1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố

110 627 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ii LỜI CẢM ƠN Việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học xã hội để tìm hiểu, đánh giá hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm văn học - c

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUỆ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI

TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUỆ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI

TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn: GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thái Nguyên ngày tháng năm 2015

Người cam đoan

Nguyễn Thị Huệ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ii

LỜI CẢM ƠN

Việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học xã hội để tìm hiểu, đánh giá hành vi

ngôn ngữ trong tác phẩm văn học - cụ thể là hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn

của Ngô Tất Tố là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ và thú vị Đây là bước đi

có tính chất thử nghiệm, vì thế gặp không ít khó khăn

Trước hết, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS Nguyễn Văn Khang đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Em xin Trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, Khoa sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các bạn lớp ngôn ngữ K21 đã động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 thánh 04 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Huệ

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

1.1 Một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ 10

1.1.1 Thuật ngữ giới và giới tính 10

1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới 10

1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới 12

1.2 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ 15

1.2.1 Sự kiện giao tiếp về quan hệ giao tiếp 15

1.2.2 Lý thuyết hội thoại 19

1.2.3 Hành vi ngôn ngữ 22

1.2.4 Hành vi hỏi 26

1.3 Tác giả Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn 29

1.3.1 Tác giả Ngô Tất Tố 29

1.3.2.Tác phẩm Tắt đèn 31

1.4 Tiểu kết chương 1 32

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/iv

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI Ở

GIAO TIẾP GIA ĐÌNH TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA

NGÔ TẤT TỐ 32

2.1 Giới hạn nghiên cứu, khảo sát 32 2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các cặp

vợ chồng 33 2.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ g iớ i qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa

că ̣p vợ chồng nông dân: anh Dâ ̣u và chi ̣ Dâ ̣u 33 2.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua g iao tiếp giữa cặp vợ chồng là địa

chủ: ông Nghị và bà Nghị 38 2.2.3 Đối chiếu đ ặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao

tiếp giữa că ̣p vợ chồng nông dân và că ̣p vợ chồng đi ̣a chủ 41 2.3 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa mẹ

và con cái 43 2.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa chị

Dậu và cái Tý 43 2.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới tính qua hành vi hỏi trong giao tiếp

giữa chị Dậu và thằng Dần 46 2.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp

giữa các că ̣p me ̣ con: chị Dậu với cái Tý và chi ̣ Dâ ̣u với thằng Dần 50 2.4 Tiểu kết chương 2 52

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NG Ữ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI Ở

GIAO TIẾP XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ

TẤT TỐ 54

3.1 Giới hạn nghiên cứu, khảo sát 54 3.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua giao tiếp giữa những người cùng giới 55 3.2.1 Đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa

những người cùng giới, ngang quyền 55 3.2.2 Đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa

những người cùng giới, không ngang quyền 60 3.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏi trong giao

tiếp của những người cùng giới ngang quyền và không ngang quyền 65

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/v

3.3 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa những

người khác giới 69

3.3.1 Đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa những người khác giới, ngang quyền 69

3.3.2 Đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa những người khác giới, không ngang quyền 73

3.3.3 Đối chi ếu đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của những người khác giới ngang quyền và không ngang quyền 82

3.4 Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/1

1.2 Chọn các tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố làm tư liệu nghiên cứu là vì:

- Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam, một trong những kiện tướng tiên phong của trào lưu văn học hiện thực phê phán Chỉ với ba thập kỉ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và

có giá trị trên nhiều lĩnh vực như báo chí, dịch thuật mà đặc biệt là văn học

- Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà

văn Ngô Tất Tố cũng là của nền văn học Việt Nam hiện đại Đây là một tác phẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ xx dưới ách đô hộ của thực dân Pháp

Kể từ khi ra đời cho đến nay, Tắt đèn không chỉ hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả

mà còn thu hút đuợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu phê bình

- Tiểu thuyết Tắt đèn cũng là một trong số không nhiều tác phẩm hiện

thực phê phán 1930-1945 đã được đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/2

sở, với đoạn trích “ tức nước vỡ bờ ”(ngữ văn lớp 8 tập 1) Đặc biệt, tác phẩm

Tắt đèn cùng với cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ngô Tất Tố đã được đưa

vào giảng dạy một số trường đại học sư phạm, các trường khoa học xã hội và nhân văn của nước ta

- Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tắt đèn, xét ở hai

phương diện nôi dung và nghệ thuật, song chưa có công trình nào nghiên cứu

về đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm này

1.3 Giao tiếp là hoạt động không thể thiếu đối với con người và xã hội loại người Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người trao đổi thông tin, nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động Giao tiếp đi vào mọi mặt của đời sống con người, từ việc thiết lập các mối quan hệ của con người đến việc lao động, sản xuất, đấu tranh, sáng tạo khoa học, nghệ thuật Giao tiếp làm thúc đẩy sự phát triển của xã hội Đối với tác phẩm văn học, giao tiếp là một trong những yếu tố giúp người đọc khám phá được tính cách của các nhân vật, góp phần vào việc tìm hiểu đánh giá nhân vật nói riêng và tác phẩm văn học nói chung

1.4 Hỏi là hành vi thường xuyên được sử dụng trong giao tiếp nói

chung Đối với người Việt Nam, hành vi hỏi được sử dụng với nhiều hiệu lực

ở lời khác nhau tạo nên hiệu quả giao tiếp phong phú Hành vi hỏi không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin trong cuô ̣c sống mà làm cho mối quan hê ̣ giữa

những người giao tiếp thêm hiểu biết lẫn nhau Trong tác phẩm văn ho ̣c thì hỏi là một hành vi phổ biến , góp phần thể hiện tính cách , đă ̣c điểm, cuô ̣c sống của nhân vật cũng như góp phần vào sự thành công của tác phẩm nói chung và về ngôn ngữ nói riêng

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/3

- Với những Lý do trên, đề tài đă ̣c điểm ngôn ngƣ̃ giới qua hành vi hỏi

trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã được chọn làm hướng nghiên cứu

của luận văn này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới

Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu

Ở trên thế giới, đối với lĩnh vực ngôn ngữ, phải chờ đến đầu thế kỉ XX, những

ấn tượng về sự khác biệt giới trong ngôn ngữ mới được dẫn ra một cách cụ thể,

có bằng chứng nhờ sự quan sát, khảo cứu của E.Saprir đối với việc sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ của người Yana và O.Jersperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh Nhưng người thực sự mở đường cho nghiên cứu này

là R.Lakoff với tác phẩm Language and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ trong xã hội), NXB Harper and Row (1975) Trong công trình này, bà đã nghiên cứu mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và giới ở các bình diện cấu trúc - hệ thống (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và bình diện giao tiếp Có thể khẳng định rằng R.Lakoff đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho ngôn ngữ học nói chung, ngôn ngữ học xã hội nói riêng Trên nền tảng nghiên cứu ngôn ngữ và giới, các nghiên cứu sau R.Lakoff, một mặt tiếp thu những nội dung mà tác giả đã nghiên cứu để từ đó phát triển và đưa ra những hướng nghiên cứu mới về giới Trong đó, đáng chú ý là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới trong giao tiếp: coi giới là một nhân tố tác động đến giao tiếp Sau này, tất cả các công trình về ngôn ngữ học xã hội đều có một chương riêng

về ngôn ngữ và giới tính

Ở Việt Nam người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học xã hội là tác giả

Nguyễn Văn Khang với các công trình nghiên cứu như: Ứng xử ngôn ngữ trong

giao tiếp gia đình người Việt, Nxb văn hóa Thông tin, 1996; Nguyễn Văn

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/4

Khang (1999), Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình người

Việt, đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong giao tiếp nói chung

và giao tiếp gia đình nói riêng Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những lí

giải để khẳng định rằng: “Yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp

ngôn ngữ Nó tồn tại từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến việc lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp thì giới tính được bộc lộ” [26, tr.187] Trên cơ sở đó, tác giả đã cho ra đời nhiều công trình nghiên

cứu về mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ như: Kế hoạch hóa ngôn ngữ - Ngôn

ngữ học xã hội vĩ mô, Nxb Khoa học xã hội, 2003; Tiếp đó là các công trình

như “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính”, Nxb khoa học xã hội,

Hà Nội, 2003 “ Ngôn ngữ học xã hội-những vấn đề cơ bản”, Nxb Khoa học xã hội, 1999; đặc biệt là cuốn Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam,

