1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố

81 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Tác giả Lê Văn Thắng
Người hướng dẫn TS. Mai Thị Hảo Yến
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 691,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (5)
  • 2. Lịch sử vấn đề (6)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (6)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (6)
    • 4.1 Đối tượng (6)
    • 4.2 Phạm vi nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (7)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (7)
  • Chương 1. (8)
    • 1.1. Các nhân tố giao tiếp (8)
      • 1.1.1 Ngữ cảnh (8)
      • 1.1.2 Ngôn ngữ (9)
      • 1.1.3 Diễn ngôn (10)
    • 1.2. Lý thuyết về hội thoại (11)
      • 1.2.1. Khái niệm (11)
      • 1.2.2 Đơn vị hội thoại (12)
      • 1.2.3 Lịch sự trong hội thoại (14)
    • 1.3. Từ xưng hô và các tiểu loại từ xưng hô (17)
      • 1.3.1. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô (17)
      • 1.3.2 Phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt (20)
  • Chương 2. ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN (27)
    • 2.1 Từ xưng hô đich thực (27)
      • 2.1.1 Hệ thống từ xưng hô ngôi thứ nhất (28)
      • 2.1.2 Ngôi thứ hai (34)
      • 2.1.3 Ngôi thứ ba (38)
    • 2.2 Từ xưng hô thân tộc trong tác phẩm “Tắt Đèn” của tác gủa Ngô Tất Tố (41)
      • 2.2.1 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhât (41)
      • 2.2.2 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ hai (45)
      • 2.2.3 Từ xưng hô thân tộc ở ngôi thứ ba (49)
      • 2.1.3 Từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ dùng làm xưng hô trong tác phẩm “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố (54)
    • 2.4 Các từ là tổ hợp từ trong tác phẩm “ Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố (58)
      • 2.4.1 Các từ xưng hô là tổ hợp từ (58)
  • CHƯƠNG 3 TỪ XƯNG HÔ GÓP PHẦN TẠO NÊN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN (62)
    • 3.1 Từ xưng hô thể hiện chân dung nhân vật (62)
    • 3.2 Từ xưng hô góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật nhà văn (67)
  • KẾT LUẬN (77)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về từ xưng hô tiếng Việt

Từ xưng hô đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt trong tiếng Việt, từ góc độ đại cương đến miêu tả và đối chiếu Đỗ Hữu Châu, trong các công trình của mình vào các năm 1982, 1986 và 1987, đã nhấn mạnh chức năng chiếu vật của các từ xưng hô trong hội thoại.

Gần đây, các tác giả như Nguyễn Văn Chiến, Đố Hữu Châu và Bùi Minh Yến đã chú trọng nghiên cứu hoạt động hành chức của các từ xưng hô Đặc biệt, Bùi Minh Yến đã có nhiều bài viết trên Tạp chí và luận án "Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt" (2002), khảo sát đầy đủ các phương tiện ngôn ngữ mà các cặp giao tiếp cá thể sử dụng trong các tình huống khác nhau Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố.

Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu vai trò của từ xưng hô trong tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố giúp làm rõ ý nghĩa và tác động của ngôn ngữ trong việc thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật Việc sử dụng từ xưng hô không chỉ phản ánh đặc điểm văn hóa mà còn góp phần tạo nên chiều sâu cho nội dung tác phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, người viết áp dụng một số phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích và miêu tả được thực hiện dựa trên các tư liệu thu thập, sử dụng thủ pháp luận giải bên trong và bên ngoài để thống kê, phân loại và hệ thống hóa các từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn Các từ này được chia thành các nhóm và tiểu hệ thống nhằm phục vụ cho việc miêu tả, nhận xét và phân tích, từ đó làm rõ đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng qua lời thoại nhân vật Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng các thủ pháp thống kê, tâm lý và văn hóa để lý giải các từ này trong bối cảnh văn hóa.

- Thống kê phân loại: thống kê hệ thống xưng hô được sử dụng trong ngôn ngữ truyện ngắn, dựa trên các tiêu chí mà phân ra từng nhóm

Trong bài viết này, tác giả áp dụng phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa để cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn diện và sâu sắc về hệ thống xưng hô trong tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố Chương 3: Từ xưng hô góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật nhà văn

Các nhân tố giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động giữa hai hoặc nhiều người sử dụng ngôn ngữ tự nhiên để tương tác Các yếu tố quan trọng trong giao tiếp bao gồm ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn, cùng với các câu hỏi như: Ai nói với ai? Ai là người phát ngôn và ai là người tiếp nhận thông điệp?

Ngữ cảnh là yếu tố ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa của phát ngôn,

Ngữ cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn, bao gồm những thông tin cần thiết để hiểu nghĩa của phát ngôn đó Nó bao gồm các thành phần như đối ngôn, tức là những nhân vật tham gia giao tiếp Trong giao tiếp, thuật ngữ ngôn ngữ phân biệt giữa Speaker 1 (người nói) và Speaker 2 (người nghe), và vai trò này luôn thay đổi Mối quan hệ giữa các đối ngôn ảnh hưởng đến cả nội dung và hình thức của cuộc giao tiếp.

- Quan hệ tương tác: Là quan hệ qua lại liên kết giữa những người tham gia giao tiếp, sự liên kết cả về nội dung và hình thức

- Quan hệ liên các nhân: Quan hệ này biểu thị ở khía cạnh :

Trục tung (dọc) đại diện cho vị thế xã hội, thể hiện sự tôn ti và quyền uy, được xác định bởi các yếu tố như địa vị xã hội, tuổi tác và tài sản, đồng thời phản ánh tính bình đẳng hay bất bình đẳng giữa các đối tượng Trong khi đó, trục hoành (khoảng cách) thể hiện mối quan hệ thân cận hay xa lạ, với hai cực quyền uy và thân cận có mối liên hệ chặt chẽ Không phải lúc nào quan hệ cao thấp cũng đồng nghĩa với sự xa cách, và không phải quan hệ bình đẳng luôn dẫn đến sự thân tình Quan hệ thân cận mang tính đối xứng, có thể thay đổi để mở rộng hoặc thu hẹp khoảng cách giữa các bên.

