Suốt ba thập kỷ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với nhiều thể loại : tiểu thuyết, phóng sự, truyện ký, truyện lịch sử, tiểu phẩm báo chí, dịch thuật, khảo cứu,…
Trang 2mục lục
Trang
Phần mở đầu 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 8
Phần nội dung 10
Ch-ơng 1: Bức tranh phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 10
1.1 Khái niệm phóng sự 10
1.1.1 Phóng sự – một thể thuộc loại hình ký 10
1.1.2 Phóng sự là gì? 12
1.1.3 Phóng sự với những đặc tr-ng của nó 13
1.2 Hiện t-ợng cộng sinh thể loại 18
1.3 Bức tranh phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 20
1.3.1.Nguyên nhân phát triển của phóng sự giai đoạn này 20
1.3.2 Nguyên nhân phát triển của phóng s 24
1.4 Ngô Tất Tố – cây bút phóng sự đặc sắc 27
Ch-ơng 2: Đặc điểm phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tất Tố trên ph-ơng diện nội dung 29
2.1 Về đề tài 29
2.1.1 Khái niệm 29
2.1.2 Đề tài của phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tát Tố 30
2.2 Ph-ơng thức phản ánh hiện thực đời sống 32
2.2.1 Phản ánh hiện thực là quy luật tất yếu của văn ch-ơng 32
2.2.2 Ngô Tất Tố với ph-ơng thức phản ánh hiện thực 32
Trang 3Ch-ơng 3: Đặc điểm phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tất Tố trên
ph-ơng diện hình thức 57
3.1 Nghệ thuật trần thuật 57
3.1.1 Khái niêm trần thuật với những ph-ơng diện của nó 57
3.1.2.Điểm nhìn tác giả 29
3.1.3 Điểm nhìn nhân vật 64
3.1.4 Giọng điệu trần thuật 66
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 70
3.2.1 Khái niệm nhân vật 70
3.2.2 Nhân vật nông dân trong Việc làng và Tập án cái đình 71
3.2.3 Nhân vật hủ nho trong Lều chõng 75
3.3 Nghệ thuật miêu tả 77
3.4 Ngôn ngữ phóng sự 80
3.4.1 Ngôn ngữ bình dị trong Việc làng và Tập án cái đình 80
3.4.2 Ngôn ngữ trong sáng, uyên bác trong Lều chõng 82
Phần kết luận 85
Tài liệu tham khảo 86
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Trong bức tranh văn học hiện thực phê phán 1930-1945,Ngô Tất Tố
(1893-1954) xuất hiện như một tài năn lớn, đa dạng.Nói đến ông là người
ta nói đến một cây bút tiểu thuyết đặc sắc, một nhà khảo cứu đầy tâm huyết, một dịch giả tài hoa, một nhà báo nổi tiếng khắp ba miền Bắc, Trung, Nam
Suốt ba thập kỷ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với nhiều thể loại : tiểu thuyết, phóng sự, truyện ký, truyện lịch
sử, tiểu phẩm báo chí, dịch thuật, khảo cứu,…Trong đó, phóng sự chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp của ông
1.2 Đến với Ngô Tất Tố, người đọc dường như quá quen thuộc với Tắt đèn
cùng với những giá trị của nó.Đi sâu tìm hiểu phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ông chúng ta càng làm rõ hơn những giá trị về nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện trong các tác phẩm mà ông để lại; để người đọc
có cái nhìn toàn diện hơn về một tài năng lớn của trào lưu hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam
1.3 Ngô Tất Tố là một hiện tượng được giới nghiên cứu quan tâm.Song
cho đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu về ông đều thiên về tiểu thuyết Nói đến phóng sự, ngoài một số bài viết ngắn, chưa có công trình nào nghiên cứu về phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ông một cách có
hệ thống
1.4 Hơn nữa, trong nhà trường trung học, Ngô Tất Tố là một tác giả được
chọn để giảng dạy, vì thế, việc tìm hiếu phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ông sẽ góp phần đắc lực cho việc giảng dạy của bản thân
Đó chính là những lý do thiết thực nhất thôi thúc chúng tôi đi sâu vào đề tài này
Trang 52 Lịch sử vấn đề
Theo Mai Hương trong Ngô Tất Tố - một tài năng lớn, đa dạng,
xuất bản 2003, thống kê: Cho tới nay, đã có tới hàng trăm công trình, bài viết từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đi sâu nghiên cứu cuộc đời và văn nghiệp của nhà văn hiện thực xuất sắc này
Nghiên cứu về phóng sự và tiểu thuyết phóng sự tuy chưa nhiều nhưng cũng đã có một số thành tựu đáng kể các nhà nghiên cứu đã từng bước đi đến khẳng định những giá trị về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
Năm 1939, Tập án cái đình được đăng lần đầu tiên trên báo Con ong
từ số 18/10 Và năm 1940, thiên phóng sự thứ hai là Việc làng xuất hiện trên tờ Hà Nội tân văn từ số 5/3 Cả hai thiên phóng sự đều đi vào những
hủ tục kỳ quái, mọi rợ mà bọn thực dân phong kiến duy trì ở nông thôn,và
cả hai đã góp phần cung cấp nhiều tài liệu về mặt xã hội học Một thời gian sau các nhà nghiên cứu đã đi vào khai thác các khía cạnh trong hai thiên phóng sự trên
Khi nói đế những giá trị của những thiên phóng sự nổi tiếng của
Ngô Tất Tố, Mai Hương trong bài viết “Ngô Tất Tố, tài năng và tấm lòng”
đã khẳng định:
“Viết Việc làng, Tập án cái đình và nhiều bài tiểu phẩm , báo chí,
Ngô Tất Tố đã cảm thông, chia sẻ sâu sắc với nỗi thống khổ , uất ức của người dân quê phải quằn quại, điêu đứng dưới sự hành hạ của những gánh
hủ tục nặng nề, vô lối.” [9,20]
Còn Bùi Huy Phồn trong bài viết Đọc lại Việc làng của Ngô Tất
Tố lại cho: “Việc làng đã lớn tiếng “tố khổ”lên những tệ lậu của bọn phong
kiến địa chủ gieo rắc ở nông thôn, mà chúng cố che đậy dưới lớp sơn hào nhoáng mệnh danh là những “ thuần phong mỹ tục” [8,281]
Trang 6Phan Cự Đệ trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1930-1945, tập 1,
cũng đề cao giá trị phê phán của phóng sự Ngô Tất Tố: “Trong Tập án cái
đình và Việc làng, Ngô Tất Tố đã tìm cách phơi trần những sự thật xấu xa
về các hủ tục ở nông thôn, xem dó là cái gì vô lý, “quái gỡ”, “mọi rợ” và đặt chính quyền thực dân trước trách nhiệm phải giải quyết”
Nhấn mạnh ý nghĩa tố cáo của cuốn phóng sự Việc làng, Vũ Ngọc
Phan trong Những năm tháng ấy Nxb Văn học , 1987 cho rằng: “Việc làng
là phóng sự về những hủ tục mà bọn cường hào muốn duy trì ở nông thôn
để dựa vào đó mà bóc lột nông dân đến tận xương tủy Mỗi mẫu chuyện
trong Việc làng là một tấn bi kịch” [15,195]
Còn Trần Hữu Tá trong “Từ điển văn học”, ông nói về Việc làng:
“Năm 1940, tập phóng sự của nhà văn Việt Nam Ngô Tất Tố đăng trên Hà Nội tân văn từ tháng 3 – 1940, xuất bản 1941 Tác phẩm gồm mười bảy chương , trình bày một cách sinh động những sự đau xót về các tụ lệ “quái gỡ”, “mọi rợ” ở nông thôn” Đồng thời, khi nói đến nghệ thuật của thiên
phóng sự ông đã đi đến kết luận: “Tác phẩm Việc làng chứng tỏ Ngô Tất
Tố là một cây bút phóng sự có tài”
Như Hoài Việt trong bài viết “Ngô Tất Tố - nhà văn hóa lỗi lạc”,
cũng khẳng định nội dung của cuốn Việc làng : “Việc làng cho đến nay vẫn
là một cuốn sách nói khá kỹ về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.” [16,17]
Tuy nhiên, trong quá trình khẳng định giá trị của các thiên phóng sự,các nhà nghiên cứu cung nhin thấy được một số hạn chế của nó.Chẳng han như khi đề cập đến đối tương có thể giải phóng cho người nông dân khỏi áp bức, bóc lột, khỏi sự đè nén của những hủ tục, hủ lậu thì Ngô Tất
Tố lại cho rằng người đứng đầu chỉ có thể là tầng lớp trí thức mà thôi (Bùi Huy Phồn).Hay như khi miêu tả người nông dân ông lai tả giống như những người thuộc tầng lớp trên của xã hội (cụ Thượng làng Lão Việt
Trang 7trong Lớp người bị bỏ sót, người chủ nhà trọ của nhân vật tôi trong một số truyện khác)
Ngoài phóng sự Ngô Tất Tố còn hướng ngòi bút mình vào thể một thể loại có nét gần với phóng sự đó là tiểu thuyết phóng sự.Năm 1941 cuốn
tiểu thuyết phóng sự Lều chõng được in thành sách đã tạo được sự chú ý
trong công luận:
Trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1900-1945 Phan Cự Đệ đã
khẳng định giá trị nội dung của Lều chõng: “Viết Lều chõng Ngô Tất Tố đã
ghi lại một thiên phóng sự chân thật về chế độ giáo dục và khoa cử mục nát dưới triều Nguyễn, đồng thời nhà văn cũng muốn miêu tả tấn bi kịch đau xót của những nhà nho có tài trong xã hội phong kiến.”
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cũng dành cho Ngô Tất Tố
và Lều chõng một vị trí xứng đáng, ông coi tác phẩm là một cuốn sách có giá trị “Lều chõng đã khơi ngọn lửa tàn của một thời đại khoa cử của ông
cha chúng ta thuở xưa.” [14,540]
Trong bài viết “Ngô Tất Tố - tài năng và tấm lòng” Mai Hương
viết: “Có thể nói, hiếm có nhà cựu nho nào lại có thể nhạy cảm , lại hiểu sáng suốt, nhìn thấu và mạnh dạn phê phán ,luận rõ công tội của chế độ khoa cử phong kiến, của hủ nho đến như Ngô Tất Tố.” [9,23]
Nguyễn Hoành Khung trong bài viết của mình “Ngô Tất Tố” đã
khẳng định “Lều chõng là một tiểu thuyết phóng sự về chế độ khoa cử
phong kiến Trong khi cung cấp khá nhiều tài liệu phong phú và dựng lại không khí “lều chõng” ngày trước, nhà văn đã làm nổi bật tính chất nhồi sọ của nhà trường và sự trói buộc khắc nghiệt, vô lý trong chế độ thi cử phong kiến Tác phẩm vì vậy ít nhiều có ý nghĩa chống lại phong trào phục cổ do thực dân Pháp đề xướng khi đó.” [9,141,142]
Bên cạnh những ưu điểm ấy, trên tờ Tạp chí văn học số 4, 1963 Trần Văn Minh đã chỉ ra một số hạn chế của Lều chõng Lều chõng ít nhiều vẫn
Trang 8chịu ảnh hưởng của tư tưởng phục cổ và vô tình đề cao cái thời “mũ cao áo dài” ấy.Ngô Tất Tố vẫn chưa thấy hết mọi sự thối nát của chế độ thi cử… Hiện nay ,nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Ngô Tất Tố là một hiện tượng văn học tương đối ổn định nên những công trình viết về ông không nhiều.Các công trình nghiên cứu từ trước đến nay đều thiên về tiểu thuyết Khóa luận của chúng tôi sẽ góp phần khẳng định tài năng Ngô Tất Tố trên thể loại phóng sự và tiểu thuyết phóng sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi đi sâu vào “Đặc điểm phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tất Tố” Ngô Tất Tố Tuy nhiên, trong khuôn khổ một khóa luận
chúng tôi chỉ đi vào khảo sát hai cuốn phóng sự: Việc làng ,Tập án cái đình
và một cuốn tiểu thuyết phóng sự Lều chõng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành khoá luận chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: Phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, thống kê…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Bức tranh phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.1.Khái niệm phóng sự
