1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa

96 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Lịch Sử Địa Phương Ở Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ Qua Hệ Thống Các Di Tích Lịch Sử, Văn Hóa
Tác giả Chu Thị Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Đại học Sư phạm Lịch sử - GDCD
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

50 CHƯƠNG 3: Đề XUấT CÁCH THứC THựC HIệN GIÁO DụC LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG THÔNG QUA Hệ THốNG DI TÍCH LịCH Sử, VĂN HÓA ở HUYệN ĐOAN HÙNG, TỉNH PHÚ THọ .... Xuất phát từ những nhận thức đó, có

Trang 3

Đại học Hùng Vương, các phòng ban trong trường và các sở Ban ngành huyện Đoan Hùng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa khoa học xã hội

và nhân văn đã định hướng, hướng dẫn, chỉnh sửa và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo TS Trần Văn Hùng, thầy luôn tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo và từng bước chỉnh sửa những thiếu sót trong quá trình làm, để bài khóa luận của em làm có giá trị và khoa học nhất

Lời cuối cùng em xin gửi lời biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận

Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn, chắc chắn đề tài khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của quý thầy cô

Phú thọ, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Chu Thị Anh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc đề tài 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT Về HUYệN ĐOAN HÙNG VÀ VấN Đề GIÁO DụC LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG 9

1.1 Khái quát huyện Đoan Hùng 9

1.1.1 Lịch sử hình thành huyện Đoan Hùng 9

1.1.2 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 10

1.1.3 Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Đoan Hùng12 1.2 Giáo dục lịch sử địa phương 21

1.2.1 Khái niệm “Lịch sử địa phương” 21

1.2.2 Mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc 21

* Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: Hệ THốNG DI TÍCH LịCH Sử, VĂN HÓA TRÊN ĐịA BÀN HUYệN ĐOAN HÙNG, TỉNH PHÚ THọ PHụC Vụ GIÁO DụC LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG 25

2.1 Khái quát hệ thống di tích 25

2.1.1 Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng 25

2.1.2 Bảng xếp hạng hệ thống các di tích qua các cấp 28

Trang 5

Đoan Hùng 30

2.2.1 Giá trị lịch sử của một số các di tích tiêu biểu của huyện Đoan Hùng 30

2.2.2 Giá trị văn hóa của một số các di tích tiêu biểu của huyện Đoan Hùng 42

Tiểu kết chương 2 50

CHƯƠNG 3: Đề XUấT CÁCH THứC THựC HIệN GIÁO DụC LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG THÔNG QUA Hệ THốNG DI TÍCH LịCH Sử, VĂN HÓA ở HUYệN ĐOAN HÙNG, TỉNH PHÚ THọ 51

3.1 Thực hiện bài dạy lịch sử địa phương trên lớp 51

3.1.1 Quy định của Bộ về chương trình lịch sử địa phương 51

3.1.2 Vai trò, ý nghĩa của dạy học lịch sử địa phương trong dạy học ở THCS 51 3.1.3 Một số nội dung có thể soạn về lịch sử địa phương huyện Đoan Hùng dạy cho học sinh 54

3.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa 61

3.2.1 Tác dụng hoạt động ngoại khóa 61

3.2.2 Các hình thức ngoại khóa 63

3.2.3 Thiết kế hoạt động ngoại khóa 64

* Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 7

Chữ viết tắt Nội dung

TNST Trải nghiệm sáng tạo

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ trẻ đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Theo đó, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi bàn về công tác giáo dục đã chỉ rõ phải “Lựa chọn những nội dung có tính cơ bản, hiện đại Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ đất nước.”[15; 109]

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Những phẩm chất của con người Việt Nam dần được hình thành như tinh thần đoàn kết, lao động cần cù, kiên nhẫn, sáng tạo và mang đậm tư tưởng nhân văn, tiến bộ trong cộng đồng lớn Nhà - Làng - Nước - Lịch sử - Dân tộc Ngay từ buổi đầu dựng nước nhân dân ta đã phải đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập, ghi dấu những mốc son chói lọi trong tiến trình lịch sử dân tộc Để có những thắng lợi vẻ vang đó, biết bao con người Việt Nam thuộc các làng xã, dân tộc khác nhau cùng “nằm gai nếm mật” góp công sức lập nên những chiến công hiểm hách của đất nước Việt Nam

Lịch sử địa phương là một bộ phận hữu cơ của lịch sử dân tộc, bất cứ một

sự kiện nào của lịch sử dân tộc đều diễn ra ở một địa phương cụ thể với thời gian, không gian nhất định Tùy quy mô, tính chất phản ánh mà sự kiện ảnh hưởng đến phạm vi của từng địa phương, cả nước và thậm chí mang tầm thế giới Tri thức lịch sử địa phương là một bộ phận hợp thành, là một biểu hiện cụ thể và phong phú của tri thức lịch sử dân tộc, chứng minh sự phát triển hợp quy luật của mỗi địa phương trong sự phát triển chung của cả nước Như vậy, không

có nghĩa tri thức lịch sử Việt Nam chỉ là phép cộng đơn giản tri thức lịch sử các

Trang 9

địa phương mà việc nhận thức lịch sử Việt Nam phải được hình thành trên nền tảng hệ thống tri thức lịch sử dân tộc đa dạng đã được tổng hợp, khái quát ở mức

độ cao Do đó, việc dạy học lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định rằng việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương qua những di tích lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam là cần thiết ở nhà trường phổ thông, có ý nghĩa lớn, nhằm giúp học sinh có thể hiểu sâu hơn về lịch sử của địa phương, gắn liền với lịch sử dân tộc, tạo sự chuyển biến tích cực về ý thức, thái độ học tập của học sinh trong bộ môn Lịch sử, góp phần nâng cao giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc

Đất nước mang đậm bản sắc văn hóa ấy, không thể không nhắc đến địa danh Phú Thọ Đây là một tỉnh thuộc vùng Đông bắc Việt Nam, nằm ở trung tâm quốc gia văn Lang ngay từ thời đại vua Hùng dựng nước, vùng đất Phú Thọ

là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng Phát huy truyền thống quê hương đất Tổ, nhân dân tỉnh Phú Thọ luôn tích cực tham gia phong trào đấu tranh cách mạng giữ làng, giữ nước Là địa phương nằm trong cái nôi cách mạng của cả dân tộc Việt Nam - từng chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, nơi hội tụ của các nền văn hóa đã từng tồn tại trên đất nước Việt Nam Đây cũng là nơi phản ánh những sự kiện lớn của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Đoan Hùng không chỉ nổi tiếng bởi bưởi ngọt, chè thơm mà còn đi vào lòng người, vào lịch sử dân tộc với những chiến công oanh liệt trên dòng sông Lô hay chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản Đoan Hùng là địa phương có vai trò quan trọng của tỉnh Phú Thọ trên nhiều lĩnh vực Với vị trí đặc biệt quan trọng nằm ở ngã ba sông nên từ xa xưa, Đoan Hùng trở thành cửa ngõ lên căn cứ địa Việt Bắc, là tấm lá chắn cho khu căn cứ địa thần thánh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Trên địa bàn Đoan Hùng có tổng số 22 di tích lịch sử - văn hóa trên 27 xã của huyện, các di tích được trải đều trên tất cả các xã và điều đó chứng minh rằng, Đoan Hùng là

Trang 10

một xã có một bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa Ở chính những khu di tích

đó còn là nơi hoạt động văn hóa tâm linh của con người và nhằm giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Thông qua đó, giúp cho con người có ý thức về tổ tiên và tạo nên động lực giúp con người vượt qua mọi khó khăn để họ có thêm sưc mạnh tiến về phía trước

Vì thế, sử dụng tài liệu LSĐP ở Huyện Đoan Hùng, nhằm góp phần giáo dục thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của nước nhà, tinh thần yêu nước, lòng biết ơn những anh hùng dân tộc, giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa mà ông cha ta đã để lại Đồng thời phù hợp với đổi mới chương trình giáo dục phổ

thông hiện nay của Bộ Giáo Dục và đào tạo với yêu cầu thực hiện “Hoạt động

trải nghiệm sáng tạo” bắt buộc Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giáo dục

lịch sử địa phương ở Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Việc giảng dạy và học tập Lịch sử địa phương đã được chú trọng từ lâu ở nhiều nước như Liên xô và ở nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945, Lịch sử địa phương được đưa vào chương trình lịch sử của nhà trường phổ thông Việt Nam sau các cuộc cải cách giáo dục (1950, 1956, 1979) đã khẳng định vị trí, ý nghĩa của việc dạy, học Lịch sử địa phương và đạt được nhiều kết quả vè mặt nội dung và phương pháp dạy học Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu:

