1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường

114 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 790,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh TRầN THị NGọC ANH ĐặC ĐIểM Từ NGữ Và CÂU VĂN TRONG TIểU THUYếT ThờI CủA THáNH THầN CủA HOàNG MINH TƯờNG chuyên ngành: ngôn ngữ học mã số:

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh

TRầN THị NGọC ANH

ĐặC ĐIểM Từ NGữ Và CÂU VĂN TRONG

TIểU THUYếT ThờI CủA THáNH THầN

CủA HOàNG MINH TƯờNG

chuyên ngành: ngôn ngữ học

mã số: 60.22.02.40

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Hoài Nguyờn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hoài Nguyên - người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi Xin được chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, trường Đại học Vinh; những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Vinh, tháng 9 năm 2012

Tác giả

Trần Thị Ngọc Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Nguồn tư liệu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Bố cục luận văn 5

Chương 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Thể loại tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết 6

1.1.1 Thể loại tiểu thuyết 6

1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết 11

1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại 15

1.3 Vài nét về tác giả Hoàng Minh Tường và tiểu thuyết Thời của thánh thần 18

1.3.1 Vài nét về tác giả 18

1.3.2 Tiểu thuyết Thời của thánh thần .21

1.4 Tiểu kết chương 1 26

Chương 2: TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT THỜI CỦA THÁNH THẦN 27

2.1 Từ và hoạt động của từ trong giao tiếp 27

2.1.1 Khái quát về từ ngữ 27

2.1.2 Từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng 28

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Thời của thánh thần 29

2.2.1 Lớp từ HánViệt 29

2.2.2 Lớp từ láy 35

2.2.3 Lớp từ khẩu ngữ 44

2.2.4 Lớp từ tôn giáo 54

2.3 Tiểu kết chương 2 58

Trang 4

Chương 3: CÂU VĂN TRONG TIỂU THUYẾT THỜI CỦA THÁNH THẦN 59

3.1 Một số vấn đề về câu 59

3.1.1 Vấn đề định nghĩa câu 59

3.1.2 Vấn đề phân loại câu 62

3.2 Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo cấu tạo ngữ pháp .65

3.2.1 Kết quả thống kê phân loại .65

3.2.2 Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét về mặt cấu tạo 65

3.3 Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo mục đích nói 89

3.3.1 Kết quả thống kê, phân loại 89

3.3.2 Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần xét theo mục đích nói 89

3.4 Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN .103

TÀI LIỆU THAM KHẢO .105

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của một tác phẩm văn học, là chất liệu để

xây dựng và sáng tạo hình tượng văn học Mỗi nhà văn có một cách sử dụng vốn ngôn ngữ khác nhau nhằm tạo ra phong cách và diện mạo riêng của mình Bởi vậy, thông qua việc tìm hiểu ngôn ngữ, chúng ta có thể nhận biết được phong cách và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn Ngôn ngữ cũng là nơi in đậm dấu ấn thể loại Mỗi thể loại văn học có những đặc điểm riêng về mặt ngôn ngữ Ngôn ngữ tiểu thuyết khác ngôn ngữ truyện ngắn, ngôn ngữ văn xuôi khác ngôn ngữ thơ ca…Tìm hiểu ngôn ngữ là hướng đi đúng đắn nhất nhằm xác lập đặc trưng

của thể loại văn học Lựa chọn đề tài Đặc điểm t ng v c u văn trong tiểu

thuyết “Thời của thánh thần” của Ho ng Minh Tường, chúng tôi muốn thông

qua việc tìm hiểu từ ngữ và câu văn của một cuốn tiểu thuyết cụ thể, từ đó xác lập một vài nét đặc trưng của ngôn ngữ thể loại tiểu thuyết Đồng thời, qua việc nghiên cứu cuốn tiểu thuyết này, chúng tôi muốn nhận diện một cách đầy đủ và

có hệ thống phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết của nhà văn Hoàng Minh Tường, làm cơ sở để tìm hiểu các tác phẩm khác của nhà văn

1.2 Tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986, nền văn xuôi Việt Nam

đương đại đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Sự phát triển của thể loại tiểu thuyết được ghi nhận ở việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật và đổi mới về mặt ngôn ngữ Có được những thành tựu đó không thể không kể đến tên tuổi của một thế hệ các nhà văn như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường…Trong số đó, Hoàng Minh Tường đã khẳng định được tên tuổi và phong cách tiểu thuyết của riêng mình Ông được mệnh danh là “cây bút của làng quê viết về nông thôn có hạng” Đến với tiểu thuyết khi mới ngoài 20 tuổi, sau thành công của những tác phẩm đầu tay, trong

Trang 6

4 năm, Hoàng Minh Tường đã dồn hết tâm lực để viết nên Thời của thánh thần

Tác phẩm thực sự là một “tiếng nổ” của văn xuôi Việt Nam đương đại Xét về

mặt ngôn ngữ, Thời của thánh thần đánh dấu một bước tiến mới trong ngôn

ngữ tiểu thuyết Hoàng Minh Tường Ngôn ngữ trong tác phẩm đặc sắc, có cá tính, thể hiện được sự đổi mới tư duy tiểu thuyết theo hướng hiện đại hóa, tự do hóa, thoát khỏi những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết truyền thống Đề tài

Đặc điểm t ng v c u văn trong tiểu thuyết “Thời của thánh thần” của

Ho ng Minh Tường, thông qua việc tìm hiểu ngôn ngữ của một cuốn tiểu

thuyết cụ thể,mong muốn sẽ góp phần nhận diện sự biến đổi của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại theo hướng hiện đại hóa, là cơ sở để tìm hiểu tốt hơn các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Ra mắt độc giả từ năm 2008, Thời của thánh thần đã gây được tiếng

vang lớn và thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học

Đã có khá nhiều bài viết về cuốn tiểu thuyết này, chủ yếu đăng trên báo điện tử

và các tạp chí Đầu tiên, phải nói tới bài viết của nhà nghiên cứu Vũ Nho đăng trên vunho.com Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những nhận định khá đầy

đủ, chính xác về giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết “Thời của thánh

thần” Tiếp đến là bài Thời của thánh thần - tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam

2008? của Phương Ngọc đăng trên vietnam.net Như tên gọi của bài viết, tác

giả đã mạnh dạn gọi Thời của thánh thần là tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam

năm 2008 Đánh giá một vài giá trị cơ bản của cuốn tiểu thuyết, Phương Ngọc

cho rằng thành công lớn nhất của Thời của thánh thần là “dám đối diện với

những vùng khuất lấp, những mảng đời sống mà lâu nay nhiều người coi như vùng cấm kị, bất khả tri”[46] Các bài viết của Vũ Nho và Phương Ngọc là những bài viết sớm nhất và hiếm hoi, mở đường cho việc nghiên cứu tiểu

thuyết Thời của thánh thần

Trang 7

Không chỉ đi sâu vào phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của Thời của

thánh thần, các nhà nghiên cứu còn chú ý tới một phương diện rất đặc sắc của tác

phẩm là hệ thống nhân vật Tác giả Nguyễn Duy Liễm trong bài Về một v i nh n

vật trong Thời của thánh thần đăng trên quanvan.net đã phân tích khá kĩ lưỡng về

các nhân vật chính của tác phẩm, nêu lên những điểm hạn chế và vai trò của mỗi nhân vật trong việc tạo dựng cốt truyện Cũng nghiên cứu về nhân vật trong tiểu

thuyết Thời của thánh thần nhưng trong bài viết Thời của thánh thần qua cái nhìn

phản biện xã hội đăng trên dangvansinh.blgospot.com, tác giả Đặng Văn Sinh lại

nhìn nhận các nhân vật dưới góc nhìn là những nhân cách xã hội, đi sâu phân tích thái độ và bản chất chính trị của các nhân vật chính trong tác phẩm Ông cho rằng

văn chương Thời của thánh thần là “loại văn chương truy tìm nguồn gốc của

những sự bất cập bởi các sựkiện lịch sử tác động đến số phận dân tộc, cái sự vinh nhục của đất nước cũng như hệ quả của nền chính trị được thực thi hơn sáu mươi

năm qua không cần đào bới quá khứ cũng có thể cảm nhận được”[51] và Thời của

thánh thần đã tái hiện lại được “số phận bi đát của người trí thức Việt Nam”[51]

Đặc biệt, trong bài viết của mình, Đặng Văn Sinh đã nhận định khái quát về ngôn

ngữ của tác phẩm Ông nhận xét ngôn ngữ của Thời của thánh thần “thuộc dạng

cổ điển … văn rất đẹp Nó đẹp ở cách diễn đạt chân phương qua nghệ thuật kể đầy biểu cảm, nghệ thuật tả tâm lí sắc sảo cùng với những đoạn bình luận ngoại đề đầy trách nhiệm công dân” [51] Nhận định này là cơ sở rất quan trọng đề nghiên cứu

ngôn ngữ tiểu thuyết Thời của thánh thần

Một hướng nghiên cứu khác là bàn về hiện thực được phản ánh trong

Thời của thánh thần Hướng nghiên cứu này đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận

xung quanh vấn đề liệu Hoàng Minh Tường có “bôi đen” hiện thực nước ta trong một thời kì “nhạy cảm” của lịch sử dân tộc là thời kì cải cách ruộng đất hay không? Tiêu biểu có thể kể đến bài viết của các tác giả Hà Thế và Thái Dương đăng trên tonvinhvanhoadoc.vn

Trang 8

Như vậy, tuy mới ra đời nhưng Thời của thánh thần đã thu hút được sư

quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nhiều hướng tiếp cận tác phẩm đã được

mở ra: nghiên cứu nội dung, nghệ thuật, tìm hiểu về hệ thống nhân vật và bàn

về tính chất của hiện thực được phản ánh trong cuốn tiểu thuyết này Điều đó chứng tỏ “sức nóng” và sức hấp dẫn của một tác phẩm văn xuôi đương đại Tuy

vậy, tất cả các bài viết mới chỉ nghiên cứu Thời của thánh thần ở góc độ phê

bình văn học và cũng chỉ dừng lại ở những nhận định mang tính chủ quan của người viết Đặc biệt, chưa có một bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống phương diện ngôn ngữ của tác phẩm Luận văn của chúng tôi, thông qua việc khảo sátvà phân tích giá trị biểu đạt của từ ngữ và câu văn trong

tiểu thuyết Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, hi vọng sẽ cung cấp

cho người đọc một cái nhìn hệ thống về ngôn ngữ - một phương diện đặc sắc của cuốn tiểu thuyết này

