Thông qua việc tìm hiểu, khảo sát các đơn vị ngôn ngữ, dựa trên nền tảng lý thuyết cơ bản về cách tiếp cận ngôn ngữ của tiểu thuyết, hi vọng luận văn sẽ mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH
NGHỆ AN - 2015
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Sơ lược về Mạc Can - tác giả, tác phẩm và tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” 4
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tác phẩm của Mạc Can và tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” 11
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 14
1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết và sơ lược về thể loại tiểu thuyết 14
1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 17
1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết 20
1.3 Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 CÁC LỚP TỪ TIÊU BIỂU TRONG TẤM VÁN PHÓNG DAO CỦA MẠC CAN 24
2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 24
2.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ 24
2.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 26
Trang 42.2.1 Từ trong “Tấm ván phóng dao”, xét từ góc độ cấu tạo 28
2.2.2 Từ trong “Tấm ván phóng dao”, xét từ góc độ nguồn gốc 44
2.2.3 Từ trong “Tấm ván phóng dao”, xét về phạm vi sử dụng 50
2.2.4 Lớp từ tình thái 61
2.3 Vài nét khái quát về dấu ấn của tác giả qua việc sử dụng các lớp từ 68
2.4 Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 CÁC TRƯỜNG NGHĨA NỔI BẬT TRONG TẤM VÁN PHÓNG DAO CỦA MẠC CAN 71
3.1 Khái niệm trường nghĩa và hướng nghiên cứu trường nghĩa trong Tấm ván phóng dao của Mạc Can 71
3.1.1 Khái niệm trường nghĩa và các loại trường từ vựng ngữ nghĩa 71
3.1.2 Trường ngữ nghĩa trong tác phẩm nghệ thuật và hướng nghiên cứu các trường nghĩa trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” của Mạc Can 75
3.2 Các trường nghĩa nổi bật trong Tấm ván phóng dao 78
3.2.1 Trường ngữ nghĩa chỉ không gian 78
3.2.2 Trường ngữ nghĩa các từ chỉ sinh hoạt 84
3.2.3 Trường ngữ nghĩa chỉ tâm trạng cảm xúc con người 86
3.3 Vài nét khái quát về dấu ấn của tác giả qua việc sử dụng các lớp từ theo trường nghĩa 92
3.4 Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5Bảng 2.1 Từ láy trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can,
phân loại về cấu tạo 31 Bảng 2.2 Thống kê số lượt từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong tiểu
thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can 46 Bảng 2.3 Từ địa phương trong tác phẩm Tấm ván phóng dao 53
Bảng 2.4 Bảng dẫn dụ các từ ngữ địa phương mở rộng nghĩa trong
tác phẩm Tấm ván phóng dao của Mạc Can 56
Trang 6mà xoay quanh những câu chuyện đời thường, nhưng số phận éo le, những mảnh đời cơ hàn cực khổ với lối viết giản dị, dịu dàng, sâu lắng đầy chất thơ, thấm đẫm màu sắc tự nhiên Cái tài của Mạc Can là ở chỗ ông đã trải lòng mình vào trong trang viết, phát hiện ra những ngõ ngách sâu trong tâm hồn con người Nam Bộ bằng giọng văn hồn hậu, hóm hỉnh; ngôn từ chân chất, mộc mạc với nhiều từ ngữ phương ngữ Nam Bộ
1.2 “Tấm ván phóng dao” là một trong những tiểu thuyết đặc sắc của
Mạc Can, ngay từ khi xuất hiện đã tạo nên ấn tượng tốt đối với độc giả xa gần Đặc biệt, đây là cuốn tiểu thuyết gặt hái được nhiều giải thưởng lớn: Giải
A Cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2002 - 2004, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh 2 năm 2003 - 2004, Giải thưởng Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam 2005
1.3 Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ đang là một hướng đi được nhiều nhà nghiên cứu phê bình lựa chọn bởi cơ sở khoa học vững chắc Đây cũng là hướng đi người viết lựa chọn khi tiếp cận với tiểu
thuyết của Mạc Can - “Tấm ván phóng dao”, khi mà ý kiến nhận xét đánh
Trang 7giá về tác phẩm mới chỉ những phát biểu ngắn, những cảm nhận chung qua trong các bài báo, bài giới thiệu, chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ ngôn ngữ học Thông qua việc tìm hiểu, khảo sát các đơn vị ngôn ngữ, dựa trên nền tảng lý thuyết cơ bản về cách tiếp cận ngôn ngữ của tiểu thuyết, hi vọng luận văn sẽ mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm
“Tấm ván phóng dao”, đồng thời, qua đó thấy được phần nào phong cách
ngôn ngữ của Mạc Can, cũng như góp phần thấy được giọng điệu của văn xuôi đương đại
2 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát “Từ ngữ trong Tấm ván phóng dao của Mạc
Can” Trong quá trình nghiên cứu, để đối sánh và thấy được những đặc sắc
trong văn phong tác giả, luận văn sẽ khảo sát thêm một số tác phẩm khác của Mạc Can và các tác giả khác cùng thời
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao”
của Mạc Can, nêu được những nét đặc sắc của ngôn ngữ trong tiểu thuyết tác giả, đồng thời thấy được những đặc điểm phong cách trong việc sử dụng ngôn ngữ của Mạc Can
3.2 Nhiệm vụ
- Chỉ ra đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ nổi bật trong tiểu thuyết
“Tấm ván phóng dao” của Mạc Can
- Chỉ ra những đặc điểm về các trường nghĩa nổi bật trong tiểu thuyết
“Tấm ván phóng dao” của Mạc Can
- Trên cơ sở phân tích việc sử dụng các lớp từ và các trường nghĩa nổi bật của Mạc Can, rút ra một số nét về sắc thái, phong cách ngôn ngữ của tác giả trong tiểu thuyết
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
4.2 Phương pháp miêu tả
4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Đóng góp của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ (nghiên cứu đặc
điểm sử dụng từ ngữ) trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” của Mạc Can
Qua đó, rút ra một số nét về sắc thái phong cách tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của
đề tài
Chương 2: Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao
của Mạc Can
Chương 3: Các trường nghĩa nổi bật trong tiểu thuyết Tấm ván
phóng dao của Mạc Can
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Sơ lược về Mạc Can - tác giả, tác phẩm và tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao”
1.1.1.1 Mạc Can và tác phẩm của ông
Mạc Can, tên thật là Lê Trung Can, sinh ngày 14- 04- 1945, có bút danh khác là Anh Vũ Ông sinh ra ở sông Tiền Hiện nay ở 54/29/23 KP4, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Bố là Lê Văn Quý - một nhà ảo thuật gia nổi tiếng Mẹ là người gốc Miến Điện lai Hoa, một phụ nữ bình dân ít chữ, nhưng rất mực hiền thục, đảm đang Cả gia đình với năm con người lênh đênh kiếm sống trên sông nước miền Lục tỉnh Tuổi thơ của Mạc Can quẩn quanh trên chiếc ghe nhỏ, lênh đênh trôi dạt trên những dòng sông, lẳng lặng với tiếng nước vỗ róc rách, ngẩn ngơ cùng tiếng bìm bịp kêu mỗi bận con nước lớn Lên 8 tuổi, Mạc Can
đã trở thành diễn viên trong ghe hát của cha làm hề để mua vui cho khán giả Tuổi thơ không được học hành và phải theo cha đi khắp nơi biểu diễn xiếc, ảo thuật Vật lộn với miếng cơm manh áo ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống: làm xiếc, ảo thuật, diễn viên… nhưng nhiều nhất vẫn là làm hề Mạc Can từng kí họa về chân dung mình: “Tôi là một tên hề Một con người có khuôn mặt rất hẻo và tướng đi lắt nhắt, lùn tịt Một người ít học, một kẻ bị cuộc đời đối xử quá khó Tôi đã lang thang từ lúc bắt đầu được sinh ra Tôi chẳng làm được gì trong suốt cuộc đời mình” Hơn nửa cuộc đời lang thang phiêu bạt khắp nơi Mạc Can thấm thía sâu sắc cuộc sống khốn khó Bởi thế ông dành cho những người nghèo khổ tình cảm đặc biệt
Trang 10Mạc Can đến với văn chương như một sự tình cờ Mặc dù ngoài tuổi
60 mới thực sự viết văn, vậy mà chỉ mới mấy năm cầm bút, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị ở nhiều thể loại khác nhau: Tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp bút, kịch bản phim, truyện tranh… Và đã đạt được nhiều giải thưởng có
giá trị: Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2005, Giải thưởng Văn học hai năm (2003 - 2004) của UBND thành phố Hồ Chí Minh, Giải thưởng dành cho tác phẩm văn học và điện ảnh xuất sắc nhất năm 2005 của Trung tâm Văn hoá doanh nhân Việt Nam
