1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giao trinh lịch sử triết học căn bản

138 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 634 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lạp-Với t cách là một khoa học, triết học là hệ thống quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con ngời trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển ch

Trang 1

Chơng 1

I Những vấn đề chung về triết học

1 Khái niệm triết học

Triết học là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ khi xã hội phânchia giai cấp, có sự tách biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc Triếthọc ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI tr.CN với nhữnghọc thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử ở ấn Độ cổ đại, Trung Quốc cổ

đại, Hylạp và LaMã cổ đại

Nghĩa xuất phát của thuật ngữ "triết học" theo tiếng Hán là "triết"- cónghĩa là trí, bao hàm sự hiểu biết, sự nhận thức sâu rộng và đạo lý

Thuật ngữ "triết học" nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp là nghĩa là "yêu thích sự thông thái" Theo nghĩa đó, triết học là hình thái caonhất của tri thức Nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân

philossophia-lý, làm sáng tỏ bản chất của mọi sự vật

Nh vậy, tất cả các khái niệm gốc cổ xa về triết học, nói lên triết họcbao gồm toàn bộ tri thức lí luận của nhân loại Thực chất là cha xác định rõ

và đầy đủ về đối tợng, nhiệm vụ và nội dung của triết học

Hiện nay, theo quan điểm mácxít, với tính cách là một hình thái ý thức

xã hội, triết học là hình thức đặc thù của t duy bao gồm các học thuyết, học phái phản ánh thế giới bằng một hệ thống lí luận thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật Trong lịch sử t tởng triết học đã xuất hiện các học

thuyết triết học nh: triết học ấn Độ, triết học Trung Quốc, triết học Hy LaMã hay học thuyết bản thể (bản thể luận), học thuyết nhận thức (nhậnthức luận), học thuyết đạo đức (đạo đức học), mỹ học, lôgíc học Lịch sửtriết học cũng đã xuất hiện các học phái triết học nh: triết học duy vật, triếthọc duy tâm, triết học siêu hình, triết học duy vật biện chứng Trong cáchọc phái đó có thể có nhiều môn phái khác nhau

Lạp-Với t cách là một khoa học, triết học là hệ thống quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con ngời trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và t duy.

Triết học khác với các khoa học khác ở tính đặc thù của hệ thống tri

thức khoa học và phơng pháp nghiên cứu Tri thức triết học mang tính khái

quát cao dựa trên sự trừu tợng hoá và sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộcsống con ngời Phơng pháp nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới nhmột chỉnh thể và tìm cách đa lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể

đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lí luận Điều đó chỉ có thểthực hiện bằng cách triết học phải dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sửcủa khoa học và lịch sử của bản thân t tởng triết học

Không phải mọi triết học đều là khoa học Song các học thuyết triếthọc đều có đóng góp ít nhiều, nhất định cho sự hình thành tri thức khoa họctriết học trong lịch sử; là những vòng khâu, những mắt khâu trên "đờngxoáy ốc" vô tận của lịch sử t tởng triết học nhân loại Trình độ khoa học củamột học thuyết triết học phụ thuộc vào sự phát triển của đối tợng nghiêncứu, hệ thống tri thức và hệ thống phơng pháp nghiên cứu

2 Vấn đề đối tợng của triết học trong lịch sử triết học

Với t cách là một khoa học, triết học có đối tợng nghiên cứu của mình

Đối tợng của triết học là một vấn đề trong lịch sử triết học từ trớc đến nayvẫn đang tranh luận Có cả những câu trả lời khẳng định và phủ định xungquanh các câu hỏi: triết học có đối tợng hay không? có đối tợng chung củatriết học qua mọi thời đại hay không? có đối tợng chung của triết học duyvật và triết học duy tâm không? có đối tợng chung của các học thuyết triếthọc trong lịch sử không? đối tợng của triết học có khác đối tợng của khoahọc cụ thể hay không và nếu có thì khác nhau nh thế nào?