Trong cuốn "Giáo dục học tập 1" do Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt chủ

biên xuất bản năm 1987, nhà xuất bản Giáo dục Cuốn sách đã đưa các nguyên tắc của quá trình dạy học, trong đó có nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của trò Nguyên tắc này đòi hỏi phải phát huy tính tích cực, tính tự giác độc lập của học sinh trong quá trình dạy học Đồng thời tác giả cũng đưa ra khái niệm tính tích cực tự giác

và tính độc lập nhận thức

Trang 11

Cuốn "Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường

trung học cơ sở" do Phạm Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng chủ biên, xuất bản năm

1998, nhà xuất bản Giáo dục Các tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn lịch sử ở trường trung học cơ sở và đề ra những con đường, biện pháp hình thức, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử

Cuốn "Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Cao đẳng Sư phạm" do

Trần Đức Lương chủ biên, xuất bản năm 2001, nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Hà Nội Tác giả đã đưa ra các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của người học như: nêu vấn đề, sử dụng đồ dùng trực quan, trao đổi đàm thoại qua đó nhằm lấy người học làm trung tâm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học

Cuốn "Phương pháp dạy học Lịch Sử tập 1" do GS.TS Phạm Ngọc Liên

chủ biên, xuất bản năm 2002, nhà xuất bản Đại học Sư phạm.Tác giả đã trình bày cụ thể về chức năng nhiệm vụ Bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông, các hình thức phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.Tác giả đã xác định vấn đề kiến thức cơ bản là những kiến thức tối ưu, không thể thiếu là những kiến thức quy định nội dung cần thiết mà học sinh phải nắm vững mới đạt được trình độ của trình Kiến thức cơ bản bao gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau thành một hệ thống với sự kiện lịch sử, thời điểm không gian, địa điểm lịch sử nhân vật lịch sử…

Cuốn “Giáo trình Lịch sử địa phương” do Nguyễn Cảnh Minh chủ biên,

xuất bản năm 2005, nhà xuất bản Đại học sư phạm Tác giả đã nêu ra vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của dạy học lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc

Trong "Giáo trình các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở" của Nguyễn Thị Côi chủ biên, xuất bản năm 2007 nhà xuất bản Đại

học Sư phạm Cuốn sách đã đi sâu vào những kiến thức cơ bản về vấn đề bài học

Trang 12

lịch sử ở trường trung học cơ sở: quan niệm về bài học lịch sử, những yêu cầu

cơ bản đối với một bài học lịch sử, các công việc chuẩn bị tiến hành bài học lịch

sử, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập quan bài học lịch sử, các con đường nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường trung học cơ sở Trong đó, tác giả đã khẳng định việc tạo biểu tượng nằm không thể thiếu trong việc nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường trung học cơ sở

Cuốn "Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở

trường trung học phổ thông" do Nguyễn Thị Côi chủ biên, xuất bản năm 2008,

nhà xuất bản Đại học Sư phạm Tác giả nêu rõ: Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học là việc trình bày hình ảnh, cảm xúc lịch sử cho học sinh để tạo nên hình ảnh về sự kiện trong dạy học lịch sử Nguồn gốc, phương tiện tạo nên hình ảnh về sự kiện, con người quá khứ trong dạy học lịch sử là lời nói của giáo viên và học sinh, tranh ảnh, bản đồ, các đoạn trính từ tác phẩm văn học, nghệ thuật… Qua đó đã khẳng định vai trò quan trọng của tạo biểu tượng

về nhân vật và địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử

Cuốn "Hướng dẫn sử dụng Kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử trung

học Cơ sở" do Nguyễn Thị cô chủ biên, xuất bản năm 2009 nhà xuất bản Giáo

dục Tác giả đã cung cấp cho chúng ta nắm được những nội dung lịch sử và phương pháp sử dụng hệ thống kênh hình trong dạy học Lịch sử Việt Nam Kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử gồm: nhiều loại bản đồ, sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh lịch sử Mỗi loại có một phương pháp sử dụng riêng Cuốn sách giáo viên đã giúp lựa chọn các phương pháp phù hợp để tạo biểu tượng cho học sinh Trong đó, có chân dung các nhân vật lịch sử địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử thuộc giai đoạn lịch sử Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XIX

Cuốn “Lí lịch di tích Đình Cả - Chí Đám - huyện Đoan Hùng - tỉnh Vĩnh

Phú” xuất bản năm 1994 Cuốn sách đã nói lên truyền thống “uống nước nhớ

nguồn” của nhân dân xã Chí Đám, Đình Cả - Chí Đám là nơi thờ Cao Sơn có công giúp Vua Hùng thứ 18 trong cuộc chiến với Thục Phán để gìn giữ đất nước

Trang 13

từ thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc Di tích còn là nơi có ý nghĩa và giá trị sâu sắc trong việc tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ trẻ

Luận án “Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường Trung

học cơ sở” của Hoàng Thanh Hải năm 1999, đã khẳng định tính cấp thiết phải

đưa nguồn tài liệu LSDP vào giảng dạy trong nhà trường Sử dụng tài liệu lịch

sử địa phương trong dạy học LSVN, nhấn mạnh mối quan hệ giữa địa phương với dân tộc

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ thị trấn Đoan Hùng (1930 – 2000), Ban chấp

hành Đảng bộ thị trấn Đoan Hùng – huyện Đoan Hùng – tỉnh Phú Thọ xuất bản năm 2002 Cuốn sách đã khẳng định vai trò của quân và dân huyện Đoan Hùng trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập, ghi dấu những mốc son chói lọi trong tiến trình lịch sử dân tộc

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Chân Mộng (1948-2000)”, Ban chấp hành

Đảng bộ xã Chân Mộng - huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ 2002, Cuốn sách đã

đi sâu vào truyền thống đấu trang của nhân dân xã Chân mộng và thực hiện nhiệm vụ chiến lược xã hội chủ nhĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng

Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến ở một khía cạnh nghiên cứu về phương pháp dạy học lịch sử để nâng cao hiệu quả tạo hứng thú cho học sinh, nhưng chưa đầy đủ, trong quá trình giảng dạy cần phải hình thành những biểu tượng di tích lịch sử nhằm tạo hướng thú, giúp học sinh có thể hiểu sâu hơn về lịch sử của địa phương, góp phần nâng cao giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc Do vậy việc nghiên cứu lịch sử địa phương ở Huyện Đoan Hùng thông qua hệ thống các di tích nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh là việc cần thiết và ý nghĩa của một khóa luận lịch sử Vì vậy, tôi

chọn đề tài “Giáo dục lịch sử địa phương ở Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 14

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là Thiết kế hoạt động giáo dục lịch sử địa phương cho học sinh THCS thông qua hệ thống di tích lịch sử, văn hóa ở Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục lịch sử địa phương qua hệ thống di tích lịch sử, văn hóa

Hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn huyện Đoan Hùng, đánh giá những giá trị, ý nghĩa của hệ thống di tích đó

Đề xuất cách thức thực hiện việc giáo dục lịch sử cho học sinh THCS thông qua hệ thống di tích lịch sử, văn hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ thông qua hệ thống di tích lịch sử, văn hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng phương pháp sau

- Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp

logic là hai phương pháp được sử dụng chủ yếu để tái hiện lại lịch sử sự hình thành của các di tích lịch sử của huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ

+ Phương pháp lịch sử: Được sử dụng trong đề tài thông qua việc nghiên cứu thấy được quá trình hình thành và xây dựng của di tích lịch sử

+ Phương pháp logic: Được sử dụng trong đề tài giúp hiểu được giá trị và

ý nghĩa của di tích

- Phương pháp liên ngành: Sử dụng các phương pháp thống kê, phân

tích, so sánh, sưu tầm, điền dã và chọn lọc tài liệu nhằm giải quyết các mục tiêu

Trang 15

mà đề tài đặt ra trên cơ sở đó đưa ra kết luận khoa học chính xác về nội dung

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT Về HUYệN ĐOAN HÙNG

VÀ VấN Đề GIÁO DụC LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG 1.1 Khái quát huyện Đoan Hùng

1.1.1 Lịch sử hình thành huyện Đoan Hùng

Trải qua các thời kì lịch sử, Đoan Hùng có nhiều thay đổi về địa giới hành chính Thời Hùng Vương dựng nước, Đoan Hùng Nằm trong nhà nước Văn Lang Thời kì Bắc Thuộc, Đoan Hùng thuộc các phủ quận do bọn phong kiến thống trị phương Bắc lập ra Đến thời Trần, Đoan Hùng là châu Tuyên Giang (lộ Tam Giang) gồm ba huyện: Đông Lan, Tây Lan, Hồ Nham Thời nhà Lê, Nguyễn, Đoan Hùng gồm 5 huyện: Đông Quan, Tây Quan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương

Đầu thế kỉ XIX, phủ Đoan Hùng đặt ở địa phận làng Tích Sơn, huyện Tam Dương, trấn Sơn Tây Năm 1808, rời về địa phận xã Quả Cảm, huyện Tây Quan Theo Đại Nam nhất thống trí thành phủ Đoan Hùng có chu vi: 195 trượng (780m), cao 7 thước 2 tắc (2,88m), mặt trước và mặt phải mỗi mặt một cửa, hào rộng 2 trượng (8m), sâu 5 thước (2m), mặt trái mặt sau dựa vào chân núi

Đến năm 1903, khi tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành Phú Thọ, Chính quyền Pháp đã tổ chức lại thành các huyện nhỏ nằm trong Đoan Hùng ngày nay Huyện Hùng Quan có 3 tổng gồm 27 làng, tổng Nghĩa Khê gồm 7 làng, tổng Ngọc Trúc gồm 14 làng, tổng Vân Nham gồm 6 làng Huyện Ngọc Quan có 6 tổng, 30 làng, tổng Bằng Doãn gồm 6 làng, tổng Ca Đình gồm 4 làng, tổng Cần Đội gồm 6 làng, tổng Đại Thân gồm 4 làng, tổng Nghĩa Quân gồm 6 làng, tổng Thượng Khê gồm 4 làng

Năm 1919, hai huyện Hùng Quan và Đoan Hùng hợp nhất thành huyện Đoan Hùng, thành châu Đoan Hùng (1940-1941), rồi thành huyện Đoan Hùng

1945 Năm 1927, phủ Đoan Hùng có 9 tổng, 57 làng: tổng Bằng Doãn gồm 6 làng, tổn Ca Đình gồm 4 làng, tổng Cần Độ gồm 7 làng, tổng Đại Nhân gồm 2

Trang 17

làng, tổng Nghĩa Khê gồm 8 làng, tổng Nghĩa Quân gồm 6 làng, tổng Ngọc Chúc gồm 15 làng, tổng Thượng Khê gồm 4 làng, tổng Vân Nham gồm 5 làng

Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập mới chính thức đặt tên huyện Đoan Hùng Năm 1956, cắt cho Tuyên Quang 10 xã (5 xã cho huyện Sơn Dương, 5 xã cho Yên Sơn) Năm 1977 sáp nhập với huyện Thanh Ba, Hạ Hòa có tên mới là huyện Sông Lô

Đến tháng 12 năm 1980, tách huyện sông Lô thành Thanh Hòa và Đoan Hùng, từ đó đến nay Đoan Hùng có 23 xã cũ và 4 xẫ mới cát về: Chân Mộng, Minh Phú, Vụ Quang (Phong Châu), Minh Lương (Hạ Hòa) Như vậy, biên chế hành chính của huyện Đoan Hùng đến nay gồm: 1 thị trấn và 27 xã

1.1.2 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lí

Đoan Hùng là huyện đồi núi trung du nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ và hai tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, là cầu nối giữa vùng núi các tỉnh phía Bắc với trung du và đồng bằng Bắc Bộ Huyện Đoan Hùng có ranh giới phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh, phía Nam giáp Huyện Thanh Ba, Phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là các huyện của Tỉnh Phú Thọ, phía tây Bắc giáp huyện Yên Bình của Tỉnh Yên Bái, Phía Bắc và phía Đông giáp các huyện Yên Sơn và Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang

Đoan Hùng nằm trên các trục đường giao thông thủy bộ quan trọng, nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh biên giới phía Bắc Đó là quốc lộ số 2 - Hà Nội đi Tuyên Quang, Hà Giang qua Đoan Hùng, quốc lộ 70 - Hà Nội đi Yên Bái, Lào Cai Hai đường sông Lô và sông Chảy qua Đoan Hùng tạo thành hai tuyến đường thủy có thể giao lưu với Vĩnh Phúc - Hà Nội - Tuyên Quang - Yên Bái Đoan Hùng có nhiều tuyến đường liên huyện, liên xã Tất cả hệ thống đường sá, sông ngòi của huyện tạo thành điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất giao lưu kinh tế và có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự, thuận lợi trong

Trang 18

việc đi lại, giao thương giữa các vùng giúp phát triển kinh tế, cung cấp lương thực thực phẩm kháng chiến lâu dài

* Điều kiện tự nhiên

Đoan Hùng với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ trung du sang miền đồi núi cao Đồi núi sắp xếp không theo từng dãy, mà phát triển tự nhiên theo hình bát úp, phần lớn cao trên 100m Xen giữa các đồi núi là những thung lũng hẹp, toàn huyện có một số núi cao đến 300m như núi Sất, núi Nghè Diện tích tự nhiên toàn huyện lớn hơn 30000ha, trong đó đất nông nghiệp: 12754ha, đất lâm nghiệp: 932ha, đất chuyên dùng: 1969ha, đất ở: 399ha, đất chưa sử dụng: 5985ha” [3; 9]

Đoan Hùng thuộc vùng trung du Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành 2 mùa rõ dệt: mùa mưa lượng mưa cao, trung bình là 1644mm/năm, cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ, mưa đá Mùa khô ít mưa có gió mùa Đông Bắc thổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp Đặc biệt trong tháng

11, 12 và tăng 1 độ ẩm không khí thấp, nắng hanh kèm theo sương muối làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển một số loại cây trồng

Đoan Hùng có hai dòng sông chảy qua là sông Lô và sông Chảy Sông chảy với chiều dài qua huyện là 22m, bắt đầu từ vùng tiếp giáp Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng tây Bắc qua huyện Đoan Hùng Sông Lô từ tuyên Quang chảy vào Đoan Hùng tại Chí Đám, Hữu Đô theo hướng bắc Nam Dòng sông

Lô, sông Chảy bao quanh như hai dải lụa uốn lượn ôm chọn đoan Hùng vào lòng

Với đặc điểm vị trí, địa lí và điều kiện tự nhiên như vậy, có thể thấy Đoan Hùng là địa phương có vai trò quan trọng của tỉnh Phú Thọ trên nhiều lĩnh vực Với vị trí đặc biệt quan trọng nằm ở ngã ba sông nên từ xa xưa, Đoan Hùng trở thành cửa ngõ lên căn cứ địa Việt Bắc, là tấm lá chắn cho khu căn cứ địa thần thánh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Ý thức được

Trang 19

vai trò “yết hầu” của khu căn cứ, nhân dân các dân tộc Đoan Hùng tích cực tham gia chiến đấu, chặn đánh mọi cuộc tấn công xâm lược và bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc

1.1.3 Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Đoan Hùng

Là chủ nhân vùng đất mà các Vua Hùng đã chọn đặt làm kinh đô Văn Lang, các thế hệ cư dân Phú Thọ đã để lại một hệ thống các di chỉ khảo cổ học phong phú thuộc các nền văn hóa: Sơn Vi, Phùng Nguyên, Gò Mun, Đông Sơn

và cả một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể mang đậm dấu ấn cội nguồn Từ

hệ thống di chỉ thuộc các nền văn hóa ấy, đã kết tinh thành bản sắc và truyền thống dân tộc Việt Nam Từ bao đời nay, nền văn hóa ấy đã được nhân dân Phú Thọ kế thừa tiếp nối và đã trở thành nhân tố cốt lõi, tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần vào những cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược

Trải qua bao biến thiên của lich sử, nhân dân các dân tộc Phú Thọ nói chung nhân dân Đoan Hùng nói riêng, luôn nêu cao truyền thống lao động cần

cù sáng tạo, truyền thống văn hóa rực rỡ và đặc biệt là truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Từ trong cội nguồn của dân tộc với tình yêu quê hương đất nước, làng bản không chịu khuất phục trước những áp bức bất công, ngay từ những năm đầu công nguyên, nhân dân các thôn bản đã hưởng ứng mạnh mẽ các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm Đến thời nhà Trần, nhân dân Đoan Hùng đã tham gia chống quân Mông - Nguyên xâm lược thế kỷ thứ XIII tại ngã ba sông Chảy

và sông Lô, trận chiến đấu quyết liệt đã diễn ra ở thôn Quả Cảm ( xã Thọ Sơn ngày nay)

Đầu thế kỷ XV, nhân dân Đoan Hùng cùng nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống quân Minh xâm lược Cũng như bọn thống trị phong kiến phương Bắc trước đây, giặc Minh thi hành chính sách đô hộ nước ta vô cùng hà khắc, chúng tăng thuế cũ gấp 2 - 3 lần, bắt dân đi lao động xây thành đắp lũy và

Trang 20

gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta Hành động bạo ngược của giặc Minh xâm lược càng làm tăng lòng căm phẫn của nhân dân ta đẩy lên đỉnh cao

