Trong cáctrường ca của mình Ông cho rằng, việc thiết lập quyền lực của các thiên thần có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của một nhà nước.Trong trường ca đó đã nê
Trang 1(Dùng cho sinh viênChuyên ngành: Cử nhân Luật)
Vinh, tháng 8 năm 2009
Trang 2PHẦN 1 CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ CỔ ĐẠI,
PHONG KIẾN VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
CHƯƠNG I: CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI CỔ ĐẠI
I TƯ TƯỞNG PHÁP LÝ Ở HILẠP CỔ ĐẠI
1 Xã hội chiếm hữu nô lệ
Xã hội chiếm hữu nộ lệ có những nét đặc trưng như sau:
- Hình thái kinh tế- xã hội có đối kháng giai cấp đầu tiên trong lịch
sử, phát sinh từ sự tan rã của chế độ CSNT
- Chế độ CHNL với các quy mô và hình thức khác nhau đã xuất hiện
ở tất cả các nước và các dân tộc như ở Trung Quốc, Việt Nam,
- Chế độ đó đạt đến sự phát triển điển hình ở Hy Lạp và La Mã cổ đại
- Trong xã hội Chiếm hữu nô lệ có 2 giai cấp trung tâm: chủ nô và nôlệ
+ Giai cấp chủ nô:
* Là giai cấp những người bóc lột, tập hợp thành những Phân thànhcác tập đoàn xã hội khác nhau
* Cùng với giai cấp chủ nô là những người cho vay nặng lãi, những
kẻ sở hữu ruộng đất lớn, chủ xưởng, thương nhân, cho vay nặng lãi…
+ Giai cấp nô lệ:
- Là giai cấp chiếm số lượng đông đảo trong xã hội;
- Bị bóc lột;
- Không có quyền tự vệ;
- Truyền kiếp từ đời này qua đời khác;
- Là tài sản riêng của một chủ nô
Trang 3Đứng về phía giai cấp nô lệ còn có các giai cấp và tầng lớp khácnhư: - Giai cấp những người lao động tự do:
- Thợ thủ công và nông dân
- Vô sản lưu manh
2 Một số học thuyết pháp lý ở Hilạp cổ đại
Hilạp là quốc gia điển hình về sự phát triển của chế độ CHNL Có thểnói vào thế kỷ VII- VI (Tcn) ở Hilạp đã xuất hiện nhiều trường phái chínhtrị, và các trường phái đó đều dùng mọi lý lẽ để khẳng định tính đúng đắntrong hệ thống tư tưởng của mình
Hệ thống tư tưởng của các nhà tư tưởng thời kỳ này, trước hết đượcthể hiện trong các trường ca, thần thoại như trường ca của Hôme Trong cáctrường ca của mình Ông cho rằng, việc thiết lập quyền lực của các thiên thần
có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của một nhà nước.Trong trường ca đó đã nêu lên tư tưởng của chế độ đương thời, với các nộidung sau:
Nhà nước phải có thứ bậc giống như thứ bậc của các thần linh
Trong các trường ca, các vị thần xuất hiện như những người bảo vệ tốicao cho sự công bằng, bình đẳng cũng như trừng phạt những kẻ gây ra bạolực, đau thương, và bất công cho người lương thiện
Và theo Hôme, công bằng là cơ sở và nguyên tắc của tập quán pháp.Tập quán pháp là sự cụ thể hóa công bằng vĩnh cửu
Một trong những văn bản đầu tiên ghi chép về sự khởi đầu của việcthiết lập chính quyền Nhà nước cổ Hilạp là bản Trường ca tuyệt tác củaGhêxiốt (cuối thế kỷ VII- đầu thế kỷ VIII tcn), đây là bản trường ca mangđậm màu sắc bi ai của người nông dân bị phá sản
Ông buồn vì sự phụ thuộc của những người tốt và hảo tâm vào bọnkhốn nạn và tàn ác
Trang 4Ông tức giận khi chứng kiến bọn quý tộc lộng hành, chúng được tônvinh như thần thánh Chúng có quyền xét xử, phán quyết những người nghèokhổ và vô tội, mặc dầu bản thân chúng ngập ngụa trong sự dối trá và ăn hốilộ.
Ông đã rút ra kết luận: Pháp luật hoàn toàn thuộc về sức mạnh, đaukhổ dành cho kẻ nghèo hèn, những người muốn tranh đấu với kẻ mạnh đểtìm ra chân lý
Từ đó ông đi đến mong muốn: Thần Dớt sẽ vung kiếm chém đầu bọn
áp bức, sớm hay muộn Người sẽ trừng trị bọn lộng hành
Trường ca của Ghêxiốt cũng cho rằng:
- Thượng đế là thần sáng tạo ra các nguyên tắc và sức mạnh của phápluật
- Thượng đế là biểu tượng của nhân ái, công bằng, bao dung
Luận điểm này về sau được phát triển bởi các nhà hiền triết như Pitắc,Xôlông…
Xôlông (638- 559 trcn)
Ông là nhà hiền triết, nhà hoạt động chính trị, hoạt động nhà nước vàlập pháp
Quan điểm chính:
- Ông đã tiến hành một loạt chủ trương cải cách điền địa nên đã xóa
bỏ chế độ nô lệ nợ nần, quy định ở hữu đất đai cao nhất cũng như quyềnchính trị và nghĩa vụ công dân tương ứng với sở hữu điền địa
- Xác lập các cơ quan quyền lực và đoàn bồi thẩm
ý nghĩa chính ở chỗ: “đã mở một loạt những công việc mà người ta
gọi là những cuộc cải cách chính trị, bằng cách xâm phạm vào tài sản"
Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 8, Nxb Sự thật, H 1984, tr 178
Trang 5- Lý tưởng của ông mà nền dân chủ tuyển cử ôn hòa, lãnh đạo xã hội
là những người quyền quý cao sang và giàu có
- Nhân dân có quyền giám sát các quan chức
- Điều bảo đảm cho bình yên quốc gia là chính quyền và luật phápcứng rắn
- ông cho rằng, tình trạng vô chính phủ sẽ đưa lại tai họa
- Chỉ có Luật pháp mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất
Ông từng tuyên bố: "Ta giải phóng cho các ngươi bằng quyền lực của
Luật, hãy kết hợp sức mạnh và pháp Luật".
Như vậy, ông đã đặt pháp luật ngang hàng với sức mạnh tức là Nhànước, đó là 2 nhân tố bảo đảm cho tự do, bình đẳng của xã hội
Tuy nhiên, quan điểm của ông mang nặng sự thoả hiệp giai cấp ôngmong muốn thông qua một số nhượng bộ cho nhân dânvà hạn chế bớt một
số đặc quyền của giai cấp quý tộc để đạt được sự tăng cường quyền uychính trị của giai cấp chủ nô
Từ đó ta rút ra một số kết luận về quan điểm pháp quyền của Xôlông: Nếu như Ghêxiốt đứng về phía những người nông dân và nô lệ thìXôlông đại diện cho tầng lớp thị dân đang lên
Tư tưởng cải biến chính trị pháp lý của ông dựa trên cơ sở các quanđiểm triết học
Platon (427- 347 trcn)
Là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, là người lập rachủ nghĩa Duy tâm Triết học Nhưng ở ông có dặc điểm là những quan điểmchính trị, pháp lý luôn thay đổi, không ổn định trong hệ thống lý luận
Quan điểm của ông được tóm tắt như sau:
- Quan điểm về nhà nước pháp luật đều được nâng lên thành lý trí
Trang 6- Nhà nước lý tưởng đó là khả năng biểu hiện cực đại của tư tưởng.