1.1.1 Phóng sự - một thể thuộc loại hình ký
1.1.2 Phóng sự là gì?
1.1.3 Phóng sự với những đặc trưng của nó
1.2 Hiện tượng cộng sinh thể loại giữa phóng sự và tiểu thuyết
1.3 Bức tranh chung của phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.3.1 Nguyên nhân phát triển của thể loại phóng sự giai đoạn này
1.3.2 Vài nét về thể loại phóng sự giai đoạn này
1.3.2.1 Vài nét về nội dung
Trang 92.1.1 Khái niệm đề tài
2.1.2 Đề tài của phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tất Tố
2.2 Phương thức phản ánh hiện thực đời sống
2.2.1 Phản ánh hiện thực là quy luật tất yếu của văn chương
2.2.2 Ngô Tất Tố với phương thức phản ánh hiện thực
2.2.2.1.Đi sâu vào những hủ tục của làng quê
2.2.2.2 Đi sâu phê phán sự hủ bại của chế độ học hành thi cử
Chương 3: Đặc điểm phóng sự và tiểu thuyết phóng sự trên phương diện hình thức
3.1 Nghệ thuật trần thuật
3.1.1 Khái niệm trần thuật với những phương diện của nó
3.1.2 Điểm nhìn tác giả
3.1.3 Điểm nhìn nhân vật
3.1.4 Giọng điệu trần thuật
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.2.1 Khái niệm nhân vật văn học
3.2.2 Nhân vật nông dân trong Tập án cái đình và Việc làng
3.2.3 Nhân vật hủ nho trong Lều chõng
3.3 Nghệ thuật miêu tả
3.4 Ngôn ngữ phóng sự
3.4.1 Ngôn ngữ bình dị trong Việc làng và Tập án cái đình
3.4.2 Ngôn ngữ uyên bác ,trong sáng trong Lều chõng
Trang 10Phần nội dung
Ch-ơng 1 Bức tranh phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
1.1 Khái niệm phóng sự
1.1.1 Phóng sự - một thể loại thuộc loại hình ký
Ký là một thể loại tổng hợp, vì thế trong đời sống văn học, nó là thể loại gây nhiều tranh cãi nhất và cũng là thể loại khó xác định khái niệm, tính chất,
đặc tr-ng của nó nhất Vì thế để định nghĩa thế nào là ký không phải là việc giản đơn
Bàn về ký, nhà văn Tô Hoài nói: "Ký cũng nh- truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đấy nh-ng vóc dáng nó luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo
và thích ứng Cho nên, càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn" Trong cuộc gặp gỡ quốc tế giữa các nhà viết ký ở Bucaret năm 1958, Đgiocđgiê cho rằng: "Sự lý giải mĩ học về khái niệm ký là ch-a có hoặc không đầy đủ hoặc không đúng" Nhà nghiên cứu Xô Viết R-binxep cũng cho rằng: "Về ký, thực
tế là không thể nói đến cái gì xác định đ-ợc đặc tr-ng thể loại của nó"
Tuy nhiên, cơ bản hiện nay ng-ời ta đồng ý với quan niệm của Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học":
“Ký là một loại hình trung gian nằm giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh- bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tuỳ bút…”[6,162]
Đối t-ợng nhận thức thẩm mĩ của ký th-ờng là một trạng thái đạo đức phong hoá xã hội, một trạng thái tồn tại của con ng-ời hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng Quan điểm thể loại của ký là tôn trọng sự thật khách quan của
đời sống, không h- cấu Nhà văn viết ký luôn đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống đ-ợc phản ánh trong tác phẩm Ký th-ờng không có cốt truyện có tính h- cấu Sự việc và con ng-ời trong ký phải xác thực hoàn toàn,
có địa chỉ hẳn hoi
Trang 11Ký ra đời từ rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại Nh-ng phải
đến thế kỷ XVII, đặc biệt từ thế kỷ XIX, ký mới thực sự phát triển mạnh mẽ cùng với những biến động của xã hội và sự phát triển của kỹ nghệ in ấn, báo chí Trong văn học nhiều n-ớc, ký góp phần xứng đáng vào sự phát triển
chung của văn học Sự xuất hiện ở Mĩ (Goriky), M-ời ngày rung chuyển thế
giới (Giônrit), Tạp văn (Lỗ Tấn), Tuỳ bút về chiến tranh vệ quốc
(Erenbua),Viết d-ới giá treo cổ (Phuxich)… Vào đầu thế kỷ XX đều gây đ-ợc
nhiều ấn t-ợng mạnh mẽ trong lòng ng-ời đọc
Trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, các tác phẩm ký có một vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám, nó phát triển gắn liền với hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân ta và những năm
đầu xây dựng CNXH, với một loạt các tác giả, tác phẩm có tên tuổi nh- Nhật
ký ở Rừng"của Nam Cao, tuỳ bút kháng chiến và Sông Đà của Nguyễn Tuân, Ng-ời mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Sống nh- anh của Trần Đình Vân, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ
Ngọc T-ờng… Và giữa cuộc sống đầy biến động hiện nay, ký càng có nhiều
điều kiện để phát triển mạnh mẽ hơn nữa
Đặc tr-ng chung của ký là tôn trọng tính xác thực và tính thời sự của sự kiện, sự việc đ-ợc đề cập đến, song chúng ta càng cần thấy đ-ợc khoảng cách giữa ký văn học và ký báo chí Nếu nh- ký báo chí đòi hỏi tính xác thực ở mức tuyệt đối, tính thời sự mang tính chất thật cấp bách thì ký văn học thiên
về chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể
Trong nền văn học của mỗi dân tộc, sự có mặt của các thể ký văn học
đã góp phần làm cho nền văn học cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính chiến
đấu Tầm quan trọng của các thể ký đ-ợc các nhà nghiên cứu, các nhà văn trong n-ớc cũng nh- thế giới đề cao B.Pôlêvôi cho rằng "bút ký là thể loại văn học chiến đấu có hiệu lực cao", Lỗ Tấn xem tạp văn là loại "ngôn chí hữu vật" Tô Hoài lại cho "ký đã trở thành một vũ khí lợi hại của các nền văn học tiến bộ và cách mạng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và xây dựng
Trang 12xã hội" Bùi Hiển xem thể ký là "vũ khí nhẹ, cơ động và hiệu lực, có thể xông xáo trên khắp các mặt trận của chiến tr-ờng"
Hoàng Trung Thông lại nhấn mạnh tính chất cơ động và khả năng ứng chiến linh hoạt của thể loại ký…
Nói tóm lại, ký có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền văn học mỗi n-ớc nói chung và của Việt Nam nói riêng Trong đó, thể loại phóng
sự chiếm một vị trí đặc biệt
1.1.2 Phóng sự là gì?
Theo tiếng Latinh, phóng sự là Reportage, có nghĩa là thông báo một tin mới, một chuyến đi, một sự việc gì đó Song, cho đến nay, khái niệm cụ thể về phóng sự vẫn ch-a thống nhất và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có thể tựu trung trong hai h-ớng cơ bản
Thứ nhất là quan điểm cho rằng: Phóng sự là thể loại kể một câu chuyện mang tính ngắn gọn, chính xác Nó nổi bật lên bằng những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi Để đáp ứng yêu cầu này, ng-ời Ph-ơng Tây đề ra công thức 6W cho thể loại phóng sự và ng-ời viết phóng sự xoay quanh những câu hỏi đó What - cái gì đã xảy ra; Where - xảy ra ở đâu; When - xảy ra bao giờ? Who - xảy ra với ai; Which - xảy ra nh- thế nào? Why - tại sao lại xảy ra?
Thứ hai là quan điểm cho rằng: Phóng sự là thể loại báo chí tổng hợp, vì thế, bên cạnh việc cung cấp thông tin cụ thể, xác thực, phóng sự còn mang đến cho ng-ời đọc những cảm xúc thẩm mĩ, đ-a ng-ời đọc vào thế giới nghệ thuật
độc đáo
ở Việt Nam, cũng có nhiều quan niệm khác nhau Giáo trình Lý luận
văn học cho rằng phóng sự "mặc dù chất liệu chủ yếu vẫn là ng-ời thật việc
thật nh-ng có màu sắc chính luận" Trong cuốn Từ điển văn học của Nxb
Khoa học xã hội lại nhận định: "Phóng sự là thể văn chú trọng diễn tả sự thật
mà anh trông thấy và giải pháp các vấn đề do sự thật ấy nêu ra" Hà Minh
Đức trong Giáo trình Lý luận văn học, tập 2,thì nhấn mạnh: "Về cơ bản,
phóng sự cũng có đặc tính của một thiên ký sự: chú trọng sự kiện khách quan,
Trang 13tôn trọng tính xác thực của đối t-ợng miêu tả Nh-ng phóng sự lại đòi hỏi tính thời sự trực tiếp"
Nhìn chung, quan niệm của từng tác giả có sự gặp gỡ nh-ng ch-a thống nhất với nhau Về cơ bản, hiện nay ng-ời ta đồng tình với quan điểm của các
Giáo s- Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học: “ Phóng sự là một thể thuộc loại hình ký Phóng sự ghi
chép kịp thời những vụ việc nhằm làm sáng tỏ tr-ớc công luận một sự kiện, một vấn đề có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều ng-ời
và có ý nghĩa thời sự đối với một địa ph-ơng hay toàn xã hội.” [6,256,257] Phóng sự đ-ợc viết ra nhằm giải đáp những vấn đề nào đó mà xã hội
đang quan tâm Ng-ời viết phóng sự trình bày một cách khách quan diễn biến của câu chuyện, sự việc, từ đó có thể cung cấp cho công chúng những tri thức phong phú, đầy đủ, chính xác để họ có thể nhận thức, đánh giá đúng ng-ời và việc mà họ đang quan tâm theo dõi Vì thế mà ng-ời viết phóng sự th-ờng sử dụng những biện pháp nghiệp vụ báo chí nh- điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghi chép tại chỗ Ngày nay, ng-ời ta còn sử dụng các loại ph-ơng tiện máy móc nh- máy quay, máy ảnh…vào công việc này
Sự xâm nhập của văn học vào báo chí thông qua việc đ-a một số biện pháp tu từ, những ngôn ngữ giàu hình ảnh vào thế giới bên trong của nhà văn khiến cho nhiều thiên phóng sự trở thành những tác phẩm văn học có giá trị ở Việt Nam, nó trở thành một luồng sáng tác mạnh mẽ của một số nhà văn nổi tiếng, nhất là thời kỳ 1930 - 1945, khi mà xã hội có nhiều biến động, môi tr-ờng xã hội đòi hỏi mạnh mẽ đến sự phát triển của phóng sự
Trang 14Tính chất thời sự góp phần tạo nên sức hấp dẫn và tác dụng to lớn của những thiên phóng sự trong văn học Những tác phẩm đến với ng-ời đọc trong tâm lí chờ đợi của họ thì hiệu quả và giá trị của tác phẩm sẽ đ-ợc nâng cao
Đồng thời, tính thời sự tạo cho phóng sự một khả năng -u trội hơn các thể loại khác đó là chức năng thông tin Với tính chất cơ động, linh hoạt của mình, phóng sự có khả năng tiếp cận nhanh, nắm bắt và thể hiện đối t-ợng rất kịp thời, có thể theo cùng một nhịp vận động và phát triển của sự kiện và câu chuyện Để ghi chép và miêu tả một điển hình, phóng sự không cần có khoảng cách về thời gian để tích luỹ và tổng hợp những t- liệu về đời sống nh- trong tiểu thuyết Viết về cái có thật một cách xác thực, kịp thời, phóng sự có khả năng thông báo nhiều vấn đề xã hội không phải là hình thức thông báo báo chí qua tin tức có tính chất chóng vánh, kịp thời mà là hình thức thông báo nghệ thuật chính xác, chi tiết và sinh động hơn Trong văn học Việt Nam hiện đại, phóng sự của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp
…đ-ợc xem là những tác phẩm mang đậm tính thời sự bởi nó đã làm sống dậy những vấn đề nhức nhối, bức xúc trong xã hội thời kỳ tr-ớc Cách mạng tháng
Tám Đặc biệt, với hai thiên phóng sự đặc sắc Việc làng và Tập án cái đình,
Ngô Tất Tố đã phản ánh một cách kịp thời những hủ tục, thói háo danh, mê tín
Trang 15*) Tính chân thực:
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển
thuật ngữ văn học"thì: “ Tính chân thực là khái niệm chỉ phẩm chất tạo nên sức
hấp dẫn, thuyết phục của văn học, thể hiện ở sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học với đối t-ợng phản ánh của nó, ở sự thống nhất giữa chân lý nghệ thuật với chân lý đời sống, giữa sự sáng tạo nghệ thuật với tất yếu lịch sử".[6,346]
Hầu hết các tác phẩm thuộc thể loại phóng sự đều đạt đến tính chân thực bởi nó đã khám phá đ-ợc những nét bản chất, quy luật phát triển của cuộc sống con ng-ời, có khả năng tái hiện đời sống một cách có bề dày, và chiều sâu với những "sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi" Nói đến phóng sự không phải là nói đến sự chuyển tải l-ợng thông tin cập nhật, kể lại, ghi lại
đúng nh- sự thật nó vốn có mà ở mỗi tác phẩm đều có sự phù hợp giữa chân lý nghệ thuật với chân lý cuộc sống Có nhiều chi tiết vừa mới đọc qua có vẻ nh- không phải sự thực, nh-ng đọc kỹ thì bản chất của sự kiện lại rất chân thực, và chính chúng đã tạo nên sức hấp dẫn và sức thuyết phục đặc thù mạnh mẽ của tác phẩm
1.1.3.2 Đặc tr-ng về trần thuật
Trần thuật thuộc về ph-ơng diện cấu trúc của tác phẩm tự sự Nó gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm, là ph-ơng diện cần thiết của thể loại tự sự, đặc biệt là với phóng sự Với tính thời sự và tính chân thực, phóng sự đòi hỏi một sự trần thuật về ng-ời thật việc thật một cách xác thực cùng với nhân vật trần thuật khá cụ thể Đối với tác phẩm tự sự, đặc tr-ng về trần thuật đ-ợc coi là quan trọng nhất
*) Trần thuật ng-ời thật, việc thật
Ký nói chung và phóng sự nói riêng rất tôn trọng việc trần thuật ng-ời thật việc thật Vì thế, nó không bao giờ trần thuật những sự việc không có hoặc có thể có trong thực tế mà chỉ trần thuật ng-ời thật, việc thật đã xảy ra một cách xác thực, việc đ-a ra sáu câu hỏi trong khi thu thập và trình bày thông tin của ng-ời Ph-ơng Tây là một bằng chứng
Trang 16Xét từ gốc gác và bản chất thì ký không nhằm thông tin thẩm mỹ mà là thông tin sự thật Việc tôn trọng tính xác thực của đối t-ợng miêu tả đã tạo nên niềm tin cậy và gần nh- là một định lệ giao -ớc giữa ng-ời viết và ng-ời
đọc Sự bịa đặt, thêm thắt sẽ tác hại đến lòng tin và cảm xúc thẩm mĩ của độc giả Nhà văn Bùi Hiển, qua kinh nghiệm bản thân đã khẳng định: "Chúng ta nên nhớ rằng, trong bút ký, phóng sự, tính xác thực của đối t-ợng là điều kiện cốt yếu Thêm h- cấu đã dẫn tới những kết quả chỉ khiến cho sự việc trở thành thực thực, h- h- trong trí ng-ời đọc, không có lợi"[11,428]
Bám chặt vào ng-ời thật việc thật, các tác phẩm, xét một cách t-ơng
đối, có thể rút ngắn khoảng cách giữa cuộc sống và sự sáng tạo nghệ thuật, phục vụ kịp thời hơn cho những nhu cầu, hiểu biết thực tế của ng-ời đọc
Tuy nhiên, đời sống là vô vùng phong phú, sự tiếp cận của ng-ời viết là hữu hạn, vì thế nghệ thuật không thể thực hiện đầy đủ chức năng của mình nếu chỉ hạn chế trong việc miêu tả, t-ờng thuật lại những cái có thật trong đời sống, hơn nữa, bản thân hiện thực của cuộc sống cũng phát triển và phân bố không đồng đều Do đó, tác phẩm nghệ thuật phải miêu tả cuộc sống một cách chắt lọc và tập trung Hiện thực trong tác phẩm phải phong phú hơn, điển hình hơn hiện thực tự nhiên của cuộc sống Đó là nguyên tắc chung của mọi hoạt
động sáng tạo nghệ thuật và tác phẩm phóng sự cũng không v-ợt ra ngoài quy luật đó
Điều đó đồng nghĩa với việc có sự tham gia của các yếu tố h- cấu, t-ởng t-ợng vào trong tác phẩm phóng sự Tuy nhiên, ở đây không có sự đối lập, mâu thuẫn giữa tính xác thực của nội dung với phần h- cấu của nhà văn H- cấu không hề có ảnh h-ởng đến tính xác thực của nội dung mà làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm Bởi h- cấu nghệ thuật thực chất chỉ là sự vận dụng năng lực t-ởng t-ởng để tổ chức, tái tạo lại hiện thực đ-ợc miêu tả nhằm xây dựng những hình t-ợng có ý nghĩa khái quát rộng rãi
Tóm lại, nói đến phóng sự là nói đến phản ánh, ghi chép ng-ời thật việc thật, tuy nhiên cần có sự tham gia của yếu tố h- cấu nghệ thuật thì tác phẩm
mới trọn vẹn và giàu ý nghĩa Nh- Hà Minh Đức đã nhận định trong Giáo
Trang 17trình Lý luận văn học tập 2 "Viết ký không phải là ghi chép sự việc và con
ng-ời một cách máy móc và tự nhiên chủ nghĩa" [4,221]
*) Đặc tr-ng về nhân vật trần thuật (ng-ời trần thuật)
Ng-ời trần thuật, theo Từ điển thuật ngữ văn học là một nhân vật h- cấu
hoặc có thật, nó có thể là nhà văn lộ diện (trần thuật theo "ngôi thứ nhất") hay nhân vật ẩn tàng (trần thuật theo "ngôi thứ ba") Tuy nhiên hai thuật ngữ này ngày nay không có ý nghĩa chặt chẽ, chỉ mang tính chất t-ơng đối
Ta không nên cho rằng, trần thuật theo ngôi thứ nhất là trong ký còn ngôi thứ ba là trong tiểu thuyết Nh-ng cũng phải thừa nhận rằng, trong ký mà
đặc biệt là trong thể loại phóng sự, nhân vật trần thuật chính là tác giả Nh- nhà phê bình Xô Viết Friliút đã nói: "Thông th-ờng, tôi trong ký là tác giả, mặc dù không trừ hình thức ng-ời trần thuật -ớc lệ"
Sự có mặt của cái tôi trần thuật, nhất là tác giả trong phóng sự vừa đóng vai trò là ng-ời chứng kiến để tăng c-ờng tính xác thực của con ng-ời, của sự việc đ-ợc đ-a vào tác phẩm nh-ng đồng thời là để bộc lộ quan điểm, tính khuynh h-ớng của mình Vì thế, nhân vật "tôi" trong phóng sự bên cạnh việc
sử dụng ngôn ngữ chính luận, còn bộc lộ những cảm xúc của mình qua ngôn ngữ trữ tình Nếu nh- ng-ời kể ở trong tiểu thuyết là nhân vật trung gian, khi trực tiếp, khi gián tiếp, có mặt ở khắp nơi, miêu tả những cảnh ngộ đặc biệt thì ng-ời viết phóng sự hoàn toàn theo những nguyên tắc khác, ng-ời viết phải là ng-ời chứng kiến, tham dự vào câu chuyện Tuy nhiên, cái tôi trong phóng sự không mang tính chất ghi chép và phản ánh một cách thụ động nh- một chiếc máy ảnh, máy ghi âm mà phải rất chủ động, sáng tạo trong mọi tình huống Cái tôi trong phóng sự vừa phải góp phần đảm bảo tính xác thực của đối t-ợng miêu tả, lại vừa phải bồi đắp cho hình t-ợng nghệ thuật thêm phong phú và sinh động ở đây chúng ta cũng nên phân biệt cái tôi trong tiểu thuyết tự truyện và cái tôi trong phóng sự Trong bộ ba tiểu thuyết tự truyện của Gorki,
ông nói về mình nh-ng cũng là để h-ớng đến cái tôi chung, tức cái tôi chỉ là
điểm tựa để tác giả nói về cuộc đời chung Còn đối với phóng sự, cốt truyện
Trang 18cũng nh- các tình huống khác tập trung vào mạch quan sát của cái tôi hoặc xoay quanh cái tôi, từ đó tạo đ-ợc những nhận thức và giao cảm chung rộng rãi
Nói tóm lại, cái tôi trong phóng sự chủ yếu là cái tôi ở ngôi thứ nhất nh-ng đ-ợc thể hiện một cách sinh động và có cá tính Cái tôi ấy vừa là nhân chứng khách quan, đồng thời là ng-ời thẩm định, trình bày, lý giải và kết nối các sự kiện đ-ợc tác phẩm đề cập tới
Liên quan đến vấn đề trần thuật là vấn đề cốt truyện và kết cấu trong tác phẩm phóng sự Phần lớn các tác phẩm phóng sự thuộc loại truyện không có cốt truyện vì thế th-ờng là kết cấu theo kiểu kết cấu - liên t-ởng, ở đó xen kẽ giữa sự kiện, con ng-ời với những đoạn nghị luận trữ tình với tỉ lệ khá lớn của nhân vật trần thuật Vì vậy, đặc tr-ng của thể loại phóng sự còn thể hiện rõ rệt
ở kết cấu của nó, "kết cấu này chủ yếu mang tính chất ghi chép và tự do hơn rất nhiều" so với các thể loại khác
Tất cả những đặc tr-ng trên đây cho thấy phóng sự là thể loại đặc biệt, khác với nhiều thể loại khác Ta tìm thấy những đặc tr-ng ấy rõ nhất trong các thiên phóng sự nổi tiếng của Ngô Tất Tố
1.2 Hiện t-ợng cộng sinh thể loại
"Cộng sinh" theo từ điển có nghĩa là sự kết hợp, trộn lẫn giữa hai sự vật với nhau Khi đi vào văn học, đó chính là sự xâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại, ng-ời ta gọi là hiện t-ợng cộng sinh thể loại Đây là một hiện t-ợng phổ biến trong văn học Hiện t-ợng này chính là một biểu hiện rõ nhất của tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại, bởi ph-ơng diện thể loại là điểm gặp gỡ của sự đổi mới tất cả các ph-ơng diện khác của văn học Cộng sinh thể loại là một quy luật phát triển mang tính đặc thù của văn học hiện đại
Trong tiến trình văn học, mỗi thể loại văn học đều có ý thức tự làm phong phú thêm mình và tự tăng tr-ởng thêm khả năng chiếm lĩnh nghệ thuật của mình đối với thế giới Cuộc sống, con ng-ời và hiện thực luôn luôn có những sự vận động, biến đổi không ngừng Thể loại văn học cũng vậy, chỉ chức năng riêng có của mình thôi thì không đủ đáp ứng cho nhu cầu tồn tại, phát triển và chiếm lĩnh hiện thực, vì thế việc "vay m-ợn" chức năng và đặc
Trang 19điểm của các thể loại khác gần nh- là một tất yếu của sự phát triển Đó chính
là nguyên nhân của hiện t-ợng thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại
Trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, các thế hệ nhà văn Việt Nam
đứng tr-ớc mâu thuẫn về mặt thể loại, đó là lúc thực tại đã đổi mới, đã v-ơn tới nội dung hiện đại mà hệ thống thể loại của nền văn học chúng ta vẫn nằm trong giới hạn trung đại Vấn đề đặt ra là cần có sự đổi mới thể loại cho phù hợp với tình hình phát triển mới của hiện thực cuộc sống Tầm nhìn của các nhà văn, nhà thơ lúc này đã không còn bó hẹp trong khuôn khổ Ph-ơng Đông với những thể loại truyền thống của văn học Trung Hoa nữa mà họ đã tìm đến những chân trời mới lạ, ở đó họ có thể tìm đ-ợc nguồn sinh lực cho sự phát triển và sinh tồn của mình
