1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát, chú giải từ ngữ trong thơ nôm kim cổ của nguyễn văn thới khóa luận tốt nghiệp

169 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát, chú giải từ ngữ trong thơ nôm kim cổ của Nguyễn Văn Thới
Tác giả Đặng Huỳnh Thảo Vi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Quận
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hán Nôm
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rải rác trong những bài viết đó là các ý kiến ghi nhận một số thông tin về tác giả Nguyễn Văn Thới cũng như những thông tin có liên quan đến tập truyện thơ Nôm này.. Trong bài viết, tác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐẶNG HUỲNH THẢO VI

KHẢO SÁT, CHÚ GIẢI TỪ NGỮ

TRONG THƠ NÔM KIM CỔ CỦA NGUYỄN VĂN THỚI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: HÁN NÔM

Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2013 - 2017

TP HỒ CHÍ MINH, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐẶNG HUỲNH THẢO VI

KHẢO SÁT, CHÚ GIẢI TỪ NGỮ

TRONG THƠ NÔM KIM CỔ CỦA NGUYỄN VĂN THỚI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: HÁN NÔM

Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2013 - 2017

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN NGỌC QUẬN

TP HỒ CHÍ MINH, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong

đề tài này là sự trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những tư liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính người viết thu thập từ nguyên tác, các nguồn tài liệu khác nhau được ghi cụ thể ở phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác đều được trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoá luận của mình Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn không liên quan đến những vi phạm bản quyền, tác quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 06 năm 2017

Đặng Huỳnh Thảo Vi

Trang 4

MỘT SỐ QUY ƯỚC VIẾT TẮT

BSKH : Bửu Sơn Kỳ Hương

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Chữ Nôm phản ánh tình hình phát âm không phân biệt [v-], [d-], [gi-] 20

Bảng 2: Chữ Nôm thể hiện phương diện không quan tâm phụ âm đầu 21

Bảng 3: Chữ Nôm thể hiện hiện tượng chuyển biến phụ âm đầu /hw-/  /w-/ (rụng /h/) và /Ɂw-/  /w-/ 26

Bảng 4: Chữ Nôm về phương diện âm đệm 28

Bảng 5: Chữ Nôm về phương diện âm chính 29

Bảng 6: Chữ Nôm thể hiện phát âm không phân biệt /-k/, /-t/ 29

Bảng 7: Chữ Nôm thể hiện phát âm không phân biệt /-n/ và /- / 32

Bảng 8 : Chữ Nôm về cách viết, kết cấu lạ 35

Bảng 9: Chữ Nôm thể hiện từ địa phương 52

Bảng 10: Chữ Nôm thể hiện từ địa danh 56

Bảng 11: Chữ Nôm thể hiện từ cổ 57

Trang 6

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc khóa luận 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 9

1.1 Giới thiệu tác giả 9

1.1.1 Tiểu sử tác giả 9

1.1.2 Con đường tu tập 10

1.1.3 Con đường sáng tác 11

1.2 Mô tả văn bản Nôm 11

1.3 Nội dung tôn giáo và ý nghĩa tác phẩm 12

1.4 Giá trị văn học 16

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CHỮ NÔM TRONG KIM CỔ CỦA NGUYỄN VĂN THỚI 17

2.1 Chữ Nôm phản ánh đặc điểm ngữ âm miền Nam 17

2.1.1 Về âm đầu 17

2.1.1.1 Chữ Nôm phản ánh tình hình phát âm không phân biệt [v-], [d-], [gi-] 17

2.1.1.2 Chữ Nôm không quan tâm phụ âm đầu 21

2.1.1.3 Hiện tượng chuyển phụ âm đầu /hw-/  /w-/ (rụng /h/) và /Ɂw-/  /w-/ 26

2.1.2 Về phần vần 27

Trang 7

2.1.2.1 Chữ Nôm về phương diện âm đệm 27

2.1.2.2 Chữ Nôm về phương diện âm chính 29

2.1.2.3 Chữ Nôm về phương diện âm cuối 29

2.2 Cách viết lạ 34

2.3 Từ địa phương 52

2.3.1 Từ phổ thông địa phương 52

2.3.2 Từ địa danh 56

2.3.3 Từ cổ 57

2.4 Kết luận 57

CHƯƠNG 3: CHÚ THÍCH THƠ NÔM KIM CỔ CỦA NGUYỄN VĂN THỚI 61

KẾT LUẬN 155

MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 159

PHỤ LỤC 162

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, văn học Việt Nam từ các vùng miền

đã có sự chuyển mình thay đổi liên tục Theo dòng thời gian của lịch sử, diện mạo của văn học Việt Nam ngày càng được định hình rõ nét hơn ở các vùng miền, đặc biệt ở miền Nam Vào những năm đầu chuyển mình sang thế kỉ XX, miền Nam đã có truyện ngắn bằng chữ quốc ngữ và cũng từ đó phong trào viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ cũng nở rộ Lúc này ở đây, chữ Nôm gần như mất vai trò, chỉ còn hiện diện qua các bản viết tay những bài thơ Đường và có tính cách lưu hành giới hạn với bạn

bè trà rượu Chữ Nôm gần như vắng bóng trong các nhà xuất bản hay những nơi phát

hành sách có tính chất thương mại Thế nhưng trong quá trình chuyển giao đó, Kim cổ kỳ quan (KCKQ) ra đời, là một trong những tác phẩm dài hơi cuối cùng của dòng

văn học chữ Nôm trước khi chuyển sang một giai đoạn mới Bộ thơ Nôm KCKQ gồm

chín quyền: Kim Cổ (KC), Giác Mê, Cáo Thị, Vân Tiên, Ngồi Buồn, Bốn Tuồng, Thừa Nhàn, Tiền Giang, Kiếng Tiên mang sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ của vùng đất Nam

Bộ, mang đậm bản sắc đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH)1 – một tôn giáo đặc biệt của vùng đất này Đây là một bộ sách dày dặn cần được nghiên cứu thâm sâu nhưng tới nay vẫn chưa có công trình chính thức nào dù theo một số tài liệu nghiên cứu được công bố, hiện có thể tìm thấy 5 bản in chữ quốc ngữ cách đây sáu, bảy chục năm2 Tuy nhiên, các bản chữ quốc ngữ này đa phần đều giống nhau và có khá nhiều sai sót

so với bản chữ Nôm và đều chưa được chú thích Trên tinh thần kế thừa lại tài liệu chữ Nôm quý báu của bộ thơ này, chúng tôi nhận thấy KCKQ xứng đáng được đưa vào nghiên cứu cao và giới thiệu rộng rãi đến công chúng độc giả độc giả quan tâm

1 Bửu Sơn Kỳ Hương là một giáo phái có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và chính trị tại Nam Kỳ (Việt Nam) từ giữa thế kỷ 19 Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (còn được gọi là đạo Lành) được khai sáng năm 1849 bởi một người

tục danh Đoàn Minh Huyên (1807-1856), đạo hiệu là Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tổng An

Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) Sau này, khi ông đến tu tại chùa Tây An (núi Sam, Châu Đốc) được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An

