BUỔI THẢO LUẬN THỨ BẢYBỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (phần cụ thể)Bộ môn: Dân sự pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngVẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNGVẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH TỔN THẤT VỀ TINH THẦN ĐƯỢC BỒI THƯỜNGVẤN ĐỀ 3: THAY ĐỔI MỨC BỒI THƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC ẤN ĐỊNHVẤN ĐỀ 4: XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG (CÙNG GÂY THIỆT HẠI)
Trang 1Lớp Luật Thương mại 44A
BUỔI THẢO LUẬN THỨ SÁU
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
(PHẦN CHUNG)
Bộ môn: Dân sự - pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 2VẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 1
Câu 1.1 Cho biết các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng (thiệt hại do người gây ra) trong BLDS 2015? 1Câu 1.2: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015? 2Câu 1.3: Trong bản án về bồi thường thiệt hại do dùng facebook nêu trên, theo Tòa
án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã hội
đủ chưa? Vì sao? 4Câu 1.4: Theo anh/chị, trong vụ việc trên, đã hội đủ các căn cứ làm phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa? Vì sao? (anh/chị đánh giá từngđiều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được đápứng chưa) 5
VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH TỔN THẤT VỀ TINH THẦN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG 6
Câu 2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổn thất tinh thầnđược bồi thường? 7Câu 2.2: Theo pháp luật hiện hành, tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm cóđược bồi thường không? Vì sao? 8Câu 2.3: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về tổn thấttinh thần của BLDS 2015 trong các vụ việc trên? 8Câu 2.4: Cho biết suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án không áp dụng BLDS 2005
mà áp dụng BLDS 2015 trong các vụ việc trên liên quan đến tổn thất tinh thần? 9Câu 2.5: Trong Bản án số 31, đoạn nào cho thấy người bị hại vừa bị xâm phạm vềsức khỏe vừa bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm? 9Câu 2.6: Theo Tòa án trong Bản án số 31, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm vàthiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm có được kết hợp với nhau không? 10Câu 2.7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Bản án số
31 về khả năng kết hợp các loại thiệt hại khi nhiều yếu tố nhân thân của một chủ thểcùng bị xâm phạm 10
Trang 3Câu 3.1: Những khác biệt cơ bản giữa thay đổi mức bồi thường không còn phù hợpvới thực tế và giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế 11Câu 3.2: Nêu rõ từng điều kiện được quy định trong BLDS để thay đổi mức bồithường không còn phù hợp với thực tế 11Câu 3.3: Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000đ của phía
bị thiệt hại có được chấp nhận không? Vì sao? 12
VẤN ĐỀ 4: XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG (CÙNG GÂY THIỆT HẠI) 13
Câu 4.1: Trong phần “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDStrách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong những trường hợpnào? 13Câu 4.2: Trong bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xácđịnh chính xác được người người gây thiệt hại cho bà Khánh không? 14Câu 4.3: Đoạn nào của Bản án số 19, cho thấy Tòa án đã theo hướng chị Tám, chịHiền và anh Hải liên đới bồi thường? 14Câu 4.4: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết nêu trên của Tòa án về tráchnhiệm liên đới 14Câu 4.5: Trong Quyết định số 226, ai là người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ? .15Câu 4.6: Trong Quyết định số 226, ai là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho
bà Hộ? 15Câu 4.7: Hướng giải quyết trong Quyết định số 226 đã có tiền lệ chưa? Nếu có, nêutóm tắt tiền lệ đó 15Câu 4.8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đếntrách nhiệm liên đới 16Câu 4.9: Bản án số 19, bà Khánh đã yêu cầu bồi thường bao nhiêu và yêu cầu ai bồithường? 16Câu 4.10: Bản án số 19, Tòa án đã quyết định anh Hải bồi thường bao nhiêu? 16Câu 4.11: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anhHải 17