Bắt đầu những năm 20 về sau của thế kỷ XX, họ h-ớng sang ph-ơng Tây, những mẫu gốc thể loại hiện đại ph-ơng Tây sẽ đi qua ý thức sáng tạo của các nhà văn Việt Nam để ngày càng mở rộng khả năng, năng lực chiếm lĩnh hiện thực
Sự biến đổi đầu tiên phải kể đến, đó chính là sự thâm nhập táo tợn của
văn xuôi vào thơ mà nh- Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nhận định
nh- là những năm "đại náo trong làng thơ" Cuộc thâm nhập của văn xuôi vào thơ đã phá phách tan tành thơ cũ, tạo dựng mô hình thơ mới Tr-ớc hết, nó làm biến đổi giọng điệu thơ: từ câu thơ điệu ngâm của trung đại sang câu thơ
điệu nói thời hiện đại Nếu nh- ở câu thơ điệu ngâm, câu thơ trùng khít với dòng thơ, mỗi câu thơ là một dòng thì sang thơ điệu nói chấp nhận hiện t-ợng dòng thơ không trùng khít với câu thơ, ng-ời ta gọi đó là hình thức vắt dòng, ngắt dòng độc đáo của thơ hiện đại
Trong thơ bắt đầu xuất hiện những hiện t-ợng lạ tr-ớc nay ch-a từng
có Ta tìm thấy cấu trúc đối thoại - một đặc tr-ng chủ yếu của kịch, truyện
ngắn và tiểu thuyết,…trong bài Tiếng hát Sông H-ơng của Tố Hữu Có thêm cả sự kiện, nhân vật và thời gian xảy ra sự kiện ở trong Bà má Hậu Giang (Tố
Hữu), Lời kỹ nữ (Xuân Diệu) hay rõ nhất là trong Chùa H-ơng của Nguyễn
Nh-ợc Pháp
Trang 20Sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ đã tạo nên một thể thơ hỗn hợp, ng-ời ta gọi nó là thơ văn xuôi Song trong quá trình xâm nhập ấy ta tìm thấy
sự ng-ợc lại, đã đến lúc thơ ca thực hiện sứ mệnh của mình là đi vào văn xuôi làm cho câu văn chuyển dáng, uyển chuyển, mang đậm chất thơ Sự vận động này đã tạo nên một thể loại tiêu biểu giai đoạn văn học 1930 - 1945, đó chính
là dòng truyện ngắn trữ tình với các tác giả tiêu biểu nh- Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh hay L-u Trọng L-, Xuân Diệu, Thanh Châu, Ngọc Giao
Bên cạnh các thể loại trên thì kịch thơ cũng là một sản phẩm của tính năng động nghệ thuật thể loại Kịch thơ chính là sự hoà trộn giữa hai thể loại kịch và thơ Đặc biệt, một hiện t-ợng khá phổ biến của giai đoạn văn học
1930 - 1945 đó chính là sự thâm nhập lẫn nhau giữa hai thể loại đều là tự sự: phóng sự và tiểu thuyết Sự trộn lẫn ấy đã làm cho phóng sự có chất tiểu thuyết và tiểu thuyết thì đầy chất phóng sự Tiểu thuyết đi vào phóng sự phải
kể đến Vũ Trọng Phụng với Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục sì,
…nh-ng điều mà chúng ta quan tâm hơn cả là tiểu thuyết đã truyền một phần linh hồn của mình cho phóng sự tạo nên một thể loại mới: tiểu thuyết phóng
sự Hiện t-ợng này in đậm trong Ngoại ô, Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp
Đặc biệt và rõ nhất là Ngô Tất Tố với cuốn Lều chõng
Nói tóm lại, quá trình cộng sinh đã tạo ra nhiều vùng nối thể loại, còn gọi là khu trung gian, thể loại thứ ba, nó cũng đ-ợc gọi là thể ghép Thơ văn xuôi, truyện ngắn trữ tình, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự đều là sản phẩm của hai thể loại gốc cộng sinh với nhau Các thể ghép này làm cho diện mạo của các thể loại hiện đại trở thành một hệ thống mở, mỗi thể loại không chỉ là nó
mà còn rộng hơn nó, giàu có hơn nó
1.3 Bức tranh chung của phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
1.3.1 Nguyên nhân ra đời và phát triển của phóng sự giai đoạn này
Nhiều tài liệu nghiên cứu về phóng sự cho rằng: Phóng sự ra đời đầu tiên ở Châu Âu vào cuối thế kỷ XIX, gắn với sự thắng lợi của cuộc đấu tranh
và tự do dân chủ báo chí kéo dài suốt ba thế kỷ và sự phát triển v-ợt bậc của t- t-ởng dân chủ, tiến bộ ở các n-ớc ph-ơng Tây
Trang 21ở Việt Nam cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của phóng sự, cho đến nay vẫn ch-a thống nhất, chỉ biết rằng, thể phóng sự xuất hiện khá sớm, đặc biệt phát triển ở giai đoạn văn học 1930 - 1945 với nhiều
tác giả, tác phẩm nổi tiếng nh- Việc làng, Tập án cái đình của Ngô Tất Tố,
Ngõ hẻm, Ngoại ô của Nguyễn Đình Lạp, Tôi kéo xe của Tam Lang, cùng
một số phóng sự của Vũ Trọng Phụng,… Song, dù ra đời sớm hay muộn thì sự xuất hiện của nó đều có những nguyên nhân về cả hai phía khách quan và chủ quan
*) Hoàn cảnh xã hội
Vào khoảng những năm 1930 của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những biến động phức tạp, mâu thuẫn xã hội phát triển đến mức độ gay gắt, quyết liệt tạo nên khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trong xã hội Thực dân Pháp lúc bấy giờ ở trong tình thế quyệt quệ vì hậu quả của chiến tranh thế giới
và cuộc khủng hoảng kinh tế, do vậy, chúng ra sức vơ vét, bóc lột và khai thác thuộc địa mà Việt Nam miếng mồi béo bở của chúng Thực dân Pháp thi hành những chính sách tàn bạo trên mọi mặt, nhiều cuộc đấu tranh của công nhân
và nông dân nổ ra đều bị dìm trong biển máu, đặc biệt chúng luôn luôn chĩa mũi nhọn vào Đảng cộng sản còn non trẻ Xã hội sâu sắc, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt làm cho cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá cũng quyết liệt Thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, truyền bá văn hoá phản xã hội, phản dân tộc, văn hoá mê tín dị đoan để mê hoặc, ru ngủ quần chúng Chúng tìm cách truỵ lạc hoá tầng lớp thanh niên, đẩy thanh niên vào vòng ăn chơi sa
đoạ để quên đi nhiệm vụ với dân tộc, với Tổ quốc và nỗi nhục mất n-ớc Bao nhiêu là tệ nạn xã hội xuất hiện, đạo đức con ng-ời băng hoại Chiến tranh, bóc lột, áp bức, cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã làm cho xã hội bị đảo lộn, con ng-ời rơi vào những tình cảnh trớ trêu
Sống trong một xã hội phức tạp đảo điên nh- thế, con ng-ời không tránh khỏi hoang mang, mất ph-ơng h-ớng Trong xã hội, bi kịch xảy ra khắp nơi, trong gia đình và ngoài xã hội
Trang 22Sự biến chuyển của xã hội đã có tác động rất lớn đối với văn học Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, khi cuộc sống có sự thay đổi sẽ kéo theo sự
đổi thay của văn học Tr-ớc tình hình đất n-ớc và xã hội lộn sòng nh- vậy, con ng-ời đã tìm đến những ph-ơng cách để có thể góp một phần nào đó đ-a xã hội tiến theo một h-ớng khác, tìm thấy lối thoát và niềm tin cho con ng-ời trong cuộc sống, phản ánh cái sự thật trớ trêu, đồng thời lấy nó làm vũ khí chiến đấu với kẻ thù
Trong điều kiện nh- vậy, phải có một thể loại văn học có thể đáp ứng
đ-ợc nhu cầu phản ánh hiện thực cuộc sống Các nhà thơ, nhà văn đã ra sức đi vào nhiều thể loại khác nhau nh-ng không có thể loại nào có thể đáp ứng tốt hơn thể phóng sự - một thể loại mang đặc tr-ng đặc thù với tính thời sự và chân thực, với sự ghi chép và miêu tả ng-ời thật việc thật qua sự trần thuật chủ yếu là của tác giả Phóng sự ra đời đã phù hợp với yêu cầu lịch sử, nó thực sự nhạy bén, tiên phong trong việc phơi bày những mặt trái, những tệ nạn, tạo ra
đ-ợc môi tr-ờng d- luận xã hội rộng rãi và kịp thời mà không phải thể loại nào cũng có đ-ợc
Phóng sự ra đời cùng với trào l-u hiện thực phê phán 1930 - 1945 đã góp phần tạo nên diện mạo mới của nền văn học Việt Nam Một loạt các tác giả, tác phẩm xuất sắc trên hầu hết các thể loại đã xuất hiện Đặc biệt là ở thể
phóng sự với Làm dân của Trọng Lang, Tàn đèn dầu lạc của Nguyễn Tuân,
Vũ Trọng Phụng với một loạt phóng sự đặc sắc nh- Cạm bẫy ng-ời, Kỹ nghệ
lấy Tây, Một huyện ăn tết… đặc biệt là sự góp mặt của Ngô Tất Tố với các
phóng sự Việc làng, Tập án cái đình cùng tiểu thuyết phóng sự Lều chõng
Nói tóm lại, cuộc sống thay đổi làm cho con ng-ời không còn là mình của ngày x-a nữa, mà họ luôn luôn là nhân vật trung tâm của văn học, kéo theo đó văn học biến chuyển Phóng sự ra đời là do sự thay đổi ấy
*) Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí:
Thời nào cũng vậy, sự phổ biến thông tin luôn là một việc làm cần thiết
Để đáp ứng nhu cầu ấy, từ những năm 1930 của thế kỷ XX trở đi, ngành báo chí bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ Điều đó thúc đẩy tất cả các thể loại văn
Trang 23học ngày càng phát triển hơn, đặc biệt là những thể loại có liên quan trực tiếp tới báo chí
D-ới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, kẻ thù của chúng
ta luôn coi sách báo cộng sản là kẻ thù số một, chúng ra lệnh cấm tàng trữ và l-u hành Tr-ớc chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo của chúng, ngành báo chí n-ớc
ta không ngừng v-ơn mình và có đ-ợc những thành tựu đặc sắc, bắt đầu với tờ
"Gia đình báo" 1865 Đặc biệt là trong thời kỳ mặt trận dân chủ bọn thực dân
ở Đông D-ơng phải ra lệnh bỏ Ty kiểm duyệt Nam báo ở Trung Bắc Kỳ từ 1/1/1935, Đảng đã tranh thủ mọi khả năng để ra báo công khai Một loạt tờ báo đã ra đời ở cả ba miền Bắc, Trung,Nam
Sự phát triển mạnh mẽ và rầm rộ của báo chí là cơ sở, là động lực, là mảnh đất màu mỡ cho các nhà văn, nhà thơ thể hiện tài năng của mình Văn ch-ơng thực sự là văn ch-ơng khi nó đến đ-ợc với độc giả và đ-ợc độc giả
đón nhận, báo chí chính là dấu nối giữa nhà văn với bạn đọc Từ đó, một loạt các thể loại xuất hiện và phát triển rực rỡ, nhất là thể loại phóng sự - một thể loại vừa cung cấp thông tin, vừa mang giá trị thẩm mĩ nghệ thuật, đăng tải những gì là thời sự là cập nhật nhất và mang tính chất ng-ời thật việc thật nhất
- đó là điều vô cùng cần thiết trong một xã hội nh- bấy giờ
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố khách quan ấy, không thể không nói
