1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tạp văn của ngô tất tố

139 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên Báo mới số 4 ngày 15/6/1939, Trần Minh Tước đã viết bài “Một nhà văn hóa của dân quê - Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn” với nhận xét: "Ngòi bút ông đồ nho Ngô Tất Tố đáng lẽ là ngòi

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THANH NGA

4 pt Border spacing: )

Formatted: Line spacing: single

Formatted: Line spacing: single

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 21

1 Lí do chọn đề tài 21

2 Lịch sử vấn đề 32

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 109

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 109

5 Phương pháp nghiên cứu 1110

6 Đóng góp của luận văn 1110

7 Cấu trúc của luận văn 1110

Chương 1 TẠP VĂN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ 1211

1.1 Khái niệm tạp văn và tạp văn trong sự nghiệp của Ngô Tất Tố 1211

1.1.1 Khái niệm tạp văn 1211

1.1.2 Vấn đề tạp văn của Ngô Tất Tố 1614

1.2 Tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố 1816

1.2.1 Sơ lược tiểu sử Ngô Tất Tố 1816

1.2.2 Ngô Tất Tố - nhà văn hiện thực xuất sắc 2220

1.2.3 Vị trí của tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố 3936

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU TRONG TẠP VĂN NGÔ TẤT TỐ 4441

2.1 Những vấn đề văn hóa 4441

2.1.1 Phản ánh đời sống văn hóa đương đại 4441

2.1.2 Mối bận tâm đối với văn hóa truyền thống 5046

2.1.3 Những nghĩ suy trước thực trạng nham nhở của văn hóa đương thời và nguy cơ của văn hóa truyền thống 5249

2.2 Tạp văn Ngô Tất Tố viết về đời sống chính trị 6056

2.2.1 Phản ánh đời sống chính trị trong xã hội 6056

2.2.2 Những trăn trở và ngộ nhận về đời sống chính trị trong xã hội 7266

2.3 Nỗi lo toan về nghề nghiệp 8176

2.3.1 Thông điệp về thực trạng nghề nghiệp 8176

2.3.2 Những suy tư về nghề cầm bút 8580

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Formatted

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Field Code Changed

Formatted

Field Code Changed

Field Code Changed

Trang 3

2.3.3 Trăn trở về lương tâm, trách nhiệm của người cầm bút 9084 Formatted: Left, Line spacing: single, Tab

stops: Not at 5.9"

Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Field Code Changed

Trang 4

3.1.1 Tính cập nhật, thời sự và cái nhìn xa rộng 9488

3.1.2 Sự đa dạng về dung lượng, giàu có về thông tin và phong phú về chất liệu10094 3.2 Nghệ thuật xây dựng ý tưởng, lập luận 109103

3.2.1 Hướng tới sự đa dạng trong cách lập ý 110103

3.2.2 Linh hoạt trong nghệ thuật đặt vấn đề 114107

3.2.3 Nghệ thuật dẫn chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu 116109

KẾT LUẬN 123116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127119

Formatted: Tab stops: Not at 5.9" Formatted: Left: 1.38", Right: 0.98", Top:

0.98", Bottom: 0.98", Header distance from edge: 0.5", Footer distance from edge: 0.5"

Field Code Changed Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Field Code Changed

Formatted: Condensed by 0.3 pt Field Code Changed

Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Field Code Changed

Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Field Code Changed

Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Field Code Changed

Field Code Changed Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold Formatted: Justified, Level 1, Line spacing:

1.5 lines

Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Bold Formatted: Line spacing: 1.5 lines Formatted: Font: 13 pt

Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

spacing: 1.5 lines

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

`

ĐINH THỊ AN PHONG

ĐẶC ĐIỂM TẠP VĂN CỦA NGÔ TẤT TỐ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Thanh Nga

Nghệ An – 2015

Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt

Formatted: Justified, Level 1, Line spacing:

1.5 lines

Formatted: Font: 13 pt

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tạp văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền văn học Đó là thể

loại thường được sử dụng trong văn học, báo chí, tạp chí, bách khoa toàn

thư, phát thanh truyền hình, phim ảnh, lịch sử, triết học, pháp luật và nhiều hình

thức truyền thông khác Nó là thể loại giúp chúng ta hiểu và nắm bắt, phản ánh

kịp thời những vấn đề nóng bỏng, nảy sinh trong xã hội

1.2 Tạp văn là một thể tản văn giàu tính luận chiến về một đề tài chính trị,

xã hội nào đó có ý nghĩa thời sự Tạp văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có

tính nghệ thuật sinh động Trong số các thể tảnạp văn, tạp văn giàu tính báo chí

hơn cả Nếu như “tâm thế tạp văn” là tâm thế nhàn tạp, ngâm ngợi, thích ứng với

cảm nhận điềm tĩnh, suy tư thì thể tạp văn vượt lên như một thể loại xung kích,

phản ứng nhanh nhậy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của đời sống xã

hội…

Nghiên cứu đặc điểm tạp văn là cơ sở để tìm hiểu, khám phá nội dung, đặc

điểm, ý nghĩa của tạp văn đối với nền văn học, từ đó khẳng định những thành tựu

và đóng góp của nhà văn cho nền văn học dân tộc

1.3 Ngô Tất Tố là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực phê phán và

là một trong những tác gia có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện

đại Chỉ với ba thập kỷ cầm bút, ông đã để lại một một sự nghiệp văn học phong

phú, độc đáo, bao gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện ký lịch sử,

khảo cứu, dịch thuật, tiểu phẩm báo chí, tạp văn ở thể loại nào cũng để lại dấu

ấn đặc sắc riêng Tác phẩm của Ngô Tất Tố không chỉ là tiếng nói đanh thép tố

cáo chế độ thực dân phong kiến tàn bạo, mà còn thể hiện tấm lòng thương yêu

đối với nhân dân lao động Năm 1996, Nhà nước đã trao tặng Giải thưởng Hồ

Chí Minh đợt I cho di sản văn học của Ngô Tất Tố

Gần một thế kỷ qua, kể từ tác phẩm đầu tiên là Cẩm hương đình ra đời

(1923), sự nghiệp văn học Ngô Tất Tố đã thu hút được sự quan tâm, yêu mến của

các nhà nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học và đông đảo công chúng Kết

Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Formatted: Level 1, Line spacing: 1.5 lines Formatted: Font: 13 pt

Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Formatted: Level 1, Indent: First line: 0.39",

Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Level 1

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 7

quả là đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về ông Song, hầu hết

những công trình đó mới chỉ đề cập những vấn đề như: tư tưởng nghệ thuật, thế

giới nghệ thuật, phong cách sáng tác, ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn

Về đặc điểm tạp văn của Ngô Tất Tố chưa được khảo sát, phân tích khái

quát làm rõ

Vì lý do đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Đặc điểm tạp văn của Ngô

Tất Tố để mở rộng, tìm hiểu, khơi sâu thêm một vấn đề đã được giới nghiên cứu,

phê bình văn học quan tâm và đã tạo những bước đi ban đầu

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu Ngô Tất Tố

Hành trình sáng tác của Ngô Tất Tố từ khi bắt đầu sự nghiệp văn chương

với việc dịch truyện cổ Trung Hoa Cẩm hương đình (1923) đến tác phẩm cuối

cùng là vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (1951) kéo dài gần ba mươi năm

Song, thành tựu của Ngô Tất Tố tập trung chủ yếu trong giai đoạn 1930 - 1945

Những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn, Lều chõng, các phóng sự: Việc làng, Tập

án cái đình đều được viết ra trong khoảng thời gian từ năm 1936 đến năm 1940

Đặc biệt là, các tạp văn của ông xuất hiện hồi chữ quốc ngữ vừa “mới nhất sơ

thành lập", giữa lúc "văn học và báo chí còn bất phân", bạn đọc đòi hỏi cần phải

có lối viết mới cho chữ quốc ngữ Sau những năm tháng sinh sống thật sự bằng

làm báo ở Nam Kỳ, trở ra Bắc, Ngô Tất Tố sáng tác gần 1500 tác phẩm đăng

báo Điều đáng chú ý là Ngô Tất Tố đã đột phá, mở đường phát triển mạnh mẽ

tạp văn, một thể loại mới của báo chí đương thời

Với biệt tài "công phu chọn bút danh, hóm hỉnh mở chuyên mục, sắc sảo

viết tạp văn" suốt 15 năm trời của tác giả đã tạo nên "sân chơi hấp dẫn, sàn đấu

sôi động" trên mặt báo, đã đem lại "kho tạp văn Ngô Tất Tố" phong phú độc đáo,

giữ vai trò hàng đầu góp phần định hình và đưa "thể loại tạp văn" lên vị trí ngang

hàng với các thể loại khác trong lịch sử văn chương báo chí nước nhà

Theo tìm hiểu của chúng tôi, quá trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố được bắt

đầu từ bài viết của Vũ Trọng Phụng với nhan đề Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng

trên báo Thời vụ, số 100, ngày 31-1-1939 Vũ Trọng Phụng đã khẳng định giá trị

Formatted: Level 1 Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 8

nhiều mặt của Tắt đèn Ông than phiền một nước nông nghiệp như Việt Nam mà

văn chương viết về làng quê rất ít tác phẩm có giá trị: "Ta phải chán nản mà nhận

thấy rằng quả thật hãy còn vắng vẻ đìu hiu, chỉ mới thấy có quyển Tối tăm của

Nhất Linh, quyển Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan" Giữa lúc ấy thì

Ngô Tất Tố xuất hiện, Vũ Trọng Phụng đã chân thành giới thiệu Ngô Tất Tố với

công chúng độc giả: "Bạn tôi lại từ làng báo mới bước vào làng tiểu thuyết và Tắt

đèn là áng văn đầu tiên của bạn và cũng là áng văn mới mẻ nhất về loại văn

chương xã hội ngày nay nữa" [4436;200] Trên Báo mới số 4 ngày 15/6/1939,

Trần Minh Tước đã viết bài “Một nhà văn hóa của dân quê - Ngô Tất Tố và tác

phẩm Tắt đèn” với nhận xét: "Ngòi bút ông đồ nho Ngô Tất Tố đáng lẽ là ngòi

bút của cái thế hệ sản sinh những câu văn điền viên vui thú kia; hoặc có muốn

thiên về dân quê một cách tha thiết hơn, thì bất quá và đáng lẽ ngòi bút ấy chỉ

viết những bài cải lương hương chính mà mười lăm năm trước đây, chúng ta đã

được đọc trên các báo Không, nhà nho ấy đã vượt khỏi thế hệ mình Người môn

đồ Khổng Mạnh này đã thở hút cái không khí xã hội của C.Mác như tất cả những

thiếu niên văn sỹ hàng tranh đấu để viết cho ta cuốn Tắt đèn" [6974;94] Những

bài báo trên đã tôn vinh Tắt đèn và gây ấn tượng mạnh với bạn đọc Ngô Tất Tố,

một cây bút tiểu thuyết vừa từ làng báo chuyển sang lại tiếp tục có những tác

phẩm mới là Lều chõng và Việc làng Những tác phẩm này đã góp phần quan

trọng tạo cho Ngô Tất Tố một chỗ đứng vững chắc trên văn đàn

Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã đánh giá Ngô Tất Tố là nhà

văn chuyên sâu về đề tài nông thôn, am hiểu sâu sắc cuộc sống và phong tục làng

quê Ông phân tích và khẳng định tác phẩm Việc làng: "Tập phóng sự về dân quê

này là một tập phóng sự rất đầy đủ về việc làng"

Sau Cách mạng tháng Tám, khi hòa bình lập lại, những tác phẩm văn học

có giá trị thời kỳ trước Cách mạng được lựa chọn và đưa vào giảng dạy ở nhà

trường Tắt đèn của Ngô Tất Tố là một trong số tác phẩm đầu tiên của dòng văn

học hiện thực phê phán được đưa vào giảng dạy từ trường phổ thông đếnến đại

học Nhờ đó, tên tuổi Ngô Tất Tố được nhiều người biết đến hơn, và sự nghiệp

văn học của ông ngày càng thu hút giới phê bình, nghiên cứu

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 9

Sau khi Ngô Tất Tố - "Nhà văn của những luống cày" mất trên con đường

kháng chiến (1954), tiếp tục có nhiều bài nghiên cứu và giới thiệu về ông như:

Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí văn nghệ, số 54, tháng 8, năm 1954); Đọc

lại Việc làng của Bùi Huy Phồn (Tạp chí văn nghệ số 8 tháng 1, năm 1958); Ngô

Tất tố như tôi đã biết của Nguyễn Đức Bính (Tạp chí văn nghệ số 61, tháng 6,

năm 1962) Trong những bài viết tưởng nhớ, khắc họa chân dung nhà văn Ngô

Tất Tố, có nhiều bài đánh giá cao tiểu thuyết Tắt đèn như: Đọc Tắt đèn của Ngô

Tất Tố của Nguyễn Công Hoan, Lời giới thiệu truyện Tắt đèn của Nguyễn Tuân,

Tắt đèn cuốn tiểu thuyết hiện thực xuất sắc của Hồng Chương, Tắt đèn và tiếng

nói của Ngô Tất Tố của Phong Lê, Giá trị nhận thức của Tắt đèn của Như

Phong Những bài viết về chân dung Ngô Tất Tố và tiểu thuyết Tắt đèn càng

khẳng định giá trị sự nghiệp văn học của ông, khẳng định vị trí của nhà văn trong

nền văn học Việt Nam hiện đại Đây là cái mốc quan trọng trong việc nghiên cứu

và giới thiệu Ngô Tất Tố Cũng trong thời điểm này, cần ghi nhận thành tựu

nghiên cứu về Ngô Tất Tố của hai tác giả Phan Cự Đệ và Nguyễn Đức Đàn Có

thể xem đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tập trung có hệ thống trên nhiều

bình diện về sự nghiệp của Ngô Tất Tố, công trình được Nhà xuất bản Văn hóa

ấn hành năm 1962, Nhà xuất bản Hội nhà văn in lại năm 1999 với nhan đề Bước

đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố Sau đó nhà xuất bản

Văn học in cuốn Tuyển tập Ngô Tất Tố và tiếp theo là Toàn tập Ngô Tất Tố

(1996) do giáo sư Phan Cự Đệ tuyển chọn và giới thiệu

Nhìn chung, các công trình, bài viết về Ngô Tất Tố giai đoạn này đều khẳng

định vị trí quan trọng của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại; đều

đánh giá ông là cây bút tài năng, là nhà văn hiện thực xuất sắc của nông thôn

Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Một hoạt động khoa học đáng chú ý là

cuộc hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ngô Tất Tố do Hội Nhà văn

và Viện Văn học phối hợp tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà báo

Các tham luận đã khẳng định tầm vóc của Ngô Tất Tố - một nhà văn lớn, một

nhà báo lớn Nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài “Ngô Tất Tố một chân dung lớn

một sự nghiệp lớn” đã khẳng định: "Kỷ niệm 100 năm năm sinh Ngô Tất Tố

chúng ta còn nhận ra một di sản còn đồ sộ hơn ở ông, bao gồm nhiều lĩnh vực

Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

spacing: Multiple 1.4 li

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 10

hoạt động, có ý nghĩa là điểm tựa cho các giá trị văn chương, vượt ra khỏi đóng

góp xuất sắc của một nhà văn hiện thực Xứng đáng ở nhiều tư cách, nhưng với

Ngô Tất Tố tôi muốn trở lại tư cách nhà văn hóa như một tư thế bao trùm và là

điểm tựa cho mọi lĩnh vực sáng tạo ngôn từ và bồi đắp tư duy hình tượng, luôn

đạt trình độ cao sâu và các giá trị bền vững" [307;70]

Sang thời kỳ Đổi mới, có ý kiến đánh giá không đồng nhất với những ý kiến

trước đây về nhân vật chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn đó là ý kiến của Trần

Đăng Khoa: "Ví như Tắt đèn của cụ Ngô Tất Tố Tất nhiên trong cuốn truyện

vừa xuất sắc này của cụ Tố, có một chỗ rất tệ hại Ai lại dành nhiều công phu và

tâm huyết như thế để viết về một bà mẹ đi bán con chuộc chồng "[669;107] Ý

kiến của Trần Đăng Khoa chưa thật thuyết phục các nhà nghiên cứu, sau đó cũng

không có ý kiến tranh luận nhiều về vấn đề này, và giá trị của Tắt đèn cũng như

cảm tình của độc giả dành cho tác phẩm vẫn không thay đổi Song, nhìn chung,

từ trước tới nay, các học giả đều khẳng định vị trí quan trọng của Ngô Tất Tố

trên văn đàn Các bài báo như: Cây bút sắc bén của một nhà Nho của Vũ Tú

Nam; Ngô Tất Tố nhà văn hóa lỗi lạc của Hoài Việt; Ngô Tất Tố trong sự nghiệp

đổi mới hôm nay của Giáo sư Phan Cự Đệ càng khẳng định Ngô Tất Tố không

phải chỉ là di sản của quá khứ mà còn là của hiện tại, của tương lai Tư tưởng

nhất quán của Ngô Tất Tố trong tác phẩm là vì dân, đấu tranh cho quyền độc lập

của dân tộc, vì con người, đấu tranh cho tình yêu thương của con người trong

cuộc sống Tư tưởng ấy theo suốt cuộc đời sáng tác của nhà văn

Đến năm 2000, Nhà xuất bản Giáo dục in cuốn Ngô Tất Tố về tác giả và tác

phẩm do hai nhà nghiên cứu Mai Hương, Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới

thiệu Đây là công trình tập hợp đầy đủ các bài viết bài nghiên cứu, hồi ức, tưởng

niệm của bàn bè, đồng nghiệp, người thân về Ngô Tất Tố Trong bài Ngô Tất Tố

tài năng và tấm lòng, nhà nghiên cứu Mai Hương khẳng định: "Một cây bút tiểu

thuyết phóng sự xuất sắc, một nhà báo cự phách, có biệt tài, một nhà khảo cứu,

dịch thuật tâm huyết, và bao trùm là tư cách một nhà văn hóa lớn" Những năm

gần đây, nhờ công lao của các nhà sưu tầm, trong đó có ông Cao Đắc Điểm

(người con rể của nhà văn), chúng ta lại biết thêm những tác phẩm báo chí mới

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Indent: First line: 0.39"

Trang 11

của Ngô Tất Tố Năm 2003, thành phốphố Hà Nội đã quyết định mở Đề tài khoa

học về báo chí Ngô Tất Tố Đề tài đã được in thành sách Di sản báo chí của Ngô

Tất Tố - Ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhà xuất bản Văn học (2005) Năm 2008,

Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in cuốn Thật hay bỡn là cuốn tạp văn tuyển

chọn từ gần 1500 di tác của tác giả, với 222 bài, sách xuất bản lần đầu do Cao

Đắc Điểm và Ngô Thị Thanh Lịch sưu tầm, biên soạn Trong đó, nêu rõ khái quát

con đường lập nghiệp và một số thành quả trong sáng tác của Ngô Tất Tố Tạp

văn đã được tập hợp vào trong cuốn Thật hay bỡn đều phản ánh rõ tính thời sự,

nóng bỏng của cuộc sống Nhà xuất bản Thông tin - Truyền thông cho ra mắt

bạn đọc công trình Tổng tập tạp văn Ngô Tấtất TốTố do Cao Đắc Điểm và Ngô

Thị Thanh Lịch sưu tầm, biên soạn, GS Phong Lê đã khẳng định rằng: “Có thể

xem đây là những tài liệu tin cậy cho nhiều khoa học như xã hội học, văn hóa

học, phong tục học, dân tộc học… không chỉ là tấm gương trung thành của một

thời cách đây trên hai phần ba thế kỷ mà còn rất cần cho việc hiếu chính đời sống

hôm nay Rất nhiều chuyện đời lớn hoặc nhỏ trong các chuyên mục: Gặp đâu nói

đấy, Nói giữa trời, Thật hay bỡn, Ném bùn sang ao, Nói chới nói hay…đừng ,

không phải là chuyện diễn ra chỉ vào thời ấy mà còn rất in đậm dấu ấn tâm sự,

trên khắp mặt đời sống công quyền; đìnhền chùa và lễ hội; y tế và giáo dục; báo

chí và văn chương; thôn quê và kẻ chợ… Cả một toàn cảnh thật là sống động qua

ngòi bút “tả chân” siêu việt của Ngô Tất Tố, từ tệ chạy danh chạy lợi ở các nha

môn;, quấy rối tình dục trong học đường;, các cuộc đụng nổ gay gắt về hôn nhân

gia đìnhinh; những mê tín dị đoan, tục đốt vàng mã trong các lễ hội; lừa bịp trong

quảng cáo…tất cả đã được tài tình dựng thành các cuộc chơi, làm nên sân chơi

hấp dẫn trên mặt báo, theo cách nói quen thuộc bây giờ”, “ cho đến nay Ngô Tất

Tố vẫn là người cùng thời với chúng ta”

Tóm lại, hơn bảy thập kỷ qua, kể từ bài viết của Vũ Trọng Phụng về tiểu

thuyết Tắt đèn (năm 1939) “cho tới nay đã có hơn 250 công trình sách báo, bài

viết… của các nhà văn, nhà báo, những người quen biết lớp trước, của các nhà

nghiên cứu, phê bình, các nhà giáo và bạn đọc lớp sau đã khảo cứu, giới thiệu…về

thân thế, sự nghiệp của Ngô Tất Tố” So với những nhà văn cùng thời, thì những ý

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

spacing: Multiple 1.4 li

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.1 pt

Formatted: Condensed by 0.1 pt Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.1 pt

Trang 12

kiến đánh giá về Ngô Tất Tố và văn nghiệp của ông là khá ổn định, thống nhất

Hầu hết những công trình nghiên cứu đều theo xu hướng khẳng định: Ngô Tất Tố

là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực trước Cách mạng và là một trong

những tác gia có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại

2.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm tạp văn của Ngô Tất Tố

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm tạp văn Ngô Tất Tố từ trước Cách

mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 2000

Từ trước Cách mạng tháng Tám đến năm 2000, việc nghiên cứu về Ngô Tất

Tố tập trung chủ yếu vào những đóng góp của nhà văn trên phương diện nội

dung tư tưởng, thế giới nhân vật, phong cách nghệ thuật, thi pháp Một số tác

giả khi nghiên cứu về Ngô Tất Tố mới đưa ra một số nhận xét có tính khái quát,

định hướng về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, chẳng hạn Vũ Trọng Phụng

nhận xét: "Cách hành văn mới mẻ, sáng sủa, tưởng chừng như chỉ có phái nhà

văn thuộc Pháp học mới có thể linh lợi và phô diễn nổi một cách linh hoạt như

thế" [4463;201] Nguyễn Đức Bính trong bài Ngô Tất Tố như tôi đã biết có nhận

xét cụ thể hơn: "Ngô Tất Tố có một lối viết văn mới, độc đáo nữa là khác, không

chút gì nhắc lại lốiối văn biền ngẫu của các cụ đồđồ, giọng văn khi đậm đà khi

duyên dáng nhưng đặc biệt dí dỏm; câu văn sắc cạnh, trong sáng, ngắn gọn, chữ

dùng thường mạnh dạn và ý nhị" [5763;77] Giáo sư Phan Cự Đệ đã có một đánh

giá khá toàn diện về ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm Tắt đèn: "Nghệ thuật của

Tắt đèn là thứ nghệ thuật đi vào chiều sâu, vào cái tinh túy, bản chất Tắt đèn học

được ở văn dân gian, đặc bịêt là ở tục ngữ, phương ngôn, cái nghệ thuật cô đúc,

càng nén lại thì càng gây nên những vụ nổ lớn, càng có sức vang xa rộng trong

không gian Chỉ trong vòng hơn một trăm trang mà sự kiện dồn dập, các mâu

thuẫn cọ xát đến nảy lửa"[1363;309] Tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về Ngô

Tất Tố chúng tôi được biết, từ trước Cách mạng tháng Tám đến năm 2000 đã có

một số bài nghiên cứu, và ý kiến đánh giá về một số phương diện của ngôn ngữ

nghệ thuật Ngô Tất Tố Các ý kiến đều nhận định: ngôn ngữ nghệ thuật Ngô Tất

Tố vừa mang tính dân tộc vừa rất hiện đại Song, chưa có công trình nào nghiên

cứu chuyên sâu về đặc điểm tạp văn của Ngô Tất Tố

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về tạp văn Ngô Tất Tố từ năm 2000 đến nay

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Level 1, Indent: First line: 0.39",

Line spacing: Multiple 1.4 li

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Level 1

Trang 13

Từ năm 2000 đến nay, thể loại tạp văn của các nhà văn được giới nghiên

cứu đi sâu khám phá và đã có nhiều Luận án, Luận văn, Chuyên luận, bài viết về

lĩnh vực này được công bố như: Tạp văn của Tô Hoài, Luận văn thạc sĩ Tạp văn

Việt Nam thế kỷ XX (từ cái nhìn thể loại) luận văn tiến sĩ của Lê Trà My, năm

2008, Tạp văn Việt Nam hiện đại - thể loại bị lãng quên của Giáo sư Trần Đình

Sử, 2009 Trong một bài viết Ngô Tất Tố: 60 năm Nghiệp văn và Nghề báo, tác

giả viết: “Công chúng biết đến Ngô Tất Tố ở nhiều cương vị khác nhau: nhà văn,

nhà báo, nhà Nho học và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng ở Việt Nam Về lĩnh vực

báo chí, nhiều người yêu mến tôn vinh ông là “Một trong mười nhà báo huyền

thoại” ở Việt Nam giai đoạn trước 1954 bởi những trang viết đầy dũng khí, trung

thực, thẳng thắn, nhạy bén và cập nhật tình hình” Trong cuốn Mười bốn gương

mặt nhà văn đồng nghiệp (Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2004), nhà văn,

nhà báo kỳ cựu Vũ Bằng gọi Ngô Tất Tố là: “Huấn luyện viên của tôi trong nghề

báo” Ngô Tất Tố có 28 năm làm báo với gần 1.500 bài Ông có bài đăng trên 27

tờ báo và tạp chí với hàng chục bút danh khác nhau Ngô Tất Tố còn giữ vai trò

phụ trách nhiều chuyên mục của nhiều tờ báo hàng ngày và hàng tuần Ngòi bút

của ông gắn bó với nhiều thể loại báo chí, nhưng giúp ông thành danh phải nhắc

đến hai thể loại có thể gọi là “sở trường” của ông là tạp văn và phóng sự” Năm

2010, Cao Đắc Điểm trong bài Viết tạp văn theo kiểu ngô Tất Tố đã đánh giá:

“Tạp văn của Ngô Tất Tố đã tinh nhanh, nhạy bén và rất kịp thời đề cập tới mọi

mặt việc đời sự đời, tạp văn Ngô Tất Tố không gây cười một cách thông thường

mà ý nhị giễu cợt rất thâm thuý, sâu sắc các thói hư tật xấu trong xã hội, đặc biệt

là rất mực sành sỏi, tai quái khi chỉ trích chính diện các bộ mặt thiếu nhân cách

trong cõi người Tạp văn của Ngô Tất Tố không chịu ảnh hưởng của một xu

hướng nào, không sao chép lối viết tạp văn của tác giả nào, mà là tài năng tại

chỗ, hoàn toàn Việt Nam, với cách nghĩ, cách viết của người Việt Nam, rất thân

thiết gần gũi với người Việt Nam” Trong xu thế chung đó, tạp văn của Ngô Tất

Tố cũng thu hút được sự quan tâm của các tác giả, trong đó đáng chú ý có công

trình chuyên sâu về vấn đề này, đó là: bài viết “Viết tạp văn theo kiểu Ngô Tất

Tố” của Cao Đắc Điểm (2010) đã tập trung nghiên cứu về cách tiếp cận vấn đề

Trang 14

và nêu một số đặc điểm nổi bật tạp văn Ngô Tất Tố Tuy nhiên, việc khảo sát,

thống kê, đánh giá, những đặc điểm cơ bản của tạp văn Ngô Tất Tố bài viết chưa

nghiên cứu

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu thấy rằng: từ trước tới nay các công trình,

chuyên luận, bài viết đề cập đến đặc điểm tạp văn Ngô Tất Tố đã thu được những

kết quả nhất định làm sáng rõ một số phương diện như:

- Tầm quan trọng của tạp văn

- Một số đặc điểm nghệ thuật tạp văn

Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản trong tạp văn Ngô Tất Tố chưa được

định danh, khảo sát, phân tích cụ thể Vì vậy, chúng tôi nhận thấy, tạp văn của

nhà văn vẫn còn có những phương diện có thể tiếp tục nghiên cứu để bổ sung cho

những công trình đã có, góp phần khẳng định thể loại tạp văn và đóng góp của

nhà văn Do đó, trên cơ sở kế thừa thành tựu của những công trình trước đó,

chúng tôi mở rộng, đi sâu nghiên cứu về đặc điểm tạp văn Ngô Tất Tố để từ đó

thấy được những đóng góp của ông đối với văn học dân tộc

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngô Tất Tố

3.2.Phạm vi khảo sát

, thông qua cuốn sáchPhạm vi khảo sát chính của luận văn là toàn bộ 222

tạp văn của Ngô Tất Tố viết từ năm 1928 đến 1945, tập hợp trong cuốn Thật hay

hóa Thông tin ấn hành năm 2008

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn cũng tham khảo một số tác

phẩm khác như Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng… của Ngô Tất Tố và tạp văn của

nhà văn hiện đại khác làm tư liệu để nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm tạp văn của Ngô Tất Tố, chúng tôi mong muốn nhận

Formatted: Level 1 Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Level 1 Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 15

thức được những nội dung chủ yếu của tạp văn, làm rõ những đặc điểm của tạp

văn Ngô Tất Tố, chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu tạp văn của Ngô Tất Tố với

việc nghiên cứu một số tác phẩm khác của nhà văn Từ đó, ghi nhận những đóng

góp quý giá của ông đối với nền văn học nước nhà, đồng thời, cũng khẳng định

một hướng tiếp cận có hiệu quả trong nghiên cứu thể loại tạp văn trong nền văn

học Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tố

trong tạp văn của Ngô Tất Tố

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu : Phương pháp phân tích -

tổng hợp; phương pháp thống kê, phân loại;

Để phương pháp so sánh;

Sphương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng rõ những đặc điểm cơ bản của tạp văn Ngô

Tất Tố Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một tài liệu học tập, nghiên cứu hữu ích

cho việc tìm hiểu văn chương Ngô Tất Tố

7 Cấu trúc của luận văn

Tương ứng với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, Ngoài ngoài phần

chương:

Chương 1 Tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố

Chương 2 Những nội dung được quan tâm nhiều trong tạp văn của Ngô

Tất Tố

Chương 3 Một số đặc điểm nghệ thuật tạp văn Ngô Tất Tố

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: Bold, Font color: Auto Formatted: Level 1

Formatted: Font: Times New Roman Bold,

Bold, Italic, Font color: Auto, Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: Times New Roman Bold,

Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: Times New Roman Bold,

Bold, Italic, Font color: Auto, Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: Times New Roman Bold,

Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: Bold, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Level 1

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Level 1

Formatted: Level 1 Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 16

Chương 1 TẠP VĂN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ

1.1 Khái niệm tạp văn và tạp văn trong sự nghiệp của Ngô Tất Tố

1.1.1 Khái niệm tạp văn

Chưa từng thấy có một lý thuyết vCho đến nay, đã có nhiều cách định nghĩa

khác nhau, chúng ta có thể tìm hiểu một số số cách hiểu về tạp văn như sau:

Tạp văn là một thể loại văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao

Formatted: Font color: Auto Formatted: Justified, Level 1 Formatted: Level 1

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Level 1, Indent: First line: 0"

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Justified, Level 1

Formatted: Level 1 Formatted: Font: 13 pt Formatted: Level 1, Pattern: Clear Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 17

gồm những bài bình luận ngắn, tiểu phẩm, tùy bút…(diễn đàn kiến thức.net/dien

dan/Archive/index.php/t-11723.html)

Tạp văn là một thể tản văn giàu tính luận chiến về một đề tài chính trị, xã

hội nào đó có ý nghĩa thời sự Tạp văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có

tính nghệ thuật sinh động Trong số các thể tản văn, tạp văn giàu tính báo chí hơn

cả Nếu như “tâm thế tản văn” là tâm thế nhàn tản, ngâm ngợi, thích ứng với cảm

nhận điềm tĩnh, suy tư thì thể tạp văn vượt lên như một thể loại xung kích, phản

ứng nhanh nhậy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội…

Phạm Văn Ánh , (2004) viết trong Từ điển Văn học bộ mới, nhiều tác giả,

Nxb Thế giới: “Tạp văn, một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc,

thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý nghĩa văn học Từ tạp văn vốn xuất hiện

trong sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, song trong công trình đó từ này còn

dùng để chỉ chung các thể loại văn chương Tạp văn với tư cách một thể văn chỉ

chính thức ra đời vào khoảng thời cách mạng Ngũ Tứ (1917 - 1924), là những bài

luận văn ngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một số vấn đề xã hội,

văn hóa, chính trị… Đặc điểm chung của tản văn là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng;

phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội

với những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo”

Lương Duy Thứ, (1983) viết trong cuốn Từ điển Văn học tập 2, Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội, cho rằng:: Tạp văn là, “Một bộ phận lớn sáng tác của nhà

văn Trung Quốc Lỗ Tấn viết theo một thể loại đặc biệt, bao gồm những bài cảm

nghĩ nhỏ, luận văn, diễn thuyết, tùy bút, thư từ, nhật ký, hồi ức… nói như Lỗ Tấn

“bất cứ thể văn gì, các thức góp lại với nhau, thế là thành tạp”… Một số nhà

nghiên cứu Trung Quốc cho rằng (…)”"Bỏ qua dấu hiệu lệ thuộc học thuật (cho

rằng tạp văn xuất phát từ Trung Quốc và thiếu sự tham chiếu cần thiết về lịch sử,

lý thuyết thể loại tương đương trong học thuật phương Tây), thì những định

nghĩa được nêu trên đây cũng phần nào giúp người đọc hình dung đến một thể

loại “chính thức xuất hiện” trong bối cảnh ngôn luận xã hội đang cần đến những

tiếng nói, quan điểm cá nhân “phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời trước

Formatted: Pattern: Clear

Formatted: Indent: First line: 0.39" Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: Not Bold, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 18

những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo”

Tạp văn là một thể loại văn học dân gian kết hợp giữa văn học và chính luận là

luận văn xã hội mang tính nghệ thuật có nhiều chất nghị luận, đậm tính chính

luận và tính văn học hòa vào trong sự điêu luyện ngắn gọn, linh hoạt, sắc bén

giàu tính châm biếm (Lí luận văn học tập II chủ biên, biên soạn, Lưu An Hải,

Tôn Văn Hiến, Nxb Đại học sư phạm Hoa Trung Vũ Hán, 2002)

Những định nghĩa trên cũng cho thấy, đây là một kiểu văn viết tự do, linh

hoạt (có lẽ vì thế mà lý thuyết về nó cho đến nay vẫn chưa thật hệ thống đâu vào

đó), kể cả sự phân biệt hay đồng nhất giữa các tên gọi: tản văn, tản mạn, tạp bút,

tạp văn…cũng chưa được làm rõ Trên thực tế báo chí và xuất bản hiện nay, các

tên gọi trên có xu hướng được đồng nhất và lý thuyết thể loại là thứ không được

quan tâm tìm hiểu hay soi rọi kỹ Kể cả những người viết tạp văn cũng thừa nhận

rằng họ ù ù cạc cạc về lý thuyết thể loại này

Tạp văn cũng có thể là cái được sinh ra từ thời sự, quan điểm nhất thời

nhưng đó không là tất cả Nhiều người viết đã hướng đến khảo cứu, nghiên cứu,

tư tưởng chăm chút trong lối viết khi theo đuổi thể loại này Vì thế, không thể gọi

thể loại này là thức ăn nhanh, thể loại kia là chế biến chậm Càng không nên gán

cho thể loại này là thể loại mưu sinh và thể loại kia mới là nghệ thuật đỉnh

cao Cách nghĩ tạp văn sẽ mài mòn vốn hiểu biết, vốn văn hóa (và làm ảnh hưởng

đến sáng tác truyện ngắn, thơ, tiểu thuyết…) là của những người viết yếu bóng

vía Trên thực tế, người ta sẽ không suy kiệt hay khỏe mạnh, trở nên tầm thường

hay đạo đức hơn khi chọn một thể loại để viết vì nếu vậy ở đời sẽ có quá nhiều

thứ cám dỗ đáng quan ngại hơn đối với những kẻ thuộc trường phái bao biện vì

yếu bóng vía kia

Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu theo định nghĩa trong Từ điển

thuật ngữ văn học - Nxb Giáo dục, Tạp văn là “Những áng văn tiểu phẩm có nội

dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính

chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp

thời các hiện tượng xã hội Chẳng hạn, như tạp văn của Lỗ Tấn, được ông gọi là

dây thần kinh cảm ứng, là chân tay tiến công và phòng thủ, là dao găm và mũi

Formatted: Pattern: Clear

Formatted: Indent: First line: 0.39"

Trang 19

lao, có thể cùng bạn đọc mở ra một con đường máu để sinh tồn Phần lớn tạp văn

mang yếu tố châm biếm, trào lộng, đả kích”

Đối với tên gọi Tạp văn, Lỗ Tấn từng nói trong Lỗ Tấn toàn tập rằng: “Đã

là văn chương, nếu muốn tất cả đều có thể phân loại Nếu theo thứ tự thời gian

thì có thể tạo thành dựa trên năm tháng; không kể đến thể văn, các loại đều có thể

xếp vào một chỗ, vì thế mới gọi là „tạp” [4850;3] Đây là sự giải thích của Lỗ

Tấn đối với chữ “tạp” của tạp văn Ông có lúc lại gọi tạp văn là “tạp cảm”, rồi lại

gọi là “tiểu phẩm văn học”, sau đó tiếp thu cách nói của truyền thống văn học

Trung Quốc, đổi tên thành “tạp văn”, đem loại văn chương này sắp xếp thành tập

mà gọi là “tập tạp văn”

Tạp văn có đặc điểm đó là, nó tạo thành một thể loại văn học trung gian,

đặc điểm của nó biểu hiện ở sự kết hợp giữa tính chính luận và tính văn học Tạp

văn có tính chính luận rất rõ ràng Lỗ Tấn nói: “Nhiệm vụ của người sáng tác tạp

văn là phải lập tức phản ánh hoặc đấu tranh chống lại sự vật tiêu cực, là hệ thần

kinh cảm ứng, là tay chân công thủ” [4851;3] Tạp văn “tất yếu là con dao sắc

nhọn, là giáo mác, có thể cùng với độc giả mổ ra một con đường máu sinh tồn”

