1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lịch sử các học huyết pháp lý

27 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 257,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cáctrường ca của mình Ông cho rằng, việc thiết lập quyền lực của các thiên thần có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của một nhà nước.Trong trường ca đó đã nê

Trang 1

(Dùng cho sinh viênChuyên ngành: Cử nhân Luật)

Vinh, tháng 8 năm 2009

Trang 2

PHẦN 1 CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ CỔ ĐẠI,

PHONG KIẾN VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

CHƯƠNG I: CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI CỔ ĐẠI

I TƯ TƯỞNG PHÁP LÝ Ở HILẠP CỔ ĐẠI

1 Xã hội chiếm hữu nô lệ

Xã hội chiếm hữu nộ lệ có những nét đặc trưng như sau:

- Hình thái kinh tế- xã hội có đối kháng giai cấp đầu tiên trong lịch

sử, phát sinh từ sự tan rã của chế độ CSNT

- Chế độ CHNL với các quy mô và hình thức khác nhau đã xuất hiện

ở tất cả các nước và các dân tộc như ở Trung Quốc, Việt Nam,

- Chế độ đó đạt đến sự phát triển điển hình ở Hy Lạp và La Mã cổ đại

- Trong xã hội Chiếm hữu nô lệ có 2 giai cấp trung tâm: chủ nô và nôlệ

+ Giai cấp chủ nô:

* Là giai cấp những người bóc lột, tập hợp thành những Phân thànhcác tập đoàn xã hội khác nhau

* Cùng với giai cấp chủ nô là những người cho vay nặng lãi, những

kẻ sở hữu ruộng đất lớn, chủ xưởng, thương nhân, cho vay nặng lãi…

+ Giai cấp nô lệ:

- Là giai cấp chiếm số lượng đông đảo trong xã hội;

- Bị bóc lột;

- Không có quyền tự vệ;

- Truyền kiếp từ đời này qua đời khác;

- Là tài sản riêng của một chủ nô

Trang 3

Đứng về phía giai cấp nô lệ còn có các giai cấp và tầng lớp khácnhư: - Giai cấp những người lao động tự do:

- Thợ thủ công và nông dân

- Vô sản lưu manh

2 Một số học thuyết pháp lý ở Hilạp cổ đại

Hilạp là quốc gia điển hình về sự phát triển của chế độ CHNL Có thểnói vào thế kỷ VII- VI (Tcn) ở Hilạp đã xuất hiện nhiều trường phái chínhtrị, và các trường phái đó đều dùng mọi lý lẽ để khẳng định tính đúng đắntrong hệ thống tư tưởng của mình

Hệ thống tư tưởng của các nhà tư tưởng thời kỳ này, trước hết đượcthể hiện trong các trường ca, thần thoại như trường ca của Hôme Trong cáctrường ca của mình Ông cho rằng, việc thiết lập quyền lực của các thiên thần

có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của một nhà nước.Trong trường ca đó đã nêu lên tư tưởng của chế độ đương thời, với các nộidung sau:

Nhà nước phải có thứ bậc giống như thứ bậc của các thần linh

Trong các trường ca, các vị thần xuất hiện như những người bảo vệ tốicao cho sự công bằng, bình đẳng cũng như trừng phạt những kẻ gây ra bạolực, đau thương, và bất công cho người lương thiện

Và theo Hôme, công bằng là cơ sở và nguyên tắc của tập quán pháp.Tập quán pháp là sự cụ thể hóa công bằng vĩnh cửu

Một trong những văn bản đầu tiên ghi chép về sự khởi đầu của việcthiết lập chính quyền Nhà nước cổ Hilạp là bản Trường ca tuyệt tác củaGhêxiốt (cuối thế kỷ VII- đầu thế kỷ VIII tcn), đây là bản trường ca mangđậm màu sắc bi ai của người nông dân bị phá sản

Ông buồn vì sự phụ thuộc của những người tốt và hảo tâm vào bọnkhốn nạn và tàn ác

Trang 4

Ông tức giận khi chứng kiến bọn quý tộc lộng hành, chúng được tônvinh như thần thánh Chúng có quyền xét xử, phán quyết những người nghèokhổ và vô tội, mặc dầu bản thân chúng ngập ngụa trong sự dối trá và ăn hốilộ.