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết

Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

hiểu về tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại, luận văn khảo

sát cách tổ chức ngôn ngữ trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

- Khảo sát một số lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

- Khảo sát cách tổ chức câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chính của luận văn là cuốn tiểu thuyết Thời của thánh thần

của Hoàng Minh Tường, (2009), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội

Trang 9

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học

- Các thủ pháp miêu tả, phân tích và tổng hợp

- Phương pháp so sánh đối chiếu

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp sau:

- Lần đầu tiên, tiểu thuyết Thời của thánh thần được nghiên cứu một cách

có hệ thống từ góc nhìn ngôn ngữ học Kết quả luận văn giúp người đọc nhận biết những nét đặc sắc trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hoàng Minh Tường, là cơ sở

để nghiên cứu những tác phẩm khác của nhà văn

- Kết quả nghiên cứu về từ và câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh

thần sẽ góp phần nhận diện sự biến đổi của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam

đương đại theo hướng tự do hóa, hiện đại hóa

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Từ ngữ trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

Chương 3: Câu văn trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

Trang 10

Chương 1

NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Thể loại tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết

1.1.1 Thể loại tiểu thuyết

1.1.1.1 Quan niệm truyền thống về tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn học nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá chức năng, nhiệm vụ cũng như các trạng thái đời sống mà nó cần nắm bắt và biểu hiện Ngay đến định nghĩa tiểu thuyết, cũng có nhiều cách nhìn nhận trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng tiểu thuyết phải phản ánh chân thực hiện thực đời sống “tiểu thuyết là sự thực ở đời”; có người lại cho rằng tiểu thuyết phải tạo ra những điều phi thực; có văn phái lại khẳng định tiểu thuyết trước hết phải là một câu chuyện tưởng tượng có đầu, cuối hẳn hoi; trong khi văn phái khác lại không câu nệ trong lề lối như thế Với họ, tiểu thuyết cần phải linh hoạt, sống động và phức tạp như cuộc đời

Nhóm tác giả cuốn T điển thuật ng văn học định nghĩa tiểu thuyết (tiếng

Pháp: roman, tiếng Anh: novel, fiction) là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [19, 328]

Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết thường được viết bằng văn xuôi

và mang tính cách hiện thực nhằm miêu tả một cách đầy đủ, trung thực toàn bộ đời sống xã hội Một cuốn tiểu thuyết được xem như “tấm gương lớn đi trên đường cái” và nhà tiểu thuyết là “người thư kí trung thành của thời đại” Thực tiễn phát triển của tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XIX đã chứng minh điều đó Tiểu

Trang 11

đời sống xã hội rộng lớn và phức tạp,“bộc lộ toàn bộ những nguyên tắc thẩm mỹ của những đặc tính loại hình của chủ nghĩa hiện thực” Đời sống được nhìn qua lăng kính hiện thực của nhà văn Sự trung thành với thực tại trở thành yêu cầu chủ đạo của một tác phẩm văn học Sự miêu tả không còn mang màu sắc ước lệ tượng trưng mà nhìn thẳng vào hiện thực, phản ánh đúng hiện thực, nhất là hiện thực đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Tính hư cấu của một tác phẩm nghệ thuật phải nhường chỗ trước sự tái hiện các sự việc và con người mà tác giả biết rõ, lựa chọn vào tác phẩm của mình những sự kiện và con người có thực Nhà văn không có nhu cầu hướng nội mà hướng ngoại, hướng đến cộng đồng, tập thể Thực tiễn thời đại yêu cầu các nhà tiểu thuyết phải thể hiện trong tác phẩm của mình “cái lập trường xã hội của tác giả”

Tiểu thuyết là thể loại văn học nằm trong mô hình đại tự sự với độ dài, dung lượng khá đồ sộ Để người đọc lĩnh hội trọn vẹn nội dung, một cuốn tiểu thuyết nhất thiết phải được xây dựng dựa trên một cốt truyện Cốt truyện là yếu

tố cơ bản, quyết định thành công của một cuốn tiểu thuyết Đó là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định” tập trung bộc lộ tính cách nhân vật và thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm Tiểu thuyết truyền thống bắt buộc phải phản ánh cuộc sống thông qua cốt truyện Các

sự kiện, chi tiết, tình huống đều được sắp xếp theo trình tự trước sau, không có

sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại, cốt truyện hoàn toàn không đi theo sự hồi tưởng của nhân vật…với mục đích tập trung làm nổi bật vai trò trung tâm của nhân vật chính Việc xây dựng cuốn tiểu thuyết theo cốt truyện truyền thống sẽ giúp người đọc lĩnh hội nội dung tác phẩm dễ dàng hơn

Về phương diện nhân vật, theo quan niệm truyền thống, nhân vật tiểu thuyết là những nhân vật đại biểu, đại diện cho phẩm chất hay tính cách của một lớp người nào đó Đặc biệt, phẩm chất tốt - xấu, thiện - ác của nhân vật được đẩy lên ở mức tuyệt đối, ranh giới giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

Trang 12

thường được phân chia rất rõ ràng, khiến người đọc khi nhắc đến nhân vật là sẽ

nhớ ngay đến phẩm chất của nhân vật đó Trong Tam quốc diễn nghĩa có nhân

vật “Khổng Minh đại diện cho tài trí mưu lược, Tào Tháo đại diện cho thói đa nghi, Lã Bố đại diện cho uy vũ…” (Vũ Bằng) Nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống bao giờ cũng được xây dựng đến mức tối cao hay tối hèn, không ai có thể làm những việc cừ khôi hay hèn kém hơn được

Nhân vật của tiểu thuyết truyền thống thể hiện sức mạnh của mình ở một khía cạnh, một bình diện hay phẩm chất nào đó tại một thời điểm cụ thể, ít được khắc họa về mặt tâm lý Để làm nổi bật chủ đề tư tưởng tác phẩm, nhà tiểu thuyết thường tập trung miêu tả nhân vật ở mặt ngoại hình, tính cách, hành động còn thế giới nội tâm phong phú, phức tạp bên trong thường ít khi được chú ý đến Bởi vậy, tiểu thuyết cổ điển chỉ hướng đến giọng văn đơn thanh và không xác lập được giọng văn đa thanh trong tác phẩm Người đọc hoàn toàn thụ động trong việc tiếp nhận nội dung tác phẩm Họ không có quyền đối thoại mà chỉ như

“cỗ máy” làm theo lập trình đã định sẵn, đọc và chiếm lĩnh tác phẩm theo những

gì mà nhà văn đã vạch ra Với người đọc tiểu thuyết truyền thống, nội dung tác phẩm là chân lí, họ bắt buộc phải tin theo nội dung đó Tiểu thuyết truyền thống hấp dẫn độc giả bởi cách “kể” nội dung của tác giả hơn là vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ

Với những đặc điểm cơ bản trên, tiểu thuyết truyền thống đã hạn chế rất nhiều cá tính sáng tạo của nhà văn Những quan niệm truyền thống về tiểu thuyết dần dần không còn phù hợp với thời đại mới Bởi thế, văn học hiện đại trên cơ sở

kế thừa những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết đã xác lập những điểm mới của thể loại này nhằm đáp ứng nhu cầu của người đọc về một nền tiểu thuyết hiện đại

1.1.1.2 Tiểu thuyết theo quan niệm hiện đại

Thế giới ngày một biến đổi kéo theo sự thay đổi của tư duy nghệ thuật Là loại hình văn học trung tâm, tiểu thuyết cũng không nằm ngoài quy luật đó Sự

Trang 13

thay đổi tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết bắt nguồn từ yêu cầu tái hiện triệt để cuộc sống đầy phong phú, phức tạp, dang dở Bên cạnh đó, nó cũng gắn liền với việc thay đổi tư duy nghệ thuật của nhà văn, thể hiện cách nhìn nhận, tiếp cận mới của nhà văn đối với cuộc sống và con người

Nếu tiểu thuyết truyền thống xem cốt truyện là yếu tố cơ bản, mọi vấn đề đều xoay quanh cốt truyện thì các quan niệm hiện đại lại cho rằng nhà văn có nhiệm vụ tái hiện cuộc sống với tất cả màu vẻ phong phú của nó và không nhất thiết phải xây dựng tác phẩm theo một cốt truyện định sẵn Tác phẩm không còn tuân thủ theo lối viết cũ (ra đời, phát triển và kết thúc) mà có thể được viết dựa vào dòng chảy tâm lí hay kí ức của nhân vật “phải hoặc lấy tâm lý làm gốc, giải phẫu tính tình dục vọng của cá nhân hay toàn thể” Điều quan trọng của tiểu thuyết hiện đại là nhà văn viết như thế nào chứ không phải viết cái gì Nói cách khác, tổ chức tác phẩm trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần vào sự thành công của tác phẩm

Không những thay đổi quan niệm về cốt truyện mà việc xây dựng nhân vật của tiểu thuyết hiện đại cũng có nhiều đổi mới so với tiểu thuyết truyền thống Trong xã hội hiện đại, cùng với sự đổ vỡ niềm tin vào các giá trị mà từ trước đến nay được coi như là chân lí, người ta nhận ra rằng không ai có thể là kiểu mẫu cho một loại người lý tưởng nào đó, không thể có tính cách điển hình, đại diện cho một tầng lớp người trong xã hội Mỗi người là một khuôn mặt riêng, một cá tính riêng, là sự tổng hòa của các mặt tốt - xấu, thiện - ác… Đúng như Thạch Lam đã từng nói: “Cái quan niệm “vai chính hoàn toàn” của tiểu thuyết là sai lầm Cái hoàn toàn tốt và hoàn toàn xấu không có ở trên đời… Tâm hồn người ta cũng không giản dị như một biểu hiện và bao giờ cũng có một phần bí mật…” Bởi vậy, các tiểu thuyết gia hiện đại không chú tâm xây dựng những nhân vật điển hình như trong tiểu thuyết truyền thống “Nhân vật đại biểu” không còn phù hợp với tiểu thuyết hiện đại, với việc thể hiện những con người mới với tính cách

