Có thể nói, thế mạnh về ngôn ngữ trong phóng sự đã đem lại một luồng gió mới vào đời sống báo chí nói chung và việc sử dụng các chất liệu văn học vào tác phẩm phóng sự báo chí đã giúp ch
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG LỜI BÌNH PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH
o s t c c p óng sự trên kên VTV1 từ t ng 6/2014 đến t ng 6/2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội, 2017
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG LỜI BÌNH PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH
o s t c c p óng sự trên kên VTV1 từ tháng 6/2014 đến t ng 6/2015)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Đinh Thị Xuân Hòa
Hà Nội, 2017
Trang 3CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Hà Nội, ngày tháng năm
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PGS,TS TRƯƠNG NGỌC NAM
Trang 4Tôi xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
- Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng
- Những kết luận trong luận văn không trùng lặp trong bất cứ trong công trình nào đã từng công bố
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan của mình
Trang 5Luận văn được hoàn thành với rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy, cô giáo, các anh, chị làm việc trong lĩnh vực báo chí truyền thông và gia đình,
bạn bè Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình”
Xin gửi lời kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới TS Đinh Thị Xuân Hòa, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này
Xin cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã truyền đạt cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Xin cảm ơn tới Lãnh đạo kênh VTV1, các phóng viên công tác tại kênh VTV1 đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong việc trả lời phỏng vấn và cung cấp một số tài liệu liên quan đến Luận văn
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, mô tả và phân tích các vấn đề của khai thác tầng thông tin thứ hai trong phỏng vấn truyền hình, nhưng do hạn chế về thời gian và năng lực nên đề tài vẫn còn những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để khóa luận này được hoàn thiện tốt hơn nữa
Tôi xin c ân t àn c m ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Trang 6Bảng 2.1 Tần suất sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự trong
chương trình thời sự 19h 44
Bảng 2.2 Thống kê về cách thức trích dẫn thành ngữ, tục ngữ trong
các phóng sự Thời sự 19h VTV1 59
Bảng 2.3 Một số phóng sự VTV1 sử dụng tục ngữ biến cách 63 Bảng 2.4 Đánh giá của khán giả về mức độ phù hợp của các thành
ngữ, tục ngữ trong nội dung lời bình của các phóng sự
chương trình Thời sự 19h 70
Bảng 2.5 Tỷ lệ đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng thành ngữ, tục ngữ
trong lời bình của các phóng sự trong chương trình Thời sự
19h VTV1 73
Bảng 2.6 Đánh giá của khán giả về tính hấp dẫn của các hình thức
trích dẫn thành ngữ, tục ngữ trong các phóng sự chương
trình Thời sự 19h 82
Bảng 2.7 Đánh giá của khán giả về về tần suất sử dụng của các thành
ngữ, tục ngữ trong lời bình của các phóng sự trên chương
trình Thời sự 19h 84
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các phóng sự -
trong chương trình Thời sự 19h 48
Biểu đồ 2.2 Số lượng các đơn vị thành ngữ, tục ngữ được sử dụng
trong phóng sự trong Chương trình Thời sự 19h 53
Biểu đồ 2.3 Tần suất sử dụng của các thành ngữ tục ngữ trong phóng
sự trong nước và phóng sự quốc tế 56
Biểu đồ 2.4 Các hình thức trích dẫn thành ngữ, tục ngữ trong chương
trình Thời sự 19h VTV1 60
Biểu đồ 2.5 Các hình thức trích dẫn không giữ nguyên dạng 64 Biểu đồ 2.6 Vị trí sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự -
Chương trình Thời sự 19h 66
Trang 7MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG THÀNH
NGỮ, TỤC NGỮ TRONG LỜI BÌNH PHÓNG SỰ
TRUYỀN HÌNH 14
1.1 Một số khái niệm 14 1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời
bình phóng sự truyền hình 24 1.3 Cách thức sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự
truyền hình 26 1.4 Yêu cầu về sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự
truyền hình 30
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG THÀNH NGỮ VÀ
TỤC NGỮ TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH
TRÊN KÊNH VTV1 HIỆN NAY 37
2.1 Khái quát về kênh VTV1 và chương trình khảo sát 37 2.2 Khảo sát việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các phóng sự
chương trình Thời sự 19h trên kênh VTV1 41 2.3 Đánh giá chung 68
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
VIỆC SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG
PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH 96
3.1 Những yêu cầu đặt ra trong việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong
phóng sự truyền hình 96 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng việc sử dụng thành ngữ, tục
ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình 99
KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo chí và văn học từ xưa đến nay vốn là hai hình thái ý thức xã hội thuộc hai lĩnh vực khác nhau nhưng luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại Thực tế cho thấy, các tác phẩm văn học từ cổ tích, thần thoại đến văn xuôi hiện đại muốn thành công đều phải bám chắc thực tiễn và ngược lại các bài ký
sự, phóng sự muốn hấp dẫn thì rất cần đến sự phối hợp trong tư duy văn học Một đặc điểm chung dễ nhận thấy giữa báo chí và văn học đó chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng luôn được coi trọng trong các tác phẩm báo chí và văn học Nó chính là gia vị hấp dẫn, gây ấn tượng và tạo ra tác động lớn tới nhận thức và cảm xúc của người tiếp nhận Chính bởi vậy, giữa báo chí và văn học có sự trao đổi về mặt ngôn ngữ với nhau Văn học chính là một kho tàng ngôn ngữ phong phú giúp cho báo chí mở rộng vốn ngôn từ của mình Ngôn ngữ văn học được sử dụng trong các tác phẩm báo chí từ văn hoá, giáo dục, giải trí đến kinh tế hay cả thể thao Và bên cạnh đó, chính văn học cũng đã cung cấp cả nguồn nhân lực cho báo chí Một số nhà văn cũng là những nhà báo nổi tiếng như: Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Tản Đà, Vũ Bằng, Nguyên Hồng
Ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, phóng sự bắt đầu xuất hiện và nhanh chóng khẳng định được vị trí vừa là bức tranh sinh động về toàn cảnh thông tin thời sự vừa là nơi sự ẩn chứa nghệ thuật sử dụng ngôn từ phong phú, hấp dẫn Có thể nói, thế mạnh về ngôn ngữ trong phóng sự đã đem lại một luồng gió mới vào đời sống báo chí nói chung và việc sử dụng các chất liệu văn học vào tác phẩm phóng sự báo chí đã giúp cho các nhà báo tạo nên phong cách riêng, ấn tượng và hấp dẫn
Nhiều tác phẩm của loại hình truyền hình nói chung và thể loại phóng
sự truyền hình nói riêng cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu đó Với những
Trang 10lợi thế về hình ảnh và âm thanh, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ văn học chuẩn mực giúp cho các tác phẩm trở nên đặc sắc hơn, mang những nét chấm phá thú vị mà lại chứa đựng được nguồn thông tin cần thiết Ở Việt Nam, không ít nhà báo truyền hình đã khéo léo sử dụng những chất liệu văn học của đất nước mình để sáng tạo các tác phẩm đưa thông tin nhưng cũng chứa những cảm xúc sâu sắc đến với khán giả
Một bộ phận nổi bật của văn học Việt Nam đó chính là thành ngữ và tục ngữ Bởi những câu răn dạy hay nói về việc giao tiếp, chẳng hạn như:
“Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, hay ca dao “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” đã trở thành phong cách giao tiếp uyển chuyển của người Việt Đặc biệt, kho tàng tục ngữ, thành ngữ của Việt Nam
vô cùng giàu có về số lượng Không những thế, tính ứng dụng và tính phản ánh thực tế đời sống thường ngày vô cùng đáng nể Bởi thế, để diễn đạt hay hơn, để nói một cách khéo léo hơn hoặc để nói giảm nói tránh và ngay cả để thể hiện rõ quan điểm, suy nghĩ của mình, người Việt Nam rất hay “mượn” thành ngữ, tục ngữ Đó là cách nói vừa thâm thúy vừa ngọt ngào, vừa giá trị vừa có tính văn học