Trang 2

Thời cổ đại, do khoa học cha phát triển, nhà triết học chính là nhàkhoa học, nhà bách khoa, thông thái trên các lĩnh vực, triết học bao hàm

toàn bộ tri thức khoa học của nhân loại Do vậy, triết học là khoa học của

mọi khoa học Mặc dù các học thuyết triết học đều có các khách thể nghiên

cứu riêng nh: các yếu tố thế giới, nguyên tử, khối lợng, tồn tại, ý niệm v.v.song thực chất đối tợng của triết học cha phân biệt đợc với đối tợng của khoahọc cụ thể

Thời trung cổ, ở Châu Âu tôn giáo ngự trị, thế giới quan duy tâmtôn giáo thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội, kìm hãm sự pháttriển của các khoa học Triết học phát triển một cách khó khăn trongmôi trờng hết sức chật hẹp, trở thành "nô bộc" của thần học có nhiệm

vụ giải thích kinh thánh Các nhà thần học cho rằng tôn giáo và triếthọc có điểm chung là đều đi tìm chân lý Song trí tuệ của Chúa là cao

nhất, chân lý của lòng tin là không cần chứng minh Triết học là một bộ

phận của thần học

Thế kỷ XV-XVI, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đã tạo rathời kỳ Phục Hng văn hoá, trong đó có triết học Đáp ứng yêu cầu của thựctiễn, đặc biệt là yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa họcchuyên ngành, nhất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách lànhững khoa học độc lập Sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất t bảnchủ nghĩa; những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn; những thành tựu củakhoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn đã mở ra một thời kỳ mớicho sự phát triển triết học Do các khoa học cụ thể phát triển, dần dần tách

khỏi triết học nên ngợc lại triết học dần dần tách khỏi các khoa học cụ thể

và phát triển thành các bộ môn riêng biệt, đó là bản thể luận, nhận thức

luận, lôgíc học, triết học lịch sử, mỹ học, đạo đức học, tâm lý học Lúcnày xuất hiện t tởng cho rằng các khoa học cụ thể đã là triết học, còn triếthọc không có vai trò gì, không cần thiết, không có đối tợng riêng

Thế kỷ XVII-XVIII và đầu thế kỷ XIX, là thời kỳ cả triết học duyvật và triết học duy tâm đều phát triển mạnh Triết học duy vật chủnghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triểnnhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và

đạt tới những đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII

ở Anh, Pháp, HàLan, với những đại biểu tiêu biểu nh Ph.Bêcơn,T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiúyt (Pháp), Xpinôda (HàLan) Các họcthuyết triết học tiêu biểu: triết học tự nhiên, triết học xã hội và đỉnh cao

là triết học nhân bản của Phoiơbắc nửa đầu thế kỷ XIX Mặt khác, t duytriết học cũng đợc phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà

đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển

Đức

Sự phát triển của các khoa học cụ thể đã từng bớc làm mất đi vai tròcủa triết học là "khoa học của các khoa học" mà triết học Hêghen là hệthống triết học cuối cùng mang tham vọng đó Hêghen xem triết học của

ông là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó các ngành khoahọc riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học

Sự phát triển kinh tế-xã hội và của khoa học đầu thế kỷ XIX đã dẫn

đến sự ra đời của triết học Mác Triết học Mác đã đoạn tuyệt triệt để vớiquan niệm "khoa học của khoa học", xác định đợc đối tợng nghiên cứu củamình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập tr-

ờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,

xã hội và t duy Tuy vậy, nhiều học thuyết triết học hiện đại phơng Tây xác

định đối tợng nghiên cứu riêng của mình nh mô tả những hiện tợng tinhthần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản Chính vì vậy mà vấn đề triếthọc với tính cách là một khoa học và đối tợng của nó đã và đang gây racuộc tranh luận kéo dài trong lịch sử triết học đến nay

3 Triết học - hạt nhân lí luận của thế giới quan

2

Trang 3

Để tồn tại và phát triển, con ngời phải tìm cách thích nghi và cải tạothế giới Muốn vậy, con ngời cần phải hiểu về thế giới xung quanh và hiểubản thân mình Đặc tính của t duy con ngời là muốn hiểu biết và có khảnăng hiểu biết đến tận cùng, hoàn toàn đầy đủ các vấn đề đó Song tri thức

mà con ngời và cả loài ngời đạt đợc ở từng giai đoạn lịch sử là có hạn Dovậy, quá trình tìm tòi, giải đáp các vấn đề nói trên luôn luôn diễn ra tronglịch sử, đã hình thành nên những quan niệm nhất định về thế giới và con ng-ời

Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm về thế giới và về vị trí của con ngời trong thế giới đó Thế giới quan bao hàm nhân sinh quan, tức là

toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con ngời và loài ngời Thế giớiquan là một khối thống nhất hoà quyện những yếu tố cảm xúc và trí tuệ, trithức và niềm tin Tri thức đợc thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống trở thànhniềm tin, lý tởng là trình độ phát triển cao của thế giới quan

Có các loại hình và hình thức lịch sử của thế giới quan đợc hình thành

từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con ngời và xã hội loài ngời.Tri thức do các khoa học cụ thể đa lại là cơ sở trực tiếp cho sự hình thànhnhững quan niệm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới Triếthọc tạo nên hệ thống lí luận bao gồm những quan điểm chung nhất về thế

giới nh một chỉnh thể Do vậy, có thế giới quan khoa học cụ thể và thế giới

quan triết học.