Trang 14

đa dạng, phong phú và sinh động Nhân vật được tự do thể hiện cá tính, suy nghĩ của mình, không phải tập trung minh họa cho tư tưởng của tác giả nên đó là những con người của đời thường: “… Có một tấm lòng quảng đại nhưng lại có thể có những điểm hèn kém, có một khối óc quang minh nhưng lại có thể sa vào hầm tội lỗi” (Vũ Bằng) Nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại không còn đứng ở một khoảng cách xa vời, buộc người đọc phải ngước nhìn với con mắt tôn kính, ngưỡng mộ mà hiện lên thật gần gũi, chân thật Đó là những con người đang ngược xuôi tất bật giữa dòng đời ồn ào, náo động trong cuộc mưu sinh với bao toan tính, âu lo Những con người này cũng không sống trong một môi trường điển hình nào đó mà hiện diện giữa nhịp sống thường nhật, có thể có mặt ở mọi nơi và chuyển đổi bất kỳ khi nào nó muốn Trong tiểu thuyết của các tiểu thuyết gia đương đại như: Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hoàng Minh Tường… đã không còn bóng dáng của nhân vật điển hình nữa, nếu có thì cùng chỉ được phác họa một cách rất mơ hồ, không rõ nét Mỗi con người hiện lên là một thế giới riêng với những suy nghĩ, hành xử riêng, không trộn lẫn với bất cứ ai Tiểu thuyết hiện đại rất chú trọng vào việc miêu tả nội tâm nhân vật và dành sự quan tâm đặc biệt đối với những góc khuất trong đời sống tâm hồn con người

Không chỉ quan tâm đến việc đổi mới cách cấu tạo cốt truyện và xây dựng nhân vật, tiểu thuyết hiện đại còn chú trọng vào việc thay đổi phương thức phản ánh hiện thực Nguyên tắc quan trọng của tiểu thuyết hiện đại là tìm kiếm một phương thức phản ánh không lệ thuộc vào thực tại khách quan Theo M.Kundera, tiểu thuyết phải bóc trần tất cả những gì đằng sau tấm hào nhoáng che phủ thế giới, nó không đơn thuần miêu tả hiện thực một chiều mà phải truy tìm được những tầng sâu của ý thức con người trước những vấn đề xã hội Bởi thế giới bên trong con người là một cõi mênh mông và phong phú, nó chứa đựng tất cả những mảnh đá sắc của hiện thực thế giới rộng lớn bên ngoài Và chính

Trang 15

trong sự phơi bày và cùng với đó là sự phân tích và suy ngẫm về hiện thực mà văn học tìm thấy được sự vật lộn, trăn trở của chính bản thân con người trước những thử thách của đời sống Trên tinh thần đó, ta có thể thấy hiện thực là cái nền để bộc lộ số phận con người

Như vậy, từ quan niệm truyền thống đến cái nhìn hiện đại về tiểu thuyết

đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong tư duy nghệ thuật Trong cái nhìn dân chủ của con người hôm nay thì sứ mệnh mà nó phải đảm nhận mang tính nhân văn và nhân bản hơn Tiểu thuyết hiện đại phải thực sự trở thành một hoạt động sáng tạo độc lập, tích cực tham gia vào quá trình đổi mới và dân chủ hóa xã hội, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và nhận thức của con người về thế giới

và về chính mình

1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết

Tiểu thuyết là thể loại văn học được nghiên cứu từ rất sớm Song ngôn ngữ tiểu thuyết thì phải đến những năm 20 của thế kỉ XX mới thật sự bắt đầu được nghiên cứu một cách bài bản Đã có năm xu hướng nghiên cứu tiểu thuyết của các tác giả thời bấy giờ:

1) Xu hướng thứ nhất là chỉ phân tích “cái bè” của tác giả trong tiểu thuyết, tức là lời trực tiếp của tác giả được phân định với độ chuẩn xác khác nhau dưới góc độ tính tạo hình và tính biểu cảm thi ca thông thường và trực tiếp (những ẩn dụ, so sánh, sự lựa chọn từ ngữ…)

2) Sự phân tích phong cách học về tiểu thuyết như một chỉnh thể nghệ thuật bị đánh tráo bằng việc mô tả ngôn ngữ của nhà tiểu thuyết theo tinh thần ngôn ngữ học trung tính

3) Trong ngôn ngữ của nhà tiểu thuyết, người ta lấy ra những yếu tố đặc trưng cho trào lưu văn học nào mà người ta liệt nhà tiểu thuyết vào trào lưu văn học đó (chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa ấn tượng…)

Trang 16

4) Người ta cố gắng đi tìm phong cách cá nhân của tác giả được thể hiện qua ngôn ngữ tiểu thuyết

5) Tiểu thuyêt được xem như một thể văn hùng biện và các thủ pháp được phân tích dưới giác độ hiệu quả của hùng biện (Dẫn theo Bakhtin)

Với những cách tiếp cận ấy, có thể thấy việc nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết chưa được đặt ra một cách bài bản, có nguyên tắc Theo Bakhtin, tất cả những kiểu phân tích phong cách học ấy “ít nhiều đều xa rời những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết, xa rời những điều kiện tồn tại đặc thù của ngôn từ tiểu thuyết” [5,89] Bởi lẽ “chúng thâu tóm ngôn ngữ và phong cách nhà tiểu thuyết không phải như ngôn ngữ và phong cách tiểu thuyết mà hoặc như những biểu hiện của một cá tính nghệ thuật nhất định, cuối cùng, như một hiện tượng của ngôn ngữ thi ca nói chung”[5,89]

Việc nghiên cứu tiểu thuyết nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng là một vấn đề phức tạp và hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi Tuy vậy, có một điều chắc chắn là ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật và nó mang những đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật

- Về hệ thống tín hiệu

Ngôn ngữ phi nghệ thuật (ngôn ngữ tự nhiên) là hệ thống tín hiệu thứ nhất, mang tính toàn dân Nó được xác định như là cái mã chung, phổ biến, giúp con người diễn đạt suy nghĩ, tình cảm, là công cụ trực tiếp của giao tiếp và tư duy So với ngôn ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp hơn nhiều Ngôn ngữ nghệ thuật là

hệ thống tín hiệu thứ hai, được tạo thành nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất

- Về chức năng xã hội

Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhận chức năng giao tiếp và tư duy, những phẩm chất thẩm mỹ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ, thứ yếu, thì ở ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng, chức năng thẩm mỹ luôn đóng vai trò chính yếu, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai

Trang 17

Mặt khác, tính hệ thống đều có ở ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật song có sự khác nhau về chất Tính hệ thống của một yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật được xác định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của tác phẩm và phong cách cá nhân tác giả Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệ thống gắn với sự khu biệt của xã hội đối với ngôn ngữ

- Về bình diện nghĩa

Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diện nghĩa thì ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa, một bình diện hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn học với ý nghĩa của các từ, của các hình thức ngữ pháp, và mặt khác, hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật Phạm vi sử dụng phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuật rộng hơn ngôn ngữ phi nghệ thuật Đặc biệt, ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuật đạt đến độ chuẩn mực do hoạt động tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ của nhà văn

Do ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật nên ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang những đặc trưng chung của ngôn ngữ nghệ thuật: Tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa

Tính hình tượng là đặc trưng tiêu biểu của ngôn ngữ nghệ thuật, cũng là của ngôn ngữ tiểu thuyết Nó biểu hiện ở khả năng xây dựng các hình tượng văn học, ở khả năng truyền đạt không chỉ thông tin lôgic mà còn cả thông tin được tri giác một cách cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng)

Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật, nên nó cũng phải có tính truyền cảm Tính truyền cảm của ngôn ngữ tiểu thuyết biểu hiện ở chỗ nó làm cho người đọc, người nghe cũng có cảm giác yêu, ghét, vui, buồn… giống như người viết, người nói Đây chính là một điểm mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng Nó tạo ra sự đồng cảm sâu sắc giữa tác giả và người tiếp nhận Tuy nhiên, mức độ của sự đồng cảm còn tùy thuộc vào tài năng sử dụng ngôn ngữ của tác giả

Trang 18

Mang đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang tính cá thể hóa Đó là cái riêng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ Trên cơ

sở là vốn ngôn ngữ chung của cả cộng đồng, mỗi nhà văn lựa chọn cho mình một cách sử dụng ngôn ngữ riêng, mang dấu ấn phong cách của mình

Ngôn ngữ tiểu thuyết mang đầy đủ những đặc trưng vốn có của ngôn ngữ nghệ thuật nhưng nó vẫn có những đặc thù riêng, mang đậm dấu ấn thể loại

Ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc ngôn ngữ tự sự, xét trong sự khu biệt với ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình là sản phẩm của

sự thăng hoa của chủ thể sáng tạo nên nó thấm đẫm cảm xúc của người viết Đặc biệt là ngôn ngữ thi ca, rất giàu tính nhạc, biểu hiện ở sự cân đối của vần, nhịp Nếu ngôn ngữ của tác phẩm kịch phải có tính hành động, tính khẩu ngữ thì ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh Do vậy, ngôn ngữ tự

sự thường có nhịp điệu khoan thai chứ không gấp gáp, chạy theo hành động của nhân vật như ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ nhân vật có thể xuất hiện trực tiếp hoặc gián tiếp qua lời người trần thuật hoặc được tách, ghép, đan xen trong ngôn ngữ người trần thuật

Trên đây là những đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết với vai trò là một thể của loại hình tự sự Tuy vậy, khi tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết, phải

so sánh ngôn ngữ thể loại này với ngôn ngữ của các thể loại khác thuộc loại tự sự như truyện ngắn Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang tính trầm tĩnh, khoan thai như ngôn ngữ truyện ngắn nhưng phức tạp hơn Ngôn ngữ tiểu thuyết thường mang tính chất đa thanh Theo M.Bakhtin, trong tiểu thuyết, không chỉ tác giả mới được quyền nói mà nhân vật, với tư cách là một chủ thể độc lập, cũng có quyền sản sinh

ra các lời thoại, tranh cãi một cách bình đẳng với tác giả Nếu như trong loại hình văn xuôi đơn thanh, giọng điệu tác giả bao giờ cũng giữ vai trò thống trị, giọng điệu nhân vật bị hòa lẫn trong giọng điệu của tác giả thì trong tiểu thuyết đa thanh, mối quan hệ này rất bình đẳng Nhân vật đối thoại với tác giả, tự mình bày tỏ quan

Trang 19

điểm trước các vấn đề của đời sống xã hội Vì thế, nhân vật phải chịu trách nhiệm

về tiếng nói của mình, tác giả không thể áp đặt cái nhìn của mình vào nhân vật mà buộc phải đối thoại không dứt với các nhân vật

Bên cạnh đó, ngôn ngữ tiểu thuyết còn có một vài đặc điểm rất riêng, khácvới các thể loại văn xuôi khác Tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng phản ánh cuộc sống ở một phạm vi rộng lớn, soi chiếu đời sống ở mọi góc độ Vì vậy, ngôn ngữ tiểu thuyết có sự kết hợp, soi sáng lẫn nhau giữa các lớp ngôn ngữ: ngôn ngữ dân tộc, khẩu ngữ, từ địa phương, từ nghề nghiệp, từ ngữ chuyên ngành… Điều đó khiến tiểu thuyết trở thành thể loại văn học gần gũi nhất với đời sống con người