Ông đã rút ra kết luận: Pháp luật hoàn toàn thuộc về sức mạnh, đaukhổ dành cho kẻ nghèo hèn, những người muốn tranh đấu với kẻ mạnh đểtìm ra chân lý

Từ đó ông đi đến mong muốn: Thần Dớt sẽ vung kiếm chém đầu bọn

áp bức, sớm hay muộn Người sẽ trừng trị bọn lộng hành

Trường ca của Ghêxiốt cũng cho rằng:

- Thượng đế là thần sáng tạo ra các nguyên tắc và sức mạnh của phápluật

- Thượng đế là biểu tượng của nhân ái, công bằng, bao dung

Luận điểm này về sau được phát triển bởi các nhà hiền triết như Pitắc,Xôlông…

Xôlông (638- 559 trcn)

Ông là nhà hiền triết, nhà hoạt động chính trị, hoạt động nhà nước vàlập pháp

Quan điểm chính:

- Ông đã tiến hành một loạt chủ trương cải cách điền địa nên đã xóa

bỏ chế độ nô lệ nợ nần, quy định ở hữu đất đai cao nhất cũng như quyềnchính trị và nghĩa vụ công dân tương ứng với sở hữu điền địa

- Xác lập các cơ quan quyền lực và đoàn bồi thẩm

ý nghĩa chính ở chỗ: “đã mở một loạt những công việc mà người ta gọi là những cuộc cải cách chính trị, bằng cách xâm phạm vào tài sản"

Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 8, Nxb Sự thật, H 1984, tr 178

Trang 5

- Lý tưởng của ông mà nền dân chủ tuyển cử ôn hòa, lãnh đạo xã hội

là những người quyền quý cao sang và giàu có

- Nhân dân có quyền giám sát các quan chức

- Điều bảo đảm cho bình yên quốc gia là chính quyền và luật phápcứng rắn

- ông cho rằng, tình trạng vô chính phủ sẽ đưa lại tai họa

- Chỉ có Luật pháp mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất

Ông từng tuyên bố: "Ta giải phóng cho các ngươi bằng quyền lực của Luật, hãy kết hợp sức mạnh và pháp Luật".

Như vậy, ông đã đặt pháp luật ngang hàng với sức mạnh tức là Nhànước, đó là 2 nhân tố bảo đảm cho tự do, bình đẳng của xã hội

Tuy nhiên, quan điểm của ông mang nặng sự thoả hiệp giai cấp ôngmong muốn thông qua một số nhượng bộ cho nhân dânvà hạn chế bớt một

số đặc quyền của giai cấp quý tộc để đạt được sự tăng cường quyền uychính trị của giai cấp chủ nô

Từ đó ta rút ra một số kết luận về quan điểm pháp quyền của Xôlông: Nếu như Ghêxiốt đứng về phía những người nông dân và nô lệ thìXôlông đại diện cho tầng lớp thị dân đang lên

Tư tưởng cải biến chính trị pháp lý của ông dựa trên cơ sở các quanđiểm triết học

Platon (427- 347 trcn)

Là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, là người lập rachủ nghĩa Duy tâm Triết học Nhưng ở ông có dặc điểm là những quan điểmchính trị, pháp lý luôn thay đổi, không ổn định trong hệ thống lý luận

Quan điểm của ông được tóm tắt như sau:

- Quan điểm về nhà nước pháp luật đều được nâng lên thành lý trí

Trang 6

- Nhà nước lý tưởng đó là khả năng biểu hiện cực đại của tư tưởng.