Từ khi xuất hiện, Mạc Can trở thành hiện tượng “lạ” trên thi đàn văn học Việt Nam Nhiều người thắc mắc tại sao đến gần cuối cuộc đời lại chuyển sang viết văn và được gọi là “nhà văn trẻ” Nhưng thật ra với ông đó là cả một quá trình chuẩn bị âm thầm Quá trình sáng tác của Mạc Can hết sức độc đáo
Dù là nhà văn không được học hành tử tế, nhưng ông tự cố gắng vươn lên, tự tìm tòi học hỏi
Bước vào làng văn, với tác phẩm đầu tay Ảo thuật trong tù, đăng trên báo Thời nay, mang tính chất tự truyện Đến thời kỳ đổi mới, tập truyện ký Món nợ kịch trường (1999) ra đời Tác phẩm kể về cuộc sống của những
người nghệ sỹ trên sân khấu không màng danh lợi, miệt mài làm nghệ thuật
để trả món nợ trần ai Sáng tác này bước đầu ghi nhận sự thành công của Mạc Can trên con đường văn nghiệp Kể từ đó, Mạc Can đã cho ra đời hàng loạt
tác phẩm có giá trị: Tập truyện ngắn Tờ một trăm đô la âm phủ (2004), có nhiều truyện ngắn tiêu biểu như: Những bức tường biết nói, Xe đêm, Khẩu thuật, Người nói tiếng bồ câu, Tờ một trăm đô la âm phủ, Con cua màu rêu…
Tập truyện thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong cách viết của ông Nhờ tập truyện này mà người ta đã bắt đầu chú ý tới Mạc Can Nhưng để tạo được tiếng vang, làm nên tên tuổi của Mạc Can phải kể đến sự ra đời của cuốn tiểu
thuyết Tấm ván phóng dao (2004) Đây có thể xem là “bước ngoặt” trong
Trang 11cuộc đời sáng tác của nhà văn Khi được nhận giải thưởng từ cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn, Mạc Can hết sức bất ngờ và vô cùng sung sướng Ông đã không cầm nổi giọt nước mắt hạnh phúc khi những cố gắng của mình bấy lâu nay đã được đền đáp Để không phụ lòng độc giả, Mạc Can tiếp tục
cho ra mắt tập truyện ngắn Cuộc hành lễ buổi sáng (2005), gồm chín truyện ngắn với phong cách đa dạng Bản tường trình (số 1) từ đảo Xanh là câu chuyện hoang đường về một thế gian trần trụi hiện thực, còn ở Khách sạn cánh đồng Diều “cốt truyện được đẩy xuống hàng thứ, nhuờng chỗ cho văn”,
một khách sạn lạ lùng nhưng quen quen đâu đó trên khắp đất nước này Những nhân vật cũng thuộc loại phổ biến của thời thế này đã được Mạc Can làm cho tất cả trở nên huyền hoặc, vừa như ác mộng, vừa như một giấc mơ bảng lảng khói sương Và, ta còn bắt gặp những cốt truyện ly kỳ huyền ảo
như Sài lang ,Con Kapka, những truyện hiện thực phảng phất buồn như Hội chợ buồn hiu, Con chuột trên dây điện, những truyện thế sự hóm hỉnh như Cuộc hành lễ buổi sáng…
Năm 2006, Mạc Can đã thử sức mình ở thể loại mới, Tạp bút Mạc Can
ra đời, chứng minh cho sự sáng tạo của ông Đọc cuốn sách người đọc như đang tham gia một trò chơi, hoặc thử làm một trò ảo thuật với các “bé chữ”
của Mạc Can Ở cuốn Tạp bút, Mạc Can muốn đi tìm hiệp sĩ thực sự trong văn
chương cũng như ngoài đời, một con người dám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách, mọi cám dỗ của cuộc sống để cứu rỗi nhưng sinh linh bé bỏng, những tâm hồn đang ngập chìm trong bi kịch cuộc đời Cũng trong năm
2006, Mạc Can cho ra đời tập truyện ngắn Người nói tiếng bồ câu, tập truyện
vừa được xuất bản chưa bao lâu đã đứng vị trí thứ năm trong danh sách những sách bán chạy nhất trong tháng 5 - 2006 theo thống kê của Công ty Phát hành sách Tập truyện ra đời đã được công chúng đón nhận một cách nồng nhiệt Tập truyện ngồn ngộn hơi thở cuộc sống Cũng với ngòi bút chân chất “thấy
Trang 12gì viết nấy”, lời văn mộc mạc, dân dã, dung dị đời thường, tiểu thuyết Phóng viên mồ côi đã tiếp tục làm nên một thành công mới trên con đường viết văn của Mạc Can Phóng Viên mồ côi là tác phẩm lấy bối cảnh trước năm 1975,
viết về đề tài chiến tranh, về số phận của chàng phóng viên Trần Điệp Qua tác phẩm, tác giả muốn nói: “Ở đời, mọi việc đều có quy luật của nó, kẻ ác rồi cũng bị trừng trị, cuộc sống con người không nên hành xử bằng bạo lực mà hãy tử tế với nhau, hãy biết tha thứ và dung hoà cuộc sống”
Đến cuối năm 2007, đầu năm 2008, cuốn tiểu thuyết Những bầy mèo vô sinh ra đời Đây là cuốn tiểu thuyết thứ ba của Mạc Can sau Tấm ván phóng dao và Phóng viên mồ côi Tuy chỉ dày 251 trang, nhưng đây là cuốn sách mà
Mạc Can đã thầm lặng viết trong mấy năm Ở cuốn sách này có cảm giác như Mạc Can đã đi tìm sự kết hợp của thế giới nghệ thuật biểu diễn mà ông tự học, tự theo từ nhỏ tới giờ với thế giới chữ nghĩa Khi hoàn tất tác phẩm này thì Mạc Can đã là người nổi tiếng Ông bận bịu với nhiều công việc, lúc thì làm diễn viên, lúc lại đi làm quảng cáo, đi diễn ảo thuật, đi nói chuyện với sinh viên các trường đại học nhưng vẫn không lúc nào thôi viết Sang năm
2010 ông cho xuất bản tiểu thuyết Qủy với Bụt và thần chết, Tuyển tập Mạc Can gồm có tiểu thuyết và truyện ngắn, tập truyện ngắn Ba ngàn lẻ một đêm
với ngòi bút biến hóa như diễn viên trên trang giấy Đến năm 2011 ông cho ra
đời tập truyện ngắn Nhớ, năm 2013 là tập truyện ngắn chọn lọc
Văn Mạc Can đa dạng trên nhiều thể loại: Truyện thiếu nhi, truyện người lớn, truyện giả tưởng Nhưng dù viết ở đề tài hay lĩnh vực nào thì người đọc đều dễ nhận thấy nhân vật có phần cuộc sống của Mạc Can: Những
số phận hẩm hiu, những cuộc đời đau khổ, những người thất cơ lỡ vận hoặc
có phần đời không suôn sẻ Chúng tôi thấy ngòi bút của nhà văn tập trung vào
ba mảng đề tài chính:
- Cuộc sống đời thường và tâm tư tình cảm của những kiếp người nghèo khổ
Trang 13- Những giá trị đạo đức thẩm mỹ trong xã hội
- Đề tài liêu trai
Văn của Mạc Can đề cập đến những vấn đề đời thường của con người,
từ sinh hoạt đến thế sự với cảm hứng đạo đức và sự ý thức về nhân cách Trong số những đối tượng mà nhà văn quan tâm thì những người nghèo khổ được ông dành cho tình cảm đặc biệt
Có thể nói, Mạc Can đã đưa được khá nhiều hơi thở của cuộc sống hiện đại vào trang viết Những đề tài tâm lý xã hội, đời tư thế sự, đạo lý ở đời được khai thác một cách sắc nét Những vấn đề đời thường của con người, từ sinh hoạt đến thế sự, từ tâm lý đến triết lý, cảm hứng đạo đức và sự tự ý thức về nhân cách là chiều sâu nhân bản trong văn xuôi Mạc Can
Như vậy, hành trình sáng tạo văn học của Mạc Can chỉ chưa đầy mười năm nhưng đã có những đóng góp tích cực vào đời sống văn học đương đại
Việt Nam
1.1.1.2 Tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao”
Tiểu thuyết "Tấm ván phóng dao" được nhà xuất bản Trẻ phát hành
tháng 6 năm 2003 Tác phẩm gồm 204 trang Ngay khi ra đời, nó nhanh chóng thu hút bạn đọc bởi lối viết giản dị, chân thật, nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, linh hoạt theo một kỹ thuật riêng với một phong cách mới lạ, hấp dẫn
Tác phẩm mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phản ánh được cuộc sống của con người một thời ở vùng đất Nam Bộ Câu chuyện được kể không đơn điệu, không gây cảm giác nhàm chán nặng nề từ phía người đọc, nó cứ diễn ra tự nhiên như không hề có sự sắp đặt sẵn mà vẫn rất chân thật, dung dị
và đạt được hiệu quả nghệ thuật
Chuyện kể về một gia đình Nam Bộ với gánh hát “xiệc” sống phiêu linh như một kiếp “lục bình trôi nổi” trong hành trình tha phương cầu thực đầy gian khổ, nhọc nhằn Ông chủ gánh hát là một người đam mê nghệ thuật sân khấu, nhưng nóng nảy, thấy chuyện bất bằng chẳng tha Con người vô lo
Trang 14lại may mắn lấy được bà vợ gốc Miến Điện lai Hoa vui vẻ, biết xoay xở Buổi đầu, ông đưa vợ con trôi dạt làng này qua làng nọ trên chiếc ghe ngược xuôi sông nước, hành nghề bán thuốc dán và làm ảo thuật ở những phiên chợ quê Sau đó nhờ tiền dành dụm của vợ, ông Trần lập được một gánh xiếc lưu diễn trên đất liền bằng xe tải, với diễn viên chính là ba đứa con của mình Đó cũng
là bộ ba nhân vật của bi kịch Người kể lại vở kịch, cậu Ba, đứa con trai thứ nhì oặt ẹo, giữ nhiệm vụ đứng sau đỡ tấm ván cho cậu Hai, người anh cả dáng vóc hào hoa biểu diễn trò phóng dao mà “vật thí thân” đứng trước tấm ván không ai khác hơn cô Tư, đứa em gái bé nhỏ của họ Người anh với tài phóng dao ngoại hạng, là một thanh niên mà các cô gái đã gặp là khó quên, trầm tính, quen chịu đựng nỗi khổ dù vẫn ước mơ thoát khỏi cảnh đời lang thang