Tất cả những đặc trưng trên làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết mang một màu sắc khác hẳn với các thể loại khác: vừa đậm tính nghệ thuật nhưng cũng bình dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày

1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI, cùng với không khí đổi mới của đất nước, văn học nước nhà cũng đã có những bước phát triển mới Sự thay đổi trong các quan niệm về giá trị và bản chất nghệ thuật là những nhân tố quan trọng tạo nên những chuyển biến có tính chất bước ngoặt của văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng

Sau hơn 30 năm phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh với cảm hứng chung là ngợi ca cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, bắt đầu từ những năm

80 của thế kỉ XX, văn học đã chuyển sang cảm hứng thế sự đời tư, đi sâu vào khám phá những góc khuất của cuộc sống con người Là thể loại có khả năng phản ánh đời sống ở phạm vi rộng lớn, tiểu thuyết đã thực sự khởi sắc Một thế

hệ nhà văn trưởng thành từ sau chiến tranh đã mang đến luồng gió mới cho tiểu thuyết nước nhà Có thể kể đến tên tuổi của Chu Lai, Dương Hướng, Ma Văn Kháng, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Khắc Trường, Hoàng Minh Tường…Những

Trang 20

cây bút này đã đi sâu vào việc thể hiện những mảng màu đa đạng của cuộc sống, góp phần làm nên diện mạo mới của văn học đương đại

Với lối tư duy nhìn thẳng vào sự thật, các tác giả đã mạnh dạn nhìn lại hiện thực của thời kì vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những tư tưởng đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của đất nước Trong các tác

phẩm: Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà)… cái ác, cái xấu và những quan

niệm lỗi thời vẫn còn tồn tại và thậm chí có một sức mạnh vô hình, chi phối đến nhiều mặt của đời sống xã hội Lật lại quá khứ, nhìn nhận và phản ánh nó với một cái nhìn chính xác, khách quan, các nhà tiểu thuyết muốn chúng ta từ giã quá khứ một cách dứt khoát để hướng tới tương lai tốt đẹp, giàu tính nhân bản hơn Và cái nhìn thẳng vào sự thật của tiểu thuyết đương đại đều nằm trong chức năng chính là phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn trong cuộc sống của con người Các nhà tiểu thuyết hôm nay đã từ bỏ được lối nhìn dễ dãi về đời

sống và con người Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ác

mộng của Ngô Ngọc Bội đã thôi không nhìn nông thôn với cảnh điền viên, trống

dong cờ mở Nông thôn đích thực hiện ra trong tiểu thuyết của nhà văn trong khung cảnh “trời long đất lở”, rối rắm, hỗn tạp và nhìn kĩ vào nông thôn ấy, ta sẽ thấy cả xã hội Việt Nam mấy chục năm qua Bởi vậy, đọc tiểu thuyết hôm nay rất dễ có cảm giác vừa thú vị, hấp dẫn lại vừa đau xót, căm phẫn Điều đó chứng

tỏ tiểu thuyết hôm nay đã áp sát mọi vấn đề gai góc của cuộc sống, xông thẳng vào các “mắt bão” của cuộc đời và nêu lên những vấn đề cực kì quan thiết với con người thông qua những số phận có tính bi kịch

Tiểu thuyết hôm nay có một cấu trúc uyển chuyển do độ mở của nó rất rộng Do nhu cầu tiếp nhận của độc giả, tiểu thuyết hiện đại không yêu cầu phải viết dài, thường chỉ vài trăm trang và có thể “đọc một hơi” Mặt khác, khi nhà văn đào sâu vào đời sống của cá nhân một con người thì tiểu thuyết không thể

Trang 21

bành trướng nhiều tập, nhiều trang như Chiến tranh v hòa bình của L Tônxtôi,

Sông Đông êm đềm của M.Sôlôkhôp, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vỡ bờ của

Nguyễn Đình Thi…Một lý do khác khiến dung lượng tiểu thuyết dồn nén lại là bởi các nhà văn bây giờ có xu hướng phấn đấu để viết nội dung chứ không phải

kể nội dung Lớp nhà văn cao niên như Nguyễn Khải sau 1975 đã thay đổi cách

viết của mình, thiên về viết tiểu thuyết ngắn như Cha và con (1979), Gặp gỡ cuối

năm (1982), Thời gian của người (1985), Một cõi nh n gian bé tí (1989), Thượng đế thì cười (2003)… Các nhà văn trẻ tuổi hơn như Tạ Duy Anh, Trần

Chiến, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương cũng ưa thích lối viết tiểu thuyết ngắn Nhà văn Tạ Duy Anh viết: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lý là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra thế giới theo cách của nó Ở đó, con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” [56, 68]

Nhân vật trong tiểu thuyết đương đại không còn là những con người điển hình, toàn vẹn về mọi mặt như trong các tác phẩm thời kì trước mà là những con người như một thực thể đa trị Trong họ cùng một lúc có thể tồn tại rất nhiều con người, độc ác, xấu xa lẫn với phần thánh thiện, hiền lành, cái cao cả luôn tồn tại song song với cái thấp hèn… Đặc biệt, các nhà văn đi sâu vào việc phản ánh số phận con người giữa dòng chảy xô bồ của cuộc sống hiện đại Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tác giả, thể hiện cái nhìn dân chủ đối với

sự phức tạp của tính người Con người là nạn nhân của những sai lầm của lịch sử, con người sống như “người thừa” giữa nhịp chảy hối hả của cuộc sống, con người không thẳng nổi dục vọng, chạy theo tình, tiền và cuối cùng đánh mất tất cả… Họ không còn toàn vẹn, cao cả như những anh hùng trong chiến tranh mà là những con người của đời sống thực tại, sống động và gần gũi như bất cứ ai

Trang 22

Không chỉ phá vỡ nguyên tắc điển hình hóa trong việc xây dựng nhân vật

mà tiểu thuyết hiện đại còn có xu hướng giản lược nhân vật và cốt truyện Mỗi tác phẩm chỉ có một hoặc một vài nhân vật chính hoạt động trong một tuyến cốt

truyện Th n phận của tình yêu của Bảo Ninh, Đ n b xấu thì không có qu của

Y Ban, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình

Phương… là những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng giản lược nhân vật và cốt truyện của tiểu thuyết đương đại

Ý thức rõ vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong việc xây dựng tác phẩm, các nhà tiểu thuyết đương đại đã có rất nhiều cách tân trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm xây dựng tác phẩm của mình thành bản giao hưởng ngôn từ Ngôn ngữ nhân vật là sự tổng hợp các dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp người trong xã hội Nhà văn được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào một thứ ngôn ngữ duy nhất và thống nhất Ngôn ngữ tiểu thuyết là sự tổng hòa của ngôn ngữ các thể loại văn học khác nhau Nhà tiểu thuyết có thể sử dụng ngôn ngữ kịch, ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ điện ảnh, hội họa để biểu đạt thế giới theo cách của riêng mình

Sự thay đổi về tư duy nghệ thuật và những cố gắng tìm tòi của các nhà văn

đã đem đến một diện mạo mới cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại Nhiều khuynh hướng tiểu thuyết ra đời, nhiều vấn đề của đời sống xã hội được đề cập, các nhà văn cũng đã rất nhạy bén trong việc tiếp cận các khuynh hướng mới của tiểu thuyết thế giới Bên cạnh đó, những cách tân về hình thức biểu đạt, xây dựng nhân vật và sáng tạo ngôn ngữ đã giúp tiểu thuyết Việt Nam đương đại ngày một hoàn thiện hơn để xứng đáng là “cột sống” của nền văn học nước nhà

1.3 Vài nét về tác giả Hoàng Minh Tường và tiểu thuyết Thời của

thánh thần

1.3.1 Vài nét về tác giả

Trang 23

Hoàng Minh Tường sinh ngày 21 tháng 1 năm 1948 tại làng Động Phì, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1970, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hoàng Minh Tường dạy học và làm công tác lãnh đạo tại Sở Giáo dục khu

tự trị Việt Bắc (1970-1977) Từ 1977-1988, ông là phóng viên báo Người giáo viên nhân dân (nay là báo Giáo dục và Thời đại) Từ năm 1988, nhà văn làm biên tập viên của báo Văn nghệ, hiện là trưởng ban văn xuôi báo Văn nghệ

Hoàng Minh Tường là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền văn học Việt Nam đương đại Cùng với Hồ Anh Thái, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh… ông đã góp phần làm nên diện mạo mới của văn xuôi nước nhà từ sau đổi mới (1986) Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, nhà văn

đã xuất bản 12 cuốn tiểu thuyết, 7 tập truyện ngắn, 5 tập bút kí, phóng sự Tên tuổi

của ông gắn liền với các tác phầm như Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão, Thời của

thánh thần…Ông cũng giành nhiều giải thưởng văn học, trong đó, đáng kể nhất là

giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc

Bén duyên, “tán tỉnh nàng Thơ” ngay từ buổi đầu đến với văn chương nhưng Hoàng Minh Tường lại thành công nhất và được độc giả biết đến nhiều

nhất ở thể loại tiểu thuyết Từ tiểu thuyết đầu tay Đầu sông đến Thời của thánh

thần, nhà văn đã chứng minh được sức viết dồi dào của mình, đặc biệt là ở mảng

đề tài về nông thôn Tự nhận mình là người “chung tình với đề tài nông thôn”, đặt nhiều tâm huyết vào mảng đề tài này nên nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ

đi vào trang văn Hoàng Minh Tường vừa chân thật, gần gũi lại vừa mang nét điển hình, không trộn lẫn với hình ảnh của bất cứ miền quê nào Đọc tiểu thuyết của nhà văn, người đọc hiểu thêm về văn văn hóa và con người xứ Bắc Nông thôn vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trong tiểu thuyết Hoàng Minh Tường

luôn được đặt trong những thời điểm lịch sử đặc biệt Thủy hỏa đạo tặc viết về

miền đất ấy trong những năm 80 của thế kỉ trước Đó là giai đoạn khốn khó nhất

Trang 24

của bà con nông dân, phải khoán chui lén lút, cuộc sống vô cùng quẫn bách Đó

là cuốn tiểu thuyết “rất nóng”, được viết vào thời điểm cả nước đang xôn xao với

sự kiện bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, ông Kim Ngọc bị khép tội “chống đường lối”

vì chủ trương cải cách nông nghiệp Tác phẩm đã bám sát hiện thực nông thôn,

có tính phản biện mạnh mẽ Cũng bởi lẽ đó mà Thủy hỏa đạo tặc viết xong năm

1982 nhưng mãi đến năm 1996 mới được xuất bản Cùng chung đề tài với Thủy

hỏa đạo tặc nhưng Thời của thánh thần lại lấy bối cảnh những đất nước sau năm

1954 làm không gian phản ánh chính Một lần nữa, nông thôn miền Bắc lại hiện lên trong một thời kì lịch sử “nhạy cảm” của đất nước: Cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành vào những năm 1953-1956 Không khí căng thẳng, những sai lầm

về chủ trương, đường lối được thể hiện cụ thể, sinh động qua những biến cố, mất mát đau thương của gia đình dòng họ Nguyễn Kỳ Hình ảnh tan hoang của đại gia đình ấy sau cuộc đấu tố, xử tội của chính quyền cũng chính là một phần của nông thôn miền Bắc trong những năm sau kháng chiến chống Pháp, khi chúng ta bắt tay vào xây dựng lại đất nước nhưng lại vận dụng một cách giáo điều, máy móc mô hình “thổ địa cách mạng” của Trung Quốc dẫn đến những hậu quả đau lòng Thẳng thắn, trung thực, Hoàng Minh Tường đã dũng cảm lật lại quá khứ, viết lại nó với tâm huyết của một nhà văn chân chính nên tiểu thuyết của ông vừa

có chiều sâu lại vừa độc đáo, mang đậm phong cách của tác giả

Viết về quá khứ ở những thời điểm lịch sử mà bấy lâu nay văn học nước nhà né tránh, đối mặt với những vấn đề chính trị nhạy cảm, tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường thường mang tính phản biện, tính luận đề sâu sắc Ông viết về lịch sử với cái nhìn khách quan, để cho nhân vật - người trong cuộc tự bày tỏ hoặc đối thoại với nhau để làm rõ nội dung tư tưởng của tác phẩm Tác giả thường chọn những vấn đề gai góc của lịch sử, phơi bày sự thật của nó và để độc giả tự chiêm nghiệm về một vấn đề mà bấy lâu nay lịch sử nước nhà có cách nhìn và cách viết khác Tính phản biện lịch sử của tiểu thuyết Hoàng Minh Tường thường được thể

Trang 25

hiện qua hệ thống nhân vật Thông qua những thăng trầm của cuộc đời họ dưới tác động của những biến động thời cuộc, tác giả đã cho thấy bộ mặt của lịch sử, một lịch sử được lưu giữ trong chuỗi kí ức của các thế hệ và bấy lâu nay không được nhắc đến trong các văn bản lịch sử chính thống

Là một trong những gương mặt tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, chịu ảnh hưởng lối viết mới của tiểu thuyết hiện đại nhưng về mặt sử dụng ngôn ngữ, Hoàng Minh Tường lại đi theo lối viết truyền thống Văn phong tác giả thường “lịch lãm, nhẹ nhàng êm ái mà lại khúc chiết, thâm trầm, đủ cho người đọc suy ngẫm…”[39] Chính lối viết giản dị, khiêm nhường ấy đã tạo nên gương mặt riêng của Hoàng Minh Tường trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại - mộc mạc, chân chất nhưng rất đỗi đằm thắm, chân tình

1.3.2 Tiểu thuyết Thời của thánh thần

Thời của thánh thần là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu, được biết

đến nhiều nhất của Hoàng Minh Tường Ra mắt độc giả từ năm 2008, tác phẩm

đã gây được tiếng vang lớn, thu hút sự quan tâm, chú ý đặc biệt của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học bởi nó đã đề cập đến những vấn đề “nhạy cảm” về một thời kì đầy biến động của lịch sử dân tộc Tác phẩm là câu chuyện

về một gia đình vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng suốt nửa sau thế kỉ XX Bốn anh em trai, ba con đẻ, một con nuôi, sau Cách mạng tháng Tám, mỗi người chọn cho mình một con đường, vinh - nhục, sướng - khổ cùng với con đường đó Người trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp, người là nhà thơ, kẻ bơ vơ phát vãng nơi đất khách quê người, người ở lại làm ruộng lo hương hỏa cha ông Mỗi người một tính cách, một cách sống khác nhau nhưng đều thể hiện cách nhìn nhận đa chiều của tác giả về một thời kì lịch sử được ghi nhớ là hào hùng, oanh

liệt trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam Với Thời của thánh thần,

những thập niên cuối của thế kỉ trước không chỉ có hình ảnh oai hùng của cả dân tộc mang trong mình chủ nghĩa anh hùng cách mạng nhất tề đứng lên đánh giặc

Trang 26

với mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mà còn có cuộc cải cách ruộng đất, đấu tranh chống nhân văn giai phẩm, chủ nghĩa xét lại, hòa hợp dân tộc sau chiến tranh… Đó là “những mảng đời sống mà lâu nay nhiều người coi như vùng cấm kỵ bất khả tri” nhưng đã được Hoàng Minh Tường viết ra với một tinh thần nhập thế, sự am hiểu lịch sử sâu sắc Bởi vậy, tiểu thuyết không rơi vào khuôn mẫu buồn tẻ, một chiều mà lôi cuốn, gây được hứng thú trong lòng độc giả

Được đánh giá là “một saga về gia đình giản dị, khiêm nhường” [39]

nhưng Thời của thánh thần lại đề cập đến một vấn đề mà bấy lâu nay văn học

nước nhà dường như lảng tránh hoặc ngại ngùng khi nhắc đến Đó là những sai lầm trong “chiến dịch” cưỡng bức, đấu tố tầng lớp địa chủ, cường hào trong thời

kì cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỉ trước Sự đỗ vỡ và những bi kịch đau lòng của đại gia đình dòng họ Nguyễn Kỳ - một dòng họ danh giá, tiêu biểu cho nét đẹp truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ là minh chứng tiêu biểu cho những sai lầm trong phút chốc của lịch sử nhưng lại để lại hậu quả nghiêm trọng, lâu dài cho dân tộc Là những địa chủ yêu nước, không sợ nguy hiểm, sẵn sàng hoạt động hai mang để lấy thông tin từ giặc nhưng cuối cùng Hội Thiện, Nhiên Biểu, Cử Phúc đều bị đem ra đấu tố, thanh trừng và chết một cách nhục nhã, đau đớn bởi chính bàn tay của những người cách mạng Một nông thôn nhếch nhác những năm 50 với những “cuộc đấu tố đầy chất bi, hài, vừa sặc mùi thế tục vừa đầy ắp chất hài hước và cảm hứng sáng tạo dân gian” [60,154] đã được Hoàng

Minh Tường miêu tả một cách chân thực, sống động trong Thời của thánh thần Cùng với Ba người khác của Tô Hoài, Ác mộng của Ngô Ngọc Bội, Sắp cưới của

Vũ Bão…, Thời của thánh thần đã tiếp nối những trang nhức nhối về nông thôn

nước ta thời kì cải cách ruộng đất Một thời kì đau thương của lịch sử dân tộc được tác giả nghiền ngẫm, viết nên bằng một cái nhìn điềm tĩnh và xót xa nhưng không kém phần sắc sảo, tinh tế, thể hiện được tính phản biện, tính luận đề sâu sắc của tác phẩm

Trang 27

Cùng với vấn đề cải cách ruộng đất, một góc tối khác của lịch sử dân tộc

là “vụ án Nhân văn giai phẩm” cũng được Hoàng Minh Tường đặt ra trong tác phẩm Thông qua số phận của nhân vật Nguyễn Kỳ Vỹ - một nhà thơ có tài nhưng hết lần này đến lượt khác bị trù dập, thậm chí bị đưa vào trại cải tạo và cuối cùng trở thành một phế nhân, tác giả đã phê phán sâu sắc cách làm việc mang tính quy chụp và đặc biệt thiếu tinh thần nhân văn của một bộ phận cán bộ cách mạng nước ta lúc bấy giờ Sứ mệnh giải phóng dân tộc đã vô tình đặt lên vai những người cách mạng quá nhiều đặc ân đặc lợi, biến họ trở thành những con người có khả năng “biến những con người có tài năng, tâm huyết thành nạn nhân của những cuộc thanh trừng, thành những phế nhân về tư duy và nhận thức, thành những kẻ ngoài cuộc…” [60,419] Không né tránh sự thật đau thương này, Hoàng Minh Tường đã thẳng thắn đối diện và phản ánh nó một cách trung thực, gây nhiều ám ảnh cho người đọc về số phận nhỏ bé, mong manh của con người giữa dòng chảy vô bờ của lịch sử

Là cuốn tiểu thuyết có dung lượng khá lớn, Thời của thánh thần không chỉ

viết về số phận con người trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc mà còn đề cập đến những nhiều vấn đề nổi bật khác của lịch sử như vấn đề người Việt lưu vong ra nước ngoài sau năm 1975, những thay đổi của đất nước thời kì đổi mới Là người đã từng làm việc cho chính quyền Mỹ - ngụy, sau chiến tranh, mặc dù tỏ thái độ hết sức hợp tác nhưng Nguyễn Kỳ Vọng không được chính quyền cách mạng tin dùng, anh luôn sống trong tình trạng bị áp đặt, ức chế Cả gia đình anh phải vượt biên ra nươc ngoài nhưng cuối cùng con gái của Vọng chết, vợ chồng ly hôn, mãi mãi họ không tìm được hạnh phúc cho mình Một lần nữa, con người lại trở thành nạn nhân của chiến tranh, hứng chịu tất cả những góc khuất tăm tối của chiến tranh

Hiện trạng đất nước những năm đầu đổi mới cũng là một vấn đề được Hoàng Minh Tường đặc biệt quan tâm Nhà văn đã không ngần ngại chỉ ra rằng:

Trang 28

“Trong khi thế giới đang đi trên một đại lộ rộng lớn với đủ làn đường cho các phương tiện có động cơ, tốc độ khác nhau thì riêng chúng ta lại chọn một con đường vô định” [60,590] Và hệ quả của nó là nền kinh tế ngày càng kiệt quệ, cơ chế bao cấp vô tình đã tạo ra những con người lười nhác trong tư duy và hành động dẫn đến việc hình thành một nền kinh tế kém phát triển, mức lạm phát năm

