- Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tắt đèn, xét ở hai phương diện nôi dung và nghệ thuật, song chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi
Trang 1h t t p : / / www l rc - t n u e du v n /
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGƯ GIỚI QUA HANH VI HOI
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGƯ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGƯ GIỚI QUA HANH VI HOI
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGƯ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn: GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũngnhư kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Thái Nguyên ngày tháng năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Thị Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học xã hội để tìm hiểu, đánh giá hành vi
ngôn ngữ trong tác phẩm văn học - cụ thể là hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt
đèn của Ngô Tất Tố là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ và thú vị Đây là
bước đi có tính chất thử nghiệm, vì thế gặp không ít khó khăn
Trước hết, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tớiGS.TS Nguyễn Văn Khang đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoànthành luận văn này
Em xin Trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng,Khoa sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cùngcác thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập vàthực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồngnghiệp, các bạn lớp ngôn ngữ K21 đã động viên, khích lệ, giúp đỡ em trongsuốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 thánh 04 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Huệ
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
1.1 Một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ 10
1.1.1 Thuật ngữ giới và giới tính 10
1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới 10
1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới 12
1.2 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ 15
1.2.1 Sự kiện giao tiếp về quan hệ giao tiếp 15
1.2.2 Lý thuyết hội thoại 19
1.2.3 Hành vi ngôn ngữ 22
1.2.4 Hành vi hỏi 26
1.3 Tác giả Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn .
29 1.3.1 Tác giả Ngô Tất Tố 29
1.3.2.Tác phẩm Tắt đèn 31
Trang 61.4 Tiểu kết chương 1 32
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGƯ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI Ở
GIAO TIÊP GIA ĐÌNH TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA
NGÔ TẤT TỐ 32
2.1 Giới hạn nghiên cứu, khảo sát 322.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các cặp
vợ chồng 332.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ g iơi qua hanh vi hoi trong giao tiêp giưa
căp vơ chông nông dân: anh Dâu va chi Dâu 332.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua g iao tiếp giữa cặp vợ chồng là địa
chủ: ông Nghị và bà Nghị 382.2.3 Đối chiếu đ ặc điểm ngôn ngữ giới qua hanh vi hoi trong giao
tiếp giưa căp vơ chông nông dân va căp vơ chông đia chu 412.3 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa mẹ
và con cái 432.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa chị
Dậu và cái Tý 432.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới tính qua hành vi hỏi trong giao tiếp
giữa chị Dậu và thằng Dần 462.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giới qua hanh vi hoi trong giao tiếp
giưa cac căp me con: chị Dậu với cai Ty va chi Dâu với thăng Dân 50
2.4 Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NG Ư GIƠI QUA HANH VI HOI Ở
GIAO TIÊP XA HÔI TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ
TẤT TỐ 54
3.1 Giới hạn nghiên cứu, khảo sát 543.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua giao tiếp giữa những người cùng giới 553.2.1 Đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao ti ếp giữa
những người cùng giới, ngang quyền 553.2.2 Đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao ti ếp giưa
những người cùng giới, không ngang quyền 603.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao
Trang 8tiêp cua nhưng ngươi cung giơi ngang quyên va không ngang quyên 65
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
3.3 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa những
người khác giới 69
3.3.1 Đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao ti ếp giữa những người khác giới, ngang quyền 69
3.3.2 Đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao ti ếp giữa những người khác giới, không ngang quyền 73
3.3.3 Đối chi ếu đăc điêm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi trong giao tiêp cua nhưng ngươi khac giơi ngang quyên va không ngang quyên 82
3.4 Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 101.2 Chọn các tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố làm tư liệu nghiên cứu là
vì:
- Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam,một trong những kiện tướng tiên phong của trào lưu văn học hiện thực phêphán Chỉ với ba thập kỉ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp sáng tác
đồ sộ và có giá trị trên nhiều lĩnh vực như báo chí, dịch thuật mà đặc biệt làvăn học
- Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà
văn N g ô T ấ t T ố cũng là của nền văn học Việt Nam hiện đại Đây là một tácphẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ củatầng lớp nô n g d ân Vi ệt N am đ ầu thê ki xx dưới ách đô hộ của t h ự c d ân P h á p
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Tắt đèn không chỉ hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả
mà còn thu hút đuợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu phê bình
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
- Tiểu thuyết Tắt đèn cũng là một trong số không nhiều tác phẩm hiện
thực phê phán 1930-1945 đã được đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ
Trang 12sở, với đoạn trích “ tức nước vỡ bờ ”(ngữ văn lớp 8 tập 1) Đặc biệt, tác phẩm
Tắt đèn cùng với cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ngô Tất Tố đã được đưa
vào giảng dạy một số trường đại học sư phạm, các trường khoa học xã h ội vànhân văn của nước ta
- Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tắt đèn, xét ở hai
phương diện nôi dung và nghệ thuật, song chưa có công trình nào nghiên cứu
về đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các nhân vậttrong tác phẩm này
1.3 Giao tiếp là hoạt động không thể thiếu đối với con người và xã hộiloại người Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người trao đổi thôngtin, nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hànhđộng Giao tiếp đi vào mọi mặt của đời sống con người, từ việc thiết lập cácmối quan hệ của con người đến việc lao động, sản xuất, đấu tranh, sáng tạokhoa học, nghệ thuật Giao tiếp làm thúc đẩy sự phát triển của xã hội Đối vớitác phẩm văn học, giao tiếp là một trong những yếu tố giúp người đọc khámphá được tính cách của các nhân vật, góp phần vào việc tìm hiểu đánh giá nhânvật nói riêng và tác phẩm văn học nói chung
1.4 Hỏi là hành vi thường xuyên được sử dụng trong giao tiếp nói
chung Đối với người Viêt Nam , hành vi hỏi được sử dụng với nhiều hiệu lực
ở lời khác nhau tạo nên hiệu quả giao tiếp phong phú Hành vi hỏi không chỉđap ưng nhu câu thông tin trong cuôc sông ma lam cho môi quan hê giưa
nhưng ngươi giao tiêp thêm hiêu biêt lân nhau Trong tac phâm văn hoc thi hỏi là một hành vi phổ biến , góp phần thể hiện tính cách , đăc điêm, cuôc sôngcủa nhân vật cũng như góp phần vào sự thành công của tác phẩm nói chung và
vê ngôn ngư n ói riêng
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
- Với những Lý do trên, đề tài đăc điêm ngôn ngư giơi qua hanh vi hoi
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã được chọn làm hướng nghiên cứu
của luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã được các nhà nghiên cứutrong các lĩnh vực như nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu
Ở trên thế giới, đối với lĩnh vực ngôn ngữ, phải chờ đến đầu thế kỉ XX, những
ấn tượng về sự khác biệt giới trong ngôn ngữ mới được dẫn ra một cách cụ thể,
có bằng chứng nhờ sự quan sát, khảo cứu của E.Saprir đối với việc sử dụngluân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ của người Yana vàO.Jersperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khigiao tiếp bằng tiếng Anh Nhưng người thực sự mở đường cho nghiên cứu này
là R.Lakoff với tác phẩm Language and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí củangười phụ nữ trong xã hội), NXB Harper and Row (1975) Trong công trìnhnày, bà đã nghiên cứu mối quan hê giữa ngôn ngữ và giới ở các bình diện cấutrúc - hệ thống (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và bình diện giao tiếp Có thểkhẳng định rằng R.Lakoff đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho ngôn ngữhọc nói chung, ngôn ngữ học xã hội nói riêng Trên nền tảng nghiên cứu ngônngữ và giới, các nghiên cứu sau R.Lakoff, một mặt tiếp thu những nội dung màtác giả đã nghiên cứu để từ đó phát triển và đưa ra những hướng nghiên cứumới về giới Trong đó, đáng chú ý là những nghiên cứu về mối quan hệ giữangôn ngữ và giới trong giao tiếp: coi giới là một nhân tố tác động đến giao tiếp.Sau này, tất cả các công trình về ngôn ngữ học xã hội đều có một chương riêng
về ngôn ngữ và giới tính
Ở Việt Nam người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học xã hội là tác giả
Nguyễn Văn Khang với các công trình nghiên cứu như: Ứng xử ngôn ngữ trong
giao tiếp gia đình người Việt, Nxb văn hóa Thông tin, 1996; Nguyễn Văn
Trang 14Khang (1999), Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình người
Việt, đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong giao tiếp nói chung
và giao tiếp gia đình nói riêng Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những lí
giải để khẳng định rằng: “Yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp
ngôn ngữ Nó tồn tại từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến việc lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp thì giới tính được bộc lộ” [26, tr.187] Trên cơ sở đó, tác giả đã cho ra đời nhiều công trình nghiên
cứu về mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ như: Kế hoạch hóa ngôn ngữ - Ngôn
ngữ học xã hội vĩ mô, Nxb Khoa học xã hội, 2003; Tiếp đó là các công trình
như “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính”, Nxb khoa học xã hội,
Hà Nội, 2003 “ Ngôn ngữ học xã hội-những vấn đề cơ bản”, Nxb Khoa học xã hội, 1999; đặc biệt là cuốn Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam,
2012 Trong tác phẩm này, tác giả đã dành hẳn một chương để trình bày về mốiquan hệ giữa ngôn ngữ và giới như nghiên cứu về ngôn ngữ và giới trước
Rlakoff, nghiên cứu của Rlakoff và sau Rlakoff Ngoài ra tác giả còn trình bày
những nghiên cứu về kì thị và chống kì thị về giới thể hiện trong ngôn ngữ Cóthể nói, những công trình nghiên cứu trên của tác giả Nguyễn Văn Khang đượcxem như là một sự khởi đầu cho hàng loạt các nghiên cứu ngôn ngữ và giới ởViệt Nam sau này dưới các góc độ khác nhau
Tiếp đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã đi theo
hướng này như: Vũ Thị Thanh Hương (1999), Giới tính và lịch sự, Ngôn ngữ,
số 8, tr 1-12; Lương Văn Hy (chủ biên) (2000),“Ngôn từ, giới và nhóm xã hội
từ thực tiễn tiếng Việt”, Nxb Khoa học xã hội HN; Nguyễn Đức Thắng (2002)
“Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt”, tạp chí ngôn ngữ số 2; Đỗ Thu Lan (2006), Tác động của nhân tố giới tính với việc sử dụng
ngôn ngữ trong giao tiếp, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Hoa
(2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH Vinh; Lê Hồng Linh (2010), Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong tiếng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
Việt và tiếng Anh, tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 1; Nguyễn Thị Trà My
(2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của
người Việt, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Hoàng Thị Tưới
(2011), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua
tác phẩm của Nam Cao, Đại học Hải Phòng; Phạm Thị Hà (2013), “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen” Đa số các công trình trên đều coi giới tính là một nhân tố xã hội quan
trọng khi nghiên cứu về ngôn ngữ, đặc biệt là giới có sự tác động đến giao tiếpngôn ngữ của người Việt Những công trình này cung cấp cho chúng tôi thêmnhững định hướng để triển khai đề tài
2.2 Lịch sử nghiên cưu vê hanh vi hoi
Ngư dung hoc xuât hiên trên thê giơi t ừ nửa đầu thế kỉ XX với hàng loạtcác nhà nghiên cứu có tên tuổi: J.L.Austin, J.R Searle, JJ Katz, Ballmer ỞViệt Nam những người mở đường cho ngành ngữ dụng học như Đỗ Hữu Châu(1993, 2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000)
Sau đó, trên cơ sở lý thuyết của ngữ dụng học đã co nh iêu công trinhnhiều luận văn, luận án, bài viết nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ cụ thể củatiếng Việt như Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải Yến với đề tài
về hành vi cam kết, chê, cảm thán; Nguyễn Thị Hoài Linh (2003), Nguyễn ThuHạnh (2005) khảo sát hành vi ngôn ngữ " mách" và " trách"
Trong nghiên cưu vê cac hanh vi ngôn ngư thi hoi la môt trong nhưng hành vi ngôn ngữ được nhiều người quan tâm , trong đo co các tác gi ả như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Hồ Lê, Lê Đông, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng
Sửu Tác giả Lê Đông (1996) trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ
dụng của câu hỏi chính danh” đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi,
tiền đề và câu hỏi, tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt
Trang 16trong ngữ cảnh thực Năm 1991,Giáo sư Cao Xuân Hạo trong công trình “Sơ
thảo ngữ pháp
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
chức năng” đã phân tích hiệu lực ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu
nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi Gần đây nhất là tac gia
Nguyễn Đăng Sửu (2002) nghiên cứu Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với
tiếng Việt Sau đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã nghiên
cứu về hành vi hỏi như: Phùng Thị Thanh (2000), Phát ngôn hỏi trong hội
thoại dạy học ở trường THPT (qua giờ giảng văn và tiếng Việt), luận án thạc sĩ,
ĐHSP Hà Nội Nguyễn Lê Lương (2006), Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua
hành vi hỏi ( trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước 1945), luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh
2.3 Tình hình nghiên cứu chung về Ngô Tất Tố
Sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố kéo dài gần 30 năm, từ 1923 đến
1951 Song thành tựu văn chương của ông tập trung chủ yếu trong giai đoạn
1930-1945, với những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn (1939), lều chõng (1940), và tập phóng sự Việc làng (1940)
Quá trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố kể từ những bài phê bình về tác
phẩm Tắt đèn Mở đầu là bài viết của Vũ Trọng Phụng với nhan đề “Tắt đèn
của Ngô Tất Tố”, được đăng trên báo thời vụ số 100, ngày 31-1-1939.Vũ Trọng
Phụng đã khẳng định giá trị nhiều mặt của Tắt đèn và hết lòng ngợi ca « Tắt
đèn là cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội- điều ấy cố nhiên là hoàn toàn phụng
sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tác giả có cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống nhiều ở thôn quê nên có đủ thẩm quyền » [22, tr 200].
