Các tác phẩm tạp văn viết về những vấn đề nóng của xã hội mà Nguyên Ngọc công bố trong thời kì gần đây đã thu hút dư luận của xã hội.. Vì vậy sự phát triển của thể loại tạp văn trong nền
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
Phan thị thúy hằng
đặc điểm tạp văn nguyên ngọc
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
Phan thị thúy hằng
đặc điểm tạp văn nguyên ngọc
chuyên ngành: lý luận văn học mã số: 60.22.32
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học
Ts Lê thời tân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phạm vi khảo sát và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận văn 7
6 Bố cục của luận văn 7
Chương 1. Đặc điểm nội dung tạp văn Nguyên Ngọc 8
1.1 Về thể loại tạp văn 8
1.1.1 Khái niệm tạp văn 8
1.1.2 Tạp Văn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại 11
1.2 Đề tài tạp văn 13
1.2.1 Vài nét về đề tài tạp văn 13
1.2.2 Đề tài tạp văn Nguyên Ngọc phong phú đa dạng 14
1.3 Tạp văn Nguyên Ngọc thể hiện những nhận thức mới xã hội 21
1.3.1 Tạp văn Nguyên Ngọc phân tích khách quan thực trạng xã hội 21
1.3.2 Tạp văn Nguyên Ngọc nêu bật các vấn đề nổi cộm trong xã hội 32
1.3.3 Tình cảm của tác giả thể hiện trong tạp văn và những giải pháp giải quyết các nan đề xã hội mà tác giả đề xuất 36
Chương 2 Đặc điểm nghệ thuật tạp văn Nguyên Ngọc 40
2.1 Tạp văn Nguyên Ngọc xét về mặt dung lượng 40
2.1.1 Cách hiểu về dung lượng tác phẩm 40
2.1.2 Tạp văn Nguyên Ngọc mang "tầm" của những thể loại lớn hơn 41
2.2 Kết cấu tác phẩm tạp văn Nguyên Ngọc 44
2.2.1 Giới thuyết về kết cấu tác phẩm văn học 44
Trang 42.2.2 Kết cấu văn bản nghệ thuật tạp văn Nguyên Ngọc 45
2.3 Giọng điệu 54
2.3.1 Giọng nghị luận sắc sảo 56
2.3.2 Giọng điệu giàu chất trữ tình 58
2.3.3 Cấu trúc câu trong tạp văn Nguyên Ngọc 60
Chương 3 So sánh truyện và tạp văn của Nguyên Ngọc 69
3.1 Vị trí tạp văn trong sự nghiệp văn học của Nguyên Ngọc 69
3.2 Những tương đồng và khác biệt về mặt nội dung 73
3.2.1 Những tương đồng về mặt nội dung 73
3.2.2 Những khác biệt về mặt nội dung 75
3.3 Những khác biệt của hai thể loại khi thể hiện cùng một đề tài 78
3.3.1 Những giới thuyết cần thiết 78
3.3.2 Những khác biệt của hai thể loại khi thể hiện cùng một đề tài 79
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyên Ngọc là nhà văn có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học Việt Nam đương đại Ông là một trong những nhà văn - chiến sĩ đứng ở hàng đầu đồng hành cùng các phong trào cách mạng từ thời chống Pháp đến thời chống Mĩ và tiếp theo là thời kì Đổi mới Thời kì nào ông cũng có những tác phẩm tiêu biểu, gây tiếng vang và có những đóng góp tích cực tác động đến đời sống văn hóa xã hội, tình cảm nhân dân Ngoài sáng tác văn học ra ông còn là một nhà nghiên cứu văn hóa - đặc biệt văn hóa Tây Nguyên Ông đã dịch hàng nghìn trang sách vô cùng bổ ích của các nhà nghiên cứu dân tộc học trên thế giới viết về Tây Nguyên, tạo cho các nhà quản lí có cái nhìn chuẩn xác, sâu sắc hơn đối với miền đất huyền ảo, giàu tiềm năng này Từ
Đất nước đứng lên qua Rẻo cao, Rừng xà nu qua Đất Quảng đến Mèo Vạc, Tháng Ninh Nông, Cát Cháy rồi Có một con đường mòn trên biển Đông một
loạt tác phẩm cắm mốc trên con đường văn chương Nguyên Ngọc Có thể nói ông là con người "không gì làm cũ được" Các tác phẩm tạp văn viết về những vấn đề nóng của xã hội mà Nguyên Ngọc công bố trong thời kì gần đây đã thu hút dư luận của xã hội Có thể nói càng về già, sự sắc sảo, tầm phản biện xã hội, trách nhiệm công dân của người cầm bút nơi Nguyên Ngọc càng bộc lộ rõ rệt hơn lúc nào hết Tìm hiểu tạp văn ta càng hiểu đầy đủ hơn
về sự nghiệp sáng tác của ông
Trong xã hội ngày nay tạp văn là một thể loại được sử dụng ngày càng
phổ biến Báo Văn nghệ số nào cũng đăng ít nhất một bài tạp văn Nhiều tạp
chí không chuyên về văn học cũng in khá nhiều tạp văn Trong nền văn học thế giới cũng như văn học Việt Nam có không ít tác giả viết tạp văn bên cạnh các thể loại khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch Và họ cũng đạt được
Trang 6nhiều thành công lớn Xét ở phương diện nào đó, tạp văn là thể loại rất phát triển trong xã hội đương đại Vậy mà dường như việc nghiên cứu đánh giá, nhận xét về thể loại còn rất ít hoặc chưa đầy đủ Vì vậy sự phát triển của thể loại tạp văn trong nền văn học đương đại yêu cầu cần phải có một sự quan tâm nhiều hơn nữa từ phía các nhà nghiên cứu và phê bình văn học
Tạp văn Nguyên Ngọc đề cập đến các vấn đề bức xúc trong xã hội với cách nhìn thẳng thắn mới mẻ trung thực Ông đã tiếp nối theo Phan Khôi buổi đầu thế kỉ Nguyên Ngọc là người đi đầu trong việc nêu yêu cầu phản biện và xét lại đối với hàng loạt vấn đề xã hội đương đại Nghiên cứu tạp văn Nguyên Ngọc để hiểu hơn về con người ông - một người lính trở về từ tiền tuyến luôn đi đầu trên mặt trận văn chương và địa đầu văn hóa thời Đổi mới Nghiên cứu tạp văn Nguyên Ngọc để hiểu hơn về những ước mong hoài bão lớn lao của ông về sự phát triển của đất nước
2 Lịch sử vấn đề
Nguyên Ngọc là nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam tuy số lượng sáng tác để lại không phải là nhiều Nhìn lại những những công trình nghiên cứu về ông đã có rất nhiều nhà văn nhà thơ như: Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàm, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đăng Khoa, Ngô Thảo Tựu trung lại bao gồm các bài nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về văn xuôi Nguyên Ngọc hoặc những bài tìm hiểu tác phẩm cụ thể và những bài nghiên cứu về phong cách
Đầu tiên có thể kể đến Phong Lê với hai bài viết về Nguyên Ngọc đăng
trên Tạp chí Văn học số 2 - 1970 và số 4 - 1972 Trong bài Con đường sáng
tác của Nguyên Ngọc, Phong Lê đã khái quát về con đường sáng tác, thẩm
bình những đóng góp mà văn xuôi Nguyên Ngọc đã mang lại cho văn học hiện đại Việt Nam: “Con người luôn gắn bó với cách mạng cho nên con đường anh đi sẽ dẫn đến hàng đầu cuộc sống, dẫu anh hòa làm một, sống như
Trang 7một người trong cuộc với nhân dân, để từ đó nghe rõ mọi tiếng động của đời
Từ những rung chuyển lớn lao của thời cuộc đến những điệp khúc của mỗi con tim trong nguồn sống đó, tiếng nói của anh không phải là xa lạ, đơn lẻ mà
là tiếng nói lớn của nhân dân, tiếng nói lạc quan đằm thắm, hoành tráng có sức giục giã con người vươn lên” Tìm hiểu thêm về sáng tác của Nguyên Ngọc kháng chiến chống Mỹ, Phong Lê nhận xét về vị trí của Nguyên Ngọc trong văn học cách mạng miền Nam; “Nhìn chung Nguyễn Trung Thành có bản sắc rõ nét và có đóng góp nổi bật trong văn học cách mạng Việt Nam” [17, 113]
Ngô Thảo trong bài viết Nguyên Ngọc - nhà văn chiến sĩ đã đánh giá
sáng tác văn xuôi của Nguyên Ngọc: “Tác phẩm của Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành đã có nhiều đóng góp trong nền văn học hiện đại Việt Nam Một nền văn học được chính thức đánh giá là đã góp phần vào công cuộc đấu tranh cách mạng”
Còn Nguyễn Văn Long và Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học (bộ
mới) đã đi vào cốt lõi bản chất sáng tạo của Nguyên Ngọc: “Sáng tác của Nguyên Ngọc tuy không nhiều về số lượng nhưng vẫn gây ấn tượng với độc giả ( ) Sự quan tâm đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại lịch sử luôn được đặt ra trong các bước ngoặt của dân tộc và của cách mạng, cùng với niềm say
mê những tính cách anh hùng mạnh mẽ khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang đậm nét tính chất sử thi lại mang đậm nét trữ tình”
Trần Đăng Khoa trong bài viết Nhà văn Nguyên Ngọc, trên cơ sở những
hiểu biết sâu sắc về cuộc đời, trang văn đã đi đến sự khẳng định sự trường tồn của nhà văn Nguyên Ngọc: “Có hàng trăm người sẽ viết như ông Nhưng rồi
có hàng trăm người bị thời gian đào thải Có chăng chỉ còn lại một vài người Trong số rất ít người còn lại ấy chắc chắn có Nguyên Ngọc Mới hay sự trường tồn của tấm lòng người viết và tài năng văn là vô cùng quan trọng
Trang 8Thiếu một trong hai thứ đó đều không thành được Nguyên Ngọc và không đi đến được cõi bất tử” [13, 191]
Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn Việt Nam hiện đại chân dung và
phong cách đã có một ý tưởng sâu sắc khi khảo sát 22 tác giả trong đó có
Nguyên Ngọc: “Làm nghiên cứu văn học tôi thích “húc” vào những hiện tượng phức tạp và chỉ đánh giá cao nhà văn thực sự có tư tưởng, thật sự có cá tính và phong cách” [36, 381] Nguyễn Đăng Mạnh đã đề cập đến những vấn
đề về cuộc đời và tác phẩm Nguyên Ngọc, trong đó có sự đối sánh để tìm ra nét riêng về phong cách của Nguyên Ngọc: “Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp, còn Nguyên Ngọc suốt đời đi tìm cái hùng, cũng là cái đẹp trong thẩm
mĩ của anh Đối với Nguyên Ngọc đây là nhu cầu tự thân, một sự thôi thúc bên trong của máu Cho nên đối với anh đây không phải là chuyện văn chương mà tìm đến người anh hùng, vì người anh hùng mà tìm đến văn chương” [36, 318]