Trang 4VẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNGTóm tắt bản án số 20/2018/DS-ST ngày 23/4/2018 về: “V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hạt do danh dự, uy tín bị xâm phạm” của Tòa án nhân dân Quận 2,
TP Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn là bà Ngọc, bị đơn là ông Huy Khoảng 14 giờ ngày 03/3/2017ông Huy đã đăng dòng trạng thái lên tài khoản facebook của cá nhân ông với nội dungcho rằng đề thi văn đã bị lộ, ám chỉ bà Lẽ và bà Ngọc là những người làm lộ đề thi
Ông Huy cũng đã gắn thẻ (tag) với một vài facebook khác có liên quan, làm xuất hiệnnhiều lời thiếu căn cứ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà Ngọc Bà Ngọc đãkhởi kiện yêu cầu ông Huy bồi thường thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín bịxâm phạm, số tiền bồi thường là 30.160.000 đồng, thi hành án một lần ngay khi án cóhiệu lực, xin lỗi công khai trên facebook và trước Hội đồng sư phạm Trường Trunghọc phổ thông Thủ Thiêm
Tòa sơ thẩm cho rằng hành vi trái pháp luật của ông Huy (đăng các thông tinchưa được kiểm chứng trên phương tiện thông tin được nhiều người truy cập gây ảnhhưởng đến danh dự bà Ngọc và khiến cho người truy cập đưa ra nhận xét, xúc phạmdanh dự, nhân phẩm bà Ngọc) dẫn đến hậu quả nên chấp nhận một phần yêu cầu của
bà Ngọc: Buộc ông Huy phải bồi thường 19.160.000 đồng và phải xin lỗi công khai bàNgọc trước trụ sở Trường Trung học phổ thông Thủ Thiêm
Câu 1.1 Cho biết các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại do người gây ra) trong BLDS 2015?
Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại
do người gây ra) trong BLDS 2015:
Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gâythiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liênquan quy định khác
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàntoàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác
=> Có 3 căn cứ:
Căn cứ 1: Phải có thiệt hại xảy raThiệt hại là điều kiện tiên quyết, nếu không có thiệt hại xảy ra thì không làmphát sinh trách nhiệm bồi thường
Trang 5+Thiệt hại về vật chất: quy định tại khoản 2 Điều 361 BLDS 2015: “2 Thiệthại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản,chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút.”
+Thiệt hại do tổn thất về tinh thần: khoản 3 Điều 361 BLDS 2015: “3 Thiệt hại
về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”
Căn cứ 2: Hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luậtHành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thôngqua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật
Trường hợp hành vi gây ra thiệt hại tại khoản 2 của Điều 584 BLDS 2015 thìkhông làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ 3: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành
Theo đó, BLDS 2015 có những điểm mới sau:
- Thứ nhất: Loại bỏ yếu tố “Lỗi”
Nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được sửdụng như là căn cứ đầu tiên để xác định TNBTTH ngoài hợp đồng thì trong BLDS
2015, căn cứ xác định TNBTTH đầu tiên lại là hành vi xâm phạm của người gây thiệthại
Với quy định của BLDS 2005 thì yếu tố “lỗi” là một trong những điều kiện bắtbuộc để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điều này gâybất lợi cho người bị thiệt hại Trong thực tiễn xét xử, Tòa án nước ta đã theo hướngngười điên cũng phải bồi thường khi gây ra thiệt hại (như làm chết người) Ở góc độvăn bản, Luật Thương mại năm 2005 đã bỏ đi yếu tố lỗi nhưng việc bỏ này không gâykhó khăn mà còn tạo ra sự thuận lợi trong việc vận dụng Luật Trách nhiệm bồithường thiệt hại của Nhà nước cũng theo hướng này: Điều 6 về “căn cứ” xác địnhtrách nhiệm bồi thường nhấn mạnh yếu tố “trái pháp luật” và không đề cập đến yếu tối