và có được một cuộc tình đẹp, nhưng cuối cùng chính tình yêu đã hoàn tất bi kịch của gia đình anh ta Cô em gái hiền lành ít nói, lúc còn nhỏ cô không biết
sợ khi đứng cho anh mình biểu diễn, xem những lưỡi dao phóng toả quanh thân như chùm hoa làm vui người đời, cho đến một hôm cô bắt gặp bà mẹ làm
cá với con dao thép sắc Từ đấy cô thường cô độc trong một góc với xâu chuỗi, quyển kinh, lấy tay che mắt Nỗi sợ làm cho thân hình thiếu nữ mười bốn, mười lăm khô cằn bất động Chỉ có đôi mắt muốn cất lên tiếng nói Tuy thế, chúng không thể bật thành lời, mãi mãi ẩn nhẫn nhận chịu số phận nghiệt ngã Cuộc sống của họ nghèo nàn chật vật, những buổi hát tuỳ thuộc vào cơn mưa đêm đổ xuống ngăn cản khách đến xem: Đứa con trai thứ hai của ông Trần, vừa giữ vai hề, vừa là thằng bé đánh trống quảng cáo trước cửa rạp, cũng là người điên cuồng lo âu cho số mạng của em gái, ở mỗi màn phóng dao mà khán giả thích thú nhất Cậu phải thường xuyên vác tấm ván nặng dầy làm bằng thứ gỗ đóng áo quan quá cứng trên thân hình còm cõi, vốn mang dị tật do sự khuân vác quá sức, đem ngâm dưới sông hay ra bờ giếng tưới nước làm mềm mặt gỗ Nếu không ván chẳng ăn dao Hàng ngày đứng trên sân
Trang 15khấu, cậu theo dõi từng cử chỉ của anh trai, hồi hộp, sợ hãi nếu người phóng dao phân tâm thì chỉ trong tích tắc tâm thần không tập trung, có thể gây tử thương cho cô đào thí mạng Một ngày điều dự đoán ám ảnh xảy ra Chính sự hiện diện của tình yêu, của Phương, cô thiếu nữ xinh đẹp, con ông chủ rạp hát
đã đưa đến thảm hoạ Anh Hai đã phóng trúng cô Tư trong đêm diễn vốn báo trước nhiều điềm hỗn loạn Uất ức, căm hờn, cậu Ba đã xông vào đâm anh trai nhưng may mắn có người ngăn kịp Gánh xiếc từ đấy tiêu tan, người anh bị
tù, ông cha thất cơ nghiện ngập trở về bán thuốc dạo và lao vào cờ bạc, cô thiếu nữ đẹp trót mang thai với anh Hai rồi cũng qua đời Chỉ còn lại cuối cùng sau bao nhiêu năm, trên khoảnh sân căn nhà heo hút, một bà Tư xơ xác thất thường mưa nắng, khi tỉnh khi không với vết thương trên đầu và một ông
Ba đạp xích lô thỉnh thoảng ghé thăm em gái Cả gia đình cả cuộc đời lăn lộn
để kiếm sống vậy mà số phận nghèo hèn cũng không buông tha họ Cuộc sống
bình thường cũng chỉ là ước mơ qua xa vời đối với họ
Qua Tấm ván phóng dao chúng ta thấy được được sự cảm thông, chia
sẻ sâu sắc của tác giả với những khó khăn trong cuộc sống đời thường của người lao động nghèo- những con người khốn khổ, không có mảnh đất cắm dùi, số phận trôi nổi phiêu bạt, vất vả kiếm sống
Trong những khốn khó khổ cực của con người, Mạc Can đặc biệt dành
sự quan tâm tới cuộc đời, số phận của phụ nữ và trẻ em
Không chỉ thể hiện sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc với những khó khăn
trong cuộc sống đời thường của người lao động nghèo Tấm ván phóng dao
còn khẳng định, ngợi ca tình cảm đạo lý con người Ông đồng thời nhận ra ở
họ những khát vọng sống, khát vọng làm người chân chính
Làm nên sức sống diệu kỳ của Tấm ván phóng dao không chỉ ở những
giá trị nhân văn sâu sâu sắc ấy mà còn bởi những trải nghiệm mới về nghệ thuật viết tiểu thuyết
Trang 16Việc sử dụng ngôi kể cũng là một điểm đặc biệt của tiểu thuyết Tấm ván phóng dao Nhà văn đã xây dựng hình ảnh người trần thuật xưng “tôi”-
vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật trong truyện tạo nên tính chân thật, khách quan cho những sự kiện, chi tiết được kể Giọng điệu của tác phẩm vì thế mang một âm hưởng chung: trầm buồn, trĩu nặng suy tư, chiêm nghiệm về kiếp người
Điểm thu hút nữa của cuốn tiểu thuyết chính là ngôn ngữ Đọc tác
phẩm Tấm ván phóng dao người đọc ấn tượng với lối viết giản dị, với lớp
ngôn từ rất đời thường mộc mạc, rất gần gũi tự nhiên và đậm chất Nam Bộ Đây có lẽ mới chính là sắc thái riêng trong ngôn ngữ văn chương Mạc Can
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tác phẩm của Mạc Can và tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao”
Là gương mặt quen thuộc với khán giả trong những vai diễn nhỏ nhưng mang lại dấu ấn riêng, Mạc Can còn được biết đến như một “Nhà văn trẻ”,
“Nhà văn từ trên trời rơi xuống” Vậy đó, Mạc Can xuất hiện trên văn đàn còn rất mới, rất trẻ Nhà văn Mạc Can được kết nạp vào Hội nhà văn Thành phố
Hồ Chí Minh và Hội nhà Văn Việt Nam Tấm ván phóng dao được nhận ba
giải thưởng:
Giải A của Hội nhà văn Việt Nam
Giải thưởng về âm nhạc, điện ảnh, văn học hai năm một lần của UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Giải tiểu thuyết hay của Trung tâm văn hóa doanh nhân Hà Nội
Từ đó cái tên Mạc Can trở nên quen thuộc hơn với làng văn và đọc giả bằng hàng loạt các tiểu thuyết và truyện ngắn khác Tiểu thuyết và truyện ngắn của Mạc Can mang nhiều yếu tố tự truyện, nội dung phản ánh chân thật cuộc đời, số kiếp con người trong vòng vây nghèo khó, đọc các tác phẩm của Mạc Can người đọc cảm nhận được tư tưởng nhân văn sâu sắc
Trang 17Nhận xét Tấm ván phóng dao, nhà văn Hồ Anh Thái nhấn mạnh: “Mạc
Can đã sử dụng có hiệu quả thủ pháp gián cách Mọi sự biến động của cuộc sống bên ngoài được tái hiện trực tiếp lập tức được đẩy ra xa, đưa qua màng lọc của chàng thiếu niên, khắc in lại đó những đường đồ thị run rẩy Chuyện thế sự khi ấy chỉ còn là một cái cớ để cho những rung cảm của một con người được dịp trào ra, ngân lên Sự kiện ngay phút chốc xóa mờ đi, nhường chỗ cho những chiêm nghiệm, những rung động, những cung bậc tình cảm tinh tế nhiều vẻ Nhiều trang viết đạt đến độ hiếm hoi về nỗi buồn thấm thía của kiếp làm người Trong văn chương mộc mạc có bộc lộ một tay nghề tài hoa khi xử
lý câu chữ và khai triển vấn đề” Hàn Thủy cho rằng: “Tấm ván phóng dao
là một tiểu thuyết thành công Và, với những nhân vật chịu đựng những nỗi đau về tình anh em, tình gia đình tình người, đều có được một cuộc sống lương thiện trong một gánh xiếc rong”
Trong Tuyển tập Mạc Can truyện ngắn chọn lọc của Nhà xuất bản Thanh niên, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét về Tấm ván phóng dao của
Mạc Can: “là một tiểu thuyết đáng chú ý trong nhiều tác phẩm cùng thể loại xuất hiện trong vài ba năm trở lại đây, gây được tiếng vang tốt trong người đọc” Nhà văn Miêng (Nguyễn Thị Xuân Sương) đã có ý kiến về nhà văn Mạc Can thật xúc động: “không có bức tường nào giữa người viết và người đọc, chỉ có nỗi niềm chỉ có cảm thông, chỉ có lòng cam chịu nước mắt ngược vào lòng… Chỉ có những giấc mơ kể cho anh nghe, còn giấc mơ đổi đời u uẩn của chính mình thì âm ỉ giấu… Có lẽ vậy mà đọc Mạc Can “không ngừng được”
Nhà văn Mai Ninh có nhận xét về Tấm ván phóng dao: “Tấm ván phóng dao,
tiểu thuyết đầu tiên của một ngòi bút xuất hiện chưa bao lâu trong văn giới Việt Nam nhưng chỉ với đôi truyện ngắn đã tạo được tiếng vang hiếm có”
Văn Giá với bài viết Tấm ván phóng dao - Sức sống của giá trị nhân văn cổ điển trên Tuổi trẻ Online, cho rằng: “Câu chuyện Tấm ván phóng dao
Trang 18về cơ bản được trần thuật từ một nhân vật xưng tôi - người kể chuyện Gọi là
kể chuyện nhưng câu chuyện không dựa trên một cốt truyện rõ ràng”, “Tác giả chọn cách thức trần thuật theo kiểu hồi ức”, “về mặt kiến trúc, tác giả chọn cách thức tiến hành phân mảnh, nghĩa là triển khai trần thuật theo cách liên tục các mảnh liền kề, không kết dính bề mặt có tính nhân quả mà kết nối
bề sâu có tính suy tưởng Chúng là những mảnh sự kiện, mảnh suy tư, mảnh tâm tình, mảnh triết lý, mảnh hồi nhớ,…được sắp đặt cạnh nhau và luân phiên theo cách không đều nhau trên bề mặt văn bản truyện”, “Sự chuyển đổi linh hoạt trong cách thức trần thuật như đã nói ở trên góp phần khắc họa nội tâm nhân vật, gợi lên mặt giấy vỉa tâm hồn sâu khuất, bí ẩn rất đỗi bất ngờ, lắm khi bất ngờ đến độ kinh ngạc”
Trên trang web Mạc Can fanclup có bài viết về Mạc Can: Viết văn như làm ảo thuật, bài viết đã tỏ thái độ bất ngờ trước cuốn tiểu thuyết “Những bầy mèo vô sinh của Mạc Can” và “Càng đọc càng thấy ngạc nhiên bởi không thể ngờ được trí tưởng tượng của ông lại bay bổng và huyền diệu đến thế Tiểu thuyết là câu chuyện viễn tưởng chỉ nói về bồ câu và lũ mèo hoang, hình ảnh con người gần như không xuất hiện, nhưng lại bất cứ ai cũng phải giật mình Thoát ra khỏi thế giới bồ câu biết nói tiếng người, loài mèo hoang được nhân bản vô tính biết chụp hình và tàn sát loài người, thì câu chuyện chính là giữa thiện và ác, giữa bình yên và đầy rẫy những mưu mô tính toán”