Tôn Phương Lan trong bài Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự vận động
thể loại cho rằng: “Chất tráng ca trong cảm hứng sử thi ở Rừng xà nu cũng là
chất tráng ca trong toàn bộ sáng tác của Nguyên Ngọc và đã trở thành một đặc điểm quan trọng nhất trong sáng tác của ông, kể cả những sáng tác của ông
sau 1975 như Cát cháy, Có một con đường mòn trên biển Đông” Về điều này
như có lần ông tâm sự, ông rất muốn thay đổi chất giọng của mình trong sáng tác và cũng đã thử nhưng không thành công Nguyên Ngọc là một trường hợp khác biệt” [22, 62]
Ngoài ra cũng nhiều bài nghiên cứu về tác phẩm cụ thể như: Đất nước
đứng lên; Rừng xà nu Trong lời giới thiệu về tiểu thuyết Đất nước đứng lên,
có đoạn viết: “Qua tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc muốn giới
thiệu cho người đọc rõ thêm về đất nước về con người ở rừng núi Tây
Trang 9Nguyên Đất nước ấy hùng vĩ mà hiền hòa giàu đẹp mà nên thơ Những con người ở đây yêu nước nồng nàn, cần cù lao động” [6, 13]
Viết sau Đất nước đứng lên khoảng mười năm là tác phẩm Rừng xà nu Trong bài viết Rừng xà nu - một truyện ngắn đậm chất sử thi thời chống Mĩ, Phan Huy Dũng viết: “Rừng xà nu là sự trải nghiệm một đời văn, một đời
chiến sĩ được chốt chặt trong khuôn khổ hẹp, niềm xúc động thiêng liêng về hình ảnh kì vĩ của Tổ quốc đã thôi thúc Nguyễn Trung Thành viết nên truyện ngắn này, gợi lên cảm xúc trầm lắng, say mê Một tác phẩm xuất sắc thời đánh Mĩ oanh liệt, hào hùng”
Cũng tìm hiểu về Rừng xà nu, Đỗ Kim Hồi khẳng định: “Rừng xà nu
được viết ra một sự biểu dương bằng sức mạnh cho chân lí chúng ta đã chọn, cho con đường chúng ta đi theo con đường khởi đầu bằng việc đồng khởi Miền Nam và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử” [15, 11]
Ngoài viết tiểu thuyết và truyện ngắn ra, Nguyên Ngọc còn viết khá nhiều tạp văn Nhìn một cách tổng thể sáng tác của Nguyên Ngọc được tìm hiểu khá kĩ trên mọi phương diện, và cũng đã khái quát được những đặc trưng
cơ bản cũng như phong cách sáng tác Nhưng ở mảng tạp văn có thể nói hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, có chăng chỉ có một số ít bài đăng rải rác trên các báo bàn về một vấn đề cụ thể nào đó Chẳng hạn bàn về
chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam hiện nay đang ở đâu? Có bài Thuận trao đổi
cùng nhà văn (2005, http://vietnamnet.com), Tôi không lạc quan như Nguyên Ngọc (Vương Trí Nhàn, vietnamnet.com), hay Nhân đọc bài xin can của nhà văn Nguyên Ngọc (Bùi Trọng Liễu, vietnamnet.com)
Ở những bài viết, các tác giả chỉ bàn đến những khía cạnh nhỏ trong một số vấn đề, chưa có cái nhìn toàn diện, về thể loại này Có thể nói dường như chưa có một chuyên luận hay bài viết dài nào chuyên về tạp văn Nguyên Ngọc Do đó khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn có một cái nhìn khá
Trang 10đầy đủ về thể loại tạp văn cũng như sáng tác của ông Công việc đó sẽ giúp ta thấy được phần nào đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu và khái quát những nội dung chủ yếu của tạp văn Nguyên Ngọc Tìm hiểu những nội dung mà tác giả quan tâm thể hiện trong tạp văn, từ đó khẳng định những nội dung đề ra có gì mới so với các tác giả khác
Bên cạnh đó luận văn cũng cố gắng làm rõ những đặc sắc về phương diện nghệ thuật của tạp văn Nguyên Ngọc Từ đó khái quát lên những thủ pháp, biện pháp, hình thức nghệ thuật để chuyển tải được nội dung cũng như quan điểm của tác giả
Việc đối sánh tạp văn Nguyên Ngọc với truyện của cùng tác giả là nhằm mục đích phát hiện sự giống nhau và khác nhau khi thể hiện cùng một
đề tài của từng thể loại
4 Phạm vi khảo sát và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi khảo sát
Tạp văn Nguyên Ngọc được đăng tải rải rác trên các báo Tia Sáng, Tuổi
trẻ, Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, và sau được tập hợp trong cuốn Nguyên Ngọc tác phẩm, tập 2, gồm 71 tác phẩm Đây chính là toàn bộ nguồn tư liệu
tác phẩm mà chúng tôi đã khảo sát khi thực hiện đề tài nghiên cứu này Ngoài
ra chúng tôi cũng khảo sát thêm một số bài báo đăng trên các tạp chí và các trang web
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu phổ biến như khảo sát, thống kê, phân loại, chúng tôi còn chú trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
để làm nổi bật sự đối sánh giữa hai thể loại truyện và tạp văn
Trang 115 Đóng góp của luận văn
Luận văn này đi sâu nghiên cứu tạp văn Nguyên Ngọc ở những khía cạnh đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật, phát hiện những đóng góp, những
hạn chế, để từ đó có một cái nhìn khái quát hơn về nhà văn này
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Đặc điểm nội dung tạp văn Nguyên Ngọc
Chương 2 Đặc điểm nghệ thuật tạp văn Nguyên Ngọc
Chương 3 So sánh truyện và tạp văn Nguyên Ngọc
Trang 12
Chương 1 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TẠP VĂN NGUYÊN NGỌC
1.1 Về thể loại tạp văn
1.1.1 Khái niệm tạp văn
Cho đến hôm nay tạp văn được công nhận là một thể loại văn học đứng bên cạnh các thể loại văn học khác như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ Tuy nhiên đây là một thể loại văn học không thuần nhất Từ trước đến nay đã
có rất nhiều nhà nghiên cứu, lí luận phê bình văn học, các học giả cố gắng đưa
ra các định nghĩa của riêng mình về tạp văn Có thể nói, tạp văn là một khái niệm chưa được minh định rõ ràng, còn lẫn lộn với nhiều tên gọi khác nhau như tản văn, bút kí, tạp bút, tạp cảm
Từ điển tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh (Nxb Văn hóa Thông tin, tr.842)
định nghĩa: "Tạp văn: Nhiều loại văn lẫn lộn"
Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa Thông tin,
tr.1495) giải thích: "Tạp văn gồm nhiều thể tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy bút"
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng (2006), tr.892) viết: "Tạp
văn loại văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những bài bình luận ngắn, tiểu phẩm tùy bút "
Định nghĩa tạp văn thực sự đa dạng phong phú, phản ánh các quan điểm của đông đảo các nhà nghiên cứu văn học khác nhau
Từ điển văn học định nghĩa như sau:
“1 Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghị luận Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tùy bút, tiểu phẩm bình luận ngắn gọn Đặc điểm nổi bật là rất ngắn
Trang 132 Tạp văn là một bộ phận lớn của nhà văn Trung Quốc viết theo thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nghĩ nhỏ, luận văn, tùy bút, thư từ nhật
kí, hồi kí ” [45, 333]
Từ điển thuật ngữ Văn học cho rằng: "Tạp văn là những áng văn tiểu
phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh
và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội"
Trương Chính trong lời giới thiệu Tạp văn Lỗ Tấn, tuyển tập, Nxb Văn
học, H.1963 cũng đưa ra cách hiểu về tạp văn như sau: "Tạp văn là một thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong ba mươi năm hoạt động văn học của ông, nhưng thật ra không phải thể loại văn học mới Xét về nguồn gốc phong cách của nó thì tạp văn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn trong văn học cổ điển Trung Quốc" [13, 6]
Dương Tấn Hào lại quan niệm rằng: "Theo nghĩa đen thì hai chữ tạp văn dùng để chỉ những thể đoản thiên không đồng một thể với các tập thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kịch đã thịnh hành như xưa Ngày nay bản chất thứ tạp đã biến tướng và danh từ đó hiện giờ chuyên chỉ lối văn đoản thiên, những thiên tạp cảm giàu về tính cách tranh đấu" [18, 444]
Theo Lỗ Tấn: "Kì thực cái gọi là tạp văn cũng không phải là món hàng mới mẻ ngày xưa cũng đã có Phàm là văn chương, nếu xếp loại thì có loại để
mà xếp, bất kể thể gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thế là thành tạp"
(Trương Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), Nxb Văn hóa Hà Nội, tr.229) Lỗ
Tấn đặc biệt đề cao vai trò tạp văn bút kí chính luận Tác giả xem: tạp văn là loại "ngôn chí hữu vật" Tạp văn thể hiện chức năng của nghệ thuật, tham gia vào việc đấu tranh của xã hội" [19, 212]
Trong cuốn tạp văn của Mạc Ngôn, Người tỉnh nói chuyện mộng du ở bài mở đầu Vì sao phải biên soạn cuốn sách này? tác giả viết: "Đây là "tản
Trang 14văn, tùy bút" đầu tiên của tôi Tuy nhiên tôi muốn nói rằng, đây là một đĩa lòng dê đã xắt miếng Bởi tôi cũng không dám chắc rằng, những bài văn được sưu tập dưới đây, rốt cuộc nên coi nó là tản văn, hay xem nó là tạp văn, hay gọi nó là "tùy bút", hay nên coi nó là một thể loại khác Thật lòng không thể ngờ rằng, tuy hơn chục năm qua, ngoài việc viết tiểu thuyết và kịch bản ra, tôi còn viết được nhiều thứ ba lăng nhăng đến thế” [35, 5]
Ta có thể thấy rằng, các quan niệm về thể loại này còn khác nhau, chưa được minh định rõ ràng, thậm chí đối lập nhau Chẳng hạn Đỗ Hải Ninh trong