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, Tắt đèn của
Ngô Tất Tố đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Từ đó tên tuổi và sựnghiệp văn học của Ngô Tất Tố càng thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình Saukhi nhà văn qua đời trên con đường kháng chiến (1954) thì có rất nhiều bài tiếp
tục nghiên cứu, giới thiệu về ông như: Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí
Trang 18văn nghệ số 54, tháng 8, năm 1954; Đọc lại việc làng của Bùi Huy Phồn (Tạp chí văn nghệ số 8, tháng 1, năm 1958) … đặc biệt là toàn tập Ngô Tất Tố
(1996) do giáo sư Phan Cư Đệ tuyển chọn và giới thiệu
Bước sang thời kỳ đổi mới, vị trí của Ngô Tất Tố vẫn được khẳng định
trên văn đàn Các bài báo như: Ngô Tất Tố nhà văn hóa lỗi lạc của Hoài Việt;
Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay của Phan Cư Đệ…đã khẳng định
vai trò của nhà văn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai Đến năm 2000, nhà
xuất bản Giáo dục đã cho in cuốn Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm do hai nhà
nghiên cứu Mai Hương và Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu Đây làcông trình tập hợp đầy đủ các bài viết, bài nghiên cứu, hồi ức, tưởng niệm củabạn bè, đồng nghiệp, người thân về Ngô tất Tố
Như vậy, hơn bảy thập kỷ trôi qua, kể từ bài viết của Vũ Trọng Phụng về
tiểu thuyết Tắt đèn (1939) đến nay, đã có hàng trăm bài viết, công trình
nghiên cứu về Ngô Tất Tố Hầu hết các công trình nghiên cứu đề khẳng địnhNgô Tất Tố là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực Việt Nam trướccách mạng và là một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt namhiện đại
Đối với tác phẩm Tắt đèn thì phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập
trung khai thác ở giá trị nội dung, nghệ thuật mà ít nghiên cứu về phương diệnngôn ngữ Do đó, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu về hành vi hỏi trong
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những nội dung lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài đó
là lý thuyết về giới trong ngôn ngữ học xã hội; lý thuyết về giao tiếp, vê hôithoại, vê hanh vi ngôn ngư va hanh vi hoi
- Khảo sát đăc điêm ngôn ng ữ giới qua hanh vi hoi ở giao tiếp gia đình,
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất tố.
- Khảo sát đăc điêm ngôn ng ữ giơi qua ha nh vi hoi ở giao tiếp xã hội,
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
- So sanh, đối chiếu rôi rút ra nh ững kết luận về đăc điêm ngôn ng ữ giớiqua hanh vi hoi trong giao tiếp gia đình và xã hội ở tác phẩm này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Sau khi khảo sát toàn bộ tiêu thuyết Tắt đèn, chúng tôi tiến hành khảo
sát, thống kê, phân loại các cặp giao tiếp, các hành vi hoi trực tiếp và gián tiếp
4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Bằng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích các cuộc giao tiếp,
các hành vi hỏi của các nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn.
4.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Từ sự phân loại thống kê, chúng tôi phân tích ngôn ngữ giao tiếp củacác nhân vật qua hanh vi hoi , nhìn từ góc độ giới Qua đó tổng hợp khái quátthành những đặc điểm phong cách ngôn ngữ giới ở giao tiếp trong tác phẩmTắt đèn của Ngô Tất Tố
4.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Sau khi khảo sát, phân tích, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu hành vihỏi ở các phạm trù giao tiếp để tìm ra sự tương đồng, khác biệt về đặc điểm
ngôn ngữ giới trong tác phẩm Tắt đèn.
Trang 205 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đăc điêm ngôn ng ữ giới qua hanh
vi hoi trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố,
xuất bản năm 2013 (tái bản), gồm 27 chương, 279 trang, khổ 13 x 19 cm, NxbVăn Học, Hà nội
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lí luận
Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lí luận về giới qua hanh vi hoitrong giao tiếp tiếng Việt Luận văn cũng cung cấp thêm lý thuyết khi tìm hiểu,nghiên cứu tác phẩm văn học, đặc biệt là dưới gốc độ giới Bên cạnh đó, kếtquả nghiên cứu này còn có thể là cơ sở cho các lĩnh vực nghiên cứu khác vềcon người như tâm lí học, nhân chủng học
6.2 Về thực tiễn
Với việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ trong tác phẩm
Tắt đèn nhìn từ góc độ giới góp phần vào việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm Tắt đèn nói riêng và các tác phẩm văn học nói chung.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáoviên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xăhội, khi cần tìm hiểu tác phẩm văn chương Ngoài ra, luận văn có thể được sửdụng vào việc biên soạn tai li ệu ngữ văn, phục vụ cho hoạt động dạy và họctrong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương: Chương 1 Cơ sở lý thuyết
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
Chương 2 Đặc điểm ngôn ng ữ giơi qua hanh vi hoi ở giao tiếp gia đình
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Chương 3 Đặc điểm giới ngôn ng ữ qua hanh vi hoi ở giao tiếp xã hội
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ
1.1.1 Thuật ngữ giới và giới tính
Giới tính và giới là hai khái niệm liên quan nhưng có nội hàm khác nhau
Trong tiếng Anh có hai từ tương đương với giới tính và giới là sex và gender.
