Chọn đề tài này, chúng tôi không chỉ nhằm tập d-ợt nghiên cứu khoa học, thấy đ-ợc những đặc điểm từ ngữ những nét phong cách ngôn ngữ của Huy Cận tr-ớc cách mạng, mà còn h-ớng những kết
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, tác giả Huy Cận chiếm một vị trí quan trọng Ông để lại cho nền thơ ca n-ớc nhà một gia tài thơ khá đồ sộ với hơn 15 tập thơ Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Huy Cận không ngừng phấn đấu sáng tạo để có những bài đạt đến đỉnh cao của thành tựu thơ Việt Nam, trở thành tri âm tri kỷ của nhiều bạn đọc Đây cũng là lý do chính khiến thơ Huy Cận trở thành một mảng đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học
và những ng-ời yêu cái đẹp của thơ ca trong và ngoài n-ớc Tuy nhiên, vấn đề từ ngữ trong thơ Huy Cận lại ch-a đ-ợc quan tâm một cách thoả đáng
Bên cạnh đó, ta thấy Huy Cận là một nhà thơ có nhiều thi phẩm đ-ợc đ-a vào giảng dạy trong nhà tr-ờng từ bậc trung học đến bậc đại học Mặc dù sáng tác của Huy Cận ở giai đoạn tr-ỡc 1945 chì cõ 2 tập thơ “ Lụa thiêng “ v¯ “ Vð trũ
ca “ nhưng “Lụa thiêng” đ-ợc xem là một trong số rất ít tác phẩm hay nhất của phong trào thơ mới và đ-ợc các nhà nghiên cứu văn học rất quan tâm “Lụa thiêng” l¯ t²c phẩm thề hiến rỏ nẽt phong c²ch ngôn ngừ thơ Huy Cận trưỡc cách mạng Chọn đề tài này, chúng tôi không chỉ nhằm tập d-ợt nghiên cứu khoa học, thấy đ-ợc những đặc điểm từ ngữ những nét phong cách ngôn ngữ của Huy Cận tr-ớc cách mạng, mà còn h-ớng những kết quả tìm tòi của mình vào mục đích học tập, nâng cao hiểu biết về một tác giả quan trọng, phục vụ cho công việc dạy học ngữ văn sau này
Do đó chúng tôi quyễt định chón đẹ t¯i: “ Từ ngữ trong tập Lửa Thiêng của Huy Cận”
2 Lịch sử vấn đề
Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ gồm hơn 15 tập thơ có giá trị, Huy Cận đã khẳng định đ-ợc vị trí của mình trong nền thơ ca dân tộc Tới nay đã có hơn 80 bài viết nghiên cứu về thơ Huy Cận từ nhiều góc độ khác nhau, tất cả đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả hai chặng đ-ờng thơ, tr-ớc và sau cách mạng Nhiều ý kiến đã lý giải đ-ợc quá trình vận động cảm hứng sáng tạo
Trang 2của Huy Cận qua các tập thơ, phác thảo những đặc điểm cơ bản phong cách của thơ Huy Cận Nhiều nhà nghiên cứu phê bình có tên tuổi nh- Vũ Ngọc Phan, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, đều có những bài tiểu luận sâu sắc về Huy Cận Tuy nhiên, ch-a có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu từ ngữ nh- một đối t-ợng độc lập
Trong công trệnh nghiên cửu “ Huy Cận v¯ Lụa thiêng” , tác giả Trinh Đ-ờng
cho r´ng: “các chữ vơi trong nhớ vơi ngày, một trong son đậm bên thành một sắc
x-a, chiều tê cúi đầu, đôi tay không tín mộ, dơi động hoàng hôn là cả một sự sáng tạo, l¯m gi¯u cho tiễng Viết “ Lụa thiêng” sinh cùng thội vỡi “ Xuân thu nh± tập”, nh-ng ng-ợc lại với nghệ thuật có khi hð nủt cùa “ Xuân Thu Nh± Tập”, văn phong Huy Cận trong sáng, giản dị mà lại rất hàm xúc, tài tình trong
cả sử dụng những h- từ nh- mà trong câu Địa phủ hàn phong lọt cả mà”
Trong “ Thi pháp thơ Huy Cận” [23], khi tìm hiểu về ph-ơng thức thể hiện
thơ Huy Cận, tác giả Trần Khánh Thành cðng đ± nhận xẽt “ Trong Lụa thiêng, Huy Cận sử dụng những từ ngữ màu sắc và h-ơng vị để tạo dựng một thế giới thơm tho và t-ơi thắm: h-ơng, h-ơng hoa, h-ơng rừng, Từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Huy Cận biểu hiện gam màu nhẹ và đ-ợc trừu t-ợng hoá: không gian hồng, sắc đời thắm, lục nhạt Huy Cận dùng từ láy với ý nghĩa giảm nhẹ cử động
và tiếng động: rơi rơi, dìu dịu, lạt lạt, phất phơ, hiu hiu, hiu hắt, mênh mang, man mác, Huy Cận không dùng động từ mạnh nh- Xuân Diệu Tất cả những
động từ chỉ hoạt động của con ng-ời đều có sắc thái nhẹ nhàng, chừng mực, h-ớng về hoạt động nội tâm”
Đỗ Lai Thuý trong bài viết “ Huy Cận, sữ khãc kho°i không gian” [24] đã cho r´ng: “ Ngôn ngừ Lụa thiêng thích dùng từ Hán Việt để có màu sắc trang trọng phù hợp với không khí thi phẩm:
Nắng hoe rải nhặt hoa trên đất
Đời dịu vừa nh- nguyệt tr-ớc rằm
( Học sinh )
Trang 3Chuyển đổi từ loại (danh từ thành động từ) một cách uyển chuyển: Hai đứa thần
tiên suốt một ngày hoặc cách dùng từ độc đáo, rắn chắc:
Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt Chiều tê cúi đầu
(Chiều x-a) Nh- vậy, trong các công trình, các bài viết về thơ Huy Cận của mình, các nhà nghiên cứu phê bình đã có đề cập đến từ ngữ và cách dùng từ nh-ng mới chỉ chung chung và còn ở mức độ lẻ tẻ hoặc l-ớt qua Ch-a có một bài nghiên cứu nào nghiên cứu về từ ngữ trong thơ Huy Cận Vì vậy với khoá luận này, chúng tôi muốn đi tìm hiểu thấu đáo hơn về từ ngữ trong thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng, đặc biệt là tập thơ
“Lụa thiêng”
3 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu của khoá luận này là cách sử dụng từ ngữ trong tập thơ
“ Lụa thiêng” – tác phẩm tiêu biểu của Huy Cận tr-ớc cách mạng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo s²t tú ngừ trong tập thơ “ Lụa thiêng ” tú gõc đố cấu t³o, nguọn gỗc
Trang 4Trong quá trình tìm hiểu những đặc sắc về cách dùng từ ngữ trong tập thơ
“Lụa thiêng”, chúng tôi dùng ph-ơng pháp phân tích các dẫn chứng để làm sáng
tỏ luận điệu đã nêu, từ đó rút ra kết luận nhất định
- Ph-ơng pháp miêu tả so sánh:
Trong quá trình tìm hiểu từ ngữ trong tập thơ "Lửa thiêng" của Huy Cận, chúng tôi tiến hành miêu tả chung về cả 3 mặt cấu tạo, nguồn gốc và ngữ nghĩa Trong quá trình đó có so sánh với một số tác giả khác
5 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận sẽ triển khai thành 2 ch-ơng: Ch-ơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Trang 5Ch-ơng 1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm thơ
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, thơ là thể loại ra đời sớm hơn cả và liên tục phát triển cho đến ngày nay ở nhiều dân tộc trong một thời gian khá dài, các tác phẩm văn học đều đ-ợc viết bằng thơ Vì thế, trong lịch sử văn học nhiều dân tộc thế kỷ XVII trở về tr-ớc, nói đến thơ ca là nói đến văn học
Vậy thơ là gì ? Đã có rất nhiều ý kiến, nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa đã trả lời cho câu hỏi đó nh-ng hầu nh- các định nghĩa ch-a đi đến thống nhất và ch-a
có một tiếng nói chung Điều này khá dễ hiểu do đặc điểm tính phức tạp của thơ, và hình nh- mỗi nhà thơ mỗi nhà nghiên cứu, phê bình về thơ đều có một cách định nghĩa riêng
Công trình lý luận thơ ca sớm nhất của ph-ơng đông ra đời cách đây 1500
năm l¯ “Văn tâm điêu long” cùa Lưu Hiếp đ± chì ra phương diến cơ b°n cấu th¯nh
tác phẩm thơ là: hình văn, thanh văn và tình văn Ngôn ngữ trong thơ có hoạ (hình văn), có nhạc (thanh văn) và có cảm xúc (tình văn) Đến đời Đ-ờng, quan niệm về thơ của Bạch C- Dị đã cụ thể hoá hơn một b-ớc: “ Cái cảm hoá đ-ợc lòng ng-ời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi tr-ớc đ-ợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi đ-ợc âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa”[6, tr 24] Trong quan niệm của Bạch C-
Dị các bình diện của ngôn nhữ thơ đ-ợc đề cập và làm sáng tỏ Trong bài Tựa kinh thi, Chu Hy cũng cho rằng: “ Thơ l¯ c²i dư âm cùa lội nõi, trong khi lòng có cảm
xủc vỡi sữ vật m¯ thề hiến ra bên ngo¯i”