bài Kí trên hành trình đổi mới xem tạp văn là một dạng nhỏ của "tản văn"
Tác giả viết: "Chúng tôi quan niệm tản văn là một loại văn ngắn gọn, hàm súc, với khả năng khám phá đời sống bất ngờ, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm của tác giả, bao gồm cả tạp văn tùy bút, văn tiểu phẩm " [37, 77] Nhưng Dương Tấn Hào lại xem tạp dùng để chỉ thể văn đoản thiên, không đồng một thể với thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kịch đã thịnh hành như xưa Bởi tạp văn là một khái niệm rất rộng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn xuôi
mà người Trung Quốc đã dùng
Còn Hoàng Ngọc Hiến xem tạp văn là một thể loại của kí, trong cuốn
sách Năm bài giảng về thể loại: Ký - Bi kịch - Trường ca - Anh hùng ca - tiểu
thuyết ông viết: "Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, kí là một
thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều "thể" hay nhiều
"tiểu loại", bút kí, hồi kí, du kí, kí chính luận, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe) " [22, 5]
Hoàng Trung Thông lại nhấn mạnh tính cơ động và khả năng ứng chiến của thể loại kí như sau: "Với nhiều mặt của thể loại văn học này, các nhà văn khi thì dựng lên bức tranh rộng lớn về cuộc sống, miêu tả từng sự việc, khi thì
đi sâu vào một địa phương, một con người, với chi tiết, có khi với cả số liệu
cụ thể, khi thì chỉ nói lên những cảm nghĩ nhẹ nhàng của mình khi thì là một
Trang 15sự tranh luận sôi nổi, không khoan nhượng Thể loại văn học này với tính chất phóng khoáng rất rộng rãi và linh động của nó có thể giúp nhà văn ngay trong một bài văn vừa phản ánh hiện tại, vừa đi ngược dòng thời gian vừa miêu tả suy nghĩ, biện luận vừa trữ tình vừa châm biếm" [19, 213]
Từ các ý kiến nêu trên, chúng tôi có thể rút ra một số đặc điểm của thể loại tạp văn như sau:
- Tạp văn là một thể loại tạp văn ngắn gọn, hàm súc, rất năng động, linh hoạt phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại
- Tạp văn thường chớp lấy và biểu hiện một ý nghĩ khoảng khắc suy tư, một thoáng liên tưởng bất ngờ độc đáo, đậm dấu ấn cá nhân của tác giả
- Nội dung của tạp văn khá phong phú đa dạng, có thể liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội manh tính chính luận sắc sảo, cũng có thể là những thiên tạp cảm giàu chất trữ tình, mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của một tác giả văn chương
- Rất năng động, linh hoạt phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại
1.1.2 Tạp văn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại
Có quan niệm cho rằng tạp văn là một hình thức văn học mới nảy mầm
từ phong trào Ngũ Tứ bên Trung Quốc do Lỗ Tấn sáng tạo ra Thực ra không phải như vậy Chính Lỗ Tấn đã nói: “Kì thực tạp văn cùng không phải món hàng mới mẻ gì của ngày nay, mà “ngày xưa cũng đã có rồi” [3, 29] Tạp văn xuất hiện từ rất sớm và có sức sống mạnh mẽ trong lịch sử văn học Trung Hoa Cho nên trong văn học Trung Quốc có rất nhiều người sáng tác tạp văn
và đạt nhiều thành tựu nổi tiếng như Lỗ Tấn, Mạc Ngôn
Ở Việt Nam cũng vậy, không ít các nhà văn bên cạnh việc sáng tác các thể loại văn xuôi chính như: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, còn viết cả bút kí tạp văn Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sau Nguyễn Tuân
Trang 16được mệnh danh gắn liền với các thể tùy bút, thì các nhà văn như: Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Khải, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Ngọc Tư cũng nổi tiếng với các tác phẩm bút kí, phóng
sự, tùy bút, tạp bút, tạp văn
Phải nói rằng trong những năm gần đây so với các thể loại khác tạp văn đang được độc giả rất quan tâm và có xu hướng lựa chọn nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày Trên các tờ báo ngày càng có nhiều chuyên mục nhàn đàm, tản văn, tạp văn và đặc biệt có nhiều cuốn sách ra mắt độc giả với sự
góp mặt đồng đảo các thế hệ Nguyễn Khải - Tạp văn, Đỗ Chu - Tản mạn
trước đèn, Thảo Hảo - Nhân trường hợp chị thỏ bông, Tạ Duy Anh - Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối, Nguyễn Ngọc Tư - Tạp văn, Mạc Can - Tạp bút
Mặc dù có khá nhiều người viết, nhưng có lẽ thật sự quan tâm có hứng thú theo đuổi và đạt được nhiều thành công tới mức chúng trở thành một bộ phận
làm nên phong cách văn chương thì không nhiều
Chẳng hạn khi xem xét tạp văn Nguyễn Khải thì chúng ta thấy chúng bao gồm những bài báo bàn về các vấn đề đạo đức, lối sống những tự truyện, những mẩu chuyện liên quan nhiều đến nhiều khía cạnh của đời sống hiện thực, song nhìn chung là xoay quanh những suy nghĩ về cuộc đời và nghề văn
Nguyễn Khải lấy chất liệu hiện thực là những quang cảnh sự kiện, con người bình thường, của cuộc sống hàng ngày, chủ yếu là môi trường quen thuộc của nhà văn, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Khai thác đề tài có phần hẹp nhưng tác phẩm của ông vẫn đạt đến mức độ khái quát cao bên cạnh vẻ chân thực sinh động hấp dẫn riêng Chính vì vậy tạp văn của ông mang dáng dấp những câu chuyện nhỏ nhặt hàng ngày song lại có sức chuyển tải những câu chuyện lớn hơn
Còn tạp văn Nguyễn Ngọc Tư hầu như đề cập mọi vấn đề của cuộc sống con người Nam Bộ trong sự đa dạng phong phú Trong đó đề tài chuyển
Trang 17dịch cơ cấu kinh tế nông thôn được tác giả quan tâm chú ý Ở đó con người đặc biệt là người nông dân Nam Bộ hiện lên, lam lũ cực nhọc, gặp nhiều khó khăn trong nền kinh tế thị trường Đó cũng là môi trường, là nguyên nhân tạo nên tính cách của người nông dân Nam Bộ: thật thà chất phác, chịu thương chịu khó, biết yêu thương chia sẻ với những người cùng cảnh ngộ và đẹp nhất
là tinh thần lạc quan tin tưởng vào tương lai, vào một ngày mai tươi sáng Đó
là điểm tựa để con người nơi đây đứng vững, vượt qua những khó khăn trước mắt và bước đến tương lai rộng mở
Với Nguyên Ngọc chủ yếu quan tâm nhiều đến các vấn đề xã hội như giáo dục, văn hóa và phát triển
1.2 Đề tài tạp văn
1.2.1 Vài nét về đề tài tạp văn
Đề tài là những khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học Tầm quan trọng của khái niệm đề tài là ở chỗ, nếu chưa nhận ra đề tài, thì chưa bước vào tiếp nhận hình tượng "Thực chất
đề tài là khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài Việc nhận thức đề tài phải chỉ ra bản chất xã hội của hiện tượng" [16, 37]
Đề tài không chỉ bắt nguồn từ bản chất xã hội của tính cách, mà còn gắn liền với các hiện tượng lịch sử xuất hiện trong đời sống và có âm vang trong đời sống tinh thần, hoặc trong một giới nào đó Các hiện tượng đời sống
có thể liên kết với nhau thành loại theo quan hệ bên ngoài hoặc bên trong của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm
Nếu như nhận thức đối tượng, miêu tả sáng tác văn học là cái nằm ngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm thì đề tài tác phẩm là một diện nội dung của nó là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn Tóm lại, đề
Trang 18tài là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề và xây dựng những hình tượng những tính cách điển hình
Cũng giống như các thể loại văn học khác, tạp văn là những tác phẩm văn học có tính chất đánh giá, bình luận, trực tiếp, vì thế việc lựa chọn đề tài chủ đề rất quan trọng Một bài tạp văn có mạng đúng màu sắc của thể loại hay không phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn đề tài Nhà văn Lỗ Tấn từng nói:
"Mỗi khi chọn đề tài tôi đều chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật với mục đích lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi người tìm cách chạy chữa" [13] Chính từ quan điểm đó đề tài trong tạp văn Lỗ Tấn đậm chất chính trị, phê phán xã hội như đề tài chống phong kiến, đế quốc, phê phán bệnh trạng xã hội: mê muội tê liệt, bảo thủ, tự kiêu tự mãn, a dua mù quáng: đấu tranh chống bọn bồi bút chó săn: đấu tranh cho thắng lợi của văn học cách mạng vô sản Còn đề tài trong tạp văn Nguyễn Khải là những vấn đề giản dị trong cuộc sống xung quanh ông như quan niệm về nghề văn, những vấn đề về đạo đức Đề tài tạp văn Nguyễn Ngọc Tư phản ánh cuộc sống của người dân Nam Bộ trong cơ chế thị trường, đặc biệt nổi bật là đề tài về người nông dân trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất Với tạp văn Nguyên Ngọc đề tài khá đa dạng phong phú, hầu như ông đề cập đến mọi vấn dề đang diễn ra trong đời sống xã hội
1.2.2 Đề tài tạp văn Nguyên Ngọc phong phú đa dạng
Nhiều người nói rằng văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống Các nhà văn mỗi người chiếm lĩnh một khía cạnh của đời sống, và chính sự hiểu biết thành thạo, sự quan tâm của tác giả về một lĩnh vực nào đó của cuộc sống, góp phần làm phong phú thêm vườn văn đồng thời cũng tạo một phong cách riêng độc đáo của nhà văn Những người chuyên viết về đời sống thành thị, có những người chuyên viết về nông thôn lại có người viết nhiều viết hay