- Sớm hình thành tư tưởng nhân quyền dưới hình thức phân công laođộng giữa những hạng người khác nhau
- Nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là một cơ thể thống nhất,không bị phân chia, là sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khácnhau
- Phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết
- Lập pháp, hành pháp và tư pháp là các hoạt động nhà nước, đềunhằm một đối tượng, nhưng vẫn có sự khác nhau
- Theo ông hình thức nhà nước lý tưởng là nhà nước cộng hòa quý tộc,trong đó giới chóp bu của giai cấp chủ nô cầm quyền có khả năng dườngnhư hiểu được những tư tưởng siêu đẳng và nắm được những phương phápcai trị đối với toàn bộ đám đông dân chúng còn lại
Về mặt hình thức có thể theo hình thức quân chủ hoặc hình thức quýtộc
Tuy nhiên, ông đã đưa ra một nhận xét thiên tài: Mọi thể chế nhà nướctồn tại trên thực tế đều đối lập với lý tưởng chính trị và là hình mẫu phản
diện của thiết chế xã hội Bởi vì "Cho dù là Nhà nước nào đi nữa thì trong
nó bao giờ cũng có hai nhà nước thù địch lẫn nhau: Một là, nhà nước của người giàu có, còn nhà nước kia là của người nghèo khổ".
Ông cũng đưa ra quan điểm về vai trò của pháp luật trong đời sống xãhội
ông nhấn mạnh việc điều hành nhà nước thuộc về người thượng lưu,trong đó có các nhà triết học
Không thể không nói đến quan điểm của ông về vai trò của pháp luậttrong hoạt động nhà nước Ông cho rằng, nhà nước lý tưởng là nhà nước có
Trang 7các đạo luật công bằng, là các đạo luật được quyết định bởi trí tuệ và phục
vụ quyền lợi của quần chúng lao khổ
- Đạo luật công bằng là quan điểm chính mà ông đưa ra, đó là sảnphẩm của ông và cũng là lý tưởng mà ông theo đuổi
Arixtốt (384- 322 trcn)
Ông vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà triết học Những giá trị
về lý luận mà ông để lại cho đời sau là rất đồ sộ, trong đó có những giá trị đãđược tổng kết, phát triển một cách tài tình về nguồn gốc, bản chất hình thức,vai trò của Nhà nước
- Ông khẳng định chính sự tồn tại của xã hội đã làm phát sinh sự bấtcông, mà chế độ CHNL là điển hình
- Việc tìm kiếm một phương án để thực hiện chế độ chính trị hoànthiện nhất được ông tính bàn một cách chi tiết trong việc phân loại các kiểuNhà nước theo hình thức của chúng Ông đưa ra các tiêu chí để phân loạiNhà nước, mà theo ông 2 tiêu chí sau đây là quan trọng nhất:
+ Số lượng người cầm quyền trong Nhà nước
+ Mục đích thực hiện của nhà nước
Ông ủng hộ thể chế được gọi là chính thể Theo ông thể chế này cókhả năng đại diện cho tầng lớp trung gian trong đời sống Nhà nước
Một trong những quan điểm nổi bật là việc tổ chức thực hiện quyềnlực nhà nước Ông chia quyền lực Nhà nước thành 3 bộ phận:
Trang 8Quan điểm của ông về sự phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nướcđược các nhà tư tưởng tư sản đánh giá cao và phát triển rất mạnh về sau.
- Ông cũng rất quan tâm đến pháp luật Ông cho rằng trong pháp luậtbộc lộ bản chất nhà nước
- Ông đưa ra nhận xét thiên tài: Không phải ở đâu quyền con ngườicũng giống nhau
- Ông cũng phân loại hai loại pháp luật chung và riêng được xác lậptrong mỗi dân tộc
- Pháp luật chung cao hơn pháp luật riêng.
- Ông cho rằng, công lý là sự tương quan của pháp luật với các côngdân quốc gia
- Là người có quan điểm địa- chính trị, ông cho rằng các yếu tố lãnhthổ, khí hậu, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới thiết chế nhà nước, tới việctuân thủ pháp luật
II MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ LA MÃ CỔ ĐẠI
1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội
Nhà nước La Mã xuất hiện sớm và trải qua thời kỳ phát triển lâu dàivới 3 giai đoạn chủ yếu:
- Giai đoạn công xã nông nghiệp lạc hậu
- Giai đoạn cộng hòa chiếm nô
- Giai đoạn đế chế
Lịch sử tồn tại của La Mã gắn liền với các cuộc đấu tranh gay gắt giữacác tầng lớp xã hội tõ khi quan hệ thị tộc bộ lạc bước vào giai đoạn tan rã
hoàn toàn.C Mác đã từng có nhận xét “Có thể hoàn toàn coi lịch sử bên
trong của nhà nước cộng hoà La Mã là cuộc đấu tranh của tiểu điền chủ với
Trang 9đại điền chủ, giữa nô lệ và chủ nô, giữa quý tộc thị tộc và thương nhân giàu có”.
2 Một số tư tưởng pháp lý chủ yếu thời kỳ La Mã cổ đại:
2.1 Tư tưởng chính trị của tầng lớp những người bị áp bức mà chủ yếu là nô lệ và nông dân bị phá sản.
- Nẩy sinh trong các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn vào thế kỷ thứ II,Trcn
- Những người khởi nghĩa đã hướng quần chúng vào mục đích thànhlập nhà nước công bằng
- Hình thức nhà nước kết hợp các nguyên tắc dân chủ và quân chủ,theo đó người đứng đầu nhà nước là một vị minh quân và cùng với hội đồngnắm quyền lập pháp và hành pháp
- Nhà vua và Hội đồng nhân dân thành lập lấy mục đích bảo vệ nhànước và quyền lợi những người nghèo khổ làm tiêu chí hoạt động
2.2 Hệ tư tưởng hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi giai cấp chủ nô thống trị.
* Người đại diện xuất sắc là Xixêrông (106- 43 trcn).
- Ông cho rằng khuynh hướng liên minh, liên kết để tạo ra nhà nước làkhuynh hướng tự nhiên
- Nhà nước bảo vệ tài sản cho cá nhân con người trước nguy cơ bịxâm phạm
- Ông phân biệt 3 hình thức nhà nước chủ yếu: Nhà nước Dân chủ,quý tộc và quân chủ
Ông phê phán Nhà nước Dân chủ, coi trọng nhà nước quân chủ làhình thức nhà nước xấu xa nhất bởi vì không có gì ghê tởm sự độc đoán hơnđám đông, không có gì nguy hại hơn đám đông ngộ nhận mình là nhân dân
Trang 102.3 Là hệ tư tưởng của những nhà khắc kỷ, chủ trương tu dưỡng đạo đức hoặc chấp nhận định mệnh
- Trước hết cho rằng chế độ chủ nô là chế độ bất biến, là vtrật tự cótính thiên định
- Một hướng tư tưởng khác là phản kháng tiêu cực của các tầng lớp bị
áp bức trong xã hội, họ tự an ủi mình bằng các giải pháp chính trị rất thụđộng, điều đó phản ánh một giai đoạn phát triển của Nhà nước La Mã khinhững nguyên tắc dân chủ sơ khai bị xóa nhòa
2.4 Thể hiện trong các quan điểm lập pháp của các Luật gia.
- Họ có đóng góp lớn về lý luận Nhà nước và pháp luật mà đến nayvẫn có giá trị
- Họ chia Luật thành hai hệ thống các quy phạm: Công pháp và Tưpháp
- Tư tưởng chủ đạo của Luật gia là tư tưởng pháp trị, lấy mục đích bảo
vệ chế độ tư hữu làm nền tàng
2.5 Tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo:
- Thể hiện trong giáo lý thiên chúa giáo
- Được khẳng định qua các học thuyết khẳng định tính thiên định củaquyền lực, ca ngợi quyền lực như là ý chúa
- Tư tưởng thần quyền có xu hướng chi phối quyền lực của đế chế LaMã
- Cho rằng: Chế độ nô lệ do chúa định là trường tồn
- Sự giàu nghèo là do chúa tạo ra
Trang 11III MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI:
Trung Quốc là quốc gia có chế độ CHNL phát triẻn
Điểm nổi bật của chế độ CHNL ở Trung Quốc là các cuộc chiến tranhthôn tính lẫn nhau Những cuộc chiến tranh đó diễn ra lâu dài, ác liệt
Cũng trong thời gian đó, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng chínhtrị mà đến nay vẫn có ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt các nước phương Đông
1, Hệ tư tưởng được đúc kết từ các quan điểm Đạo giáo của Lão Tử.