Vì vậy, chất liệu văn học này vừa cô đọng, súc tích mà giàu ý nghĩa đã dần được các nhà báo, phóng viên đưa vào sử dụng trong các tác phẩm phóng
sự để làm lời bình cho những thước hình ảnh thu được Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình chính là dùng những câu nói mã hoá, tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người tiếp nhận Chính bởi sự gần gũi, thân thuộc đó mà giá trị thông tin của nó đem lại cho tác phẩm phóng sự truyền hình càng rộng lớn hơn, sâu sắc hơn
Việc sử dụng ưu thế này có ý nghĩa lớn lao đối với những người thực hiện phóng sự truyền hình Nó đã mang lại cho đời sống báo chí nhiều điều bổ ích, tạo tính hấp dẫn và tăng cường hiệu quả thông tin, thu hút độc giả Hơn
Trang 11hết, nó còn giúp cho báo chí Việt Nam nói chung và phóng sự truyền hình nói riêng phát triển theo hướng dân tộc và hiện đại
Từ trước đến nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến thành ngữ và tục ngữ về các khía cạnh khác nhau như: cấu trúc - chức năng, nội dung - ngữ nghĩa, so sánh thành ngữ, tục ngữ của Việt nam với thành ngữ, tục ngữ của các nước khác Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ vào trong tác phẩm phóng sự truyền hình trong một khoảng thời gian nhất định thì chưa được các tác giả chú ý đến
Bên cạnh đó, không phải nhà báo, phóng viên nào cũng nhận thức hết được thế mạnh cũng như tầm quan trọng của việc khai thác, sử dụng những thành ngữ, tục ngữ vào phóng sự truyền hình và cũng không phải ai cũng sử dụng đúng cách để đem lại hiệu quả tốt nhất Chính vì vậy, trong quá trình sử dụng chất liệu này còn nảy sinh nhiều vấn đề cần thảo luận, trao đổi và góp ý Làm sao để có thể khai thác kho tàng các thành ngữ, tục ngữ của dân tộc một cách triệt để có hiệu quả, đúng ý nghĩa và đem lại hiệu quả tác động to lớn? Làm sao để việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ tránh được những sai sót, dùng sai mục đích, tránh gây ra sự nhàm chán, phản cảm ?Đó là những câu hỏi
và tác giả luận văn xin xếp thành 3 nhóm tài liệu như sau:
• N óm t ứ n ất, bao gồm các cuốn sách có liên quan một phần đến
đề tài nghiên cứu:
Trang 12- Trần Thị Trâm (chủ biên) (2008), “Phát huy ưu thế của văn học trong sáng tạo tác phẩm báo chí”, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
Cuốn sách đã mở ra một hướng tiếp nhận mới về mối quan hệ giữa văn học và báo chí Tuy nhiên cuốn sách chủ yếu đề cập đến ưu thế của văn học trong sáng tạo tác phẩm báo chí nói chung chứ không tập chung chuyên sâu vào một thể loại nào
- Đức Dũng, (2004), “Phóng sự báo chí hiện đại”, NXB Thông Tấn,
Hà Nội
Cuốn sách tập trung nói nhiều về đặc trưng và cách thức thực hiện một tác phẩm phóng sự báo chí Dung lượng để nói về việc sử dụng chất liệu văn học nói chung, thành ngữ, tục ngữ nói riêng trong tác phẩm phóng sự đặc biệt
-• N óm t ứ ai, bao gồm một số luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt
nghiệp Cao học và Đại học:
- Hoàng Minh Thống (2009), “Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trên báo mạng điện tử”; Khoá luận tốt nghiệp ngành báo Mạng điện tử - Học
viện Báo chí và Tuyên truyền
Đây là tài liệu tham khảo hữu ích, có ít nhiều liên quan đến đề tài mà luận văn nghiên cứu Tuy nhiên, đề tài này mới chỉ tập trung vào nghiên cứu
ở loại hình báo mạng điện tử không đề cập một chút nào đến loại hình truyền
Trang 13hình Mặt khác, đề tài này chỉ nghiên cứu đến việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trên báo mạng điện tử nói chung, không tập trung vào một thể loại cụ thể nào vì vậy việc phân tích còn mang tính chất dàn trải
- Nguyễn Thị Hải Yến (2008), Luận văn Thạc sĩ “Sử dụng chất liệu văn học thế giới trong sáng tạo tác phẩm báo chí ở Việt Nam”, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền;
Luận văn đề cập đến việc sử dụng các phương diện của chất liệu văn học nhưng đi sâu trọng tâm vào việc sử dụng chất liệu văn học thế giới trong sáng tạo tác phẩm báo chí ở Việt Nam Luận văn không đề cập đến chất liệu văn học Việt Nam trong sáng tạo tác phẩm báo chí Việt Nam
- Bùi Minh Hằng (2012), Luận văn Thạc sĩ “Ngôn ngữ phóng sự trên VTV1 - Đài “Truyền hình Việt Nam”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Mặc dù luận văn đã đi vào khai thác một loại hình cụ thể là phóng sự truyền hình nhưng chỉ chủ yếu tập trung vào việc phân tích tình hình sử dụng ngôn ngữ chung trong phóng sự truyền hình (ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ
âm thanh), chỉ ra những ưu, nhược điểm và biện pháp khắc phục tình trạng sử dụng thiếu chính xác ngôn ngữ của đội ngũ phóng viên làm phóng sự thuộc Bản tin tài chính - Kinh doanh trên kênh VTV1 Cách tiếp cận này còn chưa
đi sâu vào nghiên cứu việc sử dụng những thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình cũng như nêu lên những ưu, nhược điểm của chất liệu ngôn ngữ văn học này
- Nguyễn Thị Hồng Thanh (2010), Luận văn Thạc sĩ “Sử dụng chất liệu văn học trong sáng tạo tác phẩm báo chí thể thao”, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền
Trong luận văn này, tác giả đã đi sâu khảo sát cách thức sử dụng chất liệu văn học trong các thành phần cấu trúc nên một tác phẩm báo chí thể thao, đưa ra số liệu thống kê về tần suất sử dụng trong Tít báo, Sapo, Mở - Thân -
Trang 14Kết của một bài báo Tuy nhiên, cách khai thác này chỉ tập trung chủ yếu trên báo viết mà chưa khai thác đến báo truyền hình nói chung và thể loại phóng
sự truyền hình nói riêng
• N óm t ứ ba, bao gồm một số bài báo khoa học có những phân tích
liên quan gần đến đề tài nghiên cứu:
- Nguyễn Thị Tuyết Thu (2008), “Vận dụng chất liệu Văn học thế giới vào báo chí Việt Nam thời hội nhập”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền
thông, số 10
Trong đó có một mục nhỏ với tiêu đề “Chất liệu văn học thế giới được lựa chọn phụ thuộc vào “gu” của từng nhà báo” Trong bài báo khoa học này tuy đã đề cập, khai thác đến chất liệu văn học được sử dụng trong báo chí nhưng lại chỉ dừng lại ở việc vận dụng chất liệu văn học thế giới với những điển tích, điển cố, ngạn ngữ Một vấn đề còn bỏ ngỏ trong bài báo khoa học này đó là việc vận dụng văn học Việt Nam vào tác phẩm báo chí, mà cụ thể là
sử dụng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam vào tác phẩm phóng sự truyền hình
- TS Nguyễn Thị Tuyết Thu (2006), “Sử dụng chất liệu văn học nước ngoài trong rút tít báo” đăng trên tạp chí Người làm báo số tháng 5
Tuy nhiên bài báo chỉ tập trung vào vấn đề lựa chọn và sử dụng chất liệu văn học để viết tít báo, còn việc sử dụng chất liệu này trong viết nội dung tác phẩm chưa được nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên mới bước đầu đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề sử dụng chất liệu văn học nói chung và sử dụng thành ngữ, tục ngữ nói riêng trong sáng tạo tác phẩm báo chí hay mối quan hệ giữa báo chí và việc sử dụng yếu tố văn học trong tác phẩm báo chí, báo chí truyền hình Tuy nhiên, việc đi sâu vào phân tích việc khai thác, sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình hầu như mờ nhạt thậm chí là chưa có công trình cụ thể nào Trong khi đó, mặc dù trong xã hội hiện
Trang 15đại, khoa học công nghệ phát triển, nhiều loại hình truyền thông mới ra đời và
có những sức phát triển mạnh mẽ nhưng truyền hình vẫn đang là loại hình báo chí được ưa chuộng, thu hút được đông đảo sự quan tâm của công chúng Cùng với đó, thể loại phóng sự truyền hình cũng là thể loại có vai trò quan trọng trong hệ thống thể loại quan trọng làm nên sức sống của các chương trình của nhà đài Việc làm thế nào để thể loại phóng sự ngày càng trở nên ấn tượng và không chỉ đem lại cho công chúng thông tin , sự định hướng mà còn truyền cảm xúc, cảm hứng tới người xem Làm thế nào để những chất liệu cuộc sống, chất liệu văn học, những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ đã được lưu truyền nhiều đời nay có giá trị thông tin, răn dạy… dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ…được vận dụng nhiều hơn, hợp lý hơn, hiệu quả hơn vào tác phẩm phóng sự để thông tin trong tác phẩm phóng sự dễ tiếp nhận hơn, gần gũi, thân thuộc với đời thường hơn?