2012 Trong tác phẩm này, tác giả đã dành hẳn một chương để trình bày về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới như nghiên cứu về ngôn ngữ và giới trước

Rlakoff, nghiên cứu của Rlakoff và sau Rlakoff Ngoài ra tác giả còn trình bày

những nghiên cứu về kì thị và chống kì thị về giới thể hiện trong ngôn ngữ Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên của tác giả Nguyễn Văn Khang được xem như là một sự khởi đầu cho hàng loạt các nghiên cứu ngôn ngữ và giới ở Việt Nam sau này dưới các góc độ khác nhau

Tiếp đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã đi theo

hướng này như: Vũ Thị Thanh Hương (1999), Giới tính và lịch sự, Ngôn ngữ,

số 8, tr 1-12; Lương Văn Hy (chủ biên) (2000),“Ngôn từ, giới và nhóm xã hội

từ thực tiễn tiếng Việt”, Nxb Khoa học xã hội HN; Nguyễn Đức Thắng (2002)

“Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt”, tạp chí ngôn ngữ số 2; Đỗ Thu Lan (2006), Tác động của nhân tố giới tính với việc sử dụng

ngôn ngữ trong giao tiếp, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Hoa

(2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH Vinh; Lê Hồng Linh (2010), Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong tiếng

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/5

Việt và tiếng Anh, tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 1; Nguyễn Thị Trà My

(2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của

người Việt, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Hoàng Thị Tưới

(2011), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua

tác phẩm của Nam Cao, Đại học Hải Phòng; Phạm Thị Hà (2013), “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen” Đa số các công trình trên đều coi giới tính là một nhân tố xã hội quan

trọng khi nghiên cứu về ngôn ngữ, đặc biệt là giới có sự tác động đến giao tiếp ngôn ngữ của người Việt Những công trình này cung cấp cho chúng tôi thêm những định hướng để triển khai đề tài

Ngữ du ̣ng ho ̣c xuất hiê ̣n trên thế giới từ nửa đầu thế kỉ XX với hàng loạt các nhà nghiên cứu có tên tuổi: J.L.Austin, J.R Searle, JJ Katz, Ballmer Ở Việt Nam những người mở đường cho ngành ngữ dụng học như Đỗ Hữu Châu (1993, 2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000)

Sau đó, trên cơ sở lý thuyết của ngữ dụng học đã có nh iều công trình nhiều luận văn, luận án, bài viết nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ cụ thể của tiếng Việt như Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải Yến với đề tài

về hành vi cam kết, chê, cảm thán; Nguyễn Thị Hoài Linh (2003), Nguyễn Thu Hạnh (2005) khảo sát hành vi ngôn ngữ " mách" và " trách"

Trong nghiên cứu về các hành vi ngôn ngữ thì hỏi là mô ̣t trong những hành vi ngôn ngữ được nhiều người quan tâm , trong đó có các tác giả như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Hồ Lê, Lê Đông, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng Sửu Tác

giả Lê Đông (1996) trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu

hỏi chính danh” đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi, tiền đề và câu

hỏi, tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt trong ngữ cảnh

thực Năm 1991,Giáo sư Cao Xuân Hạo trong công trình “Sơ thảo ngữ pháp

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/6

chức năng” đã phân tích hiệu lực ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu

nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi Gần đây nhất là tác giả

Nguyễn Đăng Sửu (2002) nghiên cứu Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với

tiếng Việt Sau đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã nghiên

cứu về hành vi hỏi như: Phùng Thị Thanh (2000), Phát ngôn hỏi trong hội

thoại dạy học ở trường THPT (qua giờ giảng văn và tiếng Việt), luận án thạc sĩ,

ĐHSP Hà Nội Nguyễn Lê Lương (2006), Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua

hành vi hỏi ( trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước 1945), luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh

2.3 Tình hình nghiên cứu chung về Ngô Tất Tố

Sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố kéo dài gần 30 năm, từ 1923 đến

1951 Song thành tựu văn chương của ông tập trung chủ yếu trong giai đoạn

1930-1945, với những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn (1939), lều chõng (1940), và tập phóng sự Việc làng (1940)

Quá trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố kể từ những bài phê bình về tác

phẩm Tắt đèn Mở đầu là bài viết của Vũ Trọng Phụng với nhan đề “Tắt đèn

của Ngô Tất Tố”, được đăng trên báo thời vụ số 100, ngày 31-1-1939.Vũ Trọng

Phụng đã khẳng định giá trị nhiều mặt của Tắt đèn và hết lòng ngợi ca « Tắt

đèn là cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội- điều ấy cố nhiên là hoàn toàn phụng

sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tác giả có cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống nhiều ở thôn quê nên có đủ thẩm quyền » [22, tr 200]

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, Tắt đèn của

Ngô Tất Tố đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Từ đó tên tuổi và sự nghiệp văn học của Ngô Tất Tố càng thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình Sau khi nhà văn qua đời trên con đường kháng chiến (1954) thì có rất nhiều bài tiếp

tục nghiên cứu, giới thiệu về ông như: Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/7

văn nghệ số 54, tháng 8, năm 1954; Đọc lại việc làng của Bùi Huy Phồn (Tạp chí văn nghệ số 8, tháng 1, năm 1958) … đặc biệt là toàn tập Ngô Tất Tố

(1996) do giáo sư Phan Cư Đệ tuyển chọn và giới thiệu

Bước sang thời kỳ đổi mới, vị trí của Ngô Tất Tố vẫn được khẳng định

trên văn đàn Các bài báo như: Ngô Tất Tố nhà văn hóa lỗi lạc của Hoài Việt;

Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay của Phan Cư Đệ…đã khẳng định

vai trò của nhà văn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai Đến năm 2000, nhà

xuất bản Giáo dục đã cho in cuốn Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm do hai nhà

nghiên cứu Mai Hương và Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu Đây là công trình tập hợp đầy đủ các bài viết, bài nghiên cứu, hồi ức, tưởng niệm của bạn bè, đồng nghiệp, người thân về Ngô tất Tố

Như vậy, hơn bảy thập kỷ trôi qua, kể từ bài viết của Vũ Trọng Phụng về

tiểu thuyết Tắt đèn (1939) đến nay, đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên

cứu về Ngô Tất Tố Hầu hết các công trình nghiên cứu đề khẳng định Ngô Tất Tố

là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng và là một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt nam hiện đại

Đối với tác phẩm Tắt đèn thì phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập

trung khai thác ở giá trị nội dung, nghệ thuật mà ít nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ Do đó, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu về hành vi hỏi trong

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những nội dung lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài đó

là lý thuyết về giới trong ngôn ngữ học xã hội; lý thuyết về giao tiếp, về hô ̣i thoại, về hành vi ngôn ngữ và hành vi hỏi

- Khảo sát đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi ở giao tiếp gia đình,

trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất tố

- Khảo sát đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hà nh vi hỏi ở giao tiếp xã hội,

trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

- So sánh, đối chiếu rồi rút ra nh ững kết luận về đă ̣c điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp gia đình và xã hội ở tác phẩm này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản sau:

4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Sau khi khảo sát toàn bộ tiêu thuyết Tắt đèn, chúng tôi tiến hành khảo

sát, thống kê, phân loại các cặp giao tiếp, các hành vi hỏi trực tiếp và gián tiếp

4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Bằng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích các cuộc giao tiếp,

các hành vi hỏi của các nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn

4.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Từ sự phân loại thống kê, chúng tôi phân tích ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật qua hành vi hỏi , nhìn từ góc độ giới Qua đó tổng hợp khái quát thành những đặc điểm phong cách ngôn ngữ giới ở giao tiếp trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

4.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Sau khi khảo sát, phân tích, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu hành vi hỏi ở các phạm trù giao tiếp để tìm ra sự tương đồng, khác biệt về đặc điểm

ngôn ngữ giới trong tác phẩm Tắt đèn

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/9

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đă ̣c điểm ngôn ng ữ giới qua hành

vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố,

xuất bản năm 2013 (tái bản), gồm 27 chương, 279 trang, khổ 13 x 19 cm, Nxb Văn Học, Hà nội

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về lí luận

Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lí luận về giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp tiếng Việt Luận văn cũng cung cấp thêm lý thuyết khi tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm văn học, đặc biệt là dưới gốc độ giới Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu này còn có thể là cơ sở cho các lĩnh vực nghiên cứu khác về con người như tâm lí học, nhân chủng học