- Ông chủ trương xây dựng một xã hội bình yên, thịnh trị
- Muốn vậy, người cầm quyền phải tỏ ra khiêm nhường không cầndùng bạo lực mà chỉ dùng Đạo để cảm hóa
- Ông chủ trương vô vi (không làm) bởi luật càng nhiều thì cướp càngtăng
- Biểu tượng của tính thụ động
2 Hệ tư tưởng Nho giáo:
Hệ tư tưởng Nho giáo được thể hiện cơ bản và có hệ thống trong cácquan điểm của Khổng Tử
Khổng Tử (551- 479 trcn),
Ông tên Khâm, Tự Trọng Ni, người nước Lỗ Ông là một thầy học và
có rẩt nhiều học trò Những điểm chính trong hệ tư tưởng của ông phần lớn
là do học trò ghi chép và lưu truyền
- Hệ tư tưởng của Khổng Tử được trình bày chủ yếu trong các cuốn
Tứ thư, đây là quyển sách do học trò của ông sưu tầm, ghi chép lại, chínhbản thân ông cũng không nghĩ rằng những điều mình giảng cho học sinh lạitrở thành một hệ tư tưởng và có ảnh hưởng mãi về sau này
Trang 12Quan điểm của Khổng Tử có thể được nhìn nhận, xem xét trên cácgóc độ sau:
- Về xã hội, ông kế thừa những quan niệm về số phận và cho rằng:sang, hèn là thiên định
Xã hội có hai loại người chủ yếu: quân tử và tiểu nhân, sự khác biệt vềnhân cách và vị trí xã hội của 2 loại người này được ông trình bày một cách
hệ thống về bản chất
Ông coi trọng đức vị của người quân tử là nhà cầm quyền Ông đánhgiá cao vai trò nhà cần quyền, ví họ như gió, còn tiểu nhân chỉ như cỏ, gióthổi qua thì cỏ rạp xuống
- Ông cũng nói quân tử cần nghĩa, còn tiểu nhân cần lợi
- Từ đó, ông đề ra thuyết chính danh định phận, tức là khuyên con
người ta phải ứng xử đúng cương vị của mình
- Thuyết chính danh của người được thể hiện bằng khái niệm "Tamcương" tức là 3 cặp quan hệ chủ yếu, ràng buộc nhau trong xã hội, đó là:
+ Quan hệ Vua - Tôi
+ Quan hệ Cha - Con
+ Quan hệ Vợ - Chồng
Từ đó ông muốn xây dựng một thiết chế xã hội trật tự, là một trật tự
xã hội có ngôi thứ được định sẵn
Từ đó, ông nhấn mạnh đến năm điểm ứng xử chi phối toàn bộ đặc
điểm xã hội, được gọi là Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Như vậy tư tưởng căn bản của Khổng Tử là Đức trị, tức là dùng đạođức và luân lý để điều chỉnh nhà nước và xã hội
- Đức trị theo ông là phủ nhận ý nghĩa của pháp chế Ông quan niệm
về chính trị: chính là ngay thẳng, trị là săn sóc cho dân Như vậy chính trị làsăn sóc cho dân trở nên ngay thẳng
Trang 13- Việc lấy đạo đức làm tiêu chuẩn chi phối hành vi chính trị thực ra đã
đưa ông đến phủ nhận vai trò, vị trí của Luật pháp Ông nói “Nếu nhà cầm
quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ người Vậy muốn dắt dân chúng, thì nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết đức hạnh thì chẳng những dân biết hổ thẹn mà lại còn cảm hoá họ trở nên tốt lành”.
- Từ năm (136 trcn) khi Hán Vũ Đế thừa nhận là tư tưởng chủ yếu thìKhổng giáo đã là hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn, là công cụ tinh thần để bảo
vệ chính thể
- Cần hiểu rằng, từ tư tưởng của Khổng Tử đã nảy sinh các môn đệ,các quan điểm như Mạnh Tử, Trang Tử Nhìn chung các tư tưởng này đềuphản ánh những điểm bản chất, cốt lõi của tư tưởng Khổng Tử, mặt khác có
sự biến thái để phù hợp với thực tế
- Đặc biệt là tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn đến xã hộiTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam
- Tuy nhiên tư tưởng đó vẫn có một số hạn chế: Thái độ yếu thế, thụđộng, không dám đấu tranh
3 Hệ tư tưởng pháp trị:
Người đặt nền móng là Hàn Phi Tử (280- 233 trcn)
Hàn Phi Tử là người nước Hàn Tư tưởng của ông có các nội dungsau:
- Ông đại diện cho tầng lớp quý tộc đang lên
- Ông kế thừa, chịu ảnh hưởng của các tư tưởng dùng luật để trị nướccủa các học giả trước đó như Ngô Khởi, Lý Khôi
- Quan điểm của ông phủ nhận Nho giáo, lấy đạo đức làm gốc
Trang 14- Ông cho rằng, Nhà nước cần tới pháp luật, bởi pháp luật là công cụquan trọng để điều chỉnh xã hội.
- Ông nhấn mạnh: Mọi người phải bình đẳng trước pháp luật
- Ông nói: "Pháp luật không a dua quý tộc, pháp luật đã đặt ra thì
người có tiền cũng không từ được, hình phạt không tránh quan đại thần, khen thưởng không bỏ rơi kẻ thường dân".
- Ông phê phán nghiêm khắc tệ lũng đoạn quyền lực
- Ông quan niệm phải thực hiện pháp luật và quyền lợi tối cao củatoàn xã hội
- Ông chủ trương kêu gọi sự củng cố quyền lực từ phía những người
cai trị trong bộ máy nhà nước Ông kết luận "Cai trị bằng sức mạnh thì được
làm vua, không cai trị bằng sức mạnh thì bị lật đổ".
Trang 15Chương 2
CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ PHONG KIẾN
1 Chủ nghĩa phong kiến là gì?
- Là hình thái kinh tế- xã hội thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ
- Trong xã hội đó có hai giai cấp trung tâm đối kháng nhau: Địa chủ,phong kiến và nông dân
Tuy nhiên bản thân các giai cấp đang tồn tại trong xã hội cũng khôngthuần nhất
- Giai cấp phong kiến- địa chủ: Gồm các tập đoàn phong kiến, các nhàcho vay nặng lãi, các quan lại, các địa chủ
- Giai cấp nông dân: người nông dân trong chế độ phong kiến có cácđặc điểm sau đây:
+ Là lực lượng sản xuất chủ yếu
+ Mỗi người nông dân khi sinh ra đều đươc đặt tên, khác với người nô
lệ trong chế độ chiếm hữu nô lệ phải khắc số hiệu lên trán
+ Có tư hữu riêng như nhà cửa, trâu bò, cày bừa
+ Được quyền tự vệ, bảo vệ mình khi bị xâm phạm
+ Là người làm thuê của giai cấp địa chủ - phong kiến nói chung chứkhông là tài sản riêng của một nhà địa chủ cụ thể nào
+ Không truyền kiếp, tức là trong gia đình nông dân nếu con cháu họchành đỗ đạt vẫn được ra làm quan
+ Được tự do đi lại, định cư, bởi người nông dân không là tài sảnriêng của nhà địa chủ nên họ có quyền tự do đi lại, định cư
- Đặc điểm lớn nhất của chế độ này là tư liệu sản xuất chính là ruộngđất thuộc quyền sở hữu của địa chủ phong kiến
- Sản xuất tiểu nông, tự cung tự cấp là chủ yếu
Trang 16- Quan hệ kinh tế chủ yếu là địa tô phong kiến được trả bằng hiện vậthoặc tiền.