Mục tiêu của giao tiếp là thiết lập mối quan hệ và xây dựng hình ảnh tinh thần về đối tượng giao tiếp Bên cạnh đó, hoàn cảnh giao tiếp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các mối quan hệ này.

Hoàn cảnh giao tiếp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp Đinh Trọng Lạc nhấn mạnh rằng hoàn cảnh giao tiếp có thể mang tính chính thức hoặc không chính thức, và có thể yêu cầu sự chuẩn bị kỹ lưỡng hoặc mang tính thân mật, tự do Ông phân loại hoàn cảnh giao tiếp thành hai loại: theo nghi thức, nơi diễn ra các hành vi giao tiếp nghiêm túc và hoàn chỉnh, và không theo nghi thức, nơi giao tiếp diễn ra một cách thoải mái và tùy tiện Đỗ Hữu Châu mở rộng khái niệm hoàn cảnh giao tiếp, bao gồm các yếu tố vật lý, sinh lý, tâm lý, xã hội và tôn giáo tại thời điểm và không gian diễn ra giao tiếp Trong bài viết này, chúng ta sẽ tập trung vào các khía cạnh cụ thể của hoàn cảnh giao tiếp như địa điểm, trạng thái tâm lý, và mối quan hệ giữa các bên tham gia.

Ngôn ngữ được hiểu là một hệ thống ký hiệu dùng để diễn đạt và truyền đạt thông tin một cách hiệu quả.

Ngôn ngữ điện ảnh là các phương tiện nghệ thuật mà nhà làm phim sử dụng để phản ánh hiện thực, trong khi ngôn ngữ hội họa bao gồm đường nét, màu sắc và hình khối mà họa sĩ dùng để thể hiện thế giới Ngoài ra, ngôn ngữ của loài ong là những vũ điệu mà chúng thực hiện để thông báo về vị trí và số lượng hoa Đôi khi, ngôn ngữ cũng được dùng để chỉ đặc điểm khái quát trong cách sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, một tầng lớp, một lứa tuổi hoặc một phong cách ngôn ngữ cụ thể.

Ngôn ngữ được hiểu phổ biến là hệ thống ký hiệu bao gồm ngữ âm, từ vựng và quy tắc kết hợp từ, được sử dụng bởi các thành viên trong cùng một cộng đồng để giao tiếp Theo cách nhìn định danh, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội với hai khía cạnh chính: ngôn và ngữ.

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giúp cá nhân trong xã hội diễn đạt ý tưởng và cảm xúc thông qua lời nói Lời nói được hình thành từ âm thanh và chứa đựng thông tin, có thể bao gồm một hoặc nhiều câu Trong các xã hội phát triển, ngôn ngữ còn được ghi lại dưới dạng chữ viết, cho phép lưu giữ và truyền đạt thông tin một cách hiệu quả hơn.

Ngữ là một thành phần trừu tượng trong trí óc của một cộng đồng xã hội, thường là một tộc người, và nó được hình thành từ kho tàng thực tế ngôn ngữ của những người trong cùng một cộng đồng.

Diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp xã hội, khác biệt với lời nói cá nhân, vì mọi lời nói đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội Hoạt động này phản ánh trạng thái ngôn ngữ, tri thức và quyền lực trong xã hội Diễn ngôn không chỉ là cách nói mà còn là phương thức biểu đạt về con người, thế giới và các sự kiện trong đời sống Nó thể hiện qua các hình thức ngôn ngữ như thảo luận, tranh tụng, phát biểu và diễn thuyết, đồng thời phản ánh hệ thống tri thức và chân lý phổ biến Diễn ngôn không chỉ là hình thức mà còn là hiện tượng tư tưởng, nơi mà mọi tư tưởng đều được biểu hiện Tư tưởng không tồn tại ngoài diễn ngôn, mà chỉ có thể được hiểu trong dạng thức thực tiễn qua giao tiếp hàng ngày.

Lý thuyết về hội thoại

Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu, hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến và thường xuyên của ngôn ngữ, đồng thời là cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa trên hình thức căn bản này.

: Đoạn truyện là một cuộc hội thoại:

Ông Lý cựu, tại sao ông lại can thiệp vào mọi chuyện như vậy? Nếu ông muốn uống rượu thì cứ việc, đừng bận tâm đến ý kiến của người khác Ông luôn chen vào mọi cuộc bàn luận, khiến cho không ai có thể thảo luận một cách thoải mái.

Lý cựu đặt bát rượu vào mâm và đấm thật mạnh xuống sàn đình

- A! Ông cấm tôi nói à? Quyền ông được thế phải không ông Chánh hội? Chánh hội vểnh bộ mặt hách dịch:

Quyền của tôi là như vậy! Hãy để tôi làm "hiệp dữ lý trưởng" cho vụ thuế năm nay Ai mà cứng đầu sẽ phải chịu trách nhiệm về thuế, tôi sẽ không ngần ngại xử lý!

- Miệng ông, ông nói; đình làng, ông ngồi! Đố thằng nào làm gì được ông!

Hội thoại có nhiều kiểu khác nhau, không phải tất cả đều giống nhau Chúng có sự khác biệt về tính chất, nội dung, hình thức và mục đích.

Thứ nhất, đặc điểm thoại trường là yếu tố quan trọng trong cuộc hội thoại, bao gồm không gian và thời gian diễn ra Thoại trường có thể là nơi công cộng như cuộc họp, hội nghị, chùa, quán giải khát, hoặc không gian riêng tư như trong nhà riêng, giữa vợ và chồng Ngoài ra, thoại trường không chỉ đơn thuần là không gian và thời gian tuyệt đối, mà còn liên quan đến khả năng can thiệp của những người thứ ba vào cuộc hội thoại đang diễn ra.

Thứ hai, ở số lượng người tham gia Có những cuộc hội thoại song thoại

(tay đôi), tam thoại (tay ba), đa thoại (tay tư hoặc nhiều hơn nữa) Tuy nhiên dạng cơ bản của hội thoại là song thoại

Trong hội thoại, cương vị và tư cách của những người tham gia đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là tính chủ động hay thụ động của các đối tác Sự hiện diện hoặc vắng mặt của vai nghe cũng ảnh hưởng đến diễn biến cuộc trò chuyện Nhiều cuộc hội thoại có thể có cặp vai nói/nghe thuộc các lớp khác nhau, và chúng còn được phân loại dựa trên tính chất điều khiển hay không điều khiển.