- Sớm hình thành tư tưởng nhân quyền dưới hình thức phân công laođộng giữa những hạng người khác nhau

- Nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là một cơ thể thống nhất,không bị phân chia, là sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khácnhau

- Phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết

- Lập pháp, hành pháp và tư pháp là các hoạt động nhà nước, đềunhằm một đối tượng, nhưng vẫn có sự khác nhau

- Theo ông hình thức nhà nước lý tưởng là nhà nước cộng hòa quý tộc,trong đó giới chóp bu của giai cấp chủ nô cầm quyền có khả năng dườngnhư hiểu được những tư tưởng siêu đẳng và nắm được những phương phápcai trị đối với toàn bộ đám đông dân chúng còn lại

Về mặt hình thức có thể theo hình thức quân chủ hoặc hình thức quýtộc

Tuy nhiên, ông đã đưa ra một nhận xét thiên tài: Mọi thể chế nhà nướctồn tại trên thực tế đều đối lập với lý tưởng chính trị và là hình mẫu phản

diện của thiết chế xã hội Bởi vì "Cho dù là Nhà nước nào đi nữa thì trong

nó bao giờ cũng có hai nhà nước thù địch lẫn nhau: Một là, nhà nước của người giàu có, còn nhà nước kia là của người nghèo khổ".

Ông cũng đưa ra quan điểm về vai trò của pháp luật trong đời sống xãhội

ông nhấn mạnh việc điều hành nhà nước thuộc về người thượng lưu,trong đó có các nhà triết học

Không thể không nói đến quan điểm của ông về vai trò của pháp luậttrong hoạt động nhà nước Ông cho rằng, nhà nước lý tưởng là nhà nước có

Trang 7

các đạo luật công bằng, là các đạo luật được quyết định bởi trí tuệ và phục

vụ quyền lợi của quần chúng lao khổ

- Đạo luật công bằng là quan điểm chính mà ông đưa ra, đó là sảnphẩm của ông và cũng là lý tưởng mà ông theo đuổi

Arixtốt (384- 322 trcn)

Ông vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà triết học Những giá trị

về lý luận mà ông để lại cho đời sau là rất đồ sộ, trong đó có những giá trị đãđược tổng kết, phát triển một cách tài tình về nguồn gốc, bản chất hình thức,vai trò của Nhà nước

- Ông khẳng định chính sự tồn tại của xã hội đã làm phát sinh sự bấtcông, mà chế độ CHNL là điển hình

- Việc tìm kiếm một phương án để thực hiện chế độ chính trị hoànthiện nhất được ông tính bàn một cách chi tiết trong việc phân loại các kiểuNhà nước theo hình thức của chúng Ông đưa ra các tiêu chí để phân loạiNhà nước, mà theo ông 2 tiêu chí sau đây là quan trọng nhất:

+ Số lượng người cầm quyền trong Nhà nước

+ Mục đích thực hiện của nhà nước

Ông ủng hộ thể chế được gọi là chính thể Theo ông thể chế này cókhả năng đại diện cho tầng lớp trung gian trong đời sống Nhà nước

Một trong những quan điểm nổi bật là việc tổ chức thực hiện quyềnlực nhà nước Ông chia quyền lực Nhà nước thành 3 bộ phận:

Trang 8

Quan điểm của ông về sự phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nướcđược các nhà tư tưởng tư sản đánh giá cao và phát triển rất mạnh về sau.

- Ông cũng rất quan tâm đến pháp luật Ông cho rằng trong pháp luậtbộc lộ bản chất nhà nước

- Ông đưa ra nhận xét thiên tài: Không phải ở đâu quyền con ngườicũng giống nhau

- Ông cũng phân loại hai loại pháp luật chung và riêng được xác lậptrong mỗi dân tộc

- Pháp luật chung cao hơn pháp luật riêng.

- Ông cho rằng, công lý là sự tương quan của pháp luật với các côngdân quốc gia

- Là người có quan điểm địa- chính trị, ông cho rằng các yếu tố lãnhthổ, khí hậu, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới thiết chế nhà nước, tới việctuân thủ pháp luật

II MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ LA MÃ CỔ ĐẠI

1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội

Nhà nước La Mã xuất hiện sớm và trải qua thời kỳ phát triển lâu dàivới 3 giai đoạn chủ yếu:

- Giai đoạn công xã nông nghiệp lạc hậu

- Giai đoạn cộng hòa chiếm nô

Trang 9

đại điền chủ, giữa nô lệ và chủ nô, giữa quý tộc thị tộc và thương nhân giàu có”.