Trang 19về miền núi Điều đó phụ thuộc rất nhiều về sự trải nghiệm, khám phá cũng như tình cảm tác giả và mảnh đất nơi mình đang sống
Nhìn lại văn học Việt Nam trong chặng đường phát triển, giai đoạn kháng chiến 45 - 75 văn học cách mạng chuyên viết theo đường lối của Đảng
là văn học đại chúngtập trung phản ánh cuộc chiến đấu của nhân dân Nên nội dung chủ yếu là cảm hứng sử thi, cảm hứng viết về cái hoành tráng của cộng đồng Tuy nhiên từ năm 1986 trở đi xã hội có nhiều biến chuyển và đổi mới, các nhà văn không còn viết về cái chung như trước nữa mà viết nhiều hơn, sâu hơn về cuộc sống đời thường, về cá nhân cá thể Đào sâu vào những mặt trái, những mâu thuẫn phức tạp sau chiến tranh, về những đổi thay của đất nước trong thời đại hiện nay
Cũng giống như bao thế hệ nhà văn khác, Nguyên Ngọc là một nhà văn
có tên tuổi trong nền văn học Là người đã từng lăn lộn trong cuộc chiến viết nhiều viết hay, phản ánh kịp thời, sát sao với diễn biến của thời cuộc
Quả thật đọc những trang viết của ông ta thấy, ông quan tâm đến mọi vấn đề của cuộc sống hiện nay Nếu như trong chiến tranh làm nên con người Nguyên Ngọc chính là những trang viết về Tây Nguyên, thì trong thời đổi mới này ông cũng quay trở lại với vùng đất này với hàng loạt bài viết xúc động, đầy tình cảm yêu thương, gắn bó tha thiết Trong 71 tác phẩm tạp văn của mình, Nguyên Ngọc dành tới 19 tác phẩm chiếm 26,7% để viết về Tây Nguyên Điều đó cho thấy tình cảm mà Nguyên Ngọc dành cho Tây Nguyên hết sức sâu đậm Viết về Tây Nguyên, Nguyên Ngọc chủ yếu đi tìm hiểu ở nhiều khía cạnh, nhiều chiều kích khác nhau Với lịch sử: “Tây Nguyên là một vùng đất quan trọng của Tổ quốc Khó có thể hình dung hai cuộc kháng chiến chống Pháp đặc biệt chống Mĩ nếu không có Tây Nguyên Cuộc quyết chiến chiến lược giải phóng miền Nam thực sự bắt đầu từ chiến công giải phóng Buôn Ma Thuật 8/3/1975 Giờ đây Tây Nguyên đã biến đổi rất nhiều,
Trang 20thậm chí còn phát triển nhanh hơn nhiều vùng khác của đất nước” [14, 6] Nguyên Ngọc nhìn thấy vị trí và vai trò to lớn của Tây Nguyên trong công cuộc kháng chiến cũng như phát triển đất nước Để gánh vác được trọng trách
to lớn đó trước hết Tây Nguyên có nét đặc sắc riêng mà các vùng khác không
có được Tây Nguyên được Nguyên Ngọc ví là “bảo tàng văn hóa cổ”, “đó là môi trường rất mạnh, bất cứ ai đến đó, đi vào đó, lập tức chịu ngay một sức cuốn hút mãnh liệt không gì cưỡng lại nổi Nói đến Tây Nguyên người ta thường nghĩ ngay đến thiên nhiên núi non, rừng núi, cảnh quan lạ lùng của nó Tất nhiên cái đó là đúng và tác động mạnh đến người mới bước chân tới đây Nhưng còn quan trọng hơn nhiều theo tôi là nền văn hóa của nó Các dân tộc Tây Nguyên đã cấy trồng trên đất đai núi rừng của mình một nền văn hóa cực lớn, cực kì độc đáo và đặc sắc, lâu đời và bền vững” [10, 91]
Đối với văn hóa, khi nhắc đến Tây Nguyên điều người ta nghĩ đến các
lễ hội, đến cồng chiêng và các yếu tố nghệ thuật khác Nguyên Ngọc cũng chỉ
rõ đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên là văn hóa Rừng và Làng: “Văn hóa chính là kiểu cách con người quan hệ với tự nhiên và từ quan hệ với nhau Con người Tây Nguyên từ nghìn đời nay đã xây dựng được nền văn hóa cho phép con người hài hòa với rừng, không gian sinh tồn của họ Theo tôi đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất, “sinh tử” nhất của con người Tây Nguyên là sự gắn bó, không chỉ gắn bó mà hòa nhập làm một với rừng” [14, 6] Giữa con người với rừng có mối quan hệ sâu sắc cơ bản mà lại thể hiện trong muôn mặt đời sống, hoặc các hệ thống luật tục nghìn xưa Rừng có thể là yếu tố văn hóa cội nguồn của Tây Nguyên Đánh giá vai trò của rừng Nguyên Ngọc viết:
“Không hiểu rừng, ý nghĩa và vai trò của nó trong đời sống con người ở đây thì rất khó hoặc hầu như không hiểu gì về Tây Nguyên, con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên Rừng không chỉ nuôi sống con người Tây Nguyên, nơi cung cấp vật liệu để làm nhà rông, tượng gỗ mà rừng còn gắn
Trang 21sâu vào tiềm thức của mọi người dân nơi đáy tâm hồn Con người Tây Nguyên sống trong các làng, đó chính là mảnh đất con người lấy ra từ rừng
Đó là nơi diễn ra đời sống văn hóa đa dạng, phong phú cũng là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa từ ngàn đời nay truyền lại của người dân Tây Nguyên” [32, 61]
Một giá trị văn hóa vật thể khác của Tây Nguyên được ông đề cập đến nhiều là nhà rông: “Nhà rông là linh hồn của làng Ở Tây Nguyên người ta gọi làng không có nhà rông là làng đàn bà, cũng tức là nói một cái làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là làng có nhà rông thì mới thật sự là làng Làng bắt đầu bằng nhà rông, sinh ra cùng nhà rông, nói theo một cách nào đó đồng nhất với nhà rông ” [9, 63] Sống lâu ở Tây Nguyên, gắn bó máu thịt với Tây Nguyên, Nguyên Ngọc hiểu vai trò quan trọng của nhà rông, cũng như việc làm nhà rông trong đời sống cộng đồng Việc xây dựng nhà rông phải đặt lên
vị trí hàng đầu vì nó thể hiện tập trung nhất bản chất văn hóa trong đời sống Tây Nguyên: văn hóa Làng: “Đấy là nơi diễn ra toàn bộ đời sống cộng đồng nơi đêm ngay từ tấm bé, đứa trẻ được theo cha hay theo mẹ đến dự buổi tụ cả làng quay quần bên bếp lửa, ở đó những con người thế hệ Tây Nguyên, bằng các cuộc chuyện trò, các cuộc ca hát, chơi đùa, thậm chí cả la đà bên ché rượu cần truyền cho nhau từ đời này sang đời khác, tiếp nối không ngừng, những kinh nghiệm sống và làm người giữa chốn núi rừng nơi dân làng hội họp để bàn bạc dân chủ và hội đồng già làng quyết định mọi việc lớn nhỏ liên quan đến đời sống của làng Nơi diễn ra các lễ hội tưng bừng và tiến hành các nghi
lễ tín ngưỡng thâm trầm Nơi đêm này qua đêm khác, có khi kéo dài hàng chục đêm, những người già hát kể cho con cháu nghe những bản trường ca về những người anh hùng huyền thoại, về sự hình thành vũ trụ cùng sự sống trên trái đất này Đây cũng là nơi làng tiếp đãi khách, tức là ngôi nhà đại diện cho
cả làng giao tiếp với thế giới bên ngoài ” [11, 62] Nhà rông có ý nghĩa đặc
Trang 22biệt đối với người dân Tây Nguyên nó là linh hồn của làng Vì thế không thể
có hơn một cái nhà rông, và không ai có thể đem một cái nhà rông cho làng Cái nhà rông đem cho nó sẽ chết: “bởi nó không được sinh ra đúng như một nhà rông thông thường xưa nay Nó không sống, không thể sống như một cái nhà rông của làng” [8, 61]
Giá trị văn hóa Tây Nguyên rất nhiều nhưng cái chúng ta không thể không nhắc tới đó là không gian văn hóa cồng chiêng Cũng như ai từng đến Tây Nguyên, Nguyên Ngọc không thể không bị mê hoặc bởi không gian văn hóa cồng chiêng vang vọng núi rừng Theo Nguyên Ngọc, cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc xuất thân từ các bộ đàn đá: “Từ nhạc đá, qua hàng ngàn năm, người Tây Nguyên đã chuyển sang nhạc đồng, mà vẫn giữ nguyên cái hằng số thẩm âm độc đáo của vùng đất này, hẳn được gợi hứng từ những ngày đêm trầm hùng mà thắm thiết của gió, những ngọn gió kì lạ của Tây Nguyên,
ai từng đến đó rồi mới biết, những ngọn gió dữ dội, hùng tráng mà vô cùng thâm trầm, thổi ngày đêm bốn mùa vĩnh cửu qua những cao nguyên bát ngát
và những rừng già thăm thẳm” [17, 53] Để có được âm thanh độc đáo ấy của cồng chiêng là công sức thổi hồn cho chiêng của nhiều thế hệ Tây Nguyên:
“Phải thổi hồn cho chúng để cho chúng trở thành sinh vật, thật sự sống cùng con người, và hơn thế nữa, trở thành tiếng nói đặc biệt của con người trong cuộc giao tiếp thiết yếu, không thể thiếu của người Tây Nguyên hàng ngày với thần linh Người ta gọi đó là “dạy tiếng cho chiêng” cũng gần giống như dạy cho trẻ con biết nói vậy thật sự để cho chúng thành người” [21, 54] Phải thấy rằng Nguyên Ngọc là người am hiểu sâu sắc văn hóa Tây Nguyên, ông đi vào tìm hiểu những nét cơ bản nhất kiến tạo nền tảng của nền văn hóa này Mặc dù không phải là nhà nghiên cứu văn hóa nhưng ông nhìn mọi sự việc dưới con mắt của một nhà văn hóa Trong cách nhìn nhận của mình cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là một nhạc cụ mà là nó vượt lên trên hết để trở
Trang 23thành cầu nối, làm nên cuộc chuyện trò vĩnh cửu của con người trên vùng đất mênh mang và mãi còn bí ẩn này Ngoài những yếu tố trên Nguyên Ngọc còn
đề cập đến kho tàng sử thi phong phú của Tây Nguyên Bằng sinh hoạt kể sử thi về đêm, người Tây Nguyên sống thêm được bao nhiêu cuộc đời, sống hôm nay đồng thời sống cả hôm qua cả quá khứ xa xôi thăm thẳm của dân tộc, của
tổ tiên, của con người tự làm phong phú đến vô tận cuộc sống tinh thần của mình