Sex được giải thích là “tình trạng là đực hay là cái” Gender được giải thích là
“(i) Sự phân chia danh từ hay đại từ thành giống đực và giống cái; (ii) Sự phânchia về giới tính” Theo các nhà khoa học, nam giới và nữ giới khác nhau ở haikhía cạnh: thể chất (sinh lý học) và xã hội
Như vậy, Giới tính (giống) là khái niệm chỉ sự nhau về mặt thể chất, sinh
lý giữa nam và nữ Giới là khái niệm chỉ sự khác biệt về mối quan hệ, địa vị,
chức năng xã hội của nam và nữ trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể
1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
Vấn đề giới/ giới tính liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người
như nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử, xã hội, văn hóa Về mặt lí luận
“giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ chủng tộc, trong tầng bậc xã hội,luật pháp và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp
xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phongcách xử sự, quan niệm về cái tôi, phân bố nguồn lực, các giá trị đạo đức vàthẩm mĩ và đạo đức và nhiều lĩnh vực khác nữa Về mặt thực tiễn, vấn đề giớiliên quan mật thiết đến sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả giađình và ngoài xã hội giữa nam và nữ vì thế chúng trở thành đối tượng nghiên
Trang 22cứu của nhiều ngành, trong đó đáng chú ý là các ngành như nhân chủng học, xãhội học, dân tộc học, ngôn ngữ học [29, tr 243].
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới luôn là vấn đề thu hút sự quan tâmcủa các nhà ngôn ngữ học xã hội Với hai hướng tiếp cận: ngôn ngữ của mỗigiới và ngôn ngữ nói về mỗi giới, các công trình nghiên cứu và khảo nghiệm đãkhẳng định rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, đồng thời chỉ ra sự khác biệt
về ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới
Hướng thứ nhất là về ngôn ngữ của giới xác nhận sự khác biệt thể hiệntrong cách sử dụng ngôn ngữ giữa nam và nữ trên các phương diện: đặc điểmsinh lý cấu âm, đặc trưng về âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ.Chẳng hạn, xét về mặt cấu âm, các các cụm từ đánh giá giọng nói trong tiếngViệt như “giọng ồm ồm như đàn ông ",“giọng the thé như đàn bà“.Về sinh lí, bộmáy phát âm của nam, nữ khác nhau, Ví dụ, dây thanh của nữ ngắn và mỏng,lỏng hơn của nam [29, tr 243] Nhà ngôn ngữ học người Mỹ R.Lakoff (1975)trên cơ sở khảo sát cách sử dụng tiếng Anh của nữ giới trung lưu ở Mỹ trongmôi trường sống và làm việc của họ đã rút ra một số kết luận: nữ giới cókhuynh hướng lên giọng ở cuối câu, sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín, haydùng cách nói rào đón, nghiêng về tính lịch sự nhưng thiếu óc hài hước so vớinam giới
Hướng thứ hai là về giới trong ngôn ngữ, những nghiên cứu lại cho thấy
những dấu hiệu thể hiện sự phân biệt đối xử trong ngôn ngữ là bất bình đẳngnghiêng về nữ giới Sự bất bình đẳng này thể hiện rõ nhất ở phương diện cấutạo từ Chẳng hạn, trong tiếng Anh có hai cách xưng gọi nữ giới là để phân biệt
gái chưa chồng (Ms), và gái có chồng (Mrs), trong khi đó nam giới chỉ cần một cách xưng gọi là là Mr Trong ngôn ngữ phương Đông như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Nhật chỉ có từ tiết phụ (người đàn bà tiết thủ khi chồng chết) mà không có từ tiết phu (người đàn ông vợ chết) Điều đó cho thấy một quan niệm
“trọng nam khinh nữ trong ngôn ngữ’’ Ở những ngôn ngữ có phạm trù giốngnhư tiếng Nga, tiếng Đức, các từ gọi tên nghề nghiệp, danh từ gọi tên sự vật,hiện tượng thường ở dạng thức giống đực nhiều hơn giống cái; các danh từ
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
giống đực có thể bao hàm cho cả hai giới (hiện tượng này không xảy ra với cácdanh từ giống cái) [51, tr 151]
Trang 24Từ các hướng nghiên cứu trên, nổi lên ba vấn đề về mối quan hệ giữangôn ngữ và giới tính:
1/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới là do cấu tạo cơ thể ngườinhư vị trí của phần ngôn ngữ ở trong não, đặc điểm sinh lí cấu âm như giọngnói, tần số HZ, khác nhau giữa nam và nữ
Ví dụ, Theo Gison và Ramasaran (1989), âm vực của nam từ từ 100-150
Hz, còn âm vực của nữ là từ 200-325 Hz [29, tr.243, 244]
2/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới còn thể hiện ở ngôn ngữ đểnói về mỗi giới Ví dụ trong tiếng Việt, sự phân phân định cá danh từ, đại từcho mỗi giới để tạo thành cặp tương ứng như ông - bà, cha - mẹ, anh- chị, cậu-
mợ, [ 29, tr 245] Đặc biệt hơn, dường như trong mỗi ngôn ngữ đều có những
từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà không thể dùng cho giới khác, hoặc chỉ giớinày sử dụng thì phù hợp.Ví dụ, trong tiếng Việt, các tính từ như yểu điệu, thướttha, dịu hiền, chua ngoa, đanh đá thiên về chỉ nữ giới [29, tr 246]