2 Một số học thuyết chính trị chủ yếu.
2.1 Học thuyết thần quyền.
Đại diện có Tomát Đacanh (1225- 1274)
- Ông cho rằng: thế giới xuất hiện trên cơ sở tôn ti trật tự thánh thần
- Ông chia pháp luật thành 4 loại:
+ Luật vĩnh cửu - được coi là nền chính trị của chúa để điều hành thếgiới
+ Luật tự nhiên được coi là sự phản chiếu của luật vĩnh cửu bằng lý trícon người
+ Nhân luật là pháp luật phong kiến hiện hành, được coi là sự phảnánh các đòi hỏi của luật tự nhiên
+ Thần luật hay luật báo ứng được ông dành cho kinh thánh
Ông khẳng định rằng, khi một nhà quân chủ vi phạm các đạo luật củanhà thờ thì nhà thờ có quyền lật đổ ông ta, còn các thần dân phải có nghĩa vụtuân thủ giáo hội
- Bản chất của tư tưởng chính trị của ông là bảo vệ Thiên chúa giáo,bảo vệ nhà thờ
- Ông coi chế độ quân chủ là hình thức cao nhất
- Lý tưởng của ông là chế độ quân chủ
Trang 17Đánh giá:
Người ta vẫn xem học thuyết của ông mang tính phản động, ngay cảhiện nay vẫn có nhiều người muốn dựa và nó để biện minh cho việc làm đentối, sử dụng nó như thứ vũ khí để chống lại tiến trình phát triển của nhânloại, tăng cường sự can thiệp của nhà thờ vào đời sống chính trị
2.2 Phong trào tà giáo:
Phong trào tà giáo thực chất là sự phản kháng của quần chúng nhândân lao động nhằm chống lại sự áp bức bóc lột của thần quyền vào thờitrung cổ
Tà giáo thời trung cổ, theo Ph.Ăngghen, là sự đối lập có tính cáchmạng chống phong kiến và giáo hội
- Phong trào Tà giáo đầu tiên được bắt đầu vào thế kỷ X ở Bungari vàsau đó chia thành 2 giai đoạn phát triển: giai đoạn từ thế kỷ thứ X đến thế kỷXIII và giai đoạn XIV đến XV
Phong trào tà giáo là sự phản kháng cách mạng của nhân dân lao độngchống lại sự áp bức bóc lột của nhà thờ và giáo hội
Ở Bungari có các nhà truyền giáo nhưng lại dám mạnh dạn tuyênchiến, kêu gọi đánh đổ giáo hội, công khai tuyên bố căm thù vua chúa Họkêu gọi chúa và giáo hội cũng như mọi kẻ nô lệ không được phục vụ cho cácông chủ, cho giai cấp thống trị
- Dưới ánh sáng của học thuyết Thánh thiện, vào thế kỷ X- XI đã xuấthiện các phong trào Tà giáo ở Xécbi, Nga, Ucraina Học thuyết thánh thiện
có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đối với các tín đồ ở Italia, Pháp và một số nướckhác ở châu Âu
- Đến lúc này, dân chúng ở phía Bắc Italia và phía Nam nước Phápnhiều lần đã tẩy chay và tuyên bố không còn chịu ảnh hưởng của Giáo hội
Trang 18Để chống lại phong trào tà giáo, nhà thờ đã tổ chức hàng loạt cuộcthập tự chinh, đàn áp rất dã man và đầu thế kỷ XIII đã lập tòa án Giáo hội đểxét xử những người chống giáo hội.
- Vào cuối thế kỷ XIV, phong trào Tà Giáo lại bùng lên, với hai hìnhthức: Tà giáo thị dân và Tà giáo nông dân
2.3 Các học thuyết chính trị thời kỳ chế độ phong kiến tan rã.
Tư tưởng chính trị thời đại phục hưng
- Khái niệm Phục hưng không chỉ đơn thuần là sự phục hồi những giátrị nhân văn đã có từ thời La Mã và Hi Lạp cổ đại, mà nó còn là sự thể hiệnmột cách tổng thể xu hướng phủ nhận nhà thờ và tôn giáo, kêu gọi bảo vệquyền và giá trị con người
Cốt lõi của tư tưởng Phục hưng là xu hướng phát triển xã hội dựa vào
tư tưởng nhân văn
Tư tưởng nhân văn không chỉ thể hiện trong các lĩnh vực khoa học,nghệ thuật, triết học, hội hoạ, mà còn ăn sâu vào tư tưởng chính trị và phápLuật
- Tư tưởng Phục hưng là thể hiện nét mới của khát khao muốn đượcgiải phóng, là biểu hiện của tư tưởng tư sản, nó bao hàm nội dung và khátvọng của con người là được tồn tại, là quyền được có tài sản và quyền đượcbảo vệ tài sản
Trong giai đoạn này có nhiều học giả lên tiếng bảo vệ quyền lợi conngười, kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc con người, quan điểm của họ xác lậptrên các mặt sau:
- Họ đã tách việc nghiên cứu lý luận chính trị khỏi lý luận tôn giáo
- Khi luận bàn về nguồn gốc Nhà nước, họ cho rằng, Nhà nước là docon người lập ra chứ không phải do chúa sáng tạo
Trang 19- Nhà nước xuất hiện do nhu cầu của con người nhằm bảo vệ quyềnlợi vật chất, vì quyền lợi vật chất đóng vai trò quan trọng trong đời sống củamọi người, thậm chí quan trọng đến mức làm cho người ta có thể quên điviệc bố mẹ mình đang hấp hối để nhớ tới một tài sản có nguy cơ bị tướcđoạt, dù tài sản đó rất không đáng kể
- Theo họ, sự khác nhau về vị trí tài sản làm nẩy sinh mâu thuẫn và sẽdẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp, quá trình đó tất yếu sẽ có tác động mạnh tớiquá trình hoàn thiện thiết chế nhà nước
- Họ đã phân tích quá trình hoàn thiện thiết chế nhà nước, từ đó có kếtluận loại Nhà nước nào hợp lý hơn cả
- Họ ủng hộ hình thức nhà nước cộng hòa vì xuất phát từ cách nhìnnhận của họ đối với các giá trị tự do và bình đẳng
- Từ đó, họ đi đến ủng hộ bộ phận thị dân giàu có, bộ phận tiền tư sản
Vì theo họ Thị dân là nền tảng của chế độ cộng hòa
Trang 20Chương 3
CÁC HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ CÁCH MẠNG TƯ SẢN Ở TÂY ÂU
1 Một số đặc điểm kinh tế- xã hội của Chủ nghĩa tư bản
- CNTB là hình thái kinh tế- xã hội thay thế chế độ phong kiến
- Cơ sở của chế độ TBCN là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sựbóc lột làm thuê bằng giá trị thặng dư
- Mâu thuẫn chủ yếu tồn tại trong CNTB là tính chất xã hội hóa ngàycàng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân TBCN, mâuthuẫn đó biểu hiện trong xã hội là mâu thuẫn giữa hai giai cấp trung tâm: TS
+ Xác lập sự thống nhất của chính quyền Trung ương: Nhà nước TWtập quyền
+ Cho ra đời khái niệm quốc gia- dân tộc
+ Chỉ trong một thời gian ngắn, CNTB đã tạo ra một giá trị vật chấtkhổng lồ, gấp nhiều lần các chế độ trước cộng lại
+ Dân chủ tư sản tiến bộ gấp nhiều lần chế độ chuyên chế phong kiến.+ Hiến pháp tư sản đánh dấu sự tiến bộ của lịch sử
+ Công khai tuyên bố bảo vệ chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng
Trang 21Để hiểu hơn những cống hiến của CNTB, đặc biệt là các nhà tư tưởng
tư sản chúng nghiên cứu một số nhà tư tưởng của Pháp:
- Ông cũng ca ngợi chế độ cộng hòa
- Là người bảo vệ lợi ích của tầng lớp thứ ba, Ông cũng là người hoài
nghi vai trò các tầng lớp xã hội, ông khẳng định "Khi dân đen bắt đầu bàn
luận thì tất cả sẽ tiêu tan".
