Và đặc biệt là những tìm tòi đổi mới, về nghệ thuật truyện ngắn của tác giả được thể hiện qua nhiều phương diện, trong đó có phương diện ngôn ngữ.. Trong “150 thuật ngữ văn học”, Lại Ngu
Trang 1NGUYỄN MAI PHƯƠNG
TỪ NGỮ VÀ CÁC TRƯỜNG NGHĨA
TRONG MẠC CAN TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
Trang 2NGUYỄN MAI PHƯƠNG
TỪ NGỮ VÀ CÁC TRƯỜNG NGHĨA
TRONG MẠC CAN TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH
NGHỆ AN - 2015
Trang 3Trong quá trình theo học ngành Ngôn ngữ học - khoa Ngữ văn - trường Đại học Vinh và quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của gia đình
và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi sai sót
Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Ngôn ngữ truyện ngắn 4
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn 4
1.1.2 Phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết 7
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn 13
1.2 Mạc Can - Tác giả và tác phẩm 16
1.2.1 Vài nét về tác giả 16
1.2.2 Vài nét về các tác phẩm của Mạc Can và “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc” 20
1.3 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Mạc Can và các vấn đề đặt ra 22
1.3.1 Lịch sử vấn đề 22
1.3.2 Các vấn đề về từ ngữ và nghiên cứu từ ngữ trong văn bản nghệ thuật nói chung, truyện ngắn Mạc Can nói riêng 25
1.4 Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 CÁC LỚP TỪ NGỮ NỔI BẬT TRONG MẠC CAN TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC 31
2.1 Sơ lược về các cách phân loại từ hiện nay và hướng nghiên cứu chúng trong Mạc Can Truyện ngắn chọn lọc 31
Trang 52.2 Một số lớp từ ngữ ưa dùng của Mạc Can trong Mạc Can
truyện ngắn chọn lọc 34
2.2.1 Lớp từ láy 34
2.2.2 Lớp từ hội thoại 43
2.2.3 Lớp từ địa phương 45
2.3 Tiểu kết chương 2 54
Chương 3 CÁC TRƯỜNG NGỮ NGHĨA NỔI BẬT TRONG MẠC CAN TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC 56
3.1 Khái niệm trường ngữ nghĩa và hướng nghiên cứu các trường ngữ nghĩa nổi bật trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc 56
3.1.1 Khái niệm trường ngữ nghĩa từ vựng 56
3.1.2 Hướng nghiên cứu các trường nghĩa trong “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc” 58
3.2 Các trường ngữ nghĩa được Mạc Can dùng nhiều trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc 59
3.2.1 Trường ngữ nghĩa về thời gian 59
3.2.2 Trường nghĩa về không gian 63
3.2.3 Trường nghĩa về tâm trạng 73
3.2.3 Trường từ ngữ sinh hoạt 80
3.3 Những nét riêng của Mạc Can qua việc sử dụng các trường ngữ nghĩa nổi bật 84
3.4 Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6Trang Bảng 2.1 Tần số sử dụng từ láy trong “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc” 35 Bảng 3.1 Từ chỉ thời gian trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc 60 Bảng 3.2 Thống kê số lượng và tần số sử dụng từ ngữ chỉ tâm trạng,
cảm xúc trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc 73 Bảng 3.3 Tần số từ ngữ sinh hoạt được sử dụng trong các tiểu trường 81
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 M Go-rơ-ki có nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” Qua việc sử dụng từ ngữ, các biện pháp tu từ, cú pháp … trong sáng tác của nhà văn chúng ta có thể nhận ra phong cách riêng của tác giả đó Hướng nghiên cứu tác phẩm truyện, nhất là truyện ngắn từ góc nhìn ngôn ngữ học ngày càng có hiệu quả nhất định, cần phải được đẩy mạnh hơn
để góp phần nghiên cứu tác phẩm văn học toàn diện và sâu hơn
1.2 Cùng với các nhà văn Nam Bộ như: Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư, Anh Đức… Mạc Can - “Nhà văn trẻ từ trên trời rơi xuống” đã đóng góp tiếng nói của mình vào hòa âm chung của các nhà văn Nam Bộ, song ông có hướng đi riêng của mình Đọc những trang viết của Mạc Can, chúng tôi ấn tượng với ngôn từ chân chất, mộc mạc, bình dị, dùng nhiều phương ngữ Nam Bộ Mạc Can từng vẽ chân dung cho chính mình:
“Tôi là một tên hề, một con người có khuôn mặt rất hẻo” và “tướng đi lắt nhắt lùn sịt”, “một người ít học, một kẻ bị cuộc đời đối xử “quá khó” Tôi đã lang thang từ lúc bắt đầu được sinh ra, tôi chẳng làm được gì trong suốt cuộc đời mình” Sáng tác của ông rất đáng được nghiên cứu
1.3 Ông nói vậy, nhưng… không phải vậy, cùng với những tập truyện ngắn, Mạc Can đã chứng minh điều ngược lại Qua những trang văn chúng ta thấy thấp thoáng đâu đó chính là cuộc đời của Mạc Can Và đặc biệt là những tìm tòi đổi mới, về nghệ thuật truyện ngắn của tác giả được thể hiện qua nhiều phương diện, trong đó có phương diện ngôn ngữ Tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn trong “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc”, chúng tôi muốn góp phần thêm
cứ liệu làm cơ sở nhận biết, đánh giá những nét mới của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại
Trang 81.4 Mạc Can truyện ngắn chọn lọc được xuất bản vào tháng 01/2013,
được sự quan tâm của đọc giả Tuy nhiên ý kiến nhận xét đánh giá về tác phẩm mới chỉ những phát biểu ngắn, những cảm nhận chung qua trong các bài báo, bài giới thiệu, chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ ngôn ngữ
học Vì thế với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Từ ngữ và các trường
nghĩa trong “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc” để tìm hiểu và nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu
Mạc Can có nhiều truyện ngắn đặc sắc, tuy nhiên trong đề tài này chúng tôi tập trung khảo sát: "Mạc Can truyện ngắn chọn lọc” (Nhà xuất bản Thanh Niên - 2013), cụ thể là những truyện ngắn sau:
- Hè muộn;
- Điện thoại khẩn cấp;
- Nhà ảo thuật;
- Người đưa tin vui tính;
- Bên kia màn sương;
- Người ngắm trăng;
- Những bức tường biết nói;
- Người nói tiếng bồ câu;
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Tìm hiểu đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Mạc Can, nêu được những nét đặc sắc của ngôn ngữ trong truyện ngắn tác giả, đồng thời thấy được những đặc điểm phong cách trong việc sử dụng từ ngữ của Mạc Can
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các lớp từ ngữ nổi bật trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc Chương 3: Các trường nghĩa nổi bật trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc
Trang 10Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Đã có rất nhiều phát biểu của các nhà văn, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về truyện ngắn nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự thống nhất về khái niệm truyện ngắn Bàn về truyện ngắn, mỗi người thường nhấn mạnh tới một đặc điểm nào đó Theo ý kiến của Ga-ra-nốp: “đối với truyện ngắn hay, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó là bảo vệ cho được tính xác định về mặt thể loại Truyện ngắn cần phải cô đọng đến mức cao nhất Vấn đề số một đối với nó là vấn đề dung lượng (xin đừng lẫn với sự ngắn gọn bên ngoài)” Giáo sư văn học người Pháp D.Grônôpki thì nhấn mạnh đến tính biến hóa của thể loại truyện này Ông viết: “Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi không cùng Nó là một vật biến hóa như quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hóa về kiểu loại tính chất, trào phúng, kì ảo, hướng về biến cố thật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hóa về nội dung: thay đổi
vô cùng vô tận Muốn có chất liệu để kể, cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó là
sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt” [36; 79]
K Pautốpxi - nhà văn Nga đã xác định: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường lại hiện
ra như cái gì không bình thường” [36; 39] Ở đây K Pautốpxi rất quan tâm đến tính sự kiện trong truyện ngắn, ông nhấn mạnh đến sự đan xen giữa cái bình thường và cái không bình thường