Nhận xét về văn phong Mạc Can, Thảo Điền viết: “Khi Mạc Can một anh hề viết văn đã mang đến một sự lạ của đời sống văn học Ông mang đến một thứ văn học vừa lộng lẫy vừa bi thương, vừa trần thế vừa ảo mộng, dường như không thể phân biệt được đâu là ông, đâu là nhân vật Những gì ông viết ra, ông đã để cuộc đời ông, những sự đời ông gặp, lấn sâu vào nhân vật của mình Và cái gì cũng giống như một màn tự truyện Nhưng lại không hoàn toàn tự truyện Những cuốn sách của ông cứ ra đời Và mỗi lần sách ra
Trang 19đời, ông lại kể thêm vài chuyện đời éo le khác thường bằng giọng kể hóm hỉnh hồn nhiên”
Điểm qua lịch sử vấn đề, chúng tôi thấy, mặc dù đã có nhiều nhận xét
về những tác phẩm của Mạc Can nhưng nhìn chung, những ý kiến của các tác giả trong những bài viết này chủ yếu dừng lại ở việc nhận xét, đánh giá các tác phẩm dưới góc độ lí luận, phê bình Hầu như không có bài viết nào quan tâm tới đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Mạc Can nói chung và “Tấm ván phóng dao” nói riêng Tác phẩm của ông gây ấn tượng như thế, lẽ nào"nghệ thuật ngôn từ" của tác phẩm không phải là phương diện đầu tiên cần khám phá? Đó chính là cơ sở, lí do thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài này
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết và sơ lược về thể loại tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại trung tâm trong nền văn học cận đại, hiện đại; luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước Có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau xung quanh khái niệm tiểu thuyết, chức năng nhiệm vụ mà nó đảm nhận cũng như các trạng thái đời sống mà nó cần nắm bắt và biểu hiện Đi tìm một khái niệm đầy
đủ về tiểu thuyết để đáp ứng mọi trường hợp thực tế văn học là điều rất khó Bởi tiểu thuyết có nhiều xu hướng khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại đứng ở một góc độ riêng để đưa ra nhận xét và quan điểm của mình
Chính vì chưa có sự thống nhất nên hiện nay cũng có nhiều định nghĩa
về tiểu thuyết Theo các soạn giả Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết là
"tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng" [20; 328]
Theo Nguyễn Thái Hòa, có thể nhận diện tiểu thuyết thông qua một số đặc điểm cơ bản: "Là thể loại văn xuôi tự sự, thường có cốt truyện, nhân vật,
Trang 20có cả chi tiết thực và hư cấu, do hành động kể lại, trần thuật một loại hình không bị hạn chế về độ dài, không bị hạn chế về thời gian và không gian; là một phương tiện sáng tạo nghệ thuật có tính thông tin phổ cập, nhờ đó con người hiểu biết, khám phá thế giới ngoại vật và khám phá thế giới nội tâm quá khứ cũng như hiện tại, dự kiến thời tương lai, đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người [24; 229] Hà Minh Đức khẳng định thêm vai trò của tiểu thuyết:
“Năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó” [18; 184]
Cần khẳng định rằng, tiểu thuyết là một trong những thể loại hình thành muộn và trẻ nhất, khi các thể loại khác đã đã hình thành cố định và rõ ràng
Ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện vào thời kỳ cổ đại tan rã, cũng như văn học cổ đại suy tàn Cá nhân con người lúc ấy cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của họ không còn gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại, nhiều vấn đề của đời sống riêng tư được đặt ra gay gắt Số phận của họ bị đe dọa bởi chiến tranh, cướp bóc, loạn lạc Con người ý thức được tình trạng trơ trọi không nơi bấu víu của họ Khi đi tìm nguồn gốc của tiểu thuyết, Belinxki nhận thấy
“Đời sống cá nhân bất luận thế nào không thể là nội dung của anh hùng ca
Hi Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết” [37; 387] Hay Heeghen
cũng nhận định: "tiểu thuyết là sử thi tư sản hiện đại, anh hùng ca của tầng lớp thị dân” Có thể nói, sự ra đời của tiểu thuyết phản ánh một bước phát triển mới của thời đại, phản ánh một tư duy văn học mới, gắn với hiện tại
Mãi đến thời kỳ phục hưng, tiểu thuyết mới có được một sự khởi sắc mới, cũng nhờ vào những biến thiên của lịch sử xã hội châu Âu thời bấy giờ Khi xẩy ra quá trình giải phóng con người khỏi thần quyền của nhà thờ, khi con người bắt đầu được ý thức như một thực thể xã hội, mang tính trần tục cụ thể trong các mối quan hệ xã hội và điều kiện xã hội Đây chính là mầm mống
để tư duy tiểu thuyết phát triển thêm Lý tưởng nhân văn được khẳng định, sự
Trang 21miêu tả rộng lớn các mối quan hệ xã hội gắn liền với ý thức phê phán hoàn cảnh làm cho tiểu thuyết thời nay có bộ mặt mới Thời kỳ này nổi lên một số tên tuổi tiêu biểu: Rabole, Xecvantex hay Boocaxio
Phải đến thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của các nghệ sỹ bậc thầy như Xtăngđan, Bandăc, Thacơrây, Đickenz, Gôgôn, Đôxtôiépxki, L.Tônxtôi, thể loại tiểu thuyết mới đạt đến sự nảy nở trọn vẹn: sự miêu tả đời sống riêng tư với những lợi ích dục vọng cá nhân đều gắn liền với tính khái quát có tầm vóc
xã hội lịch sử rộng lớn, xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Về nội dung thể loại, tiểu thuyết thời kỳ này kết hợp nội dung đời tư với nội dung thế sự Quy mô tiểu thuyết đạt đến tầm vóc lớn lao chưa từng có như “Tấn trò đời” của Bandắc, “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tônxtôi
Khác với châu Âu, tiểu thuyết Trung Quốc và Việt Nam đều chủ yếu bắt nguồn từ lịch sử Ở Trung Quốc, mầm mống của tiểu thuyết cũng xuất hiện khá sớm vào đời Ngụy Tấn (thế kỉ III-IV) dưới dạng truyện ghi chép những sự việc quái dị, hoặc những việc thuộc sinh hoạt cá nhân của các danh
sĩ, ở ngoài giới hạn kinh sử như chí quái, chí nhân Sang đời nhà Đường xuất hiện thể loại truyền kỳ, đời Tống lại có thêm dạng thoại bản, tất cả đều có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại Từ đời Minh, văn học Trung Quốc nói chung và văn xuôi Trung Quốc nói riêng phát triển rực rỡ với
những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc chí diễn nghĩa của
La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh Đến đời Thanh, tiểu thuyết chương hồi đã phát triển đến đỉnh cao qua hàng loạt danh tác như Chuyện làng Nho (Nho lâm ngoại sử) của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần Thời hiện
đại, tiểu thuyết Trung Quốc vượt thoát những thể loại truyền thống, ảnh hưởng lớn từ các trào lưu văn học phương Tây đương thời với sáng tác của các tác gia như Lỗ Tấn, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn v.v
Trang 22Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn
xuôi cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả thế kỉ XIV-XVI đã đặt những nền
móng sơ khai cho tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu
tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời
thường Hoàng Lê nhất thống chí (Đầu thế kỉ XIX) được xem là pho tiểu
thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc Bên cạnh đó, yếu tố đời tư và mạch tự sự trong các truyện Nôm khuyết danh và hữu danh
đương thời như Hoa tiên, Nhị độ mai, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiều cũng ít nhiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của thể
loại Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng với phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: lãng mạn và hiện thực với những cây bút nổi tiếng của Tự Lực văn đoàn, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc) Do tính chất thời đại quy định, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này mang đậm tính sử thi hùng tráng Sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam bước sang trang mới với những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh Các tác phẩm đi sâu hơn vào số phận của các cá nhân, miêu tả
cụ thể mọi khía cạnh đời tư, những góc khuất của con người
