BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤTNGHĨA VỤBộ môn: Dân sự pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngVẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀNVẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN
Trang 1Lớp Luật Thương mại 44A
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT
NGHĨA VỤ
Bộ môn: Dân sự - pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21, tháng 9, năm 2020
Trang 2VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN 1
Câu 1.1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 1Câu 1.2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 1Câu 1.3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “Thựchiện công việc không có ủy quyền” 2Câu 1.4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 3Câu 1.5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thểyêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định
“thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ
sở pháp lí khi trả lời 5
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 6
Câu 2.1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thếnào? Qua trung gian là tài sản là gì? 6Câu 2.2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoảntiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 6Câu 2.3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyểnnhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 8Câu 2.4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhàđất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa ánnhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụthể là bao nhiêu? Vì sao? 8Câu 2.5: Hướng như trên của tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa?Nêu một tiền lệ (nếu có)? 9
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN 10
Câu 3.1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyểngiao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 10Câu 3.2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bàTú? 11Câu 3.3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã đượcchuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 12Câu 3.4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án? 12Câu 3.5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đốivới người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đượcchuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12Câu 3.6: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còntrách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiệnnghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết 13
Trang 3đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 14Câu 3.8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa
vụ ban đầu và người có quyền 14Câu 3.9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 15Câu 3.10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảolãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh cóchấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 15
Trang 4VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành xây dựng một công
trình công cộng Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ tronghợp đồng B đại diện A và cũng không có ủy quyền của A trong khi đó, theo quy định, Bkhông được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tế Ban quản
lý dự án B không có nhiều tài sản để thanh toán cho C)
Câu 1.1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 về “Thực hiện công việc không có ủy quyền” có quyđịnh rõ: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụthực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người cócông việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Câu 1.2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, là việc mà theo đó bên có nghĩa vụ phảithực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền.(Quy định rõ tại Điều 274 BLDS 2015)
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ là những sự kiện trong thực tế đã được pháp luật dân
sự dự liệu, suy tính trước, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụdân sự
Thực hiện công việc không có ủy quyền dễ dẫn đến 2 hệ quả:
1) Công việc hoàn thành, tài sản được bảo quản thì bên có công việc cần thanh toán chiphí thực hiện, trả thêm thù lao Đây là điều dĩ nhiên, đồng thời cũng là quy tắc “có đi cólại”
2) Công việc không hoàn thành, hư hại tổn thất tài sản ban đầu: bên thực hiện phải bồithường dù vô ý hay cố ý vì đã gây hư hại tài sản của người khác
3) Việc quy định căn cứ phát sinh nghĩa vụ này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa ngườithực hiện công việc và người có công việc được thực hiện; đồng thời nâng cao tinh thầntrách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của cả hai bên
Thực hiện công việc không có ủy quyền làm phát sinh nghĩa vụ được quy định tại Điều
576, 577 trong BLDS 2015
Trang 5Câu 1.3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “Thực hiện công việc không có ủy quyền”.
Điều 574: Thực hiện công việc không có
ủy quyền
Thực hiện công việc không có ủy quyền là
việc một người không có nghĩa vụ thực
hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực
hiện công việc đó vì lợi ích của người có
công việc được thực hiện khi người này
không biết hoặc biết mà không phản đối
Điều 594: Thực hiện công việc không có
ủy quyềnThực hiện công việc không có ủy quyền làviệc một người không có nghĩa vụ thựchiện công việc nhưng đã tự nguyện thực
hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của
người có công việc được thực hiện khingười này không biết hoặc biết mà khôngphản đối
-> BLDS 2015 bỏ đi yếu tố “hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc” thaybằng “vì lợi ích của người có công việc” để xem như một yếu tố xác định công việckhông có ủy quyền là điều phù hợp với thực tế Vì trong cuộc sống rất hiếm trường hợpthực hiện công việc không có ủy quyền hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc Việcngười thực hiện có mong muốn giúp đỡ cho người có công việc là chính nhưng cũng cósuy nghĩ đến lợi ích cá nhân (như được nhận tiền thù lao sau khi thực hiện) thì vẫn có thểcoi là thực hiện công việc không có ủy quyền
Điều 575: Nghĩa vụ thực hiện công việc
không có ủy quyền
3 Người thực hiện công việc không có ủy
quyền phải báo cho người có công việc
được thực hiện về quá trình, kết quả thực
hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường
hợp người có công việc đã biết hoặc người
thực hiện công việc không có ủy quyền
không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của
người đó
4 Trường hợp người có công việc được
Điều 595: Nghĩa vụ thực hiện công việckhông có ủy quyền
3 Người thực hiện công việc không có ủyquyền phải báo cho người có công việcđược thực hiện về quá trình, kết quả thựchiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trườnghợp người có công việc đã biết hoặc ngườithực hiện công việc không có ủy quyềnkhông biết nơi cư trú của người đó
4 Trong trường hợp người có công việcđược thực hiện chết thì người thực hiện
Trang 6thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm
dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người
thực hiện công việc không có ủy quyền
phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến
khi người thừa kế hoặc người đại diện của
người có công việc được thực hiện đã tiếp
Điều 578: Chấm dứt thực hiện công việc
không có ủy quyền
4 Người thực hiện công việc không có ủy
quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm
dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.
