đối phó với sự bất ổn giá cả và giánđoạn nguồn cung cấp Những công ty này cũng khá vui vẻ thực hiện sứ mệnh: vớicác mỏ dầu nội địa dần cạn kiệt, lộ trình tốt nhất của họ để gia tăng lợi nhuận là mởrộng kinh doanh ở nước ngoài

Nếu tất cả lượng dầu khai thác ở bên ngoài Trung Quốc được vận chuyển vềnước, thì nó cũng chỉ chiếm một phần nhỏ nhu cầu dầu nhập khẩu của nước này.Điều đó có nghĩa là, không có nhiều đảm bảo với Trung Quốc nếu nguồn cung bịgián đoạn Dầu sau đó được các công ty Nhà nước bán cho các nhà máy lọc dầu nội

Trang 7

địa với giá quốc tế, nên cũng không tiết kiệm gì nhiều cho Trung Quốc Tồi tệ hơn

là, việc mở rộng đầu tư tài nguyên của Trung Quốc ở khắp nơi trên thế giới giờ đâyđang tạo ra nhiều vấn đề đau đầu trong chính sách đối ngoại với Bắc Kinh Bất ổntại Libya chỉ là một ví dụ điển hình: tháng trước, hơn 30.000 công dân Trung Quốc

đã phải sơ tán khỏi nước này sau khi một nhóm công nhân dầu khí bị tấn công.Trung Quốc có thể dự báo được giá dầu hiện tại, kiểm soát được lạm phát Nhưng

hy vọng tốt nhất của họ để đảm bảo giá dầu không tăng vọt trong tương lai là chấmdứt hy vọng vào chính sách thiên về tiếp cận các nguồn cung nước ngoài Thay vào

đó, cách tiếp cận mới dựa trên sự phối hợp với các quốc gia tiêu thụ dầu là điều cầnthiết

Đã có một số dấu hiệu đáng khích lệ Trung Quốc đã tương đối xây dựngtrong cuộc bàn thảo về Libya của Hội đồng Bảo an LHQ – dĩ nhiên là khi so sánhvới các nỗ lực trước đó của LHQ liên quan tới bất ổn tại các quốc gia sản xuất dầu

mỏ Cuộc khủng hoảng có thể khiến Bắc Kinh hiểu ra rằng, họ phụ thuộc vào thịtrường năng lượng toàn cầu và hợp tác là điều cần thiết Nếu có thể làm, các nướctiêu dùng dầu có thể nghĩ tới chiến lược dự trữ của mình Trung Quốc không phải làngoại lệ Tin đồn Trung Quốc sẽ phản ứng bằng việc tự xây dựng các kho dự trữhơn là sử dụng chúng để bình ổn giá thế giới, đã bắt đầu khiến giá dầu tăng thêm

Sự minh bạch hơn từ Bắc Kinh có thể góp phần làm giảm giá Nếu Trung Quốc bắtđầu làm việc với các nước tiêu dùng dầu khác để phát triển một kế hoạch phối hợp,điều phối kho dự trữ, họ sẽ tìm thấy sự đảm bảo hơn ngoài việc đơn giản trông chờvào nguồn dầu quốc tế mà các công ty nội địa có thể khai thác

5 Chính sách quản lý giá dầu của Nhà nước

a Đặc trưng của mặt hàng xăng dầu nhập khẩu Việt Nam

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam có được lợi thế nhờnguồn tài nguyên tương đối phong phú và đa dạng như dầu mỏ, than đá Song xuấtkhẩu của Việt Nam chủ yếu là mặt hàng dầu thô, chưa qua tinh chế, phần lớn nhậpkhẩu các loại xăng dầu thành phẩm từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu sản xuất

và tiêu dùng hàng ngày (nhập khẩu 100% xăng dầu thành phẩm)

Trang 8

- Thứ nhất xăng dầu là một mặt hàng chiến lược, có vai trò chi phối đối với tất

cả các ngành nghề trong nền kinh tế và đời sống xã hội Nhu cầu tiêu dùng xăng dầucho sản xuất và đời sống hàng ngày là rất lớn và liên tục Lượng xăng dầu tiêu thụtrong một tháng khoảng 200.000 tấn

- Thứ hai đây là một mặt hàng có độ nhạy cảm rất cao, mọi sự thay đổi giá cả

sẽ có tác động trực tiếp tới hoạt động của đất nước trên tất cả các mặt Ví dụ nhưtheo tính toán của các nhà kinh tế khi tăng giá bán lẻ xăng dầu thì gía điện tăng0,2%, thép tăng 0,35% Do vậy Nhà nước luôn sử dụng công cụ thuế, tài chính đểbình ổn giá