1986 đã lên tới 780% Những con người của thời đại cách mạng như nhân vật Chiến Thắng Lợi bỗng trở nên bơ vơ, lạc lõng giữa dòng chảy cuồn cuộn của nền kinh tế thị trường Áp đặt những chỉ thị, thông tư và đặc biệt là lối sống giáo điều, nặng về hình thức vào cơ chế thị trường hôm nay, tất yếu sẽ tụt hậu với thế

giới Đó là một thông điệp mà Hoàng Minh Tường muốn gửi gắm qua Thời của

thánh thần

Không chỉ lôi cuốn người đọc bởi cách nhìn nhận, đánh giá thẳng thắn và

trung thực về những góc khuất của lịch sử đất nước mà Thời của thánh thần còn

gây ấn tượng đậm nét với những thành công về mặt nghệ thuật Tiểu thuyết đã xây dựng được một hệ thống nhân vật bao gồm nhiều thế hệ trong một đại gia đình Mỗi người một tích cách, một suy nghĩ, thể hiện cách nhìn đa chiều về thời cuộc của tác giả Nếu người anh cả Nguyễn Kỳ Khôi xem cuộc chiến thần thánh của dân tộc là trường học cộng sản, nơi rèn giũa phẩm chất và đạo đức cách mạng thì với hai người em Nguyễn Kỳ Vỹ, Nguyễn Kỳ Vọng, cuộc chiến ấy lại

là nỗi đau lớn nhất cuộc đời họ Có tài năng, có nhiệt huyết cống hiến cho Tổ quốc nhưng không được tin tưởng, đi qua chiến tranh, họ trở thành những kẻ tàn phế, bơ vơ, phát vãng nơi xứ người Trở về từ ánh hào quang, Nguyễn Kỳ Khôi cảm thấy lạc lõng, cô đơn giữa lối sống, suy nghĩ theo cơ chế thị trường của lớp con cháu Ông trở nên cổ hủ, không hợp thời, không tìm được tiếng nói chung với chính những người ruột thịt của mình Những ngỡ ngàng, thất vọng của Nguyễn Kỳ Khôi được biểu hiện cụ thể qua diễn biến tâm lí, nỗi đau, sự trăn trở với thời cuộc của một người đã từng là yếu nhân trong chiến tranh giải phóng

Trang 29

dân tộc Thời của thánh thần có những trang phân tích tâm lí sắc sảo, nhân vật tự

đối thoại với lòng mình, thể hiện suy nghĩ của bản thân về thân phận con người trong chiến tranh, về những thay đổi ngỡ ngàng của đất nước sau chiến tranh… Những con người trong tác phẩm hiện lên với những nét tâm lí rất chân thực đồng thời lại như những con người đại diện cho tiếng nói của thời đại Hoàng Minh Tường không xây dựng nhân vật trở thành những cái loa phát ngôn cho tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà thông qua hành động, suy nghĩ, qua quá trình chuyển biến về mặt nhận thức, nhà văn để nhân vật tự bộc lộ cá tính

Về mặt ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Đặng Văn Sinh nhận xét: “Ngôn ngữ

của Thời của thánh thần thuộc dạng cổ điển, không có mấy sáng tạo nhưng quả

thật, văn rất đẹp Nó đẹp ở cách diễn đạt chân phương thông qua nghệ thuật kể đầy biểu cảm…” [51] Không sử dụng nhiều cách diễn đạt cầu kì, nhiều kiểu câu

phức tạp, văn phong Thời của thánh thần nhẹ nhàng, đằm thắm, đi vào tận đáy

sâu tâm hồn người đọc, khơi dậy những suy ngẫm về số phận con người giữa dòng chảy của lịch sử dân tộc Đặc biệt, Hoàng Minh Tường đã sử dụng rất linh hoạt, sáng tạo một số lượng lớn lớp từ Hán Việt tạo nên sắc thái trang trọng, cổ điển cho ngôn ngữ tác phẩm Ngoài ra, lớp từ láy, lớp từ địa phương, lớp từ tôn giáo cũng góp phần làm nên những nét đặc sắc về mặt từ ngữ của tác phẩm

Được thai nghén và là kết quả của quá trình “vật vã” trong bốn năm trời

của Hoàng Minh Tường, Thời của thánh thần là đứa con tâm huyết, “tác phẩm

tổng kết đời văn” của tác giả Viết về một trong những vấn đề “nhạy cảm” của lịch sử dân tộc, ít nhiều đụng chạm đến chính trị nhưng với tâm huyết và tài năng của một nhà văn chân chính, Hoàng Minh Tường đã không ngần ngại nhìn nhận

và đối thoại một cách thẳng thắn với sự thật lịch sử, bày tỏ cùng độc giả để họ hiểu rõ hơn về lịch sử đấu tranh chống giặc của cha ông Để có được nền độc lập

tự do như ngày hôm nay, thế hệ đi trước không những đã phải đổ xương máu mà còn phải chịu đựng những nỗi đau, những oan khuất về mặt tinh thần Và những

Trang 30

sự hi sinh thầm lặng đó càng khiến chúng ta thêm trân trọng, gìn giữ nền hòa bình của đất nước Gửi được một cách trọn vẹn, đầy đủ bức thông điệp đó đến độc giả, Hoàng Minh Tường đã làm tròn bổn phận của một nhà văn tài năng và chân chính

1.4 Tiểu kết chương 1

Để phản ánh những khúc ngoặt đời sống thì truyện ngắn đáp trả nhạy bén hơn các thể loại văn xuôi khác Nhưng để tạo nên những chấn động, cao trào văn học thì phải nhờ đến tiểu thuyết Từ lâu tiểu thuyết vẫn được xem là máy cái của văn học vì nó có khả năng lưu giữ hình ảnh lịch sử Tiểu thuyết là thể loại quan trọng hàng đầu của văn học

Trong nền văn học Việt Nam đương đại, Hoàng Minh Tường là một tên tuổi nổi bật Thử sức ở nhiều thể loại nhưng nhà văn đặc biệt có duyên với tiểu

thuyết Từ Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão đến Thời của thánh thần là cả một

quá trình trưởng thành của tác giả Là tác phẩm tâm huyết của một đời cầm bút

của Hoàng Minh Tường, Thời của thánh thần đã đi vào phản ánh lịch sử đất nước

suốt hơn nửa thế kỉ với bao biến cố thăng trầm Đặc biệt, nhà văn đã mạnh dạn khai thác những vấn đề nhạy cảm của lịch sử dân tộc, nhìn nhận nó bằng một cái

nhìn khách quan và chân thật Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Thời của thánh thần có

thể coi là biểu hiện tập trung cho cá tính ngôn ngữ tiểu thuyết Hoàng Minh Tường

Ở các chương tiếp theo, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hoàng Minh Tường ở hai phương diện: từ ngữ và câu văn

Trang 31

Chương 2

TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT THỜI CỦA THÁNH THẦN

2.1 Từ và hoạt động của từ trong giao tiếp

2.1.1 Khái quát về từ ngữ

2.1.1.1 Định nghĩa về t

Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Từ là đơn vị hết sức quan trọng, được ví như viên gạch để xây dựng tòa lâu đài ngôn ngữ nhằm phục vụ cho nhu cầu giao tiếp và trao đổi thông tin của con người Xung quanh khái niệm về từ có rất nhiều ý kiến, có thể

kể đến một số định nghĩa về từ:

- Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất

có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” [18, 72]

- Định nghĩa của Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ,

có thể tách các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng và pháp ngữ) và chức năng ngữ pháp” [52, 64]

- Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để tạo nên câu” [40, 18]

- Định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [10,16]

Từ các định nghĩa trên, chúng tôi thấy, các nhà Việt ngữ đều có sự thống nhất chung về từ ở các mặt âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động Ở

Trang 32

đây, chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở để khảo

sát các lớp từ trong tiểu thuyết Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường

2.1.1.2.Đặc điểm của t

Từ định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu, chúng ta có thể khái quát các đặc điểm của từ như sau:

a Từ có hình thức ngữ âm và ý nghĩa nhỏ nhất

b Từ được cấu tạo theo một phương thức ngữ pháp nhất đinh

c Từ là đơn vị nhỏ nhất để cấu tạo câu

Từ là đơn vị nhỏ nhất, có khả năng kết hợp với nhiều từ khác để tạo nên câu Hình vị cũng giống từ ở chỗ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất nhưng hình vị không

có khả năng hoạt động tự do để tạo thành câu mà luôn bị ràng buộc trong từ

Ví dụ: Hải đăng là một từ độc lập Nó có khả năng kết hợp với các từ khác

để tạo thành một câu (Ngọn hải đăng ở phía xa) Nhưng hải, đăng lại không thể

kết hợp được tự do như vậy

2.1.2 Từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng

Từ là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ, chứa đựng rất nhiều thông tin về tổ chức, về lịch sử, về hoạt động của ngôn ngữ Ở mỗi cá nhân, từ được tích lũy dần theo thời gian và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ, trở thành vốn từ riêng của từng người Trong kho từ vựng của mỗi người, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh và dưới dạng tiềm năng Chỉ khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, từ mới thật sự có cuộc sống của riêng mình, mới bộc lộ hết các thuộc tính, đặc điểm và vẻ đẹp của mình Mặt khác, từ thực tế sử dụng, từ đã có những sự biến đổi và chuyển hóa đa dạng, đem lại những ý nghĩa mới, ngoài nghĩa gốc ban đầu của nó

Với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ, khi nằm trong từ điển, từ ở dạng tách rời và có tính trừu tượng Nhưng khi tham gia vào hoạt động hành chức, đặc biệt là khi được sử dụng để thể hiện hình tượng nghệ thuật, từ lại rất linh hoạt và mang đậm dấu ấn của nhà văn Trong quá trình sáng tạo, nhà văn đã cung cấp

Trang 33

thêm cho từ những giá trị mới, ngoài giá trị vốn có của nó Những y, thị, hắn,

thằng… trong truyện ngắn của Nam Cao không còn là những đại từ nhân xưng

nữa mà còn trực tiếp thể hiện thái độ của tác giả trước nhân cách và phẩm giá của con người Hay trong những trang văn của Nguyễn Tuân, vốn từ tiếng Việt

đã trở nên phong phú, sinh động hơn rất nhiều lần nhờ sự kết hợp hết sức mới lạ, độc đáo của tác giả Ngoài việc tích lũy cho mình một kho từ thật “rủng rỉnh”, các nhà văn còn luôn có ý thức làm giàu và đẹp thêm vốn ngôn ngữ dân tộc bằng những cách kết hợp, sáng tạo vốn từ mới mẻ của mình