Không chỉ viết về mảnh đất Tây Nguyên, trong tạp văn của mình Nguyên Ngọc cũng dành rất nhiều tình cảm cho vùng đất Quảng yêu dấu Trong các tác phẩm ông chủ yếu nhìn đất Quảng ở sự đóng góp về văn hóa, chính trị, hay nói cách khác đó là sự tồn tại và phát triển của vùng đất này trong lịch sử và hiện nay Trong lịch sử vùng này có vị trí vô cùng quan trọng
là vùng đệm để mở rộng bờ cõi xuống phương Nam Đồng thời cũng là nơi giao lưu văn hóa văn hóa đặc biệt nơi tiếp thu mọi tinh hoa văn hóa, của nền văn hóa đông tây để phát triển, Hội An vốn là thành phố phát triển, đô hội buôn bán sầm uất: “là nơi những nhân tố tự nhiên và lịch sử đặc thù từng đưa đến một hình thái kinh tế xã hội cởi mở năng động nhất” [23, 455] Ngày nay
nó cũng là vùng kinh tế năng động nhất nhưng vẫn giữ được yếu tố truyền thống, hay nói cách khác nó giữ được bản sắc văn hóa của nền nông nghiệp phương Đông trọng tình nghĩa Đó chính là nét đặc thù riêng của vùng đất này
Không những thế trong sáng tác của mình ông suy ngẫm nhiều về văn
hoá, phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Trong các tác phẩm Vào
WTO kinh tế hay văn hoá; Vào WTO thử nghĩ về vài khía cạnh văn hoá; Một văn hoá mới cho hội nhập hôm nay Gần như là tiếng nói làm gì để giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc và cũng là chủ đề nhất quán xuyên suốt các tác phẩm của ông Kiến giải về vấn đề văn hoá bao giờ ông cũng có ý kiến hết sức độc đáo Nghĩ về bản sắc dân tộc ông thường cho rằng: "nên thử nghĩ lại về văn hoá", "thế nào là bản sắc?" Từ câu hỏi này nhà văn đã tìm lại trong lịch sử và
Trang 24chứng minh rằng, bản sắc văn hoá dân tộc không phải là cái gì bất biến trong tiến trình vận động, nó luôn là sự tiếp biến hội nhập Và ở đây một bài học lớn
có thể rút ra "Người ta có thể trở thành phong phú và cường tráng chính bằng khả năng hội nhập được với cái khác mình" Và "thay đổi được bản sắc của
mình cũng là một biểu hiện sức mạnh tinh thần của cộng đồng" - Nghĩ thêm
về bản sắc văn hoá Trong tác phẩm Anh bạn ánh chớp thầm lặng của tôi,
thông qua một người bạn Philippines, Nguyên Ngọc đồng ý rằng: “văn hoá phải là cái thắng, cái phanh, cái hãm của xã hội Văn hoá là sự bình tâm của
xã hội, là phần lương tâm sâu xa bền vững nhất của nó, phần tự vấn thường
xuyên của con người, của xã hội của dân tộc”
Ngoài ra, trong tạp văn của mình ông cũng cho ta thấy bức tranh toàn cảnh của nền giáo dục Việt Nam Lâu nay ai cũng đề cao giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu của quốc gia dân tộc Để cho đất nước phát triển tiến kịp các nước trên thế giới thì cần phải có nền giáo dục tốt để đào tạo nhân tài đủ để phục vụ cho sự phát triển đó Tuy nhiên với nền giáo dục nước ta hiện nay có rất nhiều vấn đề đang đặt ra, hay nói cách khác nó chưa được
đánh giá đúng mức Trong các bài Giáo dục của nước ta hiện nay ra đi bằng
con đường nào; Thêm đôi điều suy nghĩ về giáo dục; Lạm bàn thêm đôi vấn
đề giáo dục hiện nay; Giáo dục, sản phẩm bị động hay tác giả chủ động; Giáo dục phổ thông có nên lạc quan hay không… Nguyên Ngọc đã thẳng
thắn chỉ ra những sai lầm cũng như yếu kém của giáo dục nước ta
Tạp văn của Nguyên Ngọc cũng bàn nhiều về vấn đề văn học Bằng sự nhạy cảm ông nhận ra, vấn đề đang thiếu nhất với nền văn học nước ta đấy là dịch thuật Có thể nói sách hiện nay được dịch ra nhiều, nhưng ít sách có chất lượng Ông quan niệm rằng một nền văn học phát triển toàn diện bao gồm cả sáng tác văn học, và văn học dịch Bởi văn học dịch cung cấp cho nền văn học nước nhà một số vấn đề lí luận cần thiết, bổ sung những phần khiếm khuyết,
Trang 25hạn chế Và dịch thuật là công việc quan trọng không thể thiếu trong nền văn học của mỗi nước
Nguyên Ngọc viết nhiều viết rộng, ngòi bút của ông đụng đến hầu hết mọi vấn đề nổi chìm trong cuộc sống xã hội hiện nay Ông viết rất nhiều về Tây Nguyên và viết rất hay, sống động tràn đầy cảm xúc Có thể nói Tây Nguyên được xem như quê hương thứ hai của ông, đó là mảnh đất để thương
để nhớ, và cũng là đề tài hình thành phong cách văn xuôi Nguyên Ngọc Chẳng hạn khi viết về Tây Nguyên, ông giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp của vùng đất này chủ yếu qua những yếu tố văn hóa đặc sắc như: cồng chiêng, sử thi, bản sắc văn hóa rừng, văn hóa làng và quan trọng hơn là sự phát triển của vùng đất này trong xã hội hiện nay
Là một nhà văn nhưng ông cũng quan tâm nhiều đến vấn đề giáo dục của nước nhà và có những ý kiến lí giải hết sức độc đáo Những vấn đề bức xúc của giáo dục hiện nay đang đặt ra cho Nguyên Ngọc đã rất tinh nhạy khi kịp thời phản ánh những vấn đề thời sự nóng bỏng này, điều đó giúp cho người đọc cập nhật được thông tin, gây sự chú ý cho người đọc Nhờ đó mà
đề tài tạp văn Nguyên Ngọc nó mang tính chất chung vừa đa dạng phong phú vừa có nét đặc trưng nổi bật
Có thể nói chỉ gói gọn trong 71 tác phẩm nhưng bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt Nam hiện lên rất sinh động, đa dạng, phong phú, từ văn hóa, giáo dục, văn học, đến sự phát triển của đất nước trong cơ chế thị trường, những vùng đất cụ thể, những con người cụ thể tiêu biểu cho một nét văn hóa đặc sắc của vùng miền
1.3 Tạp văn Nguyên Ngọc thể hiện những nhận thức mới về xã hội
1.3.1 Tạp văn Nguyên Ngọc phân tích khách quan thực trạng xã hội
Tạp văn là thể loại có tính chất bình luận trực tiếp và cũng là thể loại thể hiện rõ nhất cái tôi của tác giả Do đó việc lựa chọn đề tài trở thành một
Trang 26nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công của tác phẩm Trong xã hội hiện đại, sự chuyển đổi mô hình kinh tế xã hội, sự mở rộng giáo lưu kinh tế với nước ngoài, sự đổi mới tư duy đã tác động không nhỏ đến tạp văn nói riêng
và văn học nói chung Cơ chế thị trường đã điều chỉnh lại các thước đo giá trị con người Đặt con người trước những thử thách khốc liệt không kém gì thời chiến tranh Nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng được đặt ra, đó là cuộc sống vật chất, những nhu cầu bức thiết của con người trong sự đấu tranh gay gắt Những tư lợi cá nhân và ý thức, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi nhuận cọ xát với đạo đức, lương tâm và liêm sỉ, đang đặt ra trước mắt Chính vì vậy con người cần có bản lĩnh vững vàng để đứng trước thời cuộc Điều này có thể hiểu vì sao văn học thời kì này hướng tới giá trị nhân bản, khai thác các đề tài đạo đức, thế sự, đời tư, tìm hiểu con người ở nhiều chiều, nhiều khía cạnh Thể loại tạp văn trong thời kì này đã nhanh nhạy cập nhất những vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội Đồng thời cố gắng khơi dậy và thức tỉnh những giá trị nhân bản, giữ gìn những yếu tố văn hóa, hướng con người đến cuộc sống đích thực, xây dựng xã hội phát triển vững mạnh, văn minh Mặc dù tạp văn trong thời kì mới có sự dịch chuyển nhất định về đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhưng đặc tính cơ bản luôn luôn được giữ vững đó là bám sát những vấn đề
xã hội và mang tính chính luận sắc sảo Trong tạp văn Nguyên Ngọc tập trung
đi sâu vào mổ xẻ các vấn đề xã hội Trước hết đó là thực trạng của nền giáo dục Việt Nam với bao nhiêu vấn đề nóng bỏng đang đặt ra và có rất nhiều bức xúc Mặc dù tín hiệu báo động đỏ đã phát ra từ lâu, đến nay thực trạng của nền giáo dục Việt Nam vẫn chưa được đánh giá đúng mức Nhiều người có tránh nhiệm vẫn đang tự ru ngủ mình với những thành tích to lớn, thực và ảo
của giáo dục Trong bài Khủng hoảng giáo dục: Nguyên nhân lối ra và thách
thức toàn cầu, Hoàng Tụy cho rằng: “Nếu cô lập Việt Nam với thế giới thì
không đáng lo ngại lắm Song nếu đặt Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa,
Trang 27nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm, thì không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục Việt Nam so với các nước xung quanh, và so với yêu cầu phát triển của toàn xã hội” [8, 1]
Lâu nay vấn đề giáo dục đang được rất nhiều người quan tâm bàn bạc, hầu như năm nào cũng có các hội thảo về giáo dục được tổ chức Và chưa bao giờ những cuộc thảo luận về giáo dục lại diễn ra ráo riết trong những năm gần đây Vì sao vậy? Đương nhiên là vì tình hình và những vấn nạn của nó trở nên quá bức xúc Giáo dục động chạm đến hàng chục triệu người, và những vấn
đề của nó khiến hàng chục triệu người không thể tự ngồi yên Tương lai của con cháu họ bị thách thức thậm chí bị uy hiếp nghiêm trọng Nghĩa là giáo dục của chúng ta đang trong tình trạng cấp bách, hay là nói cách khác là đang trong tình trạng báo động đỏ Nhìn lại hệ thống giáo dục Việt Nam, những dấu hiệu khủng hoảng đã có từ lâu và ngày càng đậm nét Nguyên Ngọc chỉ ra nguyên nhân của nó: “sai lầm đầu tiên và bao trùm là chính vấn đề quan trọng nhất, cơ bản nhất của giáo dục ở triết lí giáo dục” [13, 126] Trong nhiều năm trở lại đây, vấn đề triết lí giáo dục đã trở thành một sự kiện thời sự của các nhà giáo, nhà quản lí quan tâm đặc biệt Thật vậy, nó đang có vấn đề có vấn