[49;576-577) Ông còn chỉ ra “tạp văn có lúc hệt như một chiếc kính hiển vi cực

nhỏ, cũng có thể chiếu nước bẩn, cũng có thể xem nước mủ, có lúc nghiên cứu vi

khuẩn, có lúc giải phẩu ruồi nhặng” Từ góc độ những học giả có tên tuổi thì “cái

nhỏ nhặt, ô nhiễm, thậm chí có thể xấu xa nhưng trong bản thân lao động tác giả

nó cũng là một loại công việc nghiêm túc có liên quan đến đời sống nhân

sinh”[4752;376] Điều mà Lỗ Tấn nhấn mạnh chính là tính chính luận của tạp

văn Tạp văn của ông trong khi kế thừa cơ sở truyền thống chính luận của tạp văn

Trung Quốc đã cận thận kết hợp những dấu ấn thời đại, đã làm sáng tỏ và tấn

công một cách vô hình vào Chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản, phủ phản động quốc

dân Đảng, tăng cường phát huy tác dụng luận chiến của tạp văn, thể hiện sắc thái

tươi mới và mãnh liệt

Tạp văn phong phú tính văn học, sắc thái chính luận của nó được biểu hiện

ra thông qua tính hình tượng văn học hoàn chỉnh và điển hình, nhưng nó thường

lấy hình tượng đặc thù và phản ánh, bình luận kịp thời, điển hình các sự kiện xã

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Normal, Indent: First line: 0.39",

Pattern: Clear

Trang 20

hội, như Lỗ Tấn nói tạp văn của ông “bàn luận thời sự không chú trọng bề mặt

mà cốt giữ lấy cái loại hình” [4951;292] Cần chú ý nhiều hơn đến tính văn học

của tạp văn Để làm tốt nổi bật tính hình tượng, tạp văn thường vận dụng trần

thuật miêu tả, trữ tình và nghị luận để làm cho nghị luận trừu tượng và tình cảm

khó nắm bắt trở nên có hình hài cụ thể, để tăng cường phương pháp lý thuyết

hình tượng hóa, tạp văn hoặc phác họa hình tượng, hoặc lấy nhân vật ngụ tình,

hoặc lấy sự việc để hiểu lí, vẽ rồng điểm mắt Liên quan với tính văn học, tản văn

phần lớn bao hàm nyhaan tố châm biếm, trào phúng (uymua) Cái mà tản văn

phản ánh thường là sự vật lạc hậu hoặc phản động, hiện tượng thấp hèn hủ bại,

khi biểu hiện những hiện tượng đó, tạp văn không phải là bản phân tích bình giá

trang nghiêm, chỉ ra những hiện tượng đó tốt xấu như thế nào mà là do dùng thủ

pháp châm biếm uymua, đem mâu thuẫn bên trong và những điểm đáng cười,

đáng khinh, đáng ghét, đáng căm hờn làm hiện ra trước mắt người đọc, đạt đến

sự nghiêm trang trong sự nhẹ nhàng, hài hòa, khiến người đọc tỉnh ngộ Ngôn

ngữ của tản văn trong sáng, hàm súc, hài hước, sâu sắc, phong phú tính văn học

1.1 32 Vấn đề tạp văn của Ngô Tất Tố

Không phải là thể loại mới được khai sinh trong thời “công nghệ số”, mà đã

xuất hiện ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, nhưng phải thừa nhận rằng, với sự

phát triển của phương tiện truyền thông, của Internet, tạp văn đang thể hiện những

ưu thế riêng có của mình, và ngày càng chiếm được nhiều cảm tình của độc giả Với

nhà văn Ngô Tất Tố thì sao? Ông đã viết những gì? Viết như thế nào?

Không giống với Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng hay các nhà văn có viết tản

văn, tùy bút, phóng sự đương thờiKhác với các nhà văn khác, Ngô Tất Tố xuất

thân là một nhà Nho, thậm chí có thể coi là một nhà Nho lớn nếu nhìn vào kì tích

đỗ đầu xứ của ông (người ta còn gọi ông là "đầu xứ Tố") vốn là một nhà Nho, đã

từng đỗ đầu xứ Nhưng trong cuộc "mưa Âu gió Mỹ"ước biến thiên thời đại, Ngô

Tất Tố đã tỏ ra là một người nhạy cảm, năng độngvị đồ đệ của cửa Khổng sân

Trình đã khi sớm tiếp thu được những tư tưởng học thuật mới và đã trở thành

một cây bút xuất sắc, một kiện tướng trong dòng hiện thực phê phán Không chỉ

trong làng văn, Trong làng vănmà cả trong làng báo, cái tên Ngô Tất Tố cũng là

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Italic Formatted: Level 1, Pattern: Clear Formatted: Font: Italic Formatted: Font: 13 pt, Italic Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Pattern: Clear

Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt

Trang 21

một bút hiệu, một "thương hiệu" rất được chú ý đã trở nên quen thuộc và được

nhiều người mến phục Từ những tác phẩm lớn cho đến những bài báo, những

bài phóng sự ngắn, ngòi bút Ngô Tất Tố luôn luôn biểu hiện một tinh thần chiến

đấu sắc bén và mạnh mẽ

Vậy tTrên thực tế, người ta đã viết gì với tạp văn? Câu trả lời: Mọi thứ ở

trên đời, chứ không chỉ là “những vấn đề bức xúc của xã hội” Dù rằng, phải nói

ngay, “những vấn đề bức xúc của xã hội” chính là vùng đề tài quan trọng nhất và

giàu tiềm năng khai thác nhất của tạp văn Bởi, đời sống cứ điềm nhiên trôi đi

trong sự phong nhiêu của nó, sự phong nhiêu hợp thành từ cái bộn bề lộn xộn tốt

xấu, hay dở mà con người chúng ta phải đối mặt Với Ngô Tất Tố, tạp văn Ngô

Tất Tố ôm chứa một thế giới rộng lớn mà mọi thứ đêu được tái hiện một cách

sinh động, rõ, và nét, từ những câu chuyện mang màu sắc chính trị, những suy tư

về văn hóa đến những câu chuyện phản ánh khá đẩy đủ, rõ nét, sắc bén những gì

trong tưởng chừng vặt vãnh của cuộc sống đời thường Kể cả những điều tưởng

như đơn giản nhất mà nhà văn đã viết raNhững vấn đề trong xã hội thể hiện trong

tác phẩm dường như giản đơn nhưng lại không đơn giản chút nào đều là những

vấn đề cốt thiết, có khả năng bởi lẽ nó tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm, lối

sống văn hóa, đạo đức, nhân cách của con người, để người đọc sau khi gấp lại

các trang sách vẫn phải suy ngẫm, phải trăn trở Không thể bỏ qua bất cứ một tạp

văn nào của ông, bởi mỗi bài như thế là một chỉn thể có giá trị riêng, nhất là

trong tính thời sự nóng hổi của nó Có khi, đó là một câu chuyện thuộc kiến trúc

thượng tầng, có khi là một thói quen ứng xử, có khi là một hành vi văn hóa, có

lúc là một câu chuyện nào đó về văn chương, về "cây bút, đời người" (chúng tôi

mượn tên một cuốn sách của Vương Trí Nhàn)

Có khi, đấy là câu chuyện thường gặp, cũng có khi là câu chuyện ở phía

dưới, phía trong, nó không mô tả một biểu hiện, mà khái quát trạng thái tinh thần

của thời đại

Tạp văn của Ngô Tất Tố, vì thế có thể nói, luôn thể hiện tinh thần của một

con người, một cây bút có trách nhiệm luôn trăn trở, kiếm tìm những giá trị, phát

hiện những cái phản giá trị, trăn trở kiếm tìm cho xã hội một con đường giải

Formatted: Font: 13 pt

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Trang 22

thoát những bi kịch nhân sinh, dù mức độ thể hiện hay tính khả thi không phải

lúc nào cũng có thể đáp ứng được khát vọng của tác giả

Viết về "những điều trông thấy", bằng tạp văn, Ngô Tất Tố cho thấy một

thái độ hài hước trong sự thâm thúy không cùng, bằng trải nghiệm của một nhà

báo và nhân cách của một nhà Nho

Bằng tạp văn, nhận định bâng quơ? Ngô Tất Tố đã làm nên điều mà không

nhiều nhà văn làm được - một giọng văn bút chiến linh hoạt, sắc sảo, có khi nhẹ

nhàng, tinh tế, có khi đanh thép, mạnh mẽ, kết hợp đặc sắc giữa văn chương và

báo chí, mà tác động của nó tới xã hội không hề nhỏ

1.2 Tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố

1.2.1 Sơ lược tiểu sử Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố sinh năm 1893 mất năm 1954 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ,

phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà

Nội) Ông là con thứ hai, nhưng là trưởng nam trong một gia đình có bảy anh chị

em, ba trai, bốn gái Lúc còn nhỏ Ngô Tất Tố được thụ hưởng một nền giáo dục

Nho học Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê,

sau đó ông theo học ở nhiều làng quê trong vùng Năm 1912, Ngô Tất Tố học tư

chữ Pháp một thời gian ngắn và bắt đầu tham dự các kỳ thi truyền thống lúc bấy

giờ vẫn còn được triều đình nhà Nguyễn tổ chức Ông đỗ kỳ sát hạch, nhưng thi

hương bị hỏng ở kỳ đệ nhất Đến năm 1915, ông đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh

Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi hương lần thứ hai, khoa Ất Mão,

cũng là khoa thi hương cuối cùng ở Bắc Kì Ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng bị

hỏng ở kỳ đệ nhị

Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo Ông viết cho tờ An Nam tạp chí

Nhưng vì thiếu tiền, tờ báo này phải tự đình bản, Ngô Tất Tố cùng với Tản Đà đã

vào Sài Gòn Mặc dù không thật sự thành công trong cuộc thử sức ở Nam Kì,

nhưng tại đây, Ngô Tất Tố đã có cơ hội tiếp cận với tri thức và văn hóa thế giới ở

vùng đất khi đó là thuộc địa chính thức của Pháp cũng như theo đuổi nghề báo để

chuẩn bị sau này trở thành một nhà báo chuyên nghiệp Trong thời kỳ này, ông

viết với các bút danh Bắc Hà, Thiết Khẩu Nhi, Lộc Hà, Tân Thôn Dân

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Level 1 Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Pattern: Clear

Trang 23

Sau gần ba năm ở Sài Gòn, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội Ông tiếp tục sinh

sống bằng cách viết bài cho các báo: An Nam tạp chí, Thần chung, Phổ

thông, Đông Dương, Hải Phòng tuần báo, Thực nghiệp, Con ong, Việt nữ, Tiểu

thuyết thứ ba, Tương lai, Công dân, Đông Pháp thời báo, Thời vụ, Hà Nội tân

văn,Tuần lễ với 29 bút danh khác nhau như: Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình,

Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ Trong thời gian

những năm 1936-1939, Ngô Tất Tố viết nhiều tác phẩm chỉ trích quan lại tham

nhũng phong kiến Hà Văn Đức, trong bài viết Ngô Tất Tố - Nhà văn tin cậy của

nông dân (báo Nhân dân, ngày 10 tháng 6 năm 1997), cho biết năm 1935, Ngô

Tất Tố từng bị chánh sở mật thám Hà Nội gọi lên "để mua chuộc", nhưng ông từ

chối Ngoài ra, nhiều lần Ngô Tất Tố bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà

Nội, Hải Phòng, Nam Định Năm 1939, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm tác

phẩm Tắt đèn Nhà Ngô Tất Tố ở Bắc Ninh bị nhà chức trách khám xét và ông bị

bắt giam ở Hà Nội vài tháng

Năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố tham gia vào ủy

ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông Năm 1946, Ông gia nhập Hội văn hóa cứu

quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp Thời gian này, Ngô Tất

Tố đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng chi hội văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở

Sở thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu XII, Thông tin khu XII,

tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc trung ương Ngoài ra, ông còn viết văn Ngô

Tất Tố được bầu vào vị trí ủy viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam tại đại

hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1948)

Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang Không rõ

Ngô Tất Tố có bao nhiêu người con, nhưng ông có bốn con trai đã trưởng thành

là Ngô Mạnh Duẩn, Ngô Thúc Liêu (liệt sĩ), Ngô Hoành Trù (kĩ sư chế tạo máy),

Ngô Hải Cao (liệt sĩ) và ba người con gái là Ngô Thị Khiết, Ngô Thị Miễn và

Ngô Thanh Lịch (đại biểu quốc hội) Chồng bà Lịch, tiến sĩ Cao Đắc Điểm là

một nhà nghiên cứu khá tích cực về Ngô Tất Tố [

Ngô Tất Tố không chỉ là nhà văn mà còn là một nhà báo nổi tiếng Các tác

giả nghiên cứu Di sản báo chí Ngô Tất Tố - ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với

Trang 24

sự nghiệp phát triển báo chí thủ đô do Hội nhà báo thành phố Hà Nội thực hiện

năm 2004 với người đứng đầu là giáo sư, nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ cho

biết họ tìm thấy 1.350 tác phẩm (gần 4.500 trang) đã đăng báo của Ngô Tất Tố

với 59 bút danh khác nhau Năm 2005, tại hội thảo Những phát hiện mới về thân

thế và tư cách nhà văn hóa của Ngô Tất Tố, một thống kê khác được công bố cho

biết trong 28 năm làm báo, Ngô Tất Tố đã viết gần 1.500 bài (mới tìm thấy 1.360

bài) cho 27 tờ báo và tạp chí với 29 bút danh

Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại báo chí, trong đó tiểu phẩm và phóng sự là

hai thể loại đã giúp ông thành danh Ông còn phụ trách nhiều chuyên mục của

nhiều tờ báo hàng ngày và hàng tuần Nhà văn, nhà báo kỳ cựu Vũ Bằng,

trong Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp, (2004), Nhà xuất bản Hội nhà

văn, Hà Nội, từng khẳng định "Ngô Tất Tố là một huấn luyện viên của tôi trong

nghề báo" Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú, chi

tiết, phản ánh toán diện và trung thực xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