Điều 598: Chấm dứt thực hiên công việckhông có ủy quyền
4 Người thực hiện công việc không có ủyquyền chết
-> BLDS 2005 quy định chủ thể của việc “Thực hiện công việc không có ủyquyền” chỉ là cá nhân BLDS 2015 bổ sung thêm chủ thể pháp nhân Việc bổ sung thêmnhư thế là hoàn toàn hợp lý Ta thấy rằng trong cuộc sống không ít quan hệ phát sinh giữa
cá nhân và pháp nhân Nếu không có quy định về pháp nhân trong việc “Thực hiện côngviệc không có ủy quyền” sẽ gây khó khăn khi giải quyết các vụ việc có liên quan đếnpháp nhân
Câu 1.4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Điều 574 BLDS 2015 quy định; “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việcmột người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện côngviệc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặcbiết mà không phản đối.”
Từ đó rút ra các điều kiện áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”:Thứ nhất: Người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng tự nguyện thực hiện côngviệc
Trang 7Điều kiện này được hiểu rằng, việc thực hiện công việc đó không phải là nghĩa vụbắt buộc của người thực hiện, tức là họ muốn thì thực hiện, không muốn có thể khôngthực hiện Về hậu quả pháp lý, họ có thực hiện hay không thì cũng không phải gánh chịubất cứ chế tài nào Bởi vì giữa người có công việc và người thực hiện công việc không cóbất cứ thỏa thuận nào, đồng thời pháp luật cũng không có bất cứ quy định nào buộc mộtngười phải thực hiện một công việc cho người khác.
Thứ hai: Việc thực hiện công việc phải vì lợi ích của người có công việc
Yêu cầu này được hiểu là tại thời điểm bắt đầu thực hiện công việc, người thựchiện công việc phải thể hiện rõ mình thực hiện công việc nhằm mang lại lợi ích, hoặcngăn chặn thiệt hại cho người có công việc Tuy nhiên, thực tế khó để có thể chứng minhđược điều này, vì khi kết thúc công việc, người thực hiện công việc có thể được hưởngnhững lợi ích nhất định (như tiền thù lao) Do đó, để xác định việc thực hiện công việc đó
có hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc hay không thì phải xem xét hoạt động thựchiện công việc đó một cách toàn diện Nếu hoạt động thực hiện công việc cho người khác
là một hoạt động thường xuyên tại một địa điểm nhất định với mong muốn nhận tiền thùlao thì không được coi là thực hiện công việc hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc.Ngược lại, nếu việc thực hiện công việc không thực hiện thường xuyên, tức là việc thựchiện công việc xảy ra tức thì, thì có thể xác định việc thực hiện công việc vì lợi ích củabên có công việc
Thứ ba: Công việc của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặcbiết mà không phản đối
Thông thường, khi công việc được thực hiện, người có công việc thường khôngbiết người khác thực hiện công việc cho mình, bởi nếu họ biết thì đã tự mình thực hiệncông việc, và bản thân người thực hiện công việc cũng sẽ không thực hiện khi chínhngười có công việc cũng đang hiện hữu tại nơi có công việc cần thực hiện Việc thực hiệncông việc không có ủy quyền bản chất là sự giúp đỡ, tránh làm phát sinh những thiệt hạikhông đáng có của người thực hiện công việc Do đó, nếu người có công việc đang cómặt hoặc biết người khácthực hiện công việc cho mình thìđa phần họ sẽ không phản đốinếu việc thực hiện công việc đó có lợi cho mình và bản thân mình không thể thực hiệnđược công việc đó tại thời điểm phải thực hiện công việc Tuy nhiên, nếu họ phản đối
Trang 8người khác thực hiện công việc của mình, thì người thực hiện công việc cũng không đượcthực hiện Nếu họ cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm và phải chịu trách nhiệm theoquy định của pháp luật.