ở Việt Nam, lí luận thơ xưa đ± nhấn m³nh “ thi dĩ ngôn chí” như mốt đặc
điểm của thể loại này Phan Phu Tiên trong “ Việt âm thi tập tân san“ đã viết:
Trang 6“ Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời, cho nên thơ để nói nội dung vậy”
Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết tập thơ Bạch Vân Am đã nói lên rõ hơn nội dung của
chữ: “cõ kÍ chì ờ đ³o đửc, cõ kÍ chì đề ờ công danh, cõ kÍ chì đề ờ sữ ẩn dật” Nguyễn Trãi trong thời kỳ ông tham gia kháng chiến chống quân Minh lại nói đến chí của mình là ở sự nghiệp cứu n-ớc Có thể nói, nguyên tãc “thi ngôn chí” (thơ nói chí) là nguyên tắc mỹ học cổ đại mang chức năng giáo hoá Nh-ng ở mỗi hoàn cảnh lịch sử, mỗi giai đoạn mà chức năng thơ có thể thay đổi, thơ có thể mang chức năng phản ánh nhận thức, thơ phản ánh chí h-ớng, tình cảm con ng-ời, cuộc sống
Đầu thế kỷ XX, ở n-ớc ta đời sống xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc Từ đây xuất hiện một lớp ng-ời mới với cuộc sống mới, suy nghĩ mới và tình cảm mới Bắt
đầu từ Tản Đà rồi tiếp đến các nhà thơ mới (1932-1945) đã đem đến một luồng sinh khí mới với những đổi mới, cánh tân táo bạo làm thay đổi diện mạo và làm nên thành công rực rỡ của nền thơ ca n-ớc nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hoá thơ ca về nội dung Tất nhiên nhiều định nghĩa về thơ cũng sẽ xuất hiện
Thế Lữ cho rằng: “Thơ, riêng nõ ph°i cõ sửc gới c°m bất cử trưộng hớp n¯o” L-u Trọng L- thì cho: “Thơ sở dĩ là thơ, vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít mà ý nhiều
và nếu cần, phải tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân không xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh” Cực đoan hơn là ý kiến của Hàn Mạc Tử: “L¯m thơ tửc l¯ điên” Có thể thấy trong thời kỳ này, các định nghĩa về thơ phần nào đó có những yếu tố rất cơ bản ảnh h-ởng từ những quan niệm của tr-ờng phái thơ t-ợng tr-ng và siêu thực ở pháp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Họ th-ờng lý t-ởng hoá hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca và hiện thực cuộc sống, kiểu nh-: “Thơ là sự hiện thân những gì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tươi đép nhất, âm thanh huyẹn diếu nhất trong thiên nhiên” (La Martin)
Sau cách mạng tháng Tám nhất là sau 1954 chúng ta lại có điều kiện tiếp xúc với nhiều ý kiến và quan niệm về thơ Tr-ớc hết thơ là tiếng nói tâm hồn, là sợi dây tình cảm ràng buộc con ng-ời với con ng-ời, là hành trình ngắn nhất đi tới con tim Quan niệm này đ-ợc thể hiện rõ trong những định nghĩa sau: “Thơ là một tâm hồn
đi tìm những tâm hồn đồng điếu”, “Thơ l¯ tiễng nõi tri âm” (Tố Hữu) hoặc quan
Trang 7niệm thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con ng-ời “ Thơ biểu hiện cuộc sống một
c²ch cao đép” (Sóng Hồng), “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sỗng” (L-u Trọng L-)
Đến những năm cuối thế kỷ XX, giáo s- Phan Ngọc đã đ-a ra một định nghĩa
về thơ chú ý nhấn mạnh đến ngôn ngữ Trong bài viết: “Thơ l¯ gì“ tác giả đã nêu
lên: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ng-ời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này” [19] Chữ “qu²i đ°n” đ-ợc Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông th-ờng Đây là cách định nghĩa khá lạ, một cách định nghĩa theo h-ớng cấu trúc ngôn ngữ ý kiến này đã đối lập hẳn ngôn nghĩa thơ với ngôn ngữ cuộc sống hàng ngày và với cả văn xuôi
Định nghĩa này giúp ta nhận diên đ-ợc, thấy đ-ợc vai trò của ngôn ngữ, mối quan hệ cơ bản giữa thơ và đời sống, thơ và độc giả Định nghĩa đã kế thừa nhiều khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các tr-ờng phái khác nhau ở Châu Âu và gợi ra một tr-ờng phái nghiên cứu rộng rãi: thơ không phải là một hình t-ợng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này Những ph-ơng thức kết hợp quái đản của ngôn ngữ thơ thực chất là những cấu trúc ngôn ngữ xa lạ so với cấu trúc ngôn ngữ phi nghệ thuật
Một tác giả khác cũng đi theo h-ớng này là Nguyễn Phan Cảnh Ông đã tiếp thu các luận thuyết về thi ca trong và ngoài n-ớc để đ-a ra một vấn đề rất thiết thực song không kém phần nan giải (các nhà thơ t- duy nên chất liệu ngôn ngữ nh- thế nào?) Lý thuyết liên hệ hình mà Nguyễn Phan Cảnh đ-a ra không mới song một lần nữa nên xem xét thơ từ ph-ơng thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình để tạo
ra có hiệu quả biểu đạt cao nhất đ-ợc khẳng định là đúng và có sức thuyết phục cao [1, tr.51,70], Nguyễn Phan Cảnh không dừng lại đó mà mở rộng vấn đề sang cả cấu trúc phổ biến trong ngôn ngữ thơ để giải thích nguồn gốc các biện pháp tu từ [1, tr.71,77] Điểm nổi bật thứ 3 trong chuyên luận của ông là lý thuyết tr-ờng nét d- Trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn
và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ tr-ờng nét d- chính là quá trình hình thành thể thơ Nét d- đ-ợc loại bỏ càng nhiều thì hàm l-ợng thông tin
Trang 8càng cao và c¯ng đòi hài ờ ngưội tiễp nhận năng lữc tiễp nhận c²c kễt cấu “l³” do việc bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm l-ợng thông tin thấp mà ra
Trên đây là nhiều quan niệm, định nghĩa về thơ của các tác giả từ thời kỳ trung đại đến hiện đại Cuối cùng, trong luận văn này chúng tôi xin nêu ra một định nghĩa để tham khảo khi nghiên cứu về thơ, đó là định nghĩa của nhóm các nhà nghiên cứu phê bình văn học gồm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi:
“Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [12, tr 262]
Nh- vậy, ta đã có thể rút ra những điều thống nhất về đặc điểm của thơ, đó là:
Rõ ràng ngôn ngữ thơ khác với lời nói th-ờng và khác với cả ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nh-ng cảm xúc và ý nghĩa rất phong phú và có sức gợi cảm lớn
Cũng nh- Jakobsơn và nhiều tác giả khác, Nguyễn Phan Cảnh đ-a ra hai thao tác cơ bản của hành động ngôn ngữ đó là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là “c²c điếu ngôn ngừ cõ thề luân phiên cho nhau nhộ v¯o tính tương đọng cùa chủng” [1, tr 16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hành động ngôn ngữ này là “c²c yễu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ t-ơng cận giữa chúng”.[1, tr.24]
Trang 9Cũng theo tác giả nếu nh- văn xuôi làm việc tr-ớc hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là điều tối kỵ thì ng-ợc lại chính cái điều văn xuôi rất tối kỵ
ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính t-ơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đ-ợc dùng để xây dựng các thông báo
Nếu nh- thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ chọn một đơn vị trong một loạt
đơn vị có giá trị t-ơng đ-ơng với nhau có thể thay thế cho nhau trên trục dọc, thì thao tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép
Ng-ời nghệ sỹ khi sáng tác phải biết chon lấy một đơn vị nào đó cho thật phù hợp, có khả năng diễn tả đ-ợc cảm xúc, sự đánh giá của mình tr-ớc đối t-ợng
R.Jakobsơn cũng đã nói rằng: “c²i tú đước chón sẻ kễt hớp vỡi nhau th¯nh chuỗi Việc tuyển lựa sẽ đ-ợc tiến hành trên cơ sở t-ơng đồng nghĩa là trên cơ sở của sự t-ơng đồng hay bất t-ơng đồng, tính đồng nghĩa hay phản nghĩa trong sự kết hợp tức sự xây dựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận chức năng của thi ca