Nhân dân Đoan Hùng đã hăng hái tham gia nghĩa quân và góp lương thực cùng với lực lượng nổi dậy chiến đấu dũng cảm chống quân Minh xâm lược Những chiến công đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Phú Thọ, nhân dân các dân tộc Đoan Hùng cùng nhân dân trong tỉnh tham gia cuộc khởi nghĩa do hai sĩ phu yêu nước là Nguyễn Quang Bích (Tuần Phủ Hưng Hóa) và Nguyễn Văn Giáp (Bố chính Sơn Tây) lãnh đạo, sau đó là cuộc khởi nghĩa do thổ hào địa phương chỉ huy liên tiếp

nổ ra Nhân dân Đoan Hùng cùng tham gia chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược suốt từ thời gian 1884 đến 1894 Vào những năm cuối thế kỷ XIX, lần lượt các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại, Phong trào Cần Vương bị dập tắt, nhưng nhân dân Đoan Hùng vẫn nung nấu lòng căm thù chỉ chờ khi nào thời cơ đến là

họ sẵng sàng vùng lên khởi nghĩa

Sang đến thế kỷ XX, ở Phú Thọ nổi lên cuộc bạo động của các tổ chức các mạng, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Đề Thám và Đội Cấn, được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng Tại thị xã Phú Thọ đêm ngày 7-1-1915 trận đánh vào trại lính khố xanh do Khuất Văn Bức và Nguyễn Văn Dậu trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội chỉ huy, đều có sự tham gia đóng góp của nhân dân Đoan Hùng Nhưng trước thế mạnh và âm mưu thâm độc của kẻ thù các cuộc khởi nghĩa đều lần lượt bị thất bại và bị chìm trong bể máu Tuy nhiên pháp càng tăng cường ra sức vơ vét đàn áp thì càng làm cho mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân với thực dân Pháp ngày càng gay gắt, tinh thần đấu tranh ngày càng sôi sục và dâng cao

Mặc dù, các cuộc đấu tranh diễn ra lẻ tẻ và thất bại, song các cuộc đấu tranh trên đã chứng minh tinh thần dũng cảm của quân dân huyện Đoan Hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Các hoạt động đấu tranh đó được thể hiện thông qua truyền thống yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân các

Trang 21

dân tộc Đoan Hùng trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Đồng thời, những hoạt động đấu tranh đó báo hiệu cho một phong trào các mạng to lớn sẽ

nổ ra và giành thắng lợi khi có một chính Đảng vô sản với đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn

Năm 1929, phong trào cách mạng ở nước ta ngày càng phát triển mạnh

mẽ, cùng lúc đó ở nước ta xuất hiện ba tổ chức cộng sản (An Nan cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn) cùng lãnh đạo quần chúng nhân dân kháng chiến chống Pháp Tuy nhiên, ba tổ chức này lạihoạt động riêng rẽ, công kích tranh giành ành hưởng lẫn nhau gây bất lợi cho cách mạng Vì vậy, yêu cầu cấp thiết cần phải đặt ra lúc này là phải hợp nhất ba

tổ chức cộng sản này thành một Đảng duy nhất Trước tình hình đó, để đáp ứng yêu cầu trên, Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một phái viên của quốc tế cộng sản

ở Đông Dương đã triệu tập hội nghị thành lập Đảng diễn ra từ ngày 6/1/1930 8/2/1930, đã hợp nhất ba tổ chức cộng sản đảng thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam Đảng ra đời đánh dấu bước ngoạt vĩ đại của giai cấp công nhân và của cách mạng Việt Nam Phong trào cách mạng Việt nam từ khi có Đảng đã phát triển lên một bước theo con đường cách mạng vô sản, phong trào phát triển mạnh mẽ rộng khắp cả nước Xuất phát từ tinh thần yêu quê hương, đất nước làng bản, nhân dân Đoan Hùng đã quyết tâm đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập cho Tổ Quốc

-Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đã đè nặng lên đầu nhân dân Việt Nam, ảnh hưởng đến mọi tầng lớp tinh thần cách mạng của quần chúng như đống than hồng đang cháy âm ỉ chỉ cần cần có một cơn gió thổi qua là nó sẽ bùng cháy Ngay từ khi Đảng ra đời đã tập hợp đượng lực lượng cách mạng to lớn, phát động được đông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước vùng lên mạnh mẽ trong phong trào 1930 - 1931, mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh Có thể coi đây là phát súng đầu tiên của công nông ở Đông Dương do Đảng lãnh đạo đánh thẳng vào bộ máy chính quyền của thực dân Pháp

Trang 22

Ở Phú thọ, các huyện miền núi trong đó có Đoan Hùng xuất hiện một số

tổ chức quần chúng như: nông hội đỏ, thanh niên cộng sản đoàn, phụ nữ giải phóng… và một số hoạt động như: giải truyền đơn, treo cờ búa liềm, đòi tăng lương với khẩu hiệu “dân tộc độc lập, người cày có ruộng”…

Với vị trí địa lí thuận lợi do tiếp giáp với Yên Bái, trung tâm của tổ chức Quốc dân Đảng, nên một số hoạt động của tổ chức này đã ảnh hưởng trực tiếp đến Đoan Hùng Một số đảng viên của Quốc dân Đảng như: Lý Tân, Đội Quých (Ngọc Quan) đã liên kết với nhau, bí mật xây dựng căn cứ Đồng Rôm (Hùng Quan) tập hợp lực lượng tuyên truyền quần chúng trong khu vực để tập luyện quân sự, phục kích tiêu diệt địch… các hoạt động này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, đến cuối 1935 thì dần lắng xuống Mặc dù diễn ra tronng thời gian ngắn nhưng đã góp phần khích lệ, động viên tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân ta tiêu biểu như ở một số xã như Tây Cốc, Vân Đồn…

Đến đầu năm 1939, nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới đang đến gần Tại việt Nam, thực dân Pháp và tay sai đã ra sức vơ vét bóc lột sức người sức của của nhân dân để dốc vào cuộc chiến tranh ở chính quốc Chúng tuyển lính đánh thuê đi tham chiến, hàng vạn thanh niên Việt Nam bị đưa xuống tàu sang pháp Ở Đoan Hùng hơn 20 thanh niên khỏe mạnh bị bắt đi lính sang Châu Âu, một số người khác bị đầy đi làm phu mỏ than Hòn Gai

Thực hiện nhiệm vụ chung của toàn Đảng, liên kết mọi lực lượng, không phân biệt giai cấp vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống phản động, chống phát xít đòi quyền tự do cơm áo hòa bình Tại Đoan Hùng đã xuất hiện một số phong trào như phong trào “Hội học chữ Quốc ngữ” ở phố Tân Lập do các thầy

tu như Thầy giáo Thụ, thầy Tôn, phong trào đòi giảm thuế thân của một số xã như Ca Đình, Yên Kiện, Sóc Đăng Tuy các hình thức đấu tranh còn sơ khai, đơn giải nhưng đã kích lệ được tinh thần đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân ta

Trang 23

Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng đề ra chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuẩn bị bạo động vũ trang giành chính quyền,từ đó đảng chuyển từ hoạt động công khai về xây dựng cơ sở ở nông thôn Ở đoan Hùng đến năm 1942, đã thành lập được một số tổ chức: Mặt trận phản đế, Thanh niên phản đế, Phụ nữ phản đế ở Sóc Đăng, Hùng Long Ca Đình, Chợ Ngà Tháng 2 năm 1942, nhân dân Sóc Đăng dưới sự lãnh đạo của thanh niên phản đế đã đấu tranh đòi chủ đồn điền Man Đăng trả lại cho nhân dân

20 mẫu ruộng bị hắn cướp Trước sức mạnh của đoàn biểu tình hơn 1000 người, với những lí lẽ sắc bén buộc tên địa chủ Man Đăng phải nhượng bộ Đây là thắng lợi mở đầu cho phong trào cách mạng Đoan Hùng và động viên khích lệ tinh thần đấu tranh của đông đảo quần chúng nhân dân chống lại áp bức bóc lột của bọn đế quốc và lũ tay sai bán nước

Năm 1940, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương Năm 1941 chúng chiếm đóng tỉnh Phú Thọ Ở Đoan Hùng có một trung đội Nhật đến đóng tại Đồn cao gồm 40 tên do một tên quan hai chỉ huy, từ đây nhân dân ta “một cổ - hai chòng” Pháp - Nhật, chúng thi nhau hà hiếp, áp bức bóc lột nhân dân làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ Sau hội nghị trung ương Đảng VIII, phong trào cách mạng ở Đoan Hùng ngày càng phát triển, đã có không ít những cơ sở cách mạng hình thành như ở Yên Kiện, Tăng Mỹ, Ca Đình, Đại Minh… Cán bộ cơ sở đã hướng dẫn nhân dân đấu tranh, tuyên truyền giú nhân dân nhận rõ kẻ thù của dân tộc là đế quốc và chỉ cho họ con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc

Cuối tháng 6 năm 1944, mặt trận Việt Minh Đoan Hùng được thành lập tại làng Sóc Đăng, gồm 15 đồng chí do đồng chí Lê Văn Đóa phụ trách chung

Từ cơ sở việt minh ở xã Sóc Đăng phong trào đã lan rộng ra các xã khác, địa bàn ngày càng mở rộng, đi vào vận động quần chúng, khắp các xã huyện nơi nào cũng có “ Việt Minh” Cùng thời gian này đội tự vệ vũ trang đàu tiên ở Đoan

Trang 24

Hùng được thành lập gồm 34 người do đồng chí Vũ Dương Thanh tổ chức, huấn luyện vũ khí như gươm, giáo, mác tự rèn luyện và súng đạn tự mua

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật thực hiện cuộc đảo chính hất cảng Pháp, độc chiếm Đông Dương làm thuộc địa Chúng vẫn giữ nguyên bộ máy bù nhìn tay sai Ở Đoan Hùng, phát xít Nhật kéo thêm một tiểu đội chủ lực lên đóng tại Đồn Cao - Thọ Sơn, tăng cường lực lượng án ngữ đầu cầu Đoan Hùng Phát xít Nhật thi hành chính sách vơ vét thóc, gạo, ngô, đỗ của nhân dân, chúng gia lệnh nhổ ngô, lúa để tròng đay, phá sơn, chè, cọ để trồng cà phê, xây dựng thêm kho chứa vũ khí và nguyên liệu Nhật cho sửa sang lại kho Gốc Bàng (Đông Khê), kho ở Đĩa, kho ở đồn điền Maldan (Thọ Sơn), mỗi kho chứa hàng trăm tạ gạo, bắt nhân dân say giã bánh đến nộp Dưới ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật, khiến cho mâu thuãn giữa nhân dân Đoan Hùng và phát xít Nhật trở nên sâu sắc nhiều nơi quần chúng nổi dậy đấu tranh, bí mật phục kích quân Nhật và Pháp như An Khê, Hùng Vương, Tây Quan, Hùng Long

Trước tình hình đó, Đảng rút vào hoạt động bí mật để đảm bảo an toàn Ở Đoan Hùng, mặc dù chưa có chi bộ Đảng xong các cán bộ việt Minh thường xuyên liên lạc với nhau để lãnh đạo nhân dân đấu tranh Thực hiện chỉ thị “ Nhật

- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ở Đoan Hùng Ban cán sự Đảng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ du kích Sóc Đăng, sau đưa lên Đồng Rôm Cuối tháng

3 đầu tháng 4-1945, khi Đảng phát động khẩu hiệu “Kháng Nhật cứu nước”,phong trào biểu tình phá kho thóc Nhật diễn ra mạnh mẽ ở khắp các địa phương trong toàn tỉnh, đặc biệt là ở Đoan Hùng đã lôi quấn được hang vạn quần chúng tham gia

Trong thời gian này lực lượng cách mạng được củng cố, xây dựng và phát triển rộng khắp thành lập các đoàn thể cứu quốc, lực lượng chính trị và vũ trang trong huyên lớn mạnh Ở Đoan Hùng vào ngày 7 rạng sáng 8-8-1945 các cở sở Việt Minh ở Đoan Hùng phối hợp cùng với đội quân giải phóng tổ chúc vũ trang đột nhập huyện đường Đoan Hùng, tước 6 súng của 12 tên lính ở huyện, tịch thu

Trang 25

một số sổ sách rồi rút về cơ sở Căn cứ vào tình hình phát triển của cách mạng, ở Đoan Hùng dưới sự lãnh đạo của huyện bộ việt Minh, ủy ban dân tộc giải phóng

đã được thành lập hầu khắp ở các xã

Trong lúc này, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện Nắm bắt thời cơ đó, Trung ương Đảng họp hội nghị toàn quốc ở Tân Trào (14 - 15/8/1945) quyết định phát động khởi nghĩa giành chính quyền Dưới

sự lãnh đạo của trung ương Đảng trong vòng nửa tháng cuộc khởi nghĩa nổi ra

và giành thắng lợi nhanh chóng Tại Đoan Hùng, sau khi nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, tối ngày 15-8 đồng chí Lê Đồng triệu tập cán bộ Việt Minh cốt cán tại căn cứ Sóc Đăng để phổ biến kế hoạch khởi nghĩa toàn huyện Đến ngày 17/8, Đảng phát động quần chúng chuẩn bị vũ khí giành chính quyềtn, không khí sửa soạn rất khẩn chương, cán bộ Việt Minh được điều động về các xã hướng dẫn nhân dân, mọi sự chuẩn bị đã sẵn sàng Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở đoan Hùng đã diễn ra nhanh chóng, không đổ máu và đạt kết quả cao

Cách mạng tháng Tám thành công, đã mở đầu bước ngoặt lớn trong lịch

sử dân tộc, Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á Tuy nhiên, nhà nước non trẻ vừa mới ra đời phải đương đầu với biết bao nhiêu khó khăn, trong tình thế “Ngàn cân treo sọi tóc” đó là những hậu quả nặng nề của chế độ thực dân phong kiến với một nền kinh tế què quạt bị tàn phá, một nền văn hóa ngu dân, với hơn 90% dân số bị mù chữ, nạn đói hoành hành, lũ lụt, hạn hán sảy ra liên miên Đây là lần đầu tiên nước ta trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều

kẻ thù

Để thoát khỏi tình trạng “Ngàn cân treo sợi tóc” trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân thực hiện đường lối kháng chiến kiến quốc Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Đoan Hùng tích cực tham gia phong trào diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm bảo vệ chính

Trang 26

quyền vừa giành được, tiến hành hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, tiến hành bỏ phiếu bầu cử quốc hội, thực hiện nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc.đồng thời tham gia phong trào tuần lễ vàng, quỹ độc lập, tăng gia sản suất Bằng những chính sách vô cùng khôn khéo và mền dẻo như vậy, đời sống của nhân dân dần được ổn định, tránh được cùng một lúc đối mặt với nhiều kẻ thù, khôi phục kinh tế phát triển lâu dài

Năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần hai Không cam chịu làm nô lệ, Đảng ta phát động toàn quốc kháng chiến, thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, giữ vững chính quyền và độc lập tự do.Từ đầu 1947, hưởng ứng lời kêu gọi phá hoại đề kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh,nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Đoan Hùng nói riêng đã thực hiện “Vườn không nhà trống”, cắm trông cạm bẫy, làm kè ngăn sông, cắm cọc nhọn chống quân nhảy dù, đắp ụ để ngăn cản bước quân nhảy thù Chỉ trong thời gian ngắn nhân dân Đoan Hùng đã phá “2032m3 đường, đào được 1.573 hố, phá sập 27 chiếc cầu trên đường bộ từ Việt Trì lên Đoan Hùng”

Giữa năm 1947, tình hình chiến sự lan đến tỉnh Phú Thọ, là địa bàn chiến lược nằm trên quốc lộ 2, có sông Lô và sông Chảy đi qua là cửa ngõ lên căn cứ Việt Bắc nên Đoan Hùng đã trở thành điểm nóng của chiến dịch Để chuẩn bị cho kháng chiến nhân dân Đoan Hùng tích cự xây dựng, củng cố lực lượng chuẩn bị phản công bất kỳ cuộc tiến công nào của giặc Pháp

Ngày 24-10-1947, tại đoạn sông Lô chảy qua xã Chí Đám gẩn ngã ba sông Lô - sông Chảy đã điễn ra trận chiến đấu ác liệt của bộ đội chủ lực phối hợp với dân quân du kích, địa phương đánh đắm 5 tàu chiến của thực dân Pháp, tiêu diệt và bắt sống trên 300 tên định, thu nhiều chiếm lợi phẩm lập nên chiến thắng sông Lô lịch sử Năm 1952, bộ đội chủ lực cùng nhân dân xã Chân Mộng

đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt quân viễn chinh Pháp tai cầu hai, lập nên chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản Huyện Đoan Hùng có 5 xã: Chân Mộng, Chí

Trang 27

Đám, Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang thời kì chống Pháp”