Các cuộc hội thoại có thể được phân loại thành hai loại chính: có đích và không có đích Những cuộc hội thoại có đích, như ngoại giao, hội thảo khoa học hay họp lớp, thường được xác định rõ ràng về nội dung và mục tiêu trước khi diễn ra Ngược lại, các cuộc trò chuyện hằng ngày như tán gẫu hay chuyện phiếm lại thuộc loại không có đích, nơi mà người tham gia không đặt ra mục tiêu cụ thể cho cuộc hội thoại.

Thứ năm, sự khác biệt giữa các cuộc hội nghị thương thảo và những cuộc trò chuyện đời thường nằm ở tính chất có hình thức hay không Các hội nghị và cuộc họp thường được tổ chức một cách chặt chẽ, trang trọng và có đầu tư, trong khi những cuộc trò chuyện hàng ngày không yêu cầu bất kỳ hình thức tổ chức nào.

Trong một cuộc hội thoại, có năm đơn vị cơ bản: lượt lời, hành động ngôn ngữ, cặp thoại, đoạn thoại và đơn vị cao nhất là cuộc thoại.

Lượt lời là chuỗi đơn vị ngôn ngữ mà một nhân vật trong cuộc hội thoại phát biểu, bắt đầu từ khi nhân vật đó bắt đầu cho đến khi kết thúc phần nói của mình.

Giao tiếp là quá trình mà mỗi người có một lượt lời để phát biểu Người nói sẽ truyền đạt ý kiến của mình và hướng lời nói về phía người nghe, nhằm giúp người nghe nhận biết rằng lượt lời đó dành cho họ.

- A: Bằng ơi mai có còn đi học môn Văn học dân gian không nhỉ?

- B: Có mai vẫn đi học bình thường nhé!

- A: Thế học tiết mấy nhỉ?

Trên đây là hai lượt lời của hai nhân vật A và B luân chuyển cho nhau

Hành động ngôn ngữ là quá trình tạo ra phát ngôn trong giao tiếp, thể hiện tính chất xã hội thông qua sự liên kết và tương tác Nó bao gồm ba phạm trù chính: hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời, được diễn đạt qua các động từ nói năng trong ngôn ngữ.

Cặp thoại là những lượt lời có mối quan hệ chặt chẽ về chức năng và nội dung, có thể liền kề hoặc cách xa nhau Mỗi cặp thoại bao gồm ít nhất một lời trao và một lời đáp Đoạn thoại là phần của cuộc thoại, được hình thành từ các cặp thoại liên kết với nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng Đoạn thoại ngắn nhất chỉ cần một cặp thoại, trong khi đoạn thoại lớn nhất không có giới hạn về số lượng cặp thoại.

Cuộc thoại là đơn vị lớn nhất trong giao tiếp, bao gồm toàn bộ cuộc đối đáp giữa các nhân vật từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc Nó được cấu thành từ nhiều đoạn thoại, mỗi đoạn đều nhằm giải quyết vấn đề trong tình huống hội thoại.

Các tiêu chí để nhận diện một cuộc hội thoại:

 Tính thống nhất về thời gian và địa điểm

 Về đề tài diễn ngôn

 Về ranh giới cuộc thoại

Mô hình cơ bản của một cuộc hội thoại bao gồm ba phần: đoạn mở đầu, các đoạn phát triển nội dung và đoạn kết thúc Tuy nhiên, trong những cuộc hội thoại không điển hình, có thể thiếu một trong các đoạn này.

Từ xưng hô và các tiểu loại từ xưng hô

1.3.1 Khái niệm xưng hô và từ xưng hô

Xưng hô là hành vi ngôn ngữ quan trọng trong giao tiếp giữa các cộng đồng người, được định nghĩa là việc tự xưng mình và gọi người khác để thể hiện mối quan hệ Theo Từ điển tiếng Việt, xưng hô là một phần thiết yếu của lời nói, thể hiện qua sự tương tác giữa con người Hành động xưng cho phép người nói sử dụng ngôn ngữ để xác định vị trí của mình trong cuộc đối thoại, đồng thời thể hiện trách nhiệm về lời nói của mình, từ đó tạo ra sự kết nối và hiểu biết trong giao tiếp.

Hô là hành động mà người nói sử dụng biểu thức ngôn ngữ để kết nối với người nghe trong cuộc thoại Nó bao gồm các biểu thức mà người nói dùng để chỉ định người đối thoại Đặc điểm quan trọng của xưng hô là sự hiện diện của cả người nói và người nghe.

Trong giao tiếp, từ xưng và từ hô là không thể thiếu, ngay cả khi vắng mặt cũng mang ý nghĩa nhất định Ngôn ngữ của một dân tộc phản ánh tư duy, văn học và phong tục riêng, dẫn đến sự khác biệt trong cách sử dụng từ xưng hô Khi giao tiếp bằng ngoại ngữ, người ta thường mang thói quen tư duy bản ngữ vào việc sử dụng từ xưng hô, dẫn đến những sai sót trong ngữ cảnh Trong mỗi giai đoạn lịch sử và cộng đồng khác nhau, cách xưng hô cũng thay đổi Cần phân biệt giữa xưng hô và xưng gọi; xưng gọi là phát ngôn một lần, trong khi xưng hô là hoạt động ngôn từ liên tục Mỗi ngôn ngữ có hệ thống từ xưng hô riêng, thể hiện đặc điểm văn hóa giao tiếp Nghiên cứu từ xưng hô đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm từ cả cấu trúc và chức năng, mở rộng sang ngữ dụng học và xã hội ngôn ngữ học Trong tiếng Việt, việc lựa chọn từ xưng hô chịu áp lực từ chuẩn mực xã hội, với sự phân bố theo quyền thế và lịch sự Thông qua cách sử dụng từ xưng hô, có thể nhận biết thái độ và quan điểm của người tham gia giao tiếp, đồng thời hình thành mối quan hệ tương hỗ và phi tương hỗ trong giao tiếp.