- Ông đòi hỏi phải tiêu diệt các tòa án Giáo hội
- Ông chủ trương thống nhất hệ thống pháp luật
- Đưa ra các quan niệm tiến bộ về luật hình sự
- Ông là đại diện cho giai cấp tư sản đang lên vì vậy ông ủng hộ việcchống lại đẳng cấp quý tộc
Tư tưởng của ông vẫn chứa đựng mâu thuẫn: Một mặt đả kích tôngiáo nhưng lại tin vào sự tồn tại của Thượng đế; đã phản đối chế độ Giáochủ nhưng lại tin vào thể chế chuyên chế, đòi hỏi dân chủ nhưng lại cho bấtbình đẳng là quy luật
Trang 22- Ông không chỉ đơn thuần phê phán các thiết chế phong kiến mà làbác bỏ hoàn toàn hệ thống chính trị pháp quyền áp bức người dân.
- Ông ủng hộ hình thức các giai cấp lao khổ kết liên với nhau để dùngsức mạnh chung bảo vệ mọi thành viên
- Ông chủ trưởng có khế ước xã hội để ràng buộc mọi thành viên vớinhau Các điều khoản các khế ước xã hội quy vào một điểm duy nhất: mỗithành viên từ bỏ quyền riêng của mình để gộp hết vào quyền chung
- Cống hiến vĩ đại của ông là ở chỗ ông là người đầu tiên thấy được sựkhác biệt xã hội công dân nẩy sinh cùng với hế độ tư hữu và Nhà nước
- Ông khẳng định rằng, chủ quyền nhân dân là một thực thể tập thể, nókhông thể được đại diện bởi cả người nào đó mà là quyền lực được tiến hànhbởi ý chí chung
- Vì chủ trương chủ quyền không phân chia, ông chống lại mọi
TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU TRONG HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA
MÔNGTEXKIƠ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CÁC NƯỚC
1 TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU TRONG HỌC THUYẾT PHÁP LÝ CỦA MÔNGTEXKIƠ
1.1 Vài nét sơ lược về tiểu sử Môngtexkiơ
Môngtexkiơ (Char Louis Montesquieu: 1689- 1755) là nhà văn, nhàtriết học, xã hội học và sử học Pháp Ông được coi là nhà sáng lập ra khoahọc chính trị của giai cấp tư sản Pháp thế kỷ XVIII và có ảnh hưởng lớn đếnCách mạng tư sản Pháp 1789 Ông sinh ra trong một gia đình quan chức caocấp của nghị viện có tinh thần tiến bộ Ngày từ nhỏ ông đã say mê văn học
cổ và luật học Bên cạnh tham gia các công tác xã hội, như làm chủ tịch nghịviện thành phố Boócđô Ông còn say mê nghiên cứu các vấn đề triết học, vật
lý Năm 1728, ông được cử làm thành viên của Viện Hàn lâm khoa học
Trang 23Pháp Ông phê phán nhà thờ và thần học, nhưng lại cho rằng tôn giáo có một
vai trò nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội Trong khi phê phán chế
độ quân chủ chuyên chế ở Pháp, Môngtexkiơ lại đồng thời bảo vệ tư tưởng
thoả hiệp về việc duy trì một chế độ quân chủ lập hiến ôn hoà và nêu lênnguyên tắc phân chia quyền lực (thuyết phân quyền: quyền lập hiến, quyền
tư pháp và quyền hành chính); ông cố gắng tìm cách xạch ra nguyên nhânxuất hiện các chế độ nhà nước, phân tích các hình thức nhà nước khác nhau,khẳng định luật pháp phụ thuộc vào hình thức cầm quyền ở mỗi nước Theoông, luật pháp không phải do thượng đế quyết định hay chỉ xuất phát từ mộtnguyên tắc trừu tượng, như công lí Môngtexkiơ là một trong những ngườisáng lập ra trường phái địa lí trong xã hội học; ông cho rằng bộ mặt tinh thầncủa một dân tộc, tính chất luật pháp của một xã hội phụ thuộc vào những
điều kiện địa lí Môngtexkiơ cũng nhấn mạnh đến vai trò của môi trường xã
hội mà theo ông, nó được đồng nhất với khái niệm chế độ chính trị và luật
pháp Những tác phẩm chính: “Những bức thư Ba Tư” (1721), “Suy nghĩ vênguyên nhân thịnh suy của người La Mã” (1734), “Tinh thần pháp luật”(1748)
Môngtexkiơ có tư tưởng chống lại nhà nước chuyên chế, theo ôngchuyên chế là hình thức cầm quyền trong đó cả quốc gia nằm dười quyềncủa một người, đó là Nhà nước phụ thuộc và sự lộng quyền của người cầmquyền Trong Nhà nước đó không có pháp luật, và nếu trong một chế độchuyên chế có pháp luật thì chúng vẫn không có ý nghĩa thực tế, vì trong chế
độ đó không có những thiết chế đảm bảo duy trì pháp luật Bởi vậy, Nhànước chuyên chế là Nhà nước khủng bố, Nhà nước của sự chuyên quyền
1.2 Tư tưởng học thuyết “tam quyền phân lập” của Môngtexkiơ.
Nghiên cứu về tư tưởng học thuyết chính trị của Môngtexkiơ ở nước
ta chủ yếu tập trung khá nhiều và phần thể chế nhà nước, con người chính
Trang 24trị, thể chế chính trị và sự tương tác giữa thể chế chính trị và con người
chính trị, đặc biệt là học thuyết “tam quyền phân lập”.
Khái niệm Tam quyền phân lập lần đầu được đưa ra bởi nhà nghiên
cứu chính trị của người Pháp Môngtexkiơ Khái niệm tam quyền phân lậpsau này được mở rộng cho cơ chế điều hành đất nước, với nhiều hơn hay íthơn ba nhánh cầm quyền
Tam quyền phân lập là một thể chế chính trị với ba cơ quan lập pháp,
hành pháp và tư pháp được tổ chức song song với nhau, và qua đó kiểm tra,giám sát hoạt động lẫn nhau Theo thể chế này, không một cơ quan nào cóquyền lực tuyệt đối trong sịnh hoạt chính trị của quốc gia
Theo Môngtexkiơ, lập pháp là quyền làm ra luật, sửa đổi và huỷ bổ luật, hành pháp là quyền chăm sóc an ninh, đối nội, đối ngoại, lãnh đạo dân chúng thời bình cũng như thờ chiến trong khuôn khổ luật pháp ban hành Tư
pháp là quyền trừng phạt người phạm tội và phân xử khi có tranh tụng giữa
các cá nhân Mỗi cơ quan hay mỗt bộ phận của một cơ quan được quyềnhoạt động trong lĩnh vực của mình, không có quyền trong lĩnh vực khác,nhưg có quyền ngăn chặn cơ quan khác
1.2.1 Quá trình hình thành học thuyết “tam quyền phân lập”
Cội nguồn cử tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây
mà điển hình là nhà nước Athems và cộng hoà Mã Lai Những tư tưởng phânquyền sơ khai trong thời cổ đại được phát triển thành học thuyết phân quyền
ở Tây Âu vào thế kỷ XVII- XVIII, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn làJ.Locke và C.L.Montesquieu
John Locke (1632- 1704), là người đầu tiên khởi thảo ra thành hệ
thống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền, nhưng Locke đồng nhất
quyền lực nhà nước với quyền lập pháp.
Trang 25Những luận điểm phân quyền của J.Locke đã được nhà khai sángngười Pháp C.L.Montesquieu (1689- 1775) phát triển Montesquieu đã pháttriển một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này nhắc tới thuyếtphân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.