3/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ đượcmỗi giới sử dụng, hay còn gọi là phong cách ngôn ngữ của mỗi giới Ví dụ nữgiới thường thích dùng nhiều từ chỉ màu sắc trong khi đó nam giới lại ít dùng
từ chỉ màu sắc [32, tr 34]
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung đi vào vấn
đề thứ ba ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng (phong cách ngôn ngữ của mỗi giới), hai vấn đề còn lại được xem xét gắn với vai giao tiếp trong từng hoàn
cảnh hội thoại cụ thể
1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ sử dụng những kí hiệu hữu hạn để biểuthị thế giới khách quan vô hạn, cộng với chức năng là công cụ giao tiếp và tưduy nên ngôn ngữ là của chung mọi người trong cộng đồng, theo đó cũng làcủa chung của cả nam và nữ Tuy nhiên, ở một góc độ khác, là tấm gương phảnánh xã hội, sự phân chia loài người thành "hai nửa" giới nam và giới nữ thì tấtnhiên sẽ có sự khác nhau ở mặt ngôn ngữ Sự khác nhau trong sử dụng ngôn
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
ngữ ở mỗi giới (nam và nữ) đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực nhưnhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu John Gray đã dùnghình ảnh “đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim” để ví sự khác biệtngôn ngữ giữa nam và nữ [29, tr 237] Tuy trong thực tế, chúng ta không đến
từ những hành tinh khác nhau nhưng những khác biệt đó chỉ có thể được nhậndiện khi đàn ông và đàn bà cùng chung sống trong một không gian xã hội nhấtđịnh, đặc biệt là trong sự tương tác chéo
Mặc dù trước đó, trong các công trình nghiên cứu của E.d Sapir,O.Jersperson, đã có đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và giới nhưng phải chờ đến
R Lakoff thì vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới mới được nghiên
cứu một cách hệ thống Với cuốn "Language and woman’s place" (Ngôn ngữ
và vị trí của người phụ nữ), có thể khẳng định rằng, Robin Lakoff là người tiênphong trong những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn và giới, R.Lakoff tập trung vào
phong cách ngôn ngữ giới nữ Đương nhiên, khi nói đến phong cách ngôn ngữcủa nữ giới cũng là ngầm so sánh với phong cách ngôn ngữ của nam giới Vềphong cách ngôn ngữ của nữ giới, R.Lakoff nghiên cứu cách phát âm, cách sửdụng từ, cách sử dụng câu cũng như cách diễn đạt Dựa vào quá trình xem xétnội quan và khả năng trực giác của mình, R.Lakoff đã đề xuất một nhóm nhữngđặc trưng nổi bật về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và phong cách diễn đạt đểnhận diện ngôn ngữ của phụ nữ Những vấn đề này đã được tác giả NguyễnVăn Khang trình bày cụ thể trong cuốn ngôn ngữ học xã hội (nhà xuất bản Giáodục Việt Nam, năm 2012), như sau:
Thứ nhất về ngữ âm: 1/Phụ nữ phát âm chuẩn mực hơn nam giới; 2/Phụ
nữ sử dụng khá đa dạng cao độ, ngữ điệu trong giao tiếp cũng như cách thể
hiện sự cường điệu hóa, dùng trong dấu “…” mà Lakoff gọi đó là speaking in
italics (nhấn âm) tạo thành câu hỏi cho những phát ngôn tường thuật; 3/ Phụ nữ
Trang 26khi phát âm các nguyên âm dòng trước thường đẩy vị trí của lưỡi ra phía trướcnhiều hơn (so với nam) và khi phát âm các nguyên âm dòng sau, phụ nữ thườngđẩy vị trí của lưỡi ra phía sau nhiều hơn (so với nam); 4/ Phụ nữ thích sử dụngngôn điệu khi nói các câu trần thuật; 5/ Phụ nữ hay lên giọng ở cuối câu Chẳnghạn, phụ nữ thiên về sử dụng ngữ điệu lên giọng tạo thành câu hỏi cho nhữngphát ngôn tường thuật Ví dụ: Excuse me, you are standing on my foot? (Xinlỗi, ngài đang giẫm lên chân tôi).
Thứ hai về từ vựng: 1/ Phụ nữ có vựng phong phú hơn trong một số lĩnhvực phù hợp với phụ nữ như nấu nướng, may vá 2/ Phụ nữ có xu hướng thích
sử dụng những từ ngữ chỉ màu sắc chính xác (như beige “màu be”, aquamarine
“ngọc bích, cánh sen”, lavender “tím nhạt”, mauve “tím hồng”, ecru “vàng
xám”); 3/ Phụ nữ ưa sử dụng các từ đệm, từ cảm thán ở dạng trung tính, nhẹ
nhàng như oh dear ( trời /trời ơi/ eo ơi,), trong khi đàn ông thường ưa dùng những dạng thức ngôn ngữ thô thiển và có phần tục tĩu hơn như shit (mẹ kiếp,
chó chết, chết tiệt); 4 /Phụ nữ thường dùng các từ tăng cường để nhấn mạnh
như so, very, really, absolutely,… Ví dụ, phụ nữ thích cách nói kiểu That was
so nice; How absolutely marvellous; so intelligent nhằm tăng hiệu quả giao
tiếp, đồng thời lại thích sử dụng cách giảm nhẹ như kind of (kiểu như, hơi hơi) trong kind of difficult (hơi hơi khó) để làm dịu căng thẳng; 5/ Phụ nữ thường
dùng các từ tự do như sor of, I guess, I thin (Đối với những từ thiên về bộc lộcảm xúc hơn là cung cấp thông tin, phụ nữ thường sử dụng một số từ “dịu
dàng” như adorable (thay vì great), charming (thay vì terrific), sweet (thay vì
coll), lovely, divine (thay vì neat).