Các tác giả trong đề tài nghiên cứu nói trên kết luận rằng tiểu phẩm báo chí

của Ngô Tất Tố đạt được năm thành tựu cơ bản: thuyết phục, truyền cảm, điển

hình hóa mà không hư cấu; nghệ thuật trào lộng, đả kích và phong cách đậm đà

bản sắc dân tộc Về thái độ làm báo, Ngô Tất Tố được đánh giá là một nhà báo có

dũng khí, trung thực, thẳng thắn, nhạy bén và cập nhật tình hình khẩn cấp

Ông nghiên cứu rất nhiều các thể loại văn học khác nhau

Ngô Tất Tố được coi là nhà văn hàng đầu của trào lưu hiện thực phê

phán ở Việt Nam trước 1945 với các tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn, Việc

làng, Tập án cái đình Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) từng khen ngợi Tắt

đèn là "một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng

văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy" Phong Lê, trên Tạp chí Sông

Hương tháng 12 năm 2003, gọi những tác phẩm viết về nông thôn của Ngô Tất

Tố là "một nhận thức toàn diện và sâu sắc, đầy trăn trở và xúc động về cảnh ngộ

và số phận người nông dân Việt Nam" đạt đến "sự xúc động sâu xa và bền vững"

Ấn tượng bao trùm về Tắt đèn là một bức tranh đời sống sắc sảo, góc cạnh

và chi tiết trên tất cả mọi chân dung và đối thoại, không trừ ai, trong số mấy chục

Trang 25

nhân vật có tên hoặc không tên, xoay quanh một hình tượng trung tâm là chị

Dậu Nhịp điệu của Tắt đèn là một hơi văn mạnh mẽ và rắn rỏi từ đầu đến cuối

Từ một góc nhìn khác, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, trong

bài Ngô Tất Tố và một cách thích ứng trước thời cuộc trích từ cuốn Nhà văn tiền

chiến và quá trình hiện đại hóa (2005), Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội

viết Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết "rất xúc động" khiến người đọc có thể "nhiều

phen ứa nước mắt"

Còn thiên phóng sự Việc làng được coi là một trong những tác phẩm báo

chí toàn diện và chi tiết nhất về bộ mặt nông thôn Việt Nam trước năm 1945

Phong Lê, trong bài đã dẫn, cho rằng Việc làng phản ánh "tận chiều sâu những

cội rễ của cả hai mặt phong tục và hủ tục, nó tồn tại dai dẳng đến thế, không chỉ

đến thời Ngô Tất Tố viết Việc làng, mà cả cho đến hôm nay"

Ngô Tất Tố là một nhà nho lão thành, thấm sâu nền văn hóa cũ, từng mang

lều chõng đi thi, từng đỗ đạt Trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo, nhà văn Vũ

Bằng (1913-1984), có thời gian cùng làm việc với Ngô Tất Tố, từng kể lại là ở

ông có chất thầy đồ cổ lỗ đến như thế nào Tuy nhiên, Ngô Tất Tố không hoàn

toàn là một người lạc hậu, nhất là trong những tác phẩm của ông Nhà phê bình

Vương Trí Nhàn nhận xét: "Trong khi về mặt tính cách, người ta thấy Ngô Tất

Tố gắn liền với lớp người trưởng thành từ đầu thế kỷ XX như Phan Kế

Bính, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn thì tác phẩm của ông lại thường

được xếp cạnh các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Vũ Trọng

Phụng (nghĩa là thuộc về một giai đoạn chín đẹp của thế kỷ này, những năm 30

huy hoàng)"

Tính chất giao thời trong ngòi bút của Ngô Tất Tố thể hiện rõ nét trong tác

phẩm Lều chõng Tiểu thuyết này được đăng tải dần trên báo Thời vụ từ năm

1939 và sau đó được xuất bản thành sách năm 1941 Lều chõng ra đời trong bối

cảnh đang dấy lên phong trào phục cổ, kêu gọi trở lại với nền văn hóa giáo dục

cũ, những giá trị tinh thần và tôn ti trật tự của giáo lý Khổng Mạnh, những tập

tục cũ ở nông thôn, trên quan trường và ở các gia đình phong kiến

Trang 26

Lều chõng ghi lại một thiên phóng sự tiểu thuyết về chế độ giáo dục và

khoa cử phong kiến trong những ngày cuối cùng, dưới triều Nguyễn, miêu tả tấn

bi kịch của những nhà Nho có tài trong xã hội phong kiến và được coi là lời chỉ

trích sâu sắc những tồn tại của nền văn hóa cũ Trong lời giới thiệu Lều

chõng (nhà xuất bản Văn học, 2002), có đoạn: "Tác phẩm của Ngô Tất Tố như

một lời cải chính, hơn thế, một bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng

sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu, có khi là tiếng cười ra

nước mắt"

Tuy nhiên, Lều chõng không chỉ mang ý nghĩa phê phán Vương Trí Nhàn

nhận xét: "Mặc dù sự khuôn phép trong thi cử được miêu tả trong Lều chõng như

một cái gì cực kỳ vô lý, song trong cái khung tưởng rất chật hẹp đó, nhân vật

Đào Vân Hạc vẫn thanh thoát tự do trong cách sống", cho thấy "cái nhìn lưu

luyến với quá khứ" của chính Ngô Tất Tố Hơn thế, đó không phải chì là sự tiếc

thương xoàng xĩnh, nó cho thấy "sự cắt đứt của Ngô Tất Tố, mà cũng là của

nhiều người đương thời, với quá khứ, sự thích ứng với hoàn cảnh mới, nền văn

hoá mới, là quyết liệt, song cũng là có tình có lý đến như thế nào"

Sự thích ứng của Ngô Tất Tố đã mang đến những kết quả rõ rệt trên con

đường văn nghiệp của ông Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về sự thay đổi ở

Ngô Tất Tố: "Ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây

và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán có tư tưởng

mới" (Nhà văn hiện đại) Tóm lại, qua những trang viết của mình, Ngô Tất Tố cho

thấy ông là đại diện tiêu biểu cho những thay đổi của một lớp người trí thức trong

giai đoạn giao thời, sự dung hòa tương thích giữa nền văn hóa mới và cũ

1.2.2 Ngô Tất Tố - nhà văn hiện thực xuất sắc

Ngô Tất Tố được coi là một trong những cây bút xuất sắc nhất của dòng văn

học hiện thực Việt Nam 1930-1945 Tài năng của ông được bộc lộ trên nhiều

phương diện sáng tác, khảo cứu, dịch thuật…Riêng ở mảng sáng tác, ông bộc lộ

tài năng trên nhiều thể loại tiểu thuyết, phóng sự, tiểu phẩm báo chí…Với thể

loại nào ông cũng đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng bao thế hệ độc giả

Chính vì thế suốt sáu thập kỉ qua, thân thế và sự nghiệp sáng tác của ông đã thu

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.1 pt

Formatted: Font: 13 pt, Italic Formatted: Level 1 Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 27

hút sự chú của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và biết bao thế hệ sinh viên, học

viên Tuy vậy, việc nghiên cứu văn chương Ngô Tất Tố chưa thật toàn diện, sự

hiểu biết của các thế hệ độc giả về ông cũng chưa đầy đủ: Người ta hầu như mới

chỉ biết và quan tâm nhiều đến một nhà tiểu thuyết Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Lều

chõng mà chưa biết hoặc ít quan tâm đến một nhà phóng sự Ngô Tất Tố với Việc

làng, Tập án cái đình, một cây bút viết tạp văn Ngô Tất Tố với hàng trăm thậm

chí hàng ngàn bài báo sắc sảo và có giá trị văn học Gần đây, khi các tập Ngô Tất

Tố chuyện người đương thời và Ngô Tất Tố tiểu phẩm báo chí của nhà xuất bản

Hội nhà văn ra mắt độc giả, không ít người giật mình: nghĩ ra tất cả những gì

đã biết về Ngô Tất Tố mới chỉ một góc nhỏ; tác phẩm của ông như lâu nay đã

biết chỉ chiếm khoảng một phần mười so với văn nghiệp phong phú, đồ sộ của

ông Trong phần tác phẩm của Ngô Tất Tố mới ra mắt độc giả ấy, phóng sự và

nhất là tạp văn chiếm một số lượng lớn Việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về

ông nhất là mảng phóng sự, tạp văn vì vậy sẽ giúp chúng ta vẽ lên một bức chân

dung văn học đúng, đủ trung thực và sâu sắc về nhà văn- nhà báo Ngô Tất Tố

Từ năm 1945 đến năm 1975 năm 1954, trên Tạp chí Văn nghệ (số 54)

Nguyên Hồng đã có bài viết xúc động về nhà văn, nhà tiểu thuyết lão thành Ngô

Tất Tố Nguyên Hồng đã ghi nhận những đóng góp tích cực của Ngô Tất Tố

trong việc phản ánh đúng sự thật đời sống của người nông dân nơi luỹ tre xanh

Ông viết: “Người nông dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngô Tất Tố,

chưa ánh lên cái sức đấu tranh nhưng sự thống khổ của họ đem phơi bày ra đã

được một phần nào thật, thật trên cái đen tối của chế độ tàn bạo và ruỗng nát lúc

bấy giờ”[345;44] Nguyên Hồng cũng cho rằng, nhân cách, con người và thái độ

đấu tranh không mệt mỏi của Ngô Tất Tố đáng để cho người đời sau học tập

Ông khẳng định: “Cái hình ảnh Ngô Tất Tố dứt khoát với thù địch, không đội

giời chung với thù địch, cái hình ảnh đôi mắt kính vằng vặc say mê cúi xuống

những dòng chữ rắn rỏi rõ ràng, miết lên những trang giấy giang vàng ngà trên

bàn tre làm việc, hình ảnh đó chúng ta luôn tưởng nhớ, xót xa thương tiếc, quyết

tâm học tập và nguyện sát cánh nhau chặt hơn nữa, làm việc nhiệt tình tận tụy,

quyết thắng”[335;48]

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 28

Đặc biệt, ngay từ đầu những năm 30 Ngô Tất Tố đã đứng vững trên lập

trường chủ nghĩa hiện thực phê phán để phản ánh thực trạng cuộc sống nên tiểu

phẩm của ông giàu tính hiện thực, luôn gắn bó với quần chúng nhân dân lao

động Vì vậy, bên cạnh việc lên án một cách mạnh mẽ, kết tội bè lũ thực dân

cướp nước cùng bọn vua quan phong kiến bán nước, Ngô Tất Tố còn dành nhiều

tâm huyết trong các tiểu phẩm phản ánh về nối thống khổ của các tầng lớp nông

dân lao động ở thôn quê đang bị bao vây bởi những hủ tục lạc hậu cùng với các

thủ đoạn bóc lột tàn ác của giai cấp thống trị Từ đó, ông lên tiếng mạnh mẽ và

tìm cách bênh vực quyền lợi cho họ

Ngòi bút của Ngô Tất Tố là ngòi bút chiến đấu có phẩm chất cách mạng

Phẩm chất cách mạng ấy biểu hiện ở chỗ ngòi bút của ông biết tôn trọng sự thật

và biết đứng về phía quần chúng bị áp bức mà phát biểu Sự thật khách quan của

lịch sử lúc bấy giờ là bọn thực dân Pháp câu kết với bọn phong kiến để áp bức,

bóc lột nhân dân ta

Ngòi bút của Ngô Tất Tố chĩa mũi nhọn vào bọn thực dân Pháp, bọn quan

lại và cường hào, địa chủ, vạch trần những cái xấu xa thối nát của chúng Ngô

Tất Tố tỏ ra hoài nghi tất cả những chính sách của bọn thống trị Ông đả kích từ

những hành động của bọn Pagiê (Pagès), Tôlăngxơ (Tholance), đến các phong

trào vui vẻ trẻ trung, phong trào thể thao thể dục, chấn hưng Phật giáo,v.v…Do

đó, bọn thống trị thù ghét Ngô Tất Tố Bọn mật thám đã nhiều lần cho theo dõi

nhà văn; chúng ra lệnh không cho ông viết tờ Hải Phòng tuần báo và có lần cấm

không cho ông cư trú ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định

Đối với những bọn bán lương tâm cho giặc, đi ngược lại quyền lợi của nhân

dân để mưu cầu phú quý, Ngô Tất Tố châm biếm, giễu cợt với một giọng chua

cay, nghiêm khắc Khi viết báo Thời vụ, có một lần Hội đồng kinh tế Đông

Dương quyết định tăng giá tem từ bốn xu lên sáu xu Trong phiên họp ấy chỉ có

một mình Trần Bá Vinh biểu quyết tán thành Ngô Tất Tố viết một bài báo đề

nghị với Chính phủ đổi con dấu hình tam giác trong có chữ T thành hình tam giác

trong có chữ T.B.V để ghi lại kỷ niệm của một ông hội viên hội đồng có công

với Chính phủ! Tuy bị tổn thương đến danh dự, nhưng Trần Bá Vinh không dám

Formatted: Indent: First line: 0.39", Pattern:

Clear

Formatted: Indent: First line: 0.39"