1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết
Trong quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết vẫn không ngừng thay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện Tuy nhiên, có thể rút ra một số đặc điểm của thể loại tiểu thuyết như sau:
Trang 23Thứ nhất, tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Đây là điểm
khác biệt của tiểu thuyết với các thể khác của loại tự sự như ngụ ngôn, anh hùng ca Đời tư là tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết Tùy theo từng thời kì phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tới mức thể hiện được, hoặc kết hợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc Nhưng yếu tố đời tư (số phận con người) càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà
Thứ hai, tiểu thuyết mang đậm chất văn xuôi, tức là nó tái hiện cuộc
sống như là đang diễn ra, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài,
cái lớn lẫn cái nhỏ Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Tấn trò đời của Ban-dắc, tác
giả đã phơi bày bộ mặt thật của xã hội tư sản Pháp với đầy đủ những nhố
nhăng, đồi bại, những xấu xa, khổ đau, bi kịch của con người Tiểu thuyết Số
đỏ, Giông tố của Vũ Trọng Phụng cũng khắc họa được tất cả cái bi hài, nghiệt
ngã của xã hội Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến trước cách mạng tháng Tám
Thứ ba, nhân vật của tiểu thuyết là "con người nếm trải", tư duy chịu khổ
đau, trăn trở, dằn vặt, bứt phá "Bản thân vùng tiếp xúc với cái hiện tại chưa hoàn thành-và như vậy là với tương lai-tất sẽ tạo ra sự không trùng hợp của con người với bản thân nó Ở nó bao giờ cũng còn lại những tiềm năng chưa thành hiện thực và những đòi hỏi chưa được đáp ứng" [50; 80] Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như là con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, đang trưởng thành
do cuộc đời dạy bảo; nó không tách con người khỏi hoàn cảnh một cách nhân tạo, không cô lập cũng như không cường điệu sức mạnh của con người
Thứ tư, thành phần chính của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện
và tính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ mà còn phải
Trang 24là cách miêu tả suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm và hành động của nhân vật, trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về mối quan hệ giữa người với người, về đồ vật,
môi trường, nội thất, Có thể lấy tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao làm
minh họa cho đặc điểm này
Thứ năm, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần
thuật và nội dung trần thuật của anh hùng ca, để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật Đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình Và từ đó, có thể nhìn hiện tượng từ nhiều chiều, sử dụng nhiều giọng nói Tiểu thuyết hấp thu mọi loại lời nói khác nhau của đời sống, san bằng ngăn cách lời trong văn học và ngoài văn học, tạo nên sự đối thoại giữa các giọng khác nhau
Cuối cùng, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều
nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại khác, cả những thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịch nói, v.v.) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hàng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo, v.v ) Những thể loại được du nhập vào tiểu thuyết ấy thường vẫn giữ được tính co giãn về kết cấu và tính độc lập, cũng như ngôn ngữ và văn phong đặc thù của chúng
Về phân loại tiểu thuyết, các nhà lí luận, phê bình văn học tùy thuộc vào cách tiếp cận mà có nhiều cách phân loại khác nhau:
Dựa vào đề tài thì có tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tâm lí
Dựa vào trào lưu khuynh hướng thì có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực (còn gọi là tiểu thuyết xã hội), tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết mới (còn gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại)
Trang 25Dựa vào thi pháp thể loại thì có tiểu thuyết tâm lí, tiểu thuyết phiêu lưu Tuy nhiên, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Bởi bản thân tiểu thuyết đã chứa trong nó các thể loại nghệ thuật khác, các địa hạt tri thức khác nhau của cuộc sống Do đó, tiểu thuyết cỡ lớn có thể được xem
là một "Bách khoa thư' của một dân tộc
1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết
Ngôn ngữ tiểu thuyết, trước hết, là ngôn ngữ nghệ thuật nên nó mang những đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật như: tính hình tượng, tính cấu trúc, tính biểu cảm, tính cá thể và tính cụ thể hóa Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó, ngôn ngữ tiểu thuyết có nhiều điểm khác biệt so với ngôn ngữ ở các thể loại khác
M.Bakhtin chỉ ra những điểm đặc thù của ngôn ngữ tiểu thuyết trong sự đối sánh với ngôn ngữ thơ ca Khác với ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ song thanh (hoặc đa thanh) Do đặc điểm thể loại quy định, ngôn ngữ văn học được tái tạo trong tiểu thuyết không phải như một ngôn ngữ thống nhất, đã hoàn chỉnh toàn bộ và không còn phải bàn cãi, mà được tái tạo trong trạng thái có nhiều tiếng nói khác nhau sống động, trong sự biến chuyển
và đổi mới của nó Ngôn ngữ tiểu thuyết là cả một hệ thống những ngôn ngữ soi chiếu lẫn nhau, đối thoại với nhau, không thể mô tả và phân tích nó một cách thống nhất Những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác nhau là thuộc
về những hệ thống khác nhau trong ngôn ngữ tiểu thuyết Giả thử nếu xóa đi tất cả những dấu nháy nháy ngữ điệu, tất cả mọi sự phân chia bè giọng và phong cách, mọi khoảng cách khác nhau giữa những "ngôn ngữ" được miêu
tả với tiếng nói trực tiếp của tác giả thì ta sẽ chỉ có được một tập hợp xộc lệch
và vô nghĩa những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác biệt nhau về chất Ngôn ngữ tiểu thuyết không thể nào xếp đặt trên một bình diện, kéo nối thành một tuyến Đó là một hệ thống những bình diện tương giao
Trang 26Ở các thể loại thi ca hiểu theo nghĩa hẹp, chất đối thoại tự nhiên của lời nói không được sử dụng với mục đích nghệ thuật, lời nói có tính độc lập tự thân và không giả định là ở ngoài nó còn có những ý kiến khác Phong cách thơ ca thoát ly một cách ước lệ khỏi mọi sự tương tác với lời người khác, mọi
sự "đoái nhìn" tới lời người khác Thế giới thơ ca, dù có được nhà thơ phô diễn trong đó bao nhiêu mâu thuẫn và xung đột bế tắc chăng nữa, bao giờ cũng được soi sáng bằng một ngôn ngữ thống nhất và không phải bàn cãi Do gạn lọc mọi thành tố ngôn ngữ khỏi những ý chỉ và giọng điệu của người khác, xóa bỏ mọi vết tích bất đồng trong tiếng nói và ngôn ngữ mà ở tác phẩm thơ ca tạo ra được một sự thống nhất ngôn ngữ đầy căng thẳng Ngược lại, nhà văn xuôi không tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chỉ và giọng điệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những khuôn mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng (những nhân vật kể chuyện tiềm năng) lấp ló đằng sau các từ ngữ và hình thức ngôn ngữ, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ và hình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau so với các hạt nhân hàm nghĩa cuối cùng của tác phẩm mình, cái trung tâm ý chỉ của chính mình Sự định hướng ngôn từ giữa những lời phát ngôn của người khác và những ngôn ngữ khác, tất cả những hiện tượng và khả năng đặc thù gắn với định hướng ấy có tác dụng nghệ thuật hệ trọng đối với văn phong tiểu thuyết Những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau được đưa vào tiểu thuyết và ở đó chúng được tổ chức thành một hệ thống nghệ thuật hoàn chỉnh Đó là một đặc điểm đặc trưng của thể loại tiểu thuyết
So sánh với sử thi, M.Bakhtin chỉ ra đặc trưng của sử thi là lời tiên tri, lời sấm truyền, đặc trưng cho tiểu thuyết là lời tiên đoán, lời dự báo Lời sấm truyền sử thi được thực hiện hoàn toàn trong khuôn khổ quá khứ tuyệt đối (nếu không ở ngay tác phẩm sử thi cụ thể này thì cũng trong phạm vi nền truyền thuyết bao trùm nó); lời sấm truyền ấy không liên quan đến độc giả và