Hiện nay, thuật ngữ Từ xưng hô được nhiều nhà Việt ngữ sử dụng để chỉ các từ, ngữ và cấu trúc ngôn ngữ dùng để chỉ người trong giao tiếp Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt được chia thành hai nhóm: nhóm từ xưng hô chuyên dụng (đại từ nhân xưng) và nhóm từ xưng hô không chuyên dụng (các từ, ngữ thuộc các từ loại khác) Khái niệm từ xưng hô có phạm vi rộng hơn đại từ nhân xưng, bao gồm cả lớp từ xưng hô lâm thời phong phú, đáp ứng nhu cầu giao tiếp và thể hiện đặc trưng văn hóa ứng xử của cộng đồng dân tộc Các nhà Việt ngữ có nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù xưng hô.

Theo Đỗ Hữu Châu, phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi là những phương tiện giúp người nói tự quy chiếu và đưa người giao tiếp vào diễn ngôn Điều này cho thấy phạm trù ngôi liên quan đến quan hệ vai trò trong giao tiếp, với điểm gốc là lời nói.

Nguyễn Văn Chiến định nghĩa rằng "Hệ thống xưng hô bao gồm những từ ngữ được trích xuất từ hệ thống ngôn ngữ, nhằm mục đích xưng hô và thể hiện các phạm trù xưng hô trong giao tiếp xã hội."

Các tác giả đã chỉ ra những đặc điểm của phạm trù xưng hô và từ xưng hô, nhấn mạnh rằng từ xưng hô được sử dụng trong giao tiếp giữa ngôi thứ nhất (người nói) và ngôi thứ hai (người nghe) Ngôi thứ ba chỉ là đối tượng được nhắc đến trong cuộc hội thoại giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, do đó việc sử dụng từ xưng hô là cần thiết.

1.3.2 Phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt

1.3.2.1 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng

Trong tiếng Việt, các từ xưng hô bao gồm đại từ nhân xưng như tôi, tao, mày, nó, hắn, được gọi là từ xưng hô chuyên dụng với chức năng chính là xưng hô Ngoài ra, còn có từ thân tộc như cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em và từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp như giáo sư, tiến sĩ, giám đốc, bác sĩ Những từ này được xem là từ xưng hô lâm thời.

Trong tiếng Việt, đại từ nhân xưng có thể được phân thành 3 loại (theo các ngôi giao tiếp):

+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói):

Số ít: tôi, tao, tớ, mình, ta

Số nhiều: chúng tôi, chúng tao, chúng tớ

+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chỉ người đang giao tiếp cùng):

Số nhiều: chúng mày,chúng ta

+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (chỉ những người không tham gia giao tiếp nhưng được nhắc đến trong cuộc giao tiếp):

Đại từ xưng hô trong tiếng Việt như "họ", "chúng", "chúng nó" không chỉ đơn thuần để xưng hô mà còn thể hiện mối quan hệ giữa các vai giao tiếp, từ chính thức đến không chính thức, và từ thân mật đến xa lạ Ý nghĩa của các đại từ này phụ thuộc vào bối cảnh giao tiếp cụ thể.

Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt là những từ dùng để chỉ người, phục vụ cho việc xưng hô giữa các thành viên trong giao tiếp, bao gồm đại từ ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.

Việt Nam sử dụng đại từ nhân xưng thay thế bằng các danh từ như anh, chị, ông, bà, cha, mẹ, ngài, chàng, nàng, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong cách diễn đạt Điều này mang lại những ý nghĩa biểu cảm và tu từ rất tinh tế.

1.3.2.2 Các từ chỉ quan hệ thân tộc

Trong giao tiếp của người Việt, từ xưng hô thân tộc được sử dụng trong hai phạm vi chính: gia đình và xã hội Phong cách giao tiếp này nhấn mạnh tôn ti trật tự, thể hiện sự phân biệt về vai vế, tuổi tác và mối quan hệ giữa các thành viên trong cùng một thế hệ Bên cạnh đó, danh từ thân tộc còn phản ánh sự phân biệt về giới tính, gia hệ, quan hệ hôn nhân và các mức độ tình cảm trong gia đình.

Xưng hô thân tộc trong gia đình người Việt rất đa dạng và phong phú, phụ thuộc vào tuổi tác và địa vị của các thành viên Cách lựa chọn danh từ thân tộc, như giữa anh chị và em, còn bị ảnh hưởng bởi nhận thức, lứa tuổi, không gian sống (thành thị hay nông thôn), giới tính và quan hệ trong gia đình Sự giáo dục từ nhỏ cũng góp phần giúp các thành viên xưng gọi phù hợp với chuẩn mực ngôn ngữ và văn hóa xã hội Trong gia đình, các danh từ thân tộc thường có cặp từ xưng hô tương ứng, và việc phá vỡ sự tương ứng này mang lại giá trị ngữ nghĩa và ngữ dụng nhất định.

Trong xã hội, việc sử dụng danh từ thân tộc rất đa dạng và phong phú Trong gia tộc, các danh từ này được dùng với ý nghĩa chính xác để xưng hô, nhưng trong giao tiếp xã hội, chúng có sự chuyển biến mạnh mẽ.

< 3 > Chị khẽ gọi: Con 1 vào đây mẹ 1 bảo

Anh bộ độ nói với bà Năm: “Mẹ 2 để con 2 gánh nước cho”

Trong ví dụ trên, "Con 1" thể hiện chức năng xưng hô trong mối quan hệ gia đình, đặc biệt giữa mẹ và con Ngược lại, "Con 2" được sử dụng để xưng hô giữa những người không thuộc phạm vi thân tộc.

ĐẶC ĐIỂM TỪ XƯNG HÔ TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN

Từ xưng hô đich thực

Trong tiếng Việt, ngôi có mối liên hệ chặt chẽ với số, thể hiện vai trò của các nhân vật trong giao tiếp thông qua các từ nhân xưng.

GS Diệp Quang Ban, nhân xưng từ được chia thành ba ngôi :

Ngôi thứ nhất : Quy chiếu đến người nói

Ngôi thứ hai : Quy chiếu đến người nghe

Ngôi thứ ba : Quy chiếu tới người được nói đến

Ngôi luôn có sự biến đổi, tùy thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp

Nhân xưng từ được phân loại dựa trên vai trò của nhân vật trong giao tiếp, đồng thời phản ánh sự phân biệt về số lượng trong từng vai trò và căn cứ vào số từ sử dụng.