đem nguyên lỷ tương đương cùa trũc tuyền lữa chiễu trên trũc kễt hớp” [8; tr.83]
Cuối cùng, có thể rút ra kết luận: xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ là một chùm đặc tr-ng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu tr-ng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thi ca
Trang 10Ngoài ra hai yếu tố góp phần quan trọng, góp phần tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca là vần và nhịp, những yếu tố ngữ âm này là cơ sở và cũng là chất liệu cho
sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca tạo nên âm h-ởng trầm bổng, kỳ diệu
Nhạc thơ đ-ợc tạo thành từ các yếu tố chính sau: âm điệu, nhịp điệu, vần
điệu
*Âm điệu:
Âm điệu là một khái niệm đ-ợc hiểu trong thế t-ơng quan với vần điệu và nhịp điệu Âm điệu có thể hiểu là sự hòa âm đ-ợc tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh (tiếng), có những phẩm chất ngữ âm t-ơng đồng và dị biệt trên trục tuyến tính
Trong đó thanh điệu với t- cách là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm của mỗi âm tiết, là đối t-ợng chính của âm điệu Do có sự khác biệt về đ-ờng nét và độ cao nên sự phối hợp khác nhau có giá trị tạo ra âm điệu khác nhau
* Vần điệu
Vần trong thơ có một vị trí rất quan trọng cả trong sáng tác lẫn nghiên cứu lý luận “Vần l¯ sữ ho¯ âm, sữ cống hường nhau theo nhừng quy luật ngừ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [5, tr.12]
Trong thơ, vần có vai trò gắn kết các dòng thơ lại thành từng đoạn, khổ và túng b¯i ho¯n chình “ở các khổ thơ, bài thơ có vần, với chức năng tổ chức vần nh- sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe đước thuận tai v¯ l¯m cho ngưội đóc, ngưội nghe dể thuốc, dể nhỡ” [5; tr.22]
Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định Hình thức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô ứng, liên kết gọi nhau của những yếu tố từ ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ Tính nhạc của thơ cũng bắt đầu từ đó và nó
đã tạo nên khả năng mỹ cảm đặc biệt
Trang 11* Nhịp điệu:
Vần tuy là yếu tố quan trọng nh-ng không bắt buộc phải có trong một bài thơ, nhất là thơ tự do Ng-ợc lại, sự tồn tại của nhịp - một yếu tố có mối quan hệ khăng khít với vần - l³i mang tính tất yễu phồ qu²t “Mốt c²ch kh²i qu²t cõ thề nõi nhịp thơ là cái đ-ợc nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những
đơn vị văn b°n như câu thơ (dòng thơ), khồ thơ, thậm chí đo³n thơ”[7; tr.64]
Trong thơ, nhịp điệu là kết quả hoà phối âm thanh đ-ợc tạo ra từ ngắt nhịp Nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính Nhịp điệu ngừng nghỉ theo một cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là sự ngắt nhịp
Vần và nhịp là hai yếu tố quan trọng về mặt hình thức trong thơ ca, vần và nhịp nếu ngắt đúng chỗ thì mang nghĩa Vần và nhịp t-ơng hợp và giao hữu với nhau Nhịp là yếu tố cơ bản, là x-ơng sống của bài thơ, là tiền đề cho hiện t-ợng gieo vần
b Về ngữ nghĩa
Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ và hình ảnh Mỗi từ ngữ khi đ-ợc đ-a vào thơ đều đã trải qua sự lựa chọn của tác giả vào thơ của mình Nó hoạt động đa dạng, linh hoạt và biến hóa
Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa ban đầu của nó mà đi vào những ý nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn nhiều Chính vì thế, mỗi từ ngữ trong câu thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng cái tinh tế, đẹp đẽ, sâu sắc Chính vì vậy ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đời th-ờng và văn xuôi Từ ngữ của thơ có những từ đ-ợc sử dụng bởi phép chuyển nghĩa (chủ yếu là ẩn dụ)
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi và để thực hiện chức năng gợi, các đơn vị trong văn bản nghệ thuật phải đ-ợc lựa chọn, xây dựng và sắp xếp theo cách thức nhất định Hiệu quả biểu đạt ý ở ngoài lời là mục tiêu muôn đời của thi ca Đặc tr-ng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ với ng-ời đọc, ng-ời nghe
Trang 12c Về ngữ pháp
Về ph-ơng diện ngữ pháp, câu thơ dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau, có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ và cũng có những dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất bình th-ờng nh- đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp và không làm ảnh h-ởng đến quy trình tiếp nhận của văn bản, trái lại chính nó mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca và có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế bí ẩn của thế giới và tâm hồn con ng-ời
1.2 Từ ngữ trong thơ
Nói đến thơ, không thể không nói đến đặc tr-ng của từ ngữ trong thơ
Đối với ng-ời nghệ sỹ, quá trình sáng tác văn học, xét theo ph-ơng diện nào
đó là quá trình điều hành tổ chức ngôn ngữ theo một cơ cấu riêng mang tính chủ quan ở đây ngôn từ vừa là một trong nhiều ph-ơng tiện vừa là vật liệu cơ bản để
“kh²ch quan ho²” nhừng đỗi tướng tư duy nghế thuật cùa ngưội nghế sỳ Tú nhừng chủ quan ban đầu, qua quá trình tái hiện và có chọn lọc, ng-ời nghệ sỹ phải tạo điều kiện, tìm ra ph-ơng thức thích hợp cho chính những hình ảnh ấy thoát ra khỏi tiềm năng trong t- duy Từ đó, làm cho nó hoá thân từ chủ quan thành khách quan, từ tinh thần vật chất d-ới hình thức tác phẩm văn học Mỗi tác giả, bằng cảm quan nghệ thuật của cá nhân, có sự lựa chọn ngôn từ riêng Việc lựa chọn lớp từ nhất
định nào đó sẽ đ-ợc quyết định bởi lối tiếp cận đời sống, t- t-ởng thẩm mỹ và vốn
từ riêng của tác giả
Từ ngữ trong thơ là từ ngữ cô đọng, hàm súc, có sự chọn lựa kỹ càng Số l-ợng các đơn vị từ ngữ trong một bài thơ tuy khác nhau nh-ng nhìn chung vẫn có hạn định Thế mà mỗi bài thơ phải thể hiện một đề tài, một tứ thơ, một cách cấu tứ, một cảnh, một sự, một tình Thơ vì thế phải tiết kiệm trong việc sử dụng từ ngữ, phải chọn lọc từ ngữ kỹ càng
Nguyễn Tấn (sinh 1378), trong lời tựa cho tập thơ “Việt âm mới đ-ợc chọn lữa” có nói đến việc dùng từ trong thơ khó khăn nh- thế nào: “Tôi th-a rằng phép
làm thơ thật khó lắm thay! Thơ luật chỉ có 56 chữ, thơ tuyệt cú lại chỉ có 28 chữ mà
Trang 13đủ cả mọi thể cách Muốn thơ cổ kính, thanh đạm thì lại gần với thơ, muốn đẹp đẽ thì lại gần với loè loẹt; hào phóng để tới chỗ buông thả , thật thà thì dễ tới chỗ quê mùa Cho nên lời ý giản dị, đầy đủ, mạch lạc, thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, trung hậu mà không thô kệch, cao siêu mà vẫn có giọng
ôn hoà, đó là những điều rất khó có thể đạt đ-ợc.” (Phạm Tú Châu dịch)
Cô đọng, hàm súc, để đạt l-ợng thông tin cao, cô đọng, hàm súc thơ phải chọn lọc từ, cô đọng hàm súc thì vai trò từng từ rất quan trọng, nếu đặt từ sai chỗ, hiểu sai từ sẽ hiểu sai cả bài thơ Từ ngữ chọn lựa kỹ, sử dụng một cách tiết kiệm là phải dựa trên vốn từ ngữ rất phong phú của các nhà thơ
Yêu cầu về tính hàm súc nảy sinh từ mặt thông tin của tác phẩm, trên một diện tích ngôn ngữ hạn hẹp với t- cách là một văn bản thông tin, một hệ thống tín hiệu (tín hiệu thẩm mỹ) nó cần cung cấp cho ng-ời đọc một l-ợng thông tin cao Nhờ tính hàm súc mà bức tranh phong cảnh của một buổi sáng mùa xuân đ-ợc tái hiện bằng những từ ngữ ít ỏi, súc tích:
Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hoặc chỉ với từ “tõt” Nguyễn Du đã lột tả đ-ợc từ bên ngoài đến bản chất bên trong của Mã Giám Sinh, một kẻ buôn thịt bán ng-ời đội lốt cho Sinh:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang, ta cảm giác đ-ợc cái ý cái tình, cái cảnh quan các chữ trong sự kết hợp của chúng Tố Hữu trong bài “Thơ l¯ tiễng nõi
đọng ỷ, đọng tệnh, tiễng nõi đọng chí” đã nói rõ: “Chừ nghĩa không ph°i l¯ chừ a, chữ b mà cả cái tiếng vang trong chữ , tiếng vang của cả khoảng cách giữa những chổ, nhừng dòng”
Trang 14Ví dụ:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đ-ờng bạch d-ơng s-ơng trắng nắng tràn
(Em ơi Ba Lan - Tố Hữu)
Vần “an” (lan, tan, tràn), vần “ương” (đ-ờng, d-ơng, s-ơng), vần “ăng” (trắng, nắng) đ-ợc tác giả tổ chức để liên kết từ trong dòng thơ và dòng này qua dòng khác Gợi cho ng-ời đọc sự liên t-ởng đến một không gian trải dài
Trong từ ngữ của thơ, có những từ ngữ đóng vai trò là “chệa kho²” của bài thơ, là từ đặc biệt mang âm h-ởng riêng, sắc thái riêng của bài thơ, là điểm sáng trong bài thơ Không nhất thiết là bài thơ nào cũng có những từ nh- thế nh-ng nhìn chung, từ đều đ-ợc nhà thơ chọn lựa kỹ càng, dồn vào nó sức căng của bài thơ
Từ ngữ trong thơ có sức tạo sự liên t-ởng nhiều tầng
Từ ngữ đ-ợc sử dụng trong bài thơ rất đậm đặc những loại từ giàu hình ảnh, giàu màu sắc, đ-ờng nét âm thanh, nhạc điệu Những loại từ đó có khả năng gợi hình, gợi tả rõ nét về đối t-ợng Trong hệ thống vốn từ tiếng Việt những từ có khả năng trên ng-ời ta gọi là: từ t-ợng thanh, từ t-ợng hình, phần lớn chúng là từ láy
Ví dụ:
Xập xè én l-ợn lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu dày
(Truyện kiều - Nguyễn Du)
Tú “xập xè” vúa gới ra mốt hệnh °nh thị gi²c, vúa gới hệnh tướng âm thanh
Nó không chỉ miêu tả dáng bay của con chim, tiếng lé xé của đôi cánh, mà còn gợi
ra sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâm trạng chơ vơ của chàng Kim
Từ ngữ đ-ợc sử dụng trong thơ mang tính biểu cảm
Mỗi bài thơ đều gợi ra một ph-ơng diện nào đó của cuộc đời, đều chứa đựng những suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ về cuộc sống và con ng-ời Sự biểu cảm của
từ trong thơ là loại từ chứa đựng mọi cung bậc tình cảm, mọi trạng thái cảm xúc của con ng-ời, đó có thể là trạng thái buồn, vui, hay hờn, giận… Có thể nói, chính nhờ vào điểm này mà ng-ời đọc dễ bị xúc động, bị lôi cuốn vào tác phẩm
Trang 15Thơ trữ tình là loại thơ tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình, có thể là về quê h-ơng, có thể là niềm vui của ng-ời dân trong một đất n-ớc, vừa đ-ợc giải phóng, tình yêu của đôi trai gái…
Ví dụ: Niềm vui của Tố Hữu khi đã giác ngộ lý t-ởng cách mạng:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một v-ờn hoa lá
Rất đậm h-ơng và rộn tiếng chim…
( Từ ấy – Tố Hữu) Với Tố Hữu, lúc này đã có sự gặp gỡ giữa lý t-ởng cách mạng và cuộc đời
Đó tr-ớc hết là một niềm vui trong trẻo, tin yêu, nhân hậu, niềm vui bắt gặp lý t-ởng, niềm vui thật sự của một ng-ời thanh niên buổi đầu đến với lý t-ởng và thấy mình thanh thản, tự do Niềm vui đến với lý t-ởng đ-ợc tác giả diễn tả nh- một sự nhận thức chân lý trừu t-ợng mà cụ thể trong hình t-ợng đẹp và gợi cảm Tác giả đã nói đến lý t-ởng cách mạng nh- một nguồn sáng mới bừng lên trong tâm hồn nhà thơ Tất cả bừng sáng nh- một v-ờn hoa lá đ-ợm h-ơng thơm và rộn rã tiếng chim
ca
Từ ngữ sử dụng trong thơ đ-ợc vận dụng bởi nhiều phép chuyển nghĩa nh-ng chủ yếu là ẩn dụ ẩn dụ chuyển từ nghĩa đen sang nghĩa bóng, từ trực tiếp sang gián tiếp, trên cơ sở t-ơng đ-ơng, từ những dấu hiệu giống nhau về một mặt nào đó của
ký hiệu thẩm mỹ giữa đối t-ợng và hiện t-ợng theo sự liên quan t-ơng xứng giữa hai nghĩa và ý thức một sự so sánh đ-ợc hiểu ngầm Đây là phép so sánh chỉ có một thành phần, chỉ nói đến vế so sánh thôi Vì thơ là lĩnh vực tình cảm tinh tế, nó là cách khám phá sự t-ơng đồng một cách kín đáo giữa các đối t-ợng, h-ớng vào dấu hiệu đ-ợc chú ý của đối t-ợng kia
Trang 161.3 Huy Cận và tập thơ “ Lửa thiêng“
1.3.1 Một số nét về thơ Huy Cận
1.3.1.1 Quá trình sáng tác của Huy Cận
So với các nhà thơ khác nh- Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử… thì nhà thơ Huy Cận đến với phong trào Thơ mới hơi muộn Nh-ng ng-ời đến muộn màng ấy lại nhanh chóng trở thành một trong nh-ng ngôi sao sáng của phong trào Thơ mới Xuân Diệu đã nói lên đ-ợc những đặc điểm cơ bản của hồn thơ Huy Cận, là một hồn thơ mang "linh hồn của trời đất" và "mang nặng tình đời, tình ng-ời, tình yêu
sự sống" Trong Thi nhân Vịêt Nam, vị trí của Huy Cận đã đ-ợc Hoài Thanh, Hoài
Chân khẳng định, Huy Cận có số l-ợng bài thơ đ-ợc tuyển vào nhiều thứ hai sau
Xuân Diệu ở phần giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam nhà phê bình Hoài Thanh
đã nói lên khả năng cảm nghe tinh tế của nhà thơ Huy Cận “Huy Cận có lẽ sống
một cuộc đời rất bình th-ờng, nh-ng luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp
nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”
Huy Cận b-ớc tới thi đàn bằng một tâm hồn đa sầu đa cảm Với tập thơ đầu
tay Lửa thiêng (1940 ), Huy Cận đã đem đến cho phong trào Thơ mới những vần
thơ buồn bã, ảo não bậc nhất Đối với Huy Cận, nỗi buồn không chỉ cảm đ-ợc từ lòng mình mà còn nhìn thấy, nghe thấy ở khắp mọi nơi:
Tai n-ơng n-ớc giọt mái nhà Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
( Buồn đêm m-a) Với tâm hồn đa sầu đa cảm ấy, “Huy Cận đi lướm lặt nhừng chủt buọn rơi rỡt
để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” ( Hoài Thanh) [20, tr.162] Nỗi buồn này
là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn cuộc đời Nó là hệ quả tất yếu khi nhà thơ ý thức sâu sắc về cảnh ngộ đất n-ớc và thân phận con ng-ời
Đến tập thơ Vũ trụ ca ( 1942 – 1943) ta bắt gặp cái rạo rực bâng khuâng của
mốt niẹm vui không giỡi h³n, vui tr¯n vð trũ Không gian trong “ Vð trũ ca” rống lớn, thanh cao với trăng, sao, gió, mây, ở đó con ng-ời có thể đ-ợc phiêu du, phiêu
Trang 17diêu, đ-ợc tự do tuyệt đối về mặt tinh thần, v-ợt lên mọi ràng buộc xã hội Cái vui ở
đây là cái vui ào ạt, tột độ:
Trăng ru, sóng ru tràn vũ trụ
Hồn ta ơi chớ ngủ nghe em
Nh¯ thơ muỗn tệm c²i “ vui vð trũ” đề nguôi c²i sầu nhân gian nhưng thữc tễ nhà thơ vẫn không trốn nổi, ông vẫn thấy đời buồn, cô đơn và tự thấy đời mình nh- hòn đảo cô độc giữa biển cả không có thuyền bè qua lại:
Thuyền không giao nối dây qua đó
Vạn thuở chờ mong một cánh buồm
( Đảo) Cách mạng Tháng Tám thành công, giải phóng đất n-ớc đồng thời giải phóng hồn thơ của nhiều nghệ sĩ, đ-a họ đến với nhân dân, đất n-ớc để tìm nguồn cảm hửng s²ng t³o mỡi So vỡi nhiẹu nh¯ thơ cợng thễ hế, Huy Cận l¯ ngưội “chuyền mệnh” hơi muốn Suỗt thội kứ kh²ng chiến chống Pháp, Huy Cận gần nh- vắng bóng trên thi đàn Nh-ng suốt 10 năm ấy, Huy Cận vẫn âm thầm tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới để đến với nghệ thuật cách mạng, đến với hiện thực mới của dân tộc, nhân dân Sau chuyến đi thực tế dài ngày ở Quảng Ninh, Huy Cận đã tạo nên
mốt mợa thơ mỡi: “Trời mỗi ng¯y lại sáng“ (1958), “Đất nở hoa” (1960), “B¯i thơ cuộc đời“ (1963) Huy Cận dần khẳng định chỗ đứng trong lòng bạn đọc Sự