2 Một số tư tưởng pháp lý chủ yếu thời kỳ La Mã cổ đại:

2.1 Tư tưởng chính trị của tầng lớp những người bị áp bức mà chủ yếu là nô lệ và nông dân bị phá sản.

- Nẩy sinh trong các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn vào thế kỷ thứ II,Trcn

- Những người khởi nghĩa đã hướng quần chúng vào mục đích thànhlập nhà nước công bằng

- Hình thức nhà nước kết hợp các nguyên tắc dân chủ và quân chủ,theo đó người đứng đầu nhà nước là một vị minh quân và cùng với hội đồngnắm quyền lập pháp và hành pháp

- Nhà vua và Hội đồng nhân dân thành lập lấy mục đích bảo vệ nhànước và quyền lợi những người nghèo khổ làm tiêu chí hoạt động

2.2 Hệ tư tưởng hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi giai cấp chủ nô thống trị.

* Người đại diện xuất sắc là Xixêrông (106- 43 trcn).

- Ông cho rằng khuynh hướng liên minh, liên kết để tạo ra nhà nước làkhuynh hướng tự nhiên

- Nhà nước bảo vệ tài sản cho cá nhân con người trước nguy cơ bịxâm phạm

- Ông phân biệt 3 hình thức nhà nước chủ yếu: Nhà nước Dân chủ,quý tộc và quân chủ

Ông phê phán Nhà nước Dân chủ, coi trọng nhà nước quân chủ làhình thức nhà nước xấu xa nhất bởi vì không có gì ghê tởm sự độc đoán hơnđám đông, không có gì nguy hại hơn đám đông ngộ nhận mình là nhân dân

Trang 10

2.3 Là hệ tư tưởng của những nhà khắc kỷ, chủ trương tu dưỡng đạo đức hoặc chấp nhận định mệnh

- Trước hết cho rằng chế độ chủ nô là chế độ bất biến, là vtrật tự cótính thiên định

- Một hướng tư tưởng khác là phản kháng tiêu cực của các tầng lớp bị

áp bức trong xã hội, họ tự an ủi mình bằng các giải pháp chính trị rất thụđộng, điều đó phản ánh một giai đoạn phát triển của Nhà nước La Mã khinhững nguyên tắc dân chủ sơ khai bị xóa nhòa

2.4 Thể hiện trong các quan điểm lập pháp của các Luật gia.

- Họ có đóng góp lớn về lý luận Nhà nước và pháp luật mà đến nayvẫn có giá trị

- Họ chia Luật thành hai hệ thống các quy phạm: Công pháp và Tưpháp

- Tư tưởng chủ đạo của Luật gia là tư tưởng pháp trị, lấy mục đích bảo

vệ chế độ tư hữu làm nền tàng

2.5 Tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo:

- Thể hiện trong giáo lý thiên chúa giáo

- Được khẳng định qua các học thuyết khẳng định tính thiên định củaquyền lực, ca ngợi quyền lực như là ý chúa

- Tư tưởng thần quyền có xu hướng chi phối quyền lực của đế chế LaMã

- Cho rằng: Chế độ nô lệ do chúa định là trường tồn

- Sự giàu nghèo là do chúa tạo ra

Trang 11

III MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI:

Trung Quốc là quốc gia có chế độ CHNL phát triẻn

Điểm nổi bật của chế độ CHNL ở Trung Quốc là các cuộc chiến tranhthôn tính lẫn nhau Những cuộc chiến tranh đó diễn ra lâu dài, ác liệt

Cũng trong thời gian đó, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng chínhtrị mà đến nay vẫn có ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt các nước phương Đông

1, Hệ tư tưởng được đúc kết từ các quan điểm Đạo giáo của Lão Tử.

- Ông chủ trương xây dựng một xã hội bình yên, thịnh trị

- Muốn vậy, người cầm quyền phải tỏ ra khiêm nhường không cầndùng bạo lực mà chỉ dùng Đạo để cảm hóa

- Ông chủ trương vô vi (không làm) bởi luật càng nhiều thì cướp càngtăng

- Biểu tượng của tính thụ động

2 Hệ tư tưởng Nho giáo:

Hệ tư tưởng Nho giáo được thể hiện cơ bản và có hệ thống trong cácquan điểm của Khổng Tử