2 Theo bài viết bài Kim Cổ Kỳ Quan trong đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ (2016) của TS Nguyễn Ngọc Quận vốn được in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ, NXB

Đại học Quốc gia TP.HCM, năm 2016 (trang 397)

Trang 9

Đó là nguyên nhân đề tài Khảo sát, chú thích từ ngữ thơ Nôm Kim Cổ của Nguyễn Văn Thới được thực hiện

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lúc ra đời cho đến nay, KCKQ đã được in ấn, giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, điều đó cho thấy sức ảnh hưởng rất lớn của tác phẩm này đến văn hóa vùng Nam Bộ Đây thực sự là một trong những hiện tượng văn học Việt Nam bằng chữ Nôm để lại ấn tượng sâu đậm và nhận được sự tiếp nhận rộng rãi từ các tín đồ Phật Giáo BSKH cho đến những độc giả, những nhà nghiên cứu KCKQ đã khởi lên một loạt các bài viết trải dài từ lúc phát hành bộ sách cho đến nay Rải rác trong những bài viết đó là các ý kiến ghi nhận một số thông tin về tác giả Nguyễn Văn Thới cũng như những thông tin có liên quan đến tập truyện thơ Nôm này Ngoài ra, trong phạm vi tìm hiểu, chúng tôi chưa phát hiện một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đặn hay hệ thống về bộ sách này

Những bài giới thiệu, nhận định đầu tiên về KCKQ xuất hiện trước hết trên không gian trực tuyến

Có thể kể đến bài viết Tác phẩm “Kim cổ kỳ quan” và sự sáng tạo của Nguyễn Hữu Hiệp đăng trên www.phatgiaobaclieu.com vào ngày 14/12/2008 Trong bài viết, tác

giả Nguyễn Hữu Hiệp đã đề cập đến câu chuyện của ông Ba Thới và quá trình sáng tác KCKQ Song đó là giới thiệu một số đặc điểm của thể thơ thất bát mà tác giả Nguyễn Văn Thới đã sử dụng Nguyễn Hữu Hiệp cũng đưa ra thông tin về một số ấn bản KCKQ được lưu truyền

Tiếp theo là bài viết Kim cổ kỳ quan – Nguyễn Văn Thới do tác giả Nguyễn Thiên

Thụ chú giải được đăng trên http://tuanhieunghia.blogspot.com/p/data.html Bài viết được đăng tải vào tháng 12 năm 2009 khi tác giả đang định cư ở Canada Trong bài viết, tác giả đã giới thiệu về ông Ba Thới qua các phương diện từ thông tin ngoài đời

và có cả trong những lời thơ của KCKQ Ông còn đưa ra những tài liệu Phật Giáo Hòa Hảo viết về ông Ba Thới Qua đó, Nguyễn Thiên Thụ cung cấp những thông tin

Trang 10

liên quan về bộ thơ Nôm này như niên đại, những nơi lưu trữ tác phẩm từ trong nước cho đến ngoài nước (chủ yếu ở Hoa Kỳ) Trong bài viết, tác giả cũng đề cập đến nội dung tác phẩm, chú giải sơ lược về tác phẩm này

Liên quan đến KCKQ, tác giả Nguyễn Ngọc Quận có một loạt bài đã công bố đáng chú ý sau

Nguyễn Ngọc Quận (2016), “Kim cổ kỳ quan”, một bộ thơ Nôm độc đáo ở miền Tây Nam Bộ, Viện nghiên cứu Hán Nôm (2016), Thông báo Hán Nôm học năm 2015,

NXB Thế giới Hà Nội

Nguyễn Ngọc Quận, "The Nom characters in the South of Vietnam before early modern period" (近代以前之越南南部喃字, Chữ Nôm Miền Nam trước thời cận đại), Proceedings of the International Conference on "Vietnam and China: Historical Cultural and Literature Relations - 越南與中國───歷史上的文化和文學關係", pp.112-121, ngày 16-17 tháng 9, 2011, tại ĐH KHXH và NV TP.HCM Trong bài viết này, tác giả có trình bày một số khảo sát văn tự Nôm NB của mình qua một số trường hợp trong KCKQ

Ngoài ra, tác giả Nguyễn Ngọc Quận cũng công bố bài viết nhân Hội nghị Thông báo

Hán Nôm năm 2016 với tiêu đề Kim cổ kỳ quan - một tác phẩm văn học chức năng tôn giáo ở Nam Bộ vào cuối năm 2016 tại Hà Nội (In trong Kỷ yếu Thông báo Hán Nôm học năm 2016 sắp xuất bản)

Gần đây, trên web http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn ,bài Kim Cổ Kỳ Quan trong đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ (2016) của TS Nguyễn Ngọc Quận vốn được in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ,

NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, năm 2016 (trang 397) được đăng tải Đây là một trong những bài viết được đánh giá có tính chất khoa học, cái nhìn sâu sắc đối với bộ thơ Nôm KCKQ Trong bài viết TS Nguyễn Ngọc Quận cũng đã nêu khái quát về tác giả, tác phẩm, các ấn bản thơ Nôm và đặc biệt là sự ảnh hưởng của KCKQ đối với đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ TS Nguyễn Ngọc Quận trên tinh thần

Trang 11

khảo sát lại bộ sách gốc trong chuyến khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu những người dân tại quê hương của ông Nguyễn Văn Thới và tài liệu trên phương tiện truyền thông đại chúng, từ đó tác giả đã liên tục tìm kiếm và cuối cùng đã sao lục được các ấn bản của bộ sách KCKQ như sau:

1/ Bổn chánh Kim cổ kỳ quan - Toàn bộ 9 quyển, kèm thông tin ở bìa trước "Láng

Linh (Ông Thẻ), Của xưa để lại", bìa cuối cho biết: Nhà in Văn Khiêm, 16 đường Thành Thái, Long Xuyên giữ bản quyền, Giấy phép xuất bản số 423 T.T.T/P.K.D, ngày 13/5/1957

2/ Kim cổ kỳ quan - (Bổn cũ soạn lại), Giấy phép xuất bản B.T.T Số 342/XB, cấp tại

Saigon, ngày 2/3/1964 (không có thông tin về nơi in)

3/ Bổn chánh Kim cổ kỳ quang (sic) (Trọn bộ 9 quyển), tái bản năm Kỷ dậu 1969, in

tại Nhà in Thế Hùng, 81 Phạm Hồng Thái, Long Xuyên

4/ Kim cổ kỳ quan - Trọn bộ chín quyển (tái bản năm Nhâm tý 1972 theo Bổn chánh Kim cổ kỳ quang (sic) [Trọn bộ 9 quyển], tái bản năm Kỷ dậu 1969), in tại Nhà in

Thế Hùng, 81 Phạm Hồng Thái, Long Xuyên

5/ Kim cổ kỳ quan - Trọn bộ chín quyển, tái bản y theo Kim cổ kỳ quan - Toàn bộ 9 quyển(kèm thông tin: Soạn giả giữ bản quyền, Trần Quang Trâm [Thông Dịch], Láng

Linh [Ông Thẻ - 1937]), xuất bản theo Giấy phép của Sở Văn hoá Thông tin An Giang

số 21/CV.VH, ngày 28/01/2003 (Đọc và lưu hành nội bộ), Kiến An, Chợ Mới, An Giang