Với mong muốn khám phá, giải thích một cách thấu đáo những câu hỏi
kể trên, với việc kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đó, coi đó là nền tảng lý luận và thực tiễn, tác giả luận văn sẽ đi sâu khảo sát tình trạng thực tiễn
sử dụng thành ngữ và tục ngữ trong phóng sự truyền hình trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam với mong muốn có một sự đóng góp cho việc phát triển thể loại phóng sự truyền hình và cho sự kết nối văn học và báo chí
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng ng iên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình
3.2 Đối tượng k o s t
- Các tác phẩm phóng sự trong “chương trình thời sự 19h” trên kênh VTV1
Trang 16Đây là chương trình có những tác phẩm phóng sự truyền hình được phát sóng với tần suất đều đặn và thường xuyên Bên cạnh đó thu hút lượng khán giả tương đối ổn định theo dõi và quan tâm Chính vì vậy có thể dễ dàng đánh giá tần suất, cách thức và hiệu quả sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm phóng sự truyền hình
- Các nhà báo, phóng viên của Đài Truyền hình Việt Nam nói chung
và kênh VTV1 nói riêng - đặc biệt tập trung vào những phóng viên chuyên sản xuất các phóng sự truyền hình Ngoài ra có thể lấy ý kiến của một số phóng viên đang hoạt đọng ở các cơ quan báo đài khác Dự kiến khoảng 3 người Mục đích để lấy ý kiến và kinh nghiệm của họ về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đíc ng iên cứu
Trang 17Trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết và thực tiễn, luận văn đi vào nghiên cứu, dựng lên một bức tranh toàn diện, khái quát về thực trạng, làm rõ những thành công, hạn chế của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng
sự truyền hình hiện nay; từ đó kiến nghị các giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng chất liệu này trong phóng sự truyền hình trong thời gian tới
Ngoài việc tìm hiểu sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
dã được thừa nhận trong các cuốn từ điển về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, luận văn cũng chú ý đến sự xuất hiện của các biến thể của các thành ngữ và tục ngữ đã được thừa nhận, một kiểu “sáng tạo” mới trong ngôn ngữ đang xuất hiện nhiều trong các chương trình truyền hình nói chung và trong các phóng sự của chương trình thời sự 19h nói riêng
Khảo sát sự xuất hiện của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trong các
phóng sự truyền hình , luận văn góp phần khảng đinh giá trị và vị trí đặc
biệt của các dơn vị ngôn ngữ này Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt không chỉ tồn tại lâu bền mà còn tiếp tục phát triển, làm giàu cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc
4.2 N iệm vụ ng iên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng thành ngữ,
tục ngữ trong phóng sự truyền hình như: Khái niệm, vai trò, thế mạnh, hạn chế của truyền hình và việc khai thác, sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình
Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng,
thành công, hạn chế trong việc khai thác, sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình trên kênh VTV1 hiện nay
Trang 18Ba là, đề xuất hệ thống những giải pháp hợp lý nhằm góp phần nâng
cao chất lƣợng, hiệu quả việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình trên truyền hình trong thời gian tới
Trang 195 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng, Nhà nước và các chủ trương, định hướng của các cơ quan ban ngành về báo chí; một số lý thuyết về báo chí nói chung, báo chí truyền hình nói riêng và các lý luận liên quan đến văn học, việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ
5.2 P ương p p ng iên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát, hệ thống hoá, bổ sung về mặt lý thuyết về truyền hình nói chung, phóng sự trên truyền hình nói riêng và đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình Đây chính là những lý thuyết cơ sở để đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được dùng để xác định tần số xuất hiện, mức độ phát triển, chất lượng, hiệu quả những chương trình có sử dụng thành ngữ, tục ngữ trên kênh VTV1 Phương pháp này được thực hiện bằng cách tác giả phải lưu giữ, xem lại các chương trình liên quan đến vấn đề khảo sát từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được thực hiện nhằm mục đích phân tích, khảo sát việc đáp ứng nhu cầu thông tin kết hợp việc sử dụng thành ngữ và tục ngữ trên kênh VTV1 như thế nào đối với khán giả
- Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 20Phương pháp này nhằm khảo sát trực tiếp công chúng về việc đánh giá chất lượng việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình trên kênh VTV1 Tác giả phát phiếu trưng cầu dân ý ngẫu nhiên cho 500 người tại
Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được thực hiện với lãnh đạo cơ quan báo chí, các phóng viên, chuyên gia nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân quanh vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận - nhận thức
Luận văn hệ thống hoá và phân tích cụ thể về vai trò của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình được phát sóng trên kênh VTV1 hiện nay Kết quả của luận văn góp một phần bé nhỏ bổ sung vào lý luận nghiên cứu về phóng sự truyền hình và đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ vào trong tác phẩm truyền hình nói chung, tác phẩm phóng sự truyền hình nói riêng
- Về mặt thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cho thấy một cái nhìn cụ thể, chỉ ra sự cần thiết của việc sử dụng kết hợp thành ngư, tục ngữ vào ngôn ngữ phóng sự, đây là một việc làm cần được phổ biến rộng hơn Từ đó gợi mở giúp các nhà quản lý đưa ra được những tiêu chí để có thể sản xuất các phóng sự truyền hình có nội dung hấp dẫn hơn, phù hợp hơn với khán giả Đồng thời, đặt ra những yêu cầu với các nhà báo trong việc tìm tòi, khai thác, sử dụng sao cho linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm phóng sự của mình Không ngừng mở rộng và trau dồi vốn hiểu biết, tạo phong cách riêng và nâng cao uy tín của cơ quan báo chí
Trang 21Bên cạnh đó, tác giả hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành 3 phần chính: Phần mở đầu; Phần nội dung
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
TRONG LỜI BÌNH PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH
Trong “Lời nói đầu” của từ điển “Thành ngữ tiếng Việt” có đoạn viết:
“Ranh giới bên dưới của thành ngữ là cụm gồm hai từ, còn ranh giới bên trên
là câu Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị trung gian nằm giữa hai giới hạn đó”