6.2 Về thực tiễn

Với việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ trong tác phẩm

Tắt đèn nhìn từ góc độ giới góp phần vào việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm Tắt đèn nói riêng và các tác phẩm văn học nói chung

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xă hội, khi cần tìm hiểu tác phẩm văn chương Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng vào việc biên soạn tài li ệu ngữ văn, phục vụ cho hoạt động dạy và học trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương: Chương 1 Cơ sở lý thuyết

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/10

Chương 2 Đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi ở giao tiếp gia đình

trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Chương 3 Đặc điểm giới ngôn ng ữ qua hành vi hỏi ở giao tiếp xã hội

trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ

1.1.1 Thuật ngữ giới và giới tính

Giới tính và giới là hai khái niệm liên quan nhưng có nội hàm khác nhau

Trong tiếng Anh có hai từ tương đương với giới tính và giới là sex và gender

Sex được giải thích là “tình trạng là đực hay là cái” Gender được giải thích là

“(i) Sự phân chia danh từ hay đại từ thành giống đực và giống cái; (ii) Sự phân chia về giới tính” Theo các nhà khoa học, nam giới và nữ giới khác nhau ở hai

khía cạnh: thể chất (sinh lý học) và xã hội

Như vậy, Giới tính (giống) là khái niệm chỉ sự nhau về mặt thể chất, sinh

lý giữa nam và nữ Giới là khái niệm chỉ sự khác biệt về mối quan hệ, địa vị,

chức năng xã hội của nam và nữ trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể

1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới

Vấn đề giới/ giới tính liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người

như nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử, xã hội, văn hóa Về mặt lí luận

“giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ chủng tộc, trong tầng bậc xã hội, luật pháp và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp

xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phong cách xử sự, quan niệm về cái tôi, phân bố nguồn lực, các giá trị đạo đức và thẩm mĩ và đạo đức và nhiều lĩnh vực khác nữa Về mặt thực tiễn, vấn đề giới liên quan mật thiết đến sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia đình và ngoài xã hội giữa nam và nữ vì thế chúng trở thành đối tượng nghiên

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/11

cứu của nhiều ngành, trong đó đáng chú ý là các ngành như nhân chủng học, xã

hội học, dân tộc học, ngôn ngữ học [29, tr 243]

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học xã hội Với hai hướng tiếp cận: ngôn ngữ của mỗi giới và ngôn ngữ nói về mỗi giới, các công trình nghiên cứu và khảo nghiệm đã khẳng định rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, đồng thời chỉ ra sự khác biệt

về ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới

Hướng thứ nhất là về ngôn ngữ của giới xác nhận sự khác biệt thể hiện trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa nam và nữ trên các phương diện: đặc điểm sinh

lý cấu âm, đặc trưng về âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ Chẳng hạn, xét về mặt cấu âm, các các cụm từ đánh giá giọng nói trong tiếng Việt như

“giọng ồm ồm như đàn ông ",“giọng the thé như đàn bà“.Về sinh lí, bộ máy phát

âm của nam, nữ khác nhau, Ví dụ, dây thanh của nữ ngắn và mỏng, lỏng hơn của nam [29, tr 243] Nhà ngôn ngữ học người Mỹ R.Lakoff (1975) trên cơ sở khảo sát cách sử dụng tiếng Anh của nữ giới trung lưu ở Mỹ trong môi trường sống và làm việc của họ đã rút ra một số kết luận: nữ giới có khuynh hướng lên giọng ở cuối câu, sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín, hay dùng cách nói rào đón, nghiêng về tính lịch sự nhưng thiếu óc hài hước so với nam giới

Hướng thứ hai là về giới trong ngôn ngữ, những nghiên cứu lại cho thấy

những dấu hiệu thể hiện sự phân biệt đối xử trong ngôn ngữ là bất bình đẳng nghiêng về nữ giới Sự bất bình đẳng này thể hiện rõ nhất ở phương diện cấu tạo

từ Chẳng hạn, trong tiếng Anh có hai cách xưng gọi nữ giới là để phân biệt gái

chưa chồng (Ms), và gái có chồng (Mrs), trong khi đó nam giới chỉ cần một cách xưng gọi là là Mr Trong ngôn ngữ phương Đông như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Nhật chỉ có từ tiết phụ (người đàn bà tiết thủ khi chồng chết) mà không có từ tiết

phu (người đàn ông vợ chết) Điều đó cho thấy một quan niệm “trọng nam khinh

nữ trong ngôn ngữ’’ Ở những ngôn ngữ có phạm trù giống như tiếng Nga, tiếng Đức, các từ gọi tên nghề nghiệp, danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng thường ở dạng thức giống đực nhiều hơn giống cái; các danh từ giống đực có thể bao hàm cho cả hai giới (hiện tượng này không xảy ra với các danh từ giống cái) [51, tr 151]

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/12

Từ các hướng nghiên cứu trên, nổi lên ba vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính:

1/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới là do cấu tạo cơ thể người như vị trí của phần ngôn ngữ ở trong não, đặc điểm sinh lí cấu âm như giọng nói, tần số HZ, khác nhau giữa nam và nữ

Ví dụ, Theo Gison và Ramasaran (1989), âm vực của nam từ từ 100-150

Hz, còn âm vực của nữ là từ 200-325 Hz [29, tr.243, 244]

2/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới còn thể hiện ở ngôn ngữ để nói về mỗi giới Ví dụ trong tiếng Việt, sự phân phân định cá danh từ, đại từ cho mỗi giới để tạo thành cặp tương ứng như ông - bà, cha - mẹ, anh- chị, cậu-

mợ, [ 29, tr 245] Đặc biệt hơn, dường như trong mỗi ngôn ngữ đều có những

từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà không thể dùng cho giới khác, hoặc chỉ giới này sử dụng thì phù hợp.Ví dụ, trong tiếng Việt, các tính từ như yểu điệu, thướt tha, dịu hiền, chua ngoa, đanh đá thiên về chỉ nữ giới [29, tr 246]

3/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng, hay còn gọi là phong cách ngôn ngữ của mỗi giới Ví dụ nữ giới thường thích dùng nhiều từ chỉ màu sắc trong khi đó nam giới lại ít dùng

từ chỉ màu sắc [32, tr 34]

Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung đi vào vấn

đề thứ ba ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng (phong cách ngôn ngữ của mỗi giới), hai vấn đề còn lại được xem xét gắn với vai giao tiếp trong từng hoàn

cảnh hội thoại cụ thể

1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ sử dụng những kí hiệu hữu hạn để biểu thị thế giới khách quan vô hạn, cộng với chức năng là công cụ giao tiếp và tư duy nên ngôn ngữ là của chung mọi người trong cộng đồng, theo đó cũng là của chung của cả nam và nữ Tuy nhiên, ở một góc độ khác, là tấm gương phản ánh xã hội, sự phân chia loài người thành "hai nửa" giới nam và giới nữ thì tất nhiên sẽ có sự khác nhau ở mặt ngôn ngữ Sự khác nhau trong sử dụng ngôn

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/13

ngữ ở mỗi giới (nam và nữ) đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu John Gray đã dùng hình ảnh “đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim” để ví sự khác biệt ngôn ngữ giữa nam và nữ [29, tr 237] Tuy trong thực tế, chúng ta không đến

từ những hành tinh khác nhau nhưng những khác biệt đó chỉ có thể được nhận diện khi đàn ông và đàn bà cùng chung sống trong một không gian xã hội nhất định, đặc biệt là trong sự tương tác chéo

Mặc dù trước đó, trong các công trình nghiên cứu của E.d Sapir, O.Jersperson, đã có đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và giới nhưng phải chờ đến

R Lakoff thì vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới mới được nghiên

cứu một cách hệ thống Với cuốn "Language and woman’s place" (Ngôn ngữ

và vị trí của người phụ nữ), có thể khẳng định rằng, Robin Lakoff là người tiên phong trong những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn và giới, R.Lakoff tập trung vào

phong cách ngôn ngữ giới nữ Đương nhiên, khi nói đến phong cách ngôn ngữ của nữ giới cũng là ngầm so sánh với phong cách ngôn ngữ của nam giới Về phong cách ngôn ngữ của nữ giới, R.Lakoff nghiên cứu cách phát âm, cách sử dụng từ, cách sử dụng câu cũng như cách diễn đạt Dựa vào quá trình xem xét nội quan và khả năng trực giác của mình, R.Lakoff đã đề xuất một nhóm những đặc trưng nổi bật về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và phong cách diễn đạt để nhận diện ngôn ngữ của phụ nữ Những vấn đề này đã được tác giả Nguyễn Văn Khang trình bày cụ thể trong cuốn ngôn ngữ học xã hội (nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2012), như sau:

Thứ nhất về ngữ âm: 1/Phụ nữ phát âm chuẩn mực hơn nam giới; 2/Phụ

nữ sử dụng khá đa dạng cao độ, ngữ điệu trong giao tiếp cũng như cách thể

hiện sự cường điệu hóa, dùng trong dấu “…” mà Lakoff gọi đó là speaking in

italics (nhấn âm) tạo thành câu hỏi cho những phát ngôn tường thuật; 3/ Phụ nữ

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/14

khi phát âm các nguyên âm dòng trước thường đẩy vị trí của lưỡi ra phía trước nhiều hơn (so với nam) và khi phát âm các nguyên âm dòng sau, phụ nữ thường đẩy vị trí của lưỡi ra phía sau nhiều hơn (so với nam); 4/ Phụ nữ thích sử dụng ngôn điệu khi nói các câu trần thuật; 5/ Phụ nữ hay lên giọng ở cuối câu Chẳng hạn, phụ nữ thiên về sử dụng ngữ điệu lên giọng tạo thành câu hỏi cho những phát ngôn tường thuật Ví dụ: Excuse me, you are standing on my foot? (Xin lỗi, ngài đang giẫm lên chân tôi)

Thứ hai về từ vựng: 1/ Phụ nữ có vựng phong phú hơn trong một số lĩnh vực phù hợp với phụ nữ như nấu nướng, may vá 2/ Phụ nữ có xu hướng thích

sử dụng những từ ngữ chỉ màu sắc chính xác (như beige “màu be”, aquamarine

“ngọc bích, cánh sen”, lavender “tím nhạt”, mauve “tím hồng”, ecru “vàng

xám”); 3/ Phụ nữ ưa sử dụng các từ đệm, từ cảm thán ở dạng trung tính, nhẹ

nhàng như oh dear ( trời /trời ơi/ eo ơi,), trong khi đàn ông thường ưa dùng những dạng thức ngôn ngữ thô thiển và có phần tục tĩu hơn như shit (mẹ kiếp,

chó chết, chết tiệt); 4 /Phụ nữ thường dùng các từ tăng cường để nhấn mạnh

như so, very, really, absolutely,… Ví dụ, phụ nữ thích cách nói kiểu That was

so nice; How absolutely marvellous; so intelligent nhằm tăng hiệu quả giao

tiếp, đồng thời lại thích sử dụng cách giảm nhẹ như kind of (kiểu như, hơi hơi) trong kind of difficult (hơi hơi khó) để làm dịu căng thẳng; 5/ Phụ nữ thường

dùng các từ tự do như sor of, I guess, I thin (Đối với những từ thiên về bộc lộ cảm xúc hơn là cung cấp thông tin, phụ nữ thường sử dụng một số từ “dịu

dàng” như adorable (thay vì great), charming (thay vì terrific), sweet (thay vì

coll), lovely, divine (thay vì neat)

Thứ ba, về ngữ pháp, cách giao tiếp: 1/Phụ nữ ưa sử dụng câu hỏi đính kèm nhằm thuyết phục và làm "mềm hóa" phát ngôn Nhìn về bề mặt phát ngôn, người ta có thể cảm giác tính không chắc chắn nhưng thực tế hiệu quả giao tiếp lại rất cao, theo kiểu “lạt mềm buộc chặt" Ví dụ: John is here, isn’t

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/15

John? (Giôn ở đây, có phải không?); 2/ Phụ nữ thường đưa ra những yêu cầu ở

dạng kết hợp và gián tiếp để thể hiện tính lịch sự Ví dụ: I wonder if you would

mind handing me that book (Tôi phân vân rằng liệu có làm phiền ngài lắm

không khi tôi muốn mượn cuốn sách đó); 3/ Phụ nữ dùng nhiều cách nói mang

tính nghi lễ (lịch sự) như please, thanh you, you are so kind và hình thức cầu

khiến phức hợp 4/ Phụ nữ thường sử dụng một số từ và cấu trúc như well, you

know,…nghe có vẻ như một lời phân trần, một hành vi rào đón để làm giảm áp

lực của thông tin [29, tr 239, 240, 241]

1.2 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ

1.2.1 Sự kiện giao tiếp về quan hệ giao tiếp

1.2.1.1 Sự kiện giao tiếp

“Sự kiện giao tiếp (speech event) là đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ”[29, tr 353] Người tham gia giao tiếp bên cạnh năng

lực tạo mã và giải mã thích hợp thì còn phải có năng lực nhận diện được sự kiện giao tiếp hay nói khác đi là phải nhận diện được sự tham gia và chi phối

của các nhân tố giao tiếp

D Hymes đã xuất một cấu trúc dân tộc học của một sự kiện giao tiếp bao gồm tám thành tố Tám thành tố này được viết tắt bằng tám chữ cái làm thành

từ SPEAKING Cũng có thể xem đây là tám nhân tố tham gia và chi phối một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ

1/ Chu cảnh (S): Là nhân tố gồm hai tiểu nhân tố là: khung cảnh và hiện

trường Khung cảnh chỉ thời gian và địa điểm xảy ra giao tiếp (tức chu cản vật

lí cụ thể) Nó gồm môi trường, vật chất cụ thể phát sinh trong hoạt động giao tiếp Hiện trường chỉ hoàn cảnh tâm lí hoặc giới hạn về mặt văn hóa của hoạt động giao tiếp Trong một khung cảnh nhất định người giao tiếp có thể tự do thay đổi hiện trường Chu cảnh nói khác đi chính là hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là một nhân tố cơ bản và có tác động quan trọng đến nội dung thông tin trong một cuộc giao tiếp Đây là những điều kiện về mặt

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/16

không gian, thời gian xã hội diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp chia thành hai loại là: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp

Hoàn cảnh giao tiếp rộng là toàn bộ những hiểu biết của nhân vật giao tiếp

về phong tục, tập quán, văn hoá, chính trị, xã hội của một dân tộc Hoàn cảnh giao tiếp rộng được những nhân vật giao tiếp nhận thức Hoàn cảnh giao tiếp hẹp chính là không gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp Nó chính là môi trường giao tiếp cụ thể như giảng đường, lớp học, nhà trường, chùa chiền, chợ búa, quán xá, Hoàn cảnh hẹp chính là yếu tố tạo thành ngữ cảnh cho cuộc giao tiếp

2/ Người tham dự (P): Là những người trực tiếp tham gia vào cuộc giao tiếp Người tham dự giữ bốn vai là người nói (addressor), người nghe (listener), người phát ngôn (speaker), người thụ ngôn (addressee) Trong giao tiếp, những người giao tiếp có thể phối hợp vai một cách linh hoạt speaker -

listener; addressor - addressee; sender - receiver Trong trường hợp giao tiếp

là cặp đôi thì sự kết hợp vai là addressor - listener; speaker - addressee Người

nói và người nghe là những người nắm được các quy tắc giao tiếp, cụ thể là các

quy tắc về mặt phát ngôn và nhận ngôn

Trong hoạt động giao tiếp, nhân vật giao tiếp bị ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau về tất cả các mặt nhưng chủ yếu là mặt ngôn ngữ Bằng ngôn ngữ các nhân vật giao tiếp làm thay đổi tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thái độ của nhau Thông qua giao tiếp, khoảng cách giữa các nhân vật tham gia giao tiếp sẽ được rút ngắn lại và tạo ra mối quan hệ hòa hợp

3/ Mục đích (E): Là chỉ kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của

hoạt động giao tiếp và mục đích cá nhân của người tham dự Nó xuất phát từ hai phương diện: kết quả (gồm kết quả có thể dự đoán và kết quả không thể dự đoán) và đích (đích nói chung và đích cá nhân) Mục đích giao tiếp là đích mà các nhân vật giao tiếp hướng tới trong một cuộc giao tiếp Giao tiếp hướng tới nhiều đích khác nhau