Trang 11Còn đại văn hào Nga A Tônxtôi thì lại viết: “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta
có thể “dọn” cho độc giả “no nê” với những món sang đại loại hoặc như miêu
tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sâu sắc còn như trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh Anh phải thông minh như anh đã hiểu biết Bởi
lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” [20; 124] Như vậy, bằng cách đối lập với thể sáng tác khác, Tônxtôi đã trả lời cho câu hỏi: truyện ngắn là gì
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu bàn về nội dung khái niệm truyện ngắn Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về truyện ngắn như sau: “Trước hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài - loại truyện viết theo nghệ thuật Âu tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Ngày xưa ta chỉ có truyện kể bằng miệng hoặc viết bằng văn vần Những truyện “Muỗi nhà”, “Muỗi đồng”, “Hai ông phật cãi nhau” trong “Thánh tông di thảo” là viết theo nghệ thuật Á đông, “Hoàng lê nhất thống chí” là lịch sử kí sự chứ không phải là lịch sử tiểu thuyết, và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên - tiểu thuyết Năm 1932 báo “Phong hóa” dịch đoản thiên tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi từ đó trường thiên tiểu thuyết gọi là truyện dài
và trung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa” [20; 65]
Nhà văn Nguyên Ngọc thì xác nhận: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung” Vì thế: “không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua” [35; 28] Ở đây, nhà văn chỉ
rõ sức ôm chứa và khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, các nhà biên soạn cho rằng, truyện ngắn được xem là "tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống con người: đời tư, thế sự hay
Trang 12sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [16; 370]
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại tuy ngắn nhưng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể về dân gian cũng rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại lại càng không phải là truyện ngắn
Theo quan niệm của các nhà biên soạn sách giáo khoa phổ thông hiện nay, truyện ngắn được định nghĩa là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế
sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Khác với truyện ngắn thời trung đại, truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn vấn
đề, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
Trong “150 thuật ngữ văn học”, Lại Nguyên Ân cũng coi truyện ngắn
là “Một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [1; 345]
Như vậy, những ý kiến về truyện ngắn đã trình bày ở trên cho chúng
ta một cái nhìn toàn diện về thể loại này Truyện ngắn không phải là truyện dài thu nhỏ, nó là một thể có hệ thống thi pháp riêng Các ý kiến về truyện ngắn rất đa dạng nhưng nhìn chung đều xoay quanh những khía cạnh chính: dung lượng, kết cấu, độ dồn nén, sức khái quát hiện thực và hình thức biểu đạt
Trang 131.1.2 Phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết
1.1.2.1 Tiểu thuyết
Khi tìm hiểu và tiếp cận một tác phẩm văn học, vấn đề đầu tiên mà người đọc chú ý đó chính là thể loại, bởi đây là yếu tố chi phối đến giá trị nội dung cũng như nghệ thuật, ngôn ngữ, tư tưởng của nhà văn Tuy nhiên ranh giới giữa thể và loại của tác phẩm văn học chỉ có ý nghĩa tương đối, chúng ta cần dựa vào một số tiêu chí quan trọng để phân biệt chúng Với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn cũng vậy
Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lý lịch của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm
vị trí trung tâm trong hệ thống thể loại cận đại và hiện đại
Bàn về thi pháp tiểu thuyết, trước đây đã có những quan niệm khá thống nhất Phân biệt tiểu thuyết với truyện ngắn và các thể loại gần gũi khác,
có những tiêu chí đã được định hình
Tiểu thuyết nhìn con người ở góc độ đời tư Nếu sử thi nhìn con người trong mối quan hệ với lịch sử, con người ở góc độ xã hội thì tiểu thuyết lại khai thác sâu vào thế giới bên trong, phần người nhất của con người Mỗi khám phá của các nhà văn giúp ta hiểu thêm những điều bí ẩn, sâu xa và cũng đầy hấp dẫn Đây là phần không trùng khít với con người địa vị xã hội
Chất văn xuôi là đặc trưng thứ hai của tiểu thuyết Nếu thơ đi sâu vào thế giới cảm xúc thì tiểu thuyết lại tái hiện chân thực bức tranh đời sống đang diễn ra với đầy đủ con người, sự kiện, ngôn ngữ, không gian thời gian với tất
cả sự phức tạp của nó
Con người nếm trải là đặc trưng riêng của tiểu thuyết Đặc trưng này cho thấy con người luôn “lớn lên” trong tư duy, trong ý thức Điều đó cũng có
Trang 14nghĩa tính cách tâm hồn con người luôn vận động trôi chảy như một dòng sông Các nhà văn hiện đại luôn chú ý đến sự logic trong phát triển tính cách nhân vật Nhân vật tiểu thuyết không bó cứng trong khuôn khổ chật chội
Sự gia tăng các yếu tố ngoài cốt truyện làm cho tiểu thuyết phản ánh cuộc sống chân thực hơn Trong tiểu thuyết hiện đại, nhiều chi tiết thuộc yếu
tố bên ngoài cốt truyện, như thiên nhiên, môi trường sống, cả những đoạn triết
lý, bình luận, rẽ ngang đều đem đến cho tác phẩm những ý nghĩa bất ngờ Rút ngắn khoảng cách trần thuật là yếu tố có thể thấy rõ nhất khi so sánh tiểu thuyết với sử thi Nếu ở sử thi, khoảng cách xa giữa người trần thuật và nội dung trần thuật tạo ra sự ngưỡng mộ, thành kính được gọi là “khoảng cách sử thi” thì trong tiểu thuyết khoảng cách ấy lại bị rút ngắn lại Nhân vật trở nên gần gũi, nhà văn hiểu nhân vật bằng chính kinh nghiệm sống của mình, thậm chí là hóa thân vào nhân vật
Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác Có cuốn tiểu thuyêt giàu chất thơ (chất trữ tình) như sáng tác của Nguyên Hồng; chất triết lý có nhiều trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Nam Cao; chất ký tồn tại nhiều trong triết lý của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố Có loại tiểu thuyết thường dựng lại cuộc đời của
mỗi nhân vật hoặc một sự kiện lịch sử như cuốn: Ông cố vấn, Ông tình báo và
hai bà vợ Trong văn học chống Mỹ, có nhiều tác phẩm giao thoa giữa tiểu
thuyết và kí như: Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Người mẹ cầm súng
(Nguyễn Thi) Chất kịch cũng đi vào tiểu thuyết tạo nên những tình huống
đầy kịch tính, gia tăng yếu tố đối thoại, giảm vai trò độc thoại (tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng, mỗi chương truyện là một vở hài kịch)
Tuy nhiên, hiện nay quan niệm về tiểu thuyết đã được chính các nhà văn làm mới Có lẽ nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự phức tạp đa chiều của đời sống đã tác động mạnh mẽ đến văn chương, trong đó có tiểu thuyết Theo M.Barkhtin, tiểu thuyết “là thể loại văn chương duy nhất
Trang 15đang chuyển biến và còn chưa định hình Những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trước mắt chúng ta Thể loại tiểu thuyết ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử Nòng cốt thể loại chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết khả năng uyển chuyển của nó” Quả thực như M.Bkhtin phát biểu: “Tiểu thuyết sở dĩ thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới ấy sinh ra và đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt Tiểu thuyết về nhiều phương diện
đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ văn học" Tư duy tiểu thuyết đang có sự đổi mới Làn gió ấy không chỉ có trên thế giới mà chính ở văn học Việt Nam Nếu tiểu thuyết truyền thống coi trọng đề tài lịch sử thì tiểu thuyết hiện đại đi sâu vào hiện thực xã hội Tiểu thuyết truyền thống lấy luân lý làm gốc, lấy ly kỳ hấp dẫn người đọc thì tiểu thuyết hiện đại tâm lý làm quan trọng, quan tâm nhiều đến con người cá nhân Ngôn ngữ của tiểu thuyết hiện đại gắn với cuộc sống con người hơn Nhân vật tiểu thuyết người hơn với tất cả sự chân thực Người ta nói nhiều tới khái niệm “dòng ý thức” trong các tiểu thuyết hiện đại Nhờ
đó thế giới nội tâm nhân vật được cảm nhận sâu sắc trong logic riêng của đời sống, của tâm lý con người
Trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay, chúng ta đã nhận rõ sự vận động của tiểu thuyết theo chiều hướng đột phá tạo những hình thức nghệ thuật mới và cả quan niệm mới về thế giới Trong dòng chảy không ngừng của tiểu thuyết Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, từ cảm hứng anh hùng
ca đến xu hướng thế sự đời tư ta sẽ nhận ra những nỗ lực cách tân của những người cầm bút với thể loại trẻ trung này
1.1.2.2 Truyện ngắn
Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh trong đời sống tâm hồn con người Vì thế trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện
Trang 16phức tạp Nếu mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật trong truyện ngắn lại là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ
xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái phụ thuộc của con người
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn thường là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn
và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm chiều sâu chưa nói hết
Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải, truyện ngắn gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự
sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải là ở hệ thống sự kiện mà là ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Truyện ngắn thời trung đại cũng là truyện ngắn nhưng gần với truyện vừa Còn truyện ngắn hiện đại thì lại khác hẳn, đó là một kiểu tư duy khá mới vì vậy truyện ngắn đích thực xuất hiện muộn trong lịch sử văn học Tác giả của truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Chính vì vậy
mà trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Chỗ khác biệt
Trang 17quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn đó là: Nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới đó Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của một con người Mặt khác truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ
Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn nhưng nói chung chức năng của nó là để nhận ra một điều gì đó Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên tưởng Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hàng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống con người
Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu chuyện được kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số
đó Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như
Trang 18tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc của cuộc sống Ví dụ một truyện ngắn kể về Nhà chứa Tellier của Maupassant thời gian chỉ 24 giờ; Lời phán quyết của Kafka chỉ xảy ra trong vài tiếng
Paul Bourget nhà phê bình Pháp thế kỷ 20 có nhận định về hai thể loại trên, qua đó cũng giải thích phần nào về sự chênh lệnh số trang của chúng:
"Phong cách của truyện ngắn và của tiểu thuyết rất khác nhau Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại Các tình tiết mà cả dãy đã làm nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng lại với nhau Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn thông qua sự tập trung Truyện ngắn là độc tấu Tiểu thuyết là giao hưởng” Như vậy, thông thường tiểu thuyết phải dài hơn truyện ngắn Song không phải bất cứ một tác phẩm dài nào cũng là tiểu thuyết Phần quan trọng để được gọi
là tiểu thuyết còn ở cấu trúc của nó
Có hai cách để phân biệt truyện ngắn hay tiểu thuyết: 1/ Căn cứ theo số trang mà truyện có thể in ra và 2/ Căn cứ theo cách viết của cả truyện: Tiểu thuyết hay truyện dài thì cứ triền miên theo thời gian, đôi khi có quãng hồi ức trở ngược lại Truyện ngắn thì gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắc cần giải đáp Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởi tung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn
Viết và đọc truyện ngắn tạo ra trong ta cảm giác khác hẳn với viết và đọc tiểu thuyết Trước hết đấy là quan hệ giữa cô đọng và mở rộng Tiểu thuyết, dù có cô đọng đến đâu, phải hàm chứa khả năng phân nhánh và kéo dài, nếu không nói là đến vô cùng tận Truyện ngắn thì ngược lại, phải súc tích và ngắn Dĩ nhiên đây không phải là chuyện dài, ngắn đơn thuần, vì một truyện ngắn mười hai trang có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn là một cuốn tiểu thuyết bốn trăm trang Chúng ta đang nói đến một phạm trù khác của các tác phẩm hư cấu nói chung
Trang 19Một cách so sánh thường thấy giữa truyện ngắn và tiểu thuyết là xem tiểu thuyết là bản hợp xướng cho một dàn nhạc lớn và truyện ngắn là khúc tứ tấu cho mấy chiếc đàn Nhưng theo chúng tôi, cách so sánh này không chính xác: nó dựa trên lượng và vì vậy dễ làm ta lầm lạc Bản nhạc do hai chiếc violin, một chiếc viola và một cello, thực hiện nghe khác với khi được thực hiện bởi dàn nhạc gồm hàng chục nhạc cụ khác nhau, nhưng một đoạn hoặc một trang truyện ngắn thì không khác gì một đoạn hay một trang tiểu thuyết Truyện ngắn cũng chứa đựng tất cả các nguồn lực y như tiểu thuyết: ngôn ngữ, nội dung, nhân vật và phong cách Tiểu thuyết gia có thể sử dụng phương tiện nghệ thuật nào thì nhà văn viết truyện ngắn cũng có thể sử dụng các phương tiện đó Một so sánh tương đối thịnh hành khác giữa tiểu thuyết
và truyện ngắn: anh hùng ca và bản tình ca đưa ta đến gần với bản chất của vấn đề hơn Có thể nói truyện ngắn là bản tình ca viết bằng văn xuôi, còn tiểu thuyết thì là bản anh hùng ca văn xuôi
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn
Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại trong tác phẩm cụ thể dưới dạng một thể loại cụ thể: hoặc thơ, hoặc kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn hay bút
kí, v.v Đồng thời khi nói đến ngôn ngữ của một tác phẩm cụ thể nào đó, người ta không tách rời nó với phong cách của tác giả Như vậy, cũng rất dễ hiểu vì sao khi phân tích ngôn từ trong tác phẩm, thông thường người ta hay chú ý cả đến phong cách của tác giả lẫn đặc trưng thể loại
Nói đến ngôn ngữ trong truyện ngắn nói riêng và trong thể loại văn học
tự sự nói chung là ta đang nói đến chất liệu, loại phương tiện mang tính chất đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không thể có truyện ngắn cũng như các thể loại văn học khác Bởi chính ngôn ngữ là chất liệu để cụ thể hoá, vật chất hoá sự biểu hiện của chủ đề, tư tưởng chủ đề, tính cách nhân vật, cốt truyện…; ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên và chủ yếu để nhà văn dùng làm cơ
Trang 20sở chuẩn bị và sáng tạo nên tác phẩm Nó cũng là yếu tố đầu tiên giúp người đọc tiếp xúc với tác phẩm Gorky xác định: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó, và cũng cùng với các sự kiện, các hoạt động của cuộc sống, là chất liệu của văn học” M.Bakhtin lưu ý: “Bàn đến lời văn, tức là ngôn ngữ trong tính toàn vẹn cụ thể và sinh động của nó” Ngôn ngữ trong truyện ngắn trước hết là ngôn ngữ hàm súc, cô đọng và chính xác Nhưng nó đảm bảo được yêu cầu phản ánh hiện thực một cách sinh động và chân thật nhất, biểu hiện đúng điều mà nhà văn muốn chuyển tải, miêu tả đúng cái nhà văn muốn biểu hiện
Nếu ngôn ngữ truyện lịch sử là kể và tả, ngôn ngữ tiểu thuyết là sự mô