đến vai trò của một đội ngũ các nhà viết phóng sự cùng với tâm huyết nghề nghiệp của họ Tấm lòng cảm th-ơng sâu sắc đối với một lớp ng-ời, một xã hội đầy đau th-ơng, lòng căm thù tột độ đối với bọn thực dân phong kiến, tay sai đã giúp họ lao vào những thiên phóng sự để lên án, tố cáo, phơi bày sự thật tàn bạo mà chúng đã gây ra cho nhân dân ta Đã đến lúc họ không thể lặng im tr-ớc hiện thực bức xúc, điên đảo, họ tìm đến văn ch-ơng để giải bày lòng mình, qua những t- liệu có đ-ợc và tài năng, tâm huyết của mình, hàng loạt thiên phóng sự đặc sắc đã ra đời với một số cây bút tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Trọng Lang, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Tuân,…
Lịch sử 15 năm (1930 - 1945) đã ghi lại dấu son chói lọi về sự khởi sắc của thể loại phóng sự Việt Nam Đó không chỉ là sự phát triển về số l-ợng mà
Trang 24cao hơn là sự thăng hoa về chất l-ợng với khả năng phản ánh hiện thực sâu rộng, nhạy bén Sự có mặt và phát triển của thể loại phóng sự giai đoạn này góp phần to lớn vào sự nghiệp văn học của dân tộc, làm phong phú hơn đặc tr-ng về mặt thể loại Đồng thời nó còn góp phần thoả mãn nhu cầu của một lớp công chúng cảm thấy không còn hào hứng với tiểu thuyết lãng mạn đ-ơng thời, mà đang trông đợi ở phóng sự với những -u thế nổi bật trong việc mô tả những biến chuyển của cuộc sống hiện thực
1.3.2 Vài nét về thể loại phóng sự giai đoạn này
1.3.2.1 Vài nét về nội dung
Năm 1932, phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang ra đời đánh dấu sự xuất
hiện của thể loại phóng sự Từ đó về sau, các nhà phóng sự tiếp cận hiện thực
đời sống với nhiều mảng đề tài khác nhau Bên cạnh đề tài thôn quê với Làm
dân của Trọng Lang, Việc làng - Ngô Tất Tố, C-ờng hào - Nguyễn Đình
Lạp, Một huyện ăn tết - Vũ Trọng Phụng,… là đề tài về chốn thành thị với
bao phức tạp bon chen nh- Cạm bẫy ng-ời, Cơm thầy cơm cô, Lục sì - Vũ
Trọng Phụng, Thanh niên truỵ lạc của Nguyễn Đình Lạp…
Ngoài ra, các nhà phóng sự còn chú ý đến nỗi thống khổ của thợ thuyền
với Trồng cao su của Lê Trung Nghĩa và rất nhiều bài t-ờng thuật trên tờ Tin
tức, Thời báo,… về sự tàn tạo, của bọn đế quốc thực dân trong các nhà lao:
Khám lớn Sài Gòn của Phan Văn Hùm, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến và
Đảo Côn Sơn của Nguyễn Đức Chính…
Trong khi sáng tác, mảng đề tài về nông thôn gặt hái đ-ợc nhiều thành tựu với nhiều tác phẩm xuất sắc, nh-ng đề tài về thành thị chiếm số l-ợng nhiều hơn cả Sở dĩ ngòi bút của các nhà phóng sự thiên về cuộc sống đô thị bởi trong tình hình xã hội diễn biến phức tạp nh- giai đoạn này, xã hội phân hoá thành nhiều giai cấp, tầng lớp mâu thuẫn với nhau thì ở thành thị, mọi biến chuyển diễn ra nhanh hơn và sâu rộng hơn Thêm vào đó có nhiều nhà văn xuất thân từ thành thị, mắt thất tai nghe những gì diễn ra xung quanh cuộc
Trang 25sống đầy biến động của họ Từ đó, hàng loạt thiên phóng sự về ng-ời thật việc thật đã ra đời
Một điểm gặp gỡ về nội dung phản ánh của hầu hết các nhà viết phóng
sự giai đoạn 1930 - 1945 là tinh thần chống thực dân phong kiến Dù viết về nông thôn hay thành thị, về ng-ời thợ thuyền hay ng-ời lao tù thì điều cốt lõi cũng là để lên án, tố cáo chế độ thực dân phong kiến man rợ xô đẩy nhân dân vào cuộc sống khốn cùng, bế tắc với những chính sách khắc nghiệt, chế độ kiểm duyệt gắt gao, những cuộc tàn sát đẫm máu Chứng kiến cảnh ấy, các nhà văn đồng cảm sâu sắc với nỗi thống khổ của những ng-ời dân khốn nạn
Họ đau với nỗi đau của ng-ời dân, đứng vào hàng ngũ của những ng-ời bị trị
để nói lên tiếng nói tố cáo, phê phán tội ác của bọn thống trị và đòi quyền tự
do cho họ
Cùng với việc tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến tay sai, các nhà phóng sự đã đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của các tệ nạn, các vấn đề nổi cộm
trong xã hội Ngô Tất Tố thấy đ-ợc nỗi thống khổ của ng-ời nông dân ở chốn
làng quê là do những tục lệ quái gỡ chồng chất lên đôi vai của họ Còn Vũ Trọng Phụng lý giải về nguyên nhân khiến nhiều ng-ời thiếu nữ trở thành gái mại dâm là do sự kém hiểu biết, sức cám dỗ của thị thành Thế nh-ng, nhìn ra
đ-ợc vấn đề đã khó, tìm cách giải quyết đ-ợc vấn đề lại càng khó hơn Với trình độ chính trị lúc bấy giờ, các nhà văn ch-a tìm ra đ-ợc lối thoát cho con ng-ời, mọi con đ-ờng còn bỏ ngõ, họ chỉ có thể đem tâm huyết nghề nghiệp cùng ngòi bút sắc sảo của mình để cảm thông, chia sẻ cho cùng ng-ời nông
dân mà thôi Nếu có tìm lối thoát chăng nữa thì cũng là lệch lạc Trong Việc
làng, Ngô Tất Tố cho rằng, chỉ có phái trí thức mới giải phóng đ-ợc cho ng-ời
nông dân trong khi trên thực tế, để giải thoát đ-ợc mình thì tr-ớc hết phải dựa vào chính bản thân mình đã
Tuy vậy phóng sự giai đoạn này luôn là những đòn đánh mạnh vào kẻ thù xâm l-ợc và phong kiến tay sai, đi vào cuộc sống khốn cùng của ng-ời nông dân trong sự cảm thông sâu sắc của một thế hệ nhà văn, từ đó loé lên
Trang 26những tia hy vọng dù là yếu nhất đối với sự giải phóng con ng-ời khỏi chốn lầm than
Tác giả Lê Dục Tú khi bàn về những thành tựu nghệ thuật của phóng sự
1930 - 1945 cho rằng, nghệ thuật phóng sự giai đoạn văn học này thể hiện trên
ba khía cạnh cơ bản: nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, tức là sự xuất hiện của tác giả với t- cách là ng-ời nhập cuộc, hay việc các nhà phóng sự luôn có ý thức đ-a vào văn phẩm các số liệu, dẫn chứng cụ thể; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất báo chí và chất tiểu thuyết; nghệ thuật châm biếm và
sử dụng ngôn ngữ
Theo chúng tôi, nói đến nghệ thuật phóng sự tr-ớc hết phải nói đến nghệ thuật trần thuật, ghi chép ng-ời thật việc thật (những điều mắt thấy tai nghe) nh-ng là bằng tài năng của ng-ời nghệ sỹ cộng thêm h- cấu chọn lọc chứ không chép lại một cách máy móc tất cả mọi sự kiện diễn ra trong đời sống
Sự đan xen giữa phóng sự và tiểu thuyết làm nên nét đặc biệt cho thể loại này Tiểu thuyết in dấu ấn của mình vào phóng sự làm cho phóng sự đậm chất tiểu thuyết, ng-ợc lại tiểu thuyết bị phóng sự "xâm lấn" tạo nên tiểu thuyết phóng sự - một thể loại đ-ợc Thục Điểu vận dụng tinh tế trong tác phẩm của mình
Bên cạnh đó, nghệ thuật châm biếm là nét đặc sắc của phóng sự 1930 -
1945 nhằm đả kích, tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân phong kiến tay sai Ngôn ngữ chính xác, giàu chất chính luận, câu văn sắc sảo, gãy gọn, văn bản phóng sự vừa cung cấp thông tin vừa mang lại giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm
Trang 27Độc đáo của nghệ thuật phóng sự 1930 - 1945 còn phải kể đến việc xây dựng những tình huống đặc sắc, những chi tiết điển hình và đặc biệt là những nhân vật có tính cách hẳn hoi Đến với phóng sự Vũ Trọng Phụng, ta dễ dàng tìm thấy hàng loạt tình huống bất ngờ thú vị: tình huống ngẫu nhiên, tình huống ng-ợc đời, tình huống cãi lộn… để rồi ông dẫn ng-ời đọc đến những mặt trái trong xã hội lúc bấy giờ, cảnh báo cho con ng-ời về số phận của họ
trong xã hội Còn đi vào thế giới nghệ thuật của Ngô Tất Tố trên thể loại
phóng sự, ta tìm thấy những chi tiết điển hình kiểu nh- nghệ thuật băm thịt gà
của thằng Mới, hay chi tiết trong cuộc thi giết lợn trong Tập án cái đình
Tuy nhiên, sự phân chia thành nội dung, nghệ thuật chỉ mang tính chất t-ơng đối bởi trong thực tế sáng tác, mỗi tác phẩm văn học đều có sự hoà quyện giữa những giá trị về nội dung và nghệ thuật chứ không hoàn toàn tách bạch nhau Một tác phẩm thực sự có giá trị phải là một tác phẩm khá hoàn thiện về cả hai mặt đó
Phóng sự 1930 - 1945 đã ghi dấu tên tuổi của nhiều nhà phóng sự nổi tiếng với những thiên phóng sự đặc sắc Và với Ngô Tất Tố, có lẽ đây là giai
đoạn mà ông sáng tác thành công nhất trên thể loại này Đi sâu vào tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của Thục Điểu trong thể loại phóng sự đã giúp ta khẳng định hơn nữa vai trò của ông - những đóng góp của
ông đối với thể loại văn học mới mẻ này Sự có mặt của Ngô Tất Tố thực sự đã
làm hoàn thiện bức tranh phóng sự 1930 - 1945
1.4 Ngô Tất Tố - cây bút phóng sự đặc sắc
B-ớc chân vào làng văn bằng nghề dịch thuật nh-ng lại tr-ởng thành
bằng cây bút tiểu thuyết và báo chí, Ngô Tất Tố viết trên hầu hết các thể loại
Vũ Bằng trong một bài viết của mình về Ngô Tất Tố mang tên Những đoạn
hồi ức đã khẳng định" "Ngô Tất Tố quả là một văn tài, xứng đ-ợc một chỗ
ngồi văn học sử quả là xứng đáng, chớ không phải là do sự tình cờ hay may mắn khiến nên Nói thành thực từ đáy lòng tôi, riêng tôi nghĩ rằng trong tất cả các nhà văn tôi đ-ợc hân hạnh quen biết, không có một nhà nho thuần tuý nào
mà lại viết đ-ợc đủ các mặt nh- Ngô Tất Tố Chẳng thiếu bộ môn gì Ngô Tất
Trang 28Tố không "sống" mà bộ môn nào cũng khá nếu không muốn nói là "trội"”
Trong đó phóng sự là thể loại đạt đ-ợc nhiều thành tựu đáng kể Mặc dù không phải là ng-ời mở đầu cho thể loại phóng sự trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, nh-ng ông thực sự xuất sắc ở thể loại này Nhận định của
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại tập 1 (Nxb Tân dân, Hà Nội, 1942) đã
chứng minh điều đó, "Những tập phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ông về dân quê, ng-ời ta phải công nhận là những tập có giá trị về tài liệu, đầy đủ về
sự thiết thực Ngô Tất Tố là một nhà văn của hạng dân cày nghèo và
dốt"[14,582]
Đúng nh- vậy, phóng sự của ông luôn h-ớng về ng-ời dân quê với hủ
tục lạc hậu ở h-ơng thôn Ngô Tất Tố vốn là một nhà nho nghèo, sinh tr-ởng ở
nông thôn nên có thể nói ông là một trong những ng-ời hiểu biết rất sâu sắc
đời sống nông thôn Ông lại có con mắt quan sát thực tế nên ngòi bút của ông rất chân thực, sinh động Những tập phóng sự ra đời d-ới ngòi bút của ông đều
là những tập phóng sự mang đầy đủ ý nghĩa về nội dung và có những thành công nhất định về mặt hình thức, nổi lên trong đó là cảnh sống nông thôn với bao nỗi bất hạnh của ng-ời dân bị đè nén trong khuôn khổ của những hủ tục