Ở nhiều tác giả, việc sử dụng ngôn ngữ thực sự là một cuộc trình diễn của

cá tính sáng tạo, thể hiện rõ phong cách của nhà văn, trong đó phải kể đến vai trò quan trọng của các lớp từ Lớp từ là “tập hợp các từ của ngôn ngữ được phân chia theo những tiêu chí, đặc điểm nhất định” Trong thực tiễn, nhà văn bao giờ cũng hướng đến việc xác lập phong cách ngôn ngữ của riêng mình, trong đó, việc lựa chọn, sử dụng các lớp từ như là một biểu hiện nổi trội mang đậm dấu ấn phong cách nhà văn nhằm biểu đạt thế giới nghệ thuật

Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các lớp từ: Lớp từ Hán

Việt, lớp từ láy, lớp từ khẩu ngữ và lớp từ tôn giáo trong tiểu thuyết Thời của

thánh thần Đây là những lớp từ tiêu biểu, thể hiện rõ cá tính và phong cách sử

dụng từ ngữ của Hoàng Minh Tường

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

2.2.1 Lớp từ HánViệt

2.2.1.1 Khái niệm t Hán Việt

Từ Hán Việt là một bộ phận rất quan trọng, chiếm hơn 70% vốn từ tiếng Việt Tuy là lớp từ vay mượn, có nguồn gốc từ tiếng Hán nhưng từ Hán Việt đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống ngôn ngữ của người Việt

Từ Hán Việt là sản phẩm của một quá trình tiếp xúc quy mô, sâu rộng trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt giữa hai dân tộc Hán và Việt về nhiều mặt Ngay

Trang 34

từ thời thượng cổ, những mối quan hệ lẻ tẻ giữa cư dân vùng miền Bắc nước ta với cư dân vùng người Hán đã bắt đầu, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, khi chưa

có sự phân hóa thành những ngôn ngữ riêng biệt: Việt, Mường, Chứt, Cuối như ngày nay, mà đang còn là một ngôn ngữ chung, tiền thân của những ngôn ngữ này Nhưng muốn nói đến một sự tiếp xúc quy mô, để lại ảnh hưởng sâu đậm thì phải bắt đầu tính từ thời kì Bắc thuộc - gần mười thế kỉ từ khi Triệu Đà kéo quân xâm lược Âu Lạc (-179) và nhất là từ khi quân Nam Hán đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân (-111) đến năm 938, khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán, giành lại độc lập dân tộc Dưới ảnh hưởng của các nhân tố chính trị, xã hội và đặc biệt nhân tố văn hóa, ngôn ngữ, giữa tiếng Việt với tiếng Hán đã có một quá trình tiếp xúc lâu dài, liên tục, sâu rộng, dẫn đến việc hình thành lớp từ Hán Việt

Đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về các khía cạnh có liên quan đến nội dung khái niệm từ Hán Việt và đặc điểm lớp từ HánViệt so với các lớp

từ gốc Hán khác trong tiếng Việt Có thể kể đến các quan niệm sau:

- Từ Hán Việt là một trong các lớp từ Việt gốc Hán (vay mượn tiếng Hán)

- Từ Hán Việt là lớp từ gốc Hán được vay mượn vào giai đoạn từ đời Đường (Vãn Đường) về sau; có số lượng lớn nhất trong các lớp từ vay mượn trong tiếng Việt

- Từ Hán Việt là lớp từ vay mượn, được người Việt đọc theo cách đọc Hán

- Việt (cách đọc chữ Hán của người Việt trên cơ sở Đường âm)

Trên cơ sở các quan niệm trên, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về từ Hán Việt:

Các tác giả cuốn T điển giải thích thuật ng ngôn ng học định nghĩa từ

Hán Việt là: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn gọi là từ Việt gốc Hán” [65, 369]

Trang 35

Diệp Quang Ban trong T điển thuật ng ngôn ng học cho rằng: “Từ

Hán Việt là từ trong tiếng Việt ngày nay, có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc xưa (thuộc đời Hán) và được đọc theo âm Việt” [4, 505]

Tác giả Hoàng Trọng Canh trong “Chuyên đề Từ Hán Việt” (Dùng cho cao học) cũng nêu lên định nghĩa về từ Hán - Việt: “Từ Hán Việt là những từ người Việt vay mượn của tiếng Hán và đọc theo dạng ngữ âm đời Đường theo cách đọc Hán Việt” [7, 22] Về mặt khái niệm, từ Hán Việt có thể được hiểu một cách khái quát như trên Tuy vậy, khi đi vào thực tế sử dụng, từ Hán Việt lại được nhìn nhận khác nhau

Hiện nay, giới nghiên cứu Việt ngữ học có hai cách nhìn khác nhau về việc xác định từ Hán Việt trong vốn từ tiếng Việt nói chung:

- Loại ý kiến thứ nhất, dựa vào khái niệm “từ vay mượn” là những từ xét

về nội dung (ngữ nghĩa) lẫn hình thức (vỏ ngữ âm và cấu tạo) đều có nguồn gốc của tiếng nước ngoài để phân biệt hai hiện tượng: vay mượn từ và vay mượn yếu

tố Hướng nghiên cứu này cho rằng, từ Hán Việt phải được xem là thuộc loại vay mượn từ tức là những từ xét về nội dung và hình thức đều có nguồn gốc là tiếng

Hán Ví dụ: sơn, thủy, minh, quang, nhật, cố nh n, độc lập, môi trường, nhân

sinh… Nếu người Việt chỉ mượn một yếu tố tiếng Hán để cấu tạo nên từ thì

những từ này chỉ được xem như là từ vay mượn yếu tố chứ không phải là từ Hán

Việt Ví dụ: dạ hội, hội trường, phi công, an trí…

- Loại ý kiến thứ hai cho rằng từ Hán Việt bao gồm những từ do người Việt mượn từ của tiếng Hán và cả những từ người Việt chỉ vay mượn yếu tố Hán Việt cấu tạo nên trong tiếng Việt (không có trong tiếng Hán)

Việc phân biệt hai loại từ như trên, về mặt nghiên cứu khoa học là cần thiết phải đặt ra nhưng cần có một cách hiểu thống nhất để thuận tiện cho việc sử dụng trong thực tế và nhất là trong việc giảng dạy ở trường phổ thông Ở đây, chúng tôi lựa chọn cách hiểu của tác giả Hoàng Trọng Canh làm cơ sở để khảo

Trang 36

sát vốn từ Hán Việt trong tiểu thuyết Thời của thánh thần: “Từ Hán Việt bao

gồm loại từ vay mượn từ tiếng Hán (nguyên khối) và cả loại từ do người Việt đã mượn các yếu tố Hán Việt để cấu tạo nên từ trong tiếng Việt”[7, 23]

2.2.1.2 Ph n loại t Hán Việt

Xuất phát từ thực tế sử dụng, từ Hán - Việt được chia thành ba loại:

a Từ Hán - Việt có nguồn gốc vốn là từ tiếng Hán

Đây là những từ do tiếng Hán cấu tạo nên, được tiếng Việt tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày, đọc theo âm Hán - Việt Về hình thức và ngữ nghĩa, loại từ này có thể đối chiếu qua từ điển tiếng Hán, do vậy cũng có thể gọi chúng là những từ Hán - Việt mượn nguyên khối

Ví dụ: Minh quân là vị vua sáng suốt, trung thần là bề tôi trung thành

b Từ Hán Việt bao gồm cả những từ vốn không phải là gốc Hán mà do người Hán mượn một ngôn ngữ khác rồi người Việt mượn lại và đọc theo âm Hán Việt

Chúng ta có thể nhận thấy các từ Hán Việt vốn không có nguồn gốc từ

tiếng Hán mà có gốc từ Nhật Bản như: trường hợp, điều chế, đại bản doanh,

phục vụ, nghĩa vụ, cán bộ, biện chứng, mĩ thuật…; những từ gốc châu Âu như:

c u lạc bộ, Nã Phá Luân, Hoa Thịnh Đốn…; những từ gốc Phạn: Phật, nát bàn, Thích Ca, Di Lặc…

c Từ Hán Việt do người Việt tạo ra bằng các yếu tố Hán Việt

Đây là những từ do người Việt tạo ra bằng cách dùng các yếu tố Hán Việt liên kết lại với nhau theo cách nhất định Ta không thể tìm thấy các từ này trong

tiếng Hán Ví dụ: công an, bác sĩ, bệnh viện, y tá, đại đội, tiểu đội, đặc công, phi

công…

Riêng những đơn vị do yếu tố gốc Hán và yếu tố thuần Việt kết hợp lại tạo

thành từ như các trường hợp sau đây thì không nên xem là từ Hán Việt: t u thủy,

đói khổ, súng trường, binh lính, cướp đoạt…

Trang 37

2.2.1.3 Đặc điểm lớp t Hán Việt trong tiểu thuyết Thời của thánh thần

Theo thống kê của chúng tôi, trong tiểu thuyết Thời của thánh thần có

8832 từ Hán Việt với 9072 lượt sử dụng Hầu hết từ Hán Việt được Hoàng Minh Tường sử dụng đều là những từ quen thuộc, xuất hiện nhiều trong văn chương Điều đáng nói là nhà văn đã có những cách kết hợp độc đáo, hình thành nên những lớp từ Hán Việt chuyên biệt mà nổi bật nhất là lớp từ thuộc lĩnh vực chính trị và lớp từ thuộc lĩnh vực quân sự

a Lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực chính trị

Theo thống kê của chúng tôi, trong tiểu thuyết Thời của thánh thần có 527

từ Hán Việt thuộc lĩnh vực chính trị với 658 lượt dùng, chiếm 5,97% số từ Hán

Việt của tác phẩm Có hàng loạt từ xuất hiện nhiều lần như: tổ chức (76 lượt),

cách mạng (54 lượt), chế độ (32 lượt), chính quyền (34 lượt)…

Trong tác phẩm có một hệ thống các nhân vật là những quan chức cấp cao của chính quyền nên lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực chính trị được sử dụng nhiều

(1) Một cái chết kéo theo nh ng hệ lụy cũng bất thường v khủng khiếp

không kém: Cục bị bắt ngay sau đó, bị kết tội hãm hại cán bộ cách mạng, có âm mưu chống phá công cuộc cải cách, bị kết án ba năm t giam [60,179]

(2) Trong công việc, chỉ được phép nhận chỉ thị t người trực tiếp truyền

đạt cho mình Chỉ b n bạc trong tổ tam tam và xin chỉ thị của thượng cấp Thấy dấu hiệu khả nghi, phải lập tức báo cáo với thượng cấp [60, 69]