Ngày 26-1-1968, 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ được hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú, huyện Đoan Hùng thuộc tỉnh Vĩnh Phú Sau năm 1975, huyện Đoan Hùng có thị trấn nông trường Vân Hùng và 24 xã: Bằng Doãn, Bằng Luân, Chí Đám, Đại Nghĩa, Đông Khê, Hùng Long, Hùng Quan, Hữu Đô, Minh Lương, Minh Tiến, Nghinh Xuyên, Ngọc Quan, Phong Phú, Phú Thứ, Phúc Lai, Phương Trung, Quế Lâm, Sóc Đăng, Tây Cốc, Thọ Sơn, Tiêu Sơn, Vân Đồn, Vân Du, Yên Kiện

Ngày 5-7-1977, huyện Đoan Hùng được hợp nhất với 2 huyện Thanh

Ba, Hạ Hòa 7 xã: Minh Phú, Tiên Phú, Trạm Thản, Chân Mộng, Vụ Quang, Liên Hoa, Phú Mỹ của huyện Phù Ninh thành huyện Sông Lô Ngày 22-10-

1980, trả 4 xã: Trạm Thản, Tiên Phú, Liên Hoa, Phú Mỹ về huyện Phong Châu, huyện Đoan Hùng được tái lập từ huyện Sông Lô (do chia huyện Sông Lô thành

2 huyện là Đoan Hùng và Thanh Hòa) Năm 1987, giải thể thị trấn nông trường Vân Hùng Ngày 14-10-1994, chuyển xã Thọ Sơn thành thị trấn Đoan Hùng - thị trấn huyện lị huyện Đoan Hùng Ngày 26-11-1996, Kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết (ngày 26-11-1996) về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Theo đó, tỉnh Vĩnh Phú được tách thành 2 tỉnh

cũ là Vĩnh Phúc và Phú Thọ Từ đó đến nay, huyện Đoan Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ Ngày 1-4-2003, thành lập xã Ca Đình trên cơ sở 1.417 ha diện tích tự nhiên

và 2.749 nhân khẩu của xã Tây Cốc

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, huyện Đoan Hùng không những có

vị thế nhất định về kinh tế - văn hóa mà còn là địa bàn quan trọng về chính trị, quân sự, quốc phòng, cửa ngõ của căn cứ địa Việt Bắc Đoan Hùng là huyện có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng từ rất sớm, từ khi dựng nước đến nay, quân dân đoan Hùng luôn sát cánh cùng nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống âm mưu và hành động của mọi kẻ thù xâm lược

Trang 28

1.2 Giáo dục lịch sử địa phương

1.2.1 Khái niệm “Lịch sử địa phương”

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “địa phương” có nghĩa là: “những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước” Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia, có những sắc thái, đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước Hiểu theo nghĩa cụ thể, địa phương là những đơn vị hành chính của một quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn, thôn sóc, buôn làng ) Hiểu theo nghĩa trừu tượng, địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng khác như: miền Bắc, miền Trung, miền Nam, Việt Bắc, Tây Bắc,… đều thuộc phạm vi địa phương

Theo khái niệm địa danh liên quan đến địa phương thì ta có khái niệm địa danh “Địa danh” là cụm từ chỉ để chỉ một vùng đất của địa phương, một không gian địa lí với những đặc trưng, địa hình, địa vật được khu biệt với những không gian địa lí khác

Lịch sử địa phương là lịch sử của những đơn vị hành chính Vậy LSĐP chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng miền Cụ thể hơn, đó chính là lịch sử quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của địa phương trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất, hành chính, các trường học, cơ quan, xí nghiệp…

1.2.2 Mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc

Lịch sử địa phương là một bộ phận hữu cơ của lịch sử dân tộc, bất cứ một

sự kiện nào của lịch sử dân tộc đều diễn ra ở một địa phương cụ thể với thời gian, không gian nhất định Tùy quy mô, tính chất phản ánh mà sự kiện ảnh hưởng đến phạm vi của từng địa phương, cả nước và thậm chí mang tầm thế giới Lịch sử địa phương là đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử, có quan

Trang 29

hệ với lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới như là những mối quan hệ giữa cái riêng

và cái chung, cái đặc thù và cái phổ biến Có nhiều sự kiện lịch sử địa phương đồng thời là sự kiện của lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Nó là sự phản ánh lịch sử dân tộc, cụ thể hóa lịch sử dân tộc, làm cho việc nhận thức lịch sử dân tộc trở nên cụ thể, sinh động, gắn liền với tình cảm cá nhân, làm cho quá trình nhận thức lịch sử trở nên có ý nghĩa, có sức hấp dẫn

Nghiên cứu lịch sử địa phương là một bộ phận của việc nghiên cứu lịch sử dân tộc, nó vừa phải tuân thủ theo phương pháp nghiên cứu chung của 16 khoa học xã hội, vừa có những đặc điểm riêng của phân ngành chuyên sâu Việc thực hiện tốt phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương sẽ giúp cho công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng sâu rộng ở địa phương và đặc biệt đối với việc giảng dạy, giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường phổ thông

Trong dạy học lịch sử, chúng ta có thể sử dụng tài liệu lịch sử địa phương theo hai hình thức Có thể đưa tài liệu - sự kiện lịch sử địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc để minh họa, liên hệ, đối chiếu, so sánh, qua đó giúp học sinh hiểu sâu sắc, cụ thể những sự kiện Hoặc tiến hành dạy học lịch sử địa phương thành một tiết riêng theo qui định của chương trình hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa về lịch sử địa phương.Việc lựa chọn hình thức dạy học lịch sử địa phương phải căn cứ vào nội dung kiến thức bài học, điều kiện phương tiện giảng dạy ở nhà trường, đặc điểm tâm lý của học sinh và gắn mục tiêu giáo dưỡng -giáo dục bài học với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

Việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương đòi hỏi người giáo viên không chỉ có những hiểu biết cơ bản, đúng đắn về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, phương pháp luận sử học và các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể mà còn phải biết tổ chứcnghiên cứu, biết làm công tác quần chúng phục vụ nghiên cứu, biết xử lý, xác minh, giám định các nguồn sử liệu địa phương

1.2.3 Tầm quan trọng của giáo dục lịch sử địa phương ở trường THCS

Trang 30

Có thể nói, lịch sử dân tộc hay lịch sử địa phương đều là dựng lại quá khứ

về lòng yêu nước, về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, ghi lại những nét văn hóa truyền thống, tinh thần nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển Do đó, giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua môn học lịch sử địa sẽ rất đa dạng và phong phú Bởi qua mỗi bài học, mỗi sự kiện lịch sử, học sinh sẽ có thêm niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng, tạo cho các em có cảm giác như mình đang sống trong những năm tháng kháng chiến hào hùng của dân tộc

Như vậy, các em sẽ cảm thấy tự hào, trân trọng sự hy sinh anh dũng của cha anh những người đi trước Từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, các em sẽ tự hào và ý thức hơn về tình yêu quê hương, đất nước, nhằm giúp các em không ngừng ra sức học tập, rèn luyện để trở thành những con người có ích góp phần xây dựng quê hương, đất nước

* Tiểu kết chương 1

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, huyện Đoan Hùng không những có

vị thế nhất định về kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn là địa bàn quan trọng về chính trị, quân sự, quốc phòng, là cửa ngõ của căn cứ địa Việt Bắc Đoan Hùng

là huyện có truyề thống yêu nước đấu tranh cách mạng từ rất sớm, từ khi dựng nước đến nay, quân dân huyện Đoan Hùng luôn sát cánh cùng nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống âm mưu và hành động của mọi kẻ thù xâm lược, bảo

vệ độc lập chủ quyền dân tộc Hoạt động cách mạng của nhân dân huyện Đoan Hùng đã trở thành niềm tự hào, là nền tảng tinh thần vô cùng quý giá để nhân dân Đoan Hùng cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Mĩ xâm lược, bảo vệ những thành quả mà nhân dân ta đã đạt được

Trong dạy học lịch sử Việt Nam và dạy học lịch sử địa phương có mối quan hệ mật thiết hỗ trợ cho nhau Qua đó, góp phần không nhỏ vào việc phát

Trang 31

triển tư duy, giáo dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh, hình thành cho các em lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, giúp các em ghi nhớ sự kiện lịch sử lâu hơn

Trang 32

CHƯƠNG 2: Hệ THốNG DI TÍCH LịCH Sử, VĂN HÓA TRÊN ĐịA BÀN HUYệN ĐOAN HÙNG, TỉNH PHÚ THọ PHụC Vụ GIÁO DụC

LịCH Sử ĐịA PHƯƠNG 2.1 Khái quát hệ thống di tích

2.1.1 Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng

Đoan Hùng là mảnh đất của các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh và nền văn hóa dân gian đặc sắc gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước Hiện nay trên địa bàn huyện còn lưu giữ và bảo tồn hệ thống các di tích lịch sử văn hóa quan trọng, phân bố tại nhiều xã khác nhau thuộc nhiều thời kì

và giá trị xếp hạng các di tích cũng khác nhau Theo cuốn “Bảo tồn các cơ sở

thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” của cô giáo Nguyễn

Thị Huyền và cô Chu Thị Thanh Hiền biên soạn năm 2018, đã thống kê chi tiết

hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng như sau:

Hiện trạng Ghi chú

Còn kiến trúc

Phế tích

Xếp hạng Quố

c gia

Cấp tỉnh

thắng

Sông Lô

Thị trấn Đoan Hùng

Số 2890/QĐ - BVHTT Ngày

Trang 33

Ngày 7/7/1994

+

Khu vực bảo vệ 1650m Hiện nay 12756m2

+

Thọ

Xã Vụ Quang

Ngày 20/10/2005

Thờ Cao Sơn

+

600m2 khu vực bảo vệ

di tích- 1456m2khu vực điều chỉnh xây dựng

Trang 34

Ngọc

Tân

Xã Ngọc Quan

Ngày 7/7/1994

Thờ Cao Đại, Cao Đào, Cao Sơn Đại

Thờ Cao Sơn Đại

Ngày 11/12/2008

+

300m2đất thổ

cư còn lại là đất vườn

Duỗn

Trung

Xã Phương Trung

200m2, khu vực bảo vệ II= 550m2

Trang 35

Thờ Cao Sơn, Án Sát Khu Trụ đại vương

+

Ngã Hai

Thờ Cao Sơn, Án Sát Khu Trụ đại vương

+

Công

Xã Nghinh Xuyên

Thờ Cao Sơn, Án Sát Khu Trụ đại vương

Trang 36

Bảng 2.3: Bảng di tích xếp hạng cấp tỉnh [28; phụ lục]

Stt Tên di tích Địa điểm Số QĐ xếp hạng Ngày tổ

chức, lễ hội

Ghi chú

7/7/1994

Khu vực bảo vệ 1650m Hiện nay 12756m2

Hùng

Số 1309/QĐ-UB Ngày 9/4/1997

Nằm trong khuân viên di tích chiến thắng Sông Lô

Khu vực bảo vệ I= 200m2, khu vực bảo vệ II= 550m2

2.1.3 Phân loại di tích qua các thời kì

* Di tích thời Hùng Vương

Thời kì hùng vương: bao gồm di tích: Di tích Đình Ngọc Tân, Di tích Đình Chí Đám, Di tích Đình An Thọ, Đình Thượng, Đình Thái Xương, Miếu Ngã Hai, Đình thôn Đông Khê, Đình Đại hội… thông qua, hệ thống các di tích tiêu biểu nhất chúng ta phải kể đến các di tích Đình Chí Đám, Đình An Thọ, Đình Ngọc Tân, theo truyền thuyết địa phương Đình Cả - Chí Đám, Đình An

Trang 37

Thọ là nơi thờ Cao Sơn, người có công lớn giúp vua Hùng thứ 18 trong cuộc chiến với Thục Phán để gìn giữ đất nước từ thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc và Đình Ngọc Tân - thờ Tam vị Đại Vương thời Hùng Vương thứ 18 là Cao Sơn, Cao Đại, Cao Đài - những danh tướng đã có công giúp Vua Hùng dẹp giặc giữ nước

và được người dân Ngọc Tân tôn làm Thành Hoàng làng

* Di tích thời hiện đại

Thời kì hiện đại bao gồm hệ thống di tích tượng đài chiến thắng Sông Lô,

Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh xã Yên Kiện, Di tích chiến thắng Chân Mộng – Trạm Thản Tượng đài là một công trình nghệ thuật hoành tráng đầy ấn tượng Nó mang trong mình sứ mệnh lịch sử của dân tộc của một cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh chống giặc ngoại xâm với đầy sức biểu cảm về ý nghĩa và giá trị của chiến thắng sông Lô hay chiến thắng Chân Mộng -Trạm Thản oanh liệt lẫy lừng Những giá trị ý nghĩa lịch sử - văn hóa và công trình

nghệ thuật của các di tích

2.2 Giá trị lịch sử và văn hóa của hệ thống di tích lịch sử trên địa bàn huyện Đoan Hùng

2.2.1 Giá trị lịch sử của một số các di tích tiêu biểu của huyện Đoan Hùng

2.2.1.1 Di tích tượng Đài Chiến thắng Sông Lô

Tượng đài là một công trình nghệ thuật hoành tráng đầy ấn tượng Nó mang trong mình sứ mệnh lịch sử của dân tộc của một cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh chống giặc ngoại xâm với đầy sức biểu cảm về ý nghĩa và giá trị

của chiến thắng sông Lô oanh liệt lẫy lừng

Đài chiến thắng mang hình tượng một ngọn lửa cháy bất diệt đang tỏa lên bầu trời nguồn năng lượng vô tận của chiến thắng sông Lô với chất liệu gò đồng Thân đài được thiết kế rất nhiều góc cạnh đồ sộ và được ốp bằng viên đá Giếng Đáy lấy từ Quảng Ninh được ghép khít với nhau Trên 4 mặt xung quanh của đài tưởng niệm có trang trí 8 bức phù điêu bằng gốm sa mốt miêu tả chiến thắng sông Lô và khái quát một số nét tiêu biểu của truyền thống quê hương và con

Trang 38

người Đoan Hùng Mỗi bức phù điêu là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc với những đường nét nghệ thuật điêu khắc công phu được gắn với nhau vô cùng tinh

tế miêu tả khái quát về tinh thần chiến thắng sông Lô và bản sắc văn hóa đồng bào Tây Bắc Khu vực dựng tượng đài Chiến thắng Sông Lô nằm trên núi Đồn ngay ngã ba sông Lô - sông Chảy có độ cao hơn hẳn so với một số quả đồi xung quanh Phía Bắc là dòng sông Chảy có cây cầu Đoan Hùng bắc ngang dòng nước lững lờ trôi Phía đông là vùng ngã ba sông hiền hòa thơ mộng Phía Nam

là hướng dòng sông Lô chảy xuôi về hạ lưu Phía Tây là khu dân cư đông đúc của thị trấn Đoan Hùng Trước Cách mạng tháng 8-1945 núi Đồn là đồn điền của thực dân Pháp Khi phát xít Nhật đảo chính Pháp tháng 3-1945, địa điểm này trở thành nơi đồn trú của Nhật Chính vì vậy mà nhân dân địa phương gọi là núi Đồn Trong trận đánh lịch sử ngày 24-10-1947, các chiến sỹ trung đội pháo

225 đã kéo ngược khẩu sơn pháo “lục tỉnh” lên tận đỉnh núi Đồn để bắn đuổi theo tàu giặc

Năm 1987, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Chiến thắng Sông Lô và tượng đài Chiến thắng Sông Lô đã được xây dựng, ghi nhớ chiến công hiển hách của quân và dân Phú Thọ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung để làm nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ con cháu mai sau

Toàn bộ khu vực di tích tượng đài có diện tích 19.300m2 Diện tích mặt bằng quy hoạch xây dựng trên đỉnh núi Đồn là 2.537, 5m2 Quy hoạch di tích được tạo mặt bằng và kè đá mang hình cánh cung cao vút về phía trước trông giống như một con tàu đang lao tới phía dòng sông Giữa trung tâm là tượng đài Chiến thắng Sông Lô đồ sộ vươn cao giữa trời mây, non nước Đứng ở đây, có thể nhìn bao quát xung quanh cả một vùng rộng lớn của hợp lưu hai con sông Chảy- sông Lô Tượng đài được xây dựng theo mẫu thiết kế của nhà điêu khắc quân đội Tạ Quang Bạo

Chiến thắng Sông Lô vang dội chính là kết quả, là biểu tượng cụ thể sinh động của những truyền thống quý báu đó Đây là tác phẩm nghệ thuật tâm đắc

Trang 39

nhất, công phu nhất và mang tính biểu đạt rất cao của nhà điêu khắc quân đội đã

để lại một công trình nghệ thuật cho hậu thế

Nhóm tượng chiến thắng sát với chân đài hướng về dòng sông Lô trong xanh đang hiền hòa trôi xuôi gồm 5 nhân vật tiêu biểu cho các thành phần, các lực lượng đã anh dũng tham gia chiến đấu làm nên Chiến thắng Sông Lô đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc

Tượng số 1: (Phía trước bên phải) là một anh bộ đội đang trong tư thế đứng hiên ngang, tay phải giơ cao khẩu súng, tay trái giơ cao về phái trước Mình mặc áo trấn thủ, bên hông có đeo lựu đạn và bao gạo sau lưng, đầu đội mũ cứng, chân đi dép cao su Đây là pho tượng chủ đạo diễn tả tư thế chiến thắng của người chiến sỹ sông Lô