hủ lậu ở làng quê Cái tục lệ thờ thành hoàng quái gở (mà thành hoàng phải
đâu là đấng linh thiêng gì), rồi thủ tục vào ngôi, để có miếng ăn giữa làng không phải là chuyện giản đơn, phải thờ làng rất cầu kỳ, tốn kém, … Tất cả tạo nên một bức tranh thôn quê đầy rẫy sự vô lý, khó chấp nhận
Có thể nói, không phải chỉ có Ngô Tất Tố viết về nông thôn nh-ng có
lẽ, đặc sắc nhất trên mảng đề tài này không thể là ai khác Với hai thiên phóng
sự nổi tiếng Việc làng và Tập án cái đình, Thục Điểu thực sự là cây bút phóng
sự đặc sắc
Trang 29
Ch-ơng 2 Đặc điểm phóng sự và tiểu thuyết phóng sự Ngô Tất
Tố trên ph-ơng diện nội dung
2.1 Về đề tài
2.1.1 Khái niệm
Giáo trình Lý luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục,
2000) định nghĩa "Đề tài là một ph-ơng diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện thực cụ thể đã đ-ợc nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong sáng tác của mình Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất
định, nó đ-ợc xem nh- một nhân tố t-ơng ứng với đối t-ợng phản ánh riêng của tác phẩm Cũng vì thế, xác định đề tài của tác phẩm chính là trả lời câu hỏi: tác phẩm viết về cái gì? về phạm vi hiện thực nào trong cuộc sống?" [4,116]
Bản thân hiện thực đời sống là vô cùng đa dạng, phong phú, mà có bao nhiêu ph-ơng diện trong đời sống thì có bấy nhiêu đề tài của văn ch-ơng vì thế số l-ợng đề tài mà các nhà văn, nhà thơ đi vào khai thác là vô cùng lớn, tuy nhiên, mỗi nhà văn cũng chỉ thành công ở một số đề tài nhất định bởi nó còn phụ thuộc vào quan điểm t- t-ởng, vốn sống của ng-ời sáng tác Ngoài ra, giới hạn của phạm vi đề tài cũng đ-ợc xác định rộng hẹp khác nhau Đó có thể
là giới hạn bề ngoài, chính là đề tài bao trùm nh- đề tài chiến tranh, đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài tình yêu… Tuy nhiên, văn học cần phản ánh những cái cụ thể, đó là cuộc sống, con ng-ời xã hội với tính cách và số phận của nó trong quan hệ nhân sinh phức tạp Vì thế mà cần đi sâu vào những ph-ơng diện bên trong của đề tài Đó là những gì cụ thể nhất: cuộc sống nào? con ng-ời nào? đ-ợc nói đến trong tác phẩm? (Đặc biệt, mỗi tác phẩm là một
hệ thống những đề tài, gồm nhiều đề tài, trong đó có một đề tài chính)
Trang 30Nói tóm lại, đề tài chính là cơ sở để nhà văn khái quát chủ đề và xây dựng hình t-ợng, những tính cách điển hình từ những hiện t-ợng cụ thể trong hiện thực đời sống
2.1.2 Đề tài của phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của Ngô Tất Tố
Sở tr-ờng, t- t-ởng, vốn sống của nhà văn quyết định mảng đề tài mà
họ đi sâu tìm hiểu Ngô Tất Tố vốn sinh ra ở nông thôn am hiểu cảnh sống cực
khổ của ng-ời dân sau luỹ tre làng., lại là một nhà văn sinh tr-ởng trên mảnh
đất văn học hiện thực phê phán Ông luôn có t- t-ởng đứng về phía nông dân, nói lên những tiếng nói phê phán thực tại tàn ác dã man của xã hội thực dân phong kiến Sự khốn khổ ở chốn đình trung đẩy con ng-ời vào chốn bần cùng
Bởi thế, trong bất cứ thể loại văn học nào, Ngô Tất Tố cũng giành sự quan tâm
đặc biệt đối với những ng-ời cực khổ ấy
Đều viết về đề tài nông thôn, nh-ng nếu trong tiểu thuyết Tắt đèn, Ngô
Tất Tố đi vào miêu tả bối cảnh s-u thuế, cái thứ đã đẩy con ng-ời vào nỗi đau
về cả thể xác lẫn tinh thần Thì phóng sự của ông lại đi sâu vào những hủ tục
tệ hại ở thôn quê
Với Việc làng và Tập án cái đình, bức tranh nông thôn với tất cả những gì là quái gỡ, là vô lý nhất đã đ-ợc phơi bày Việc làng, nghe có vẻ rất trang
trọng nh-ng đằng sau đó là tất cả những gì tàn tệ nhất, quái gỡ nhất Mở đầu
tác phẩm Ngô Tất Tố trích dẫn một câu bất hủ "Phép vua thua lệ làng", thế
nghĩa là thế nào? Tức là nghiêm ngặt nh- pháp luật nhà vua mà đến nông thôn cũng phải đứng xuống hàng thứ yếu để cho việc chấp hành những tục lệ của làng đ-ợc đứng lên đầu Có ng-ời thì cho rằng: Pháp luật nhà vua hà khắc, nghiệt ngã khét tiếng trên đời, ấy thế mà đem so với cái hà khắc nghiệt ngã của những tục lệ ở h-ơng thôn cũng phải chịu thua, không thấm vào đâu hết.Có ng-ời lại cho: Phép vua hay lệ làng cũng đều là sản phẩm của chế độ phong kiến, sở dĩ cố nhân nói cái nọ thua cái kia là cốt để vạch rõ những dã man, tàn bạo của cả hai
Và trên mỗi nghĩa khía cạnh, cả ba nghĩa trên đều đúng và đều đ-ợc
Ngô Tất Tố thể hiện một cách khá đầy đủ trong Việc làng Tức là đi vào đề tài
Trang 31những hủ tục ở chốn làng quê để từ đó lên án, tố cáo sự dã man, tàn bạo của xã hội phong kiến
CònTập án cái đình trở đi trở lại vẫn là "nạn xôi thịt", là tệ mê tín dị
đoan m-ời một ch-ơng sách trong tập phóng sự là m-ời một câu chuyện th-ơng tâm về tục lệ hủ hậu ở chốn đình trung, nơi mà các quan anh, quan trên
hễ ngồi với nhau là tranh nhau, mà có phải tranh nhau cái gì cho cam, các cụ tranh nhau từng miếng thịt, từng bát n-ớc mắm…Đúng là tai hoạ đối với ng-ời dân
Nh- vậy, với hai tập phóng sự này của Ngô Tất Tố, mâu thuẫn chính của thời đại đã đ-ợc đặt ra, đó là mâu thuẫn giữa nông dân và bọn thực dân phong kiến tay sai với những hủ tục vô lề lối cứ thế duy trì triền miên ở làng quê, đẩy nhân dân vào chốn cực khổ trăm đ-ờng
Bên cạnh đó, ngòi bút sắc sảo của Ngô Tất Tố còn h-ớng đến một đối t-ợng cực kỳ đặc biệt, đối t-ợng mà lúc ấy Ngô Tất Tố cho rằng họ là những
ng-ời có thể giải phóng đ-ợc cho nhân dân khỏi áp bức bóc lột Đó chính là
tầng lớp trí thức Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề mà Thục Điểu đặt ra trong Việc
làng, còn với cuốn tiểu thuyết phóng sự Lều chõng ông lại đi sâu vào chế độ
tr-ờng ốc học hành thi cử lạc hậu thời phong kiến Toàn bộ cuốn sách kể về việc học thi của Vân Hạc cùng bạn bè của anh ta Cảnh tr-ờng thi và những thủ tục thi cử vô lý đ-ợc tác giả miêu tả rất tỉ mỉ, chính xác qua từng chi tiết
cụ thể Để từ đó cho độc giả thấy đ-ợc sự đồi bại của lối thi cử ngày x-a đẩy ng-ời học, ng-ời thi vào những bi kịch - đó chính là bi kịch của những ng-ời trí thức phong kiến (Vân Hạc là tiêu biểu cho tấn bi kịch đó)
Nói cách khác, xây dựng tiểu thuyết Lều chõng chủ ý của tác giả là làm
cho ng-ời đọc thấy đ-ợc những nét chính của lối học và thi cử thời phong kiến với tất cả mọi sự thối nát của nó Những sự việc khác trong truyện - kể cả hôn nhân, tình yêu đều là phụ
Mảnh đất văn học hiện thực trên đề tài nông thôn, đề tài ng-ời trí thức lúc bấy giờ đã có nhiều ng-ời cày xới song mỗi nhà văn thành công ở mỗi
khía cạnh khác nhau Ngô Tất Tố với việc phê phán những hủ tục ở làng quê
Trang 32và chế độ học hành thi cử thuở x-a đã cho ta thấy một sự am hiểu thời cuộc, một vốn sống phong phú của ng-ời trí thức chốn Kinh Bắc này
2.2 Ph-ơng thức phản ánh hiện thực
2.2.1 Phản ánh hiện thực là quy luật tất yếu của văn ch-ơng
Mác cho rằng: "Vận động của t- duy chỉ là sự phản ánh của vận động hiện thực đ-ợc di chuyển vào và đ-ợc sự cải tạo trong đầu óc của con ng-ời" Nh- vậy hiện thực chính là nguồn gốc của ý thức mà văn nghệ lại là một hình thái ý thức của con ng-ời, do đó đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi d-ỡng nghệ thuật và đồng thời là cái chìa khoá giải thích đ-ợc những hiện t-ợng phức tạp của nghệ thuật
Tuy nhiên, văn học không tách rời t- t-ởng, nh-ng chính t- t-ởng lại cũng bắt nguồn từ hiện thực Lênin cho rằng quan điểm của mọi ng-ời bao giờ cũng xuất phát từ một môi tr-ờng xã hội nhất định Nên xét đến cùng thì bất
kỳ nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định, bất
kỳ một nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi tr-ờng sống nào đó Và bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng là sự khúc xạ qua lăng kính chủ quan của ng-ời nghệ sĩ từ những vấn đề trong đời sống xã hội Ngay cả những hiện t-ợng nghệ thuật không giống nh- đời sống, ng-ời ta không tìm thấy ngoài thực tế cuộc đời (hiện t-ợng "nhân s-" là một ví dụ) Trong quá trình sáng tác,
ta không phủ nhận vai trò chủ quan của ng-ời cầm bút trong việc lựa chọn và
áp dụng ph-ơng pháp sáng tác cho những đứa con tinh thần của họ, nh-ng thực tế sự hình thành ph-ơng pháp chung của một trào l-u văn học xét đến cùng cũng là bắt nguồn từ thực tại khách quan Vì vậy, ta có thể khẳng định rằng phản ánh hiện thực chính là thuộc tính tất yếu của văn ch-ơng
2.2.2 Ngô Tất Tố với ph-ơng thức phản ánh hiện thực
2.2.2.1 Đi sâu vào những hủ tục của làng quê
Từ 1931, trên tờ báo Đông Ph-ơng của Mai Du Lân với bút danh Lộc
Hà, Ngô Tất Tố đã tiến hành một cuộc điều tra về phong tục các làng, về việc
đình trung ở thôn quê Cuộc điều tra xoay quanh bốn vấn đề chính:
- Hủ tục ở chốn làng quê
Trang 33- Thói háo danh, đua nhau tranh dành ngôi thứ, mua chức t-ớc
- Mê tín dị đoan
- Thần tích hoang đ-ờng của các làng
Hiện thực điều tra ấy đ-ợc Ngô Tất Tố phản ánh một cách sắc sảo và
đầy đủ trong Việc làng và Tập án cái đình Những hủ tục ở làng quê, ông coi
đó là một cái gì vô lý, "quái gỡ", "mọi rợ" và đặt chính quyền thực dân tr-ớc trách nhiệm phải giải quyết
Việc làng và Tập án cái đình đã cho ta thấy cái nhìn toàn diện về cuộc
sống của ng-ời nông dân đ-ơng thời bằng cách miêu tả tỉ mỉ cuộc sống với bộ máy h-ơng lý đầy rẫy những thối nát, lộng hành, đám dân đen thì bị đè nén,
áp bức đến cực độ
Mở đầu thiên phóng sự Việc làng, tác giả đã miêu tả cảnh hấp hối của
một nạn nhân của cái tệ lậu đ-ợc che đậy d-ới thứ gọi là "thuần phong mĩ tục"
- cụ th-ợng Lão Việt: “ Một ng-ời chăm chỉ cần kiệm lao lực nh- tôi chỉ vì một gánh tệ tục đè ép đến nỗi suốt đời không ngóc đầu đ-ợc, bây giờ sắp chết
gánh tệ tục ấy còn đè ép ch-a tha, ông bảo có oan uổng không?” (Lớp ng-ời bị
gỡ hết đ-ợc Một ng-ời chết đi để lại cho những ng-ời sống một món nợ mà không biết họ có gánh nổi không?