Thứ ba, về ngữ pháp, cách giao tiếp: 1/Phụ nữ ưa sử dụng câu hỏi đínhkèm nhằm thuyết phục và làm "mềm hóa" phát ngôn Nhìn về bề mặt phátngôn, người ta có thể cảm giác tính không chắc chắn nhưng thực tế hiệu quảgiao tiếp lại rất cao, theo kiểu “lạt mềm buộc chặt" Ví dụ: John is here, isn’t
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 15 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
John? (Giôn ở đây, có phải không?); 2/ Phụ nữ thường đưa ra những yêu cầu ở
dạng kết hợp và gián tiếp để thể hiện tính lịch sự Ví dụ: I wonder if you would
mind handing me that book (Tôi phân vân rằng liệu có làm phiền ngài lắm
không khi tôi muốn mượn cuốn sách đó); 3/ Phụ nữ dùng nhiều cách nói mang
tính nghi lễ (lịch sự) như please, thanh you, you are so kind và hình thức cầu
khiến phức hợp 4/ Phụ nữ thường sử dụng một số từ và cấu trúc như well, you
know,…nghe có vẻ như một lời phân trần, một hành vi rào đón để làm giảm áp
lực của thông tin [29, tr 239, 240, 241]
1.2 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ
1.2.1 Sự kiện giao tiếp về quan hệ giao tiếp
1.2.1.1 Sự kiện giao tiếp
“Sự kiện giao tiếp (speech event) là đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ”[29, tr 353] Người tham gia giao tiếp bên cạnh năng
lực tạo mã và giải mã thích hợp thì còn phải có năng lực nhận diện được sựkiện giao tiếp hay nói khác đi là phải nhận diện được sự tham gia và chi phốicủa các nhân tố giao tiếp
D Hymes đã xuất một cấu trúc dân tộc học của một sự kiện giao tiếp baogồm tám thành tố Tám thành tố này được viết tắt bằng tám chữ cái làm thành
từ SPEAKING Cũng có thể xem đây là tám nhân tố tham gia và chi phối mộtcuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ
1/ Chu cảnh (S): Là nhân tố gồm hai tiểu nhân tố là: khung cảnh và hiện
trường Khung cảnh chỉ thời gian và địa điểm xảy ra giao tiếp (tức chu cản vật
lí cụ thể) Nó gồm môi trường, vật chất cụ thể phát sinh trong hoạt động giaotiếp Hiện trường chỉ hoàn cảnh tâm lí hoặc giới hạn về mặt văn hóa của hoạtđộng giao tiếp Trong một khung cảnh nhất định người giao tiếp có thể tự dothay đổi hiện trường Chu cảnh nói khác đi chính là hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một nhân tố cơ bản và có tác động quan trọng đếnnội dung thông tin trong một cuộc giao tiếp Đây là những điều kiện về mặt
Trang 28không gian, thời gian xã hội diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp chiathành hai loại là: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp.
Hoàn cảnh giao tiếp rộng là toàn bộ những hiểu biết của nhân vật giaotiếp về phong tục, tập quán, văn hoá, chính trị, xã hội của một dân tộc Hoàncảnh giao tiếp rộng được những nhân vật giao tiếp nhận thức Hoàn cảnh giaotiếp hẹp chính là không gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp Nó chính là môitrường giao tiếp cụ thể như giảng đường, lớp học, nhà trường, chùa chiền,chợ búa, quán xá, Hoàn cảnh hẹp chính là yếu tố tạo thành ngữ cảnh cho cuộcgiao tiếp
2/ Người tham dự (P): Là những người trực tiếp tham gia vào cuộc giao tiếp Người tham dự giữ bốn vai là người nói (addressor), người nghe (listener), người phát ngôn (speaker), người thụ ngôn (addressee) Trong giao tiếp, những người giao tiếp có thể phối hợp vai một cách linh hoạt speaker -
listener; addressor - addressee; sender - receiver Trong trường hợp giao tiếp
là cặp đôi thì sự kết hợp vai là addressor - listener; speaker - addressee Người
nói và người nghe là những người nắm được các quy tắc giao tiếp, cụ thể là cácquy tắc về mặt phát ngôn và nhận ngôn
Trong hoạt động giao tiếp, nhân vật giao tiếp bị ràng buộc và tác độngqua lại lẫn nhau về tất cả các mặt nhưng chủ yếu là mặt ngôn ngữ Bằng ngônngữ các nhân vật giao tiếp làm thay đổi tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thái độcủa nhau Thông qua giao tiếp, khoảng cách giữa các nhân vật tham gia giaotiếp sẽ được rút ngắn lại và tạo ra mối quan hệ hòa hợp
3/ Mục đích (E): Là chỉ kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của
hoạt động giao tiếp và mục đích cá nhân của người tham dự Nó xuất phát từhai phương diện: kết quả (gồm kết quả có thể dự đoán và kết quả không thể dựđoán) và đích (đích nói chung và đích cá nhân) Mục đích giao tiếp là đích màcác nhân vật giao tiếp hướng tới trong một cuộc giao tiếp Giao tiếp hướng tớinhiều đích khác nhau
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 17 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
4/ Chuỗi hành vi (A): Là yếu tố chỉ hình thức và nội dung của cuộc giao
tiếp Đây là yếu tố hợp thành đối tượng giao tiếp hay còn gọi là hiện thực đượcnói tới trong giao tiếp Hiện thực giao tiếp chính là nội dung, đề tài mà cả ngườinói và người nghe cùng quan tâm Hiện thực này bao gồm các sự việc, sự kiện,tâm trạng, tình cảm của con người Đây là nhân tố khá đa dạng trong nhiều lĩnhvực của đời sống con người
5/ Phương thức (K): Phương thức diễn đạt chỉ ngữ điệu (tone), cách (maner) và những trạng thái tinh thần chứa đựng trong thông tin như trang
trọng, nghiêm túc hay thân mật, suồng sã Cách diễn đạt có thể dùng ngôn ngữ
để biểu thị hoặc cũng có thể dùng những hành vi phi ngôn ngữ để biểu thị
6/ Phương tiện (I): Phương tiện chỉ kênh giao tiếp (channel) như nói, viết, điện báo hoặc hình thức giao tiếp (form of speech) đó là việc vận dụng
ngôn ngữ, phương ngữ, phong cách Trong một cuộc giao tiếp người ta có thể
sử dụng nhiều kênh giao tiếp khác nhau Việc lựa chọn kênh giao tiếp nào làtùy thuộc vào ngữ cảnh và mục đích giao tiếp nhất định
7/ Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (N): Chuẩn tương tác thuộc về
người nói còn chuẩn giải thích thuộc về người nghe Nói cụ thể là người nói cầnlựa chọn ngôn ngữ giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp Cònngười nghe cần phải nỗ lực lí giải phát ngôn trên cơ sở một khung ngữ vựcchung
8/ Loại thể (G): Loại thể chỉ loại hình hình thức của ngôn ngữ như độc
thoại, hội thoại, thơ, tục ngữ, thành ngữ Mỗi thể loại sẽ thích hợp với từngtrường hợp giao tiếp cụ thể
Trên đây là tám nhân tố được D Hymes đề cập đến khi nghiên cứu về sựkiện giao tiếp Tuy nhiên, nghiên cứu hoạt động giao tiếp của con người là mộtviệc hết sức phức tạp Trong các cuộc giao tiếp khác nhau, sự kiện giao tiếpkhông phải lúc nào cũng bao gồm cả tám nhân tố kể trên Cho nên, điều quantrọng là cần nhận ra được đâu là yếu tố chính, đâu là yếu tố phụ cũng như mối
Trang 30quan hệ chi phối giữa chúng Có như vậy, chúng ta mới có thể điều khiển vàkiểm soát những hoạt động giao tiếp theo đúng hướng và mục đích đề ra.