(3) - Tôi đề nghị một cuộc tranh luận dân chủ - Vỹ bỗng thay đổi cách

xưng hô - Hãy học tập tấm gương của Hồ Chủ tịch, dám tự phê bình trước toàn

Đảng, toàn dân, dám khóc vì nh ng sai lầm trong cải cách ruộng đất [60, 198]

Hầu như trong bất cứ lời nói nào của các nhân vật trong tác phẩm đều sử dụng lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực chính trị Không khí, đời sống chính trị bao phủ khắp tác phẩm

b Lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực quân sự

Trang 38

Theo thống kê của chúng tôi, trong tiểu thuyết Thời của thánh thần có 333

từ Hán Việt thuộc lĩnh vực quân sự với 550 lượt dùng, chiếm 3,77% số từ Hán

VIệt của tác phẩm Có hàng loạt từ xuất hiện với tần số cao như: kháng chiến (47 lượt), chiến trường (42 lượt), bộ đội (35 lượt), chiến sĩ (18 lượt), mặt trận (20 lượt), sĩ quan (13 lượt), du kích (11 lượt), đại tá (10 lượt), dân quân (10 lượt)…

Một trong những nội dung cơ bản của Thời của thánh thần là nói về hai

cuộc kháng chiến của dân tộc Bởi vậy, sự xuất hiện dày đặc của lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực quân sự là một điều dễ hiểu và đã đem đến cho tác phẩm không khí hào sảng của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc

Ví dụ:

(4) Cuộc kháng chiến đã vượt qua giai đoạn cầm cự và phòng ngự, tiến

sang giai đoạn phản công Chiến thắng Biên giới, chiến thắng Hòa Bình rồi

chiến thắng T y Bắc cuối năm 1952 đã ho n to n thay đổi cục diện chiến trường Khí thế bộ đội cụ Hồ như chẻ tre Các loại vũ khí hạng nặng: xe tăng, đại bác của Việt Minh lần đầu xuất hiện khiến thực d n Pháp kinh ho ng Các binh đoàn chủ lực đang được lệnh mở mặt trận T y Bắc v Thượng L o [60, 70]

Chỉ trong một đoạn văn ngắn đã xuất hiện một số lượng lớn từ Hán Việt, diễn tả thành công khí thế chiến đấu và chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta trong kháng chiến chống Pháp

(5) Để chuẩn bị cho đo n qu n chiến thắng v o tiếp quản thủ đô, ngay t

ba tháng trước, trong to n qu n đã có sự bình chọn, s ng lọc kĩ lưỡng T ng

tiểu đội, trung đội, đại đội bình bầu, chọn nh ng chiến sĩ có th nh tích xuất sắc

trong chiến đấu, trẻ về tuổi đời, đẹp về ngoại hình, lí lịch trong sạch [60, 113]

Đây là câu văn miêu tả công tác chuẩn bị cho sự kiện chính quyền kháng chiến từ Việt Bắc về tiếp quản thủ đô Lớp từ Hán Việt thuộc lĩnh vực quân sự

đã đem đến cho tiểu thuyết Thời của thánh thần một không khí trang nghiêm

Câu văn trở nên chững chạc và có sức hấp dẫn hơn

Trang 39

2.2.2 Lớp từ láy

2.2.2.1 Khái niệm t láy

Trong ngôn ngữ đại cương cũng như trong Việt nsgữ học, có ba cách nhìn nhận khác nhau về hiện tượng láy

Cách nhìn thứ nhất: coi láy là phụ tố Đại diện tiêu biểu cho các tác giả theo quan niệm này là L.Bloomfield Từ cách nhìn phổ biến về phụ tố, L.Bloomfield cho rằng những hình thái hạn chế mà trong hiện tượng phái sinh thứ hai được thêm vào hình thái cơ sở thì gọi là phụ tố Ông viết: “Láy là phụ tố, biểu hiện ở sự lặp lại một phần hình thái cơ sở” Trong Việt ngữ học, người coi láy là phụ tố tiêu biểu là Lê Văn Lý Ông gọi từ láy là “từ ngữ kép phản phúc”

Đó là những từ ngữ đơn được lặp đi lặp lại trongnhững yếu tố thành phần của chúng” Theo quan niệm của ông thì “từ ngữ kép phản phúc” được cấu tạo nhờ các loại phụ tố sau đây:

a) Tiếp đầu ngữ như /-a / trong lả lơi, nhá nhem…

b) Tiếp trung ngữ, gồm có /-a-/ hoặc / - i -/ như: líu tíu, líu ta líu tíu…

Cách nhìn thứ hai: Coi láy là ghép Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê triệt để xem láy là ghép Các tác giả đã gộp từ láy và từ ghép vào một loại chung

và gọi là từ kép: “Chúng ta có nhiều từ hai âm, cũng có nhiều từ ba âm và bốn âm Tiếng đôi, tiếng ba, tiếng tư gọi là từ kép Trong ngôn ngữ của ta, từ kép hai âm nhiều nhất, từ kép ba, bốn âm ít hơn Dù hai, ba hay bốn âm, từ kép cũng diễn tả ý đơn giản như từ đơn” Quan niệm xem láy là ghép của Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê nhận được sự đồng tình của Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu

Cách nhìn thứ ba: Coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa Trong từ láy có sự chi phối của quy luật hài âm, hài thanh và từ láy phần lớn là những từ tượng hình, tượng thanh Do vậy, từ láy có giá trị gợi hình, gợi cảm Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là Hoàng Văn Hành, Hoàng Tuệ Cách nhìn này có thể thấy rõ trong truyền thống ngữ văn người Việt cũng như trong

Trang 40

lịch sử ngôn ngữ học thế giới Khi xem láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa cũng chính coi láy là một cơ chế Cách nhìn này chú ý đến cả mặt âm

và mặt nghĩa và mối quan hệ của hai mặt ấy trong từ láy với tư cách là một tín hiệu ngôn ngữ

Trong luận văn này, chúng tôi đi theo cách nhìn thứ ba: Coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa nhằm khảo sát lớp từ láy trong tiểu thuyết

Thời của thánh thần

2.2.2.2 Ph n loại t láy

Từ láy được phân loại dựa vào số lượng âm tiết, dựa vào bộ phận được láy

và dựa vào hình thái biểu hiện của sự biểu trưng hóa:

- Căn cứ vào số lượng âm tiết, có thể chia ra: từ láy đôi và từ láy ba (sản phẩm của lần láy thứ nhất) và từ láy tư (sản phẩm của lần láy thứ hai)

Ví dụ: Mơn mởn, thiết tha, da diết, miệt m i…

Sạch s nh sanh, khít khìn khịt, cỏn còn con…

Ngất ngơ ngất ngưởng, chập ch chập chờn…

- Căn cứ vào bộ phận được láy, có thể chia ra: Từ láy hoàn toàn và từ láy

bộ phận

Từ láy hoàn toàn là những từ láy mà toàn bộ âm tiết được giữ nguyên:

b ng b ng, chằm chằm, ào ào, ầm ầm, oang oang… và từ láy toàn bộ có biến

đổi âm điệu: chầm chậm, cuồn cuộn, sa sả…

Từ láy bộ phận gồm từ láy phần vần: lấm tấm, khúm núm, bủn rủn, lênh

đênh… và từ láy phụ âm đầu: mượt m , thướt tha, thỏ thẻ, nhỏ nhẹ, nhão nhoét, mếu máo…

- Căn cứ vào hình thái biểu hiện của sự biểu trưng hóa, có thể chia từ láy làm ba loại: Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn, từ láy biểu trưng hóa ngữ

âm cách điệu, từ láy vừa biểu trưng hóa về ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn: chính là những từ tượng thanh

Đó là nhừng từ mô phỏng trực tiếp âm thanh tự nhiên như: rào rào, leng keng,

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), T điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (2005), Ng pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
3. Diệp Quang Ban (1992), Ng pháp tiếng Việt, tập 1, 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng pháp tiếng Việt, tập 1, 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
4. Diệp Quang Ban (2010), T điển thuật ng ngôn ng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T điển thuật ng ngôn ng học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
5. M.Bakhtin (2003), Lí luận v thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận v thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
6. Hoàng Trọng Canh (2010), Chuyên đề: Hình thái cấu trúc v ng nghĩa của t vựng Tiếng Việt, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Hình thái cấu trúc v ng nghĩa của t vựng Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2010
7. Hoàng Trọng Canh, (2010), Chuyên đề: T Hán Việt, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: T Hán Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2010
8. Phan Mậu Cảnh (2003), C u đơn phần trong tiếng Việt, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C u đơn phần trong tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
9. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ng pháp tiếng Việt, tiếng, t ghép, đoản ng , Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng pháp tiếng Việt, tiếng, t ghép, đoản ng
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1975
10. Đỗ Hữu Châu (2007), T vựng ng nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T vựng ng nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyên Minh Châu (2000), Bên lề tiểu thuyết, trong cuốn “B n về tiểu thuyết”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bên lề tiểu thuyết, trong cuốn “B n về tiểu thuyết”
Tác giả: Nguyên Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
12. Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ng pháp Việt Nam, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ng pháp Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 1963
13. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ng học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Đức Dân (1989), Lôgic - ng nghĩa - cú pháp, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic - ng nghĩa - cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1989
15. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ng v sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ng v sự phát triển văn hóa xã hội
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2001
16. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ng v văn hóa giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ng v văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
17. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc v văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc v văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
18. Nguyễn Thiện Giáp (1996), T vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), T điển thuật ng văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T điển thuật ng văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20. Hoàng Văn Hành (1985), T láy tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T láy tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phõn loại cõu theo cấu tạo ngữ phỏp - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 1 Phõn loại cõu theo cấu tạo ngữ phỏp (Trang 69)
Bảng 2: Phõn loại cõu đơn theo kết cấu C-V - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 2 Phõn loại cõu đơn theo kết cấu C-V (Trang 70)
Bảng 3: Bảng phõn loại cõu đơn đặc biệt - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 3 Bảng phõn loại cõu đơn đặc biệt (Trang 80)
Bảng 4: Mụ hỡnh phõn loại cõu ghộp - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 4 Mụ hỡnh phõn loại cõu ghộp (Trang 87)
Bảng 5: Bảng phõn loại cõu ghộp - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 5 Bảng phõn loại cõu ghộp (Trang 87)
Bảng 6: Bảng phõn loại cõu ghộp cú từ liờn kết - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 6 Bảng phõn loại cõu ghộp cú từ liờn kết (Trang 88)
Bảng 7: Phõn loại cõu xột theo mục đớch núi - Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết thời của thánh thần của hoàng minh tường
Bảng 7 Phõn loại cõu xột theo mục đớch núi (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w