Khổ hơn nữa, chỉ vì Một đám vào ngôi hay Hạt gạo xôi mới mà nhiều
ng-ời đã mất cả cơ nghiệp ở chốn thôn quê, có đ-ợc ngôi giữa làng là cực kỳ quan trọng, đặc biệt là họ phân biệt nghiệt ngã giữa dân chính c- và dân ngụ
Trang 34khốn đốn Theo lệ làng thì đến đời thứ ba sống ở làng những ng-ời dân ngụ c- mới đ-ợc vào đinh với làng Đến đời con bác Cả Mão đã đến lúc mọi ng-ời trong nhà bác đ-ợc ăn miếng thịt giữa làng Nh-ng có phải đơn giản gì, lo lót
từ trên xuống d-ới, nào là cụ ch-ởng lễ, ông chánh hội, ông lý tr-ởng, ông phó lý, ông phó hội, rồi còn là th- ký, tr-ởng bạ, h-ơng tr-ởng, lý cựu, tộc biểu, tr-ơng tuần, lại còn phải giết trâu, mổ lợn khao làng, cấp tiền cho các cụ chơi tổ tôm nữa chứ Có một tiệc vào ngôi cho cậu con trai để nó có cái tên trong làng ngang hàng với những đinh khác, bác Cả Mão mất ngót hai trăm
đồng mà cả đời bác làm cũng chẳng đủ trả nợ, sau khi lo xong việc cho con, bác cả đi dạm bán "một mẫu hai ruộng, lấy trăm đồng bạc để trang công nợ" Tuy vất vả thế nh-ng bác Cả Mão còn đ-ợc một việc đó là lo xong đinh cho
cậu con trai, còn nh- ông Quyết (trong Hạt gạo xôi mới) sau khi sửa xong xôi
mới cho làng thì nhà không còn gì nữa, mấy đứa cháu ông ta kể cho biết
"Hôm qua đã phải bán một cái chum đựng n-ớc lấy tiền mua r-ợu” Từ đầu
đến cuối câu chuyện ta thấy toàn là những điều ng-ợc đời, vô nghĩa lý Ng-ời
đến giúp việc soạn "cỗ xôi mới" quá đông, không có việc gì để làm buộc họ phải dàn trải công việc ra cùng làm để rồi mỗi ngày vợ ông Quyết cứ cắp làn
đi chợ lo đủ bảy tám mâm cơm r-ợu ngồi la liệt giữa nhà Và cuối câu chuyện
Ngô Tất Tố đã đi đến một kết luận: "Thì ra hạt gạo xôi mới có khi là cả gia tài
của ng-ời ta"
Có những thứ nhiều khi không phải là tục tệ của làng nh-ng rồi dần dần
nó trở thành thói quen, thành trách nhiệm của họ Qua nhân vật "tôi", ta biết rằng việc soạn cỗ xôi mới cầu kỳ không có lệ ngạch nào quy định cả nh-ng ẩn
đằng sau đó lại chính là sự ép buộc mà họ không thể không làm nh- thế:
"tr-ớc kia làng cháu đã có lắm ng-ời chỉ sửa một "vấn" xôi mới mà mất cả cơ nghiệp ông ạ" Cơ nghiệp cả đời của ng-ời ta dễ dàng mất đi, sự bóc lộc tàn tệ của bọn thực dân phong kiến có mặt ở khắp mọi nơi Chúng đục khoét cả
những ng-ời có tiền, cả những ng-ời khố rách áo ôm.Trong Cỗ oản tuần sóc
ta thấy bọn cho vay nặng lãi, bọn địa chủ, bọn c-ờng hào cùng nhau xúm vào bóc lột ng-ời nông dân đến tận x-ơng tuỷ Sau khi vợ chết vì lâm bệnh, ông
Trang 35Linh Phúc đã bán mấy sào t- điền mà vẫn không trang trải hết tiền thuốc, tiền
ma chay nên ông ấy mới mang công mắc nợ Vợ ông "về với tổ tiên" để lại cho ông năm đứa con và một món nợ không biết đời nào trả xong, ông đành dứt tình với hai đứa con, đứa bé nhờ một ng-ời nuôi hộ, đứa lớn cho đi ở không công, một mình ông với chiếc đòn gánh lam lũ quần quật nuôi ba đứa con, ông tâm sự: " Từ khi bắt đầu xoay sang cái nghề gánh m-ớn, vì chiếc đòn gánh đè xuống nặng quá, thớ thịt đều phải dập nát và s-ng u lên, lúc ấy đặt chiếc đòn gánh lên vai, ng-ời tôi thấy buốt từ đầu đến gót, t-ởng nh- chết
điếng đi đ-ợc." Vất vả đến nh- thế mà mỗi ngày ông Phúc cũng chỉ kiếm
đ-ợc khoảng m-ời lăm xu "với số tiền ấy ông ta cũng đủ mua ngô, mua khoai
để nuôi bốn cái dạ dày, tuy mỗi ngày còn phải bớt ra mấy xu để trả lãi tháng cho ng-ời chủ nợ"
Tục làng, lệ làng đã đẩy ng-ời nông dân đến chốn bần cùng, nợ nần chồng chất, sự sum họp gia đình tan vỡ, cuộc sống cực khổ trăm đ-ờng Ngòi bút Thục Điểu đã đi vào phản ánh một cách chân thực cuộc sống vật chất của ng-ời nông dân Đã thế, hủ tục lại càng đè ép hơn nữa lên đầu ông Linh Phúc:
"Chết vì đầu năm đến giờ ông ta lại mới lên ngôi "ông trùm" Đó có phải là chức t-ớc gì cho cam, chẳng qua chỉ là gánh nặng lại tiếp tục đè lên vai ông Phúc mà thôi
Thế mà mỗi năm hai lần ông phải lo xoay xở sửa soạn cổ oản Một ng-ời khánh kiệt mọi thứ nh- ông, gia tài chỉ còn chiếc đòn gánh thì lấy gì
mà mâm với cỗ Không còn cách nào khác ông phải dỡ cả nhà đi bán củi: "nhà không sẵn vay không ai tin, tôi đành dỡ hai gian nhà làm củi để bán lấy tiền mua gạo" Thế đấy, chút gia sản cuối cùng cũng bị gánh hủ tục cuốn đi Thế
mà, ng-ời ta đến ăn cỗ còn khen ông Phúc là ng-ời tháo vát, khen cỗ ông ấy
là tốt, chuối ông ấy là mẫm… rồi buổi tối đó ông lại còn phải mua chịu mấy chai r-ợu nữa cho bà con uống Và kết thúc câu chuyện là câu hỏi không có lời đáp: "Bao giờ ông lại sửa tuần sóc thứ hai?" Nh- vậy qua việc miêu tả đậm
nét cuộc sống bần cùng của ông Phúc, Ngô Tất Tố đã nói đến tác hại của hủ
tục và những tai hại của tục lệ xã hội của "lệ làng"
Trang 36Đặc biệt, ở chốn làng quê, không có ngôi giữa làng, không đ-ợc ăn phần của làng là quan trọng nh-ng chết mà không đ-ợc làng chôn thì lại thật
là một nỗi đau khổ cực độ Lợi dụng lòng mê tín của ng-ời nông dân, bọn
thực dân tay sai ra sức bóc lột họ Trong Nén h-ơng sau khi chết, bà lão T- Tỵ
chỉ vì muốn đ-ợc làng khiêng và thắp h-ơng cho sau khi chết mà đã mất cả gia tài một đời lam lũ mới có đ-ợc Cũng chỉ vì bà không có con cái, họ hàng thì xa cả, thằng Cả Thân là ng-ời đ-ợc ăn thừa tự bà ấy nh-ng mà thằng ấy lại
đục khoét bà ta nh- mọt Hắn thông đồng với bọn hào lý bàn với bà T- Tỵ phải nộp một mẫu ruộng để làm ruộng hậu, một trăm bạc để làm sung công và sửa con lợn cỗ xôi Nh-ng để kiếm đ-ợc một món kha khá cho riêng mình, chờ đơn "kí hậu" làm xong, bà T- Tỵ đã mắc vào tròng, bây giờ chúng mới giở ngón: "ông Điển đòi năm chục, chánh hội, lý tr-ởng mỗi ng-ời đòi ba chục các ông lý dịch, tộc biểu, mỗi ng-ời đòi hai chục" Bà T- Tỵ toan xin thôi nh-ng chúng doạ nếu lừa dối làng nh- vậy thì chết làng sẽ không khiêng Thế là không có tiền, bà đánh phải gán ruộng cho chúng Cả cái gia tài do mồ hôi n-ớc mắt của ng-ời đàn bà goá chồng một mình làm ra bị bọn c-ờng hào c-ớp dần hết
Từ đầu đến cuối phiên phóng sự Việc làng nổi trội lên nạn xôi thịt ở
chốn đình trung Đọc từng đầu đề truyện ta cũng đã phần nào thấy đ-ợc điều
đó Nào là đình đám (Một đám vào ngồi), thịt gà (Nghệ thuật băm thịt gà), Hạt gạo (Hạt gạo xôi mới), cỗ (Mua cỗ), gà (Con gà thờ), cỗ oản (Cỗ oản tuần
sóc), tiệc (Một tiệc ăn vạ) thậm chí là cả xâu lòng (Xâu lòng thờ), chiếc lăm
lợn (Một chiếc lăm lợn), miếng thịt (Miếng thịt giỗ hậu) Tất cả chỉ vì miếng
ăn Nh-ng nhiều lúc chỉ vì miếng ăn thôi mà ng-ời nông dân đã phải tự tử
Lão Sửu trong "Một tiệc ăn vạ" là một ví dụ ăn vạ là một việc xảy ra gần nh-
th-ờng xuyên ở chốn làng quê, ăn vạ nghĩa là làng cứ việc mua lợn, mua r-ợu, mua gạo ra đình mà ăn, tổn phí bao nhiêu, ng-ời có tội phải chịu Ai không chịu làng sẽ trừng trị, sẽ tuyên bố là ng-ời đó không tuân theo lệ làng, không
có ai ngồi chung khi ăn uống và không có ai chôn khi chết Khốn thay, đó lại
là một điều sĩ nhục lớn nhất đối với ng-ời dân quê Vì thế dù không có tiền họ
Trang 37cũng phải bán ruộng, bán nhà, đi vay, phải cắn răng mà chịu đựng Tuy nhiên, khổ một nỗi là những ng-ời bị ăn vạ là những ng-ời vô tội, họ bị ăn vạ vì bọn
lí dịch muốn kiếm chác hoặc để trả thù riêng Mà với Lão Sửu là bọn chúng muốn đạt đ-ợc cả hai đích trên, vừa kiếm chác đ-ợc một món nào đó, vừa trả thù đ-ợc cho riêng mình Chỉ vì không cho một lão trùm trong làng vay lúa -
kẻ mà lão Sửu thừa biết nếu vay thì chẳng bao giờ chúng trả - mà hắn ta đã khép cho lão Sửu tội chửi làng Hắn đem câu chuyện đó đến trình làng Làng
là ai? "Làng là bọn đó chứ có ai đâu, chúng với hắn cũng nh- một đào một kép, cho nên khi thấy hắn trình chúng liền hùa nhau bắt vạ lão Sửu" Tiệc ăn vạ đã làm lão Sửu tốn đến hơn trăm bạc Buổi sớm làng ăn uống linh đình thì buổi chiều lão thắt cổ chết Cái chết của lão đã tố cáo tính chất vô nhân đạo của các hủ tục ở nông thôn Bọn chúng tìm mọi cách bóp nặn dân chúng Nh-ng đồng thời với việc đó ta thấy đ-ợc cái bỉ ổi của bọn c-ờng hào lý dịch
ở nông thôn Trong Xâu lòng thờ, Ngô Tất Tố đã vạch mặt bọn chúng Chỉ vì
bác Hai Đắc chia phần cho tên ch-ởng lễ thiếu mất một xâu lòng mà hắn bắt bác phải đền một trăm bạc Đối với ng-ời nông dân, chắt chiu làm lụng cả đời may ra đ-ợc chừng ấy tiền, thế mà, đùng một cái là bọn chúng có thể mở miệng ra mà đòi dân đ-ợc Trong chuyện này, tác giả đã m-ợn một nhân vật trong truyện vạch mặt chúng: "Lão ch-ởng lễ làng tôi đểu lắm, cái gì cũng tiền Tôi nói đến hộ thằng Đắc, lão ta nhất định đòi hai điều này: một là thằng
Đắc giết lợn mời làng tế thánh để lấy một xâu lòng thờ biếu hắn, hai là đền cho hắn trăm bạc Mà hắn đã nói một trăm, ít ra cũng phải sáu chục mới xong:
"ấy ở nhà quê khó thế, ông ạ! Có của đã chắc giữ đ-ợc mà ăn đâu?"