Học thuyết pháp luật- chính trị (thuyết “phân quyền”) của giai cấp tư
sản, theo đó, quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể chế thống
nhất, mà là sự phân chia thành ba quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, các quyền này được thực hiện độc lập khác nhau, kiểm soát lẫn nhau,kiềm chế lẫn nhau Tư tưởng “Tam quyền phân lập” được các nhà hiền triết
đề xướng từ thời La Mã cổ đại với đại diện tiêu biểu là Arixtôt (Aristote), và
trở thành một học thuyết độc lập vào thể kỉ XVIII, gắn với tên tuổi của
Môngtexkiơ (C.L.Montesquieu), nhà tư tưởng Pháp Học thuyết về sự phân
chia quyền lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên, đã đóng vai tròquyết định trong lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán,chuyên quyền của nhà vua Cùng với sự thành lập chế độ tư bản, nguyên tắc
“phân chia quyền lực” đã trở thành môth trong những nguyên tắc chính củachủ nghĩa lập hiến tư sản, lần đầu tiên được thể hiện trong các đạo luật mangtính hiến định của cuộc Cách mạng tư sản Pháp và sau đó thể hiện đầy đủtrong Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 Trên thực tế, việc phân chia quyền lựctrong bộ máy nhà nước tư sản được áp dụng khác nhau trong hệ thống các
nước cộng hoà tổng thống, theo nguyên tắc “Kiềm chế và đối trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền
(lập pháp, hành pháp và tư pháp)
Tư tưởng tam quyền phân lập xuất hiện lần đầu tiên vở nhà bác học vĩ
đại của Hylạp Attixtot Theo Arixxtot, nhà nước quản lý xã hội bằng 3phương pháp: Luật pháp, hành pháp và phân xử Ông cho rằng, không cóloại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả các thời đại và
Trang 26các quốc gia Ông phân chính phủ theo tiêu chuẩn số lượng (số lượng cầmquyền) và chất lượng (mục đích của sự cầm quyền) Bên cạnh Arixtot, bàn
về thuyết “tam quyền phân lập”, còn có J.Lôcco Theo ông, quyền lực củanhà nước là quyền lực của nhân dân Nhân dân nhường một phần quyền của
mình cho nhà nước qua khế ước Và để chống độc tài phải thực hiện sự
phân quyền Kế thừa tư tưởng phân quyền của Arixtot, J.Lôcco cho rằng,
quyền lực phải phân chia theo ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp.
Đặc biệt, khi nói tới thuyết “tam quyền phân lập”, ta không thể không nhắc
tới nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp Môngtexkiơ.
1.2.2 Nội dung tư tưởng học thuyết “tam quyền phân lập” của
Môngtexkiơ.
Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống
chuyên chế, Môngtexkiơ xây dựng học thuyết phân quyền, đây là nội dung
tư tưởng chủ yếu trong học thuyết chính trị - pháp lý của Môngtexkiơ, với
mục đích tạo dựng những thể chế chính trị, đảm bảo tự do cho các côngnhân
Theo ông, tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có thểlàm mọi cái mà pháp luật cho phép Pháp luật là thước đo của tự do.Cũngnhư Arixxtot và J.Locco, Môngtexkiơ cho rằng, thể chế chính trị tự do là thểchế mà trong đó, quyền lực tối cao được phân thành ba quyền: lập pháp,hành pháp và tư pháp
- Lập pháp: biểu hiện ý chí chung của quốc gia Nó thuộc về toàn thểnhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân (Quốc hội)
- Hành pháp: là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập Quyền nàykhông được thực hiện bởi những thành viên của Quốc hội
Trang 27- Tư pháp: là để trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các
cá nhân Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo phápluật
Tư tưởng phân quyền của Môngtexkiơ là đối thủ đáng sợ của chủ
nghĩa chuyên chế phong kiến, và có thể khẳng định ông là người đã phát
triển và hoàn thiện học thuyết: “tam quyền phân lập”.
Môngtexkiơ kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc
bấy giờ Chế độ quân chủ chuyên chế là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lývì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độ
chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù - chế độ chuyên chế với bản chất
vô pháp luật và nhu cầu pháp luật Môngtexkiơ nhận thấy pháp luật là trái
với bản chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạmquyền Vì vậy, việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời,
là sự thanh toán chế độ chuyên chế Theo Montesquieu, một khi quyền lựctập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyênchế vẫn còn
Theo thuyết “tam quyền phân lập”, quyền lực nhà nước được chia làm
3 và giao cho mỗi hệ thống cơ quan khác nhau đảm trách: quyền lập phápgiao cho Nghị viện, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư phápgiao cho Toà án
Theo Môngtexkiơ, tự do chỉ có thể có được khi pháp luật được tuânthủ nghiêm ngặt Muốn vậy phải phân quyền, vì nếy quyền lực trong tay một
cá nhân hay một cơ quan sẽ nảy sinh độc đoán, chuyên quyền Muốn khắcphục phải dùng quyền lực hạn chế và kiểm soát quyền lực Khi quyền lựcnhà nước được phân chia làm 3 bộ phận do 3 cơ quan khác nhau nắm giữ và
bộ máy phải thiết chế sao cho ba quyền đó ở thế đối trọng nhau và không có
cơ quan nào đứng trên 3 cơ quan đó.
Trang 28Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật, Môngtexkiơ đã lập luận tinh tế
và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng
định: “Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp,quyền thi hành những điều phù hợp với công pháp quốc tế và quyền thi hành
những điều trong luật dân sự” Ta có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng
phân quyền của Môngtexkiơ so với tư tưởng của Locke, khi tách quyền lực
xét xử - quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác
Từ đó, Môngtexkiơ chủ trương phân quyền để chống lại chế độ
chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hạicho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân Môngtexkiơ đã viết:
“Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay mộtViên Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng, chínhông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độctài Cũng không có gì là tự do nếu nhu quyền tư pháp không tách rời quyềnlập pháp và hành pháp Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp,thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan toà
sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thìtoà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức củaquan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyềnlực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”
Tóm lại, theo Môngtexkiơ, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc
gia là: “Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràngbuộc phần kia Cả hai phần sẽ bị quyền hành pháp ràng buộc, và quyền hànhpháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc”
Tư tưởng của Môngtexkiơ tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc Nhưng nó vẫn là nền móng
cho tư tưởng phân chia quyền lực sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đến những
Trang 29quan niệm sau này về tổ chức nhà nước, cũng như thực tiễn tổ chức của cácnhà nước tư bản Ví dụ như, đa số Hiến pháp của các nhà nước tư bản hiện
nay, đều khẳng định nguyên tắc phân quyền như một nguyên tắc cơ bản của
tổ chức quyền lực nhà nước Như điều 10 Hiến pháp Liên bang Nga quy
định: “Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sởcủa sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp Các cơquan của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập”
Điều 1 của Hiến pháp Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức
bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba quyền: lậppháp, hành pháp, tư pháp
Tiếp nối Montesquieu, J.J Rousseau cùng với tác phẩm “Bàn về khếước xã hội”, đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phânchia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Rousseau (1712- 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả
quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao, tức toàn thểcông dân trong xã hội Nhưng ông lại chỉ ra rằng, phân chia quyền lực nhànước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quanquyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý nhất, để đảm bảo sự hoạtđộng có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạmquyền Ngoài ra, ông còn nêu lên vai trò quan trong của cơ quan tư pháptrong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho sựcân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân.Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và
Montesquieu, bởi ôg luôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ
phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và
“mỗi bộ phận chỉ thực iện ý chí tối cao đó” mà thôi.