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/17

4/ Chuỗi hành vi (A): Là yếu tố chỉ hình thức và nội dung của cuộc giao

tiếp Đây là yếu tố hợp thành đối tượng giao tiếp hay còn gọi là hiện thực được nói tới trong giao tiếp Hiện thực giao tiếp chính là nội dung, đề tài mà cả người nói và người nghe cùng quan tâm Hiện thực này bao gồm các sự việc, sự kiện, tâm trạng, tình cảm của con người Đây là nhân tố khá đa dạng trong nhiều lĩnh vực của đời sống con người

5/ Phương thức (K): Phương thức diễn đạt chỉ ngữ điệu (tone), cách (maner) và những trạng thái tinh thần chứa đựng trong thông tin như trang

trọng, nghiêm túc hay thân mật, suồng sã Cách diễn đạt có thể dùng ngôn ngữ

để biểu thị hoặc cũng có thể dùng những hành vi phi ngôn ngữ để biểu thị

6/ Phương tiện (I): Phương tiện chỉ kênh giao tiếp (channel) như nói, viết, điện báo hoặc hình thức giao tiếp (form of speech) đó là việc vận dụng

ngôn ngữ, phương ngữ, phong cách Trong một cuộc giao tiếp người ta có thể

sử dụng nhiều kênh giao tiếp khác nhau Việc lựa chọn kênh giao tiếp nào là tùy thuộc vào ngữ cảnh và mục đích giao tiếp nhất định

7/ Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (N): Chuẩn tương tác thuộc về

người nói còn chuẩn giải thích thuộc về người nghe Nói cụ thể là người nói cần lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp Còn người nghe cần phải nỗ lực lí giải phát ngôn trên cơ sở một khung ngữ vực chung

8/ Loại thể (G): Loại thể chỉ loại hình hình thức của ngôn ngữ như độc

thoại, hội thoại, thơ, tục ngữ, thành ngữ Mỗi thể loại sẽ thích hợp với từng trường hợp giao tiếp cụ thể

Trên đây là tám nhân tố được D Hymes đề cập đến khi nghiên cứu về sự kiện giao tiếp Tuy nhiên, nghiên cứu hoạt động giao tiếp của con người là một việc hết sức phức tạp Trong các cuộc giao tiếp khác nhau, sự kiện giao tiếp không phải lúc nào cũng bao gồm cả tám nhân tố kể trên Cho nên, điều quan trọng là cần nhận ra được đâu là yếu tố chính, đâu là yếu tố phụ cũng như mối quan hệ chi phối giữa chúng Có như vậy, chúng ta mới có thể điều khiển và kiểm soát những hoạt động giao tiếp theo đúng hướng và mục đích đề ra

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/18

1.2.2.2 Quan hệ giao tiếp

Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp phải có mối quan hệ qua lại nhất định Đó chính là quan hệ giao tiếp Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xă hội chung và trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó

Với tư cách là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là một thực thể đa chức năng, mỗi người luôn đóng rất nhiều vai từ gia đình đến xã hội Như tác giả Nguyễn Văn Khang [29, tr 357] đã dẫn, “một người đàn ông khi ở trong gia đình anh ta là cha trong quan hệ với con, là con trong quan hệ với cha, là chồng trong quan hệ với vợ, là anh trong quan hệ với em, ; ở ngoài xã hội anh ta có thể là thủ trưởng đối với nhân viên cấp dưới, là nhân viên trong quan hệ với thủ trưởng, là thầy giáo trong quan hệ với học sinh Tất cả những mối quan hệ đan xen ấy làm thành một mạng quan hệ xã hội với rất nhiều vai khác nhau”

Bất kỳ sự nói năng nào thì người nói cũng phải lựa chọn như nói gì? nói như thế nàỏ sử dụng loại câu gì? từ ngữ, âm thanh như thế nào Vì thế, muốn đạt được đích giao tiếp người nói phải xác định được mối quan hệ của mình với các thành viên tham gia giao tiếp, để từ đó có cách lựa chọn ngôn ngữ, phong cách phù hợp Mỗi người khi tham gia giao tiếp, dù có rất nhiều

mối quan hệ, nhưng qui về hai loại chính là: quan hệ quyền lực (power) và quan hệ thân hữu (solidarity)

Quan hệ quyền lực là là quan hệ: trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh

R.Fasold giải thích rằng “quan hệ quyền lực” còn được dùng với thuật ngữ khác là “ngữ nghĩa quyền lực” được cố định như là một thói quen bắt buộc

trong giao tiếp xã hội cũng như trong giao tiếp gia đình

Quan hệ thân hữu là quan hệ ngang bằng Và cũng theo cách giải thích của R Fasold ngữ nghĩa thân hữu là một sẻ chia giữa mọi người ở mức độ gần gũi, thân mật

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/19

Khi tham gia giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần ý thức rõ vai giao tiếp của mình trong quan hệ giao tiếp để có phương án và cách thức lựa chọn phong cách ngôn ngữ sao cho thích hợp

Trên đây là một số vấn đề cơ bản thuộc về lý thuyết giao tiếp Những vấn

đề này có tác dụng chi phối và điều hành mọi cuộc giao tiếp nói chung

1.2.2 Lý thuyết hội thoại

1.2.2.1 Khái niệm hội thoại

Hội thoại đã trở thành đối tượng chính thức của chuyên ngành ngôn ngữ học ở Mĩ từ năm 1970, sau đó là Anh, Pháp và cho đến nay nó đã xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Ở Việt Nam hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra các quan niệm khác nhau về vấn đề này

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) hội thoại “là sử dụng một

ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [37, tr 444]

Tác giả Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa hội thoại nhưng khẳng

định tầm quan trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên,

phổ biến của ngôn ngữ, có cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, tr, 201]

Như vậy có thể hiểu hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống con người Ngôn ngữ hội thoại tồn tại ở hai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1.2.2.2 Cấu trúc hội thoại

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trên thế giới hiện nay có ba trường phái với những quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại là: cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích hội thoại; cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn và cấu trúc hội thoại theo lý thuyết Thụy Sĩ- Pháp Tương ứng với mỗi cấu trúc hội thoại là đơn vị hội thoại tương ứng Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến trường phái thứ ba

Theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp, đơn vị hội thoại gồm cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Tiếp nhận quan điểm

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/20

của hai trường phái trước, lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp cho rằng hội thoại

là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp Các đơn vị hội thoại đã nêu trên theo trường phái này đã thể hiện rõ điều đó

Cuộc thoại được coi là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất, được xác định bởi các tiêu chí: nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian và địa điểm, tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Đối với tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại, thông thường có dấu hiệu mở đầu cuộc thoại và kết thúc cuộc thoại nhưng không bắt buộc, đặc biệt trong cuộc thoại giữa những người quá thân quen

Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Dù sự phân định đoạn thoại không có sự phân định rành mạch vì đường phân giới khá mơ hồ, nhiều khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán nhưng đây vẫn là đơn vị có thực

Cặp trao đáp là đơn vị tối thiểu Cuộc hội thoại chính thức được bắt đầu khi có sự xuất hiện của đơn vị này Cặp thoại có thể là một tham thoại, có thể là hai hoặc ba tham thoại Tính chất của các cặp thoại thường mang tính chất nghi thức tương ứng với hai kiểu cặp thoại: cặp thoại sửa chữa và cặp thoại củng cố Cặp thoại củng cố tương ứng với cặp thoại dẫn nhập và kết thúc cuộc thoại Cặp thoại sửa chữa có đơn vị cơ bản là tham thoại sửa chữa - tham thoại dựa trên khái niệm sửa chữa lại một sự vi phạm lãnh địa của người đối thoại Khi một cặp thoại thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là một cặp thoại tích cực và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó Ngược lại, ta có cặp thoại tiêu cực và có tính chất không bình thường

Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên xét về tổ chức nội tại Một tham thoại có một hành vi chủ hướng và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Hành

vi phụ thuộc là hành vi thêm vào cho hành vi chủ hướng Nó có thể là các hành

vi dùng để láy lại, củng cố, bổ sung, giải thích

Trong một cặp thoại, thường có các tham thoại sau:

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/21

+ Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng)

+ Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại

+ Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại)

Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Để hiểu các cặp thoại, các ứng xử bằng lời cũng như các yếu tố kèm ngôn ngữ đều phải căn

cứ vào hành vi ngôn ngữ đi trước hoặc sau Vì thế, hành vi ngôn ngữ cần xem xét trong hội thoại

Vai trò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại Tức là vai trò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nên tham thoại, cặp thoại…và tác động liên tục lên các nhân vật hội thoại trong từng thời điểm tạo nên cuộc thoại