T duy của con ngời vận động và phát triển cùng với quá trình hoạt

động thực tiễn ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp, thông qua cuộc

đấu tranh giữa chân lý và sai lầm Do vậy, đã hình thành trong lịch sử

thế giới khoa học và thế giới quan phản khoa học Bên cạnh những quan

niệm đúng đắn về thế giới và vị trí của con ng ời trong thế giới, còn cónhững quan niệm sai lầm về các vấn đề đó

Hình thái biểu hiện tập trung và khái quát thế giới quan của ngời

nguyên thuỷ là huyền thoại Huyền thoại (bao gồm cả thần thoại) là phơng

thức cảm nhận thế giới rất đặc trng của "t duy nguyên thuỷ", trong đócác yếu tố tri thức và xúc cảm, lý trí và tín ng ỡng, hiện thực và tởng t-ợng, cái có thật và hoang đờng hoà quyện vào nhau, diễn tả thế giớiquan của cộng đồng ngời nguyên thuỷ

Với sự ra đời của tôn giáo, một hình thái lịch sử mới thể hiện tính đa

dạng trong quan niệm về thế giới ra đời, đó là thế giới quan tôn giáo Thế

giới quan tôn giáo phản ánh hoang đờng về thế giới là một hình thức lịch sửcủa thế giới quan đã thâm nhập sâu vào cuộc sống thờng ngày của con ngời.Với t duy triết học - một phơng thức mới của t duy trong nhận thức thếgiới đợc hình thành, t duy con ngời đạt tới bớc chuyển biến về chất nhờ sựxuất hiện tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại Khác với huyền thoại,triết học diễn tả thế giới quan của con ngời dới dạng một hệ thống các

phạm trù, là các bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới Trong thế giới

quan triết học, t duy lí luận là yếu tố chủ đạo, khác với trong huyền thoại,

biểu tợng cảm tính là chủ đạo Với ý nghĩa đó, triết học đợc xem là trình độ

tự giác trong quá trình phát triển của thế giới quan, là khoa học về thế giớiquan Khác với các khoa học cụ thể, đem lại quan niệm đúng đắn về từngmặt, từng bộ phận của thế giới, là cơ sở trực tiếp cho thế giới quan triết học,triết học tạo nên một hệ thống lí luận bao gồm những quan điểm chung nhất

về thế giới nh một chỉnh thể Nh vậy không phải chỉ có triết học mới là

khoa học về thế giới quan, mà triết học là hạt nhân lí luận của thế giới

quan, là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con ngời trong thế giới đó.

4 Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Tất cả các hiện tợng trong thế giới chỉ có thể hoặc là hiện tợng vậtchất, tồn tại bên ngoài ý thức chúng ta, hoặc là hiện tợng tinh thần tồn tại

3

Trang 4

trong ý thức chúng ta Mặc dù các học thuyết triết học đa ra các quan niệmkhác nhau về thế giới thì câu hỏi đặt ra cần trả lời là: Thế giới tồn tại bênngoài đầu óc con ngời có quan hệ nh thế nào với thế giới tinh thần tồn tạitrong đầu óc con ngời? t duy của con ngời có khả năng hiểu biết tồn tại thựccủa thế giới hay không? Có thể nói, bất kỳ trờng phái triết học nào cũng có

cái chung là phải đề cập đến và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý

thức ở đâu, lúc nào việc nghiên cứu đợc tiến hành không phải bằng những

nét chi tiết, những biểu hiện cụ thể nh các khoa học cụ thể mà đợc thực hiệnmột cách khái quát trên bình diện vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức thìlúc đó t duy triết học đợc bắt đầu

Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và t duy hay giữa

tự nhiên và tinh thần là vấn đề cơ bản của triết học Đây là vấn đề cơ sở, nềntảng, xuyên suốt mọi học thuyết triết học trong lịch sử, quyết định sự tồn tạicủa triết học Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề cơ bản triết họcquyết định sự hình thành thế giới quan và phơng pháp luận của các triết gia,xác định bản chất của các trờng phái triết học Giải quyết vấn đề này là cơ

sở, điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học, đồng thờiquyết định cách xem xét các vấn đề khác trong đời sống xã hội

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi:giữa vật chất và ý thức, giới tự nhiên và tinh thần cái nào có trớc, cái nào cósau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con ngời có khảnăng nhận thức đợc thế giới hay không?