Trang 29

hé răng đáp lại vì hắn cũng biết giá trị công việc của hắn làm và nhất là biết sợ

cái lợi hại của ngòi bút đả kích của nhà văn Ngô Tất Tố

Ngòi bút đả kích ấy có nhiều khi đã dũng cảm giáng vào đầu bọn quan lại

những đòn chí tử Trong một bài báo Tương lai viết năm 1937, Ngô Tất Tố viết:

“Quan lại tham nhũng chẳng là những kẻ bóp dân như bà cô bóp con cháu à? Thủ

đoạn của họ cực kỳ mầu nhiệm, họ đã bóp cổ người nào thì người ấy không thể

không thè lưỡi ra, lè lưỡi cho đến khi có đồ cúng họ Nhưng họ chỉ bóp dân ở

trong tối, trừ ra những kẻ bị bóp, quỷ thần cũng không thể biết Bởi thế, mà tục

ngữ đem họ nối liền với ma trong câu “quan tha ma bắt” Thần cây đa, ma cây

gạo, cú cáo cây đề vẫn là những thứ kẻ quê rất sợ, song chưa nguy hiểm cho dân

bằng họ” Bọn cường hào, địa chủ ở nông thôn cũng là những đối tượng để cho

Ngô Tất Tố đưa lên sách báo mà mạt sát, nguyền rủa

Tóm lại, đối với cả cái lũ thống trị trong xã hội đang xúm nhau hút máu mủ

và mồ hôi nước mắt của nhân dân, nhà văn Ngô Tất Tố đã không do dự dùng tài

ngôn luận của mình để vạch mặt và đả kích Ngòi bút của ông chẳng những là

một vũ khí phê bình sắc bén đối với kẻ địch mà còn bộc lộ nhiều cảm tình nồng

nhiệt đối với quần chúng và cách mạng

Tính chất chiến đấu của ngòi bút Ngô Tất Tố không phải chỉ biểu hiện trên

báo chí mà trong các tác phẩm thái độ của ông khá rõ rệt Đó là thái độ của nhà

văn không công nhận thực tại xã hội Trong lúc nhiều nhà văn tư sản và tiểu tư

sản, tiêu biểu là các nhà văn trong Tự lực văn đoàn, biểu thị thái độ thừa nhận

thực tại, tô son điểm phấn cho trật tự xã hội tư sản thì Ngô Tất Tố dũng cảm vạch

ra cái chân tướng bỉ ổi của xã hội ông đã để cho mọi người trông thấy cái cơ thể

của xã hội đang bị những chứng bệnh trầm trọng giày vò điêu đứng Thái độ

không công nhận thực tại là một thái độ chiến đấu

Tắt đèn là tác phẩm xuất sắc của Ngô Tất Tố, là bản cáo trạng đanh thép,

kết án nghiêm khắc bọn thống trị áp bức, bóc lột nông dân đến tận xương tủy

Ngòi bút của Ngô Tất Tố đã dũng cảm bóc trần thực trạng đen tối, ngột ngạt của

cuộc sống nông thôn Thời gian này (từ 1935 trở đi) phong trào đấu tranh của

quần chúng lại sôi nổi khắp toàn quốc, đây cũng là điều kiện để một số nhà văn

Trang 30

trông thấy được những mâu thuẫn lâu nay đang âm ỉ trong lòng xã hội Ngô Tất

Tố là một trong những nhà văn đã dũng cảm bóc trần mâu thuẫn xã hội ấy

Tắt đèn là tấn bi kịch của người nông dân bị áp bức, bóc lột cực độ Gia

đình chị Dậu nghèo khổ đến mức không có khoai mà ăn Vụ sưu là một tai họa

lớn đối với vợ chồng chị Trước sự dọa nạt và khủng bố của bọn cường hào, chị

Dậu kêu khóc thảm thiết: “Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai ghánh khoai

mới được hai đồng bảy bạc Tưởng rằng đủ tiền nộp sưu cho chồng, thì chồng tôi

khỏi bị hành hạ đêm nay! Ai ngờ lại còn suất sưu của người chết nữa! Khốn nạn

thân tôi! Trời ơi! Em tôi chết rồi còn phải đóng sưu, hở trời? Tôi biết đâm đầu

vào đâu cho được hai đồng bảy bạc bây giờ?” Chỉ vì vài đồng bạc sưu mà anh

Dậu bị đánh tơi bời, chết đi sống lại Đối với bọn thống trị, mạng con người cũng

chỉ như mạng con cóc, con nhái Chị Dậu kêu xin cho chồng, sợ chồng đang ốm

nặng mà bị trói bị đánh thì có thể chết Nhưng tên Lý trưởng trừng mắt quát:

“Chết thì ông chôn! Mày tưởng chồng mày chết thì ông sợ à? Muốn chồng khỏi

trói về đem nốt hai đồng bảy nữa ra đây Nếu không thì ông còn trói, ông trói cho

đến bao giờ đủ sưu thì thôi” Cảm thương nhất là cảnh chị Dậu mang con đến bán

cho nhà Nghị Quế Mụ Nghị cò kè bớt một thêm hai: nếu em bé được bảy tuổi thì

mụ bằng lòng trả cho hai đồng, nhưng nếu chỉ mới sáu tuổi thì chỉ cho một đồng

thôi Trước những giọt nước mắt đau thương của người mẹ nghèo khổ, mụ Nghị

nói với một giọng thản nhiên và hách dịch: “Tao không thể tin cái miện lưỡi của

vợ chồng nhà mày! Người ta mách tao là nó lên sáu Chứ tao biết đâu nó đẻ năm

Tý hay năm Tỵ năm tỳ…Đáng lẽ biếu không thì phải…Cho một đồng cũng quá

lắm rồi…Không phải nài nẫm gì nữa!” Thương tâm hơn nữa là cái thằng Dần,

em cái Tý, bắt mẹ phải đi tìm chị cho nó Nó nhất định không chịu ăn, không

chịu ngủ và cố làm tình làm tội người mẹ đã đem chị nó đi bán Đêm đã khuya

chị Dậu phải bế cả hai con bé, đi hết ngõ này sang ngõ khác: “Trời khuya, canh

vắng, ba mẹ con thơ thẩn ôm nhau trên đường, chị Dậu thấy mình là người điên

rồ Mấy lần chị toan quay về ngõ nhà, thằng Dần nhất định không nghe, nó bắt

chị cứ phải điên rồ như thế”

Trang 31

Ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố toát ra một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa

cao quý khi ông vẽ lên bức tranh chân thực về cuộc sống lầm than của những

người nghèo khổ làm cho người đọc hết lòng xót thương, căm giận Thành công

rất lớn của Ngô Tất Tố so với các nhà văn khác là ông đã biểu hiện được quần

chúng vào tác phẩm, đúng đắn và chân thực Chị Dậu là một nhân vật thành công

của ông

Ngô Tất Tố hiểu biết sâu sắc đời sống và tâm trạng của quần chúng, có cái

nhìn đúng đắn đối với quần chúng Chị Dậu vốn là một người phụ nữ hiền lành,

thật thà, chăm chỉ làm ăn, yêu chồng, thương con rất mực, cần cù lao động chịu

thương chịu khó Nhưng có một lúc nào đó, con người ấy lại cả gan đánh bại bọn

đầu trâu mặt ngựa để bảo vệ cho chồng “Chồng tôi đau ốm, ông không được

phép hành hạ!” Trong lúc bị hà hiếp quá đáng người đàn bà ấy có thể liều chết

chống lại bọn thống trị: “Thà ngồi tù Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế,

tôi không chịu được”…Nhớ lại cái đêm chị bị tên tri phủ tìm cách cưỡng hiếp,

chị đã cương quyết chống lại và đã thắng được con vật đáng ghê tởm: “Quan phủ

lóp ngóp đứng dậy, mở ví lấy nắm giấy bạc độ hơn chục đồng, chìa vào tận mặt

chị Dậu Ngài thở và nói: “Có muốn lấy tiền, tao cho!” Chị Dậu giằng nắm bạc

vứt tọt xuống đất” Cái đêm “quan cụ” định diễn lại tấn tuồng của tên tri phủ kia,

chị Dậu cũng cho hắn một bài học đích đáng Bên cạnh tính chất đê hèn của bọn

quan lại giàu có, phẩm chất đạo đức của người đàn bà nông dân nghèo khổ càng

sáng tỏ, đẹp đẽ hơn

Ngô Tất Tố thành công trong việc tố cáo bè lũ thống trị, những bọn mặt

người dạ thú, tàn bạo, tham lam và dâm dục từ lý đương, lý cựu, chánh hội, phó

hội cho đến viên tri phủ, vợ chồng Nghị Quế,v.v…đều là một bọn người đang

xúm nhau lại hút máu mủ của nhân dân Sưu thuế là tai họa đối với nhân dân

nhưng lại là món béo bở đối với chúng Vì sưu thuế mà chị Dậu phải bán khoai,

bán lúa, bán chó, bán con, vì sưu thuế anh Dậu bị cùm kẹp, đánh đập suýt chết;

nhưng bọn cường hào, quan lại thì nhờ sưu thuế mà được ăn, được uống, được

hút, lại có tiền bỏ túi Chúng mưu mô lợi dụng cảnh hoạn nạn của quần chúng để

làm giàu, để hưởng thụ Đọc Tắt đèn chúng ta thương cảm những người lao khổ

Trang 32

bao nhiêu thì lại càng căn ghét bọn thống trị bấy nhiêu Bức tranh xã hội càng

chân thực thì càng có sức mạnh tố cáo và càng có tác dụng giáo dục cho công

chúng lòng căm thù sâu sắc đối với chế độ áp bức, bóc lột Ngô Tất Tố không hề

e dè trong việc vạch trần tính chất bỉ ổi, vô nhân đạo của bọn thống trị mà phản

ánh chân thực hiện thực trong đời sống xã hội Tính chiến đấu cũng đã rút ra từ

giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Với chi tiết chị Dậu chạy vào

đêm tối “mịt mù như tiền đồ của chị” đã thể hiện một Ngô Tất Tố dũng cảm bóc

trần mâu thuẫn của xã hội, nói lên đời sống cơ cực và phẩm chất tốt đẹp của

những người bị áp bức, vạch trần chân tướng của bọn thống trị, đó là thành công

để chúng ta trân trọng

Như chúng ta đã biết, Ngô Tất Tố là một nhà văn có hiểu biết sâu sắc về con

người và cuộc sống nông thôn Cùng với Tắt đèn, tập phóng sự Việc làng được ra

đời và được nhiều người ca tụng, một tác phẩm phản ánh hiện thực xuất sắc

Bùi Huy Phồn cũng khẳng định đóng góp lớn nhất của Việc làng là đã phản

ánh một cách chân thực đời sống của người dân quê, những nỗi thống khổ về tinh

thần mà khó ai có thể nhìn thấy được Từ xưa đến nay người ta chỉ thấy người

nông dân bị bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị, ít ai thấy được nỗi khổ của

người nông dân dưới gánh nặng của hủ tục Năm 1961, trên tạp chí Nghiên cứu

Tất Tố chúng ta thấy rằng trước 1945, đã chỉ ra “sự sáng tạo nghệ thuật của Ngô

Tất Tố có một ý nghĩa vị nhân sinh rõ rệt.”[11;65] Nguyễn Đức Đàn đi đến kết

luận “Bao giờ ông - tức Ngô Tất Tố - cũng đứng về phía những người bị đày đọa,

bị áp bức Chính nhờ đó mà nhà văn đã vẽ lên được bức tranh chân thực của xã

hội đương thời Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, ngòi bút Ngô Tất Tố dám dũng

cảm tố cáo những cái xấu xa thối nát của xã hội, xây dựng những hình tượng đẹp

đẽ về người lao động cùng khổ đã là một thành công lớn”.[11;66]

Viết Việc làng, Ngô Tất Tố đã đi ngược lại với khuynh hướng một thế giới

đầy thơ mộng; thế giới của những cô thôn nữ xinh tươi, chất phác, của những câu

chuyện tình duyên trong trắng ngây thơ, vạch cho mọi người trông thấy thực tế

thối nát, xấu xa ở nông thôn Thực ra, cái thế giới thơ mộng ấy là một thế giới

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.1 pt

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 33

đầy rẫy những hủ tục, một thế giới riêng trong đó bọn cường hào, địa chủ tha hồ

bóc lột, áp bức nông dân “…những tục lễ quái gợ, mọi rợ tự do kế tiếp nhau

chồng chất trên vai chúng tôi Nhiều lúc tôi muốn hất cái gánh nặng ấy đi; nhưng

sức một mình không thể làm nổi, đành phải dè cổ mà chịu Một người chăm chỉ,

cần kiệm, lao lực như tôi, chỉ vì một ghánh tệ tục đè ép, đến nỗi suốt đời không

ngóc đầu được, bây giờ sắp chết, ghánh tệ tục ấy vẫn còn đè ép chưa tha…”