1.2.2.3 Các quy tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo một quy tắc nhất định Tính bị chi phối bởi quy tắc của hội thoại được biểu hiện ra thành tính nghi thức của hội thoại C.K.Orecchioni đã nêu lên tính chất của quy tắc hội thoại, đồng thời chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm như sau:

a/ Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Quy tắc này gồm một hệ thống các điều khoản như sau:

Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói

Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt

Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài

Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, không bị dẫm đạp lên nhau

Thứ sáu, trật tự của những người nói không cố định, trái lại luôn thay

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/22

đổi Đằng sau sự liên hoà phối là quy tắc điều hành luân phiên lượt lời và chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau Liên hoà phối để các quy tắc vận hành tốt, quy tắc vận hành tốt thì hội thoại mới hiệu quả

b/ Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại có dạng tổng quát như sau:

"Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai

đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại

mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào" [12, tr 130]

Nội dung của một cuộc thoại được phân phối thành nội dung của các lượt lời Nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc quan yếu là hai nguyên tắc thuộc quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

c/ Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự

Có nhiều cách định nghĩa về lịch sự khác nhau nhưng có thể hiểu một

cách khái quát nhất theo định nghĩa của C.K Precchioni là “Chúng tôi chấp

nhận rằng phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn »

- Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)

- Xuất hiện trong địa hạt quan hệ cá nhân

- Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó

Nói lịch sự là một chiến lược có nghĩa là nó chỉ hình thành, có mặt và phát huy tác dụng khi có tương tác, nói đúng hơn chỉ nói đến mặt tương tác của lịch sự Phép lịch sự giúp chúng ta phát hiện và lý giải hiện tượng được gọi là cấu trúc hai chiều trong tương tác

1.2.3 Hành vi ngôn ngữ

1.2.3.1 Khái niệm "hành vi ngôn ngữ"

Hành vi ngôn ngữ (speech act; còn gọi là hành động ngôn ngữ, hành động ngôn từ, hành động nói ) được hiểu là hành vi được thực hiện bằng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/23

phương tiện ngôn ngữ [ Dẫn theo 16]

J.T Austin - một nhà triết học người Anh là người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết hành vi ngôn ngữ trong cuốn sách được công bố sau

khi ông qua đời How to do things with words Người phát triển lý thuyết này là nhà triết học J.Searle với công trình Speech Acts

Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, vấn đề hành vi ngôn ngữ

đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các nhà nghiên cứu ngôn

ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm “hành vi ngôn ngữ” như sau:

Theo Đỗ Hữu Châu: "Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng

ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C" [3, tr 88]

Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho

rằng: "Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ Hành

động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn" [15, tr

337- 338 ]

Như vậy, "hành vi ngôn ngữ" chính là một hành động sử dụng ngôn từ

nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội

1.2.3.2 Các loại hành vi ngôn ngữ

Austin cho rằng hành động ngôn ngữ có ba loại hành vi lớn là acte

locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/24

Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn

các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúc động, yên tâm, bực mình, phấn khởi ), trong hành động vật lý có thể quan sát được gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh

c Hành vi ở lời

Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngôn ngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận

Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung) như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung

Như vậy, khi thực hiện một phát ngôn, người nói thực hiện ba loại hành vi này, trong đó hành vi ở lời được các nhà ngữ dụng học quan tâm nhất, đồng thời đây là loại hành động tạo nên sắc thái giao tiếp phong phú Chính vì vậy ở luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, khảo sát đối tượng nghiên cứu hành vi ở lời

1.2.3.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Để thực hiện được một hành vi nào đó ta không thể thực hiện một cách

tùy tiện mà phải tuân theo những điều kiện căn bản mới đạt được hiệu quả

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: "Điều kiện sử dụng các hành vi ở

lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó" [3, tr 111].Theo Austin, điều

kiện sử dụng các hành vi ở lời là các điều kiện "may mắn", nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt hiệu quả

Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin, Searle đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn Ông cho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau:

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/25

a Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành động

Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín hay miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng có hoặc không; phải, không phải…) Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu)

b Điều kiện nội dung chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát

ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về mối quan hệ giữa người nói, người nghe

c Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người

phát ngôn Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói…

d Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người

nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều được nói ra)

1.2.3.4 Phân loại hành vi ở lời

Người ta chia các hành vi ngôn ngữ ra hai loại: hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

a Hành vi ở lời trực tiếp

Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp được hiểu là: " các hành vi

ngôn ngữ chân thực, nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng đúng với các điều kiện sử dụng’’ [ 3, tr 145]

Nguyễn Thiện Giáp nhận định: "Hành động ngôn từ trực tiếp là hành

động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/26

cấu trúc và một chức năng’’ [15, tr 390]

b Hành vi ở lời gián tiếp

Trong thực tế giao tiếp, khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, không phải khi nào ý định của người nói cũng trùng với những điều được nói ra, mà nó nhằm hướng tới một mục đích khác, khi đó chúng ta có hành vi ngôn ngữ gián tiếp Vấn đề này đã được nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn

Searle chính là người đặt ra thuật ngữ hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp

Theo ông, " một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi

ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp" [5, tr 60 ]

Nguyễn Đức Dân cho rằng: "Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp

khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói" [6, tr 229]

Hành vi ở lời gián tiếp được Đỗ Hữu Châu quan niệm như sau: "Trong

thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành

vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp" [3, tr 145]

Hành vi ở lời gián tiếp nhiều khi mang lại hiệu quả cho mục đích giao tiếp hơn là cách nói trực tiếp, góp phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ hội thoại Tuy vậy, người sử dụng ngôn ngữ cần dựa vào những điều kiện nhất định để lựa chọn cách sử dụng hành vi ở lời trực tiếp hay gián tiếp để đạt được mục đích giao tiếp

1.2.4 Hành vi hỏi

1.2.4.1 Một vài nét khái quát

Hành vi hỏi là một hiện tượng có tính chất phổ quát trong đời sống, giao

tiếp ngôn ngữ của con người Đây là một đối tượng có tính chất phức tạp, đa diện nhưng khá thú vị bởi không chỉ đơn thuần hỏi chỉ để biểu thị “điều chưa

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/27

biết” “cái không rõ”, thông qua hành vi hỏi còn thể hiện cả một truyền thống văn hoá, tâm lí, phong tục tập quán những cách hỏi khác nhau sẽ để lại những dấu ấn văn hoá khác nhau Qua hành vi hỏi, chúng ta có thể lí giải, đánh giá được ngôn ngữ của người tham gia giao tiếp Có lẽ vì thế, dạng thức câu hỏi thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ

Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “câu hỏi” theo cách gọi truyền thống Nó trước hết dùng để hỏi những điều chưa biết, vì thế nghiên cứu câu hỏi thì cũng

có nghĩa là đề cập đến vai trò nhận thức của con người, đây là một quá trình phức tạp Bất cứ ngôn ngữ nào cũng cần có câu hỏi, và mục đích chính là dùng

để hỏi Nhưng câu hỏi không chỉ yêu cầu trả lời mà trong giao tiếp ngôn ngữ câu hỏi còn để thể hiện một lời chào, sự mỉa mai, trách móc, khẳng định, phủ định hoặc có thể hỏi để khuyên nhủ, hỏi để lảng tránh câu trả lời, hỏi để gây nên một trạng thái cảm xúc nào đó

1.2.4.2 Đặc điểm về hình thức của câu hỏi

Khi xem xét một phát ngôn có phải là câu hỏi hay không thì phải xem xét trên cả hai góc độ hình thức và nội dung Bởi vì trong thực tế có những câu hỏi về mặt hình thức là để hỏi nhưng lại không phải dùng để hỏi, ngược lại có những phát ngôn không mang hình thức hỏi nhưng lại được dùng để hỏị

Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên [1992] [dẫn theo 41, tr.8], thì câu hỏi ở các ngôn ngữ thường có một số đặc trưng cấu trúc (hình thức) phổ biến là:

1 - Ngữ điệu lên giọng ở cuối câu đối với câu hỏi có - không

2 - Các từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng ở vị trí trước động từ

3 - Đảo vị trí của động từ làm vị ngữ đứng sau chủ ngữ trong câu tường thuật lên trước chủ ngữ trong câu hỏi Việc đảo trật tự này chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có hiện tượng đảo trật tự từ trong các câu hỏi đặc biệt, mà trong các câu hỏi ấy có từ nghi vấn đứng ở đầu câu