Số từ trong tiếng Việt bao gồm số ít (tôi, tao, tớ, mình) và số nhiều (chúng tôi, chúng ta, chúng mày) Để đảm bảo tính ngắn gọn và trực quan, GS Diệp Quang Ban đã trình bày một số từ xưng hô tiêu biểu trong giao tiếp hiện nay trong bảng dưới đây.

Nhân Vật trong giao tiếp Từ xưng hô số ít Từ xưng hô số nhiều

Ngôi thứ nhất Tôi, tao, tớ, ta, mình Chúng tôi, chúng ta, chúng tớ

Ngôi thứ hai Mày, mi Chúng mày, bay, chúng bay

Ngôi thứ ba Nó, hắn, y Chúng nó, chúng

Dựa trên các căn cứ đã xác định, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hệ thống từ xưng hô trong tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố Kết quả cho thấy hệ thống từ xưng hô trong tác phẩm rất phong phú và đa dạng về chủng loại, số lượng và tần số sử dụng Điều này chứng tỏ Ngô Tất Tố đã vận dụng linh hoạt và đặc sắc hệ thống từ xưng hô trên tất cả các tuyến nhân vật.

2.1.1 Hệ thống từ xưng hô ngôi thứ nhất

2.1.1.1 Ngôi thứ nhất số ít

Bảng 1: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít

STT Ngôi thứ nhất số ít Tần suất

Theo bảng thống kê, nhóm từ xưng hô đơn lẻ như "Tôi", "tao", "người ta", "mình", "tớ", và "ta" được sử dụng phổ biến, với tổng cộng 142 lần xuất hiện Trong đó, đại từ "tôi" là từ xuất hiện nhiều nhất.

106 lần dùng, thấp nhất là đại từ “tớ” và “ta” với 5 lượt dùng

Trong nhóm đại từ nhân xưng, "tôi" mang sắc thái trung tính và được sử dụng trong nhiều cách xưng hô khác nhau, như ngang hàng, giữa người trên và người dưới Các đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất số ít bao gồm: "tôi", "tao", "người ta", "mình", "tớ", và "ta" Khi xuất hiện trong hội thoại, các từ này thường kết hợp thành cặp xưng hô, tùy thuộc vào hoàn cảnh và nội dung thông tin mà người nói muốn truyền đạt.

Khi truyền đạt thông tin thông báo, các nhân vật giao tiếp không phân biệt ngôi thứ, địa vị xã hội hay cấp bậc giữa người nói và người nghe Trong những trường hợp này, khi người nói sử dụng đại từ “tôi” và gọi người khác bằng “ông”, “bà”, “bác”, “chị”, thì “tôi” được xem là đại từ chung cho tất cả mọi người.

- Nó là vợ thằng đĩ Dậu chứ thằng gi? Sao ông không giã them cho nó một mẻ? Ông lý tôi mời ông về đây, chỉ cần có thế

Lý trưởng dung đùi ra bộ đắc ý:

Trong bài viết, nhân vật chính nhấn mạnh sự cứng rắn trong việc thực hiện thuế, cho rằng không cần phải kiêng nể ai Ông cho rằng chỉ trong những thời điểm đặc biệt, như khi có sự kiện lớn, họ mới có quyền hành động mạnh mẽ Ông cũng đề cập đến việc có thể trừng phạt những người không tuân theo, thể hiện sự độc quyền và quyền lực của mình trong công việc.

Trong ví dụ trên, từ "tôi" được sử dụng để các chức sắc trong làng, xã xưng hô với nhau Mặc dù có sự phân biệt về chức vụ, nhưng họ đều thuộc cùng một nhóm người có địa vị và giai cấp tương đồng trong xã hội.

- Thế nào? U nó đã sang nhà cụ nghị Quế hay chưa?

- Đã! Tôi ở bên ấy về đây!

- Cụ ấy bằng long đấy chứ ?

- Bằng lòng! Nhưng người ta bắt viết văn tự và bắt đèo theo…

Chị không nỡ nói hết câu, ngập ngừng, chị cởi dài lưng, lấy mảnh giấy tây trao tay cho chồng:

Tôi đã nhờ thầy bên ấy viết văn tự và mong thầy xem xét Ở đây, cách xưng hô "tôi" thể hiện mối quan hệ gia đình giữa vợ chồng anh Dậu.

- Bây giờ bác có muốn đi làm không?

- Ở vú Tôi không phải là người đưa người nhưng nếu bác muốn đi làm vú sữa thì tôi mach cho bác một chỗ

- Thưa bà, thế bà ở đâu?

Tôi là vợ của ông Cửu Xung, hiện đang có việc riêng tại dinh quan Hiện tại, quan đang cần một số người vú sữa, nếu bác có nhu cầu làm việc, tôi có thể giới thiệu.

Trong tác phẩm, đại từ nhân xưng "tao" xuất hiện chỉ 13 lần, nhưng đã phơi bày bộ mặt thật của bọn quan lại xưa Chúng thể hiện sự khinh bỉ, coi thường và thiếu tôn trọng đối với con người, đặc biệt là những người nghèo khổ, nông dân thấp cổ bé họng trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ.

- Con mẹ kia! Bán con bán cái thế nào? Vào mà nói chuyện với bà!

Rón rén, chị Dậu đứng nép vào cửa và ngập ngừng:

- Thưa lạy hai cụ, nhà con túng quá, xin hai cụ cứu giúp con

Bà Nghị nhả miêng bã trầu cầm tay, quai thật dài cặp môi cắn chỉ:

- Chẳng cứu với vớt gì cả? Mày bán đứa con gái tao mua! ” [46; 42]

- Sao bảo nhà mày có con chó cái khôn lắm?

Có, thưa cụ! Nhưng con nó còn rất non, nếu có bán cũng khó có người mua Nếu có người mua, thì đã không cần phải bán con cháu.

- Nó đẻ mấy con? Con nó đã mở mắt chưa?