Việc làng một tập tranh biếm họa về các tục lệ cổ hủ ở nông thôn Việt Nam

Truyện Góc chiếu giữa đình là một trong những truyện tiêu biểu Sau những nét

bút hài hước của tác giả, ẩn nấp cả một tâm sự đau xót, bi thảm Vợ chồng ông

Lũy hết sức cần kiệm Ông Lũy đi cày thuê trong mười lăm năm trời, vợ chuyên

đi vú sữa mới gây được một cái vốn gần mẫu ruộng và nửa con trâu Bọn lý dịch

liền tán tỉnh bán cho ông chức “lý cựu” để lấy trăm bạc Lúc đầu, ông Lũy phân

vân vì không thú vị lắm về cái của “không tân mà cựu” Nhưng bọn lý dịch tìm

mọi cách thuyết phục ông Thế là ông phải bán cả ruộng và trâu để lấy trăm bạc

đưa cho làng Nhưng muốn được chính thức trở thành ông cựu, lại còn phải khao

làng một bữa Và vì bữa khao linh đình ấy, ông lại phải đi vay nợ Cuối cùng,

làng nước ăn khao xong, bà cựu lại buồn bã cắp nón lên Hà Nội đi ở vú Trước

sự ngạc nhiên của tác giả, bà giải thích: “Có gần một mẫu ruộng và nửa con trâu

đã bán hết cả, lại còn nợ thêm hơn bảy chục đồng, nếu không đi làm thì lấy gì mà

đóng họ?” Và cố nhiên, ông cựu cũng phải trở về nghiệp cũ: đi cày thuê Chỉ vì

hai tiếng “ông cựu”, trong phút chốc vợ chồng ông Lũy đã đốt cháy sạch cả gia

tài do bao nhiêu năm lao động cần cù, cực nhọc mà có

Cùng với Góc chiếu giữa đình, Cỗ oản tuần sóc cũng đã phản ánh rất chân

thực cuộc sống của người nông dân Việt Nam lúc bấy giờ Ông Lình Phúc sau

khi vợ mất phải một mình nuôi ba con nhỏ Quanh năm đầu tắt mặt tối, nước mắt

đổ lẫn mồ hôi, ông mới kiếm được ít ngô, khoai nuôi con qua ngày Nhưng chẳng

may ông lại mới được lên ngôi “ông trùm” Mà đã là ông trùm thì mỗi năm phải

làm hai cỗ oản sóc vọng Chúng ta thử tưởng tượng xem ông trùm áo rách khố

ôm ấy làm thế nào để có tiền làm cỗ oản sóc vọng Một hôm, tác giả đi qua thấy

ông đang dỡ mái nhà, tưởng rằng vì trận bão đêm qua nên phải lợp lại Nhưng

Trang 34

ông trùm nhanh nhảu cắt nghĩa: “Tuần sóc tháng sau đến lượt tôi phải sửa oản

nhà thờ Nhà không sẵn, vay không ai tin, tôi đành dỡ hai gian nhà làm củi để

bán lấy tiền mua gạo Đáng lẽ tôi định để vài bữa mới dỡ nhưng vì thấy trời mưa

dầm, chắc là củi đắt nên mới dỡ từ hôm nay Thôi thì túng kiết làm quanh, hãy

cho qua cái lúc này…”

Góc chiếu giữa đình và Cỗ oản tuần sóc là vài mẩu chuyện trong năm

nghìn chuyện thảm thương ở nông thôn, nơi mà người dân từ đời này qua đời

khác cúi đầu chịu đựng cuộc sống lầm than trâu ngựa

Việc làng vạch rõ cho mọi người thấy rằng chính bọn cường hào địa chủ ở

nông thôn là những kẻ thủ phạm đã cố duy trì các hủ tục và cố đặt ra nhiều thứ

tục lệ phiền phức khác để áp bức, bóc lột quần chúng nông dân Kinh tế tự cung

tự cấp của chế độ phong kiến tạo cho người dân Việt Nam có một tâm lý tập

truyền là “sống nhờ làng, chết nhờ làng” Bọn thống trị lợi dụng tâm lý ấy để gây

ra nhiều tập tục khác nữa, tạo cho người dân có thêm tâm lý tranh giành ngôi thứ,

miếng ăn ở đình trung, “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, “miếng thịt

làng bằng sàng thịt mua”…Bọn cường hào địa chủ dựa vào hủ tục để tác phúc tác

họa ở nông thôn

Khác với các nhà văn tư sản và tiểu tư sản, cái nhìn của Ngô Tất Tố đối với

nông thôn là một cái nhìn sâu sắc, chân thực Thái độ của nhà văn trong tác phẩm

là thái độ của một người dám nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật Nhưng tính

chiến đấu của ngòi bút Ngô Tất Tố còn biểu hiện ở chỗ Việc làng ra đời trong

hoàn cảnh bọn thực dân Pháp đang ra sức khuyến khích phong trào phục cổ Việc

làng xuất bản năm 1941 là lúc bọn thống trị đang lo sợ trước sự phát triển của

phong trào cứu quốc Chúng cổ vũ phong trào phục hưng hóa phong kiến để làm

cho nhân dân lãng quên vụ cách mạng trước mắt Một số nhà văn lúc bấy giờ

hoặc vô tình hoặc hữu ý đã làm những kẻ tuyên truyền không cho địch Phong

trào phục cổ thực chất chỉ là việc phục hồi những cái xấu của thời cổ, những cái

lạc hậu mà lịch sử đã lên án Họ khuyên thanh niên trở về thôn xóm đẻ làm việc

làng, ca tụng những tập quán, lễ nghi đã lỗi thời Vạch rõ những cái thối nát của

Trang 35

các hủ tục ở nông thôn lúc bấy giờ, đây là hành động có ý nghiã tiến bộ, thái độ

chiến đấu tích cực kịp thời của Ngô Tất Tố

Ra đời cùng trong một hoàn cảnh với Việc làng, cùng có ý nghĩa chống lại

phong trào phục cổ Lều chõng cũng viết về thi cử, về nghề nghiệp “lều chõng”

nhưng đã không suy tôn cuộc đời quá khứ mà lại còn vạch cho mọi người trông

thấy chân tướng của cái xã hội “lều chõng” Chân tướng ấy chẳng có gì là đẹp đẽ

Kẻ sĩ vác “lều chõng” đi thi không phải vì mục đích hành đạo nào mà chỉ cốt

mưu cầu danh lợi Vân Hạc, nhân vật chính trong truyện, đã nhiều lần bộc lộ

động cơ đi thi của mình Chàng dùi mài kinh sử, chịu khó chịu khổ vác lều chõng

đi thi chỉ vì muốn thỏa mãn người vợ đang ôm ấp giấc mộng làm bà Nghè, bà

Thám Vân Hạc là thanh niên tài hoa nhưng lại lẫn đận mãi ở trường ốc Có lần

đáng lẽ đỗ thủ khoa mà lại bị hỏng tuột Đến nỗi có một lúc con người rất tự tin ở

mình đã đâm ra hoài nghi, chán nạn và chỉ còn biết tin ở số mệnh Vân Hạc long

đong với thi cử và cuối cùng bị tống giam, đó là số phận của con người có tài

trong chế độ phong kiến Nghè Long may mắn hơn Vân Hạc, đõ được tiến sĩ,

nhưng cuối cùng cũng chịu một số phận chua xót: con người thư sinh yếu đuối ấy

phải làm lính sung vào đội tiền quân hiệu lực Tác giả Lều chõng đã trông thấy và

nói lên cái bi kịch của con người trí thức dưới chế độ phong kiến Thực tế đau

xót của khoa cử đã giác ngộ được cả cô Ngọc vợ Vân Hạc Cô Ngọc vốn là người

rất ham mê công danh, cô đã tìm đủ cách để khích lệ giúp đỡ chồng học hành để

được hưởng cái cảnh “võng anh đi trước, võng nàng đo sau” Thế mà anh cũng

đã thông cảm với nỗi đau của chồng và đồng ý không bắt chồng đi thi nữa Cái

đêm hai vợ chồng Vân Hạc tâm sự với nhau về cái vô nghĩa của khoa cử và công

danh là cái đêm họ đã chán nản hết mọi sự Sau những thất bại chua xót, họ thấy

rằng nghiệp Lều chõng không phải là con đường sáng sủa, vinh quang Từ đó,

cặp vợ chồng trẻ tuổi ấy nhìn đời với con mắt yếm thế Như vậy, Ngô Tất Tố cho

ta thấy tất cả những cái bất hợp lý, những cái xấu xa của chế độ thi cử thời trước

Ông đã xây dựng một lớp nhân vật kẻ sĩ khác hẳn với kẻ sĩ trong Nhà Nho, đó là

những người chỉ biết danh lợi, vì quyền lợi gia đình và cá nhân mình, thậm chí có

khi chỉ dành cho được một chỗ ngồi ở đình trung, một miếng ăn giữa làng Một

Trang 36

hôm Vân Hạc và mấy người anh em bạn đang đứng nghe xướng danh thì bổng

nhiên có một người đứng ở bên cạnh “nhảy lên như choi choi”, vừa nhảy vừa

đấm thùm thụp vào chiếc nón vừa thét: “Sỏ lợn về ai! Sỏ lợn về ai!” Té ra, đó là

một ông cử tân khoa vừa mới nghe xướng đến tên mình đã nghĩ ngay đến cái sỏ

lợn ở làng Sĩ tử đi thi chỉ vì cái danh Ông Nghè, Ông Cử, chỉ vì cái sỏ lợn, phao

câu chứ tuyệt nhiên không vì một mục đích cao quý nào cả Cũng vì không có lý

tưởng nên lúc hỏng thi, họ buồn rầu khóc lóc, để lộ rõ bản chất ươn hèn, yếu

đuối Cái hôm mấy anh em Vân Hạc nghẹn ngào khóc không ăn được, ai cũng tủi

thân, mếu máo Cũng vì động cơ danh lợi mà có kẻ phải đưa tiền thuê người khác

làm bài hộ Nhân vật Trần Đức Chinh làm cho người đọc vừa buồn cười vừa

khinh bỉ mà cũng vừa thương hại Hắn dùng tiền thuê Vân Hạc làm hộ bài cho,

cốt để được vào tam trường, còn hỏng tam trường không quan trọng vì cái tiếng

hỏng tam trường cũng đủ cho hắn có thể vênh váo với mọi người được rồi

Kẻ sĩ trong Lều chõng chỉ thích ăn chơi, hưởng lạc chứ không quan tâm và

nhắc đến đạo thánh hiền, đến tu tề trị bình Vân Hạc nằm suốt sáu, bảy đêm ở

phố Hàng Lờ, nơi có tiếng là rừng son phấn, đến nối hai ông anh phải lùng đến

bắt Thậm chí ra đường lại chòng ghẹo con gái bán hàng để xẩy ra cuộc đánh

nhau to, các quan đầu tỉnh phải đến can thiệp rốt cuộc các sĩ tử ấy lại chán ngẫm

với kiếp sống vô nghĩa của họ Giá trị của Lều chõng chính là tiếng chuông cảnh

tỉnh cho những ai đang khao khát muốn trở về với cái thời đại gọi là hoàng kim

của kẻ sĩ

Với tạp văn Ngô Tất Tố, bên cạnh những vấn đề chính trị lớn lao, cũng đi sâu

vào phản ánh cuộc sống đời thường với những thói hư tật xấu, phản ánh kịp thời

sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong xã hội, góp phần cảnh tỉnh, cảnh giác

cũng như lay thức lương tri, buộc mỗi người trong xã hội phải quan tâm, suy nghĩ

Dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố, xã hội Việt Nam hiện ra thật sống động,

muôn hình vạn trạng Mỗi mẩu chuyện là một góc nhìn, một khám phá Đó là

chân dung những con người bị tha hoá, biến chất vì nhiễm lối sống hiện đại Đó

là những nghịch lí, nghịch gia đình mà các mối quan hệ đều bị đảo lộn, luân lí bị

coi thường Tất cả tạo thành một xã hội mà người xấu nhiều hơn người tốt, người

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,

Condensed by 0.1 pt

Formatted: Indent: First line: 0.39", Adjust

space between Latin and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers

Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Trang 37

hiền bị hiếp đáp, còn kẻ ác thì cứ nhởn nhơ sống Ngô Tất Tố đã dùng tạp văn

phản ánh sự sa đọa từ trong gia đình đến ngoài xã hội

Từ xa xưa trong quan niệm của người Việt, gia đình là một nền tảng vững

chắc của xã hội, rất được coi trọng, gìn giữ Thế nhưng, từ khi thực dân Pháp

sang xâm lược nước ta, ngoài sự đàn áp về chính trị, bóc lột về kinh tế chúng còn