tả và đối thoại thì ngôn ngữ truyện ngắn cũng vậy Truyện ngắn chứa nhiều phong cách nhiều giọng nói, những phong cách xen lẫn nhau, hòa hợp, tranh luận, cãi vã và đối chọi ti tiện Đặc biệt ngôn ngữ trong truyện ngắn hiện đại
đã tỏ rõ “chất tiềm thức lấn át ý thức” (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu)
Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải động Ngôn ngữ đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác, ngôn ngữ lưỡng lự, nước đôi khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của các khả năng Mỗi truyện ngắn hay thường không tự nó đem đến cho ta một kết luận khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ truyện ngắn có phát biểu: truyện ngắn nào của Tsekhov cũng làm giàu đời sống tinh thần của chúng ta vì chúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn, “giác ngộ” về sự việc phân vân, đắn đo hoặc nói như các nhà hiền triết phương Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cái có
Đối với truyện ngắn, để đạt đến chủ đề, ngôn ngữ được thể hiện ở đây
là một thứ ngôn ngữ gián tiếp cùng với những tình huống hiện thực không sẵn
có, mà phải tái tạo nhiều công phu Nhân vật tôi của tác giả cùng với những cảm hứng dù có mãnh liệt đến đâu cũng không được trực tiếp bộc lộ Chính vì
Trang 21vậy, trong khi tạo những chất liệu hiện thực với hình thức khác, theo một logic bố cục khác để thể hiện chủ đề thì người sáng tác tự đòi hỏi mình phải
có sự sáng tạo công phu hơn Nói khác đi, người đọc khi tiếp xúc với thể loại
kí hoặc thể loại truyện ngắn anh ta đều có cảm tưởng là mình đang đi trong một khung cảnh hiện thực của cuộc sống Nhưng cảnh hiện thực của truyện ngắn là cảnh hiện thực được thiết kế theo hướng tái tạo, còn ở kí là cảnh kiện thực tự nhiên
Trong khi lí giải đặc trưng của thể loại thơ từ góc độ sử dụng ngôn ngữ trong quá trình sáng tạo và có tính đến hệ quả đích thực của ngôn ngữ ấy, nhà
lí luận Bakhtin cũng đã có một số ghi nhận xác đáng về ngôn ngữ thể loại như sau: Trước hết, theo ông người viết tiểu thuyết (“và nói chung hầu như mọi người viết văn xuôi”) thì đi bằng một con đường khác nhà thơ Người viết tiểu thuyết tiếp thu vào trong tác phẩm của mình những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau “trong ngôn ngữ văn học và phi văn học” nhưng không làm chúng suy yếu đi, mà thậm chí còn khởi động thêm chúng Người viết tiểu thuyết xây dựng phong cách của mình trên sự phân hóa ngôn ngữ ấy, trên nền những tiếng nói và thậm chí trên những ngôn ngữ khác nhau” ấy nhưng anh ta vẫn giữ được cái tôi sáng tạo của mình và “tính thống nhất trong phong cách của mình” Hay theo cách lí giải khác: nhà văn xuôi không tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chí và giọng điệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những khuôn mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng “lấp ló đằng sau các từ ngữ và hình thức ngôn ngữ”, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ và hình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau “so với cái hạt nhân hàm nghĩa cuối cùng” của tác phẩm và cái trung tâm ý chí của mình”
Ngôn ngữ trong văn xuôi hiện đại nói chung, truyện ngắn nói riêng là đi vào miêu tả chi tiết rất cụ thể, hiển hiện như sờ nắm lấy được Chính vì vậy,
Trang 22ngôn ngữ truyện ngắn là nơi nhà văn có thể thử nghiệm phong cách và sử dụng ngôn ngữ vừa là tài năng vừa là cá tính sáng tạo, vừa là hiệu quả thể hiện của mỗi nhà văn để làm nên phong cách riêng của mình
Như vậy, khi nghiên cứu phong cách nhà văn chúng ta nhất thiết phải tìm ra nét riêng của ngôn ngữ nhà văn đó Phải tìm xem nhà văn đó đã kế thừa những gì ở truyền thống ngôn ngữ văn học dân tộc và họ đã có những đổi mới phát triển, đóng góp nào cho kho tàng ngôn ngữ văn học dân tộc Để làm được điều đó chúng ta cần phải khảo sát trên nhiều tác phẩm của một tác giả
có sự lặp đi lặp lại của một yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật Trong tiến trình lịch
sử của văn học dân tộc có những cây bút đã tạo cho mình những phong cách ngôn ngữ riêng độc đáo mà người đọc dễ dàng nhận ra Mạc Can là một hiện tượng văn học như thế
1.2 Mạc Can - Tác giả và tác phẩm
1.2.1 Vài nét về tác giả
Nhà Văn Mạc Can tên thật là Lê Trung Cang Ông là con thứ ba trong một gia đình có 6 anh chị em, sống trôi nổi lưu lạc khắp chốn với nghề xiếc rong Ở Nam Bộ gọi là hát xiệc Cha là nhà ảo thuật Lê Văn Quý, nổi tiếng vào thời 1950 và mẹ là bà Mạc Thị Hảo Mạc Can sinh ngày 14 tháng 4 năm
1945 (năm Ất Dậu) trên sông Tiền, còn được gọi là sông Bảo Định, tỉnh Định Tường, nay là thành phố Mỹ Tho
Mạc Can, chính là bút danh mà cũng là nghệ danh của ông, kết hợp tên Cang, của cha đặt cho (bỏ bớt chữ G) và họ Mạc của mẹ Từ nhỏ ông rất thích đọc sách Nhưng ước vọng lớn là mong rằng mình trở thành một anh hề xiếc nhà bạt tròn Nhưng vào thời kỳ đó ở Việt Nam không có nhà bạt tròn cho nghề xiếc mà chỉ có các rạp hát nhỏ hình vuông cho nên ông trở thành nhà ảo thuật hài ( hề ảo thuật ) rồi khi khá lớn ông đi học vẽ, muốn trở thành họa sĩ Nhưng lại bén duyên với cây bút nhiều hơn, tuy ông vẫn sống bằng cách diễn
Trang 23kịch, đóng phim vẫn với nghệ danh Mạc Can song song với bút hiệu Mạc Can Vì vậy ông vửa có khán giả thương mến lại vừa có độc giả ái mộ
Khởi nghiệp cầm bút từ trước năm 1975, với nghề viết tin kịch trường
điện ảnh Truyện ngắn đầu tay của ông là Quê ngoại bên kia sông in trên tạp chí Tiền phong, sau đó là Ảo thuật trong tù in trong bán Nguyệt san thời nay
Các truyện ngắn đầu tay có ý tưởng phản chiến, mà ông không biết, ông cứ viết vô tư Nhưng ông không được gọi là Nhà Văn “ Sài Gòn cũ “ vì ông không có tên tuổi gì trong văn đàn lúc đó, chỉ viết chơi chơi rồi không viết nữa, mà chỉ trở về nghề hát xiệc hay diễn ảo thuât hài Mạc Can là người sáng chế ra môn ảo thuật bễ mánh, tức diễn làm bộ cho khán giả biết bề trái của các trò ảo thuật nhỏ do ông nghĩ ra Và cho tới nay ông vẫn được khán giả con nít hâm mộ, ông vẫn còn diễn các trò ảo thuật bễ mánh tuyệt chiệu nầy, và chỉ
có ông diễn giỏi với khuôn mặt khờ khạo bẩm sinh, khó ai bắt chước được
Vào khoảng năm 40 hay 50 tuổi, sau năm 1975, ông viết kịch cho màn
ảnh truyền hình, đó là chương trình Trong nhà ngoài phố được nhiều khán giả
bình dân ở miền Nam ưa chuộng Tới năm gần 60 tuổi tự nhiên ông lại viết văn nhưng viết mãi không có báo nào in, cuối cùng ông viết về mình và những điều ông nhìn thấy suốt quảng đường dài ông sống với sân khấu Cuốn
sách có nhan đề là Món nợ kịch trường do nhà xuất bản Trẻ in Sau khi Món
nợ kịch trường ra mắt độc giả, nó không có một tiếng vang nhỏ nào Mạc Can
lại đi làm hề ảo thuật, viết hải kịch đóng kịch rồi đóng phim Suốt nhiều năm chuyện đóng vai phụ, lúc già Mạc Can mới có 2 vai gần như chính là vai
trưởng thôn, phim Xóm suối sâu của đạo diễn Quang Đại và phim Cải ơi vai ông Tư Đèo bán kẹo kéo đi tìm con, phim nầy phỏng theo 2 truyện ngắn Cải
ơi và Biển đời mênh mông của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Phim đoạt giải
Cánh diều vàng cho đạo diễn, phần ông được giải nhì với danh hiệu diễn viên truyền hình được yêu thích nhất
Trang 24Nhưng Mạc Can vẫn nhớ nghề viết, hình như đó là cái nghiệp, và ông bẩm sinh có chút kỷ năng viết văn như kịch bản diện ảnh, cho nên ông lại viết
một truyện ngắn là Người nói tiếng bồ câu, qua hình ảnh nhà văn Sơn Nam
với người tài xế xe gắn máy hay chở nhà văn nầy Nhân vật tài xế nầy là chính, trong truyện, ông ta tên là SuDa, với ảo tưởng trở thảnh nhà văn lớn Ông SuDa không viết mà chỉ kể lại là ông biết nói tiếng Bồ Câu Truyện ngắn nầy được nhà văn Nguyễn Đông Thức lúc đó là người tuyển chọn truyện
ngắn cho tuần báo Tuổi trẻ chủ nhật chọn in Nguyễn Đông Thức nói rằng
truyện ngắn NNTBC đủ các yếu tố của một truyện đúng là truyên ngắn