[17; tr 72] Quan niệm này về thành ngữ được đưa ra dưới góc nhìn về dung lượng chữ làm nên cụm từ và câu
Không chỉ dừng lại nhận định về thành ngữ như trên, tác giả Nguyễn
Văn Tu trong cuốn Cuốn “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” đã nghiên cứu sâu
hơn, nâng tầm và chỉ ra khái niệm thành ngữ ở góc độ ngữ nghĩa của các từ làm nên cấu trúc thành ngữ đó Cụ thể theo tác giả cuốn sách:
Thành ngữ là những cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng
có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học Một số thành ngữ trong tiếng Việt có tính chất kiểu điển tích, điển cố nhưng nghĩa điển cố, điển tích ấy không còn được
Trang 23nhớ lại nữa thậm chí là những người dùng hiện nay không cần biết lai lịch của những thành ngữ ấy [22; tr 185-186]
Đồng quan điểm như trên, tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ tiếng Việt”cũng cho rằng:
Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành
đã mất tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh Ví dụ: thành ngữ “Mẹ tròn con vuông” không thể đổi thành “Mẹ cũng tròn con cũng vuông” hay là
“Mẹ tròn lắm con vuông lắm” [5; tr 212]
Cùng quan điểm về góc độ ngữ nghĩa từ làm nên thành ngữ, tác giả
Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ và nhận diện từ tiếng Việt”đã nghiên cứu và
chỉ thêm ra đặc trưng về tính chất, sắc thái của từ làm nên thành ngữ đó và cho rằng:
“Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh
về nghĩa vừa có tính gợi cảm Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi, Hồn xiêu phách lạc, Nói thánh nói tướng Bên cạnh các nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng đi kèm theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng tán thành, hoặc là chê bai, khinh rẻ, hoặc là ái ngại, xót thương Chẳng hạn thành ngữ “Nói thánh nói tướng” vừa chê bai sự khoác lác vừa kèm thêm thái độ chê bai không tán thành ”[23; tr 80]
Tác giả cũng phân chia thành ngữ theo cấu trúc là:thành ngữ hoà kết, thành ngữ chắp dính Bên cạnh đó, tác giả cũng phân biệt thành ngữ với ngữ định danh và cụm từ tự do
Trong thời gian gần đây đã có luận văn của Trần Anh Tư là: “Thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong tiếng Việt” (2001) [32, tr12]
Luận văn này xem xét về đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc từ loại cũng như những
Trang 24biến thể sử dụng và các giá trị khác nhau của Thành ngữ tiếng Việt Đồng thời luận văn này cũng chỉ ra được các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa khái quát và vai trò của thành ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa Đây là công trình đã
có nhiều tính sáng tạo, công phu nhưng nó chỉ đi sâu vào thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong tiếng Việt chứ không đi sâu nghiên cứu thành ngữ so sánh
Từ việc khảo sát, phân tích thực tiễn như nêu trên, tác giả luận văn thấy rằng mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ, nhưng đó là những quan niệm được nhìn ở các góc nhìn khác nhau mà thôi, còn nội hàm
về thuật ngữ cơ bản tiệm cận, đều khẳng định tính hoàn chỉnh, ràng buộc của cụm từ làm nên thành ngữ và giá trị biểu cảm của cụm từ đó Tác giả xin khái
quát và đưa ra quan niệm về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là đơn vị tiêu biểu của từ ngữ, được hình thành bởi những cụm từ nhưng lại có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa hàm ẩn chứa đựng một hình tượng sinh động và độc đáo”
Điểm khác giữa thành ngữ Việt Nam và thành ngữ nước ngoài là nó bằng tiếng Việt, do người Việt sáng tạo ra Vì vậy, nó thể hiện những nét riêng về văn hóa, cách dùng ngôn từ của người Việt Qua nghiên cứu cho thấy, thành ngữ Việt phong phú hơn thành ngữ của nhiều nước về số lượng,
kèm theo đó là những biến thể trong thành ngữ Ví dụ: chúng ta nói “dày gió dạn sương”, nhưng cũng có thể nói “gió sương dày dạn”; chúng ta nói “dễ như trở bàn tay”, nhưng cũng có thể nói “dễ như lật bàn tay” Trật tự của các
từ trong nhóm có thể thay đổi, thậm chí từ cũng có thể thay thế, miễn là nói lên được nguyên ý Ví dụ: Thành ngữ được dùng để chê kẻ hết sức ngu dốt:
“dốt đặc cán mai”, “dốt dài cán thuổng”
1.1.2 Tục ngữ
Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội phản ánh lối nói, lối nghĩ và lối sống của nhân dân trải qua bao thời đại, lưu giữ một kho tàng tri thức,
Trang 25kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người
và xã hội Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian” Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời
ăn tiếng nói và khuyên răn
Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất
và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài
Từ trước đến nay cũng đã có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến
tục ngữ Việt Nam Theo Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ ca dao Việt Nam”:
“Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán” [33; tr 26]
Còn có khái niệm khác truyền miệng như: tục ngữ là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng của người đời truyền đi Đây là một trong những khái niệm về tục ngữ đã xuất hiện sớm, mặc dù chưa thật sự đầy đủ các đặc trưng nhưng cũng đã nêu được một số đặc điểm cơ bản của thuật ngữ này Tuy nhiên, qua nghiên cứu các khái niệm nêu trên cho thấy nội dung khái niệm chưa chú ý đến chức năng cũng như mục đích của tục ngữ Thực tế, tục ngữ còn có chức năng thông báo Thông báo một nội dung tri thức và nhằm để đạt được một mục đích nào đó trong quá trình giao tiếp của con người như: truyền đạt kinh nghiệm; giáo huấn một điều tốt, răn đe, hạn chế cái xấu; bày tỏ thái độ, quan niệm, chính kiến trước một hiện tượng nào đó; tăng tính lập luận khi trình bày một vấn đề, một sự việc, một sự biện giải mà không cần giải thích, biện luận nhiều lời…
Trang 26Nhóm tác giả: Chu Xuân Diên - Lương Văn Đang - Phương Tri trong
“Tục ngữ Việt Nam”cho rằng:
Nội dung tục ngữ là các kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân, có khi được tổng kết dưới dạng các tư tưởng triết lý dân gian Hình thức của tục ngữ là hình thức các đơn
vị lời nói, có thể dễ dàng được nhà văn nhà thơ dùng như một thành
tố hữu cơ trong cấu trúc ngôn ngữ tác phẩm của minh Điều đó khiến cho sự thâm nhập của tục ngữ với tư cách là một thể loại sáng tác dân gian vào sáng tác cá nhân thường thể hiện thành sự tiếp thu,
sự sử dụng của nhà văn, nhà thơ một cách trọn vẹn các câu tục ngữ
cả về nội dung lẫn hình thức [1; tr 12]
Như vậy nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ này, tuy nhiên điểm chung có thể chỉ ra là tục ngữ xuất hiện từ rất sớm, gắn với đời sống lao động của con người, để diễn đạt các kinh nghiệm của