- Thứ ba đây là mặt hàng phải nhập khẩu gần như hoàn toàn nên giá cả phụthuộc lớn vào sự tăng giảm giá trên thế giới

- Thứ tư đây lại là mặt hàng thường xuyên biến động do rất nhiều yếu tố trong

đó phải kể đến chính sách về giá dầu của OPEC Các quyết định cũng như chínhsách của OPEC nhằm đem lại lợi ích cho các quốc gia thành viên song lại ảnhhưởng rất lớn và làm biến động nền kinh tế toàn cầu thông qua sự điều chỉnh về giácũng như lượng cung dầu

b Nguyên tắc điều chỉnh giá xăng dầu của Nhà nước

- Thứ nhất không dùng ngân sách nhà nước để bù lỗ kinh doanh xăng dầu.Tiếp tục giảm thuế nhập khẩu xăng dầu bằng 0 và có thể lấy tất cả phần thu do giáxuất khẩu dầu thô để bù lỗ cho xăng dầu nhập khẩu nhằm bình ổn giá xăng dầutrong nước ở mức hợp lý

- Thứ hai tăng giá có phân biệt đối với từng loại xăng dầu theo nguyên tắc,tăng giá đến mức đảm bảo kinh doanh (ngân sách nhà nước không phải bỏ thêm ra

bù lỗ) tạo áp lực sử dụng xăng dầu một cách hợp lý

- Thứ ba là trong trường hợp giá xăng dầu thế giới tăng mạnh thì Nhà nước sẽxem xét để điều chỉnh giá bán xăng dầu trong nước cho phù hợp

c Chính sách quản lý giá xăng dầu của Nhà nước

- Với quy định hiện nay thì trong trường hợp giá dầu thô trên thế giới tăng bấtthường, nhà thầu dầu khí sẽ được hưởng khoản chênh lệch lớn (về giá) mà không docông sức tạo ra Vì thực tế các hợp đồng dầu khí đã ký kết trước đây đều quy định

Trang 9

cụ thể về thuế suất của các loại thuế phải nộp thấp hơn quy định hiện hành Ngoài

ra, nhà thầu không phải thực hiện bất kỳ khoản nộp nào khác cho Nhà nước Để cóthể chủ động điều hành ngân sách, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ độngxây dựng phương án kinh doanh và phù hợp với thông lệ quốc tế, Chính phủ chorằng việc ban hành chính sách thu để điều tiết một phần lợi nhuận bất thường củanhà thầu dầu khí khi giá dầu thô tăng cao là cần thiết

- Theo Chính phủ, cơ chế phù hợp nhất là ban hành văn bản quy định khoảnphụ thu đối với dầu thô (không phân biệt trong nước hay xuất khẩu), thực hiện đồng

bộ với chính sách thuế xuất khẩu hiện tại (áp dụng một mức thuế suất cụ thể).Chính sách này chỉ áp dụng đối với các dự án, hợp đồng được phê duyệt mới kể từngày quy định về phụ thu có hiệu lực, chỉ thực hiện điều tiết đối với phần lợi nhuậnbất thường của nhà thầu dầu khí tính trên sản lượng dầu lãi của nhà thầu được chiatrong quý (sau khi đã nộp hết nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và thu hồi chi phí)

- Mức phụ thu được xây dựng căn cứ vào chính sách thu hiện hành, đề xuấtcủa các nhà thầu dầu khí, thông lệ quốc tế và yêu cầu điều tiết Cụ thể, tỷ lệ điều tiếtphần lợi nhuận bất thường áp dụng theo mức 50%, áp dụng mức điều chỉnh đối vớigiá cơ sở của năm tương ứng là 20% Theo đó, nếu giá bán dầu thô trung bình củaquý thực tế biến động tăng cao hơn giá cơ sở của năm tương ứng trên 20% thì ápdụng cơ chế tính phụ thu với phần lợi nhuận bất thường vượt quá 20% giá cơ sở

Ưu điểm: đảm bảo tính công bằng giữa dầu thô xuất khẩu và dầu thô tiêu dùng trong nước Khi giá thị trường tăng cao đột biến vẫn thu được lợi nhuận bất thường của nhà đầu tư, không phân biệt xuất khẩu hay tiêu thụ nội địa.