Trang 27thời đại thực tế của anh ta Quá khứ sử thi khép kín từ bên trong, nó được cách ly bằng bức tường không thể thẩm lậu khỏi mọi thời đại về sau Thế giới
sử thi là hoàn tất đến tận cùng không chỉ như một sự kiện có thật trong quá khứ đã lùi xa, mà còn là hoàn tất cả về ý nghĩa và giá trị của nó Chính cái đó làm nên khoảng cách sử thi tuyệt đối Do vậy, ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ thành kính, cái nhìn sử thi là sự tưởng niệm cung kính, tôn thờ Trong khi đó, tiểu thuyết tiếp xúc với môi trường hiện thực chưa hoàn thành-cái hiện thực
"hạ đẳng" so với quá khứ sử thi Thậm chí, cái ''quá khứ tuyệt đối" của các vị thần linh, á thần và anh hùng cũng sẵn sàng bị "tân thời hóa", bị hạ thấp xuống, bị mô tả ở cấp độ thời này, trong bối cảnh sinh hoạt hiện nay Có thể nói, sự khác biệt giữa ngôn ngữ sử thi và ngôn ngữ tiểu thuyết cũng giống như lời về người chết và lời về người đang sống, mà "lời về người chết rất khác nhau về mặt phong cách với lời về người đương sống" [2; 52]
Tiểu thuyết và truyện ngắn, cả trong lý thuyết và trên thực tế, có nhiều điểm rất giống nhau Truyện ngắn cũng chứa đựng tất cả các nguồn lực y như tiểu thuyết: ngôn ngữ, nội dung, đề tài, nhân vật và phong cách Tiểu thuyết gia có thể sử dụng phương tiện nghệ thuật nào thì người viết truyện ngắn cũng
có thể sử dụng các phương tiện đó Tuy nhiên, với truyện ngắn, vấn đề số một đặt ra cho thể loại này là vấn đề dung lượng, truyện ngắn cần phải cô đọng đến mức cao nhất Chính việc truyện ngắn phải "ngắn" khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết Tiểu thuyết hay truyện dài thì cứ triền miên theo thời gian, đôi khi có quăng hồi ức trở ngược lại Truyện ngắn thì gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắc cần giải đáp Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởi tung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn Do đó, ngôn ngữ truyện ngắn được tổ chức rất chặt chẽ, chính xác, tuyệt đối không có cái gì dư thừa Tiểu thuyết, dù có cô đọng đến đâu, phải hàm chứa khả năng phân nhánh và kéo
Trang 28dài, nếu không nói là đến vô cùng tận Vì vậy, khi đọc tiểu thuyết ta có thể bỏ qua một vài câu không đâu, thậm chí vài trang, nhưng ở truyện ngắn, người ta không được phép Đây chính là điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa ngôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ truyện ngắn
Trong bản thân tiểu thuyết, người ta lại chia ra ngôn ngữ đơn thanh và ngôn ngữ song thanh Ngôn ngữ đơn thanh gồm ngôn ngữ trực tiếp, hướng thẳng vào đối tượng, miêu tả đối tượng và ngôn ngữ của các nhân vật, ngôn ngữ đối tượng tính Ngôn ngữ song thanh nhấn mạnh vào ngôn ngữ của người khác, hướng về một tiếng nói khác, chẳng hạn tiếng nói tác giả hướng về tiếng nói nhân vật, hoặc là tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng của tác giả, hoặc là tiếng nói nhân vật này xen lẫn giọng của nhân vật khác Có loại song thanh cùng hướng (khi có sự đồng cảm và gần gũi giữa các tiếng nói) và song thanh khác phương hướng sẽ đẻ ra loại ngôn thoại mỉa mai, biếm phỏng, đối thoại ngầm, tranh luận ngầm bên trong
Như vậy, tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết mang những đặc điểm đặc thù so với các thể loại khác Đây là những tiền đề để nhận diện và phân tích những thành tựu cũng như những biến chuyển của thể loại này trong suốt lịch
sử phát triển của nó
1.3 Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng bậc nhất, không chỉ đối với người sáng tạo, mà còn đối với người tiếp nhận văn học Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học chịu sự chi phối của phong cách nhà văn và mang đặc trưng của thể loại văn học Với nhận thức như vậy, ở chương này, chúng tôi đã trình bày trên những nét lớn về thể loại tiểu thuyết, đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết cùng những nét khái quát về con người và sự nghiệp văn chương của tác giả Mạc
Can cùng tiểu thuyết Tấm ván phóng dao Đây là cơ sở quan trọng, tiền đề cho việc đi vào tìm hiểu ngôn ngữ tiểu thuyết trong tác phẩm Tấm ván phóng dao mà chúng tôi sẽ thực hiện trong các chương sau
Trang 29Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng nói riêng và của ngôn ngữ nói chung
Từ cũng là cơ sở để cấu tạo các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất Bên cạnh chức năng định danh, từ còn có chức năng "phân biệt nghĩa", thể hiện nghĩa này hay nghĩa khác của từ nhiều nghĩa, chức năng biểu cảm, thẩm mĩ,…Ngoài ra, từ cũng có thể đảm nhiệm chức năng tiềm ẩn - chức năng thông báo của câu Thuộc tính nhiều chức năng của từ cho phép nó trở thành một loại đơn vị có tính chất phổ biến nhất, cho phép nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ
Cũng là đơn vị có hai mặt như hình vị, cụm từ và câu, nhưng từ lại tồn tại trong hai biến dạng: với tính cách như một kí hiệu đa nghĩa tiềm tàng khi nằm trong hệ thống từ vựng và với tính cách một kí hiệu thực tại khi dùng trong lời nói Trong hệ thống từ vựng, từ có thể có nhiều nghĩa nhưng trong ngữ đoạn, tính nhiều nghĩa của từ bị loại bỏ, và chỉ có một nghĩa nào đó của
từ được thực tại hóa Đồng thời, trong ngữ đoạn nhiều khi từ còn có thêm những sắc thái ý nghĩa mới khác với các ý nghĩa của hệ thống
Từ có cấu trúc ý nghĩa rất phức tạp, bao gồm nhân tố từ vựng, nhân tố ngữ pháp và nhân tố dụng học Mỗi từ riêng biệt, ngoài ý nghĩa từ vựng vốn
có, bao giờ cũng có một nghĩa tố ngữ pháp chỉ ra từ loại của nó Tùy theo cái được biểu đạt là sự vật, hành động hay tính chất mà từ đó có các nghĩa tố chỉ
ra nó thuộc danh từ, động từ hay tính từ
Trang 30Mặc dù hiện nay hầu hết các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị
cơ bản của ngôn ngữ, nhưng để nhận diện và định nghĩa từ thì rất khó Khó khăn lớn nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ cũng khó Có từ mang chức năng định danh; có từ không mang chức năng định danh; có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó; có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế; có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ; có từ có kết cấu nội bộ; hoặc có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau và cũng có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức Hiện tượng đồng âm và đa nghĩa cũng gây không ít khó khăn trong việc tách biệt và đồng nhất các từ Vì vậy, cho đến nay vẫn chưa
có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ
Khi định nghĩa từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã có sự thống nhất chung về từ ở một số đặc điểm chính: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam vẫn chưa đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát nhất Ở đây, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho việc xác định và nghiên cứu đơn vị từ trong tác phẩm của Mạc Can: "Từ tiếng Việt là những phân đoạn ngữ âm cố định, bất biến, phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ một- một số lượng hình vị và phương thức cấu tạo; toàn bộ ứng với một hoặc một số từ-ngữ nghĩa gồm một khuôn từ loại và những nét nghĩa riêng cho mỗi từ và ứng với một tập hợp với những đặc điểm ngữ pháp chủ yếu là ngoài từ phù hợp với mỗi từ-ngữ nghĩa Đó là những đơn vị trong hệ thống từ vựng tiếng Việt-tức là lớn nhất trong hệ thống từ vựng tiếng Việt-và nhỏ nhất để cấu tạo câu, chứa đựng trong bản thân những cấu trúc từ-ngữ nghĩa, từ-cấu tạo và từ-ngữ pháp, chung cho nhiều
từ khác cùng loại" [12; 336]
Trang 312.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật
Từ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh có những đặc điểm khác với từ trong hành chức Trong hoạt động ngôn ngữ, các từ mới thực sự bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ
và hiện thực hoá các bình diện của nó Thậm chí, trong sử dụng, từ có thể biến đổi và chuyển hoá những thuộc tính vốn có để cho phù hợp với các nhân