con người Quan niệm của nhóm tác giả của cuốn sách “Tục ngữ Việt Nam”
nói trên tương đối bao quát, rõ ràng Tác giả luận văn xin được kế thừa khái niệm này để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong một bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Văn Mệnh
đã khẳng định: “Giữa thành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra được những đặc điểm khác biệt rõ ràng ở cả hai phương diện nội dung và hình thức” Từ nhận xét: “Về nội dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ” còn tục ngữ “đi đến một nhận định cụ thể một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức” và tác giả đã kết luận: “Có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp “Mồi câu” của thành ngữ chỉ là một cụm từ chưa phải là
Trang 27một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”
[25; tr 3]
Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như: ca dao, truyện
cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mọi tục ngữ đọc
lên là “một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng ” [25; tr 41] Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” các tác giả đã định
nghĩa: Tục ngữ là “Câu ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của một dân tộc Khác với thành ngữ, tục ngữ
không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp Ví dụ: Thuốc đắng dã tật, Uống nước nhớ nguồn ” [18; tr 329]
Việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ trước những năm 1940 chưa
thấy có sách nào đề cập đến Từ năm 1968, với cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” lần đầu tiên Dương Quảng Hàm đặt vấn đề phân biệt thành ngữ với tục
ngữ Có thể coi đây là ý kiến đầu tiên được chú ý đến trong quá trình đi tìm sự
khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ Ông cho rằng “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [3; tr 89]
Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân
lý Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa và ẩn dụ Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên
cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ Hình thức đối: đối thanh,
Trang 28đối ý Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán
Tóm lại, tục ngữ và thành ngữ là khác nhau trong đó tục ngữ là những câu nói gọn chắc, xuôi tai, diễn đạt những kinh nghiệm lâu đời của nhân dân
về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội: nó thường được nhân dân vận dụng trong suy nghĩ, trong nói năng, và trong những hoạt động thực tiễn của mình (như làm ăn, giao tiếp, ứng xử…) Ví dụ: Hiện tượng “cóc nghiến răng” ngày nay đã được khoa học giải thích nhưng từ xưa, người Việt
đúc kết về dự báo mưa thông qua câu tục ngữ:”Cóc nghiến răng đang nắng thì mưa”, “Ếch kêu uôm uôm ao chuôm đầy nước”…
1.1.3 Lời bình của phóng sự truyền hình
- Phóng sự truyền hình
Trong tác phẩm “Báo chí truyền hình”, các tác giả G V Cudonhetxop,
X L Xvich, A La Iuropxki có viết: “Phóng sự là thể loại báo chí thông tin nhanh chóng trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình về một sự kiện nào đó
mà phóng viên đã chứng kiến, can dự vào” [36, tr 59] Với quan niệm này
các tác giả nhấn mạnh đến tính thời sự, nhanh chóng của phóng sự
Còn tác giả Phạm Thành Hưng trong “Thuật ngữ báo chí – truyền thông”đã định nghĩa:
Phóng sự là thể loại trần thuật diễn biến của những sự kiện
có ý nghĩa xã hội quan trọng mà tác giả đã chứng kiến, trải nghiệm
ít nhiều, với những ấn tượng, cảm xúc sống động, được trình bày dưới hình thức văn viết, lời kể, băng ghi âm, hình ảnh truyền hình Tác phẩm phóng sự thường thống hợp hai yếu tố có tác động tương hỗ: thông tin về sự kiện khách quan và quan điểm chủ kiến của tác giả [26, tr 35]
Trang 29Trong cuốn sách “Công chúng truyền hình”, tác giả Trần Bảo Khánh,
có viết:
Phóng sự truyền hình là thể loại báo chí phản ánh sự kiện, hiện tượng, vấn đề theo logíc khách quan trong quá trình phát sinh, phát triển bằng ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh Những thông tin này bao gồm sự kiện, vấn đề và cả quan điểm, thái độ của nhà báo trước sự kiện, vấn đề đó [31, tr 59]
Cũng đồng quan điểm với các tác giả của các cuốn sách nêu trên, tác
giả Nguyễn Ngọc Oanh trong cuốn: “Phóng sự truyền hình, lý thuyết và kỹ năng” định nghĩa:
Phóng sự truyền hình là thể loại đặc trưng của truyền hình
Nó chuyển tải một nội dung thông tin nóng hổi, sinh động đến công chúng ở thời hiện tại Nội dung thông tin được bộc lộ theo trình tự logíc diễn biến của sự kiện, vấn đề qua dòng hình ảnh và âm thanh của hiện thực mà phóng viên lựa chọn, sắp xếp Chính kiến, thái độ
và cảm xúc của phóng viên bộc lộ rõ qua việc phân tích, cắt nghĩa,
lý giải sự kiện, vấn đề đó [23, tr 19]
Như vậy, phóng sự truyền hình về bản chất giống phóng sự báo chí nói chung Nhưng do mỗi loại hình báo chí có đặc trưng riêng, đặc biệt là về ngôn ngữ, kỹ thuật chuyển tải và phương thức tác động của thông tin tới công chúng mà phóng sự truyền hình có một vài điểm khác biệt Xét những quan niệm đã nghiên cứu, tác giả luận văn xin kế thức khái niệm phóng sự truyền hình của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Oanh để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tiếp sau
- Lời bình của phóng sự truyền hình
Thực tế cho thấy với truyền hình, hình ảnh là chính ngôn – ngôn ngữ chính để truyền đạt nội dung thông tin Hình ảnh giúp người xem có thể hiểu
Trang 30sự kiện, sự việc gì xảy ra? Xảy ra ở đâu? Khi nào và như thế nào? Chính vì
lẽ đó, mà trên truyền hình có khi khán giả có thể được đón nhận những tác phẩm chỉ có hình ảnh và tiếng động hiện trường nhưng có thể kể được một câu chuyện nào đó Tuy nhiên, số lượng những tác phẩm như vậy không thật nhiều Và cách thức đó thường chỉ dành cho những tác phẩm vấn đề không quá phức tạp Còn thực tế, phần nhiều tác phẩm truyền hình hiện nay ngoài hình ảnh về sự kiện, hiện tượng được đề cập tới thì còn có sự trợ giúp thêm của lời nói nói chung và lời bình nói riêng Cùng với hình ảnh, lời bình cũng
là ngôn ngữ góp phần làm nên một tác phẩm truyền hình Lời bình giúp cung cấp thêm thông tin (số liệu, con số cụ thể…); phân tích những chi tiết mà hình ảnh không chuyển tải hết ý nghĩa; và có thể chia sẻ cảm xúc giúp khán giả nhập cuộc
Với phóng sự truyền hình, lời bình cũng có vai trò như vậy Lời bình góp phần giúp cho khán giả hiểu sâu, hiểu rõ hơn bản chất của câu chuyện, vấn đề mà phóng sự truyền hình đang đề cập tới Lời bình trong phóng sự truyền hình giúp truyền đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm, giúp người xem tổng hợp, khái quát được ý nghĩa của sự việc, sự kiện phản ánh trong tác phẩm Đó là công cụ cung cấp thông tin có chiều sâu Nhiều khi không có lời bình, hình ảnh rất khó khăn để có thể chuyển tải được hết nội dung thông tin