“lỗi” Ở góc độ so sánh, Pháp trước đây đã từ rất lâu theo hướng người điên gây thiệthại (tức không có lỗi) vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường
Do đó, BLDS 2015 đã thay đổi theo hướng chỉ cần tồn tại yếu tố có thiệt hạixảy ra trên thực tế, có hành vi trái pháp luật (xâm phạm đến lợi ích hợp pháp củangười khác mà không thuộc trường hợp không chịu trách nhiệm bồi thường (BLDS
2015 đã bổ sung trường hợp hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại nhưng không chịu
Trang 6trách nhiệm bồi thường1)) và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật vàthiệt hại thực tế xảy ra thì đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Yếu tố lỗidùng để xem xét mức độ thiệt hại được bồi thường 2
- Thứ hai: Bổ sung căn cứ “tài sản gây thiệt hại”
BLDS 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra chưahợp lý: đối với loại tài sản gây thiệt hại, BLDS 2005 theo phương pháp liệt kê và chưaquy định về các loại tài sản khác gây ra thiệt hại3; đối với từng loại tài sản được liệt kêthì BLDS 2005 thường có phạm vi điều chỉnh hẹp.4
BLDS 2015 đã khắc phục các nhược điểm nêu trên: Theo khoản 3 Điều 584BLDS 2015: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tàisản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” Với quy định nói trên, trách nhiệmbồi thường thiệt hại được ghi nhận cho “tài sản” nói chung nên có thể được áp dụngcho mọi loại tài sản gây ra thiệt hại và “quy định chung này chỉ được áp dụng đối vớitrường hợp không được quy định tại các quy định cụ thể về thiệt hại do tài sản gâyra.”5
- Thứ ba: Mở rộng phạm vi áp dụng
Điều 604 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cánhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015: “1 Người nào có hành vi xâm phạm tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác củangười khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Đối với cá nhân BLDS 2005 có phạm vi điều chỉnh rất rộng nhưng pháp nhânthì hẹp hơn nên BLDS 2015 đã quy định theo hướng khái quát hơn, không còn chia ratrường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ thể khác như BLDS 2005 nữa “Ngườikhác” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân hoặcchủ thể khác và như vậy đã bao hàm được tất cả các loại chủ thể được BTTH như quyđịnh tại BLDS 2005 trước đây Phạm vi áp dụng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người gây ra được mở rộng và pháp nhân được đối xử như cá nhân.6
1 Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015: “2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
2 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, tr 475.
3 BLDS 2005 chỉ quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Điều 623, Điều 625, Điều 626, Điều 627.
4 Ví dụ, Điều 626 chỉ đề cập đến trường hợp thiệt hại do cây cối đổ, gẫy gây ra và chưa đề cập đến trường hợp khác Theo Đỗ Văn Đại trong Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam thì “có trường hợp cây không
đổ, gẫy nhưng vẫn gây ra thiệt hại như trường hợp cây có rễ phát triển mạnh làm hỏng đường, hỏng tường, hỏng sân của chủ thể liền kề…”
5 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, Sđd, tr 478.
6 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, Sđd, tr.476.
Trang 7- Thứ tư: Mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
BLDS 2005 quy định người nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hạicho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, BLDS 2015 lại quyđịnh thêm trường hợp ngoại lệ, đó là “trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liênquan quy định khác” Đây là một quy định rất phù hợp, theo nguyên tắc thì người nào
có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường tuy nhiên cótrường hợp người có hành vi gây ra thiệt hại nhưng người khác phải chịu trách nhiệmbồi thường (người chịu trách nhiệm bồi thường có thể là cha, mẹ, người giám hộ, …).7
Câu 1.3: Trong bản án về bồi thường thiệt hại do dùng facebook nêu trên, theo Tòa án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã hội đủ chưa? Vì sao?
Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đãhội đủ:
Thứ nhất, về thiệt hại trên thực tế, Tòa án cho rằng: “Xét thấy việc ông Huyđăng các thông tin chưa được kiểm chứng trên phương tiện thông tin được nhiềungười truy cập đã gây ảnh hưởng danh dự của bà Ngọc Chẳng những vậy, từ nhữngthông tin do ông Huy đăng tải về việc lộ đề thi, những người truy cập thông tin đã đưa
ra ý kiến nhận xét, trong sô đó có những ý kiến nhận xét, trong số đó có những ý kiến
có tính chất phê phán.” Đã làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của bà Ngọc
Thứ hai, về hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật Tòa án cũng đãnêu ra: “Xét về mặt nội dung, ông Huy không chỉ đăng tải thông tin về việc đề thi bị
lộ, mà còn khẳng định bà Lẽ và bà Ngọc đã cho học sinh của mình chép đề và lời giảiphần Đọc - Hiểu trong đề thi vào 2 ngày trước thi Từ cách sử dụng câu chữ của ôngHuy đủ để người đọc hiểu rằng chí bà Lẽ và bà Ngọc là những người làm lộ đề thi.Căn cứ văn bản 27/GĐT-TRH ngày 26/01/2018 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thànhphố Hồ Chí Minh và các tài liệu, chứng cứ khác mà Tòa án nhân dân quận 2 thu thậpđược, có cơ sở để xác định không có sự việc lộ đề kiểm tra giữa học kỳ II môn NgữVăn tại Trường Trung học phổ thông Thủ Thiêm Xét thấy việc ông Huy đăng các
7 Điều 586 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản
đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Trang 8thông tin chưa được kiểm chứng trên phương tiện thông tin được nhiều người truy cập
đã gây ảnh hưởng danh dự của bà Ngọc.” Hành vi gây thiệt hại của ông Huy là đăngcác thông tin chưa được kiểm chứng là hành vi trái pháp luật
Thứ ba, về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại và thiệt hại trênthực tế, Tòa án cũng nêu rõ rằng: “Rõ ràng hành vi pháp pháp luật của ông Huy chính
là nguyên nhân dẫn đến hậu quả làm tổn hại đến danh dự và uy tín của bà Ngọc.”
Câu 1.4: Theo anh/chị, trong vụ việc trên, đã hội đủ các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa? Vì sao? (anh/chị đánh giá từng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được đáp ứng chưa).
Trong vụ việc trên, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng đã hội tụ đủ Vì:
Thứ nhất, trong vụ việc trên về căn cứ có thiệt hại xảy ra trên thực tế, rõ rằng
bà Ngọc là người đã bị thiệt hại về danh dự và uy tín một cách nghiêm trọng
Thứ hai, hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật Trong vụ việc trên,ông Huy đã có hành vi đăng tải thông tin sai sự thật và chưa được kiểm chứng, mangtính vu khống bà Ngọc lên phương tiện thông tin được nhiều người truy cập là trangfacebook cá nhân của mình, đây là hành vi trái pháp luật
Thứ ba, đối với điều kiện phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây rathiệt hại và thiệt hại trên thực tế Trách nhiệm bồi thường chỉ được áp dụng khi xácđịnh chính xác hành vi gây ra thiệt hại là nguyên nhân của thiệt hại Căn cứ vào bản
án trên, ta thấy rằng thiệt hại về danh dự và uy tín của bà Ngọc là do hành vi của ôngHuy khi đăng tải thông tin sai sự thật về việc bà Ngọc làm lộ đề thi lên Facebook, kéotheo sự chú ý, bình luận, chia sẽ thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng không tốt đếndanh dự và uy tín của bà Ngọc Nếu ông Huy không thực hiện hành vi đó thì sẽ khônggây ra thiệt hại cho bà Ngọc
Ngoài ra, nếu căn cứ vào Nghị quyết số 03/2006 của Hội đồng Thẩm phán về
“Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng thì căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợpđồng” còn có yêu cầu về yếu tố lỗi cố ý hay vô ý của người gây ra thiệt hại Nếu xemxét đến yếu tố lỗi như trên thì ông Huy là người có đủ khả năng nhận thức về hành vicủa mình sẽ làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của bà Ngọc, nhưng ông vẫn cố ýthực hiện thì đây là lỗi cố ý
Trang 9VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH TỔN THẤT VỀ TINH THẦN ĐƯỢC BỒI
THƯỜNGTóm tắt bản án số 08/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ia
Grai tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Nhị Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Ngọc
Tóm tắt Bản án số 26/2017/2017 ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc.