Qua đó, tác giả đã rút ra nhận xét rằng những năm xuất bản lần lượt là 1957 –

1964 – 1969 – 1972 – 2003 Khoảng cách các lần in từ bốn lần đầu lần lượt là: 7 năm,

5 năm, 3 năm Riêng lần cuối (2003) cách lần trước đó (1972) khá lâu là 31 năm Số lần in 4 bản trước 1975 được đánh giá là rất có ý nghĩa trong việc tìm hiểu tác động hai chiều giữa công chúng và độc giả đối với tác phẩm này Từ sau 1975, nhìn chung các ấn phẩm ít nhiều mang màu sắc tôn giáo đều không được in hay tái bản cho đến sau “mở cửa”

Trang 12

Tác giả Lý Hồng Phượng có bài in Kim cổ kỳ quan – Những vấn đề về văn bản tác phẩm trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam

Bộ, NXB Đại học Quốc Gia, năm 2016 (trang 408) Trong bài viết, tác giả đã mô tả

lại tình hình văn bản Nôm KCKQ ở cả chín quyển Bài viết cũng đã phân tích các đặc điểm tiêu biểu về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

Ngoài ra, hiện nay trên mạng internet cũng đang lưu hành rất nhiều băng đĩa, file ghi âm phần lớn tác phẩm KCKQ do tổ chức đạo Hòa Hảo thực hiện và phát hành

Theo đó, những quyển được ghi âm và đăng tải nhiều nhất là Kim cổ, Vân Tiên, Thừa nhàn, Bổn tuồng, Kiểng Tiên, Giác mê Mỗi video clip có lượt truy cập vài chục ngàn

lần Ngoài ra, còn có các bài viết ca ngợi thơ ca tác phẩm KCKQ như lời châu ý ngọc,

ý nghĩa thâm sâu, vừa mẫu mực lại vừa huyền bí Cũng có những bài viết lấy bộ thơ

so sánh với chế độ chính trị xã hội ngày nay và cho rằng nhiều chi tiết có tính tiên tri trong KCKQ tương ứng với nhiều sự kiện thời nay Tuy nhiên, cũng có những bài viết nhìn KCKQ dưới góc nhìn khoa học xã hội Về phía đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng

có một số hoạt động tuyên truyền, ghi âm và đăng tải những bài giảng từ tác phẩm KCKQ và cũng nhận được sự tiếp đón nồng nhiệt từ tín đồ và bạn đọc Hầu hết trong các bài viết được đăng tải trực tuyến, nội dung tác phẩm đều giống nhau

Mặc dù bản quốc ngữ KCKQ được in khá nhiều lần trước năm 1975 nhưng hiện nay các bản in này trong dân gian còn rất hiếm Theo như thống kê thì hiện nay tại Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ một số bản

Trang 13

Xét thấy các bản chữ quốc ngữ đều có nội dung giống nhau và có nhiều khác biệt so với bản chữ Nôm TS Nguyễn Ngọc Quận trong bài viết của mình cũng đã chia sẻ qua quá trình sưu tầm điền dã của mình rằng các bản quốc ngữ về sau ra đời luôn giống bản đầu tiên do tôn trọng chữ nghĩa của tác giả Và thực tế cũng vì lý do chưa ai đủ điều kiện tiếp cận bản gốc, so sánh bản quốc ngữ và bản gốc là chữ Nôm

để phát hiện sai sót

Nhìn chung, sự xuất hiện phong phú các ý kiến đánh giá về KCKQ trên không gian internet cho thấy sức ảnh hưởng của nó đến đông đảo công chúng Tại đây, mỗi bài viết ít nhiều đã nêu lên được các phương diện cơ bản của tác phẩm, giá trị, nội dung, hình thức, tư tưởng chứa đựng trong tác phẩm Mặc dù đa phần các ý kiến còn xuất hiện khá rời rạc, sơ lược, đôi chỗ thiên về phong cách báo chí, song đó cũng đã ghi nhận được sự quan tâm, những đóng góp chân thành, ý tưởng tài hoa của các tác giả

3 Mục đích nghiên cứu

Như đã trình bày phía trên, KCKQ là một trong những bộ thơ Nôm dài hơi ra đời cuối cùng vào những năm đầu thế kỉ thứ XX Nguyên tác viết bằng chữ Nôm là một điều vô cùng quý báu Đã có rất nhiều bản dịch chữ quốc ngữ ra đời, tuy nhiên xét thấy các bản chữ quốc ngữ có sai lệch đáng kể so với nguyên tác chữ Nôm.Thêm vào đó là rất ít người có thể tiếp cận với nguyên bản và tâm lý muốn “bảo tồn cái để lại của người xưa” nên không ai dám sửa Hiện tại, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chính thức về bộ tác phẩm đồ sộ này được công bố, thế nhưng trên thực tế, mức

độ ảnh hưởng của bộ tác phẩm này đến người dân là rất lớn Hiểu được tính cấp thiết,

chúng tôi triển khai đề tài “Khảo sát, chú giải từ ngữ quyển Kim Cổ của Nguyễn Văn

Thới”

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi hy vọng thực hiện được một số mục đích đề

ra Thứ nhất là khảo sát văn tự Nôm NB phản ánh ngữ âm miền Nam (về âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối), khảo sát cấu trúc, kết cấu hình thành chữ Nôm cũng như cách viết tương đối lạ Một số văn tự ở khía cạnh từ địa phương, từ địa danh, từ cổ

Trang 14

cũng được khảo sát Thứ hai là đưa ra bản phiên âm tương đối hoàn chỉnh dựa trên nguyên tác chữ Nôm được chúng tôi thu thập được, qua đó chú giải từ ngữ cho văn bản này Trong giới hạn cho phép, chúng tôi hy vọng có thể thực hiện được những mục tiêu đề ra, trước là phát huy giá trị tinh thần của tác phẩm, sau là có thể đóng góp chút ít sức mình vào việc nghiên cứu khoa học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyển KC trong bộ thơ Nôm KCKQ của tác giả Nguyễn Văn Thới

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát toàn bộ chữ Nôm về phương diện văn tự

và chú giải từ ngữ trong quyển thơ Nôm KC nói trên

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi ứng dụng những hiểu biết về lý thuyết văn học và ngôn ngữ, cụ thể trên vấn đề: khảo sát và chú giải từ ngữ Ngoài ra, đề tài còn kết hợp các kiến thức lịch sử, văn học Việt Nam, Trung Quốc, những điển tích, điển cố và trào lưu tôn giáo có ảnh hưởng, liên quan trong quá trình chú giải tác phẩm

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng:

Phương pháp văn bản: bám sát chữ Nôm trên phương diện cấu tạo văn tự Nôm để xác lập kiểu loại, cấu tạo, xác định âm và nghĩa trong văn cảnh, nhất là tính đặc thù chữ Nôm ở đây phản ánh tình hình phát âm địa phương Nam Bộ

Phương pháp so sánh: đây là một thao tác rất cần thiết nhằm so sánh đối chiếu văn

bản nghiên cứu với các văn bản khác, từ đó rút ra những nét khu biệt để hiệu đính, chú giải Phương pháp này còn đối chiếu trường hợp chữ Nôm xuất hiện trong các nhóm từ để từ đó để xác định âm, nghĩa của chữ