mà công chúng cần Mặc dù hiện nay để hiện đại hóa ngôn ngữ truyền hình nhằm mang tới sự sinh động, hấp dẫn cho người xem, hệ thống kỹ xảo, đồ họa, âm thanh phụ trợ được khai thác tối đa nhưng cho dù là ấn tượng đến mấy thì tất cả sẽ chỉ dừng ở bề ngoài nếu không có phân tích, nhận định từ phóng viên Lời bình góp phần quan trọng để đẩy sự thật lên đến mức cao nhất trong cảm thụ của khán giả Đó là cách diễn đạt có định hướng nhận thức
tư tưởng của phóng viên về thông tin sự kiện, với mục đích nâng tầm hình ảnh
và cái tôi của tác giả Nhất là trong phóng sự có ảnh tĩnh thay hình ảnh thực tế
Trang 31thì việc không có lời bình sẽ làm khán giả khó có thể hình dung được chủ ý của tác giả khi đưa ra bức ảnh đó Khi lời bình đó phải hợp lý, ăn khớp với hình ảnh, … thì hiệu quả đạt được càng tối đa; bình luận, đánh giá của tác giả
về sự kiện thể hiện bằng lời sẽ làm tăng tính hấp dẫn hơn
Tóm lại, “lời bình của phóng sự truyền hình là một loại ngôn ngữ được chắt lọc viết ra từ sự suy tư, tổng hợp của nhà báo khi tiếp cận một vấn
đề trong xã hội và khi kết hợp với hình ảnh sẽ góp phần làm nên một phóng
sự hoàn thiện về ý tứ, sâu sắc về tư tưởng giúp người xem hiểu được bản chất của câu chuyện đang được đề cập tới”
1.1.4 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình
Một tài liệu đã định nghĩa: “Sử dụng là đem dùng vào mục đích nào đó” [18, tr 491] Hành vi sử dụng chỉ xuất hiện trong thế giới con người và là
hành động có mục đích, có tính toán nhằm mục đích đem lại hiệu quả tốt nhất Hành động “sử dụng” chỉ xuất hiện khi có đối tượng để khai thác Ví dụ: sử dụng cái bút, sử dụng quyển vở… Trong trường hợp này, đối tượng đem ra để
“dùng” hay nói cách khác để “sử dụng” đó là cái bút hoặc quyển vở Và quyển vở hay cái bút được dùng vào việc ghi chép, học tập Nếu như khai thác là hành động số một - là sự tìm kiếm và sử dụng là hành động tiếp theo thứ hai, là việc dùng những thứ đã khai thác được vào một công việc, một tình huống cụ thể một cách có mục đích để đạt hiệu quả tốt nhất Khai thác luôn hướng tới việc là tìm kiếm mong sao đem về (cho mình, cho đơn vị mình) những sản phẩm, vật phẩm, thông tin… càng nhiều càng tốt thì sử dụng lại hướng tới việc dùng có chủ đích những cái “kiếm được” đó với mong muốn sao có hiệu quả nhất
Vậy, từ sự phân tích đó, kết hợp với những khái niệm nêu trên có
thể quan niệm: “Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình của phóng sự truyền hình là việc dùng xen kẽ vào lời bình một số thành ngữ, tục ngữ hợp
Trang 32với nội dung tác phẩm nhằm thay thế những câu văn xuôi diễn đạt dài dòng giúp cho tác phẩm thêm dễ hiểu và tăng phần cảm xúc trong tiếp nhận” Sử
dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình là một xu thế của báo chí nói chung và của truyền hình nói riêng Cách đưa thành ngữ, tục ngữ vào lời bình phóng sự truyền hình được các phóng viên, biên tập viên sử dụng từ rất lâu và nhằm đưa ra những lời bình sâu sắc, dễ cảm nhận nhất cho người xem Bằng cách đưa thành ngữ, tục ngữ; lời bình phóng sự truyền hình vừa mang phong cách hiện đại, vừa dí dỏm, hàm súc, gây ấn tượng cho người đọc Do vậy, nếu nhà báo biết vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách thích hợp với sự kiện thì bài viết sẽ trở nên độc đáo, cô đọng,
hấp dẫn hơn so với cách thể hiện thông thường
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình
- Làm cho phóng sự trở nên “mềm mại”, giàu thông tin, cảm xúc và
dễ tiếp nhận
Thành ngữ, tục ngữ là lời ăn tiếng nói, là sự đúc kết những kinh nghiệm từ cuộc sống hàng ngày của nhân dân lao động Đó là những lời nói ngắn gọn nhằm kết tinh kinh nghiệm, lối sống và tinh hoa văn hóa của dân tộc Nó là kết tinh tinh hoa của ngôn ngữ vì tục ngữ, thành ngữ rất ngắn gọn
dễ sáng tác, dễ nhớ và dễ truyền miệng Ngôn ngữ hàm súc, ít lời nhưng nhiều
ý Thành ngữ, tục ngữ có tính biểu cảm, tính hình tượng cao, gợi sự liên tưởng cho người đọc, người nghe vì thế mà trong các tác phẩm báo chí, nhà báo thường sử dụng chất liệu này Cũng bởi vậy, những bài phóng sự có dùng thành ngữ, tục ngữ hợp lý góp phần người xem tiếp nhận thông tin dễ dàng và cảm xúc hơn Ví dụ: câu nói: “Đêm ấy trời rất tối, chúng tôi nhìn chẳng thấy
gì cả” Nói như vậy cũng rất rõ, nhưng chưa phải là cực tả, chưa có hình
tượng gì Nếu dùng thành ngữ: “Đêm ấy, trời tối đen như mực, hay tối ngửa
Trang 33bàn tay không thấy; tối như hũ nút ; tối như đêm ba mươi” …thì câu văn sẽ
dễ hay cũng như dễ hiểu hơn
- Tạo nên sự độc đáo, ấn tượng cho lời bình nói riêng và cho tác phẩm nói chung
Nếu nhà báo biết vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách thích hợp với
sự kiện thì bài viết sẽ trở nên độc đáo Việc lựa chọn, trích dẫn các thành ngữ
và tục ngữ trên báo chí cũng có thể đem đến tác dụng không kém các hình tượng văn học trong việc gây ảnh hưởng đối với người đọc Các thành ngữ và tục ngữ xuất hiện dưới dạng trích dẫn trong bài báo, nếu được sử dụng một cách lôgic, có tính nghệ thuật sẽ đem lại hiệu quả vượt xa bất kì sự miêu tả hay tường thuật nào, bởi lẽ nó đáp ứng được cả hai yêu cầu của ngôn ngữ báo chí Những ý tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của nhà báo đối với sự kiện của người viết được thể hiện một cách sâu sắc, ẩn ý hơn Đó là những thông tin ngoài lời Đồng thời, nó còn mang mục đích chia sẻ, tác động nhất định tới độc giả bằng chính kiến của tác giả Trong một số trường hợp viết về vấn đề cần phê phán (tệ nạn xã hội, những hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm những quy tắc, chuẩn mực xã hội) thì việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ sẽ giúp nói tới hàm ý phê phán, cảnh báo kín đáo, thâm thúy hơn Ví dụ : Câu nói “ Làm láo, báo cáo hay”, “ Làm thật ăn cháo, làm láo nháo ăn cơm” dùng dể nói về những vấn đề gây bức xúc dối với nhân dân đó là lề lối làm việc của cán bộ, công chức nhà nước nhiêu khê Đây là cách nói vừa hài hước, dí dỏm, vừa thâm thuý, sâu cay
- Góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Khi biết vận dụng và sáng tạo thêm những thành ngữ, tục ngữ; nhà báo đã thiết thực góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và phát huy văn hóa Việt Tục ngữ, thành ngữ được ra đời từ thời xa xưa với cách dùng ngôn ngữ của ông cha ta từ xưa Nếu nói dân tộc Việt Nam đã có