Khổng Tử (551- 479 trcn),

Ông tên Khâm, Tự Trọng Ni, người nước Lỗ Ông là một thầy học và

có rẩt nhiều học trò Những điểm chính trong hệ tư tưởng của ông phần lớn

là do học trò ghi chép và lưu truyền

- Hệ tư tưởng của Khổng Tử được trình bày chủ yếu trong các cuốn

Tứ thư, đây là quyển sách do học trò của ông sưu tầm, ghi chép lại, chínhbản thân ông cũng không nghĩ rằng những điều mình giảng cho học sinh lạitrở thành một hệ tư tưởng và có ảnh hưởng mãi về sau này

Trang 12

Quan điểm của Khổng Tử có thể được nhìn nhận, xem xét trên cácgóc độ sau:

- Về xã hội, ông kế thừa những quan niệm về số phận và cho rằng:sang, hèn là thiên định

Xã hội có hai loại người chủ yếu: quân tử và tiểu nhân, sự khác biệt vềnhân cách và vị trí xã hội của 2 loại người này được ông trình bày một cách

hệ thống về bản chất

Ông coi trọng đức vị của người quân tử là nhà cầm quyền Ông đánhgiá cao vai trò nhà cần quyền, ví họ như gió, còn tiểu nhân chỉ như cỏ, gióthổi qua thì cỏ rạp xuống

- Ông cũng nói quân tử cần nghĩa, còn tiểu nhân cần lợi

- Từ đó, ông đề ra thuyết chính danh định phận, tức là khuyên con

người ta phải ứng xử đúng cương vị của mình

- Thuyết chính danh của người được thể hiện bằng khái niệm "Tamcương" tức là 3 cặp quan hệ chủ yếu, ràng buộc nhau trong xã hội, đó là:

+ Quan hệ Vua - Tôi

+ Quan hệ Cha - Con

+ Quan hệ Vợ - Chồng

Từ đó ông muốn xây dựng một thiết chế xã hội trật tự, là một trật tự

xã hội có ngôi thứ được định sẵn

Từ đó, ông nhấn mạnh đến năm điểm ứng xử chi phối toàn bộ đặc

điểm xã hội, được gọi là Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Như vậy tư tưởng căn bản của Khổng Tử là Đức trị, tức là dùng đạođức và luân lý để điều chỉnh nhà nước và xã hội

- Đức trị theo ông là phủ nhận ý nghĩa của pháp chế Ông quan niệm

về chính trị: chính là ngay thẳng, trị là săn sóc cho dân Như vậy chính trị là

Trang 13

- Việc lấy đạo đức làm tiêu chuẩn chi phối hành vi chính trị thực ra đã

đưa ông đến phủ nhận vai trò, vị trí của Luật pháp Ông nói “Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ người Vậy muốn dắt dân chúng, thì nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết đức hạnh thì chẳng những dân biết hổ thẹn mà lại còn cảm hoá họ trở nên tốt lành”.

- Từ năm (136 trcn) khi Hán Vũ Đế thừa nhận là tư tưởng chủ yếu thìKhổng giáo đã là hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn, là công cụ tinh thần để bảo

vệ chính thể

- Cần hiểu rằng, từ tư tưởng của Khổng Tử đã nảy sinh các môn đệ,các quan điểm như Mạnh Tử, Trang Tử Nhìn chung các tư tưởng này đềuphản ánh những điểm bản chất, cốt lõi của tư tưởng Khổng Tử, mặt khác có

sự biến thái để phù hợp với thực tế

- Đặc biệt là tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn đến xã hộiTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam

- Tuy nhiên tư tưởng đó vẫn có một số hạn chế: Thái độ yếu thế, thụđộng, không dám đấu tranh

3 Hệ tư tưởng pháp trị:

Người đặt nền móng là Hàn Phi Tử (280- 233 trcn)

Hàn Phi Tử là người nước Hàn Tư tưởng của ông có các nội dungsau:

- Ông đại diện cho tầng lớp quý tộc đang lên

- Ông kế thừa, chịu ảnh hưởng của các tư tưởng dùng luật để trị nướccủa các học giả trước đó như Ngô Khởi, Lý Khôi

- Quan điểm của ông phủ nhận Nho giáo, lấy đạo đức làm gốc

Ngày đăng: 09/09/2021, 11:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w