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu phổ quát như

phương pháp phân tích, phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê phân loại,

Trang 15

phương pháp tổng hợp (sau khi phân tích) nhằm phân loại những chữ Nôm có cấu

tạo đặc biệt Tất cả chúng đều tồn tại xen trong quá trình nghiên cứu đề tài

6 Cấu trúc khóa luận

Khóa luận Khảo sát và chú giải từ ngữ trong thơ Nôm Kim Cổ của Nguyễn Văn Thới của chúng tôi ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,

sẽ chia thành 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu tác giả và tác phẩm

Chương 2: Khảo sát chữ Nôm trong KC của Nguyễn Văn Thới

Chương 3: Chú thích thơ Nôm KC của Nguyễn Văn Thới

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1.1 Giới thiệu tác giả

1.1.1 Tiểu sử tác giả

Nguyễn Văn Thới (1866 - 1926), tự xưng là Ba Thới, tên thường gọi là ông

Ba Nguyên quán xã Mỹ Trà, tổng Phong Thanh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay

là tỉnh Đồng Tháp), mất tại ngã ba Lộ Lở ở xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Lúc nhỏ, ông Ba theo học Nho văn, nhờ chăm học và thông minh nên ông Ba

học hơn hẳn các bạn cùng trường Ông rất thông Tứ thư, Ngũ kinh, và giỏi về Hán -

Nôm Khi học xong chữ, ông chuyển sang học nghề thợ nhuộm, thợ mộc và thợ chạm Bởi có óc thẫm mỹ và đôi bàn tay tinh xảo nên ông học và làm nghề đều hơn người

Khi trưởng thành, ông thành hôn cùng bà Nguyễn Thị Thìn, con của ông Nguyễn Văn Hóa và bà Nguyễn Thị Nhứt người ở đồng thôn Về sau sinh được chín người con trai nhưng mất thuở nhỏ hết bốn người, còn lại năm người, trong đó có bốn người con trai và một người con gái là : Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Kiệt, Nguyễn Văn Từ, Nguyễn Văn Bền và Nguyễn Thị Chậm

Ông Ba là người có vóc dáng to khỏe, mặt xương rắn rỏi, mắt sáng trán rộng, mũi thẳng, da trắng, tóc nhiều Khi ông chải tóc xõa ra chấm đất Lúc về già râu bạc trắng và dài quá rún3

Tính tình ông Ba rất hòa nhã, luôn trọng chữ tín và khiêm nhường hết mực Nhưng khi gặp cảnh ngang trái thì rất cương nghị và dũng cảm Ông là một nhân sĩ

có tinh thần yêu nước, chống Pháp Cuộc sống “chuẩn mực” của ông khiến nhân dân luôn mến mộ và coi như hiện thân của đức Phật thầy Tây An

3 Theo Kim cổ kỳ quan - Trọn bộ chín quyển, tái bản y theo Kim cổ kỳ quan - Toàn bộ 9 quyển (kèm thông tin:

Soạn giả giữ bản quyền, Trần Quang Trâm [Thông Dịch], Láng Linh [Ông Thẻ - 1937]), xuất bản theo Giấy phép của Sở Văn hoá Thông tin An Giang số 21/CV.VH, ngày 28/01/2003 (Đọc và lưu hành nội bộ), Kiến An, Chợ Mới, An Giang, tr.2

Trang 17

1.1.2 Con đường tu tập

Vào mùa xuân năm 1906 (năm Bính Ngọ)4, Ông Ba nghe nhiều người tương truyền ca tụng về ông Trần Văn Nhu (tên thường gọi là ông Hai Nhu, con trai của Đức Cố Quản Trần Văn Thành5) - một đệ tử của Phật thầy Tây An6 có tiếng đức hạnh cao siêu nên Nguyễn Văn Thới có điều kiện lãnh hội đạo BSKH 7, hiểu lẽ hưng vong của nước nhà Kề cận ông Hai được một năm, đến mùa xuân năm Đinh Mùi (1907) Ông Ba xin phép Ông Hai về quê để dời gia đình về Láng Linh cho thuận tiện việc sớm hôm kề cận với ông Hai Ở đây Ông Ba rất siêng năng tu tập đức độ và lo việc trồng ruộng nương cho gia đình sống tự túc, đồng thời cũng hết lòng giúp đỡ chùa Bửu Hương từ tinh thần tới vật chất, nên ông Hai rất hài lòng và tín nhiệm là vị đại

4 Theo Dật Dĩ và Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn màu nhiệm (NXB Từ Tâm, tái bản lần 1, 1972, tr.174 - 175)

kể rằng mùa đông năm Bính Ngọ (1906) , ông đột nhiên phát đạo tâm, từ giã gia đình đi thẳng vào núi Sam,

vô trại Thới Sơn để cầu đạo, liền nghe mọi người bảo nhau ông Hai - Trần Văn Nhu ở vùng Láng đức hạnh cao siêu, nên ông đến thọ giáo, đến lúc sáng tỏ đạo màu thì xin quy y với ông Hai Nhưng theo Soạn giả giữ

bản quyền Trần Quang Trâm trong Kim Cổ Kỳ Quan, Ông Ba Nguyễn Văn Thới (Giấy phép Sở văn hóa thông

tin An Giang số 21/CV.VH.28/01/2003 - Đọc và lưu hành nội bộ) kể lại vào mùa xuân (chứ không phải mùa đông) năm Bính ngọ (1906) ông Ba nghe tiếng tâm ca tụng ông Hai Nhu liền dò hỏi tin tức Biết chắc ông Hai đang trụ trì tại chùa Bửu Hương Tự (Láng Linh) liền cương quyết ra đi tìm cho bằng được ông Hai - người ông hằng ngưỡng mộ Một trang Phật Giáo Hòa Hảo: http://www.phatgiaohoahao.net/tu-sach-phat-giao-hoa- hao/tan-the-va-hoi-long-hoa/chuong-thu-iv-phat-giao-phai-phat-thay-tay-an/2 -ong-ba-thoi thì nói ông lên đường quy y vào năm 1905

5 Trần Văn Thành (? - 1873) còn gọi là Quản cơ Thành (từng giữ chức Chánh quản cơ trong quân đội nhà Nguyễn), là đại đệ tử của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương nên được tín đồ tôn gọi là Đức Cố Quản Ông là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 - 1873) chông Pháp ở miền Tây Nam Bộ

6 Phật thầy Tây An còn có tên là Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), hiệu là Giác Linh, sáng lập ra đạo Bửu Sơn

Kỳ Hương, được tín đồ tôn kính gọi là Phật thầy Tây An

7 Theo Trần Hữu Thành (Đào Đất Địa) sưu khảo, Theo Dấu Người Xưa - Huyền thoại Bửu Sơn Kỳ Hương và tập Kim Cổ Kỳ Quan (Tập 4/Bộ 8 quyển, lưu hành nội bộ) kể lại ông Ba đã thọ giáo với cậu Hai học đạo Tinh