- Trên thực tế, các DN kinh doanh xăng dầu đầu mối có điều kiện và năng lựckhác nhau, giá đầu vào cũng khác nhau Do vậy, nên để các doanh nghiệp này tựxây dựng giá bán, từ đó các nhà phân phối có sự lựa chọn và cung cấp tới người tiêudùng với mức giá hợp lý nhất Để khắc phụ những bất cập hiện nay, Nhà nước nêntrao quyền chủ động cho DN theo cơ chế Nhà nước công bố trần giá bán lẻ xăngdầu Theo đó, khi giá bán lẻ xăng dầu biến động trong khoảng 5-15% thì công bốtrần giá bán lẻ mới Nếu giá bán lẻ xăng dầu biến động trên 15% thì Nhà nước cânđối để công bố trần giá mới và công bố giảm khoản phải nộp vào ngân sách Nhà

Trang 10

nước của DN kinh doanh xăng dầu Khoản giảm nộp vào ngân sách Nhà nước doNhà nước qui định đủ để đảm bảo mục tiêu bình ổn giá xăng dầu và DN hạch toánđầy đủ nhưng không thay đổi thuế suất Thời gian giữa 2 lần công bố tăng/giảm giábán lẻ xăng dầu của DN không được ngắn hơn 15 ngày Trên cơ sở trần giá bán lẻxăng dầu được công bố, các DN kinh doanh xăng dầu thực hiện cạnh tranh nhằm cóđược mức giá bán lẻ thực tế thấp nhất và đáp ứng đủ nhu cầu xăng dầu của thịtrường Bên cạnh đó, để thị trường xăng dầu được cạnh tranh đúng nghĩa, Nhà nướcnên xóa bỏ hạn chế trong việc cấp phép nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu; Táchkhâu nhập khẩu, bán buôn xăng dầu với khâu bán lẻ

- Lần đầu tiên trong năm 2011 nhưng là lần thứ tư kể từ năm 2010 tới nay, BộTài chính quyết định giảm thuế nhập khẩu xăng dầu Cuối năm 2010, Bộ này liêntiếp ra quyết định giảm thuế để kìm giá và mới đây nhất là quyết định giảm một nửathuế suất nhập khẩu xăng dầu

- Tuy đây là bước đi cẩn trọng, xuất phát một phần ở thực tế kinh doanh xăngdầu của các DN đầu mối nhưng về lâu dài, nếu không sớm thực hiện giải pháp thịtrường với mặt hàng xăng dầu, thì nhiều khả năng thị trường sẽ phải đón nhận một

"cú sốc" về giá Nếu những giải pháp về thị trường vẫn tiếp tục không được thựchiện, thì Nhà nước sẽ lại phải quay lại cơ chế bù lỗ cho mặt hàng xăng dầu nhưtrước đây Việc bù lỗ như cũ đã được chứng minh là không còn phù hợp trong bốicảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay Sự điều chỉnh giá bán nhịp nhàng, vớicông cụ giám sát của cơ quan quản lý, sẽ giúp cho thị trường xăng dầu tránh đượcnhững "cú sốc" khi cả Nhà nước lẫn DN đã quá ngưỡng chịu đựng

- Bên cạnh đó, việc điều chỉnh tỷ giá VND/USD đã khiến cho các DN bị lỗ kép(vốn đã kéo dài) Chỉ tính riêng Petrolimex, sau 2 lần điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ, DNnày đã chịu lỗhơn 700 tỷ đồng Các đầu mối xăng dầu khác cũng rơi vào tình trạngtương tự Nhiều DN kinh doanh xăng dầu đã đề xuất cho phép ngân hàng thươngmại bán ngoại tệ cho DN xăng dầu với tỷ giá liên ngân hàng, hoặc được mua ngoại

tệ ở thị trường tự do và phần chênh lệch tỷ giá được tính vào giá bán Tất nhiên,những giải pháp này sẽ rất khó được chấp nhận Một nghịch lý khác, dường như chỉxuất hiện ở ngành kinh doanh xăng dầu, là các DN đang… sợ giữ thị phần lớn Nhà

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

6. Sơ đồ tiến trình nghiên cứu - Ảnh hưởng của giá dầu mỏ trên thế giới đến tình hình lạm phát ở việt nam giai đoạn 2000 2010
6. Sơ đồ tiến trình nghiên cứu (Trang 2)
Bảng dữ liệu lạm phát trong các tháng của Việt Nam : - Ảnh hưởng của giá dầu mỏ trên thế giới đến tình hình lạm phát ở việt nam giai đoạn 2000 2010
Bảng d ữ liệu lạm phát trong các tháng của Việt Nam : (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w