thay đổi cơ bản nhất của Huy Cận sau cách mạng là sự thay đổi về cách nhìn nhận con ng-ời và cuộc đời Nếu tr-ớc đây Huy Cận nhìn nhận con ng-ời trong vũ trụ, giữa thiên nhiên thì giờ đây nhà thơ nhìn con ng-ời giữa cuộc đời và trong mối quan
hệ gắn bó với cộng đồng xã hội Hình t-ợng con ng-ời lao động trở thành hình t-ợng trung tâm trong các bài thơ của Huy Cận viết về cuộc sống mới, con ng-ời mới Trong xã hội mới, con ng-ời không tồn tại riêng lẻ, tách biệt, mà gắn kết với cộng đồng, tìm thấy sức mạnh của mình trong tập thể Sự hài hoà giữa cuộc đời riêng và cuộc đời chung là vẻ đẹp của xã hội mới Nhà thơ Huy Cận luôn khát khao h-ớng tới vẻ đẹp hài hoà Tr-ớc đây nhà thơ không tìm đ-ợc sự hoà hợp của con ng-ời trong đời đành phải tìm sự hoà hợp của con ng-ời trong cõi mộng, trong thế
Trang 18giới thiên nhiên t-ơi thắm huy hoàng Giờ đây, Huy Cận đã tìm thấy vẻ đẹp hài hoà trong đời, cảm nhận sâu sắc sự hoà hợp giữa ng-ời với ng-ời trong xã hội Nhà thơ
đang lắng nghe cuộc đời đang đổi thay, cuộc sống đang độ chín qua những kỳ “đồi
thịt thay da” và cuối cùng ông khẳng định chân lý “trội mổi ng¯y l³i s²ng” Sự
khẳng định chân lý này cũng chính là sự khẳng định b-ớc biến chuyển trong tâm hồn thơ Huy Cận Ông đã thực sự chuyển từ một nhà thơ thuần tuý lãng mãn sang một nhà thơ hiện thực
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hào hùng, Huy
Cận liên tục cho ra đời các tập thơ: “Những năm sáu mươi“ (1968), “Chiến trường gần đến chiến trường xa“ (1973), “Ng¯y hºng sống, ng¯y hºng thơ“
(1975) để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta, khẳng định tầm vóc lớn lao của dân tộc ta trên tuyến đầu chống Mỹ Huy Cận không nói nhiều đến những con ng-ời, những số phận cụ thể đang lớn lên trong cuộc đời chung nữa mà viết nhiều về cộng đồng, về số phận chung của cả dân tộc Con ng-ời trong thời kỳ này đ-ợc nhà thơ nhìn nhận trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại từ đó khái quát lên đ-ợc những phẩm chất cao đẹp của con ng-ời Việt Nam:
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững L-ng đeo g-ơm, tay mềm mại bút hoa Trong và thật: Sáng hai bờ suy t-ởng Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà
(Đi trên mảnh đất này)
Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ oanh liệt, Huy Cận còn có ba
tập thơ viết cho thiếu nhi: “Hai b¯n tay em“ (1967), “Phù Đổng thiên vương“ (1968), “Thiếu niên anh hùng họp mặt” (1973) Đây cũng là một mảng thơ đặc sắc
của Huy Cận Tấm lòng tha thiết với cuộc đời, tha thiết với tuổi trẻ, đã giúp ông hoà nhập vào thế giới thơ mộng và đầy màu sắc huyền thoại của trẻ thơ
Từ 1975 về sau đến lúc từ biệt thế gian này, Huy Cận vẫn “gieo h³t” đẹu tay
để có thêm những tập thơ: “Ngôi nh¯ giữa nắng” (1978), “Hạt lại gieo” (1984),
Trang 19“Chim làm ra gió” (1991), “Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ” (1997) Điẹu n¯y
chứng tỏ sức sáng tạo dồi dào bền bỉ của nhà thơ
1.3.1.2 Một số đặc điểm thơ Huy Cận
a Thơ Huy Cận thể hiện một cái tôi trữ tình với nhiều đối cực
Huy Cận có một hồn thơ vừa đa dạng vừa thống nhất Cái tôi trữ tình trong thơ luôn vận động và chịu sức hấp dẫn của nhiều đối cực Đó là một hồn thơ vừa bám riết lấy cuộc đời vừa v-ơn tới vũ trụ bao la, vừa trăn trở tr-ớc cái chết, vừa nâng niu trân trọng sự sống trên đời, vừa buồn bã ảo não, vừa rộn rã niềm vui, vừa suy t- chiêm nghiệm, vừa hồn nhiên t-ơi trẻ, vừa bay bổng trong cảm hứng lãng mạn, vừa giàu có cảm hứng hiện thực Những khát vọng của nhà thơ vẫn là tìm đến
vẻ đẹp hài hoà giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cuộc đời chung và cuộc đời riêng, giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cảm xúc và trí tuệ Tr-ớc cách mạng, Huy Cận tìm niềm thân mật trong sự hoà hợp với thiên nhiên vũ trụ thì sau cách mạng nhà thơ lại tìm đ-ợc sự hoà hợp giữa cá nhân
và cộng đồng và cảm thấy hạnh phúc khi hoà nhập cuộc đời riêng vào cuộc đời chung của nhân dân, của dân tộc
Từ những cực hấp dẫn và những sắc thái đa dạng của tâm hồn ng-ời đọc vẫn nhận ra hạt nhân của cấu trúc phân cực trong hồn thơ Huy Cận Đó là tình ng-ời, tình đời thiết tha sâu nặng và tấm lòng nâng niu trân trọng sự sống chân chính ở trên đời
b Thơ Huy Cận thể hiện một kiểu t- duy nghệ thuật độc đáo: nhìn thế giới, nhìn cuộc đời qua sự sống cỏ cây
Sự sống của cỏ cây là một quá trình “nhữa” đến “h³t”, đến “nũ” đến “mầm”
và hoa lá xanh t-ơi Và từ “sữ chuyền nao thầm kín” đó của cỏ cây, Huy Cận đã tìm
đ-ợc mối liên t-ởng với sự vận động của cuộc đời con ng-ời
Trong thơ Huy Cận chứa chan “nhữa” và tràn đầy “h³t”, “Nhữa” trong thơ Huy Cận là nguồn mạch sự sống âm thầm l-u chuyển làm nên cuộc sống của cỏ cây:
Trang 20
V-ờn hân hoan muôn vạn nỗi dàn bày Của nhựa mạnh thành tơ trong lá mới
(Hoa điệu)
Từ dòng nhựa cụ thể của cây, Huy Cận khái quát thành dòng sống, thành quá trình vật chất hoá sinh vô tận Dòng sự sống chảy trong vạn vật, trong trời đất, trong con ng-ời và trong cả thời gian l-u chuyển bốn mùa, trong dòng đời bận rộn:
Thu tới ngoài kia Nghe nhân thơm trong trái nặng Nghe nhựa ấm trong cành th-a Nghe đ-a đẩy tiếng gió ru lúa chín Xôn xao cuống lá rụng thay mùa
(Chín)
“Hạt“ là sự sống ở dạng kết tinh, hạt chứa đựng tiềm năng sự sống Huy
Cận làm thơ nh- ng-ời gieo hạt, gieo hạt để có mùa thơ mới:
Gieo vần nh- thể tay gieo hạt Nhịp sống làm nên những nhịp thơ
(Anh làm vè ở quê tôi) Hạt là kết qủa, là thành quả của một thành quả tích luỹ, nh-ng hạt cũng là mầm mống của một quá trình mới Vì vậy từ những hạt thóc thực, Huy Cận đã mở
ra viễn cảnh sự sống lan xa, nảy nở trong t-ơng lai:
Mở bồ thóc giống san con bớt Cảm thấy lòng gieo những hạt xa
(Cô gái H-ng Yên đi mở mang Tây Bắc)
Là ng-ời tha thiết với sự sống với sức sống của thiên nhiên, đất n-ớc, Huy Cận không thể không nói đến hoa lá Trong cách cảm nhận của Huy Cận cái gì gửi
về sự sống, gợi về tình ng-ời cũng có thể trở thành hoa: hoa trời, hoa trăng, hoa tinh khiết đến hoa nhớ, hoa th-ơng, hoa đợi chờ
Trang 21Trăng gần thơm ngát nh- hoa Hoa trăng nở giữa phù sa mới cày
(Trăng rằm mọc) Nh- vậy có thể nói, trong thơ Huy Cận cảm quan cây trái chính là thể hiện ở ph-ơng diện phát hiện tiềm năng của sự sống trong tạo vật và con ng-ời Đây là một kiểu t- duy mang đậm bản sắc dân tộc
c Thơ Huy Cận kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, giữa ph-ơng Đông và ph-ơng Tây
Huy Cận vừa chịu ảnh h-ởng của thơ Đ-ờng, vừa chịu ảnh h-ởng của thơ ca lãng mạn, thơ ca t-ợng tr-ng Pháp Những nguồn ảnh h-ởng ấy đã đ-ợc Việt hoá khá triệt để nhuần nhuyễn trong toàn bộ thi phẩm của Huy Cận
Sự kết hợp hài hoà này còn đ-ợc thể hiện khá rõ ở ph-ơng diện thể loại Những thể loại truyền thống của dân tộc ta nh- thể lục bát, thể thơ 5 chữ, 7 chữ
đ-ợc Huy Cận sử dụng thành thục và có những cách tân quan trọng Đồng thời, thể thơ tự do cũng đ-ợc Huy Cận sử dụng trong thơ sau cách mạng để có thể chứa đựng một nội dung hiện thực phong phú, bề bộn
d Thơ Huy Cận đậm đà bản sắc dân tộc
Tình yêu quê h-ơng đất n-ớc, tình yêu tiếng Việt thiết tha đã giúp nhà thơ kết tinh đ-ợc tiếng nói tâm hồn của nhiều miền đất n-ớc Tiếng Huế cho ông tiếng thơ tình tứ m-ợt mà, quê h-ơng xứ Nghệ cho ông tiếng thơ chân thành sâu lắng, Hà Nội nghìn năm văn hiến lại cho ông tiếng thơ tinh tế hào hoa Huy Cận hiểu biết sâu sắc nhiều nền văn hoá, nh-ng hồn thơ Huy Cận vẫn gắn bó với tâm hồn dân tộc Tiếng nói dân tộc thấm vào cảm nghĩ vào cách nhìn của nhà thơ Huy Cận nhìn cuộc đời qua sự sống của cỏ cây và ghi lại cảm xúc suy nghĩ của mình qua hình thực thơ truyền thống của dân tộc