Trang 344000 năm lịch sử, thời tục ngữ, thành ngữ Việt Nam cũng đã có 4000 năm tuổi Tới nay, dù ngôn ngữ hiện tại có thay đổi song bằng các thành ngữ, tục ngữ cổ, ta biết được tiếng nói cổ của cha ông, từ đó hiểu về văn hóa, cách nhìn nhận mọi vật của tổ tiên Nó là giá trị văn hóa tinh thần vô cùng quan trọng, đi song hành với những cổ vật quý mà chúng ta còn lưu giữ được Chính vì điều này nên thành ngữ, tục ngữ được gọi là “hóa thạch sống” của ngôn ngữ Có thể lấy ví dụ: trong thành ngữ Việt có cụm từ “Ăn trên ngồi trốc” Từ “trốc” là từ cổ, được dùng với nghĩa là đầu Hay thành ngữ “Con dại cái mang”, “cái” ở đây chỉ mẹ, đây cũng là từ cổ Nhờ hai câu tục ngữ này, ta
đã lưu giữ lại được hai từ cổ Từ đó ta hiểu về ý thức mẫu hệ của người Việt
cổ (ví dụ: qua từ “cái”, ta thấy mẹ được nhắc tới với ý thức về cái to lớn, vĩ đại, quan trọng) Ngoài ra, lớp trầm tích này có thể mở rộng hơn với việc sử dụng ngôn ngữ để phản ánh xã hội Nhờ thành ngữ, tục ngữ cổ, ta hiểu về văn hóa cổ xưa của ông cha ta Đây là nhóm từ vựng phản ánh rõ nét nhất đặc điểm văn hoá và những nét đặc sắc trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc, phản ảnh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam, qua quá trình lịch sử Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy mầu sắc Việt Nam Đồng thời đúc kết những kiến thức, kinh nghiệm, phản ánh nhiều lĩnh vực đa dạng của đời sống
xã hội, tư duy, quan niệm và phong tục tập quán của mỗi dân tộc
1.3 Cách thức sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng
sự truyền hình
1.3.1 Giữ nguyên dạng (trích dẫn trực tiếp)
Thành ngữ, tục ngữ gốc là những câu thành ngữ, tục ngữ được chấp nhận chung bởi cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Thành ngữ, tục ngữ được sử dụng nguyên dạng trong phóng sự truyền hình là những thành ngữ khi sử dụng vẫn giữ nguyên thành phần và trật tự của các thành tố của “bản gốc” Cụ thể, khi sử dụng không bị thay đổi, thêm, bớt các thành tố của thành ngữ, tục ngữ gốc…
Trang 351.3.2 ông giữ nguyên dạng
Thành ngữ, tục ngữ được sử dụng sáng tạo ở đây là những thành ngữ, tục ngữ được phát triển từ thành ngữ, tục ngữ gốc sau đó thêm từ, thay đổi trật
tự, thay đổi một số thành tố hoặc dùng một phần của thành ngữ để tạo nghĩa
Thực tế, nhiều nghiên cứu đã cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng, nhà văn hoá lớn của dân tộc cũng đã sử dụng thành ngữ, tục ngữ rất sáng tạo như một cách tiếp cận và truyền đạt thông tin hiệu quả nhất Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành ngữ, tục ngữ, Người đã linh hoạt thêm, bớt các thành tố của thành ngữ, tục ngữ để cho thành ngữ ấy thoát khỏi những sự ràng buộc, cố định cố hữu để có “cuộc sống” riêng, sống động hẳn lên Đặc biệt, nhờ những sự sáng tạo của Người mà nghĩa của không ít thành ngữ, tục ngữ trở nên tinh tế hơn, chính xác hơn và cũng hiện đại hơn
Ví dụ, nếu như trong câu “Hàng vạn phụ nữ đi dân công “ăn gió nằm sương”, trèo đèo lội suối”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng nguyên vẹn cả thành ngữ “ăn gió nằm sương” để miêu tả về sự vất vả của những nữ dân công thì với những chiến sĩ ngoài mặt trận, Người lại đổi thành ngữ “ăn gió nằm sương” thành “ăn gió nằm mưa” để diễn tả nỗi gian lao, vất vả bội phần của họ Câu đó được viết như sau: “Trong ba ngày tết đồng bào ai cũng đoàn
tụ xum vầy xung quanh những bình hoa, mâm bánh, còn các bạn thì chịu “ăn gió nằm mưa” lạnh lùng ở chốn sa trường” [23; tr 34]
Việc vận dụng sáng tạo thành ngữ, tục ngữ không chỉ mang lại diện mạo mới cho thành ngữ, tục ngữ mà còn giúp người viết diễn đạt sinh động, hiệu quả nhất ý tưởng của mình Cụ thể, có 3 dạng sử dụng thành ngữ, tục ngữ không nguyên dạng như sau: (1) Hoán đổi vị trí các yếu tố; (2) Cải biên, thêm các yếu tố; (3) Lược bớt các yếu tố
Trang 36+ Hoán đổi vị trí các yếu tố
Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ đơn lập, phạm trù trật tự từ trong tiếng Việt là một phạm trù quan trọng Khi thay đổi trật tự từ trong các câu sẽ dẫn đến thay đổi ý nghĩa của câu hoặc có thể biến câu đó thành một câu vô nghĩa
vì “không thể hiểu được”, không thể chấp nhận được Chẳng hạn, chúng ta có thể nói “Tôi đi chơi” chứ không thể thay đổi thành “Chơi đi tôi” được Điều này càng trở nên khắt khe hơn với thành ngữ, tục ngữ vốn là những đơn vị
“có sẵn” và đã được “cố định hoá” thành một khối vững chắc, ổn định theo thời gian Tuy nhiên, thực tế cuộc sống nói chung và trong truyền hình nói riêng, các thành ngữ, tục ngữ khi vận dụng trong lời bình đã được người sử dụng thay đổi linh hoạt trật tự các thành tố, mang lại sự mới mẻ trong cách dùng thành ngữ, tục ngữ Và việc đổi trật tự này thường được sử dụng với những thành ngữ có 2 vế và có vị trí, hình thức ngang nhau
Ví dụ: Trong một loạt bài báo trên báo Thể thao&Văn hóa, có thể thấy
sự hoán đổi vị trí của các cặp yếu tố trong thành ngữ như: “Cân tài/cân sức” thành ”Cân sức/cân tài” (báo Thể thao&Văn hóa, số 38, ngày 11/7/2015); hay, “Bình cũ/rượu mới” thành ”Bình mới/rượu cũ” (báo Thể thao&Văn hóa,
số 3, ngày 11/1/2015) hoặc “Khôn nhà/dại chợ” thành ”Khôn chợ/dại nhà”
(báo Thể thao&Văn hóa, số 33, ngày 11/6/ 2015), …
+Cải biên, thêm các yếu tố
Xét về một phương diện nào đó, thành ngữ, tục ngữ cũng như ca dao là những sản phẩm của văn hoá dân gian Thành ngữ, tục ngữ được hình thành, vận dụng trong quá trình nói năng của nhân dân và trước khi được ghi chép dưới dạng văn tự thì thành ngữ, tục ngữ đã tồn tại dưới dạng truyền miệng Đây là lý do khiến cho các thành tố tạo nên thành ngữ đôi khi có sự
“bất ổn”, phụ thuộc từng ngữ cảnh cụ thể và cách vận dụng thành ngữ của từng cá thể Vì vậy mới có những câu thành ngữ tục ngữ được sử dụng theo
Trang 37thời gian đã được cải biên cho dễ đọc, dễ hiểu hơn Cách sáng tạo linh hoạt từ một cấu trúc có sẵn và phổ biến khiến cho câu nói mang tính gần gũi hơn với công chúng Hơn nữa “cách nói thành ngữ, tục ngữ” là cách nói có tính khái quát cao, việc sáng tạo thành ngữ, tục ngữ như vậy sẽ tạo nên độ sâu, tăng tác dụng nhấn mạnh cho ý tưởng của người viết
Đặc biệt, trong một số trường hợp, để phục vụ cho mục đích thông tin của mình người nói hay người viết có thể cải biên, thêm các thành tố của thành ngữ, tục ngữ để tạo nên một “ngữ” mới, có khả năng biểu đạt cao và sâu sắc phục vụ cao nhất cho bài viết của mình
Ví dụ 1: câu tục ngữ ”Cá lớn nuốt cá bé” được cải biên bằng cách giao hoán vị trí 2 yếu tố bé và lớn cho nhau thành ”Cá bé… nuốt cá lớn” (Báo Bóng đá, số 286) Việc cải biên này nhằm diễn tả kẻ mạnh (cá