Người nói tiếng bồ câu sau đó được hai nhà văn là Hồ Anh Thái và Lê
Minh Khuê chọn vào tuyển tập truyện ngắn hay nhất với nhiều truyện ngắn của các nhà văn đã nổi tiếng
Tiểu thuyết đầu tay của Mạc Can có dạng tự thuật và hư cấu theo cấu
trúc điện ảnh là Tấm ván phóng dao cũng do Hồ Anh Thái và Lê Minh Khuê
biên tập Mạc Can là “ Cây bút trẻ “ chưa nhiều đôc giả biết, cho nên một nhà xuất bản miễn cưởng nhận in với chỉ 200 cuốn Nhà văn Hồ Anh Thái ngỏ ý
xin phép tác giả cho Tấm ván phóng dao dự cuộc thi lớn Cuộc Thi Tiểu Thuyết của Hội Nhà Văn Việt Nam, sau đó Tấm ván phóng dao được giài A vào năm 2005 Nhà Văn Hồ Anh Thái viết bài phê bình và giới thiệu Tấm ván
phóng dao trên báo Tuổi trẻ chủ nhật làm “ sững sờ “(chữ của Hồ Anh Thái )
nhiều người Nó đã được nhiều nhà xuất bản trong Nam ngoài Bắc in nối tiếp
hàng trăm ngàn cuốn Nhà Văn Nguyễn Đông Thức, người chọn in Người nói
tiếng bồ câu phong tặng cho Mạc Can danh hiệu “ Nhà văn từ trên trời rơi
xuống “ Nhà thơ Đỗ Trung Quân cho biết, sau khi suốt đêm đọc cuốn Tấm
ván phóng dao cứ thắc mắc không thề nào hiều nổi, tại sao Mạc Can chỉ là
diễn viên, không phải là một nhà văn thật sự mà viết được những câu văn ít có
ai viết nổi
Trang 25Nhà Văn Mạc Can được vào Hội Nhà văn TP HCM và Hội Nhà văn
Viêt Nam Tấm ván phóng dao đươc 3 giải thưởng
1/ Giải A của Hội Nhà văn Viêt Nam
2/ Giải thưởng về âm nhạc, diện ảnh, văn học Hai năm một lần của Ủy Ban nhân dân TP-HCM
3/ Giải tiểu thuyết hay của Trung tâm văn hóa doanh nhân Hà Nôi
Cuốn Tấm ván phóng dao lọt vào mắt các đạo diễn phim, nhiều hãng
phim truyên và hãng phim Truyền hình mua bản quyền Cái tên Mạc Can trở nên quen thuộc hơn với làng văn, và ông viết một mạch các truyện ngắn in
trên tuyển tập Văn Mới của nhà xuất bản Đông A của họa sĩ Trần Đại Thắng
như tập truyện Cuộc hành lễ buổi sáng Người đàn bà nhìn qua song cửa, Khách sạn cánh đồng diều, Hè muộn v.v…, các tập truyện nầy cũng do nhà văn Hồ Anh Thái tuyển chọn
“Nhà văn Từ trên trời rơi xuống” tiếp tục viết Tập truyên ngắn Tờ 100
đô la âm phủ ( nhà xuất bản Văn học) với 12 truyên vừa
Những Bầy mèo vô sinh, tiểu thuyết giả tưởng Nhà xuất bản Trẻ in
năm 2008
Tiểu thuyết dài Phóng viên mồ côi Nhà xuất bản Trẻ in năm 2007
Tập truyện ngắn chọn lọc Mạc Can nhà xuất bản Thanh niên 2013 Tuyển tập
Mạc Can nhà xuát bản Thanh Niên 2010 Người nói tiếng bồ câu, tập truyên
ngắn nhà xuất bàn Thanh niên năm 1006 Cuốn Nhớ, nhà xuất bản Trẻ Cuốn
Ba ngàn lẻ một đêm, cuốn Vừa đi vừa suy nghĩ vừa nhìn Cuốn Quỷ với bụt và thần chết do nhà xuất bàn Trẻ in và phát hành những năm 2011- 2012 Cuốn The Magician Mạc Can (học tiếng Anh qua tác phẩm Văn học) do nhà xuất
bản Lao Động in và phát hành năm 2010
Hiện Mạc Can thỉnh thoảng vẫn viết tiểu thuyết, dự dịnh là cuốn Người
ngắm trăng, dạng hiện thực huyền ảo Để sống, Mạc Can lấy ngắn nuôi dài
Trang 26Ông chuyển qua viết kịch cổ tích cho đài Truyền hình Vĩnh Long, viết kịch dài cho đài HTV của Tp-HCM, viết tiều phẩm 30 phút cho đài phát thanh và truyền
hình Bà Rịa Vũng Tàu và các đài truyền hình khác Cộng tác với báo Tuổi trẻ
cười báo Người đại biểu nhân dân và các báo khác Dự định còn viết một cuốn
tiểu thuyết cuối cùng, lấy tư liệu những ngày sống ở Mỹ Riêng cuốn Tấm ván
phóng dao được in ở Mỹ và được nhiều độc giả kiều bào mua đọc…
1.2.2 Vài nét về các tác phẩm của Mạc Can và “Mạc Can truyện ngắn chọn lọc”
Mỗi truyện ngắn của Mạc Can là một mảnh đời, một câu chuyện riêng, một bức tranh phong tục văn hóa đa dạng của vùng đất Nam bộ cùng với những triết lý về cuộc đời mà nhà văn đã gửi gắm Ở đâu đó trong tác phẩm người đọc cảm nhận được mảng sống của mọi tầng lớp nhất là người dân nghèo thành thị cũng như ở nông thôn, hoặc từng cảnh đời được “cắt lát” qua những lần Mạc Can quan sát được
Mở đầu tập truyện ngắn là tác phẩm “ Hè muộn” Mạc Can đưa ta về với
làng chài ven biển oằn mình trong lửa đạn chiến tranh , cạnh ngôi Chùa Gò đã từng lắng nghe mọi va chạm xung quanh, và trở thành trạm cứu thương dã chiến cho cả hai bên Kí ức tuổi thơ của nhân vật tôi và Yến trong khối lửa chiến tranh chứng kiến không biết bao nhiêu cái chết sự mất mát của cơ thể con người Hòa bình lập lại trên quê hương êm đềm nhưng cái âm ỷ của chiến tranh vẫn còn, Yến lại ra đi vĩnh viễn vì quả mìn còn sót lại
Truyện ngắn Điện thoại khẩn cấp viết về bi kịch của người phụ nữ có
chồng nhưng chồng theo cô gái khác Chị ta gọi điện thoại cho ông Hề nhờ tư vấn, giúp đỡ Ông Hề khuyên người phụ nữ ấy không nên chán nản mà phải cảm hóa người chồng của mình bằng sự dịu dàng Chính lời khuyên ấy của ông Hề đã giúp cho người chồng quay lại sống hạnh phúc bên người vợ thân yêu
Đến với truyện ngắn Những bức tường biết nói, kể về hoàn cảnh nhà văn đi
mướn nhà ở chung với những người không nhà để lắng nghe tiếng nói của những
Trang 27bức tường Hình ảnh hóa thân của những bức tường đã chứng kiến những kỉ niệm vui buồn của những người không nhà, những cuộc đời du mục Hạnh, một cô ca sĩ
ở đài phát thanh Quy Nhơn phải lòng anh diễn viên hài Sài Gòn Mối tình đầy trắc trở cuối cùng anh ta bỏ đi mất Sau đó về Khánh Hội, Hạnh sinh con và lấy họ của mình Hạnh phải lăn lộn để kiếm sống bằng nhiều nghề thế nhưng Hạnh vẫn không có chỗ nương thân, mỗi nơi Hạnh ở được vài tháng rồi phải chuyển đi Cùng hoàn cảnh với Hạnh còn có Sinh với đứa con không cha, tối ngày chửi rủa nó; và một chị cũng có đứa con trai trắng trẻo mà người chồng của chị ở tận Mỹ; một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi người Bắc có vợ sư tử, sợ vợ nên trốn vào Nam Ngoài ra, xóm trọ có một diễn viên già suốt đời bươn chải trên những nẻo đường lưu lạc Tất cả những con người nơi đây đều có ước mơ bình dị nhưng điều đó thật quá xa vời đối với họ
Và phải kể đến truyện ngắn Xe đêm, tác giả kể về cuộc hành trình của
những con người trên một chuyến xe đò khuya muộn từ bên kia Bắc Mỹ Thuận về bến xe Miền Tây ở Phú Lâm Chuyến xe đêm ấy có nhiều con người với nhiều gương mặt: khách thường, lái buôn, ông già tội nghiệp, cô bé lem luốc rách rưới,…Họ cùng ngồi với nhau trên chiếc xe đò lao vun vút xuyên qua bóng tối Truyện khắc họa hình ảnh ông già nghèo khổ và cô gái lỡ đường đói khát đã bị anh lơ xe bốn lần đuổi xuống xe với sự ngờ vực Nhưng rất may trong số những người vô cảm ghẻ lạnh ấy vẫn có một tấm lòng đồng cảm, yêu thương đó là ông già nghèo khổ nhưng có lòng thương người vô bờ bến Ông
đã giúp cô gái lỡ đường trả tiền xe trong chuyến xe ấy
Người nói tiếng bồ câu là câu chuyện về một văn sĩ Già với ông bạn
văn nghệ - ông già SuDa Ông SuDa mong muốn có thời gian và tiền bạc để chuyên tâm viết một cuốn tiểu thuyết để đời Đây là tiểu thuyết có một không hai về loài bồ câu
Đến với truyện ngắn Khách sạn Cánh Đồng Diều chủ nhân khách sạn
là ông Kiêm Hùng Trước đây, cuộc sống khó khăn nhưng từ khi về sống với
Trang 28bà Ly thì ông càng ăn nên làm ra Trở thành ông chủ lớn nên Kiêm Hùng đã vứt bỏ những vật dụng không cần thiết vào trong kho Cũng chính từ đây, những thành viên trong gia đình lại sa vào cảnh ăn chơi trác táng Đến khi gặp lại người bạn cũ nhắc lại những kỉ niệm xưa đó là cánh diều Ông Kiêm Hùng
đã lao qua lan can nhà rơi xuống đất
Cuối tập truyện là truyện ngắn Tờ 100 đô la âm phủ, tác giả kể về cuộc
đời bất hạnh của Hà - cô gái bán hoa bị bắt vào nơi tập trung gái mại dâm Sau đó, Hà đã trốn thoát nơi đây, sống hoàn lương đến xóm cạnh cầu mở quán buôn bán Hà có vốn liếng khoảng một triệu đồng nhưng do siêng năng, chăm chỉ nên ăn nên làm ra Quán cà phê của Hà kiêm luôn thuốc tây, tạp hóa Không bao lâu thì mọi người trong xóm yêu mến bởi bản tính lương thiện của