Bẩm bốn con! Nó đã biết ăn cơm hai hôm nay Con xin cụ cho con hai đồng, lời lãi thế nào con cũng xin vâng Chỉ cần hai phiên chợ nữa, mấy con chó ấy sẽ cứng cát, bán được thì con sẽ nộp cụ.

Tiền tao không phải là vỏ hến mà tao dễ dàng quẳng cho mày Tao không hám lãi của mày đâu Thay vào đó, tao sẵn sàng mua cả con chó cái và đàn chó con với giá một đồng nữa Như vậy, với con bé kia, một đồng sẽ thành hai, và nhà mày sẽ đủ tiền nộp sưu mà không cần phải nuôi chó hay nuôi con Thật là sướng phải không?

Từ xưng hô tao được sử dụng rất linh hoạt và phù hợp với giọng điệu của các nhân vật phản diện

Từ xưng hô thân tộc trong tác phẩm “Tắt Đèn” của tác gủa Ngô Tất Tố

Từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt bao gồm các từ chỉ những người trong gia đình và họ hàng, như ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, con, cháu, cùng với một số danh từ chỉ bạn bè như bạn, đồng chí, ngài, vị Những từ này không chỉ thể hiện vị trí của các nhân vật trong giao tiếp mà còn phản ánh tuổi tác, vị thế xã hội và tình cảm giữa họ Phương tiện xưng hô này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ và ngữ cảnh giao tiếp.

2.2.1 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhât

2.2.1.1 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số ít

Bảng 7: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số ít

STT Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số ít Tần suất

Theo khảo sát của chúng tôi, trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, xưng hô thân tộc ở ngôi thứ nhất chỉ được sử dụng 12 từ, với tổng số lần xuất hiện là rất ít.

208 lần xuất hiện Trong đó từ xuất hiện nhiều nhất là từ “ông” với 51 lần xuất hiện, “con” 46 lần, và ít nhất là từ “anh” 2 lần

Khi muốn truyền đạt lời khuyên hoặc thể hiện quyền lực, người nói thường sử dụng các đại từ như "tao", "ta", "bà", "u" và gọi người nghe bằng "mày", "con" Điều này giúp phân biệt rõ ràng giữa người nói và người nghe, đồng thời thể hiện sự tức giận hoặc không cần giữ lễ.

< 27 > : Đây là cách xưng hô giữa chị Dậu với con trong lúc chuẩn bị dẫn con đến nhà cụ Nghị Quế

Chó lớn và chó con đều bị bắt, khiến cái Tý cảm thấy như con vật ấy sẽ hy sinh cho mình, vì vậy nó ngồi im lặng Tuy nhiên, khi mẹ thúc giục nó phải đi, nó lại tỏ ra nhếch nhác và mếu máo khóc.

- U nhất định bán con đấy ư? U không cho con ở nhà nữa ư? Khốn nạn than con thế này! Trời ơi! Ngày mai con chơi với ai? Con ngủ với ai?

Chị Dậu lã chã hai hàng nước mắt:

U van con, nếu con thương thày, thương u thì hãy đi với u, đừng khóc nữa vì u đang rất đau lòng U đã nuôi con sáu, bảy năm và tốn kém rất nhiều tiền bạc Giờ đây, u phải bán con, điều này khiến u đau đớn vô cùng Nhưng vì không có tiền nộp sưu, thày con lại đau ốm và bị đánh đập, u không thể để thày con khổ thêm nữa U cầu xin con, nếu con có lòng thương thày, thương u thì hãy đi với u!

Trong tác phẩm, từ xưng hô "u" và "con" được sử dụng liên tiếp, thể hiện nỗi khổ đau của nhân vật Chị Dậu không chỉ đau đớn khi phải bán con mà ngay cả Tý, mới chỉ sáu, bảy tuổi, cũng cảm nhận được nỗi đau này.

Còn đây là cách xưng hô của bà Nghị Quế với cái tí

Bà Nghị nổi cơn tam bành:

Mẹ mày đã dạy mày như vậy sao? Nếu cứ giữ thói quen đó, mày sẽ phải trả giá Bà muốn mày hiểu rằng, ngay cả khi ăn cơm chó nhà bà, mày cũng không có giá trị gì Con chó nhà bà còn đáng giá hơn mày, chỉ một đồng thôi Đừng có mà kiêu ngạo với bà!

Từ hai ví dụ trên, có thể nhận thấy rằng cách xưng hô thân tộc không chỉ giới hạn trong gia đình mà còn được áp dụng trong các mối quan hệ xã hội khác.

2.2.1.2 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số nhiều

Bảng 8: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số nhiều

STT Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số nhiều Tần suất

Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy, trong việc sử dụng xưng hô thân tộc ở ngôi thứ nhất số ít, có 4 từ với tổng số lần xuất hiện là 108 lượt.

Chúng con” được sử dụng nhiều nhất với 58 lượt dùng, “chúng cháu” 44 lượt dùng, “ nhà em và nhà con” được sử dụng ít nhất là 3 lượt dùng

Trong xã hội thực dân kết hợp với địa chủ để áp bức và bóc lột, nông dân là những người chịu thiệt thòi nhất, phải làm việc cật lực mà vẫn không đủ ăn Gia đình chị Dậu chỉ có những củ khoai giun thay cơm, điều này cho thấy sự khốn khó của họ Những cuộc đối thoại giữa thằng Dần với mẹ và chị về nỗi đói bụng của nó thật sự rất cảm động và đáng thương.

Thằng Dần với bộ mặt thìu thịu, bỏ đống dễ khoai đứng dậy lung bùng:

Con đã nhặt được ba mẩu khoai ranh từ sáng tới giờ và không thể bới thêm nữa U hãy nhanh chóng đi mua gạo! Hàng xóm đã nấu cơm trưa, còn nhà mình thì vẫn chưa ăn sáng Chúng con đang rất đói!

Ngó con một cách đau đớn, chị Dậu ngọt ngào:

- Con hãy cố nhặt them vài chục mẫu nữa, rồi chị nó luộc cho ăn, chứ u làm gì có tiền đong gạo?