Minh Hiếu Nghĩa

Trang 18

1.1.3 Con đường sáng tác

Để nguôi ngoai nỗi đau quá lớn trong tâm hồn, ông quyết tâm dồn sức làm những việc có ích cho dân, cho nước, cho đạo pháp trong chuỗi ngày còn lại của đời mình nên tiếp tục viết bộ KCKQ Ông say sưa viết quên cả thời gian Có lẽ cảm nhận được sức mình ngày càng yếu đi nên cố gắng tranh thủ hoàn thành “tâm nguyện” và hoài bão tốt đẹp mà ông đã ấp ủ bấy lâu Cuối cùng ông cũng hoàn thành bộ sách đồ

sộ KCKQ gồm chín quyển: Kim cổ, Giác mê, Cáo thị, Vân Tiên, Ngồi buồn, Bổn tuồng, Thừa nhàn, Tiền Giang và Kiểng Tiên

1.2 Mô tả văn bản Nôm

Chúng tôi đã đi điền dã đến tận các nơi thờ tự của Ông Ba tại An Giang thì được biết bộ KCKQ hiện giờ hai bản còn lưu giữ

1 Bản thứ nhất được lưu tại nhà thờ ông Ba Thới, tại ấp Cầu Dây, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Qua chuyến đi điền dã, chúng tôi thấy bản này không

còn tốt, giấy mỏng, rách mất và hư hại khá nhiều, nhất là quyển Cáo Thị

2 Bản thứ hai hiện được lưu giữ tại chùa Bửu Long, ấp Bình Chánh, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang

Qua chuyến đi điền dã chúng tôi thấy toàn bộ tác phẩm được chép tay, bằng

chữ Nôm, gồm chín quyển: Kim cổ, Giác mê, Cáo thị, Vân Tiên, Ngồi buồn, Bổn tuồng, Thừa nhàn, Tiền Giang, Kiểng Tiên với tổng số câu ước tính khoảng 24.000

câu được viết bằng thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bát cú, thất bát, tạp thể, nhiều đoạn là văn xuôi Nôm, thơ và kệ bằng chữ Hán Do phạm vi đề tài chỉ khảo sát văn bản quyển KC nên chúng tôi chỉ miêu tả quyển KC như sau:

Quyển KC có cách đóng truyền thống về văn bản Hán Nôm nói chung (một tờ gấp thành hai trang, thường gọi trang a,b), viết bằng bút lông hoặc cọ trên hai loại giấy: giấy dó và giấy dầu Nhìn chung toàn quyển KC đều có nét chữ giống nhau, có

lẽ do cùng một người viết, tuy hơi khó đọc nhưng nét chữ nhìn chung ổn định Bản giấy dầu do người khác viết, bản giấy dó ở Phủ thờ ông Ba có lẽ do ông Ba viết

Trang 19

- Sách giấy dó chép tay, gồm 87 tờ, khổ 16x29 (cm), gáy dày khoảng 1 (cm), mỗi trang 8 cột Gần 2 trang đầu chữ viết liên tục, không cách quãng, được các bản quốc ngữ cho là "lời tựa", gồm 52 câu thơ thất ngôn Từ hai cột ở cuối trang 1b trở xuống được chép mỗi cột hai câu thơ, câu lẻ 7 chữ ở trên, câu chẵn 8 chữ ở dưới, có cách quãng ở giữa trang Chữ viết nhìn chung khá rõ, một số chữ bị rách mất ở trang cuối quyển

- Sách giấy dầu chép tay, gồm 50 tờ, khổ 21x22 (cm), nội dung tương tự sách giấy dó nói trên, mỗi trang 14 cột, mỗi cột 2 câu (trang cuối tăng số câu cho hết quyển trong trang này)

1.3 Nội dung tôn giáo và ý nghĩa tác phẩm

KCKQ được ra đời vào thời điểm xã hội tang thương liên miên, trầm trọng, dân chúng lầm than chỉ biết dựa vào đời sống tâm linh để vượt qua khỏi giai đoạn ấy Đầu thế kỉ XIX, cuộc chiến giữa nghĩa quân Tây Sơn và nhà Nguyễn vừa chấm dứt sau

25 năm chinh chiến thì lập tức phải đối diện với hàng loạt cuộc tấn công mới Các cựu thần nhà Nguyễn và sĩ phu Bắc Hà muốn khôi phục lại nhà Lê Ngay cả người

có công với nhà Nguyễn như Tả quân Lê Văn Duyệt cũng chống lại triều đình Con nuôi của ông là Tổng trấn Gia Định Lê Văn Khôi cũng tiếp tục nổi lên đánh chiếm thành trì, bắt giết các quan triều định cử vào thay nhiệm kì Chưa kể quân Xiêm và Lào tấn công phía Tây, phía Nam nước ta Trong nước giặc giã nổi lên khắp nơi Khu vực Nam Bộ còn phải chịu thêm cuộc đối đầu với thực dân Pháp Năm 1861, ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa (Đồng Nai), Gia Định (TP.HCM), Định Tường (Tiền Giang) rơi vào tay Pháp Năm 1863, triều đình nhà Nguyễn cử Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh này nhưng không thành Đến 1867 chúng lại chiếm luôn ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên khiến Phan Thanh Giản tuyệt vọng đã uống rượu độc tự sát Đặc điểm lịch sử này khiến người dân Nam Bộ trong suốt thời gian này phải hứng chịu rủi ro, lầm than, nghèo đói do chiến tranh kéo dài Cuộc sống của họ trở nên bế tắc, bất an, khủng hoảng, khiến con người hoang mang cần phải dựa vào đời sống tâm linh

Trang 20

Trong hoàn cảnh ấy, người dân Nam Bộ rất cần một hệ tư tưởng Nhưng đâu mới

là lẽ nâng đỡ cho tinh thần của họ? Nho giáo thực sự khó bắt rễ vì hầu hết nơi đây tập trung đông đảo “dân tự do” hoặc bỏ nước mà đi, do mất nước, họ không có Thiên

tử đích thực để phụng sự Giáo lý nhà Phật có lẽ thích hợp với họ hơn Tuy nhiên thời điểm lúc bấy giờ nhà Nguyễn có chính sách hạn chế Phật giáo, phục hưng Nho giáo với mục đích muốn xây dựng nhà nước tập quyền Nhiều chùa chiền bị đánh sập, người tu bị ép hoàn tục Chiếu chỉ năm 1804 có ghi rõ những điều khoản như: “chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới và tô tượng đúc chuông, đàn chay hội chùa, hết thảy đều cấm Sư đã có kẻ chân tu thì lý tưởng sở tại phải khai rõ tính danh, quán chỉ đem nộp ở quan trấn để biết rõ số.”8 Chưa kể những lễ nghi phức tạp của Phật giáo khiến dân chúng khó lòng theo được Trước tình hình đó, người dân cần có một hệ tư tưởng gần gũi, dễ tu, dễ giác ngộ, phù hợp với cuộc sống đầy khó khăn mới có thể giúp họ nâng đỡ về mặt tinh thần

Trong bối cảnh tha thiết ấy, ở Nam Bộ, vào thế kỉ XIX, xuất hiện nhiều hệ tư tưởng mới là điều thiết yếu Tiêu biểu có:

- BSKH do ông Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856) sáng lập năm 1849 ở An Giang

- Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi (1831 - 1890) sáng lập năm 1867 ở An Giang

- Đạo Phật Giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920 - 1947) sáng lập năm 1939

ở An Giang

Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Tài, phó quản lý phủ thờ Ông Ba Nguyễn Văn Thới ở Chợ Mới, An Giang, chia sẻ: “Thực chất ba đạo này là một, chỉ đổi tên để tránh sự kiểm soát của chính quyền và thực dân Pháp thôi”

Đến thời của ông Nguyễn Văn Thới, là tín đồ của BSKH, ông đã chấp bút viết tác phẩm KCKQ Tác phẩm ra đời như đáp ứng được thời đại, đồng thời nói lên được tâm nguyện của nhân dân lúc bấy giờ KCKQ được cho rằng ra đời trên mảnh đất thiêng Người dân Nam Bộ gọi vùng đất này là “Bửu Sơn” (núi quý) Người ta cho

8 Xem http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/14401/language/vi-VN/Default.aspx (Bước thăm trầm của Phật giáo trên đất Thăng Long - Hà Nội)

Trang 21

rằng vùng Thất Sơn là hoa địa và Đồng Tháp Mười, Cà Mau quả là trọng địa của nước Việt Nam Gọi như vậy không chỉ vì sự quan trọng của nó trên phương diện tinh thần, chiến lược và kinh tế mà còn về tâm linh Tuy Thất Sơn không không có

bề dày tôn giáo như Hi Lạp, La Mã nhưng đây là vùng đất hội tụ Tiên, Phật, Thần Thánh Như Đức Huỳnh Giáo chủ từng ca thán nơi đây:

“Non tiên gió mát toại lòng thay!”

Hay

“Sơn bất tại cao, hữu Tiên tắc danh”

Núi có danh không bởi vì cao mà bởi có Thần Tiên

Sông Cửu Long không sâu như Thái Bình Dương nhưng vì ẩn rồng nên được gọi:

“Thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh”

Sông có linh thiêng, không bởi vì sâu mà bởi có rồng ẩn ở đó

Về địa lợi là như thế, nói về thiên thời thì không ai nghi ngờ gì cả Thời thế ắt

phải sản sinh ra những dòng đạo như thế Đức Huỳnh Giáo Chủ đả mở đầu bài Lịch sử Đức Thầy bằng mấy lời: “Vì thời cơ đã đến, ”

Vậy chỉ còn yếu tố nhân hòa để đi đến thành công rực rỡ Đến đây thì ông Ba Thới đã chấm bút khai nên:

“Lòng vọng cầu nội ngoại tương tề,

Quy nhất thống ra bề mới nỗi”

Bấy nhiêu đây thôi để thấy được KCKQ ra đời là hợp thời, hợp lý Có lẽ vì thế

mà tác phẩm nhận được sự hưởng ứng đông đảo công chúng và được xem như Thánh kinh trong đạo Mang theo tư tưởng BSKH, KCKQ thể hiện một quan niệm tổng hợp đạo lý của hệ tư tưởng đương thời ở Nam Bộ Lấy Phật Giáo làm cốt yếu, đồng thời

có sự kết hợp với Nho giáo, tín ngưỡng bản địa và quan niệm đạo đức của nhân dân, KCKQ thật sự là một tác phẩm đáng trân trọng và gìn giữ

BSKH lấy giáo pháp Học Phật - Tu nhân và việc báo đáp Tứ đại trọng ân làm trọng Học Phật là học theo giáo lý của nhà Phật, tu theo lời dạy của Phật mà trì niệm

Trang 22

“Nam mô A Di Đà Phật” Tuy nhiên, BSKH không đặt nặng triết thuyết học Phật, học Phật vốn hướng tín đồ đến Tu thân Tu thân là tôn chỉ tối thượng trong tu đạo

BSKH Đây là lối dẫn đến con đường bỏ điều xấu xa ác độc, hướng đến Nhân, Nghĩa,

Lễ, Chí, Tín, làm điều tốt cho bản thân, gia đình, xã hội, đặc biệt là thực hành bốn đức ân to lớn (Tứ đại trọng ân gọi là tứ ân) đó là: ân cha mẹ tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào nhân loại Trong đó ân đất nước được xem trọng nhất Do đó, tín đồ BSKH phải là những nhà yêu nước, đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nước nhà Vì vậy, khi quân Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông Trần Văn Thành (một quan nhà Nguyễn, đệ tử đức Phật thầy Tây An Đoàn Văn Huyên) năm 1867 từng đứng ra lập “Binh Gia Nghị”, và trở thành lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa - Láng Linh

1867 - 1873 Nhiều tín đồ khác của đạo BSKH đứng lên chống giặc, khởi nghĩa hoặc

có có liên hệ với đạo này như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Ông Trần Văn Nhu (Ông Hai Nhu), con trai Trần Văn Thành, và đệ tử của ông là Nguyễn Văn Thới đều có tư tưởng chống Pháp là vì thế Chính vì có tư tưởng báo ân đất nước, dẹp những điều xấu xa, độc ác, hướng đến chân - thiện - mỹ của cuộc đời nên ông Nguyễn Văn Thới mới dồn hết tâm huyết viết nên bộ KCKQ dày dặn đến như thế Tác phẩm khuyên người ta làm điều thiện, loại bỏ cái ác, hướng vào dân tộc, chống ngoại xâm

Tư tưởng chủ đạo với hai dòng chính là Đạo và Đời đã được rộng rãi nhân dân đón nhận và truyền bá qua nhiều thế hệ

Như vậy KCKQ không chỉ hướng đến đạo lý chung của dân tộc mà còn chạm đến tâm khảm, tư tưởng đạo đức của con người Nam Bộ chân thật, hiền hậu, chất phác Thêm nữa, cách thức tu hành của BSKH được tuyên truyền qua KCKQ cũng hợp lòng dân Do đặc điểm lịch sử đòi hỏi BSKH tu giản dị vì họ đang sống gian truân, khổ nhọc Chính vì thế tư tưởng KCKQ cũng mang một tư thế nhập thể, đem đạo vào đời sống thực, không phô trương am tự mà khuyến khích “tu tâm”, “tu tại gia”

Quốc vương thủy thổ đường danh vọng,

Rèn chí tu tâm động Phật trời

(KC - câu 35,36)

Trang 23

Thêm vào đó, KCKQ hợp với người Nam Bộ với tính cách mộc mạc ưa mạo hiểm, mới mẻ nên giọng điệu của tác phẩm giống hệt một lời giãi bày, tâm tình Do mang màu sắc tôn giáo nên một số đoạn KCKQ diễn đạt khá bí hiểm, mang màu sắc ma mị Tuy nhiên đây cũng là một lợi thế khiến tác phẩm trở nên hấp dẫn