cô Tuy nhiên, trong tiềm thức của Hà vẫn không quên quãng đời ô nhục Hà chấp nhận lấy một người chồng không lành lặn Anh ta rất yêu thương Hà nhưng người chồng ấy ghen vô lý với giấc mơ của Hà Vậy là một lần nữa, Hà phải ra đi trong cay đắng, chua chát cho số kiếp của mình
Nhân vật truyện ngắn của Mạc Can rất đa dạng cả ngành nghề, từ người phụ nữ nghèo có cuộc sống hôn nhân bất hạnh, nhà văn nghèo, ông hề, học sinh ở
độ tuổi cắp sách đến trường, chàng diễn viên… đến cô gái lỡ đường, cô gái “bán hoa”… tất cả đều có số phận không hay, phần cuộc sống không suôn sẻ
1.3 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Mạc Can và các vấn đề đặt ra
1.3.1 Lịch sử vấn đề
Là gương mặt quen thuộc với khán giả trong những vai diễn nhỏ nhưng mang lại dấu ấn riêng, Mạc Can còn được biết đến như một “Nhà văn trẻ”, “Nhà văn từ trên trời rơi xuống” Vậy đó, Mạc Can xuất hiện trên văn đàn còn rất mới, rất trẻ Nhà văn Mạc Can được vào Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Hội
nhà Văn Việt Nam Tấm ván phóng dao được nhận ba giải thưởng
Trang 29Giải A của Hội nhà văn Việt Nam
Giải thưởng về âm nhạc, điện ảnh, văn học hai năm một lần của UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Giải tiểu thuyết hay của Trung tâm văn hóa doanh nhân Hà Nội
Cái tên Mạc Can trở nên quen thuộc hơn với làng văn và đọc giả bằng hàng loạt các truyện ngắn khác Truyện ngắn của Mạc Can mang nhiều yếu tố
tự truyện, nội dung phản ánh chân thật cuộc đời, số kiếp con người trong vòng vây nghèo khó, đọc các tác phẩm của Mạc Can người đọc cảm nhận được tư tưởng nhân văn sâu sắc
Nhà văn Hồ Anh Thái có nhận xét về truyện ngắn của Mạc Can: “Truyện
Người nói tiếng bồ câu gần gũi đôn hậu lại vừa xa lung linh những yếu tố kì ảo
Truyện Tờ 100 đô la âm phủ lại như miên man dường như lỏng tay cấu trúc
nhưng khép lại thật gọn gàng như một miếng ảo thuật ngoạn mục”
Trong Tuyển tập Mạc Can truyện ngắn chọn lọc của Nhà xuất bản Thanh niên, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét về Tấm ván phóng dao của
Mạc Can: “là một tiểu thuyết đáng chú ý trong nhiều tác phẩm cùng thể loại xuất hiện trong vài ba năm trở lại đây, gây được tiếng vang tốt trong người đọc” Nhà văn Miêng (Nguyễn Thị Xuân Sương) đã có ý kiến về nhà văn Mạc Can thật xúc động: “không có bức tường nào giữa người viết và người đọc, chỉ có nỗi niềm chỉ có cảm thông, chỉ có lòng cam chịu nước mắt ngược vào lòng… Chỉ có những giấc mơ kể cho anh nghe, còn giấc mơ đổi đời u uẩn của chính mình thì âm ỉ giấu … Có lẽ vậy mà đọc Mạc Can “không ngừng được”
Nhà văn Mai Ninh có nhận xét về Tấm ván phóng dao: “Tấm ván phóng dao,
tiểu thuyết đầu tiên của một ngòi bút xuất hiện chưa bao lâu trong văn giới Việt Nam nhưng chỉ với đôi truyện ngắn đã tạo được tiếng vang hiếm có”
Văn Giá với bài viết Tấm ván phóng dao - Sức sống của giá trị nhân
văn cổ điển trên Tuổi trẻ Online, cho rằng: “Câu chuyện Tấm ván phóng dao
Trang 30về cơ bản được trần thuật từ một nhân vật xưng tôi - người kể chuyện Gọi là
kể chuyện nhưng câu chuyện không dựa trên một cốt truyện rõ ràng”, “Tác giả chọn cách thức trần thuật theo kiểu hồi ức”, “về mặt kiến trúc, tác giả chọn cách thức tiến hành phân mảnh, nghĩa là triển khai trần thuật theo cách liên tục các mảnh liền kề, không kết dính bề mặt có tính nhân quả mà kết nối
bề sâu có tính suy tưởng Chúng là những mảnh sự kiện, mảnh suy tư, mảnh tâm tình, mảnh triết lý, mảnh hồi nhớ,… được sắp đặt cạnh nhau và luân phiên theo cách không đều nhau trên bề mặt văn bản truyện”, “Sự chuyển đổi linh hoạt trong cách thức trần thuật như đã nói ở trên góp phần khắc họa nội tâm nhân vật, gợi lên mặt giấy vỉa tâm hồn sâu khuất, bí ẩn rất đỗi bất ngờ, lắm khi bất ngờ đến độ kinh ngạc”
Cũng trên Tuổi trẻ Online, Hồ Anh Thái có bài viết giới thiệu tác phẩm
Cuộc hành lễ buổi sáng Theo Hồ Anh Thái, với tác phẩm này, Mạc Can đã
chứng tỏ được sự tài hoa: Bản tường trình (số 1) từ đảo xanh là câu chuyện hoang đường giữa một câu chuyện trần trụi hiện thực Truyện Khách sạn,
Cánh Đồng, Diều, hiện thực và kì ảo hòa quyện, cốt truyện được đẩy xuống
và nhường chỗ cho văn… Một khách sạn lạ lùng nhưng quen quen đâu đó trên khắp đất nước này, những nhân vật cũng thuộc loại phổ biến của thế giới này, nhưng Mạc Can đã khéo léo làm cho tất cả trở nên huyền hoặc vừa như ác mộng, vừa như một giấc mơ bảng lãng”
Trên trang web Mạc Can fanclup có bài viết về Mạc Can: Viết văn như
làm ảo thuật, bài viết đã tỏ thái độ bất ngờ trước cuốn tiểu thuyết “Những bầy mèo vô sinh của Mạc Can” và “Càng đọc càng thấy ngạc nhiên bởi không thể ngờ được trí tưởng tượng của ông lại bay bổng và huyền diệu đến thế Tiểu thuyết là câu chuyện viễn tưởng chỉ nói về bồ câu và lũ mèo hoang, hình ảnh con người gần như không xuất hiện, nhưng lại bất cứ ai cũng phải giật mình Thoát ra khỏi thế giới bồ câu biết nói tiếng người, loài mèo hoang được nhân
Trang 31bản vô tính biết chụp hình và tàn sát loài người, thì câu chuyện chính là giữa thiện và ác, giữa bình yên và đầy rẫy những mưu mô tính toán”
Nhận xét về văn phong Mạc Can, Thảo Điền viết: “Khi Mạc Can một anh hề viết văn đã mang đến một sự lạ của đời sống văn học Ông mang đến một thứ văn học vừa lộng lẫy vừa bi thương, vừa trần thế vừa ảo mộng, dường như không thể phân biệt được đâu là ông, đâu là nhân vật Những gì ông viết
ra, ông đã để cuộc đời ông, những sự đời ông gặp, lấn sâu vào nhân vật của mình Và cái gì cũng giống như một màn tự truyện Nhưng lại không hoàn toàn tự truyện Những cuốn sách của ông cứ ra đời Và mỗi lần sách ra đời, ông lại kể thêm vài chuyện đời éo le khác thường bằng giọng kể hóm hỉnh hồn nhiên”
Điểm qua lịch sử vấn đề, chúng tôi thấy, mặc dù đã có nhiều nhận xét
về những tác phẩm của Mạc Can nhưng nhìn chung, những ý kiến của các tác giả trong những bài viết này chủ yếu dừng lại ở việc nhận xét, đánh giá các tác phẩm dưới góc độ lí luận, phê bình Hầu như không có bài viết nào quan tâm tới đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Mạc Can Tác phẩm của ông gây ấn tượng như thế, lẽ nào"nghệ thuật ngôn từ" của tác phẩm không phải là phương diện đầu tiên cần khám phá? Đó chính là cơ sở, lí do thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài này
1.3.2 Các vấn đề về từ ngữ và nghiên cứu từ ngữ trong văn bản nghệ thuật nói chung, truyện ngắn Mạc Can nói riêng
1.3.2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong văn bản nghệ thuật
Từ ngữ có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống của ngôn ngữ và đời sống con người Sự tồn tại của từ là biểu hiện của sự tồn tại của ngôn ngữ Khó có thể tưởng tượng được một ngôn ngữ không có từ Số lượng từ của một ngôn ngữ cũng quan trọng trong việc đánh giá sự đa dạng, phong phú của ngôn ngữ Ngôn ngữ càng có nhiều từ thì khả năng diễn đạt của ngôn ngữ đó
Trang 32càng đa dạng, càng dễ biểu hiện nhận thức, tình cảm tinh tế của con người Con người sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện tư duy và phương tiện giao tiếp nên lại càng không thể thiếu vốn từ Số lượng từ trong mỗi con người là biểu hiện của khả năng sử dụng ngôn ngữ để tư duy và giao tiếp Khả năng tư duy của con người sẽ rất hạn chế nếu số lượng từ của con người là quá ít
Tuy nhiên, đặc điểm và cách thức sử dụng từ ngữ lại tùy thuộc vào từng phong cách chức năng khác nhau Nét khác biệt mà chúng ta dễ nhận thấy nhất đó là vấn đề sử dụng từ ngữ trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày và từ ngữ trong ngôn ngữ nghệ thuật
Đối với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật, chức năng của ngôn ngữ