lớn) hà hiếp kẻ yếu (cá bé), người trên áp bức người dưới giờ đã hoàn toàn thay đổi, giờ đây thời thế, thế thời đã khác, không còn theo quy luật mà “kẻ dưới lại có thể áp đảo kẻ trên”
Ví dụ 2: Tác giả bài báo cũng mở rộng cấu trúc câu tục ngữ, thành
ngữ bằng cách giữ lại tất cả yếu tố gốc, rồi thêm các yếu tố mới: Tấm huy chương đồng quý như vàng (báo Thể thao&Văn hóa, 120), Lotito giận quá mất khôn (báo Thể thao Hồ Chí Minh, 291), Nguyễn Tiến Minh đã hết khôn nhà dại chợ (báo Thể thao&Văn hóa, 257) Bằng việc mở rộng cấu trúc của
thành ngữ, tục ngữ gốc, bài báo có khả năng truyền tải nhiều nội dung thông tin hơn, nêu rõ chủ đề, thái độ của người viết so với các tít báo chỉ sử dụng thành ngữ, tục ngữ ở nguyên dạng
+ Lược bớt các yếu tố
Vận dụng lối nói dân gian, giàu hình ảnh và súc tích, nhiều tác giả đã dùng một phần của câu thành ngữ, tục ngữ để tạo nghĩa, đồng thời làm cho việc biểu đạt thông tin thêm sinh động Cách lược bớt đi các yếu tố hoặc một
Trang 38phần của thành ngữ, tục ngữ còn làm cho câu văn trở nên mềm mại hơn…Hoặc dựa trên các mô hình đã có sẵn từ thành ngữ, tục ngữ gốc, người viết đã lược bớt yếu tố cũ và thay thế bằng yếu tố mới, rồi kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa các yếu tố gốc với các yếu tố mới Các từ trong thành ngữ, tục ngữ được thay thế nằm trong những trường hợp đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa Cách khác nữa là, người viết không đưa thêm bất kỳ yếu tố mới nào vào trong cấu trúc gốc, mà bớt đi một bộ phận (thường là một vế) của thành ngữ, tục ngữ gốc Bài viết có thể sử dụng vế đầu của thành ngữ, tục ngữ gốc và thường bỏ lửng bằng dấu “…” ở cuối, tạo nên sự gợi mở cho người đọc
Chẳng hạn, thành ngữ gốc ”đền ơn, trả nghĩa” được cải biên thành
“đền ơn, đáp nghĩa” (báo Bóng đá, số 27); hoặc, thành ngữ ”của chồng công vợ” thành ”của chàng, công nàng” (Báo Bóng đá, số 59); hay như, sử dụng
vế đầu của thành ngữ, tục ngữ gốc và thường bỏ lửng bằng dấu “…” ở cuối,
tạo nên sự gợi mở cho người đọc: ”Đầu xuôi…” (Báo Bóng đá, số 37), “Kẻ
ăn không hết…” (Báo Bóng đá, số 177); hoặc sử dụng vế sau của thành ngữ, tục ngữ gốc, thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào kết quả: ”Mỗi nhà, mỗi cảnh” (Báo Bóng đá, số 51)…
1.4 Yêu cầu về sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng
sự truyền hình
1.4.1 T àn ngữ, tục ngữ sử dụng p i góp p ần cung cấp, n ấn mạn một t ông tin, t ông điệp oặc tạo dựng c m xúc c o p óng sự
Thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình vẫn phải đảm bảo nhiệm vụ của tác phẩm báo chí Nó luôn gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm cơ bản nhất của báo chí, trong đó chức năng thông tin kịp thời về những cái mới đóng vai trò như một đặc điểm quan trọng nhất Nó phải cung cấp, nhấn mạnh thông tin thời sự và bình luận kịp thời về những sự việc, sự kiện,
Trang 39con người, tình huống, hoàn cảnh tiêu biểu, điển hình mới xuất hiện, vừa nảy sinh trong đời sống hàng ngày Dù mang tính nghệ thuật độc đáo ra sao thì các thành ngữ, tục ngữ cũng phải đáp ứng hai yêu cầu tính thời sự và tính xác thực tối đa với mục đích rõ ràng là cung cấp cho công chúng những thông tin
về những sự kiện mới nhất Nó thuyết phục công chúng bằng sự thật tiêu biểu chứ không phải bằng lý lẽ hay ngôn ngữ, bút pháp, giọng điệu Do đó, nó
thường đơn giản, trực tiếp, cụ thể Tính hình tượng trong câu tục ngữ, thành
ngữ cũng chỉ để nhấn mạnh sự kiện, thông tin
Việc phản ánh đúng sự thật vẫn chưa đủ Điều còn quan trọng hơn
là thành ngữ, tục ngữ phải tạo dựng cảm xúc cho phóng sự Từ đó, gây sự hấp dẫn, ấn tượng cho người đọc Khi lựa chọn thành ngữ tục ngữ, nhà báo nên tự hỏi: Liệu rằng những thành ngữ tục ngữ được thông tin, phản ánh trong bài viết có gây được ấn tượng trong lòng độc giả không? Liệu độc giả có quan tâm đến sự kiện, vấn đề, con người, tình huống… mà bài viết mang tới cho họ không? Từ đó, không phải thành ngữ tục ngữ nào cũng được chọn, mà chỉ nên chọn những câu đắt giá, gây ấn tượng mà thôi
1.4.2 Tần suất sử dụng t àn ngữ, tục ngữ cần lin oạt, ợp lý
Trong văn bản báo chí, đặc biệt là truyền hình, tục ngữ, thành ngữ được các tác giả sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, không phải hễ được sử dụng, các đơn vị ngôn ngữ này tất yếu phát huy hiệu quả nghệ thuật của chúng Tùy từng tình huống, vấn đề cụ thể mà phóng viên khi viết lời bình quyết định sử dụng thành ngữ, tục ngữ nhiều hay ít Hay nói cách khác, sử dụng hợp lý thành ngữ tục ngữ trong lời bình là cân nhắc được độ vừa phải của nó trong tổng thể lời bình của phóng sự Sự vừa phải, hợp lý đó có thể ví như việc “tra” gia vị cho món ăn làm cho món ăn (bài phóng sự)thêm đậm đà, cuốn hút hơn Còn nếu gia vị quá nhiều hoặc quá ít sẽ khiến cho món ăn quá mặn hoặc quá nhạt sẽ khó sử dụng Và đã là gia vị cho một món ăn nghĩa là
Trang 40gia vị (thành ngữ, tục ngữ) sẽ chỉ là sự tô điểm thêm và dung lượng sẽ ít hơn chất liệu chính (lời văn, phần bình luận của phóng viên) làm nên món ăn (phóng sự) đó
Thực tế, khi sử dụng cách diễn đạt thông thường không hiệu quả, không nổi bật được hết nội dung muốn truyền đạt cho khán giả thì sử dụng thành ngữ, tục ngữ là biện pháp thông minh nhất Hoặc để đảm bảo đúng thời lượng qui định của chương trình thì sử dụng thành ngữ, tục ngữ cũng giúp rút ngắn thời lượng đảm bảo yêu cầu về thời gian của tác phẩm hay chương trình Đây cũng chính là thể hiện sự linh hoạt trong các tình huống ngôn ngữ của các phóng viên Tiêu chí này khá khó để xác định nhưng cần được đánh giá
để khẳng định được chất lượng, hiệu quả của mỗi phóng sự tác động đến nhận thức, tình cảm, cảm nhận của người xem truyền hình
1.4.3 Lựa chọn dạng thức thành ngữ, tục ngữ phù hợp nội dung phóng sự
Về mặt nội dung, câu thành ngữ, tục ngữ được dùng cần phù hợp với hoàn cảnh sử dụng, hợp với ý tưởng mà các phóng viên cần diễn đạt Nội dung sẽ quyết định phần lớn việc lựa chọn việc đưa thành ngữ, tục ngữ nào vào lời bình phóng sự Thực tế, thành ngữ, tục ngữ thường là những câu nói ngắn gọn, đơn giản, dung lượng nhỏ bé nhưng nếu chọn không phù hợp thành ngữ, tục ngữ cho nội dung phóng sự sẽ khiến khán giả hiểu không đúng, hiểu nhầm thậm chí là hiểu sai lệch ý cần diễn đạt của các phóng viên
Thông thường, các phóng sự có nội dung về lĩnh vực văn học, văn hóa dân tộc, phê phán xã hội, hay cuộc sống sinh hoạt thường nhật…là những nội dung phù hợp để sử dụng thành ngữ, tục ngữ Thực tế, bên cạnh những trường hợp thành công, cũng có không ít trường hợp các thành ngữ, tục ngữ được dùng không ăn nhập gì với các bộ phận khác trong câu do lạc ý hoặc do lạc phong cách Như vậy, người viết không thể đưa thành ngữ, tục ngữ vào lời