1.2.4.3 Đặc điểm về nội dung của câu hỏi

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/28

Theo Bách khoa thư ngôn ngữ học do William Bright chủ biên, thì câu hỏi là một loại câu có cấu trúc phổ quát, và có ít nhất một chức năng phổ quát

đó là nhằm cung cấp một lượng thông tin nào đó Xét về mặt ngữ nghĩa câu hỏi khác câu tường thuật đó là chúng không thể là chân thực hay không chân thực,

là hành động ngôn ngữ câu hỏi giống với câu mệnh lệnh là chúng cần phải có phản ứng đáp lại nào đó Ngoài yêu cầu cung cấp lượng thông tin, câu hỏi có thể có một số chức năng khác nữa, câu hỏi có thể dùng như những yêu cầu gián tiếp mà không cần câu trả lời bằng ngôn từ

Một số tác giả ở Việt Nam thường nhận diện câu hỏi theo mục đích nóị

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ pháp Tiếng việt” cho rằng “Câu hỏi dùng

để thể hiện sự nghi vấn của người nói về một điều gì đó mà mong muốn người nghe đáp lờị Cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?)” [31, tr 134] Tác

giả Nguyễn Kim Thản viết “Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi

của người nói và nói chung đòi hỏi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng” Cho dù ở dưới dạng nào, trong nội dung câu hỏi đều

làm nổi rõ một “cái không rõ” mà câu trả lời cần hướng đến Như vậy, đặc điểm nhận diện về nội dung của câu hỏi bao giờ cũng biểu thị “điều chưa biết” hoặc “cái không rõ”, để người nghe đáp lại “điều chưa biết, cái không rõ” ấy

1.2.4.4 Phân loại hành vi hỏi

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân chia câu hỏi, song trong hướng nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi đồng ý với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Sửu khi chia câu hỏi thành hai loại lớn: câu hỏi đích thực và câu hỏi không đích thực

(a) Câu hỏi đích thực: là những câu hỏi yêu cầu người nghe trả lời,

cung cấp lượng thông tin còn khuyết thiếu hoặc còn chưa rõ theo mục đích của người phát ngôn

Câu hỏi đích thực là câu hỏi dùng đúng nghĩa, đúng mục đích câu hỏi, để tìm kiếm thông tin và câu trả lời thông tin đó Câu hỏi đích thực là bộ phận

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/29

chính, bộ phận cốt lõi của các loại câu hỏi trong mọi loại ngôn ngữ Đối với loại câu hỏi này, các tác giả thường chia làm ba loại chính:

- Câu hỏi có - không

- Câu hỏi lựa chọn

- Câu hỏi có từ nghi vấn

(b) Câu hỏi không đích thực: là loại câu hỏi không liên quan đến câu trả

lời, nó được dùng như một phương tiện truyền cảm, hỏi để thực hiện những mục đích khác nhau của người phát ngôn

Đây là loại câu hỏi dùng với các mục đích khác nhau trong giao tiếp, và

trong tư duy hết sức đa dạng Loại câu hỏi này cũng chia thành ba loại chính:

- Câu hỏi có - không

- Câu hỏi lựa chọn

- Câu hỏi có từ nghi vấn

Dù dưới hình thức này, hay hình thức khác, trực tiếp hay gián tiếp, các tác giả đều thống nhất rằng: câu hỏi là loại câu yêu cầu có sự trả lời, cung cấp lượng thông tin còn khuyết thiếu, chưa rõ theo mục đích của người phát ngôn Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm câu hỏi có mục đích trực tiếp tức đòi hỏi sự trả lời (lời đáp), và câu hỏi có mục đích gián tiếp không liên quan đến sự trả lờị Trong thực tế tiếng việt, chúng ta có thể gặp nhiều trường hợp hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để chào, nguyền rủa, ca thán, để cầu khiến, khẳng định, phủ định, Như vậy, hỏi là một hành vi có mục đích phong phú, tùy theo hoàn cảnh

mà xác định đúng mục đích thì giao tiếp mới đạt được hiệu quả tối ưu

1.3 Tác giả Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn

1.3.1 Tác giả Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố (1894-1954), ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ (huyện) Từ sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) Ông là một trong những nhà văn hàng đầu của dòng văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/30

Ngay từ khi còn nhỏ Ngô Tất Tố đã được hưởng một nền giáo dục nho học Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy chữ Hán ở quê, sau đó ông theo học ở nhiều làng quê trong vùng Năm 1912, Ngô Tất Tố tự học chữ Pháp một thời gian ngắn và tham gia các kì thi truyền thống lúc bấy giờ

Năm 1925, Ngô Tất Tố đỗ đầu xứ trong kì khảo hạch ở huyện nhà Thế nhưng vì lớn lên trong lúc Nho học suy tàn, giữa buổi văn học đương thời đang chuyển mình sang hiện đại nên ông đã sớm bỏ bút lông, cầm bút sắt bước vào nghề viết báo, viết văn như những cây bút “Tây học” đương thời Ngô Tất Tố

đã trở thành một cây bút tài danh, vững vàng và sử dụng thành thạo các thể loại văn học mới, đứng hàng đầu sáng lập dòng văn học hiện thực

Năm 1926, Ngô Tất Tố bước vào sự nghiệp báo chí và gặt hái được nhiều thành công Ông được bạn đọc đương thời ca ngợi là “một tay ngôn luận xuất sắc” (Vũ Trọng Phụng), một nhà báo có tinh thần chiến đấu cao Bên cạnh lĩnh vực báo chí, ngòi bút của Ngô Tất Tố còn tung hoành trên nhiều trận địa khác như nghiên cứu, phê bình, dich thuật nhưng thành tựu nổi bật nhất ghi dấu tên tuổi của Ngô Tất Tố lại nằm ở sự nghiệp văn học, với các tác phẩm tiêu biểu: Tiểu thuyết Tắt đèn (1939), tiểu thuyết lều chõng (1940) và tập phóng sự Việc làng (1940) Nội dung trong những sáng tác văn chương của Ngô Tất Tố chủ yếu xoay quanh cuộc sống của người nông dân dưới ách áp bức của bọn thực dân phong kiến

Năm 1945, Ngô Tất Tố tham gia vào ủy ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông Năm 1946, Ngô Tất Tố tham gia hội Văn hóa cứu quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp Thời gian này ông đảm nhiệm cương vị chi hội trưởng chi hội văn nghệ Việt Bắc và tham gia nhiều hoạt động khác Ngô Tất Tố được bầu làm ủy viên Ban chấp hành hội văn nghệ Việt Nam tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1948)

Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai, ông cùng đoàn nhà văn kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc vừa sáng tác văn học vừa làm công tác vận động nông dân đẩy mạnh công cuộc kháng chiến

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/31

Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1954 tại Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Ngô Tất Tố là một nhà văn, nhà báo, nhà mho học và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng ở Việt Nam giai đoạn trước 1954 Ngô Tất Tố được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1, năm 1996

1.3.2.Tác phẩm Tắt đèn

Tiểu thuyết đầu tay Tắt đèn là một kiệt tác thành công và có giá trị nhất

của nhà văn Ngô Tất Tố Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong dòng văn hiện thực của văn chương nước nhà giai đoạn 1930-1945

Tác phẩm nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ 20 dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là chị Dậu và gia đình Do sưu cao thuế nặng trong xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời, chị Dậu phải bán con, bán khoai và bán cả bầy chó

để lấy tiền nộp sưu thuế Thế nhưng vẫn còn một xuất sưu của người em chồng

đã chết nên anh Dậu vẫn bị trói đánh Chị Dậu không thể chịu được cảnh bọn quan lại hạnh hạ anh Dậu đang trong lúc đau ốm Chị đã vùng dậy xô ngã tên cai lệ và rồi chị bị bắt giải lên huyện Tên quan huyện dâm đãng giở trò bì ổi đã

bị chị ném cả nắm tiền vào mặt Có người mách chị đi ở vú để nuôi quan cụ nhưng trong một đêm tắt đèn, hắn đã mò vào buồng chị Cảnh chị Dậu chạy

ra giữa màn trời đêm tối đen như mực cho thấy viễn cảnh đen tối của chị và gia đình cũng như xã hội phong kiến đương thời