là giao tiếp lý trí và thông báo Chức năng bổ sung của ngôn ngữ trở thành chức năng cơ bản của từng phạm vi giao tiếp nhất định, khu biệt các phạm vi giao tiếp khác nhau Đặc thù của nội dung thông báo và các vai giao tiếp trong từng phạm vi hoạt động giao tiếp xã hội sẽ quy định đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ của các phong cách chức năng Do chức năng ý chí, tức là yêu cầu người tiếp nhận thông báo phải thực hiện theo những nội dung thông báo chung, phong cách hành chính - công vụ có tính nghiêm túc khách quan, tính chính xác minh bạch và tính khuôn mẫu Các từ ngữ sử dụng trong phong cách này là các từ trung hòa, các kiểu câu cơ bản, các mô hình văn bản mang tính quy phạm Ngược lại do thông báo những nội dung cụ thể, do chức năng biểu cảm và tiếp xúc mà phong cách sinh hoạt hàng ngày có tính cụ thể, tính
cá thể và tính cảm xúc Từ ngữ sử dụng trong phong cách này là những từ giàu sắc thái biểu cảm, giàu hình tượng như từ láy, thành ngữ, từ địa phương, tiếng lóng, các phép chuyển nghĩa trong lối nói ví von, lấp lửng, các kiểu câu rút gọn, câu đặc biệt, câu đảo trật tự cũng như các biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng rộng rãi
Tuy nhiên, từ ngữ trong văn bản nghệ thuật (hay còn gọi là ngôn ngữ nghệ thuật) lại khác hoàn toàn Trong ngôn ngữ nghệ thuật, sự lựa chọn, kết
Trang 33hợp các phương tiện ngôn từ, tức là những yếu tố tạo nên phong cách luôn gắn liền với quan niệm nghệ thuật, tư tưởng, cảm xúc và cá tính sáng tạo của tác giả Mặt khác, từ góc độ văn bản, chính những yếu tố ngôn từ đã được tác giả lựa chọn, kết hợp là những chỉ dẫn về cách tri nhận thực tại, cách quan niệm về thế giới, con người
Với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ, khi tham gia hành chức, nhất
là dùng để thể hiện hình tượng nghệ thuật, nó có tính linh hoạt, thể hiện các nét nghĩa riêng đa dạng, mang dấu ấn nhà văn Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật nhà văn đã cấp thêm những giá trị mới cho đơn vị từ vựng Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, quan niệm về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật có những thay đổi để phù hợp với mọi thời đại Ngôn ngữ văn học hiện đại không bị ràng buộc, hạn chế bởi những phong cách, mà ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả các yếu tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình
Nói đến từ ngữ trong văn bản nghệ thuật là nói đến thao tác lựa chọn Với các nhà văn, nhà thơ, việc lựa chọn từ ngữ là một trong những nguyên nhân quyết định đến sự thành công của tác phẩm văn học Đây là thao tác thay thế các yếu tố ngôn từ dựa trên mối quan hệ đồng nhất và đối lập của các đơn vị (trong cùng một trường nghĩa) trên dãy đồng nghĩa, gần nghĩa Mỗi yếu tố trên dãy đồng nghĩa từ vựng, cú pháp, văn bản đều có những đặc điểm chung đồng thời lại có những nét khu biệt giúp cho ta có thể nhận diện
được sự khác nhau của chúng Chẳng hạn, xét dãy đồng nghĩa: chết, hy sinh,
từ trần, tạ thế, băng hà, toi, ngoẻo, bỏ mạng, trăm tuổi, chầu trời , ta thấy
các đơn vị này đều có chung một nghĩa cơ bản: chỉ trạng thái ngừng hoạt động sống Nhưng mỗi đơn vị cũng tồn tại sẵn trong cấu trúc nghĩa của chúng những nét đối lập về phạm vi biểu vật và màu sắc tu từ Sự đối lập đó
Trang 34cho phép người sử dụng ngôn ngữ lựa chọn yếu tố nhất định sao cho phù hợp với đối tượng được nói tới và với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Tuy nhiên trong ngôn ngữ nghệ thuật, yếu tố nào càng ít khả năng thay thế thì càng có giá trị về mặt phong cách
Như vậy, việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ cho tác phẩm thể hiện dấu hiệu của phong cách nhà văn Chính phạm vi lựa chọn đa dạng vốn từ mà nhà văn có chỗ để nhào nặn, gọt dũa, vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả nhất Ở nhiều tác giả, ngôn ngữ cũng thực sự là cuộc trình diễn cá tính nghệ sĩ của mình Trong thực tiễn, nhà văn bao giờ cũng hướng đến việc xác lập một phong cách ngôn ngữ, trong đó lớp từ là một biểu hiện nổi trội mang đậm cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn Ở đó, mỗi tác giả có sự lựa chọn ngôn ngữ riêng của mình Ngôn ngữ riêng đó được quy định bởi lối tiếp cận đời sống, tư tưởng thẩm mĩ và vốn ngôn ngữ riêng của chính tác giả Vì vậy khi tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của một tác giả chúng tôi đi vào khảo sát và tìm hiểu sâu, xem xét các lớp từ tiêu biểu mà tác giả sử dụng trong các tác phẩm của mình là lớp từ nào, cách tổ chức lớp từ đó ra sao Từ đó chúng tôi đánh giá khái quát vai trò, hiệu quả của từ ngữ trong cách dùng của tác giả và dấu ấn phong cách tác giả qua việc sử dụng từ ngữ
1.3.2.2 Vấn đề nghiên cứu từ ngữ trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc
Nếu giai đoạn 1945 - 1975 ngôn ngữ văn xuôi mang đậm tính văn chương thì trong tác phẩm đương đại ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ thông tục, không “làm dáng”màu mè mà trần tục xuất hiện rất đậm như trong đời thường
Từ sau thời kì đổi mới, truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam được hiện đại hóa ngôn ngữ, đa dạng hóa các hình thức diễn ngôn Một số các tác phẩm của nhiều cây bút văn xuôi như Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh… đã góp phần không nhỏ vào việc đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật trong thời kì phát triển và hội nhập văn học, văn hóa hiện nay
Trang 35Mạc Can tuy bước vào văn đàn muộn nhưng ông bắt nhịp rất bén Mạc Can tự dò dẫm cho mình bước đi riêng khó lẫn với ai được Mạc Can dẫn người đọc bằng thủ pháp dòng ý thức như phương tiện đi vào thế giới con người một cách hiệu quả, qua cách sử dụng thời gian đồng hiện, hồi ức dòng suy tưởng, hoài niệm … Ngôn ngữ chỉ tâm trạng cảm xúc của con người cách quãng, lộn xộn tương ứng với dòng tâm tư của nhân vật Và đôi khi chúng ta thấy Mạc Can hòa nhập, tham gia vào cuộc đối thoại như tự truyện Câu chuyện đôi khi như cuộc đời của chính ông Những bức tranh cuộc sống bừng sáng bên trang văn tự nhiên Cuộc đời thương hồ khiến Mạc Can thấm thía được cuộc sống khốn khó đôi khi bế tắc Ở nhiều đề tài khác nhau, lúc thì xoáy vào cuộc sống thị dân nghèo với đa dạng mảng đời như người ở trọ, xóm trọ, gái bán hoa… Rồi cuộc sống khốn khó của văn nghệ sĩ, hay cái bệnh “đau ma” ghê gớm, khắc khoải của con người Ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại hóm hỉnh, pha chút trầm tư nhẹ nhàng nhưng khiến người ta sực tỉnh giật mình điều chỉnh lại thái độ sống
Và đặc biệt là chúng ta bắt gặp ngôn ngữ Nam Bộ đậm đặc trong tác phẩm, giọng Sài Gòn nghe thân thương hay hình ảnh những mảng lục bình trên sông Vàm, sông Tiền,… đều ghi dấu ấn về vùng đất Nam Bộ khó phai
Ông thể hiện nhiều kênh ngôn ngữ với các dạng lời nói khác nhau của từng lớp người trong xã hội Đó là hòa nhập vào cái mới của Mạc Can Mạc Can nói bằng cái ngôn ngữ hằng ngày nhưng vọng được nội tâm nhân vật Nội tâm nhân vật chính là tâm trạng của cảm xúc dội lên từ bên trong
Thông qua dòng hồi ức đứt gãy, chấp nối liền mạch với thực tại, “hiện thực huyền ảo” trong “Cánh đồng diều”, Mạc Can sử dụng ngôn từ khéo léo làm cho câu chuyện vừa như là một giấc mơ, lại như là ác mộng Hay nói về con Kapa, Sài Lang nhưng ta vẫn thấy giật mình bởi thiện ác, tính toán mưu
mô, phải chăng, bất cứ ai cũng suy ngẫm
Mạc Can viết văn như làm ảo thuật, đó là cái rất riêng của Mạc Can
Trang 361.4 Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề của cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài Những tiền đề lý thuyết này giúp chúng tôi tìm hiểu từ ngữ và trường nghĩa trong Mạc Can truyện ngắn chọn lọc
Và cũng ở chương 1, chúng tôi giới thiệu đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của Mạc Can Đồng thời cũng tóm tắt một số tác phẩm của ông Trên cơ sở đó, chúng tôi có những giới thiệu khái quát về những đánh giá của các nha nghiên cứu về ngôn ngữ Mạc Can và đóng góp của ông cho nền văn học đương đại trong phạm vi đề tài đã chọn