Cách xưng hô của chị Dậu trong lúc găp quan phủ:

- Con lạy quan lớn, chúng con là gái có chồng, quan lớn tha cho…

Quan phủ vừa co tay chị, vừa trả lời:

- Không được! Có chồng mặc kệ có chồng… Ngày mai cho về với chồng

Chị Dậu nhất định cố giằng tay ra và cứ một mực:

- Con lạy quan lớn! Chúng con là gái có chồng, quan lớn tha cho

Dường như cơn hăng nổi lên

Nhưng mà chị này khỏe hơn, vừa giãy giụa vừa buột miệng gắt gỏng:

- Ôi! Nhà ông này mới hay chứ! Có buông ra không thì tôi kêu lên giờ![46;159]

Chị Dậu, mặc dù run sợ trước sự dỗ dành của quan phủ, vẫn lễ phép van lơn và sử dụng cặp từ xưng hô “con/quan lớn” để thể hiện sự tôn trọng đối với bậc quan phụ mẫu Cách xưng hô này không chỉ đúng vai mà còn thể hiện sự kính nể, dù ông quan đang có hành vi sàm sỡ Tuy nhiên, khi bị quan phủ lấn tới, chị Dậu không thể chịu đựng được nữa và buột miệng dùng cặp từ “tôi/nhà ông này”, bộc lộ sự khinh thường và trách móc đối với quan lớn Hành động này cho thấy chị Dậu đã mất niềm tin vào nhân cách của ông quan, khi mà một bậc quan lớn lại giở trò dâm ô với con dân.

2.2.2 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ hai

2.2.2.1 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ hai số ít

Bảng 9: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 2 số ít

STT Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ hai số ít Tần suất

Theo khảo sát của chúng tôi, từ xưng hô thân tộc ở ngôi thứ hai số ít chiếm ưu thế với 20 từ và tổng số lượt sử dụng lên đến 177 Trong số đó, từ "em con, thày em" được sử dụng nhiều nhất với 29 lượt, tiếp theo là "thày nó" với 23 lượt Các từ như "Thầy cháu, anh, u em, thày u " chỉ có từ 2 đến 3 lượt sử dụng.

Trong tác phẩm Tắt đèn, các từ ghép như "Thầy em", "u em", "em con" thể hiện quan niệm về vợ chồng và gia đình người Việt Sự kết hợp giữa từ "nhà" với danh từ thân tộc chỉ vợ/chồng tạo nên một danh xưng bình đẳng, phản ánh tính bình đẳng trong gia đình Việt Nam xưa Cách xưng hô này không chỉ thể hiện lòng âu yếm và sự kính nể mà còn khẳng định niềm chung thủy và nguyện vọng xây dựng một gia đình bền vững, êm đẹp.

< 30 > : nhà cháu, nhà con, nhà em…

- Thày em làm sao thế? Có phải lên cơn sốt rét hay không? Hay là chỗ trói đau quá?

- U nó đã ra đấy ư? Đi lấy cho tôi bát nước Khát lắm, ráo cả họng từ sang đến giờ [46; 57]

Chị Dậu thể hiện sự thân mật và tình cảm khi xưng hô với anh Dậu, cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của chị dành cho chồng, bất chấp hoàn cảnh khó khăn Điều này phản ánh nét đẹp tâm hồn và đức tính chuẩn mực của người phụ nữ Việt Nam.

Luống cuống, chị Dậu vội đứng dậy Một tay giơ bức văn tự, một tay nắm lấy cổ tay cậu cơ, thê thảm, chị nói bằng giọng van lơn :

Các từ là tổ hợp từ trong tác phẩm “ Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố

2.4.1 Các từ xưng hô là tổ hợp từ

Bảng 14: Từ xưng hô là tổ hợp từ

STT Các từ xưng hô là tổ hợp từ Tần suất

Ngô Tất Tố đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ dân dã và chất phác trong tác phẩm "Tắt đèn" để phản ánh chân thực cuộc sống của người nông dân Những câu văn trong tác phẩm mang tính bình dị, gần gũi, giống như lời nói hàng ngày của họ Đặc biệt, các tổ hợp từ dùng để xưng hô trong tác phẩm thể hiện rõ nét sự mộc mạc và chân thành của nhân vật.

< 51 > : bố thằng nào, con mẹ đĩ Dậu, con vợ thằng Dậu…

- Con mẹ đĩ Dậu! Mày đã biết nhục chưa con? Ông còn làm cho bõ ghét mới thôi!

- Chị Dậu lúc ấy hình như tức quá, sắc mặt tái xanh, chỉ cúi gầm xuống, không nói gì cả Lý trưởng lại kè nhè:

Vì vợ chồng nhà mày, hôm qua quan đã hành ông, mày có biết không? Chưa rõ ông sẽ giải quyết việc này ra sao Có lẽ ông sẽ phải tiêu tốn hơn trăm đồng bạc kiếm được từ vụ thuế này, tất cả vì mày.

Bạo dạn chị Dậu bước lên cửa đình, hạ cái mê nón ở trên đầu xuống:

- Chào các cụ, chào các ông

Cả đình đổ xô trông ra Người nhà lí trưởng tráo ngược đôi đúa chỉ vào mặt chị:

- Sưu của anh ấy đủ chưa? Đem mà nộp đi!

Cai lệ vừa cạo hết xái trong lọ, ngẩng đầu trông lên

Chị vợ của thằng ở xóm cuối làng rất cứng cổ và lý sự Hôm nay, nếu không bận đi bắt đứa khác, tôi sẽ biếu chị ấy thêm vài chục quả phật thủ.

- Tôi đã nhờ ông giáo bên ấy viết hộ văn tự rồi đây thầy em coi xem thế nào

Anh Dậu nhận bức văn tự nhưng không thể đưa lên gần mắt vì tay bị trói chặt Chị Dậu phải cầm lấy và đưa chìa lên mặt để chồng lẩm nhẩm đánh vần.

Lý trưởng ngước mắt ngó thấy, cơn lôi đình nổi lên tức thì:

Trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, cảnh làm việc trong mùa thu thuế ở làng Đông Xá được khắc họa rõ nét với hình ảnh các quan làng hống hách và trịnh thượng, thường xuyên đe dọa dân chúng Những câu thoại như "Giấy má gì đấy? Con mẹ đĩ Dậu? Đơn kiện phải không?" thể hiện sự khinh miệt và áp bức mà người dân phải chịu đựng Sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa quan và dân được thể hiện qua những lời lẽ thách thức, như "Có giỏi thì đi kiện ngay ông đi!" tạo nên bức tranh sinh động về cuộc sống trong thời kỳ này.