Tắt đèn là một tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc, có tính chiến đấu

mạnh mẽ và thấm đượm cảm hứng nhân đạo, nhân văn Tác phẩm đã phản ánh một cách đậm nét và sâu sắc cuộc xung đột gay gắt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng tám giữa một bên là những người nông dân nghèo khổ và một bên là bọn cường hào địa chủ, quan lại phong kiến, cùng những chính sách vô lí xung quanh việc sưu thuế Trong tác phẩm, nhà văn đã phơi bày bộ mặt tàn ác,

xấu xa của bọn phong kiến thống trị ở nông thôn Đặc sắc nhất của Tắt đèn là

xây dựng được một hình tượng nhân vật có giá trị điển hình: nhân vật chị Dậu - một người đàn bà dân quê sống trong nghèo khổ và ức hiếp mà vẫn người sáng

vẻ đẹp của sự đảm đang, tháo vát, yêu chồng, thương con

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/32

Ngay từ khi mới ra đời, Tắt đèn đã thu hút sự quan tâm của đồng nghiệp

trong bài “giới thiệu” ghi ngày 25.1.1939, in ngay từ những trang đầu của sách,

nhà văn Vũ Trọng Phụng Viết: “Tắt đèn là một tiểu thuyết có luận đề xã hội, một

áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy” Chỉ vài năm sau ngày nền

giáo dục mới của nước ta chính thức định hình, từ năm 1958, Tắt đèn đã được trích giảng trong các trường phổ thông Từ năm 1960, Tắt đèn cùng thân thế và sự

nghiệp của nhà văn Ngô Tất Tố đã bắt đầu được giảng dậy ở bậc đại học

Ba phần tư thế kỉ trôi qua đã có hàng trăm công trình, luận văn, chuyên

đề nghiên cứu, giới thiệu về Tắt đèn Tác phẩm này được hơn 30 nhà xuất

bản trong cả nước và nước ngoài đã xuất bản, tái bản Một sự kiện quan trọng,

đem lại dấu ảnh cho ngành điện ảnh nước nhà là tiểu thuyết Tắt đèn đã được chuyển thể thành phim chị Dậu vào năm 1980

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã hệ thống những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài như: Vấn đề giới trong ngôn ngữ; Về giao tiếp; Về hội thoại; Về các hành vi ngôn ngữ và hành vi hỏi Đây là những vấn đề lý thuyết rất cần thiết và

là cơ sở cho những vấn đề được đặt ra trong luận văn Ngoài ra, trong chương

này còn trình bày về Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀNH VI HỎI

Ở GIAO TIẾP GIA ĐÌNH TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN

CỦA NGÔ TẤT TỐ

2.1 Giới hạn nghiên cứu, khảo sát

Hoạt động giao tiếp mang bản chất xã hội nhưng ở các phạm vi khác nhau thì tính chất xã hội của hoạt động giao tiếp cũng được biểu hiện khác nhau Theo tác giả Hữu Đạt [7, tr 84], Có thể khái quát về phạm vi của hoạt động giao tiếp dưới hai dạng

- Phạm vi giao tiếp có tính chất gia đình

- Phạm vi giao tiếp có tính chất xã hội

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/33

Trong trường hợp này, phạm vi giao tiếp gia đình thực chất là phạm vi giao tiếp xã hội được thu nhỏ Giao tiếp gia đình là phạm vi giao tiếp giữa những người có quan hệ thân tộc, máu mủ Những người tham thoại dù muốn hay không hay không vẫn chịu sự chi phối và tác đô ̣ng c ủa các qui luật tình cảm Ngôn ngữ giao tiếp vì thế cũng có những điểm khác biệt với ngôn ngữ giao tiếp ngoài phạm vi xã hội sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm sau đây:

+ Tính thân mật, gần gũi: hoạt động giao tiếp gia đình dù ở hoàn cảnh nào cũng gắn tới sự thân mật gần gũi Dù là trao đổi tình cảm hay là công việc có tính chất hành chính, ngôn ngữ bao giờ cũng mang đậm sắc thái thân mật, giầu tính biểu cảm Vì thế trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày, những thán từ, những phụ từ (à, ơi, nhỏ, nhé, chứ…) thường xuất hiện khá nhiều và có vai trò đặc biệt trong giao tiếp như là tính chất xúc tác làm tăng thêm sự gần gũi, cảm thông

VD: Con muốn đi xem hát với mẹ cơ

+ Tính tôn ti thứ bậc: trong giao tiếp gia đình của người Việt Nam, tôn ti thứ bậc không phụ thuộc vào tuổi tác mà phụ thuộc vào vai vế trong quan hệ huyết tộc Vì thế người VIệt Nam có câu “Tày củ khoai cứ vai mà gọi” Như vậy, vai trong quan hệ huyết tộc trực tiếp chi phối đến vai giao tiếp

Trong giao tiếp gia đình, có nhiều mối quan hệ khác nhau: quan hệ vợ chồng, quan hệ bố - con, mẹ - con, quan hệ ông - cháu, bà - cháu, quan hệ anh (chị)- em song trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ xét hai mối quan hệ trong gia đình là quan hệ vợ chồng và quan hệ mẹ - con

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các cặp vợ chồng

2.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa cặp vợ chồng nông dân: anh Dậu và chi ̣ Dậu

Qua khảo sát 6 cuộc thoa ̣i với 25 lượt lời trong giao tiếp giữa vợ chồng

chị Dậu và anh Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố , chúng tôi thu

được tổng số 24 hành vi hỏi Trong đó hành vi hỏi của anh Dâ ̣u là 7 (chiếm 29,2 %), hành vi hỏi của chi ̣ Dâ ̣u là 17 (chiếm 70,8 %)

2.2.1.1 Hành vi hỏi của anh Dậu với chị Dậu

Ngày đăng: 23/12/2015, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
2. Nguyễn Thị Thanh Bình (2003), “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giới và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em”, Tạp chí Ngôn ngữ số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giới và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em”," Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 2003
3. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học tập1, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học tập1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2003
4. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
5. Đỗ Hữu Châu (2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, ngữ dụng học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
6. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, tập1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
8. Phan Cư Đệ (1993), Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, Ngô Tất Tố với chúng ta, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, Ngô Tất Tố với chúng ta
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1993
9. Phan Cư Đệ (1997), Ngô Tất Tố, văn học Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố, văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1997
10. Cao Đắc Điểm (2003), “Góp phần hoàn thiện chân dung Ngô Tất Tố”, tạp chí văn học, số 6/2003, tr8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần hoàn thiện chân dung Ngô Tất Tố”, "tạp chí văn học
Tác giả: Cao Đắc Điểm
Năm: 2003
11. Cao Đắc Điểm, Ngô Thị Thanh Lịch (2013), Tắt đèn, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tắt đèn
Tác giả: Cao Đắc Điểm, Ngô Thị Thanh Lịch
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2013
12. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2001
13. Hà Văn Đức (1997), "Ngô Tất Tố nhà văn tin cậy của nông dân", các nhà văn đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố nhà văn tin cậy của nông dân
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
14. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2000
15. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
16. Phạm Thị Hà (2013), Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học Viện khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm KHXHVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen
Tác giả: Phạm Thị Hà
Năm: 2013
17. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1998), Ngữ pháp chức năng, quyển 1: Câu trong tiếng Việt- cấu trúc- nghĩa- công dụng, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng, quyển 1: Câu trong tiếng Việt- cấu trúc- nghĩa- công dụng
Tác giả: Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
18. Bế Hùng Hậu (2010), Ngôn ngữ nghệ thuật Ngô Tất Tố, luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nghệ thuật Ngô Tất Tố
Tác giả: Bế Hùng Hậu
Năm: 2010
19. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Mai Hoa (2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hoa
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê hành vi hỏi trong gia đình nông dân : anh Dâ ̣u và chi ̣ Dâ ̣u - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong gia đình nông dân : anh Dâ ̣u và chi ̣ Dâ ̣u (Trang 48)
Bảng thống kê hành vi hỏi trong gia đình giữa chị Dậu và cái Tý (con gái) - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong gia đình giữa chị Dậu và cái Tý (con gái) (Trang 57)
Bảng thống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa Lý Cựu và Chánh Hội - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa Lý Cựu và Chánh Hội (Trang 73)
Bảng thống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa Anh Dậu - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa Anh Dậu (Trang 75)
Bảng thống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa ch ị Dậu và ba ̣n tù của chồng - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa ch ị Dậu và ba ̣n tù của chồng (Trang 89)
Bảng thống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa chị Dậu - đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố
Bảng th ống kê hành vi hỏi trong xã hội giữa chị Dậu (Trang 91)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w