1.2.3 Ưu và nhược điểm của học thuyết “tam quyền phân lập”
Trang 30- ưu điểm:
Ưu điểm quan trọng nhất của thuyết “tam quyền phân lập” là tránhđược sự chuyên quyền, độc tài trong thực hiện quyền lực nhà nước Đưa xãhội loài người lên một bước mới trong quản lý và điều hành đất nước
Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước
luôn có xu hướng mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình Bất cứ ở đâu có
quyền lực là xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực
ấy thuộc về ai Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân,ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhànước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước Cách tốtnhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý vàcách thực hiện không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra
Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền, vàsau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạtđộng trong phạm vi quy định của pháp luật
- Nhược điểm:
Nhược điểm chủ yếu của thuyết “tam quyền phân lập” là do phânquyền nên dễ dẫn tới sự tranh chấp, kìm hãm lẫn nhau giữa các cơ quan nhànước, nhằm giành quyền lợi nhiều hơn trong thực thi quyền lực nhà nước
Nó cũng tạo nên sự giảm đồng bộ, thống nhất và gắn kết giữa các cơ quanquyền lực nhà nước
Tam quyền phân lập suy cho cùng cũng chỉ là sự chia sẻ quyền lựccủa các nhà tư bản với nhau và cùng cai trị giai cấp lao động Nó không thểhiện được sự làm chủ của nhân dân trong bộ máy nhà nước, trong điều kiệnhoàn hảo thì 3 cơ quan đó (lập pháp, hành pháp, tư pháp) hoạt động mộtcách độc lập, tách biệt hoàn toàn Còn trong điều kiện không hoàn hảo (áp
Trang 31dụng không triệt để) thì cho thấy sự lạm quyền đặc biệt thấy rõ nhất là ở Hoa
Kỳ, Tổng thống đang dần dần “lấn sân” của Quốc hội trong vấn đề lập pháp
Như vậy dù áp dụng triệt để hay không thì “tam quyền phân lập” vẫn
có nhiều khiếm khuyết trong quá trình dân chủ, nên không thể tạo ra đượcmột nền dân chủ triệt để được
Như vậy, dù áp dụng triệt để hay không thì “tam quyền phân lập” vẫn
có nhiều khiếm khuyết trong quá trình thực hiện dân chủ, nên không thể tạo
ra được một nền dân chủ triệt để được
2 Các nước vận dụng học thuyết “Tam quyền phân lập” của Ông.
2.1 Các nước tư bản vận dụng học thuyết “tam quyền phân lập” để xây dựng và duy trì bộ máy nhà nước của mình.
Trong tác phẩm bàn về “tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã lập luậntinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và về
sau, tư tưởng “tam quyền phân lập” này của ông đã trở thành phương pháp
kinh điển được các Nhà nước tư sản vận dụng tư tưởng học thuyết “tam
quyền phân lập” để xây dựng và duy trì bộ máy nhà nước của mình
Học thuyết tam quyền phân lập là nền tảng pháp lý luận cho tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước tư sản Do đó, có bao nhiều quốc gia
theo chế độ tư bản thì có bấy nhiều nước thi hành mô hình phân quyền theothuyết tam quyền phân lập Tuy nhiên, đó cũng chỉ là tương đối, vì thực tếviệc vận dụng theo học thuyết này có tính chất và mức độ khác nhau Cónước áp dụng triệt để như Mỹ (USA), nhưng có nước như France (Pháp) lạikhông có sự kiềm chế, đối trọng và có vai trì quan trọng trong việc lậppháp…)
Tam quyền phân lập trong hệ thống Hoa Kỳ thường không hiệu quả,nhưng nó mang lại một sự bảo vệ quan trọng để chống lại khả năng lạm
Trang 32dụng quyền lực của chính phủ - một vấn đề mà mọi nền dân chủ phải đốimặt.
“Phân chia quyền lực” đã trở thành một trong những nguyên tắc
chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, lần đầu tiên được thể hiện trong các đạoluật mang tính hiến định của cuộc Cách mạng tư sản Pháp, và sau đó thểhiện đẩy đủ trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 Trên thực tế, việc phân chiaquyền lực trong bộ máy nhà nước tư sản được áp dụng khác nhau trong hệ
thống các nước cộng hoà tổng thống theo nguyên tắc “kiềm chế và đối
trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền.
Ở một số nước Nam Mỹ, quyền lực Nhà nước nhiều khi lại chia làm4,5,… bộ phận Ví dụ: Nicaragoa có thêm quyền kiểm tra do Tổng thanh trathực hiện; Argentina phân làm 6 quyền… Chế độ Sài Gòn trước năm 1975chia quyền làm 4, thêm quyền giám sát của Tối cao pháp viện
Theo thuyết “tam quyền phân lập”, quyền lực Nhà nước được chia
làm 3 và giao mỗi hệ thống cơ quan khác nhau đảm trách: quyền lập pháp
giao cho Nghị viện, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Toà án.
Nghị viện: là cơ quan quyền lực và là cơ quan lập pháp của nhà nước
tư sản Nghị viện thê chế hoá các quyết định chính trị quan trọng và biến ýchí của giai cấp tư sản thành pháp luật hiện hành Hiện nay, Nghị viện tư sảnngày càng phát huy tốt vai trò của nó, trở thành diễn đàn đấu tranh gay gắtgiữa các thế lực khác nhau trong xã hội
Chính phủ: là cơ quan hành pháp cao nhất, chiếm vị trí trung tâmtrong hệ thống các cơ quan nhà nước ở trung ương Chính phủ tư sản cóquyền hạn rộng rãi trong lĩnh vực hành pháp Trên thực tế, nó quyết địnhphần lớn các chính sách đối nội và đối ngoài của nhà nước Khuynh hướng
Trang 33tăng quyền lực của chính phủ và thu hẹp quyền lực của cơ quan lập pháp,đang là hiện tượng phổ biến ở các nước tư sản hiện đại.
Toà án: là khâu độc lập của cơ chế Nghị viện, tách khỏi nhân dân Toà
án tư sản đóng vai trò quan trọng thực hiện quyền lực chính trị Nó có chứcnăng thẩm định, kiểm tra xét xử
2.2 Việt Nam vận dụng và phát triển học thuyết “tam quyền phân lập” để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước trong công cuộc đổi mới.
Tam quyền phân lập được áp dụng ở hầu hết các nước tư bản, vậy cònViệt Nam thì sao?
Ở Việt Nam cũng có Quốc hội (lập pháp), Chính phủ (hành pháp) vàToà án nhân dân tối cao (tư pháp) Chúng ta chỉ sử dụng hình thức của tamquyền phân lập, chứ không áp dụng trong bộ mát nhà nước Đó là điều cầnlưu ý
Hiện nay, tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam, về bản chất vẫn bảo
đảm tính tập quyền xã hội chủ nghĩa, song trên thực tế đã vận dụng những
hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, nghĩa là nhấn mạnh đến khía cạnh
phân công quyền lực: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Đây là bước phát triển trong nhận thức của
Đảng Cộng sản Việt Nam về nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa trong
thời kỳ mới
Việc đầu tư nghiên cứu và khẳng định cần thiết xây dựng nhà nướcpháp quyền chứng tỏ sự phát triển mới trong tư duy chính trị của Đảng, Nhànước ta trên cơ sở thực tiễn đới sống chính trị
Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời từ thế kỉ XIX với một quátrình thăng trầm Ở những nước XHCN thời kỳ đầu thì chỉ nói đến Nhà nướcchuyên chính vô sản, cho đến 1988, Liên Xô mới bắt đầu nói đến khái niệm
Trang 34“Nhà nước pháp quyền XHCN” Còn ở Việt Nam, khái niệm Nhà nước phápquyền đã được nguyên tổng bí thư Đỗ Mười nói đến đầu tiên trong một bàiphát biểu vào năm 1991 và chính thức được dùng trong các văn bản năm1994.