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 19 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
1.2.2.2 Quan hệ giao tiếp
Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếpphải có mối quan hệ qua lại nhất định Đó chính là quan hệ giao tiếp Quan hệgiao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xă hội chung vàtrên cơ sở cấu trúc của xã hội đó
Với tư cách là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là một thực thể đachức năng, mỗi người luôn đóng rất nhiều vai từ gia đình đến xã hội Như tácgiả Nguyễn Văn Khang [29, tr 357] đã dẫn, “một người đàn ông khi ở tronggia đình anh ta là cha trong quan hệ với con, là con trong quan hệ với cha, làchồng trong quan hệ với vợ, là anh trong quan hệ với em, ; ở ngoài xã hộianh ta có thể là thủ trưởng đối với nhân viên cấp dưới, là nhân viên trong quan
hệ với thủ trưởng, là thầy giáo trong quan hệ với học sinh Tất cả những mốiquan hệ đan xen ấy làm thành một mạng quan hệ xã hội với rất nhiều vai khácnhau”
Bất kỳ sự nói năng nào thì người nói cũng phải lựa chọn như nói gì?nói như thế nàỏ sử dụng loại câu gì? từ ngữ, âm thanh như thế nào Vì thế,muốn đạt được đích giao tiếp người nói phải xác định được mối quan hệ củamình với các thành viên tham gia giao tiếp, để từ đó có cách lựa chọn ngônngữ, phong cách phù hợp Mỗi người khi tham gia giao tiếp, dù có rất nhiều
mối quan hệ, nhưng qui về hai loại chính là: quan hệ quyền lực (power) và quan hệ thân hữu (solidarity).
Quan hệ quyền lực là là quan hệ: trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh
R.Fasold giải thích rằng “quan hệ quyền lực” còn được dùng với thuật ngữ khác là “ngữ nghĩa quyền lực” được cố định như là một thói quen bắt buộc
trong giao tiếp xã hội cũng như trong giao tiếp gia đình
Quan hệ thân hữu là quan hệ ngang bằng Và cũng theo cách giải thíchcủa R Fasold ngữ nghĩa thân hữu là một sẻ chia giữa mọi người ở mức độ gầngũi, thân mật
Trang 32Khi tham gia giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần ý thức rõ vai giao tiếpcủa mình trong quan hệ giao tiếp để có phương án và cách thức lựa chọn phongcách ngôn ngữ sao cho thích hợp.
Trên đây là một số vấn đề cơ bản thuộc về lý thuyết giao tiếp Những vấn
đề này có tác dụng chi phối và điều hành mọi cuộc giao tiếp nói chung
1.2.2 Lý thuyết hội thoại
1.2.2.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại đã trở thành đối tượng chính thức của chuyên ngành ngôn ngữhọc ở Mĩ từ năm 1970, sau đó là Anh, Pháp và cho đến nay nó đã xuất hiện ởhầu hết các nước trên thế giới Ở Việt Nam hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đãđưa ra các quan niệm khác nhau về vấn đề này
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) hội thoại “là sử dụng một
ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [37, tr 444].
Tác giả Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa hội thoại nhưng khẳng
định tầm quan trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên,
phổ biến của ngôn ngữ, có cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, tr, 201].
Như vậy có thể hiểu hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữthường xuyên diễn ra trong đời sống con người Ngôn ngữ hội thoại tồn tại ởhai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1.2.2.2 Cấu trúc hội thoại
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trên thế giới hiện nay có ba trường phái vớinhững quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại là: cấu trúc hội thoại theotrường phái phân tích hội thoại; cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tíchdiễn ngôn và cấu trúc hội thoại theo lý thuyết Thụy Sĩ- Pháp Tương ứng vớimỗi cấu trúc hội thoại là đơn vị hội thoại tương ứng Trong phạm vi luận vănnày, chúng tôi chỉ đề cập đến trường phái thứ ba
Theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp, đơn vị hội thoại gồm cuộc thoại,đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Tiếp nhận quan điểm
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 21 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
của hai trường phái trước, lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp cho rằng hội thoại
là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp Các đơn vị hội thoại đã nêu trêntheo trường phái này đã thể hiện rõ điều đó
Cuộc thoại được coi là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất, được xác địnhbởi các tiêu chí: nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian và địa điểm,tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Đối với tiêu chí về các dấu hiệu định ranhgiới cuộc thoại, thông thường có dấu hiệu mở đầu cuộc thoại và kết thúc cuộcthoại nhưng không bắt buộc, đặc biệt trong cuộc thoại giữa những người quáthân quen
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặtchẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Dù sự phân định đoạn thoạikhông có sự phân định rành mạch vì đường phân giới khá mơ hồ, nhiều khiphải dựa vào trực cảm và võ đoán nhưng đây vẫn là đơn vị có thực
Cặp trao đáp là đơn vị tối thiểu Cuộc hội thoại chính thức được bắt đầukhi có sự xuất hiện của đơn vị này Cặp thoại có thể là một tham thoại, có thể làhai hoặc ba tham thoại Tính chất của các cặp thoại thường mang tính chất nghithức tương ứng với hai kiểu cặp thoại: cặp thoại sửa chữa và cặp thoại củng cố.Cặp thoại củng cố tương ứng với cặp thoại dẫn nhập và kết thúc cuộc thoại.Cặp thoại sửa chữa có đơn vị cơ bản là tham thoại sửa chữa - tham thoại dựatrên khái niệm sửa chữa lại một sự vi phạm lãnh địa của người đối thoại Khimột cặp thoại thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là một cặpthoại tích cực và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó Ngược lại, ta có cặpthoại tiêu cực và có tính chất không bình thường
Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên xét về tổ chứcnội tại Một tham thoại có một hành vi chủ hướng và có thể có một hoặc một sốhành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướngcủa tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Hành
vi phụ thuộc là hành vi thêm vào cho hành vi chủ hướng Nó có thể là các hành
vi dùng để láy lại, củng cố, bổ sung, giải thích
Trang 34Trong một cặp thoại, thường có các tham thoại sau:
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 23 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
+ Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng)
+ Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại
+ Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại)
Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Để hiểu cáccặp thoại, các ứng xử bằng lời cũng như các yếu tố kèm ngôn ngữ đều phải căn
cứ vào hành vi ngôn ngữ đi trước hoặc sau Vì thế, hành vi ngôn ngữ cần xemxét trong hội thoại
Vai trò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại Tức là vaitrò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nêntham thoại, cặp thoại…và tác động liên tục lên các nhân vật hội thoại trongtừng thời điểm tạo nên cuộc thoại
1.2.2.3 Các quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo một quy tắc nhất định Tính bị chi phối bởi quytắc của hội thoại được biểu hiện ra thành tính nghi thức của hội thoại.C.K.Orecchioni đã nêu lên tính chất của quy tắc hội thoại, đồng thời chia cácquy tắc hội thoại thành ba nhóm như sau:
a/ Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời
Quy tắc này gồm một hệ thống các điều khoản như sau:
Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại
Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói
Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó cần cónhững biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt
Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưngkhông bao giờ kéo dài
Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối táckia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, không bị dẫm đạp lên nhau
Thứ sáu, trật tự của những người nói không cố định, trái lại luôn thay
Trang 36đổi Đằng sau sự liên hoà phối là quy tắc điều hành luân phiên lượt lời vàchúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau Liên hoà phối để các quy tắc vận hành tốt, quytắc vận hành tốt thì hội thoại mới hiệu quả.