đề lớn ở ngay câu hỏi cơ bản: “bằng nền giáo dục này chúng ta muốn đào tạo nên những con người như thế nào đây? Chúng ta định đào tạo nên những con người như biết tự do, biết suy nghĩ và có suy nghĩ độc lập từ đó là con người biết sáng tạo cho xã hội tự do và sáng tạo, hay đào tạo biết chấp hành vâng lời phục tùng hết sức dễ bảo, cho một xã hội trong đó mọi sự đều được chỉ huy răm rắp, một xã hội trong đó có ai đấy, một lực lượng hay một tổ chức, một người hay một số người nào đấy suy nghĩ sẵn mọi điều cho mọi người và mọi người cứ thế học thuộc lòng và làm theo” [19, 126]
Triết lí giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt nó chi phối chỉ đạo toàn bộ các khâu, các lĩnh vực cụ thể của giáo dục từ nội dung giáo dục, phương châm
Trang 28giáo dục, phương pháp giáo dục, tổ chức giáo dục ảnh hưởng quyết định đến tất cả các cấp học của nền giáo dục, từ tiểu học trung học đến đại học và trên đại học Kiểu triết lý giáo dục nào thì đưa đến kiểu nội dung, phương châm, phương pháp tổ chức giáo dục đó Theo GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc:
“triết lí giáo dục được định nghĩa một cách đơn giản là triết học về giáo dục của một đất nước Cụ thể đó là quan điểm vai trò, vị trí đường lối phương hướng phát triển mục tiêu nguyên lí giáo dục, là quan điểm phát triển giáo dục” Còn GS.TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến cho rằng: “trong tiến trình đổi mới đất nước triết lí giáo dục được thông qua các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục Các quan diểm niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với vai trò của giáo dục với tư cách là đầu tư cho phát triển, phương hướng giáo dục phải phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hội; thành công của sự nghiệp giáo dục với tư cách của nhà nước và toàn dân” Vào thời điểm này, một người lạc quan nhất cũng có thể nhận thấy giáo dục Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng Sự nghiêm trọng đó được biểu hiện ở những hiện tượng tiêu cực mà quan trọng hơn là việc nhận ra những sự việc thiếu thích hợp trước biến đổi to lớn của nền kinh tế xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng nhanh của thế giới
Trong những bài viết của mình, Nguyên Ngọc cho rằng chính vì cái triết lí giáo dục đó mà nền giáo dục Việt Nam càng sửa chữa càng rối, chẳng hạn sách giáo khoa: “hiện nay chúng ta biết rằng sách giáo khoa của chúng ta quá nặng nề bỏ bớt đi cái gì cũng thấy khó, thêm vào đó bao nhiêu cũng chưa thấy đủ chỉ vì chương trình và sách giáo khoa ấy được soạn theo cái triết lí cho rằng xã hội cần những qui chuẩn cứng mà mọi thành viên đều phải thuộc nằm lòng và suốt đời cứ nhất nhất, răm rắp tuân theo thế giới gồm những chân
lí bất biến đã được định sẵn mà mọi người cứ việc theo đấy mà sống và làm
Trang 29việc” [5, 129] Triết lí giáo dục nào đẻ ra phương pháp giáo dục ấy Đáng tiếc thay giáo dục nước ta đang đi theo chính con đường nguy hiểm này
Những vấn đề của giáo dục gần đây đã trở thành mối quan tâm ngày càng lớn của xã hội Thoạt nhìn có thể thấy do các hiện tượng tiêu cực nhiều kiểu khác nhau đang phổ biến trong lĩnh vực này Tất nhiên qủa có phần đúng như vậy nhưng có lẽ không chỉ có hoàn toàn như vậy, ông chỉ ra rằng:
“Những chuyện này chuyện nọ trong giáo dục đang gây bức xúc chỉ là kết quả tất yếu của những gì sâu xa hơn nhiều, chỉ là lớp váng nổi bên trên bề mặt của một tầng dưới cơ bản hơn, cho nên như chúng ta vừa thấy gạt váng này ở chỗ này thì lại nổi ngay váng khác ở chỗ khác Gạt váng cho trong nước bớt đi là cần thiết, nhưng chắc chắn không chỉ có vậy là đủ, cần cố gắng đi xuống những tầng sâu hơn của vấn đề” [8, 152] Thật ra lâu nay chúng ta đã đưa ra những vấn đề cải cách giáo dục nhưng hầu như những cải cách đó chẳng có hiệu quả là bao Ngay từ sau khi thoát khỏi chiến tranh, chúng ta thường nói rằng: giáo dục là quốc sách hàng đầu Điều đó cho ta thấy được tầm quan trọng của nó đối với công cuộc xây dựng đất nước, có thể nói cả sự tồn tại và tương lai của vận mệnh dân tộc phụ thuộc vào thành công hay thất bại của giáo dục Mặc dù thấy được tầm quan trọng như thế nhưng chưa bao giờ được như vậy Nguyên Ngọc nói thẳng ra: “Nếu được phép nhìn thẳng vào sự thật, thì tôi nghĩ cần phải nói rằng trong thực tế chúng ta chưa bao giờ thật sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đối xử với nó như một quốc sách, chứ nói đến quốc sách hàng đầu hình như chưa bao giờ, dù chỉ là trong ý nghĩ lãnh đạo của Đảng ta có ý định bố trí một ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng phụ trách lĩnh vực giáo dục Và nếu không tránh né, thì cần nói thật trong cơ cấu chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục thường không làm sao được coi trọng cho bằng, chẳng hạn Bộ Ngoại giao, Quốc phòng hay một bộ kinh tế nào khác” [3, 153]
Trang 30Chính vì giáo dục không được quan tâm đúng mức cho nên hậu quả thật là to lớn Lâu nay trên tất cả mọi phương tiện thông tin đại chúng thường nói về cuộc vận động hai không, nói không với bệnh thành tích trong giáo dục
và hình như giáo dục đang có những bước chuyển mới Nhưng thực tế như thế nào? Nguyên Ngọc cho rằng: “bệnh thành tích chẳng qua chỉ là một mặt, một biểu hiện của một bệnh, một tên gọi khác cho sang của một thói tật xấu chung hơn, bao quát và nguy hiểm hơn nhiều: bệnh giả dối, nói dối Và bệnh nói dối, giả dối quả khá phổ biến trong xã hội Chuyện phao thi trắng xóa sân trường hàng năm, chuyện một ông Bí thư Trung ương Đoàn quay cóp bị tóm, chuyện bệnh thành tích của giáo dục thì cũng như chuyện rút ruột công trình, thay cọc sắt cho bê tông bằng cọc tre, cả chuyện PMU 18 và vô số những chuyện khác nữa thôi, ngành đương sự phải chịu trách nhiệm, tất nhiên, nhưng nói cho cùng ngành đương sự cũng chẳng làm gì được, nếu xã hội vẫn còn như thế Giáo dục cũng chỉ là một ngành đương sự như các ngành đương
sự khác, không thể hơn” [16, 175] Bệnh của giáo dục là một căn bệnh trầm kha càng chạy chữa càng nặng Đấy chính là một thực tế khá đau lòng bằng cái nhìn thẳng vào sự thật Nguyên Ngọc đã nói toạc ra những phần chìm lấp
mà lâu nay mà người ta hay né tránh Bài toán giáo dục là bài toán chung cho
cả cộng đồng xã hội, không của riêng ai Tất nhiên giáo dục “cũng chỉ là sản phẩm tất yếu của xã hội, xã hội nào thì giáo dục ấy, xã hội hư thì giáo dục hư không thể nào khác được?” [10, 176] Chính triết lí giáo dục sai lầm đó đã kéo theo hậu quả nghiêm trọng ở những khâu khác Cho nên các vấn đề giáo dục
dù được đưa ra bàn nhiều vẫn không giải quyết được vấn đề càng ngày càng
có nhiều những vấn nạn hơn Hiện tượng bài văn lạ của Nguyễn Phi Thanh, Nguyên Ngọc nhận xét “qua em Phi Thanh, nó đã bung ra đấy, như một tiếng
nổ lớn, còn vang dội và hùng hồn hơn tất cả những cuộc thảo luận nghiêm túc
và uyên bác ở tất cả các diễn đàn thuộc tất cả các cấp lâu nay” [7, 149] Tại sao
Trang 31lại có hiện tượng một em học sinh giỏi môn Văn đứng trước tác phẩm văn tế của cụ Đồ Chiểu lại không có một rung động nào? Hay sau các cuộc thi thường có “các bài văn dễ sợ”, “các bài văn cười ra nước mắt” Việc này xuất phát từ triết lí giáo dục xơ cứng cũ kĩ lạc hậu hay nói cách khác: “Nhà nước ta đang có một tiêu chí về văn chương, không phải văn chương nói chung, mà từng bài văn, cấm không được ai nghĩ khác” Những yếu kém trong nền giáo dục của chúng ta hiện nay dẫn tới một hiện tượng đáng giật mình “di tản giáo dục” Nếu hơn ba mươi năm trước là “di tản chính trị” thì nay đang là di tản giáo dục Nguyên Ngọc chua xót nói rằng: “Gọi là di tản giáo dục nghe thật cay thật đau, nhưng còn có thể nói và giải thích cách nào khác nữa: hầu như bất cứ ai có điều kiện bằng cách này hay cách khác đều cố chạy trốn nền giáo dục đang quá xuống cấp trong nước, tự cứu lấy mình, cứu lấy con em của mình Không nói thẳng điều này thì cũng là một cách nhắm mắt quay lưng với thực tế” [18, 156]
Ngoài vấn đề văn hóa, giáo dục Nguyên Ngọc cũng cho ta thấy thực trạng của văn học, Nguyên Ngọc không đi sâu bàn nhiều về mọi vấn đề mà chủ yếu đề cập nhiều về vấn đề văn học dịch Xét cho cùng văn học nước ta mặc dù có nhiều thành tựu nhưng có lỗ hổng khá lớn trong sự phát triển đó là rào cản về ngôn ngữ Lớp nhà văn có thể tiếp cận được với văn học thế giới ngày càng ít đi và đến nay hết sức lèo tèo Có thể nói các nhà văn trẻ của chúng ta hiện nay, số người đọc trực tiếp được văn học nước ngoài đếm không quá mười đầu ngón tay Đương nhiên không thể bắt buộc các nhà văn đều phải có ngoại ngữ giỏi Đi đôi với công việc cơ bản hơn, tạo được một nền dịch thuật đàng hoàng lành mạnh Một nền văn học hoàn chỉnh của một quốc gia bao giờ cũng bao gồm cả sáng tác văn học và văn học dịch Nguyên Ngọc cũng đặt ra câu hỏi: “Nền dịch thuật nước ta hiện nay đang như thế nào?”