Về nhà nước pháp quyền, nhiều nhà khoa học đã khẳng định sự hìnhthành và tồn tại của nó gắn liền với sự phát triển dân chủ Nó chính là sựđảm bảo pháp lý cho một nền dân chủ đích thực
Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng mang tính phổ biến sauđây:
- Trước hết đó là nhà nước hợp hiến, hợp pháp; nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, trong đó các đạo luật chiếm ưu thế trong hệ thống phápluật
Pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật chứa đựng tính nhânvăn, nhân đạo, pháp luật vì con người, vì số đông trong xã hội, pháp luậtphải thể hiện được ý chí cộng đồng dân tộc, quốc gia, không phải ý chí củamột nhóm người, một cá nhân hay một tập đoàn nào đó
- Nhà nước, các cơ quan của nhà nước đặt mình dưới pháp luật, lệthuộc vào pháp luật Trong mỗi quan hệ giữa nhà nước với pháp luật thì
“tính trội” thuộc về pháp luật, ở khía cạnh này pháp luật như là công cụ,phương tiện để hạn chế quyền lực nhà nước, hạn chế công quyền
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do củacông dân phải ngày càng được mở rộng được bảo đảm, bảo vệ bằng cơ chếpháp luật, bằng các tiền đề, điều kiện về kinh tế - xã hội, bằng tổ chức nhànước Như vậy, pháp luật là công cụ, phương tiện ghi nhận, bảo vệ cácquyền công dân
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó thiết lập mối quan hệtrách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước với công dân
Trang 35- Trong nhà nước pháp quyền vai trò của Toà án được đề cao, cácnhánh quyền lực lập pháp và hành pháp phải độc lập một cách tương đối,phối hợp với nhau và phải kiềm chế được nhau.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tát
cả quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp.Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.Đây là những vấn đề mang tính nguyên tắc, có tính chính trị- xã hội địnhhướng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên thựctế
Về mặt nhận thức có thể nói rằng, ngày nay nghiên cứu về Nhà nướcpháp quyền ở Việt Nam đã bước qua giai đoạn trả lời câu hỏi nhà nước phápquyền là gì? Câu hỏi cần có lời giải đáp hiện nay là: chuyển sang giai đoạnxây dựng Nhà nước pháp quyền phải làm như thế nào? Quốc hội, Chính phủ,Toà án, Viện kiểm sát phải tổ chức và hoạt động như thế nào, phải làm gì đểxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam? Tức làm thế nào để vẫngiữ vững được định hướng XHCN mà vẫn có một nhà nước pháp quyềnmạnh?
Tuy nhiên, Nhà nước pháp quyền của ta chưa phát triển kíp so với đòihỏi trong tính đồng bộ với kinh tế thị trường, chính vì thế mà có rất nhiềuvấn đề xã hội bức xúc nảy sinh (quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, vi phạmdân chủ,… Ta thường gọi là những căn bệnh của cơ chế) tạo nên lực cảncủa sự nghiệp đối mới mà Đảng và chính bản thân Nhà nước chưa và khôngthể tự giải quyết được nếu không có sự điều chỉnh về thể chế, cơ chế Phảichăng, chúng ta chưa mạnh dạn nhìn nhận vấn đề từ bản chất của nó? Phảichăng chúng ta đã đánh đồng bản chất và tính chất của nhà nước? Bản chất
Trang 36của Nhà nước là Nhà nước dân chủ XHCN, còn pháp quyền là tính chất, làtrạng thái của thể chế dân chủ đó Cái bản chất là cái bất biến, không thayđổi; còn tính chất, trạng thái tinh thần linh hoạt, mềm dẻo để luôn tương tích
và bảo vệ vững chắc cho cái bất biến ấy Nếu những cải cách hành chính, đổimới hệ thống chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật … chưa đủ mạnh đểNhà nước pháp quyền phát huy sức mạnh hiệu quả thực tế của nó, thì có thểphải tìm hướng giải quyết khác? Cơ chế phân quyền XHCN phải chăng đãđến lúc cần được thiết lập, từng bước thử nghiệm có giới hạn để làm choNhà nước ta vẫn giữ được bản chất là nhà nước dân chủ XHCN, nhưng phải
là nhà nước pháp quyền đủ sức mạnh hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trênnhà nước, các nhánh quyền lực “phân lập” để kiểm tra nhau, cơ quan nhànước và công chức chỉ được làm những điều luật pháp cho phép, còn dân thìđược phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm; và để đảm bảodân uỷ quyền mà không mất quyền thì công việc của nhà nước và các cơquan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền thamgia vào việc xây diựng pháp luật, giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước.Một nhà nước pháp quyền như thế, lại được định hướng bởi đường lối chínhtrị của Đảng Cộng sản cầm quyền, thì sức mạnh ưu trội của sự kết hợp lýtưởng chính trị tốt đẹp và kỹ thuật pháp lý cao, sẽ là một đảm bảo chắc chắnnhất cho sự vững mạnh của một nhà nước pháp quyền XHCN
Trang 37
PHẦN II
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
I Về khái niệm Nhà nước pháp quyền
1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền
Trong việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật, vấn đề nhà nướcpháp quyền trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả là nhữngngười làm công tác thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý hiệnnay ở trong nước cũng như nước ngoài Do cách tiếp cận vấn đề hoặc nhậnđịnh đánh giá vấn đề ở góc độ khác nhau, một số vấn đề rất cơ bản liên quanđến nhà nước pháp quyền vẫn chưa có nhận thức thống nhất hoặc chưa đượclàm sáng tỏ Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: dướigóc độ chính trị xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, nhà nước pháp quyềnkhông phải là một kiểu nhà nước mới, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sửnhân loại đã chứng kiến là: Nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhànước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Vậy, nhà nước pháp quyền là kiểu nhà nước gì? Chúng ta có thểkhẳng định rằng, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước độclập với các kiểu nhà nước nói trên và nó cũng không phải là nhà nước kiểumới không mang tính giai cấp trong thời đại công nghiệp hiện nay như một
số học giả tư sản đã từng tuyên bố
Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiêncứu các quan điểm tư tưởng về tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máynhà nước qua các thời kỳ lịch sử, chúng tôi cho rằng, khái niệm nhà nướcpháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máynhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các
Trang 38văn bản pháp quy khác Nói cách khác, nhà nước pháp quyền là nhà nướcđược xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tối cao của pháp luậtđược tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo… của bất cứ tổchức hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật
Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể thấy, tư tưởng về xây dựng nhànước pháp quyền đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và tương ứng vớimỗi kiểu nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa) đều có một
hệ thống pháp luật tương ứng và đạt mức độ phát triển khác nhau Tuynhiên, chúng tôi cũng không thống nhất với quan điểm cho rằng, “bất cứ nhànước nào có hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm khác nhau đều coi lànhà nước pháp quyền” mà cần xác định rằng, tư tưởng về nhà nước phápquyền phát triển không ngừng là thành quả của nhân loại, nó hình thành vàphát triển cùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừanhận về mặt lý luận như một học thuyết về nhà nước pháp quyền Tại Hộinghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Bê-nanh, năm 1992,các luật gia đã đưa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về một nhà nước pháp quyền
và được đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, bao gồm: sự thừa nhận tính tốicao của pháp luật; việc xác định quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong
bộ máy quyền lực nhà nước; việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp củacon người, tôn trọng pháp luật quốc tế v.v Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng,vấn đề nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng vàvận hành bộ máy nhà nước dưới góc độ pháp luật, mà pháp luật thì bao giờcũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi nhà nước, mỗi dân tộc; do
đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền sẽthể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệ thống quan điểm,mục đích nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển hoặc điều kiện cụ thể của mỗi
Trang 39nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về nhà nước pháp quyền đồng nhấtcho tất cả các nước khác nhau.
Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận vềnhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định, nhà nước phápquyền là nhà nước trong đó có phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành
bộ máy nhà nước so pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của phápluật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyệnvọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xãhội, nhất là việc đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặccon người nói chung)
Từ đó, chúng ta có thể rút ra bốn tiêu chí chung của nhà nước pháp quyền như sau:
- Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải
do pháp luật quy định;
- Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật(đảng phái, tổ chức, tôn giao… phải được tổ chức và hoạt động trong khuônkhổ của pháp luật);
- Quyền nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hànhpháp, quyền tư pháp;
- Có hệ thống pháp luật đây đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí vànguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinhtrong xã hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của côngdân