tố cụ thể của từng hoạt động giao tiếp, để nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Khi từ đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó được hiện thực hoá, cụ thể hoá và được xác định Khi đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tượng và khái quát đến mức tổi thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa
Chẳng hạn, từ “chạy” khi được xây dựng trong từ điển [44; 313], với tư
cách là đơn vị ngôn ngữ, xét về từ loại, có khi nó được xem là động từ và
cũng có khi nó được xem như tính từ Với từ loại động từ, từ “chạy” có 10 nghĩa khác nhau, cụ thể như “Ngựa chạy đường dài”, “Thua chạy dài”,
“chạy thư”,“chạy làng”… Và với từ loại tính từ từ “chạy” còn có nghĩa
“thuận lợi, suôn sẻ, không bị mắc mớ, ùn tắc”; cụ thể như “công việc rất chạy”; “bán hàng chạy”… Như vậy, khi đi vào mỗi phát ngôn thì một trong các nghĩa của từ "chạy" mới được bộc lộ, cụ thể hóa và xác định
Mặt khác, cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới
do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại
Ví dụ: Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Trong câu ca dao trên thì “thuyền” không đơn thuần là “phương tiện giao thông đường thủy” mà chỉ người con trai, "bến" không đơn thuần là “đầu
Trang 32mối giao thông” mà chỉ người con gái Dân gian đã mượn quan hệ gắn bó giữa thuyền và bến để nói lên sự nhớ nhung, chờ đợi, chung thủy trong tình
yêu nam nữ Như vậy, từ "thuyền" và "bến" ở đây không còn nguyên nghĩa
như trong từ điển nữa mà đã được phương thức tu từ ẩn dụ tác động vào nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật cao trong diễn đạt
Các từ được kết hợp với nhau theo quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa, bộc
lộ khả năng kết hợp từ vựng và kết hợp ngữ pháp của mình, nhưng hai loại quy tắc này không phải lúc nào cũng sóng đôi với nhau Có những câu hoàn toàn đúng về mặt ngữ pháp, nhưng lại không được chấp nhận về mặt ngữ nghĩa hoặc logic (trong điều kiện thông thường) Ngược lại, có những câu lại chứa những kết hợp từ được chấp nhận, được hiểu về mặt ngữ nghĩa, nhưng lại có cái gì đó bất thường về ngữ pháp
Đặc biệt, từ trong sáng tạo nghệ thuật được sử dụng ra sao và mang lại hiệu quả như thế nào còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: đề tài, chủ đề của tác phẩm, năng lực ngôn ngữ, vốn sống, phong cách viết của tác giả Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ trong tác phẩm sẽ giúp ta có tiếp cận gần hơn với ngôn ngữ trong hoạt động, mà đây là một dạng hoạt động đặc thù của ngôn từ Vì vậy các nhà nghiên cứu từ lâu đã tốn không ít giấy mực để khám phá từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật Và tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và đặc thù của mỗi bộ môn khoa học mà từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được tiếp cận tìm hiểu ở những góc độ khác nhau
Nhà từ vựng học thì thống kê vốn từ của nhà văn, nhà thơ, khảo sát những lớp từ nổi bật và đặt chúng trong tương quan với vốn từ toàn dân để rút
ra hiệu quả nghệ thuật mà lớp từ đó mang lại cho tác phẩm cũng như thấy được dấu ấn riêng của người sáng tác trong cách sử dụng lớp từ đó Nhà ngữ pháp học thì quan tâm đến đặc điểm cấu tạo của từ ngữ và cách kết hợp giữa chúng Nhà thi pháp học thì thống kê tần số sử dụng của một số lớp từ nổi bật,
Trang 33qua đó, rút ra quan niệm nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ Người làm phong cách thì xem xét từ ngữ trong tác phẩm dưới góc độ phong cách chức năng và
sự lựa chọn từ ngữ của người nghệ sĩ Phân tích từ ngữ trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can trên nhiều phương diện, chúng tôi chú ý đến các
lớp từ ngữ nổi bật trong tác phẩm: lớp từ láy (xét từ góc độ cấu tạo), lớp từ địa phương (xét về phạm vi sử dụng), lớp từ Hán Việt (xét từ góc độ nguồn gốc), lớp từ tình thái
2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” của Mạc Can, xét từ các góc độ khác nhau
2.2.1 Từ trong “Tấm ván phóng dao”, xét từ góc độ cấu tạo
2.2.1.1 Một số nét sơ lược về từ láy
a Về khái niệm từ láy
Về khái niệm từ láy thì hiện vẫn còn rất nhiều cách định nghĩa khác nhau của các nhà ngôn ngữ học
Theo Hoàng Tuệ: “Từ láy là những từ đa tiết mà giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết có sự hoà phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” [56; 21-24]
Định nghĩa về từ láy của Hoàng Tuệ nhấn mạnh đến tính hòa phố ngữ
âm trong cơ chế tạo nghĩa của loại từ này và giá trị biểu trưng về nghĩa của chúng Sau này, Hoàng Văn Hành là người cũng thể hiện rõ sự tán đồng về quan điểm với Hoàng Tuệ khi xem láy là cơ chế hòa phối ngữ âm [21] Các tác giả khác như Diệp Quang Ban [4; 33], Nguyễn Thái Hòa [24; 246], Đinh Trọng Lạc [29; 33],… tuy mỗi tác giả có cách nhấn mạnh khác nhau về điểm này hay mặt kia đặc điểm của từ láy nhưng cơ bản đều thống nhất cho láy là
từ được tạo ra do quy tắc lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của âm tiết gốc, nghĩa biểu cảm, gợi tả Do cách định nghĩa của Đỗ Hữu Châu rõ ràng, dễ hiểu, nêu các đặc điểm của từ láy một cách cụ thể chi tiết nên trong
Trang 34luận văn này, chúng tôi dựa theo quan niệm của ông để khảo sát: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn
bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [11; 41]
b Về đặc điểm của từ láy
Từ láy là lớp từ được sử dụng rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong sáng tạo văn học Do từ láy có tính biểu trưng cao nên
nó thường được dùng với mục đích tạo tính sinh động, cụ thể cho những đối tượng được đề cập trong phát ngôn nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc, người nghe Cho đến nay, từ láy luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học
Xét về cơ chế cấu tạo, có quan niệm cho láy là phụ tố, có tác giả xem
láy là ghép, phần đông tác giả xem láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đi theo quan niệm coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa của giáo sư Hoàng Văn Hành làm cơ sở
Theo ông, từ láy là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa [21, 30] Cho
đến nay, quan điểm này cũng nhận được sự đồng thuận cao của nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước khi nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt
Về mặt cấu tạo, từ láy có thể phân loại theo nhiều bước và mỗi bước
dựa vào một tiêu chí được coi là thỏa đáng
Thứ nhất: phân loại từ láy dựa vào số bậc trong quá trình cấu tạo từ láy
ta có: từ láy bậc 1 và từ láy bậc 2
Trang 35Thứ hai: dựa vào mức độ điệp giữa các tiếng mà chia từ láy thành hai loại: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
Thứ ba: dựa vào tính chất điệp hay đối của khuôn vần mà chia từ láy làm bốn loại: từ láy hoàn toàn đối vần, từ láy hoàn toàn điệp vần, từ láy bộ phận đối vần, từ láy bộ phận điệp vần
Tiếp theo, có thể dựa vào thanh điệu hoặc các yếu tố trong khuôn vần
để chia từ láy thành các tiểu loại nhỏ hơn
Về mặt ngữ nghĩa, dựa vào hình thái biểu hiện của sự biểu trưng hóa,
có thể chia từ láy làm ba loại: từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn, từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu, từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa
Do sự hài hòa về ngữ âm và nghĩa nên từ láy có giá trị tu từ rất cao khi được sử dụng, nó có tác dụng diễn đạt được một cách cụ thể tối đa những gì
mà người sử dụng muốn đạt được tùy theo những màu sắc biểu hiện khác nhau Nói cách khác nó giúp đạt được mục đích một cách dễ dàng và mang lại hiệu quả tốt nhất Chính vì lý do đó mà từ láy được sử dụng rất phổ biến trong những phong cách đòi hỏi sự cụ thể hoá hình tượng ở mức độ cao, mà điển hình là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Mỗi từ láy đều có những ý nghĩa cụ thể, riêng biệt tạo điều kiện dễ dàng cho người sử dụng trong việc lựa chọn từ thích hợp để sử dụng theo ngữ cảnh
Từ láy là một lớp từ có số lượng vô cùng phong phú và không ngừng được sản sinh trong những điều kiện khác nhau Dựa vào phương thức láy, chỉ cần một từ tố cơ sở là đủ để sản sinh ra rất nhiều từ láy khác nhau, mỗi từ đều mang một sắc thái ý nghĩa riêng