Trang 32Trong tạp văn của mình ông chỉ ra một thực trạng, chúng ta từng có một kế hoạch dịch thuật có tính chiến lược đối với nền văn học thế giới
“Nhưng nền kinh tế thị trường đã đánh nát tất cả Tất cả dự định và kế hoạch tốt đẹp đều bị xếp xó Một thị trường dịch mênh mông, tràn lan đã nhanh chóng hình thành, lúc đầu qủa có đem lại sự cởi mở hơn nhưng về sau ngày càng hỗn loạn, tạp nham và không thể không nói là ngày càng xuống cấp nghiêm trọng hơn” [6; 272] Chính vì nền dịch thuật như thế cho nên khống chế trên thị trường sách bây giờ là sách “best-seller” văn học đại chúng, văn học hàng chợ, văn học giải trí, sách văn hóa quà vặt nhan nhản trên thị trường Các nhà quản lí của chúng ta nói gì? Có một quan niệm sai lầm của những người có trách nhiệm của chúng ta: “Sách dở, sách tầm thường chẳng sao, dở tầm thường thì có chết ai đâu, miễn là đừng sai (về mặt chính trị) Đó
là điều hết sức nguy hiểm Trong nghệ thuật cái dở cái tầm thường tai hại như cái sai, thậm chí còn hơn Nó làm mài mòn và làm chai lì thị hiếu của công chúng dần khiến người ta không còn nhạy cảm được với cái hay, cái đẹp, cái tinh tế cao cả Thị hiếu ngày càng bị hạ thấp đến lượt nó đòi hỏi cái tầm thường cuối cùng chỉ còn biết thích cái tầm thường dung tục, dễ dãi Và đó là môi trường cho cái ác nảy mầm và phát triển” [12, 273] Dưới cái nhìn của một nhà văn tâm huyết với nghề, Nguyên Ngọc chỉ ra dịch thuật đang ở trong tình trạng báo động đỏ Đã đến lúc phải đặt lại nghiêm túc vấn đề văn học dịch trong sự phát trển của văn học nước nhà Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do: “Nhuận bút dịch quá thấp Không ai sống được bằng nghề dịch nghiêm túc, tìm sách nghiêm túc mà dịch và dịch một cách nghiêm túc Người viết người một cuốn sách thu nhập chỉ bằng một phần ba hay một phần năm người bán chính quyển sách ấy Một nền dịch thuật nghiêm túc, những người dịch thuật nghiêm túc đang bị đánh tơi tả và thua liểng xiểng trước cuộc tấn công ồ ạt của thị trường dịch hoàn toàn theo quan điểm thương mại” [1, 274]
Trang 33Nền dịch thuật nước ta yếu kém do gặp nhiều khó khăn trong dịch
thuật, ở tác phẩm Đôi điều về chuyện dịch, ông chỉ ra việc dịch tiểu thuyết và
sách lí luận có chỗ khác nhau Đều là chuyện dịch nhưng hai cái hoàn toàn khác nhau Dịch tiểu thuyết phải hiểu được quan niệm về tiểu thuyết, Roland Barther có một định nghĩa rất hay về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là kiểu hình chiếu phẳng của thế giới cong nối liền” Có nghĩa là cuộc đời sống động và phức tạp phải được chiếu, chỉ được chiếu bằng các con chữ, dòng chữ tuyến tính trên trang giấy chỉ có hai chiều Cho nên để làm được điều đó nhà tiểu thuyết phải là những ảo thuật gia; phải dựng lên một thế giới đa chiều bằng những phương tiện chỉ có hai chiều “Ai không biết làm cái trò ảo thuật đó không phải là nhà tiểu thuyết và mỗi nhà tiểu thuyết phải có cái thuật riêng của mình, mỗi cuốn tiểu thuyết đều có cái thuật riêng của nó để chơi cái trò huyền ảo đó” [6, 277] Đối với người dịch tiểu thuyết đó là công việc khó khăn, bởi nếu như dịch đúng dịch chính xác thì chưa là gì cả chỉ đem đến cho người đọc một thế giới chết Một cái xác có thể đúng với cái xác sinh vật từng sống Mỗi nhà văn có một cái “thuật” riêng để nhìn cuộc đời Công việc của dịch tiểu thuyết là phải dịch cái thuật riêng đó của từng nhà văn bằng tiếng mẹ
đẻ của mình Vì vậy đối với người dịch tiểu thuyết phải giỏi tiếng mẹ đẻ:
“Anh phải thạo đến mức điêu luyện, tinh xảo tất cả các thứ mẹo phức tạp, lắt léo mà hay ho của ngôn ngữ mẹ đẻ cũng lại chơi được đúng cái thuật dựng nên một thế giới đa chiều hoàn toàn tương đương với nguyên bản bằng các phương tiện hai chiều của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ Người ta bảo dịch phải đạt cho được “tín” Tôi quan niệm tín là như vậy, đúng cái thần riêng của mỗi tác giả tác phẩm” [6, 278] Thật ra công việc dịch thuật không phải ai muốn làm đều làm được: “Cho nên ngôn ngữ trong văn học vừa thoạt trông giống như trong ngôn ngữ bình thường ta vẫn quen nghe hàng ngày, lại vừa không phải ngôn ngữ ấy, mà là một thứ mã riêng của nhà văn, thậm chí mỗi nhà văn đều
Trang 34phải tạo ra thứ mã riêng của mình, để có thể thực hiện cái trò ảo thuật kì lạ và
kì diệu: sáng tạo ra một thế giới nữa bên cạnh, thêm vào cái thế giới đã có này” [16, 286] Khương Hữu Dụng đã nói một câu rất hay về định nghĩa dịch văn học: “Thơ không chỉ có nghĩa mà còn có chữ, mà chữ trong thơ đều có giấy chứng minh riêng do nhà thơ cấp Chính diện mạo riêng cũng như bố cục riêng của chữ tạo thành sức sống trường kì của câu thơ”
Đi sâu tìm hiểu công việc dịch thuật ông cho ta thấy công việc thật phức tạp Ở mỗi thể loại có cách dịch hoàn toàn khác nhau Đối với việc dịch sách lí luận lại có những nhiêu khê khác Tình hình lí luận văn học khoa học
xã hội của nước ta hết sức tụt hậu Có nhiều vấn đề, có nhiều khái niệm đối với thế giới đã là “chuyện thường ngày ở phố huyện” trở thành quen thuộc, thì ở nước ta hoàn toàn xa lạ, đôi khi cả trong giới học thuật Và do đó trong tiếng Việt còn thiếu rất nhiều thuật ngữ, và không chỉ thuật ngữ mà cả cách diễn đạt nữa, để diễn đạt những vấn đề, những khái niệm đó Trong thực tế Nguyên Ngọc cũng đã cố gắng tìm những sách hay, sách có ích mà dịch, nhằm giúp cho văn học Việt Nam có nền tảng cơ bản đối với lí luận văn học hiện đại
Trong các bài viết của mình ông nêu lên tầm quan trọng của sách dịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Suy nghĩ về vấn đề dịch thuật, Nguyên Ngọc nhìn xa hơn một chút ra nước lân cận là Nhật Bản, đây là một đất nước
“giật mình” sớm nhất, và nhạy bén nhất trong phát triển Với cuốn sách Bàn
về tự do của John Stuart Mill được coi là cuốn sách kinh điển không chỉ ở
châu Âu và thế giới Cuốn sách này được xuất bản lần đầu ở Anh vào năm
1859 Nhưng với sự giật mình tỉnh ngộ sớm: “Không đầy 10 năm sau, năm
1868, nó đã được dịch ra ở Nhật Bản, số phát hành lên đến 2 triệu bản, trong lúc đó dân số nước Nhật chỉ 36 triệu người” [3, 281] Đủ thấy tầm nhìn chiến lược của Nhật Bản như thế nào Trong khi đó ở nước ta thì thực tế đáng buồn
Trang 35thay: “Cuốn sách kinh điển Bàn về tự do của John Stuart Mill vừa nói đến trên
kia mãi đến năm 2004 mới được dịch lần đầu tiên ở nước ta, và cũng chỉ in lèo tèo có 1000 bản, tức là chậm hơn nước Nhật một thế kỉ rưỡi và số lượng
in thì ít hơn họ 2000 lần! có phải chỉ qua điều này thôi đã có thể cắt nghĩa được sự chậm trễ hàng trăm năm của ta, so với cái đất nước cách đây vài thế
kỉ hoàn cảnh chẳng hơn gì ta, và ngày nay chẳng biết bao giờ mới đuổi theo cho kịp Quả thật cho đến hôm nay, ta vẫn còn là một ốc đảo tách biệt rất xa với đại dương mênh mông của tri thức nhân loại, cả cổ điển lẫn đương đại, đó
là điều không thể và không nên tìm cách chối cãi” [15, 283] Đó là một thực trạng đáng buồn của văn học dịch nước ta
Và như bấy lâu nay Nguyên Ngọc vẫn ưu tư, ông đã trở lại với một vấn
đề hết sức nhạy cảm, sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên Với những luận điểm chặt chẽ khoa học và tình yêu mãnh liệt dành cho đất và người Tây Nguyên Nguyên Ngọc đã chỉ ra trong những năm gần đây Tây Nguyên phát triển mất cân bằng, do nạn tăng dân số cơ học lên đến 7% Điều đó dẫn tới cơ cấu dân cư bị đảo lộn, cư dân bản địa trở thành thiểu số với tỉ lệ chênh lệch lớn trên chính đất đai rừng núi ngàn đời của họ Việc tăng dân số cơ học với mật độ quá cao và tốc độ quá nhanh gây ra sự đảo lộn toàn diện về xã hội chưa từng có: “Môi trường bị tàn phá nặng nề, vì làng Tây Nguyên từ ngàn xưa là rừng Nay làng bị lấy mất rừng, không còn là người chủ thực sự của rừng nữa, nên không chỉ không còn có quyền giữ rừng nữa” [6, 16] Không chỉ môi trường bị tàn phá mà kinh tế, văn hóa, xã hội đều chịu hậu quả nghiêm trọng Lí giải điều này Nguyên Ngọc chỉ ra đó là do cơ chế quản lí cứng nhắc, một số ngộ nhận hoặc hời hợt trong chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên Cảnh báo của một nhóm nghiên cứu Tây Nguyên: “Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thười có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì “vấn
Trang 36đề dân tộc” sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít
là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo Một khi vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo quyện vào nhau thì nguy
cơ tới thật khó lường”
Mạnh dạn chỉ ra những vấn đề còn nhức nhối trong cuộc sống, tạp văn Nguyên Ngọc đã phản ánh hiện thực hoàn thiện và chân thực, nhất là dám công khai bày tỏ thái độ, cách đánh giá với hiện thực, dám nói thẳng, nói thật những điều còn bức bối, mờ khuất Bám sát vào mạch đời cuộn chảy, ngòi bút của Nguyên Ngọc đã phản ánh cuộc sống ở bề rộng, bề sâu, bề xa, một cách tinh nhạy, linh hoạt bằng thể loại tạp văn Những trang viết đầy đặn chất liệu hiện thực của Nguyên Ngọc không phải là sự ghi chép, phản ánh, chiêm nghiệm hiện thực một cách đơn giản mà thực ra là sự khám phá, sáng tạo đầy bản lĩnh của người cầm bút