thi hành chính sách đầu độc về văn hoá Với danh nghĩa là khai hoá văn minh

cho các nước Đông Dương, chúng đưa vào nước ta những luồng văn hoá mới lố

lăng, kệch cỡm, hòng làm mai một hoặc phá hỏng nền đạo đức vốn có của dân

tộc Mối quan hệ gia đình với những tôn ti trật tự bị đảo lộn

Qua một số bài như: Một đức con quí, Tục chúc thọ sẽ phải đổi lại, Tìm cho

được hạt giống cây Kinh, Cái vạ giàu sang…, Ngô Tất Tố muốn cho người đọc

thấy sự lung lay, sự hư hỏng của chữ “hiếu” Xã hội thay đổi, ngôi vị cũng thay

đổi Con cái nghiễm nhiên ngồi trên đầu trên cổ cha mẹ Ở câu chuyện “Một đức

con quý”, Ngô Tất Tố viết về một gia đình đương thời, một mẹ, một con Người

mẹ từ khi chồng chết đã ở vậy thờ chồng nuôi con Nuôi con lớn rồi lại dựng vợ

gã chồng cho nó Thế nhưng, người con trai từ sau khi cưới vợ “không biết vợ

chồng ông quý tử đó có nhiễm tư tưởng mới hay không, chỉ biết sau khi cưới vợ

cho con trật tự nhà ấy liền được xếp đặt đúng mốt gia đình tân thời, nghĩa là bà

mẹ liền bị giáng cấp, nhường chỗ cho nàng dâu ngồi lên và ông quý tử của bà

nhiều khi còn báo hiếu vợ bằng cách khinh rẻ mẹ nữa” Đến khi có cháu, bà cụ

không được bế cháu, mà còn bị con dân mắng nhiếc tàn tệ Tủi thân bà đã tự

mình mua quan tài rồi tìm đến cái chết Ngô Tất Tố đau lòng buông một câu mỉa

mai “Quý hoá thay ông con ấy Thật đã có công làm cho yên lòng những người

không có con” Nguyên nhân của lối cư xử bất hiếu đối với cha me, theo Ngô Tất

Tố, là do “nhiễm tư tưởng mới”, để chứng minh cho điều này trong tiểu phẩm

Tục chúc thọ sẽ phải đổi lại, Ngô Tất Tố đã đi so sánh hai gia đình, một của xưa

và một của nay Trong các gia đình xưa, những gia đình nào có cha mẹ già “đều

là gia đình có phúc”, những người cha, người mẹ già ấy “chẳng những làm cho

vui đẹp cửa nhà, còn có bóng mát che chở cho kẻ dưới” Còn “trong đời văn

minh tiến bộ như bây giờ, nhà có cha mẹ già chưa hẳn đã là phúc cả” Rồi ông

Trang 38

đưa ra một dẫn chứng về một gia đình mới, có cha mẹ ngoài 70, ông cụ vừa mất

được một tháng “trong dịp đau đớn, một cậu con trai và hai bà con gái nhất định

đòi mẹ phải chia gia tài Các con còn dọa bà cụ: nếu không chịu chia sẽ làm lôi

thôi cho mà xem” Ngô Tất Tố sau mỗi câu chuyện bao giờ cũng có lời bình sâu

sắc, vừa mỉa mai khinh bỉ, vừa đả kích Trong trường hợp này, ông bình: “Nay

mai Tết đến, ai vào những nhà kiểu ấy mà chúc cho cha mẹ họ sống lâu mạnh

khoẻ, có khi họ sẽ gạo muối tống quái Vậy, thế cái “tục chúc thọ có thể sẽ phải

đổi lại” Đổi chữ “thọ” ra chữ “yểu” là nhà có phúc”

Đồng tiền chính là tác nhân quan trọng, nó đã làm lu mờ chữ “hiếu” của

những kẻ làm con Xung quanh chuyện chia gia tài, đã có biết bao chuyện thương

tâm xảy ra Chỉ vì thương đứa con út, nên khi chia gia tài ông già T trong câu

chuyện “Tìm cho được hạt giống cây Kinh”, đã thêm cho đứa con út một toà nhà

gác “Ông trưởng nam biết được tin ấy liền lập tức vác dao đến cổng người em

gọi em ra đó để chém May có hàng xóm can người em mới sống sót được” Vì

chút gia tài mà anh em có thể trở mặt thành nghịch thù Ngô Tất Tố muốn vạch

mặt những kẻ vì tiền mà dám giết cả người thân, thậm chí đó là cha đẻ của mình

Chẳng hạn, như trong câu chuyện “Cái vạ giàu sang”, sự giàu có của cha làm nổi

lòng tham ở đứa con bất hiếu, một người cha ở Nam Định đã bị con mình mưu

sát Ngô Tất Tố bất bình: “Khốn nạn, người ta xông pha tên đạn, dầu dãi nắng

sương, đem hết trí khôn sức khoẻ gây dựng cơ nghiệp, làm nên giàu sang, ai cũng

mong rằng hưởng hết đời mình rồi sẽ để lại cho con Nào có ngờ đâu lúc đã giàu

sang thân mình lại thành kẻ thâm thù của con cái Than ôi, giặc cướp ở ngoài còn

khó giữ thay, giặc cướp trong nhà thì giữ làm sao?”

Những gì Ngô Tất Tố bày trên trang giấy chính là thực trạng đạo đức của xã

hội Việt Nam thời buổi Tây, Ta lẫn lộn Những con người đó, những sự việc đó

không phải chỉ là nhưng cá nhân riêng lẻ mà là một hiện tượng, một trào lưu Ta

thấy cả một xã hội đang đi xuống trong tác phẩm của Ngô Tất Tố Nói về việc

con cái vì tiền mà bất hiếu với cha mẹ, Ngô Tất Tố kết luận: “Trong quý quốc ta

ngày nay, những bậc hiền nữ, hiền nam như thế có lẽ không hiếm” Kể về chuyện

cây Kinh trong sách “Tục Tề Hài chí” giúp cho anh em đoàn tụ và hiểu được mối

Trang 39

quan hệ ruột rà máu thịt Ngô Tất Tố ao ước “Phải nước An Nam ngày nay cũng

nhiều nhà đáng có cây đó” Như vậy, việc con cái đối đãi tệ bạc đối với cha mẹ

đã trở thành một tệ nạn xã hội chứ không còn đơn thuần là chuyện riêng của một

gia đình nào cả Trong những gia đình mà các bậc cha mẹ là những người cổ xưa,

những người tuân thủ theo nề nếp gia giáo phong kiến, còn điên đảo phức tạp thế,

huống hồ những gia đình mà cả vợ cả chồng đều là những con người được sinh

ra và lớn lên trong một xã hội hỗn loạn, tân thời Ở những gia đình này, nề nếp bị

phá hỏng ngay từ mối quan hệ vợ chồng

Hoàng Văn Ấm dan díu với nhân tình, giết vợ chỉ vì tiền trong câu chuyện

“Nên có cả nữ oai” Rồi chuyện những bà vợ của các ông bác sĩ tham biện, lục

sự, thông phán… đánh bạc vì không có việc gì làm trong “Chuyện hàng ngày”

Là những chân dung người chồng người vợ trong thời hiện đại Ngô Tất Tố cho

chúng ta thấy thời nay, khó có thể tìm ra được những người đàn ông “Tu thân, tề

gia, trị quốc, bình thiên hạ” và những người phụ nữ có đầy đủ “công, dung, ngôn,

hạnh”,…Thay vào đó là những hạng chồng tiểu nhân bỉ ổi, những hạng vợ lăng

loàn, bài bạc…Chính vì thế, chuyện gia đình tan vỡ, chuyện li hôn diễn ra ngày

một nhiều Theo Ngô Tất Tố, ngày xưa chuyện vợ chồng bỏ nhau rất đơn giản

nhưng ít khi xảy ra Còn ngày nay, vợ chồng muốn li hôn phải trải qua nhiều

khâu đoạn làm thủ tục rất phức tạp, vậy mà “thiên hạ vẫn còn bỏ nhau oanh oách,

thậm chí con cái hàng lũ, người ta cũng cứ tuyệt tình với nhau Cho hay nếu giản

dị như phép đồng tiền, chiếc đũa ngày xưa, có lẽ khắp xã hội này không còn cặp

vợ chồng nào nguyên vẹn”

Từ chỗ vợ chồng coi thường nhau, con cái rẻ khinh cha mẹ, dẫn đến những

mối quan hệ gia đình khác cũng bị ảnh hưởng Đó là mối quan hệ giữa mẹ

chồng-nàng dâu, giữa ông bà nhạc và con rể Trong xã hội lúc bấy giờ không

thiếu gì cảnh mẹ chồng khắc nghiệt với nàng dâu Nhưng đặc biệt lạ lùng ở thế kỉ

XX có cảnh nàng dâu ức hiếp mẹ chồng (Một đứa con quí), cảnh chàng rể tác

yêu, tác quái đối với bố mẹ vợ (“Nhưng ông Ba Vì hoành hành”, “Có thế mới là

trời”) Trong câu chuyện “Những ông Ba Vì hoành hành”, Ngô Tất Tố đã liệt kê

một số dẫn chứng về hành động dã man của những ông con rể “Tuần lễ trước,

Trang 40

ông Nguyễn Văn Khiết ở huyện An Thi đã bị con rể đánh cho vỡ đầu và còn lăng

mạ ông nữa (…) Hôm mới đây, bà Nguyễn Thị Ngắn ở tỉnh Phú Thọ, cũng bị

chàng rể đốc suất gia nhân đánh cho nhiều vết thương” Đó là những ông bà nhạc

ở quê, còn những ông bà nhạc ở thị thành thì lại chịu nạn con rể “đào mỏ”, mà

đào mỏ ngay tối tân hôn mới là đáng sợ

Lớp người hư hỏng đầu tiên phải kể đến thanh niên Do được sinh ra trong

những gia đình thiếu nề nếp Thêm vào đó, cuộc sống xã hội hiện đại, tân thời đã

lôi kéo họ vào con đường trụy lạc, đánh mất nhân cách của mình Ngô Tất Tố vẽ

ra cho chúng ta thấy những cô gái chỉ trạc mười hai, mười ba tuổi “tóc bỏ ngang

lưng, bạo dạn nấp ở dưới nách những chàng trai trẻ tuổi” Và ông ngạc nhiên hỏi:

“cớ sao những cô gái đó chưa “tơ” mà đã hư thân thế”? Rồi ông khẳng định: đơn

giản “đó là những bậc tài tử” Ngô Tất Tố chỉ ra nguyên nhân khiến cho các cô

gái chưa đủ lớn lại cặp kè với những chàng trai đáng tuổi chú mình “gây ra hạng

con gái tài tử ấy cố nhiên là một số nhà viết tiểu thuyết vô lương tâm, nhưng

cũng bởi cả hoàn cảnh gia đình nữa” Các nhà tiểu thuyết lãng mạn cứ cho ra đời

những tiểu thuyết với những chuyện tình ướt át, đầu độc đầu óc các cô cậu mới

lớn Yêu đương lén lút chưa đủ các cô cậu lại rủ nhau bỏ nhà đi Cô Ng Thị Gái

vốn là con nhà gia thế, vì yêu một công tử nên bỏ nhà theo chàng trai lên Hà Nội,

làm nghề ăn cắp tiền bạc đem về nuôi nhân tình Chuyện bỏ nhà đi theo trai của

cô Ng Thị Gái quả là đáng trách Và đây cũng là một hiện tượng phổ biến trong

xã hội Một số bỏ nhà theo trai, một số bỏ nhà theo nghề mại dâm Đó là hậu quả

của viêc tiểu thuyết tình dục xuất bản tràn lan Tuy nhiên, ở câu chuyện này, Ngô

Tất Tố còn muốn nói đến một loại con trai “vô sỉ” Ông lên án gay gắt loại người

này: “Bây giờ trong đời lại có hạng trai nằm dài, chực ả nhân tình móc túi thiên

hạ, để cung vào cái miệng ăn và cái miệng hút của mình thì đống nhục của đàn

ông cao lên mấy từng nữa” Đó là gã nhân tình đã dụ dỗ cô Ng Thi Gái, để rồi

nghiện hút, phải sống nhờ vào tiền ăn cắp của người yêu Đến khi người yêu bị

bắt thì hắn không thấy đâu Ngô Tất Tố thể hiện quan điểm một cách rõ ràng đối

với hạng đàn ông bám váy phụ nữ này: “Bạn đọc chắc cũng đồng ý với tôi, mà

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
2. Hoài Anh (1995), "Ngô Tất Tố, từ ông đầu xứ đến nhà văn khai sinh nền văn học hiện thực", Chân dung văn học, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố, từ ông đầu xứ đến nhà văn khai sinh nền văn học hiện thực
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
3. Hoài Anh (1995), "Ngô Tất Tố, từ ông đầu xứ đến nhà văn khai sinh nền văn học hiện thực", Chân dung văn học, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố, từ ông đầu xứ đến nhà văn khai sinh nền văn học hiện thực
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
4. Vũ Tuấn Anh (1999), "Đời sống thể loại trong quá trình văn học đương đại", Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại trong quá trình văn học đương đại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1999
5. Vũ Bằng (1973), "Về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố - truyện Tắt đèn", Tạp chí Văn học, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố - truyện Tắt đèn
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1973
6. Nam Cao (1996), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
7. Nam Cao (2006), Sống mòn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
8. Hồ Biểu Chánh (1923), Cay đắng mùi đời, Nxb Sài Gòn, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cay đắng mùi đời
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1923
9. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
10. Nguyễn Du (2002), Truyện Kiều, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
11. Nguyễn Đức Đàn (1961), Tạp chí văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1961
12. Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ (1999), Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1999
13. Phan Cự Đệ (1993), "Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay", Ngô Tất Tố với chúng ta, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1993
14. Phan Cự Đệ (1997), Ngô Tất Tố, Văn học Việt Nam 1930 -1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố, Văn học Việt Nam 1930 -1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
15. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
16. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Di sản báo chí Ngô Tất Tố ý nghĩa lý luận và Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TẠP VĂN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ 1.1. Khái niệm tạp văn và tạp văn trong sự nghiệp của Ngô Tất Tố  - Đặc điểm tạp văn của ngô tất tố
1.1. Khái niệm tạp văn và tạp văn trong sự nghiệp của Ngô Tất Tố (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w