Rồi nữa, bọn thống trị lại còn đặt ra thứ cỗ này cỗ nọ bắt nông dân phải
đóng tiền, đây là một hình thức s-u thuế, nh-ng là s-u thuế nấp d-ới hình thức tục lệ, lệ làng, nghe có vẻ nh- là tự nguyện nh-ng thực chất là sự đè ép của
tầng lớp trên, không đóng không đ-ợc "Mua cỗ" là một dẫn chứng điển hình
Đứa bé em thằng Tý mới có năm tuổi nh-ng bố nó đã phải chạy vạy ng-ợc xuôi vay tiền mua cỗ cho nó Cứ thế mà làm, các cụ thích khi nào thì ng-ời nông dân phải mua cỗ khi đó, chẳng có lệ ngạch nào cả Để dễ dàng thu về
Trang 38túi mình, các cụ đã chuyển từ sửa cỗ xôi sang bán và mua cỗ vì nếu qui ra tiền thì các cụ chia nhau tiêu, lại còn đ-ợc ăn uống linh đình nữa chứ Bọn lý dịch c-ờng hào không hề lỗ vỗn trong những dịp nh- thế này mà còn lãi rất lớn, chúng đã bán cỗ cho ai là ng-ời ấy phải mua, không mua chúng lại bảo là thiếu đóng, thiếu góp với làng rồi họ sổ ngôi Bóc lột đến thế là cùng, đến mức
Ngô Tất Tố phải "phục cái thủ đoạn của mấy ông kỳ dịch lãng ấy Có lẽ không
thua gì những nhà chính trị đại gia" Đã thế chúng lại còn keo kiệt, tiền không
tiêu mà chỉ đi bóc lột sức lao động nông dân là giỏi Anh phu xe trong Món nợ
chung thân phải kéo xe chở cụ nhà nó đi tới sáu m-ơi cây số chỉ vì ông ta sợ
mất mấy hào Khổ thân cho anh phu xe, vợ mất đi để lại cho anh ta một móm
nợ mà cả đời cũng không trả nổi Tất cả cũng chỉ tại lệ làng, một ng-ời chết
đi, "dù giàu dù nghèo nhà chủ cũng phải giết một con lợn đãi "phe" một bữa dấm ghém, làng mới khiêng cho" Vì sợ tủi vong hồn vợ và ngại với gia đình, anh em nhà vợ nên dù không có anh cũng cố lo bữa r-ợu để mời hàng giáp và kết quả là "món nợ chung thân" đeo đuổi anh suốt cuộc đời
Cùng với Việc làng, Tập án cái đình góp phần hoàn thiện hơn về bức
tranh cuộc sống nông thôn ở đây ta thấy đ-ợc những "nạn" cụ thể của ng-ời dân Chỉ vì mê tín dị đoan, vì những hủ tục h-ơng thôn mà họ phải rơi vào chốn bần cùng D-ờng nh- d-ới con mắt của Ngô Tất Tố, cuộc sống của ng-ời dân gắn liền với thần thiêng, với những cuộc thi lấy danh, với miếng ăn của các cụ bề trên của làng
Thứ để họ thờ cúng, cho đó là "Thành hoàng" cũng thật là vô lý Đó là ngài Me-xừ toóng quán ở Triệu Thành bên Tàu "Vì trót ăn thịt con trai của một mụ già vùng ấy, ngài ta mới bị quan huyện sở tại bắt làm con nuôi bà kia,
để sớm hôm nuôi cái thân già cô độc Ngài ấy bằng lòng liền bắt h-ơu, nai, ăn trộn vàng bạc gấm vóc tha về cho bà mẹ nuôi Rồi khi bà lão tạ thế, ông con nuôi này còn về tận mả gầm gào một hồi Ng-ời ta bảo đó là ông cọp khóc
mẹ Vì vậy, ng-ời ở miền ấy mới lập ngôi nhà thờ ngài, họ gọi là đền Nghĩa Hổ" Đó là một ngài sống ở đời Lê, khi sống rất giỏi về khoa đào t-ờng khoét ngạch nh-ng rồi cũng bị bắt và bị xử tử Chỉ vì chết đ-ợc giờ linh, cho nên
Trang 39mới đ-ợc tôn làm Thành hoàng Thờ Thành hoàng là mong dân làm ăn suôn
sẻ, ng-ời ta quan niệm, đến khi Thành hoàng hết hiển linh thì sẽ bị cách chức
và đem Thành hoàng khác lên thay Và để thay cho thần chuyên đục khoét, ng-ời ta r-ớc một ông thần "bơi" về thờ, hàng năm, ng-ời ta kỉ niệm Thành hoàng bằng những cuộc bơi trải; lại có khi Thành hoàng của làng là một tên t-ớng c-ớp
Thế nh-ng, ng-ời ta vô cùng kính cẩn, lễ nghi rất nghiêm, họ cho rằng
"Thành hoàng làng nào tức là vua của làng ấy", họ kính cẩn gọi nơi thờ thành hoàng là hậu cung, nơi đó là chỗ thâm nghiêm, ngoài ông thủ từ ra thì không
ai dám b-ớc chân vào vì theo họ chuyện ma quỷ không phải là chuyện chơi không thể coi th-ờng, ông thủ từ còn cho: "Đức th-ợng đẳng làng tôi thiêng lắm, ng-ời nào vô ý sẽ bị vật chết t-ơi"
Rồi họ th-ờng xuyên làm lễ kỷ niệm những đấng thiêng liêng của họ, nh-ng họ có biết đâu đó chỉ là những trò vô nghĩa lý, không can hệ gì đến cuộc sống của họ, cuộc sống họ rơi vào bần cùng là do bọn c-ờng hào lý dịch kia, chúng là những kẻ lợi dụng hủ tục làm tội nông dân Những cuộc thi, những trò mà chúng bày ra đối với dân chúng thì cái đích cuối cùng cũng chỉ
là miếng ăn, để chúng kiếm chác Không chỉ trong Việc làng mà ở Tập án cái
đình tác giả cũng miêu tả tỉ mỉ nạn xôi thịt ở chốn đình trung Mở cuộc thi
giết lợn và có treo giải là năm sào ruộng, song năm sào ruộng ấy trong một năm có bù đ-ợc một phần m-ời tốn kém trong đám hay ch-a bởi vì mỗi năm
lệ làng có bốn đám, mỗi ng-ời phải nuôi một con ỉ, đến hôm thì đ-a ra thờ Cỗ
bé thì sẽ mang tiếng với làng n-ớc nên họ phải cố chiến thắng trong cuộc thi này Một ngày đám diễn ra nh- vậy, nhà làm đám phải tốn đến trăm bạc vì phải mời làng một bữa Tiệc to, tiệc nhỏ không có tiệc thì bịa ra, bằng cách này hay cách khác, bọn c-ờng hào lý dịch đều có thể đục khoét dân lành tận x-ơng tuỷ Ta vừa đau xót, cảm thông cho những ng-ời nông dân, nh-ng cũng thấy buồn c-ời về những thứ đang diễn ra ở thôn quê Lại một cuộc thi nữa để tìm ra đâu là lợn anh, đâu là lợn em Nghe đến bốn tiếng "lợn anh lợn em", ta nh- t-ởng rằng trong n-ớc Đại - nam lại có nhà đạo đức nào sắp sửa duy trì
Trang 40phong hoá cho loài lợn Nh-ng thực chất ng-ời ta dùng lợn để tranh ngôi trên, ngôi d-ới Giáp nào lợn đ-ợc làm anh thì sẽ đ-ợc làm cỗ chính tiến cúng đức th-ợng đẳng, lợn em thì phải để vào cỗ tuỳ tiến, cúng các bộ hạ Và ng-ời ta quan niệm rằng lợn của giáp nào đ-ợc dùng làm cỗ chính tiến thì giáp ấy đ-ợc
đức th-ợng đẳng phù hộ, suốt năm làm ăn phát đạt và trái lại với giáp làng bị lợn làm em Những ng-ời đ-ợc lợn làm anh tỏ ra rất đắc ý Nh-ng thử hỏi đức th-ợng đẳng là tên t-ớng c-ớp thì lấy gì phù hộ cho họ làm ăn, họ sẽ mãi sống trong cuộc sống bần cùng nếu không bao giờ thoát ra khỏi mê tín dị doan Bọn thực dân phong kiến chính là thủ phạm, chúng là những kẻ gieo rắc t- t-ởng phục cổ, thói mê tín dị đoan
Rồi còn biết bao nhiêu là tục lệ trở thành gánh nặng đè lên vai ng-ời nông dân Thông th-ờng ở thôn quê, th-ờng bầu ra các ông từ, ông tế, ông
đám, làng Th.S của ông Phức trong Đ-ợc một trai mất ba lợn cũng đã có đủ
các chức danh ấy Ông Đám là ng-ời do dân và thánh thần bầu ra nh-ng cũng
đ-ợc lựa chọn kỹ l-ỡng Đó là một ng-ời "ngoài năm chục tuổi, không can án, không tàn tật, không có tang chế và không goá vợ" Và mỗi khi vi phạm bất cứ một điều gì sẽ bị làng ăn vạ D-ờng nh- ăn vạ cũng là "quốc tục của ng-ời Việt Nam" thì phải, cứ mở miệng ra là ăn vạ, phạt vạ Ông Đám Phức là nạn nhân của một trong những tiệc ăn vạ ấy của làng.Tâm lý của ng-ời Việt Nam không có con trai nối dõi tông đ-ờng là một nỗi đau lớn nhất của một dòng
họ, sẽ dễ bị mất nòi giống Ông Đám Phức tuy đã già nh-ng khốn nổi sinh con một bề nên phải đèo bòng vợ hai Khổ thay cho ông, vợ vừa c-ới về ch-a đ-ợc một năm thì ông đ-ợc cử làm quan đám, ta cũng biết, làm quan đám kiêng làm việc ô uế nh- gánh phân, gánh tro hay giặt dịa, may vá quần áo cho vợ,… thế mà vợ hai quan Đám Phức lại có chửa Thế là bị làng phạt vạ Cho dù ông
có van xin thì cái tội của ông cũng không ai cứu nổi Và rồi, trai làng cứ thế bắt lợn làm thịt mời làng, nhà Đám Phức cứ tính đấy mà trả Đến khi đám xong thì lão Phức mắc làng một món nợ lớn mà trong nhà lão chẳng đủ để trang trải "Sáng mai, ông Phức vào cái nhà tôi trọ, đánh tiếng bán nhà, bán
đất để trang trải những món tiền lợn, tiền r-ợu, tiền gạo mà chạ đã ăn" Và