1.3.2 Tạp văn Nguyên Ngọc nêu bật các vấn đề nổi cộm trong xã hội
Văn học trong quá trình khám phá cuộc sống luôn hướng tới đề tài chứa đựng những triết lí sâu xa, những giá trị nhân bản vĩnh hằng Đồng thời qua
đó chúng ta cũng thấy được triết lí nhân sinh cũng như cách nhìn nhận của tác giả về cuộc đời, về xã hội
Không đi sâu bàn về những vấn đề cụ thể như các nhà văn khác Nguyên Ngọc chủ yếu đi tìm hiểu về các vấn đề văn hóa, phát triển và giáo dục đó là mối quan tâm hàng đầu của ông
Trong những trang viết của mình ông nhận ra văn hóa có vai trò rất to lớn trong sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội Vì lẽ sinh tồn và phát triển của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, và các phương thức sử dụng Toàn bộ
Trang 37những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn Trong một thời gian dài trước đây, do quan niệm chật hẹp, người ta cho rằng văn hóa
là một cái gì đó phái sinh từ kinh tế, rằng văn hóa chỉ là kết quả, là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế mà thôi Văn hóa bị xem là thành phần đứng ngoài kinh tế nghĩa là chỉ thấy quan hệ một chiều trong đó văn hóa giữ vai trò thụ động Văn hóa ngày nay đang trở thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế Điều này thật ra không có cái gì mới Nguyên Ngọc không có tham vọng bàn về tất cả, mà chỉ nhìn ở vấn đề văn hóa và sự phát triển toàn cầu hóa Phải khẳng định rằng toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa về văn hóa nói riêng trong bối cảnh hiện nay khác xa so với trước kia
cả về nội dung, ý nghĩa, qui mô và tốc độ Ngày nay nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa phát triển trên phạm vi toàn thế giới Điều đó đặt ra cho các quốc gia những thách thức và thuận lợi Giao lưu văn hóa đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải có bản lĩnh, phải biết chủ động tiếp thu những giá trị văn hóa mới, đồng thời loại bỏ những giá trị văn hóa không còn phù hợp, trên cơ sở đó lựa chọn loại hình văn hóa phù hợp Nhìn nhận về lịch sử văn hóa, Nguyên Ngọc chỉ ra Phan Châu Trinh là người sớm nhận ra nguyên nhân sâu xa của sự mất nước là do thua kém về văn hóa so với phương Tây Ông đánh giá: “Đây là một chuyển biến có ý nghĩa cách mạng trong phương hướng tìm đường cứu nước - mà quan trọng nhất là tìm đúng nguyên nhân mất nước và thất bại đau đớn của các phong trào cứu nước mặc dù vô cùng anh dũng, lẫm liệt, một nhận thức
có tính cách mạng và hết sức cơ bản không chỉ về con đường cứu nước, mà về lâu dài, cả về con đường phát triển của dân tộc” [14, 482] Cũng có thể nói một cách khác: “Phan Châu Trinh đã tiến một bước rất xa trọng nhận thức về
Trang 38số phận dân tộc; ông không chỉ đặt vấn đề độc lập dân tộc, ông đặt vấn đề phát triển dân tộc, ông cho rằng phải nhìn và đặt vấn đề độc lập dân tộc trong toàn bộ vấn đề rộng xa hơn nhiều là phát triển dân tộc trong một thời đại đã đổi khác căn bản” [15, 495] Trong thực tế, Phan Châu Trinh và các bạn của ông đã tiến hành “một cuộc cách mạng tân văn hóa”: “ông không chủ trương
đi con đường bạo lực lúc bấy giờ Ông cho rằng nếu bằng con đường ấy giành được độc lập, mà dân trí vẫn u mê như cũ, không có dân chủ, dân quyền, thì nền độc lập đó cũng vô nghĩa và không thể bền vững” [6, 500] Tuy nhiên quá khứ đi qua để lại nhiều trở trăn và day dứt: “Không ai nói “nếu” được với lịch sử Trong lịch sử có chúng ta mà cũng có kẻ thù, có tình thế trong nước
mà cũng có tình thế thế giới với các thế lực chằng chịt đan xen Lịch sử đã diễn ra như nó đã diễn ra Độc lập dân tộc đã giành lại được bằng một cuộc chiến tranh anh hùng, mà chúng ta bắt buộc phải làm, và khi phải làm thì đã làm cực giỏi 100 năm đã qua đi 80 năm đã qua Có phải vấn đề hôm nay là tiếp tục công cuộc “cách mạng tân văn hóa” mà lịch sử với tất cả sự khắc nghiệt của nó, đã buộc chúng ta còn để dở dang ” [26, 500] Chiến tranh đã qua đi chúng ta đã giành được độc lập về cho dân tộc Nhưng nói một cách khác “chiến thắng đã thật khó, nhất là chiến thắng một kẻ thù ghê gớm như chúng ta đã thắng một cách vẻ vang trong cuộc chiến tranh vừa qua, nhưng hình như cái hậu chiến thắng lại còn khó hơn cái chiến thắng rất, rất nhiều lần” [17, 157] Nhìn nhận sự phát triển của đất nước trong xã hội ngày nay, Nguyên Ngọc thẳng thắn đưa ra quan điểm: “Vấn đề đơn thuần không chỉ là nền độc lập dân tộc, vấn đề là trên cơ sở độc lập đó phải phát triển, phát triển dân tộc Tìm một con đường phát triển, và tìm một cách phát triển cho dân tộc, trong thế giới biết bao hấp dẫn mà cũng xiết bao khó khăn này” [9, 518] Nelson Mandela đã nói một câu rất hay sau khi đất nước mình thoát khỏi chế
độ độc tài Aparthied: “sự thật là chúng ta chưa được tự do, chỉ đơn giản
Trang 39chúng ta mới giành được quyền tự do” Với ông: “Chiến thắng càng to lớn, quá to lớn, thì việc nhận ra điều đó càng khó khăn hơn rất nhiều Sau một chiến thắng lẫy lừng đến như vậy, dám biết nhận ra rằng thật ra trong tay chúng ta gần như còn chưa có gì hết, trên con đường dài của sự phát triển chúng ta mới đặt chân lên điểm xuất phát đầu tiên, gần như là hai bàn tay trắng, chưa nói với rất nhiều vết thương” [27, 518] Là một người từng kinh qua chiến tranh, trải nghiệm sâu sắc về cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, giờ quay lại để có được chiến thắng chúng ta đánh đổi quá đắt Thế nhưng giành được hòa bình đã khó sống trong hòa bình lại khó hơn Làm thế nào sống trong “thế giới phẳng” này Và ông giật mình nhận ra ta đang đi tới với hai bàn tay trắng và nhiều vết thương chưa lành Đứng trên lập trường của một nhà văn nhưng có hiểu biết sâu sắc về văn hóa, Nguyên Ngọc nhìn vấn đề một cách khách quan, không gò bó Nan đề ông đặt ra cho xã hội là vấn đề hết sức nhức nhối, hiện nay xã hội đang tìm mọi cách giải quyết
Hết sức bình tĩnh và công tâm, nhà văn Nguyên Ngọc bàn đến những vấn đề cốt lõi cần thay đổi trong chính sách giáo của giáo dục của nước ta hiện nay - một bức xúc lớn mang tính thời sự Nhận thức về vấn đề này, Nguyên Ngọc chỉ ra sai lầm của những vấn nạn trên là do triết lí giáo dục, hay nói cách khác một triết lí giáo dục khô khan cứng nhắc, cũ kĩ Ông đã đưa ra câu hỏi: “nói nôm na ra chúng ta định xây và thực hiện một nền giáo dục này
để làm gì? Chúng ta định đào tạo những con người biết tự do, biết suy nghĩ
và có suy nghĩ độc lập, từ đó là những con người biết sáng tạo, cho một xã hội
tự do và sáng tạo, hay đào tạo những con người biết chấp hành, vâng lời phục tùng, hết sức dễ bảo, cho một xã hội trong đó mọi sự đều được chỉ huy tập trung răm rắp” Chính từ những quan niệm đó mà kết quả của nền giáo dục ngày càng kém Bằng cái nhìn thẳng thắn ông cho rằng: “Tôi cho rằng sai lầm đầu tiên của và cơ bản của bộ giáo dục là đã tự coi thường vai trò, chức năng
Trang 40của mình đối với sự phát triển của xã hội, tự hạ thấp vai trò đó, coi nhiệm vụ của mình chỉ cung cấp cho xã hội chỉ những con người có học chứ chưa tạo nên những con người tự do, nền tảng của một đất nước tự do” [30, 126]
Trong tạp văn của mình ông đưa ra câu hỏi “đại học để làm gì?” “Thế nào là đại học?”, những câu hỏi tưởng ra như cũ lắm rồi nhưng để hiểu một cách thấu đáo, thật ra không đơn giản Trả lời câu hỏi đại học để làm gì? Nguyên Ngọc cho rằng: “Còn để làm gì nữa, ai mà chẳng biết: để đào tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực đáp ứng những yêu cầu ở một cấp nào đó, mà ta thường gọi là cấp cao của xã hội” [1, 161] Tuy nhiên vấn đề đại học ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề để bàn Thật ra lâu nay chúng ta chưa hiểu thế nào là đại học Trong xã hội thời phong kiến nền giáo dục hư học giáo điều họ học thuộc lòng Nhưng hầu như tất cả học xong họ đều vứt bỏ hết những kiến thức giáo điều ấy và làm ngược lại những điều giáo điều ấy:
“Nghĩa là họ tự học để tạo cho mình tư duy độc lập, một nhân cách độc lập, học để giám và biết độc lập suy nghĩ bất chấp tất cả những áp lực mọi kiểu, kể
cả những áp lực ghê gớm của những giáo điều được dạy ra rả trong sách và từ thầy, học để làm một con người biết và dám tự mình độc lập và tự do đi tìm ra chân lí cho chính mình và cho đất nước, dân tộc trong một tình thế ngày ấy tăm tối, khó khăn biết chừng nào” [12, 163] Bám sát vào hiện thực của đời sống Nguyên Ngọc nêu lên những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi, đáp ứng được sự mong mỏi đông đảo của độc giả Nhà văn đã bắt mạch được nhiều sự bức xúc tiềm ẩn trong đời sống xã hội, phản ánh một cách trung thực thẳng thắn
1.3.3 Tình cảm của tác giả thể hiện trong tạp văn và những giải pháp giải quyết các nan đề xã hội mà tác giả đề xuất
Đã từng là một người lính, cũng là một nhà văn luôn đi đầu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Ở cái tuổi nhân sinh thất thập lẽ ra là an nhàn, nhưng với tinh thần nhập thế ông vẫn hăng hái tham gia các hoạt động xã hội Tham