1.3.1.2 Tập thơ “ Lửa thiêng“
“ Lửa thiêng” là tập thơ đầu tay của Huy Cận, gồm 50 bài, xuất bản năm
1940 Tập thơ đ-ợc sáng tác lúc nhà thơ đang ở tuổi thanh niên
Trang 22“ Lụa thiêng” là tập thơ tiêu biểu nhất của Huy Cận tr-ớc 1945 và cũng là thành tựu nổi bật cuả Thơ mỡi Tập thơ “ Lụa thiêng” thể hiện hồn thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng – một hồn thơ “ mang linh họn cùa trội đất” và mang nặng tình
đời, tình yêu sự sống
“ Huy Cận đi lướm lặt nhừng chủt buọn rơi r²c đề rọi s²ng tạo nên những vần thơ ảo n±o” ( Hoài Thanh ) Trong "Lửa thiêng", Huy Cận đã thể hiện đ-ợc cái ngột ngạt tù túng, chán nản của những cảnh đời Sự sống đã mất đi, tính chất hấp dẫn và phần thiêng liêng của nó đã trở thành nhạt nhẽo, vô vị, nhàm chán Chán nản cảnh
đời cũ và biết chờ đợi ngọn gió mới là một điều mới mẻ cần đ-ợc trân trọng ghi nhận ở Huy Cận Đó là nguyên nhân sâu xa của nỗi buồn trong thơ ông Huy Cận buồn nỗi buồn nh- lan toả tự bên trong của một hồn thơ, nh-ng không phải là một tâm trạng tiềm ẩn, trầm lắng riêng t- mà có căn nguyên xã hội cụ thể Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh tinh thần của một thế hệ không dễ đồi thay, nhưng nổi buọn “ Lụa thiêng” không mang nhiẹu tính riêng tư, không gãn vỡi dũc vóng đam mê đề rọi chán ch-ờng, tuyệt vọng Vẫn có một mạch tình cảm trong trẻo, thiết tha, gắn bó ân
cần với cuộc sống và nói nh- cách nói của tác giả sau này, đó là tâm trạng “ yêu đội nên đau đời “ Tr-ớc những sự đổi thay, tàn lụi, khổ đau và chua chát của cuộc đời,
những thú vui đam mê vật chất, Huy Cận vẫn giữ đ-ợc niềm tin và lòng yêu cuộc sống tuy lời nói và hình ảnh trong thơ không khỏi có lúc chìm trong thế giới đau buồn
Thấm đướm “ Lụa thiêng “ l¯ tinh thần dân tốc, l¯ sữ hối nhập vỡi thiên nhiên của Huy Cận Trong chiều sâu của những cảm xúc về thiên nhiên, về quê h-ơng của Huy Cận là tình cảm với đất n-ớc Không rõ rệt và hiện hình một đất n-ớc trong thơ, nh-ng vẫn bàng bạc khắp nơi là tấm lòng của tác giả đối với quê h-ơng đất n-ớc khi hoà nhập với thiên nhiên, khi tủi buồn, th-ơng nhớ với cảnh với ng-ời Huy Cận đã tìm về với quá khứ Trở ng-ợc dòng thời gian tác giả có thể tìm đến những gì nguyên vẹn của hồn dân tộc và vóc dáng quê h-ơng Qu² khử trong tập “ Lụa Thiêng” là thời gian trải dài và ng-ng đọng Điều đáng trân trọng ở dòng thơ Huy Cận khi để cảm xúc trôi theo thời gian, tác giả đã không đắm đuối luyến tiếc
Trang 23cho phần riêng t- của cuộc đời mà nh- tìm về bóng dáng x-a của ngọn nguồn dân tộc
"Lửa thiêng" là tập thơ của tình đời, tình ng-ời và trong mạch tình cảm chung
đó là tình yêu lứa đôi có vẻ đẹp riêng xúc động và gợi cảm Nếu Xuân Diệu d-ờng nh- dành cả hồn thơ cho tình yêu và tuổi trẻ thì Huy Cận chỉ đến với tình yêu trong giây phút thần tiên của những lần gặp gỡ Tình yêu trong thơ Huy Cận luôn đặt trong khung cảnh thiên nhiên Tình yêu trong tập “ Lụa thiêng" mang nhiều chất lý t-ởng, thơ mộng, t-ơi đẹp nh- mong -ớc Một mặt tác giả luôn nói đến trạng thái cô đơn, buồn tủi của “ ngưội bị hãt hùi ”, bị “thiên hạ lìa xa” nh-ng mặt khác lại tạo dựng lên những cảnh ngộ gặp gỡ của lứa đôi hoà hợp yêu đ-ơng rất đằm thắm, t-ơi vui
Trong “ Lụa thiêng", thiên nhiên và con ng-ời hoà hợp Con ng-ời nh- tìm thấy bản thể của mình trong sự sống của thiên nhiên và thiên nhiên cũng góp phần giải toả cho con ng-ời Trong phong trào Thơ mới, Huy Cận là nhà thơ có những cảm nhận sâu sắc tinh tế đời sống của thiên nhiên Yếu tố nội tâm rất mạnh tạo nên chất trữ tình có chiều sâu triết lý và giàu tình đời, tình ng-ời Mặt khác, Huy Cận lại nuôi d-ỡng hồn thơ trong cảnh vật quê h-ơng đất n-ớc và cái đẹp của thiên nhiên tạo vật
ở "Lửa thiêng", nhà thơ Huy Cận luôn mang nỗi “khãc kho°i không gian” Chủ thể trữ tình xuất hiện giữa không gian trần thế, bị đóng khung trong những giới hạn chật chội nên luôn khát vọng giao tiếp, khát vọng chiếm lĩnh không gian trên cao Trong hành trình chiếm lĩnh không gian, Huy Cận tri nhận không gian rộng lớn trên nhiều h-ớng, nhiều chiều, nhiều lớp
"Lửa thiêng" là một thi phẩm kết tụ nhiều phẩm chất sáng tạo và đ-ợc xem là
số rất ít tác phẩm hay nhất của phong trào Thơ mới ở vào tuổi thanh niên nh-ng cảm hứng sáng tạo của Huy Cận đã tạo nên đ-ợc một không gian rộng dài để nói nên cái cô liêu chơi vơi của cuộc đời và để cho tứ thơ đi về giữa quá khứ và hiện tại, giữa cuộc đời thực và chốn vời vợi xa Huy Cận đã sử dụng nhiều thể loại thơ cũ, mới và chúng đ-ợc thi nhân hoán cải để mang đ-ợc tính chất không gian cùa “Lụa
Trang 24thiêng” Ngưội ta thấy đước ờ “ Lụa thiêng” cõ sữ h¯i ho¯ Đông Tây, cồ truyẹn v¯ hiện đại ở ngôn từ, thể thơ, nhịp điệu và cả sự hài hoà của yếu tố lãng mạn và t-ợng tr-ng Chính sự hài hoà đó mang lại một vẻ đẹp toàn bích cho tập thơ
Trang 25Ch-ơng 2 Đặc điểm từ ngữ của tập “ Lửa thiêng”
2.1 Từ ngữ trong tập thơ “Lửa thiêng“
2.1.1 Tiểu dẫn về từ
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về từ của các nhà ngôn ngữ học, nh-ng tất cả các quan niệm đều có điểm chung về những đặc điểm cơ bản của từ, nh- xem từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có chức năng định danh, có tính chỉnh thể về nội dung và hình thức, đ-ợc dùng độc lập trong câu ở luận văn này, chúng tôi xin đ-a ra quan niệm về tú cùa t²c gi° Đổ Thị Kim Liên: “Tú l¯ mốt đơn vị cùa ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh
và đ-ợc vận dụng tữ do đề cấu t³o nên câu” [17, tr.18]
Khi phân chia từ chúng tôi căn cứ vào quan niệm trên, và phân chia theo các góc độ sau: cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng và ngữ nghĩa (tr-ờng nghĩa)
2.1.1.1 Các lớp từ theo cấu tạo
Về cấu tạo, chúng tôi phân chia từ thành từ đơn và từ phức (trong từ phức có hai loại: từ ghép và từ láy)
a Từ đơn
Từ đơn là những từ đ-ợc cấu tạo một hình vị (trong tiếng Việt phổ biến một tiếng), đ-ợc dùng tự do trong câu Từ đơn chủ yếu thuộc lớp từ cơ bản quan trọng của tiếng Việt để chỉ những hoạt động, sự vật, hiện t-ợng thiết yếu trong đời sống ng-ời Việt Chính nó là lớp từ cơ sở để tạo ra vốn từ tiếng Việt, làm phong phú cho vốn từ tiếng Việt không những về mặt cấu tạo từ mà cả về sự phát triển nghĩa của
từ
b Từ ghép
Từ ghép là những từ chứa 2 (hoặc hơn 2) tiếng trong đó các tiếng có nghĩa liên kết với nhau theo những quy tắc ngữ nghĩa nhất định Từ ghép là những từ có cấu tạo rất phức tạp vì nó gần với cụm từ tự do Do tính chất quan hệ nghĩa của các tiếng khác nhau nên ng-ời ta chia từ ghép thành hai loại lớn và trong mỗi loại lại
Trang 26phân ra thành các tiểu loại Quan hệ nổi bật nhất giữ các tiếng trong từ ghép là quan
hệ về nghĩa
c Từ láy
Từ láy là từ đ-ợc tạo ra theo ph-ơng thức láy tác động vào một tiếng cơ sở từ
đó tạo ra tiếng láy theo quy tắc điệp và đối, tạo nên sự hài hoà về âm thanh có giá trị biểu tr-ng hoá về nghĩa
2.1.1.2 Các lớp từ xét theo nguồn gốc
Xét về mặt nguồn gốc các từ trong tiếng Việt th-ờng đ-ợc cấc nhà nghiên cứu chia làm hai loại, đó là: Từ thuần Việt và từ vay m-ợn