1.4 Giá trị văn học

Vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, bên cạnh kiệt tác Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu thì nhân dân Nam Bộ còn hết mực yêu thích bộ sách KCKQ của Nguyễn Văn Thới Thời điểm này, ở miền Tây Nam Bộ nở rộ phong trào sáng tác thơ văn mà tác giả đều xuất thân từ tầng lớp nông dân chất phác, giới lao động hay các gia đình có truyền thống Nho học Có thể nói KCKQ là một trong những tác phẩm cuối cùng bằng chữ Nôm, khép lại một thời kì lấy chữ Nôm làm văn tự KCKQ kế

thừa tinh thần BSKH đã tạo nên dòng tư tưởng chủ đạo cho tác phẩm là Học Phật -

Tu thân Mạch ngầm Đạo và Đời xuyên suốt tác phẩm đã hình thành chủ nghĩa nhân

đạo sâu sắc Tác phẩm nêu cao đạo nghĩa làm người, khuyến thiện trừng ác, hướng vào dân tộc, chống giặc ngoại xâm Không những thế, tác phẩm còn khuyên răn con người giữ cho tâm trong sạch, ngay thẳng, không cầu vinh lợi, tin tưởng Phật Trời, lấy thiện làm gốc Tin tưởng theo Phật là xuất phát từ tâm, phát lên thành hành động chứ không phải chạy theo phong trào, cầu khấn trời đất cho vinh giàu của cải, kiếp sau sung sướng hay trục lợi cá nhân.Thêm vào đó là lối nói mộc mạc, chân chất, nói đạo lý nhưng không khô cằn, nghe như thủ thỉ, tâm tình, giãi bày tâm sự Trong KC, phần lớn được viết theo thể thất - bát, gieo vần chân, nhịp thơ linh động, từ ngữ sắc bén và gợi tính mở Có lẽ vì thế mà khi tiếp cận KC, ta thấy được nét ma mị ẩn chứa trong từng câu thơ

Tác phẩm được xem là chứng tích chữ Nôm Nam Bộ, là tài liệu quý giá cần được bảo tồn và lưu truyền Tuy nhiên lâu nay KCKQ được lưu truyền bằng chữ Quốc ngữ, còn bản Nôm rất hiếm người tiếp cận, do đó chưa ai đặt vấn đề xem phiên âm chữ Quốc ngữ đã chuẩn xác hay chưa Đó cũng là một trong những lý do khích lệ đề tài nghiên cứu sâu hơn nữa, trước để tìm ra sự chính xác, sau là củng cố thêm giá trị văn học cho tác phẩm đồ sộ thế này

Trang 24

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CHỮ NÔM TRONG KIM CỔ CỦA

NGUYỄN VĂN THỚI

Theo Phương ngữ học Tiếng Việt của Hoàng Thị Châu, phương ngữ là một

thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương

cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác

Theo đó, đặc điểm ngữ âm của PNNB có thể kể:

- Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một

- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm Ở NB, [r] có thể phát âm rung lưỡi So với phương ngữ khác, thì PNNB thiếu phụ âm [v] nhưng lại có âm [w] bù lại, không có

âm [z] nhưng được thay thế bằng âm [j]

- Âm đệm [-w] đang biến mất trong PNNB

- PNNB đồng nhất các vần:

-in, -it với -inh, -ich

-un, -ut với ung, -uc

Và một số đặc điểm khác

Trong bản Nôm KC, chúng tôi nhận thấy một số đặc điểm nêu trên được phản ánh trong cách thức cấu tạo chữ Nôm Để làm rõ văn tự trong bản thơ Nôm KC, chúng tôi lần lượt khảo sát văn tự chữ Nôm qua từng thành phần: phụ âm đầu, phần vần (âm đệm, âm chính, âm cuối), từ địa phương, từ địa danh, từ cổ qua các bảng biểu dưới đây

2.1 Chữ Nôm phản ánh đặc điểm ngữ âm miền Nam

phụ âm /j-/ Ví dụ: các từ vang, dang, giang đều phát âm như nhau, thành /jaŋ1/; va,

da, gia đều phát âm thành /ja1/… Qua khảo sát chữ Nôm trong quyển Kim cổ, chúng

tôi nhận thấy tình hình phát âm đó phản ánh khá đầy đủ và đều đặn trong cách viết

9 [v-]: quy ước cách viết thể hiện trên chữ quốc ngữ hiện hành

10 /bj-/: quy ước ký âm âm vị học

Trang 25

chữ Nôm ở địa bàn này Tuy nhiên, bên cạnh đó, dấu vết của lối phát âm /bj-/ vẫn còn truyền lưu trong chữ Nôm, vẫn bảo đảm nguyên tắc chuyển âm của các cặp phụ

âm môi /b-/ - /v-/, /f-/ - /v-/… như dùng âm phi 丕 (Hán) để ghi âm vậy (Nôm), bôi

盃 (Hán) để ghi âm vui (Nôm)…

Về sau, do các âm [v-], [d-], [gi-] nhập làm một, nên việc phân biệt giữa các phụ

âm này không còn nữa Do vậy, chữ Nôm có phụ âm đầu [v-], [d-], [gi-] có thể chuyển

đổi lẫn nhau một cách "hồn nhiên" Ví dụ: dùng vãn 挽 để ghi âm giảng (Tiền giảng); vụ 務 để ghi âm dụ (giảng dụ), dùng 尾 vĩ ghi âm dẫy (dẫy đầy); dùng chữ (Nôm)

蟡 ve ghi âm dè; dùng 丕 phi (qua trung gian vậy) để ghi âm dậy (thức dậy); dùng 加 gia ghi âm da (dây da); dùng chữ (Nôm) 𢭲 với ghi âm dới (dấp dới)…

Các trường hợp cụ thể sơ bộ liệt kê như sau (không kể các trường hợp lặp lại):

Trang 26

8

dở

Bộ 手

“thủ” (ý) + 尾 “vĩ”

(âm)

Dở hay hay dở cơ

thâm tại Trời 12a

9

giở

Bộ 手

“thủ” (ý) + 尾 “vĩ”

Đua chen chi trâm giắt

Không dè sau thấy

việc chi cho người 33a

Trang 28

2.1.1.2 Chữ Nôm không quan tâm phụ âm đầu

Thành tố ghi âm trong chữ Nôm cốt ghi vần và thanh điệu, không quan tâm quy luật chuyển âm đối với phụ âm đầu Thông thường, ta có thể tìm thấy mối quan hệ nhất định, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp về phụ âm đầu giữa thành tố ghi âm và chữ Nôm, thế nhưng ở đây khó lòng tìm thấy có mối quan hệ nào Do vậy, có thể nói, người viết khá tuỳ tiện trong trường hợp này, điều đó phản ánh lối viết ghi âm khá dễ

dãi, khá linh hoạt của người NB Ví dụ: dùng 遙遙 diêu diêu để ghi âm hiu hiu (gió mát hiu hiu), dùng chữ 裴 bùi để ghi âm chùi (chùi đít) (ý: 手 + âm: bùi 裴)… thì khó

có thể lý giải mối tương quan ngữ âm giữa [d-] (phụ âm đầu lưỡi) trong diêu và [h-] (phụ âm thanh hầu) trong hiu có vị trí phát âm rất xa nhau; tương tự, giữa [b-] (phụ

âm môi) trong bùi và [ch-] (phụ âm mặt lưỡi) trong chùi cũng khó tìm thấy mối tương

quan ngữ âm nào Về đặc điểm này, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ nhận định của tác giả