Cách gọi dân của các quan như “con mẹ đĩ Dậu” hay “con vợ thằng gì” thể hiện thái độ khinh bỉ và coi thường, cho thấy sự thiếu nghi thức trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Những từ ngữ này được sử dụng bởi quan làng trong nhiệm vụ thu thuế cho “nhà nước”, nhưng chính quan lại đã phá vỡ tính nghiêm túc của công việc, chứng tỏ họ không còn đúng với vai trò của mình Điều này phản ánh sự nhố nhăng, thiếu quy tắc và trật tự trong hành vi của quan lại.

Bảng 15: Bảng tổng hợp hệ thống các từ xưng hô

STT Hệ thống các từ xưng hô Số lượng Tỉ lệ

1 Từ xưng hô đích thực 26 25,5

2 Từ xưng hô thân tộc 47 46,1

3 Từ xưng hô chỉ nghề nghiệp, chức vụ 18 17,6

4 Từ xưng hô là tổ hợp từ 11 10,8

Nhìn và bảng tổng hợp hệ thống từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố ta nhận thấy rằng :

1 Từ xưng hô thân tộc được sử dụng nhiều nhất với 47 từ trên tổng số 102 từ chiếm 46%, tiếp đó là từ xưng hô đích thực 26 từ chiếm 25,5%, từ xưng hô chỉ nghề nghiệp chức vụ là 18 từ chiếm 17,6% và ít nhất đó là từ xưng hô là tổ hợp từ 11 từ chiếm 10,8%

2 Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng , hệ thống từ dùng để xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố rất đa dạng và phong phú cả về hình thức lẫn cách thức biểu đạt Điều đó cho thấy sự dồi dào trong kho ngôn ngữ của nhà văn cũng như tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông

3 Ngô Tất Tố đã sử dụng một khối lượng lớn đại từ nhân xưng và khả năng kết hợp của nó với các từ xưng hô khác rất đa dạng, phong phú và linh hoạt tùy thuộc vào từng hoàn cảnh giao tiếp, đồng thời các từ xưng hô trong tác phẩm

Tắt đèn của Ngô Tất Tố mang đến nhiều sắc thái và ý nghĩa khác nhau, làm cho cách xưng hô trong Tiếng Việt trở nên đa dạng và phong phú hơn.

4 Điều đáng lưu ý là trong các từ xưng hô này các danh từ thân tộc chuyển sang làm từ xưng hô lâm thời rất nhiều Điều đó cho thấy quá trình chuyển hóa này đang một dần được thích ứng với quá trình gia đình hóa xã hội mà xưng hô là một trong những yaeeus tố đi đầu trong quá trình giao tiếp người với người

5 Đồng thời trong chương II chúng tôi đã thống kê các danh từ chỉ nghề nghiệp và danh từ chỉ chức danh trong tiếng việt có trong tác phẩm tắt đèn của Ngô Tất Tố

6 Bên cạnh đó danh từ chỉ tên riêng dùng làm phương tiện xưng hô cũng được chúng tôi thống kê với số lượng lớn và được cấu tạo bằng nhiều cách khác nhau, điều đó càng cho thấy tài năng cưa nhà văn khi tạo ra từ xung hô bằng danh từ chỉ tên riêng trong tiếng Việt càng làm cho vố từ xưng hô của nhà văn thêm phong phú và đa dạng nhiều hình thức trong khi xưng hô.

TỪ XƯNG HÔ GÓP PHẦN TẠO NÊN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2005
2. Diệp Quang Ban, Phân tích văn bản (Chuyên đề khoa học giảng cho NCSK15 – Trường Đại học sư phạm Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Trường Đại học sư phạm Hà Nội
3. Đỗ Hữu Châu (1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
4. Đỗ Hữu Châu, Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 3/1982 và Tạp chí Ngôn ngữ, Số 1/1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1982
5. 5, Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB ĐH &amp;THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐH & THCN
Năm: 1987
6. Đỗ Hữu Châu (1992), Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 2, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1992
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiêng Việt, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiêng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1999
9. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Tạp chí ngôn ngữ, Số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 2000
10. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
11. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007
12. Hoàng Thị Châu (1986), Tiếng Việt trên các miền đất nước, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1986
13. Nguyễn Văn Khang (1996), Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, NXB văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 1996
14. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời hội thoại
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
15. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
16. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
18. Bùi Minh Yến (1990), Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt
Tác giả: Bùi Minh Yến
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1990
19. Bùi Minh Yến (1993), Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt
Tác giả: Bùi Minh Yến
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1993
20. Phạm Ngọc Hàm (2004), Đặc điểm và cách sử dụng lớp từ xưng hô tiếng Hán trong sự so ánh với tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm và cách sử dụng lớp từ xưng hô tiếng Hán trong sự so ánh với tiếng Việt
Tác giả: Phạm Ngọc Hàm
Nhà XB: Luận án tiến sĩ ngữ văn
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít (Trang 28)
Bảng 2: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều (Trang 33)
Bảng 6: Đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 số nhiều - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 6 Đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 số nhiều (Trang 39)
Bảng 7: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số ít - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 7 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ nhất số ít (Trang 41)
Bảng 9: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 2 số ít - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 9 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 2 số ít (Trang 45)
Bảng 10: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 2 số nhiều - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 10 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 2 số nhiều (Trang 48)
Bảng 11: Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 3 số ít - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 11 Từ xưng hô thân tộc ngôi thứ 3 số ít (Trang 49)
Bảng 13: Từ xưng hô chỉ nghề nghiệp, chức vụ - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 13 Từ xưng hô chỉ nghề nghiệp, chức vụ (Trang 55)
Bảng 14: Từ xưng hô là tổ hợp từ - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 14 Từ xưng hô là tổ hợp từ (Trang 58)
Bảng 15: Bảng tổng hợp hệ thống các từ xưng hô - Đặc điểm từ xưng hô trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng 15 Bảng tổng hợp hệ thống các từ xưng hô (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w