Có thể nói, nếu văn học là tấm gương phản ánh đời sống thì từ láy là những chiếc kính lúp không thể thiếu để soi chiếu rõ nét hình dung đó Tuy vậy, để lựa chọn và sử dụng lớp từ này phù hợp với đề tài, nội dung của tác
Trang 36phẩm cũng như phong cách ngôn ngữ từng thế loại đòi hỏi sự lựa chọn nhạy bén, tinh tế và năng lực ngôn ngữ của tác giả
2.2.1.2 Từ láy trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” của Mạc Can Qua nghiên cứu, khảo sát tác phẩm Tấm ván phóng dao với tổng số 204
trang tiểu thuyết, chúng tôi thống kê được 879 lần xuất hiện từ láy Trong đó,
từ láy bậc 2 xuất hiện không đáng kể (4 đơn vị), chủ yếu là từ láy bậc 1 (845 đơn vị)
Căn cứ vào quy tắc tạo từ (điệp và đối), chúng tôi chia từ láy bậc 1 thành các tiểu loại, từ đó, chúng tôi chỉ ra đặc điểm sử dụng và hiệu quả nghệ thuật của chúng trong tác phẩm của Mạc Can Kết quả thống kê và phân loại các tiểu loại từ này được thể hiện cụ thể qua bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Từ láy trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can,
phân loại về cấu tạo
Loại láy Láy hoàn toàn Láy bộ phận
Điệp vần Đối vần Điệp vần Đối vần
Tỉ lệ 16,6% 2,95 % 17,09 % 63,36%
a Từ láy hoàn toàn điệp vần
Từ láy hoàn toàn điệp vần trong tác phẩm chủ yếu thuộc từ loại tính từ chúng được sử dụng nhằm miêu tả tính chất và trạng thái của sự vật, hiện tượng Chúng tôi thống kê được có 146 lần loại từ này xuất hiện trong tác phẩm, chiếm 16,6% trong loại từ láy hoàn toàn
Trước hết, ta nhận thấy tác giả sử dụng những từ láy hoàn toàn điệp vần
để diễn tả những hoạt động mạnh hoặc những hoạt động diễn ra liên tiếp trong thời gian dài, có tính quá trình
Trang 37Ví dụ: “Người cõi trên”lâm bịnh, nằm thừ lừ trên tấm ván phóng dao,
nó không nói được, không ai chịu hiểu nó, nó chạy tới cụng cái đầu trọc vô vách, rồi cứ đi vòng vòng [59; 58]
Vòng vòng là theo những đường vòng dài và tiếp nối mãi, gây ấn tượng như không có kết thúc Chính từ láy hoàn toàn vòng vòng đã thể hiện được tâm trạng, cảm xúc của nhân vật
Tương tự như thế, ta xét trường hợp khác: “Ông Trần nôn nao cho đóng kín các cửa vào rạp, từ trong cái lỗ vuông vức cuối rạp nghe tiếng máy
rè rè ” [59; 97]
Máy rè rè cho ta cảm giác được âm thanh phát ra không trong, không
rõ, liên tiếp, không ngừng ngắt Và cũng như vậy, ta không thể nói: “Ông
Trần nôn nao cho đóng kín các cửa vào rạp, từ trong cái lỗ vuông vức cuối
rạp nghe tiếng máy “rè”, vì nếu nói máy rè ta sẽ có cảm giác mất đi sự liên
tiếp, kéo dài của âm thanh
Với những từ láy hoàn toàn điệp vần này, toàn bộ tiếng gốc được lặp lại gần như nguyên vẹn, chỉ có sự khác biệt ở trọng âm Ta có thể bắt gặp không
ít loại từ láy này trong tiểu thuyết “Tấm ván phóng dao” : rẹt rẹt, khào khào, bừng bừng, cắc cắc, cẳng cẳng, tua tủa, viết viết, vẽ vẽ,…
Mặt khác, với những từ láy miêu tả tính chất của sự vật mà cả hai thành
tố cấu tạo đều không xác định được yếu tố gốc và nghĩa của tiếng gốc thì chúng thường được dùng để nhấn mạnh và làm tăng sắc thái, thuộc tính của
mới miêu tả được hành động liên tiếp của nhân vật, tuy mới chỉ là một đứa trẻ
nhưng đã bị ảnh hưởng rất nhiều từ cuộc sống mưu sinh vất vả
Trang 38Một con rồng cuồn cuộn hút nước từ dưới sông lên trời, rồi là gió, lúc đầu mát rượi ” [59;113] Hay “ nó nâng tôi lên một cách không cưỡng lại được, gió lúc đó cuồn cuộn đùa với đất và cát, tạo hình một con người” [59; 193]
Từ láy “cuồn cuộn” có tác dụng làm nổi bật sự chuyển động dồn dập,
mạnh mẽ, dữ dội của gió, của những hút nước dưới lòng sông
Không những thế, những từ láy hoàn toàn điệp vần còn được tác giả sử dụng để nhấn mạnh trạng thái, tính chất của sự vật hiện tượng hoặc để thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật
Chẳng hạn theo thống kê của chúng tôi có đến 10 lần từ láy luôn luôn xuất hiện nhằm nhấn mạnh trạng thái, tính chất của sự việc Luôn luôn nghĩa
là một cách thường xuyên, từ trước đến nay lúc nào cũng thế
Anh luôn luôn có bạn, họ ngồi rất lâu, có khi cả ngày trong quán nước hay quán cà phê [59; 25]
Một cái tôi quá đáng luôn luôn có những suy nghĩ ngông cuồng, tôi còn một tôi bên cạnh biết phải quấy hơn, tôi
Tôi không ăn cơm không uống nước để tự trừng phạt mình, tôi là một
kẻ hồ đồ, luôn luôn là như vậy [59; 154]
Cũng như thế từ láy run run xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm thể hiện
rất thành công trạng thái tâm lí cũng như cảm xúc, tâm trạng của nhân vật:
Ông Ba nhìn tấm hình trên tay bà Tư, bàn tay nhỏ nhắn đầy gân xanh của bà run run, bà thở dài khó nhọc [59; 92]
Từ láy run run đã thể hiện rất thành công trạng thái bồi hồi, xúc động
và sự đau đớn, xót xa của bà Ba khi nhớ về những kỉ niệm của gia đình với những mất mát, thương đau
Trái lại, với những từ láy hoàn toàn điệp vần mà sau phương thức láy tác động vào tiếng gốc kết quả tạo ra từ láy có cấu tạo: yếu tố láy đứng trước, yếu tố gốc đứng sau thì chúng thường có tác dụng làm nhòe và làm giảm tính chất của hiện tượng được miêu tả, chẳng hạn:
Trang 39“Bên kia cầu có rạp hát nho nhỏ lúc nầy nhộn nhịp tiếng trống, người người xúm lại coi chú hề con đánh trống quảng cáo bên ánh đèn “măng sông” [59; 94]
“Cô gái gần như không có xương sống mới là lạ” [59,118]
“Nhỏ”, “lạ” đều là từ đơn, có nghĩa Sau khi phương thức láy tác động vào hai tiếng gốc này, kết quả tạo ra từ láy nho nhỏ và là lạ thì nghĩa
của hai từ láy này đều giảm so với nghĩa của tiếng gốc ban đầu
Trong tác phẩm, ta bắt gặp rất nhiều những từ láy hoàn toàn được sử
dụng với mục đích trên: chầm chậm, lẳng lặng, vời vợi, tre trẻ, thăm thẳm, khe khẽ, xíu xiu, tim tím, nheo nheo, loang loáng, kha khá, mờ mờ, thoai thoải, trăng trắng, dong dỏng, thui thủi, mang máng, rười rượi, văng vẳng, cao cao,, Tính chất nhòe và giảm nghĩa của những từ láy này có được là do
chúng được kết thúc bởi khuôn vần mở, nửa mở (/w/, /j/) hoặc nửa khép (/m/, /n/, /ŋ/) nên tạo được độ vang ngân kéo dài
b Từ láy hoàn toàn đối vần
Đây là lớp từ được sử dụng ít nhất trong đối sánh với các tiểu loại từ láy khác Chúng tôi thống kê được có 28 lần loại từ này xuất hiện trong tác phẩm, chiếm 2,95 % trong loại từ láy hoàn toàn Những từ láy thuộc tiểu loại này trong tác phẩm hầu hết đều có cấu tạo giống nhau như sau: sau khi phương thức láy tác động vào tiếng gốc thì chúng diễn ra sự biến đổi kết hợp
dị hóa phụ âm cuối và thanh điệu Phụ âm cuối của từ tố cơ sở là /p/, /t/, /k/ thì sẽ hợp với /m/, /n/, /ng/ Đây là sự biến đổi theo quy luật nhất định và hệ quả của sự biến đổi này kéo theo sự chuyển đổi về thanh theo quy tắc đối bằng - trắc cùng âm vực Tác dụng của việc biến thanh như vậy sẽ dễ đọc, dễ nghe hơn, tức là tăng cường sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hoá Cũng vì thế mà chúng được tác giả lựa chọn để miêu tả những âm thanh, hoạt động, trạng thái diễn ra nhanh, dứt khoát mà ta có thể phân biệt rõ ràng từng lượt hoạt động hoặc từng lượt âm thanh phát ra:
Trang 40/k/ /ŋ/: bàng bạc, phăng phắc, dằng dặc
/p/ /m/:nơm nớp, ấm áp
/t/ /n/: phần phật, bần bật, khen khét, hun hút, biền biệt, ngòn ngọt
Chẳng hạn:
Miếng vải trắng chiếu phim cũng buồn hiu, gió từ trên nóc rạp hất tung
nó lên, bay phần phật như cờ tang, ngoài kia như chốn không người, chợ huyện trắng xóa nước là nước” [59;114]
“Phần phật” là âm thanh mô phỏng âm thanh của mảnh vải bay qua lại trước làn gió mạnh, với từ láy “phần phật” cũng giúp ta có thể phân biệt từng
lượt tiếng
Sợi dây gân trên cần câu của anh run bần bật, một ngón tay anh khẽ chạm vào sợi dây, hình như anh thấy con cá đang vờn quanh mồi [59; 148]
“Bần bật” là run, rung mạnh; giật nẩy lên liên tiếp và nó cũng giúp ta
phân biệt rõ ràng từng lượt của trạng thái hoạt động
“Chúng tôi tới một chợ quê, bến sông tấp nập kẻ mua người bán” [59; 11]
“Tấp nập” gợi nét nghĩa có nhiều người, hoạt động không ngớt Ở đây, nếu tác giả viết: “Chúng tôi tới một chợ quê, bến sông nhiều kẻ mua người bán” thì chỉ mới làm cho nổi bật nét nghĩa là đông người ở chợ và bến sông
chứ chưa thể hiện rõ được hoạt động nhộn nhịp, thường xuyên ở nơi đây Và