Nguyễn Ngọc Quận trong một báo cáo khoa học có tiêu đề Chữ Nôm Miền Nam trước thời cận đại, rằng "Hiện tượng này cho thấy chữ Nôm chỉ ghi vần và thanh điệu, còn

phụ âm đầu hoàn toàn mang tính ngữ cảnh, tính lâm thời mà thôi"11 khi khảo sát 3

quyển Kiểng tiên, Thừa nhàn, Tiền Giang trong bộ KCKQ của Nguyễn Văn Thới Trong quyển KC chúng tôi tìm thấy những trường hợp sau:

11 Xin xem: Nguyễn Ngọc Quận, "The Nom characters in the South of Vietnam before early modern period"

Conference on "Vietnam and China: Historical Cultural and Literature Relations - ───

", pp.112-121, ngày 16-17 tháng 9, 2011, tại ĐH KHXH và NV TP.HCM

Trang 29

Gió phất đông thổi

mát hiu hiu 15a

Xà lâm trận hỏa chuột

mưa lên gò 16a

Ngửa nghiêng trong

dạ tức cười ngoài môi 26b

âm đầu [n], [l] trong phương ngữ Bắc Bộ như: “nếu” 𠮩 (Bộ 口 +了)

Trang 30

Nhớ tới đâu ruột thắt

15

ngái

“mộc” (ý) + 愛 “ái”

Trang 31

Ăn quẹt mỏ láo láo

tiếng giòn 40a

Ăn quẹt mỏ láo láo

tiếng giòn 40a

Chẳng kỳ đói rách cùi

phung tại lòng 45a

Ngày sau răng trắng

như người Quảng

26

vo

Dấu nháy chỉnh âm

(âm)

Âm thanh thức dậy

thấy tai ó rằn 47a

Trang 32

28

nhắc

“khẩu” (ý) + 得 “đắc”

Muôn dân xài xể chớ

phiền nhục vinh 50a B2

Lầu son sớm dựa tối

kề xênh xang 52a

Gió bấc thổi lại lạnh

người chèo queo 69b

Dấu nháy chỉnh âm Nôm

“heo” > “queo”

Trang 33

39

ngào

“khẩu” (ý) + ½ 濠

“hào” (âm)

Lưỡi sao răng vậy gạo

thơm ngọt ngào 73a

“của”

Con mình đẻ rủa trẻ

Bảng 2: Chữ Nôm thể hiện phương diện không quan tâm phụ âm đầu

2.1.1.3 Hiện tượng chuyển phụ âm đầu /hw-/  /w-/ (rụng /h/) và /Ɂw-/  /w-/

Người NB xưa nay vốn không quen phát âm tròn môi Do vậy xuất hiện hiện tượng /hw-/  /w-/ (rụng /h/) và /Ɂw-/  /w-/ Từ đó /hw-/ và /Ɂw-/ đọc như nhau

Ví dụ các từ huyệt đọc thành quẹt /w-/, hóa đọc thành quá /w-/ Qua khảo sát chữ

Nôm trong quyển KC, chúng tôi nhận thấy tình hình phát âm đó phản ánh khá đầy đủ

và đều đặn trong cách viết chữ Nôm ở địa bàn này Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp đều đọc như vậy, vẫn còn một số trường hợp không rụng /h-/ và không đọc thành /w-/

Các trường hợp cụ thể sơ bộ liệt kê (không kể các trường hợp lặp lại):

Trang 34

Ăn quẹt mỏ láo láo

5

quá

HV:

“hóa”

Cãi bao nhiêu cãi quá

ngày hết trơn 51a

Phật cho giác tắc giác

2.1.2.1 Chữ Nôm về phương diện âm đệm

Nhiều vần bị mất âm đệm hoặc có sự chuyển đổi giữa /-wa-/ và /-a-/ (-oa- và -a-) và ngược lại Chẳng hạn, lo tan (lo toan), xay lưng (xoay lưng), tán gia (toán

Trang 35

gia) và thể hiện qua chữ Nôm như sau: 散 [lo toan] (HV: tan, thay vì: 算), 𡏦 xoay [xoay lưng] (mượn âm Nôm: xay), 算 tán [tán gia] (HV: toán, thay vì: 散)

Nhiều vần có sự chuyển đổi giữa /-ie-/ và /wie-/, đôi lúc không quan tâm âm đệm Ví dụ: chí thuyết (chí thiết) và thể hiện qua chữ Nôm như sau: 説 thiết [chí thiết] (HV: thuyết, thay vì: 切) Hiện tượng không quan tâm âm đệm có thể thấy qua các trường hợp: 推 si (HV: suy, thay vì 痴)

Các trường hợp cụ thể sơ bộ có thể liệt kê (không kể các trường hợp lặp lại):

Bây giờ quan quách

cô dì chế tang 13a

Tán gia bại sản chùa

chiền phiêu lưu 26a

Tán gia bại sản chùa

chiền phiêu lưu 26a

8

si HV: “suy”

Vận bất tề mang chữ

Trang 36

2.1.2.2 Chữ Nôm về phương diện âm chính

Về âm chính, cơ bản việc ghi âm bảo đảm nguyên âm dòng nào chuyển đổi theo nguyên âm dòng ấy (nguyên âm dòng trước chuyển cho nguyên âm dòng trước, nguyên âm dòng giữa chuyển cho nguyên âm dòng giữa, nguyên âm dòng sau chuyển cho nguyên âm dòng sau) Chúng tôi tìm thấy một trường hợp sử dụng nguyên âm dòng giữa để ghi nguyên âm dòng cuối

2.1.2.3 Chữ Nôm về phương diện âm cuối

Hiện tượng không phân biệt âm cuối /-k/ (-c/-ch) và /-t/ là phổ biến trong PNNB, điều này thể hiện rất rõ qua rất nhiều chữ Nôm trong văn bản đang được khảo sát, như: 𢩮 dắt [dắt tay] (HV thành phần: dặc), 北 bắt [bắt ma] (HV: bắc), 必 tấc [tấc đất] (HV: tất)

Các trường hợp cụ thể sơ bộ có thể liệt kê (không kể các trường hợp lặp lại):

Trang 38

Âm dương tương

hội đầu vào đít ra 14a

14

mát

Bộ 冫 băng chỉnh âm Nôm 莫

“mác”

Gió phất đông thổi

mát hiu hiu 15a

Đua chen chi trâm

giắt lược cài 19a

Trang 39

Bà già đi bán mụt

măng trên đèo 70a

Các trường hợp cụ thể sơ bộ có thể liệt kê (không kể các trường hợp lặp lại):

春 “xuân”

Âm dương vay trở

lăng xăng ba thùng 4b

Trang 40

免 “miễn”

Đem tiền bạc mua

lấy miếng ngon 8b

Bây giờ quan quách

cô dì chế tang 13a

10

kiêng HV: “kiên”

Sao chẳng kiêng có

lệnh ông Trời 15a

11

khoang

HV:

“khoan”

Vui chi một cuộc bạc

tiền khoe khoang 19b

½徴 trưng

Đỉa đeo chưn hạc

hao mòn muôn dân 25a

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w