Tượng số 2: (Phía sau bên trái) là hình tượng anh bộ đội đứng thẳng mặc

áo trấn thủ có khoác bao tượng qua người, hai tay nắm chắc khẩu súng trường, tầm mắt nhìn ra xa dòng sông Lô với tư thế sẵn sàng chiến đấu

Tượng số 3: (Ở giữa nhóm tượng) miêu tả hình ảnh một nữ du kích người dân tộc có vóc dáng khỏe mạnh, đầu chít khăn, áo ngắn, váy buông nếp gấp mềm mại như đang bay trong gió Một tay cầm chắc gậy dài, mặt hướng thẳng

về phía trước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu

Tượng số 4: Thể hiện một chiến sỹ trẻ đầu đội mũ ca - nô, mặc áo trấn thủ

có đeo lựu đạn sau lưng Hai tay ôm quả lựu pháo lớn, chân trái đặt trên bệ pháo

Tượng số 5: (Sau cùng) là hình ảnh người chiến sỹ đứng trên khẩu pháo đang vươn nòng xuống dòng sông Lô Tay trái nắm chặt để trên bệ pháo, tay phải cầm mũ vẫy cao đầy vẻ hân hoan mừng vui, áo phanh trần bay trong gió để

lộ lồng ngực trần khỏe mạnh tràn đầy sức sống

Hai bên tượng đài là hai biểu tượng thân tàu và những đợt sóng vút cao nhằm thể hiện hình tượng lịch sử: Con tàu chiến thắng chở sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam đang rẽ sóng ra khơi theo dòng chảy của lịch sử

Trang 40

Toàn bộ nhóm tượng đài được dựng trên diện tích đất mang hình mũi của một con tàu đang chuẩn bị hướng xuống dòng sông lao tới Nền của các pho tượng được lát đá cẩm thạch sạch, đẹp và bền vững

Phía dưới ngang chừng núi Đồn là nhà trưng bày sưu tập các hiện vật của Chiến thắng Sông Lô nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu và giáo dục truyền thống yêu nước phục vụ khách tham quan trong nước và quốc tế

Bao nhiêu năm đã trôi qua, những thế hệ người dân sinh ra và lớn lên, gắn

bó với mảnh đất oai hùng này đều mang trong mình một niềm tự hào to lớn mỗi khi nhắc tới chiến thắng vang dội của cha ông xưa kia Trong ánh mắt của họ, tượng đài chiến thắng Sông Lô không chỉ là công trình vinh danh và ca ngợi chiến thắng Sông Lô mà còn là minh chứng cho sự kiên cường của cha ông đã

hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, mỗi thế hệ sinh ra nối tiếp trên mảnh đất này đều được giáo dục sâu sắc về truyền thống hào hùng, lòng yêu nước và sự hy sinh của các thế hệ đi trước, qua đó, vun đắp từng ngày trong lòng của mỗi người dân nơi đây về ý thức trách nhiệm và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước

Trải theo thời gian, chính quyền và nhân dân xã Chí Đám nói riêng, huyện Đoan Hùng nói chung luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ, tu sửa, cải tạo công trình tượng đài chiến thắng Sông Lô cho xứng tầm với di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (được công nhận theo quyết định 2890/VH-QĐ Ngày 29-9-1997 của Bộ VH-TT& DL), là nơi nhân dân khắp mọi miền đất nước tới chiêm ngưỡng và thành kính hướng về cội nguồn dân tộc

Khu di tích tượng đài Chiến thắng Sông Lô là công trình lịch sử văn hóa

ấn tượng và hoành tráng mang đậm sức biểu cảm nói lên ý nghĩa to lớn về một chiến thắng lẫy lừng và là niềm tự hào của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược Đây là di tích vô cùng quý giá trong việc giáo dục các thế hệ trẻ về truyền thống dựng nước và giữ nước của quân và dân Phú Thọ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung để dân tộc ta

Ngày đăng: 07/07/2022, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Văn Phong (1997) “Khai thác và sử dụng tài liệu bảo tang nhà truyền thống vào dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông”, Tạp chí nghiên cứu Giáo dục (10), Tr.6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng tài liệu bảo tang nhà truyền thống vào dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông
25. Lê Thị Nga (2015), “tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông huyện Ba Vì – Hà Nội”, luận văn thạc sĩ ngành sư phạm lịch sử, NXB Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông huyện Ba Vì – Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Nga
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2015
1. Phạm Thị Kim Anh (2012) “Thiết kế các bài học lịch sử địa phương ở trường THPT bằng phương pháp DHDA, báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường, NXB Đại học Sư phạm Khác
2. Ban chấp hành Đảng bộ xã Chí Đám - huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ (2002), Lịch sử Đảng bộ xã Chí Đám (1947-2000), NXB Ban tuyên giáo huyện ủy Đoan Hùng Khác
3. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đoan Hùng - Tỉnh Phú Thọ (1997), Lịch sử Đảng bộ huyện Đoan Hùng (1930-1954), tập 1, NXB ban tuyên giáo huyện ủy Đoan Hùng Khác
4. Ban chấp hành Đảng bộ thị trấn Đoan Hùng – huyện Đoan Hùng – tỉnh Phú Thọ (2002), Lịch sử Đảng bộ thị trấn Đoan Hùng (1930 – 2000), NXB Ban tuyên giáo huyện ủy Đoan Hùng Khác
5. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ 1939-1968, NXB Chính tri quốc gia Khác
6. Ban chấp hành Đảng bộ xã Chân Mộng - huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ (2002), Lịch sử Đảng bộ xã Chân Mộng (1948-2000), NXB Ban tuyên giáo huyện ủy Đoan Hùng Khác
8. Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (2007), Giáo trình Các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, NXB Đại học Sư phạm Khác
9. Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (2008), Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Khác
10. Trần Ngọc Duệ (2002), Bộ tư liệu tranh ảnh minh họa phục vụ dạy- học Lịch sử địa phương Phú Thọ, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
11. Dương Thị Thùy Dung (2015), Học tập trải nghiệm sáng tạo trong chương trình địa lí 10 – Trung học phổ thông. Khóa luận tốt nghiệp, NXB Trường ĐHSP Hà Nội Khác
12. Trần Bá Đệ (2012), Giáo trình Lịch sử Việt Nam (1945-1975), NXB Đại học sư phạm Khác
13. Hoàng Thanh Hải (1999), Luận án Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường Trung học cơ sở, NXB Đại học sư phạm Khác
14. Đặng Vũ Hoạt (1996), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS, NXB Giáo dục Khác
15. Hà Thị Hiên (2010), Tìm hiểu về lễ hội làng Ngọc Tân ở huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ. Đề tài nghiên cứu khoa học, NXB Đại học Hùng Vương Khác
16. Nguyễn Thị Huyền - Chu Thị Thanh Hiền (2018), Bảo tồn các cơ sở thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ Khác
17. Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên) (2005), Giáo trình Lịch sử địa phương, NXB Đại học sư phạm Khác
18. Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng (chủ biên) (1998), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục Khác
19. Phan Ngọc Liên (chủ biên) - Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Thị Côi (2002), Phương pháp dạy học Lịch sử tập I, NXB Đại học Sư phạm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 Bảng 2.1: Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
1 Bảng 2.1: Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng (Trang 6)
2.1.1. Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
2.1.1. Bảng thống kê hệ thống các di tích huyện Đoan Hùng (Trang 32)
Bảng 2.3: Bảng di tích xếp hạng cấp tỉnh [28; phụ lục] - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
Bảng 2.3 Bảng di tích xếp hạng cấp tỉnh [28; phụ lục] (Trang 36)
- Sưu tập một số hình ảnh, tư liệu về chiến thắng Chân Mộng-Trạm Thản - SGK lịch sử địa phương lớp 9 - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
u tập một số hình ảnh, tư liệu về chiến thắng Chân Mộng-Trạm Thản - SGK lịch sử địa phương lớp 9 (Trang 63)
HS: lên bảng trình bày, cả lớp quan sát - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
l ên bảng trình bày, cả lớp quan sát (Trang 67)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG CHO ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG CHO ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI (Trang 94)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG CHO ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG CHO ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI (Trang 94)
6. Bảng xếp hạng di tích cấp tỉnh chùa Duỗn Trung (Phương Trung) - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
6. Bảng xếp hạng di tích cấp tỉnh chùa Duỗn Trung (Phương Trung) (Trang 96)
5. Di tích Đền Đại Hội (xã Đại Nghĩa – huyện Đoan Hùng) - Giáo dục lịch sử địa phương ở huyện đoan hùng – tỉnh phú thọ qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
5. Di tích Đền Đại Hội (xã Đại Nghĩa – huyện Đoan Hùng) (Trang 96)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w