a Từ thuần Việt
Hiện nay có hai cách hiểu về quan niệm từ thuần Việt:
- Cách hiểu thứ nhất: Từ thuần Việt là những từ do ng-ời Việt tạo ra và dùng Cách hiểu này không mang tính khoa học và cũng không mang tính thực tiễn Tiếng Việt thuộc nguồn gốc Nam á nên nhiều từ thuần Việt có quan hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ Đông Nam á nh- : tiếng Thái, tiếng Môn Khơ Me…
“Ăn”, “uỗng”, “đi”… là những từ thuần Việt nh-ng không có dấu hiệu căn cứ nào (về thực tiễn) để nói rằng là do ng-ời Việt tạo ra
- Cách hiểu thứ hai: từ thuần Việt là những từ ng-ời Việt dùng quen thuộc, dễ hiểu
ở luận văn này chúng tôi đi theo cách hiểu thứ hai và nh- vậy cũng là dựa vào quan niếm vẹ tú thuần Viết như sau: tú thuần Viết l¯ nhừng tú “Vỗn cõ tú lâu
đội l¯m th¯nh vỗn tú vững cơ b°n cùa tiễng Viết” [26, tr.241] “Đõ l¯ nhừng từ đ-ợc nhân dân ta dợng tú thội thướng cồ đễn nay” [26, tr.242]
b Từ vay m-ợn
Cũng nh- các ngôn ngữ khác nói chung, từ vựng tiếng Việt ngày nay đ-ợc phong phú thêm nhiều là do kết quả của sụ phát triển ngôn ngữ lâu dài trong xã hội Trong quá trình phát triển, bên cạnh lớp từ thuần Việt, tiếng Việt đã tiếp nhận một số l-ợng khá lớn các từ ngữ của các ngôn ngữ khác, tr-ớc hết là tiếng Hán và
Trang 27một số tiếng ấn-âu.Những từ trong tiếng Việt có nguòn gốc vốn là từ của tiếng n-ớc ngoài đ-ợc gọi chung là lớp từ vay m-ợn Trong các lớp từ vay m-ợn, đáng quan tâm nhất là lớp từ Hán Việt, vì chúng chiếm l-ợng lớn trong tiếng Việt, mang
đặc điểm ngữ nghĩa và phong cách riêng đối lập với từ thuần Việt
b Từ toàn dân
Ngôn ngữ toàn dân cũng nh- từ toàn dân là ngôn ngữ chung của toàn dân tộc,
đ-ợc dùng phổ biến rộng rãi hàng ngày trong toàn quốc, không bị hạn chế phạm vi
sử dụng
2.1.1.4 Các lớp từ xét về tr-ờng nghĩa
Tr-ờng nghĩa hay còn gọi là tr-ờng ngữ nghĩa từ vựng là tập hợp các từ đồng nhất với nhau một điểm về ngữ nghĩa
Vốn từ của một nhà văn, nếu xét thuần tuý về số l-ợng, ch-a nói lên điều gì
đáng kể Điều cơ bản là vốn từ ấy đựơc sử dụng nh- thế nào Vì thế các tr-ờng từ vựng ở một tác giả là một vấn đề rất đáng quan tâm.Số l-ợng các từ trong một tr-ờng nghĩa cũng nh- tần số xuất hiện của một từ hay một lớp từ nào thuộc về một tr-ờng đó trong tác phẩm của một nhà văn, một nhà thơ là những dấu hiệu mà ng-ời nghiên cứu phong cách học không thể bỏ qua, bởi nếu có chút gì riêng về ph-ơng diện từ ngữ của ng-ời cầm bút thì tr-ớc hết chính là ở chỗ đó
Nếu chúng ta quan sát tác phẩm, một nhà văn, một nhà thơ nào đó, phát hiện
ra các tr-ờng từ vựng có những nét đặc thù, thì rõ ràng, chúng thuộc về hệ thống từ
vị của nhà văn, nhà thơ đó đã lựa chọn, quen dùng
Trang 282.1.2 Kết qủa khảo sát từ ngữ trong tập thơ “Lửa thiêng“ xét về mặt định l-ợng
Chúng tôi đã thống kê và thu thập tú ngừ trong tập “Lụa thiêng” cùa Huy Cận, kết quả: với 944 dòng thơ, có 4761 từ
Từ kết quả này chúng tôi sẽ đi vào thống kê và phân loại từ ngữ trong tập thơ
ở các góc độ: cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng, và lớp từ theo tr-ờng nghĩa
2.1.2.1 Từ ngữ trong tập “Lửa thiêng“ nhìn từ góc độ cấu tạo
Vận dụng cách hiểu về từ xét về cấu tạo nh- trên, chúng tôi đi vào khảo sát
tú ờ tập thơ “Lụa thiêng” v¯ thu đước kễt qu° như sau:
Bảng 1: Từ ngữ trong tập Lửa thiêng xét theo cấu tạo
Từ vựng theo cấu tạo Số l-ợng Tỉ lệ % Trung bình từ/ dòng
Trang 29quen thuộc, gần gũi với lời nói hàng ngày Ví dụ: tôi, tuổi, lòng, chạy, bỏ, chín, đặt, hẹn, nhận, đi, khóc, sầu, mệt, chờ, ng-ời, sinh, cho, đem, thân, gió, mây, xuân, đêm, ngày, hồn, lá, nghe, sáng, ch-a, rét, thuyền,… Điều này tạo cho phong cách thơ Huy
Cận rễ hiểu khác với các nhà thơ khác nh- Vũ Hoàng Ch-ơng, Chế Lan Viên
- Số l-ợng từ ghép trong tập thơ Lửa thiêng chiếm số l-ợng lớn sau từ đơn
trong từ ngữ xét về mặt cấu tạo, gồm 1.617 từ (chiếm 33,9%) Trong đó có cả từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa
Ví dụ: kêu than, khô héo, yêu th-ơng, trông mong, thịt x-ơng… (từ ghép hợp nghĩa); đ-ờng làng, đ-ờng thơm, loài ng-ời, thơm ngát, sáng chói…(từ ghép phân
nghĩa)
Trong Lửa thiêng từ ghép là từ thuần Việt chiếm số l-ợng lớn Các từ ghép
thuần Việt đ-ợc Huy Cận sử dụng tạo sự gần gũi, dễ hiểu của thơ ông đối với ng-ời
đọc
- Trong lớp từ vựng xét về mặt cấu tạo, chúng tôi nhận thấy điểm nổi bật nhất
trong tập Lửa thiêng là lớp từ láy, tuy l-ợng từ láy trong tập thơ chiếm tỉ lệ không
cao so với từ đơn và từ ghép Chính lớp từ láy đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tâm trạng, cảm xúc nhà thơ cũng nh- thể hiện tính nhạc trong tập thơ
2.1.2.2 Từ ngữ trong tập “Lửa thiêng“ nhìn từ góc độ phạm vi sử dụng
Vận dụng cách hiểu về từ xét từ góc độ nguồn gốc nh- trên, chúng tôi đi vào khảo
sát từ ngữ ở tập Lửa thiêng và thu đ-ợc kết quả nh- sau:
a Kết quả:
Từ địa ph-ơng: Tiến hành khảo sát tập thơ Lửa thiêng, chúng tôi thống kê
đ-ợc 33 từ địa ph-ơng (với 53 lần sử dụng), chiếm 1,1%
Từ toàn dân: Qua khảo sát chúng tôi thống kê đ-ợc trong tập Lửa thiêng có
4.708 từ toàn dân, chiếm 98,9%
Kết quả thống kê từ ngữ trong tập Lửa thiêng theo phạm vi sử dụng có thể
tóm tắt bằng bảng sau:
Trang 30Bảng 2: Từ ngữ xét theo phạm vi sử dụng trong tập Lửa thiêng
- Từ địa ph-ơng trong tập thơ Lửa thiêng là không nhiều, chỉ có 33 từ (với 53
lần sử dụng), chiếm tỉ lệ 1,1% nh-ng đã phần nào mang lại sắc tháI tu từ cho tập thơ
Cũng nh- những con ng-ời bình th-ờng khác, nhiều nhà văn th-ờng neo đậu tâm hồn mình với một địa danh, một quê h-ơng mình gắn bó Thể hiện hình bóng quê h-ơng trên trang viết là một trong những đền đáp tình nghĩa với mảnh đất mà
họ yeu th-ơng Và việc lấy ph-ơng ngữ nơi mảnh đất mình gắn bó làm ngôn ngữ biểu đạt trong tác phẩm cũng là một h-ớng đi mà nhiều nhà văn lựa chọn Đọc Hồ Biểu Chánh là nhận thấy chất Nam Bộ trong hệ thống từ địa ph-ơng đ-ợc sử dụng dày đặc trong tác phẩm Giọng văn Tô Hoài cho biết ông là nhà văn của đất Kinh
kỳ Tràng An ngàn năm văn vật, gần với ngôn ngữ chuẩn về mặt ngữ âm nh-ng có thể nhận ra cái riêng của vốn từ vựng ngữ nghĩa của một vùng ph-ơng ngữ Tác giả Huy Cận là con ng-ời gắn với vùng Bắc Trung bộ, lời ăn tiếng nói của con ng-ời nơi đây đã có phần ảnh h-ởng đến thơ ông và đem lại giá trị thẩm mỹ nhất định
- Trong lớp từ xét theo phạm vi sử dụng, từ toàn dân chiếm số l-ợng hầu hết trong tập thơ (98,9%) Từ toàn dân trong tập thơ đ-ợc Huy Cận sử dụng nhằm biểu thị những sự vật, hiện t-ợng hay khái niệm trong đời sống Chẳng hạn, những từ chỉ
hiện t-ợng thiên nhiên: nắng, m-a, núi, sông, biển, hoa, lá,…; những từ chỉ sự vật
Trang 31hiện t-ợng gắn liền với đời sống: nhà, đ-ờng, làng,…; những từ chỉ hoạt động thông th-ờng: khóc, nói, c-ời, đi, chạy, sống, chết,…
2.1.2.3 Từ ngữ trong tập “Lửa thiêng“ nhìn từ góc độ nguồn gốc
Về mặt nguồn gốc, tập thơ Lửa thiêng của Huy cận có sử dụng cả từ thuần
Việt và từ vay m-ợn Từ vay m-ợn trong tập thơ chỉ có từ Hán Việt
a Kết quả
-Từ Hán Việt: Tiến hành khảo sát tập Lửa thiêng, chúng tôi thống kê đ-ợc
158 từ Hán Việt (với 237 lần sử dụng), chiến tỉ lệ 5%
-Từ thuần Việt: Trong tập thơ Lửa thiêng có 4524 từ thuần Việt, chiếm 95%
Kết quả thống kê từ ngữ theo nguồn gốc có thể tóm tắt bằng bảng sau:
Bảng 3: Từ ngữ theo nguồn gốc trong tập Lửa thiêng
-Từ thuần Việt trong tập Lửa thiêng chiếm số l-ợng lớn (95%) trong tổng số
từ xét về mặt nguồn gốc Với số l-ợng từ thuần Việt nhiều đã có tác dụng làm cho tập thơ gần gũi dễ hiểu đối với ng-ời đọc
-Từ Hán Việt trong tập Lửa thiêng chiếm tỉ lệ không cao trong lớp từ xét về
nguồn gốc (5%) nh-ng đã mang lại giá trị ngữ nghĩa cho tập thơ Từ Hán Việt đ-ợc Huy Cận sử dụng nhìn chung không xa lạ với ngôn ngữ hàng ngày làm nên sắc thái thơ Huy Cận dễ hiểu, gần gũi nh-ng không làm thơ Huy Cận nôm na vì thế thơ ông
có sự hài hoà
Trang 322.1.2.4 Từ ngữ trong tập “Lửa thiêng“ nhìn từ góc độ ngữ nghĩa
Khi đi vào tìm hiểu, khảo sát từ ngữ ở góc độ ngữ nghĩa chúng tôi thấy có ba
tr-ờng nghĩa nổi bật nhất trong tập Lửa thiêng của Huy Cận là: Tr-ờng cô đơn,
tr-ờng thời gian, tr-ờng không gian
a Kết quả:
* Tr-ờng cô đơn
Qua khảo sát chúng tôi thống kê đ-ợc lớp từ thuộc tr-ờng nghĩa chỉ cô đơn trong
tập Lửa thiêng của Huy Cận là 82 từ với 208 lần sử dụng
Ví dụ: cô đơn, cô độc, cách trở, l-u lạc, lìa xa, lạc loài, lệ đắng, lạnh teo,
đau buồn đơn chiếc, tàn rơi, thê l-ơng, tiêu điều, đau th-ơng, bơ vơ, hiu quạnh, hiu hắt,…
* Tr-ờng thời gian
Qua khảo sát chúng tôi thống kê đ-ợc lớp từ thuộc tr-ờng nghĩa thời gian là
Nhìn vào kết quả thống kê trên ta thấy rằng:
Trong ba tr-ờng từ vựng thì lớp từ thuộc tr-ờng từ vựng chỉ không gian có số
l-ợng nhiều nhất Điều này cũng dễ hiểu bởi cảm hứng bao trùm tập thơ Lửa thiêng
là cảm hứng không gian Sự có mặt với một số l-ợng lớn các từ chỉ không gian cho
thấy phần nào thi pháp thơ Huy Cận trong tập Lửa thiêng.Ông luôn tạo ra không
gian mênh mông, xa, sâu vời vợi không cùng để làm nổi bật cái cô đơn, cái tâm
Trang 33trạng buồn, cái sầu thiên cổ Lớp từ chỉ không gian đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung nghệ thuật đó
Tr-ờng từ vựng chỉ sự cô đơn có số l-ợng từ cũng khá cao bởi hồn thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng tháng Tám luôn mang một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn đó
đ-ợc thể hiện qua ngôn ngữ, đặc biệt đ-ợc thể hiện trong tập thơ Lửa thiêng
Tr-ờng từ vựng chỉ thời gian trong tập thơ Lửa thiêng tuy số l-ợng từ không
cao bằng lớp từ thuộc hai tr-ờng nghĩa trên nh-ng cũng đóng một vai trò quan trọng
để thể hiện đặc tr-ng từ ngữ thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng Nỗi buồn của Huy Cận luôn đ-ợc thể hiện qua hình ảnh không gian vô tận, thời gian dằng dặc, không gian
và thời gian gắn với nhau cùng thể hiện tâm trạng nên vì thế, bên cạnh lớp từ chỉ không gian, các từ chỉ thời gian cũng chiếm số l-ợng lớn đã góp phần thể hiện tâm trạng của tác giả
2.2 Các lớp từ thể hiện sự lựa chọn của tác giả trong tập thơ “Lửa thiêng“
Chúng tôi sẽ đi vào hai lớp từ là từ láy và từ Hán Việt Tuy hai lớp từ này chiếm tỷ lệ không cao so với các lớp từ ngữ khác nh-ng có dấu ấn về sự lựa chọn của tác giả rõ nét và qua cách dùng của nhà thơ đã tạo nên những giá trị nghệ thuật
đặc sắc, đó là một nẽt đặc trưng vẹ tú ngừ cùa tập “ Lụa thiêng”
Trong b¯i “Về những từ gọi là láy” trong tiếng việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2,
1978), giáo s- Hoàng Tuệ viết:
“Nên hiều r´ng “l²y” đó là một ph-ơng thức cấu tạo những từ mà trong đó có
sự t-ơng quan âm – nghĩa nhất định, láy là một sự hoà phối âm có giá trị biểu trưng ho²”
Trong cuốn “Từ vựng “ ngữ nghĩa tiếng Việt“ (NXBGD, H.1981), Đỗ Hữu
Châu cho rằng:
Trang 34Từ láy là những từ đ-ợc cấu tạo theo ph-ơng thức láy, đó là ph-ơng thức lặp lại toàn lại hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh)
Trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”, Gi²o sư Nguyển Thiến Gi²p viễt:
“Ngừ l²y âm l¯ nhừng đơn vị hệnh th¯nh do sữ lặp l³i ho¯n to¯n hay lặp l³i cõ sữ
kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hoà về ngữ
âm, vúa cõ gi² trị gới c°m, gới t°”
Trong cuỗn “Từ láy tiếng Việt“ (NXB KHXH-Hà Nội, 1985) Hoàng Văn
H¯nh cðng đưa ra ỷ kiễn cùa mệnh “Tú l²y l¯ tú đước cấu t³o b´ng c²ch nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vúa đỗi, h¯i ho¯ vỡi nhau vẹ âm v¯ vẹ nghĩa, cõ gi² trị biều trưng ho²”
Trong cuỗn “Ngữ pháp tiếng Việt” (NXB GD, H 2002) GS Đỗ Thị Kim Liên
viết: “Tú l²y l¯ nhừng tú đước cấu t³o dữa trên phương thửc l²y ngừ âm”
Dựa vào quan niệm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là ý kiến của Đỗ Hữu Châu, chúng tôi đ-a ra cách hiểu của mình về lớp từ láy tiếng Việt đó là những từ
đ-ợc tạo ra theo ph-ơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận âm thanh của âm tiết, với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh và có giá trị biểu tr-ng hoá
b Đặc tr-ng của từ láy
* Đặc tr-ng về cấu tạo
Từ láy đ-ợc tạo ra theo ph-ơng thức láy (điệp và đối) nên có sự hài hoà về
âm thanh Căn cứ vào mức độ âm thanh đ-ợc láy lại, từ láy chia làm hai loại :
- Từ láy hoàn toàn : là từ láy mà toàn bộ âm thanh đ-ợc láy lại
Ví dụ : xanh xanh, xinh xinh, cao cao, gật gật, ngày ngày
- Từ láy bộ phận: là từ láy mà một bộ phận âm thanh đ-ợc láy lại
Từ láy bộ phận bao gồm:
+ Từ láy phụ âm đầu (phụ âm đầu đ-ợc láy lại) Ví dụ: thấp thỏm, long lanh, nhí nhảnh, no nê
Trang 35+ Từ láy phần vần (vần đ-ợc láy lại) Ví dụ : lênh khênh, chênh vênh, liểng xiểng, cập rập, lẫm chẫm, chơ vơ, chon von
* Đặc tr-ng về ngữ nghĩa
Xết về tính chất và mức độ biểu tr-ng hoá có thể chia từ láy làm 3 loại :
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm giản đơn: Đây là những từ t-ợng thanh, từ tiếng vang mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy
Ví dụ: tu hú, cút kít, xào xạc, meo meo, gâu gâu, lộc cộc
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
Đặc điểm của từ láy này là không thấy hoặc khó thấy tiếng gốc mang nghĩa
và từ láy đ-ợc nhận thức nh- một chỉnh thể Tuy phần nhiều không thể dựa vào tiếng gốc để giải thích nghĩa của từ nh-ng về mặt cấu tạo của từ thì lại có sự hoà phối ngữ âm đ-ợc cách điệu hoá nên có giá trị tạo nghĩa, tức có tác dụng gợi tả, gợi
ý và biểu cảm Đó là hiệu quả của cơ chế láy.Từ láy loại này cũng miêu tả đặc
điểm tính chất sự vật nh-ng dặc điểm, tính chất đó đã đ-ợc nhìn nhận qua tâm trạng của con ng-ời,đó cũng là lý do để ng-ời ta gọi đây là từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
Ví dụ: lôi thôi, đủng đỉnh, luộm thuộm, lác đác, bâng khuâng
- Từ láy vừa biểu tr-ng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa là từ mà nghĩa của nó có thể giải thích đ-ợc không chỉ nhờ nghĩa của tiếng gốc mà còn nhờ giá trị tạo nghĩa (tức giá trị biểu tr-ng hoá) của sự hoà phối ngữ âm, của các bộ phận ngữ âm nh- khuôn vần, trong cấu tạo của nó Nói cách khác, ý nghĩa của từ láy đ-ợc hình thành trên cơ sở của yếu tố gốc, còn yếu tố láy và sự láy ngữ âm( khuôn vần, phụ âm) đem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó cho từ, làm cho ý nghĩa của từ láy khác với ý nghĩa của yếu tố láy khi đứng riêng nh- một từ
Ví dụ: đo đỏ, xanh xanh, đèm đẹp, vuông vắn, tròn trặn,ngay ngắn, vừa vặn,
c Vai trò của từ láy trong tác phẩm văn ch-ơng
Mỗi từ láy tiềm tàng chứa đựng trong mình nó những ánh màu lung linh về nghĩa, phản ánh một sự tinh tế và sinh động cách cảm thụ chủ quan, cách đánh giá