Trang 37Chương 2 CÁC LỚP TỪ NGỮ NỔI BẬT
TRONG MẠC CAN TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC
2.1 Sơ lược về các cách phân loại từ hiện nay và hướng nghiên cứu
chúng trong Mạc Can Truyện ngắn chọn lọc
2.1.1 Sơ lược về các cách phân loại từ hiện nay
Sức sống mãnh liệt của một tác phẩm là sự thành công về nhiều mặt, trong đó có góp phần quan trọng của nghệ thuật ngôn từ
Vốn từ là một hệ thống bao gồm toàn bộ từ (và ngữ cố định) của một ngôn ngữ nằm trong những quan hệ nhất định Theo những quan hệ, tiêu chí khác nhau và tùy theo bình diện, mục đích nghiên cứu, vốn từ của một ngôn ngữ có thể được chia thành những lớp từ vựng khác nhau Vì thế, đối với tiếng Việt, cho tới nay chúng ta thấy đã có rất nhiều tiêu chí khác nhau được vận dụng để phân chia vốn từ nên kết quả và tên gọi của các lớp từ vì thế cũng khác nhau Những cách chia vốn từ tiếng Việt khác nhau thường được áp dụng là: 1) dựa vào phương thức cấu tạo từ, 2) dựa vào nguồn gốc của từ, 3) dựa vào phạm vi sử dụng, 4) dựa vào ý nghĩa mang tính phạm trù ngữ pháp, 5) dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong từ vựng,… Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn áp dụng các cách phân chia khác về vốn từ để nghiên cứu từ
về mặt lịch sử, hình thái, sự phát triển, tần số sử dụng, phong cách chức năng,… do đó từng lớp từ cụ thể như: lớp từ cơ bản, lớp từ cổ, lớp từ mới, lớp
từ tích cực, từ phái sinh, từ ngữ nghệ thuật, từ khẩu ngữ v.v cũng sẽ được chú ý Dựa theo kết quả nghiên cứu phận loại từ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học, đứng ở góc độ vận dụng, phân tích từ trong sử dụng, tùy theo đối tương nghiên cứu và mục đich tìm hiểu vai trò của từ trong những chức năng
cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn phân tích những lớp từ cụ thể theo những cách phân loại từ nhất định Như đã nói, mỗi cách phân chia từ đều xuất phát
Trang 38từ những tiêu chí nhằm đạt những mục đích nhất định, do vậy, kết quả phân loại sẽ cho thấy đặc điểm của từ về một phương diện, cũng vì thế, thông thường, sử dụng kết quả phân loại từ khác nhau sẽ cho phép đánh giá vai trò hiệu quả của từ cũng như từng lớp từ trong những chức năng nhất định Chẳng hạn, xét về mặt cấu tạo, theo các phương thức tạo từ, phần lớn các nhà nghiên cứu chia từ tiếng Việt thành 3 loại là từ đơn, từ ghép và từ láy; trong
đó, do quan niệm về hình vị và phương thức cấu tạo từ không hoàn toàn giống
nhau nên có những lớp từ cụ thể (như mồ hóng, cà phê,…) các tác giả phân
định không hoàn toàn giống nhau Cách phân loại từ theo cấu tạo như vậy không chỉ phản ánh kết quả nghiên cứu cấu trúc từ của tiếng Việt về mặt hình thái mà còn cho phép vận dụng kết quả nghiên cứu cấu tạo từ để phân tích đánh giá vai trò, giá trị của từng loại từ trong ngôn ngữ cũng như trong hành chức, có thể xét theo các phương diện khác nhau về âm thanh, ngữ nghĩa, tri nhận,… Chẳng hạn, nếu xét về vai trò hòa âm, giá trị biểu trưng ngữ nghĩa và biểu cảm của các lớp từ thì từ láy là loại được chú ý đầu tiên Do được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm, có giá trị biểu trưng hóa nên từ láy là lớp
từ có vai trò nổi bật trong sử dụng, đặc biệt là trong văn học Vì thế từ láy trong tiếng Việt luôn là đối tượng được chú ý nghiên cứu trong ngôn ngữ học cũng như trong hành chức Khi xét vai trò của từ trong quan hệ phản ánh - quy chiếu hiện thực, đặc tính phản ánh sự vật trong tính khái quát hóa hay cá thể hóa, thói quen phân cắt hiện thực, lựa chọn thuộc tính sự vật để định danh theo thói quen tri nhận của từng dân tộc từng vùng,… lúc này, ngữ nghĩa của mỗi loại từ ghép nói chung cũng như vai trò tạo nghĩa của từng loại yếu tố trong mỗi loại từ ghép luôn là đối tượng được chú ý nghiên cứu Nếu xét vai trò, khả năng tạo ra đơn vị phái sinh về cấu tạo cũng như ngữ nghĩa thì từ đơn
là loại từ có vị trí quan trọng trong nghiên cứu vấn đề Trong giao tiếp, có những lớp từ có thể dùng rộng rãi theo những phong cách khác nhau, không bị giới hạn về phạm vi địa lý hay đối tượng người dùng trong xã hội nhưng cũng
Trang 39có những lớp từ chỉ dùng trong những lĩnh vực, phạm vi giao tiếp nhất định,
vì thế mà người ta có thể chia từ thành 2 loại, lớp từ đa phong cách và lớp từ đơn phong cách hoặc lớp từ toàn dân và lớp từ địa phương, lớp từ nghệ thuật
và lớp từ khẩu ngữ - sinh hoạt,… Theo phong cách chức năng, từ ngữ dùng trong một tác phẩm văn học trước hết đã được quy định bởi chức năng hành chức của loại ngôn bản này, ngoài ra còn tùy thuộc vào phong cách thể loại, theo đặc trưng loại hình tác phẩm, theo thói quen lựa chọn của tác giả,…Như vậy, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là dạng ngôn ngữ đã qua lựa chọn mang dấu ấn nghệ thuật của nhà văn vì thế khi phân tích từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật người ta phải chú ý các lớp từ nổi bật thể hiện sự lựa chọn, mang dấu ấn phong cách nhà văn Đó cũng là định hướng của chúng tôi khi phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn học
2.1.2 Tiếp cận các lớp từ trong “Mạc Can Truyện ngắn chọn lọc”
Trong “Đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi”, Đào Thản viết: "Trong văn
xuôi, ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một độ chính xác lí tưởng về mặt miêu tả Điều này trước hết và chủ yếu được quyết định bởi tài nghệ của nhà văn, song cũng phải kể đến sức mạnh và tiềm năng của phương tiện biểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” đối với các phương tiện thể hiện Ở đây không có biện pháp nào được đánh gái là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể được ưa dùng, quen dùng hơn trong những thời kì, xu hướng hoặc tác giả nhất định”
Qua ý kiến của Đào Thản, chúng ta thấy rõ đặc điểm từ ngữ trong văn xuôi tự sự hiện đại Và dấu hiệu nhận biết phong cách nhà văn thể hiện qua
việc lựa chọn ngôn ngữ cho tác phẩm của mình Qua đó nhà văn có thể vận
dụng từ ngữ một cách sáng tạo và hiệu quả nhất trong hành chức Trong thực
Trang 40tiễn, nhà văn bao giờ cũng hướng đến xác lập phong cách ngôn ngữ, trong đó lớp từ là một biểu hiện nổi trội mang đậm cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn
Vì vậy, khi đi tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của một tác giả chúng tôi đi vào xem xét các lớp từ mà tác giả sử dụng trong tác phẩm của mình, trong đó sẽ chú hơn tới các lớp từ nổi bật thể hiện sự lựa chọn của tác giả Các lớp từ khác nhau đó được thống kê theo những tiêu chí khác nhau nhưng đều là sự thể hiện tập trung nhất vai trò thể hiện nội dung tác phẩm và góp phần hình thành nét cá tính phong cách nhà văn
Khảo sát từ ngữ trong tập Mạc Can truyện ngắn chọn lọc chúng tôi thấy
dấu ấn nhà văn thể hiện khá rõ ở việc sử dụng từ ngữ Mạc Can đã thực sự trở thành người nghệ sĩ tài hoa trong việc phát huy khả năng vô tận của ngôn ngữ , tạo dựng một nét riêng trong văn học đương đại Dấu ấn của nhà văn để lại đậm nét trong tập truyện ngắn của ông qua cách dùng các lớp từ láy, lớp từ khẩu ngữ,từ địa phương…
2.2 Một số lớp từ ngữ ưa dùng của Mạc Can trong Mạc Can truyện
Do được tạo ra theo phương thức khá đặc thù của tiếng Việt là hòa phối ngữ âm theo quy tắc điệp và đối cho nên từ láy vừa có giá trị hài âm vừa có giá trị biểu trưng ngữ nghĩa Phạm vi biểu nghĩa của từ láy là các đặc điểm, tính chất, trạng thái của sự vật theo sắc độ cho nên để miêu tả bức tranh đời sống hay tâm trạng tính cách nhân vật một cách sống động thì từ láy trở thành một phương tiện không thể thiếu