Thứ tư: Việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết
Đây là điều kiện không được quy định rõ trong Điều 574 nhưng lại là điều kiện rấtquan trọng để xác định trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền Sự cần thiếtcủa việc thực hiện công việc thể hiện ở chỗ nếu công việc không được thực hiện kịp thời
sẽ gây thiệt hại cho người có công việc Đây là yếu tố quan trọng và có vai trò quyết địnhviệc thực hiện công việc có thuộc trường hợp không có ủy quyền hay không Bởi thực tế,nhiều trường hợp một người thực hiện công việc của người khác khi họ không biết và sau
đó yêu cầu thanh toán thù lao, nhưng bản thân người có công việc không đồng ý vì họkhông có nhu cầu người khác phải thực hiện công việc cho mình Do đó, người thực hiệncông việc muốn nhận thù lao thì phải chứng minh mình đã thực hiện công việc giúp chongười có công việc không bị thiệt hại Điều nà giúp ngăn chặn được hành vi lợi dụng quyđịnh của pháp luật để trục lợi một cách không chính đáng
Câu 1.5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời.
Điều 574 BLDS 2015 quy định; “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việcmột người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện côngviệc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặcbiết mà không phản đối.”
Trong trường hợp trên, Ban quản lí dự án B tự ý kí hợp đồng với nhà thầu C màkhông có sự ủy quyền của chủ đầu tư A và A cũng không biết về việc này (đề không đềcập đến vì lợi ích của ai) nên có thể kết luận trong trường hợp này B đã thực hiện côngviệc không có ủy quyền; người thực hiện là C và người có công việc được thực hiện là A
Trang 9->C có thể yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ thanh toán dựa trên quy định tại Điều 576BLDS 2015 về nghĩa vụ thanh toán của người có công việc đã được thực hiện (tiền chiphí và tiền thù lao)
Điều 576 Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện
1 Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ
ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình
2 Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối
Trang 10VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
Tóm tắt bản án Quyết định giám đốc thẩm số: 15/2018/DS-GĐT ngày 15 tháng 3 năm 2018 về v/v: “Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội
Nguyên đơn: cụ Ngô Quang Bảng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Ngô Anh Thắng Bị đơn: bà Mai Hương Năm 1991, cụ Bảng chuyển nhượng nhà cấp bốn hai gian cùng toàn bộ thửa đất 1010m2 thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 13 với giá 5.000.000 đồng cho bà Hương Bà Hương mới thanh toán có ông Bảng được 4.000.000 đồng còn nợ lại 1.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất Sau đó, bà Hương chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất trên cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh, bà Phạm Thị Sáu
Tòa án nhân dân sơ thẩm buộc bà Hương trả lại ông Bảng 1.000.000 đồng tiền nợ cùng 1.700.000 tiền lãi Tòa án nhân dân phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm Tại tòa án nhân dân giám đốc thẩm quyết định hủy bản án dân sự phúc thẩm, giao
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh để xét xử theo thủ tục sơ thẩm
Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế
chân của bà Cô 50.000đ Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà Bà Cô đồng ý trả nhà vàyêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính TP.HCM là 15.000đ/kg)
Câu 2.1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản là gì?
Theo điểm a, b khoản 1 Điều 1 Mục I Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lạikhoản giá trị tiền phải thanh toán được tính như sau:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụđến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi cáckhoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọitắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính sốlượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên cónghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
Trang 11 Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuyxảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệthại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tănghay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó
để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người cónghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậmtrả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thờigian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộluật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán qua trung gian là gạo
Câu 2.2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời
Thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là 5.475.000đ
+) Điểm a Khoản 1 Thông tư 01/TTLT ngày 29/06/1997:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996
và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểmxét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền
đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giágạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đóthành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tàisản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
Ví dụ: Tháng 1-1995 xảy ra việc tham ô khoản tiền 1 triệu đồng Nếu tháng
10-1996 xét xử sơ thẩm và giá gạo trong thời gian này đã tăng quá 20%, thì Toà án