Ngày 23/10/2016, bị cáo Nguyễn Văn A xuất phát từ việc bị hại là Chu Văn Dlấy 1 chiếc quần cộc của G, A đã dùng chân đá vào ngực của D khiến D bất tỉnh, vìsức khỏe yếu nên D đã tử vong tại bệnh viện sau đó Hành vi của A đã phạm vào tội
“Cố ý gây thương tích” theo BLHS 1999, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe tính mạngcủa người khác nên phải bồi thường cho gia đình người bị hại, đồng thời có nghĩa vụcấp dưỡng người con chưa thành niên của D là Chu Đức P cho đến khi đủ 18 tuổi
Theo luật định, Tòa án quyết định tuyên bị cáo A tội “Cố ý gây thương tích”,buộc bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại và phải có nghĩa vụ cấp dưỡng choP
Tóm tắt Bản án số 31/2019/HS-PT ngày 10/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Yên.
Bị cáo là Ksor Y Ký, bị hại là Kpá Hờ Miên Khoảng 20 giờ ngày 25/02/2018,khi đang trên đường về nhà thì K pá Hờ Miên bị Ksor Y Ký hiếp dâm, sau khi xongviệc Ký còn đe dọa Miên không được nói với ai, nếu không thì sẽ có chuyện Ngày26/02/2018, gia đình bà Miên biết và đã làm đơn tố cáo hành vi của Ký Sau khi bị bắt
Ký đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Tòa sơ thẩm đã tuyên Ký phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, phạt 07năm 06 tháng tù và phải bồi thường thiệt hại cho bị hại 71.100.000 đồng về khoản bồithường thiệt hại sức khỏe do bị xâm phạm
Trang 10Ngày 11/3/2019, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin giảm mức bồithường thiệt hại.
Tòa phúc thẩm đã xác định về bồi thường thiệt hại: bị cáo phải bồi thường thiệthại do hành vi vi phạm của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe (Điều 590 BLDS 2015)
và danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị hại (Điều 592 BLDS 2015) Và nhận thấykhông còn căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và mức bồi thường thiệt hại nên đã giữnguyên bản án sơ thẩm
Câu 2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổn thất tinh thần được bồi thường?
Có 5 điểm mới:
Thứ nhất, đối với các trường hợp được bồi thường:
- BLDS 2005 dùng phương pháp liệt kê để ghi nhận các trường hợp được bồithường khi có tổn thất về tinh thần là khi sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm,
uy tín và thi thể bị xâm phạm
- BLDS 2015 đã bổ sung thêm khả năng được bồi thường tổn thất về tinh thần
đối với trường hợp tài sản bị xâm phạm và mồ mả bị xâm phạm
Thứ hai, xét về mặt chủ thể, người bồi thường ở BLDS 2005 là “người xâmphạm” đã được thay bằng “người chịu trách nhiệm bồi thường” Sự thay đổi này đã
mở rộng các đối tượng phải bồi thường, bao hàm cả các đối tượng không phải làngười xâm hại nhưng lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm bồi thường trên thực tế
Ví dụ như việc cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường cho con cái chưa thành niên, mấtnăng lực hành vi dân sự (Điều 606 BLDS 2005, Điều 586 BLDS 2015) hoặc trongtrường hợp pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khiđang thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao (Điều 618 BLDS 2005, Điều 597BLDS 2015) Đặc biệt, sự thay đổi này còn bao hàm cả vấn đề trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do tổn thất tinh thần được gây ra khi chủ thể gây thiệt hại không phải “ngườixâm phạm” mà là do tài sản, vật nuôi, cây cối, công trình xây dựng, nguồn nguy hiểmcao độ,… thì chủ sở hữu là người phải chịu trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại dotổn thất về tinh thần
Thứ ba đối với thời hiệu khởi kiện:
- BLDS 2005 quy định là 2 năm.
- BLDS 2015 quy định tăng lên 3 năm
Thứ tư, so với BLDS 2005 thì ở BLDS 2015, mức phạt bồi thường thiệt hại ở
các trường hợp đều có chiều hướng tăng lên nhằm nâng cao sự mạnh mẽ và tính răn
đe của pháp luật Cụ thể, ở các trường hợp có quy định bồi thường tổn thất về tinhthần, mức phạt bồi thường khi các bên không có sự thỏa thuận có sự thay đổi như sau:
- Mức bồi thường tổn thất về tinh thần do thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạmđược nâng lên từ “mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nướcquy định” đến “mức tối đa không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nướcquy định”;