b/ Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại có dạng tổng quát như sau:
"Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai
đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại
mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào" [12, tr 130].
Nội dung của một cuộc thoại được phân phối thành nội dung của các lượtlời Nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc quan yếu là hai nguyên tắc thuộc quytắc điều hành nội dung của hội thoại
c/ Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự
Có nhiều cách định nghĩa về lịch sự khác nhau nhưng có thể hiểu một
cách khái quát nhất theo định nghĩa của C.K Precchioni là “Chúng tôi chấp
nhận rằng phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn ».
- Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thứchoàn toàn đã trở thành thói quen)
- Xuất hiện trong địa hạt quan hệ cá nhân
- Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó
Nói lịch sự là một chiến lược có nghĩa là nó chỉ hình thành, có mặt vàphát huy tác dụng khi có tương tác, nói đúng hơn chỉ nói đến mặt tương tác củalịch sự Phép lịch sự giúp chúng ta phát hiện và lý giải hiện tượng được gọi làcấu trúc hai chiều trong tương tác
1.2.3 Hành vi ngôn ngữ
1.2.3.1 Khái niệm "hành vi ngôn ngữ"
Hành vi ngôn ngữ (speech act; còn gọi là hành động ngôn ngữ, hànhđộng ngôn từ, hành động nói ) được hiểu là hành vi được thực hiện bằng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 23 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
phương tiện ngôn ngữ [ Dẫn theo 16]
J.T Austin - một nhà triết học người Anh là người có công đầu trongviệc xây dựng lý thuyết hành vi ngôn ngữ trong cuốn sách được công bố sau
khi ông qua đời How to do things with words Người phát triển lý thuyết này là nhà triết học J.Searle với công trình Speech Acts.
Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, vấn đề hành vi ngônngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm “hành vi ngôn ngữ” như sau:
Theo Đỗ Hữu Châu: "Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động,
chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói
ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C" [3,
tr 88]
Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho
rằng: "Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ Hành
động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn" [15, tr.
337- 338 ]
Như vậy, "hành vi ngôn ngữ" chính là một hành động sử dụng ngôn từ
nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạtđộng nói năng của con người và mang tính chất xã hội
1.2.3.2 Các loại hành vi ngôn ngữ
Austin cho rằng hành động ngôn ngữ có ba loại hành vi lớn là acte
locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.
a Hành vi tạo lời
Là hành động nói tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nộidung mệnh đề (nội dung phán đoán) trong lời Từ đó ý nghĩa của lời được xáclập Đây là phần ý nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề
b Hành vi mượn lời
Trang 38Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn
các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe,người nhận hoặc chính người nói Hành động mượn lời khi thực hiện một phátngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúcđộng, yên tâm, bực mình, phấn khởi ), trong hành động vật lý có thể quan sátđược gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh
c Hành vi ở lời
Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hànhđộng người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngônngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận
Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn(lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung)như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung
Như vậy, khi thực hiện một phát ngôn, người nói thực hiện ba loại hành vinày, trong đó hành vi ở lời được các nhà ngữ dụng học quan tâm nhất, đồng thờiđây là loại hành động tạo nên sắc thái giao tiếp phong phú Chính vì vậy ở luậnvăn này chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, khảo sát đối tượng nghiên cứu hành
vi ở lời
1.2.3.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời
Để thực hiện được một hành vi nào đó ta không thể thực hiện một cách
tùy tiện mà phải tuân theo những điều kiện căn bản mới đạt được hiệu quả.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: "Điều kiện sử dụng các hành vi ở
lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó" [3, tr 111].Theo Austin, điều
kiện sử dụng các hành vi ở lời là các điều kiện "may mắn", nếu chúng đượcđảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt hiệu quả
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 25 h t t p : / / www l r c - t nu e d u v n /
Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin,Searle đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn Ôngcho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau:
Trang 40a Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành động.
Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảonghiệm, xác tín hay miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín,tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng có hoặc không; phải, không phải…) Nộidung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay một hànhđộng của người nghe (lệnh, yêu cầu)
b Điều kiện nội dung chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát
ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về mối quan hệ giữa ngườinói, người nghe
c Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người
phát ngôn Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnhđòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói…
d Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người
nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vàohành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực củanội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúngđắn của điều được nói ra)
1.2.3.4 Phân loại hành vi ở lời
Người ta chia các hành vi ngôn ngữ ra hai loại: hành vi ở lời trực tiếp vàhành vi ở lời gián tiếp
a Hành vi ở lời trực tiếp
Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp được hiểu là: " các hành vi
ngôn ngữ chân thực, nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng đúng với các điều kiện sử dụng’’ [ 3, tr 145].
Nguyễn Thiện Giáp nhận định: "Hành động ngôn từ trực tiếp là hành
động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một