Tuỳ thuộc vào lời giải đáp cho câu hỏi thứ nhất, các học thuyết

triết học khác nhau chia thành hai trào lu cơ bản là chủ nghĩa duy vật và

Hình thái lịch sử đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật

chất phác, ngây thơ thời cổ đại Hình thái này đã xuất hiện ở nhiều dân tộc

trên thế giới mà tiêu biểu là ở các nớc ấn Độ, Trung quốc và HyLạp, LaMã Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chất phác, ngây thơ, xuấtphát từ giới tự nhiên để cố giải thích thế giới Quan điểm đó nói chung là

đúng đắn nhng do khoa học cha phát triển nên triết học cha thể dựa vàothành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành Do vậy, chủ nghĩa duyvật cha đứng vững đợc trớc sự tấn công của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo,

đặc biệt trong thời kỳ trung cổ

Hình thái thứ hai là chủ nghĩa duy vật, máy móc, siêu hình thế kỷ

XVII-XVIII Hình thái này ra đời khi giai cấp t sản đang lên, nhằm chốnglại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến Nhng do ảnh h-ởng của quan điểm máy móc, cơ học và phơng pháp mô tả, thực nghiệm,chia cắt nên chủ nghĩa duy vật không thoát khỏi quan điểm máy móc, siêuhình

Quá trình đấu tranh khắc phục các thiếu sót máy móc, siêu hình vàduy tâm khi xem xét các hiện tợng xã hội của chủ nghĩa duy vật thế kỷXVII-XVIII cũng đồng thời là quá trình ra đời của hình thái lịch sử thứ

ba là chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng đ ợcxây dựng và không ngừng phát triển trên cơ sở khoa học hiện đại vàthực tiễn của thời đại mới

Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinhthần có trớc và là cơ sở cho sự tồn tại của giới tự nhiên, vật chất Chủ nghĩaduy tâm cũng xuất hiện ngay từ thời cổ đại và tồn tại dới hai dạng chủ yếu:chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan

Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu nổi tiếng nh Platôn,

Hêghen cho rằng có một thực thể tinh thần ("lý tính thế giới"; "tinh thần

4

Trang 5

tuyệt đối", "ý niệm tuyệt đối") là cái có trớc thế giới vật chất, tồn tại ở bênngoài con ngời và độc lập đối với con ngời, nó sản sinh ra và quyết định tấtcả các quá trình của thế giới vật chất.

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu nổi tiếng nh Béccơli,

Hium, Phíchtơ, v.v cho rằng cảm giác, ý thức của con ngời là cái có trớc

và quyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiện tợng bên ngoài Các sự vật,hiện tợng chỉ là "những tổng hợp của cảm giác", là "phức hợp của các cảmgiác" Do phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, chủ nghĩa duy tâmchủ quan cũng phủ nhận luôn cả tính quy luật khách quan của các sự vật,hiện tợng và tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy ngã

Cả hai dạng của chủ nghĩa duy tâm, tuy có khác nhau trong quan niệm

cụ thể nhng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi ý thức, tinh thần là cái có tr

-ớc, là cái sản sinh ra và quyết định vật chất Vì vậy, tôn giáo thờng sử dụngcác học thuyết duy tâm làm cơ sở lí luận cho các quan điểm của mình Tuynhiên, thế giới quan tôn giáo dựa trên cơ sở lòng tin Còn chủ nghĩa duytâm triết học dựa trên cơ sở tri thức, là sản phẩm của t duy lý tính của conngời Do vậy, các học thuyết triết học duy tâm ít nhiều đều có những đónggóp quan trọng vào sự phát triển t tởng triết học nhân loại

Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc xã hội là mối liên hệ với các lực lợngxã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng và nguồn gốc nhận thức của nó làmối liên hệ với sự phát triển của khoa học Chủ nghĩa duy tâm có nguồngốc xã hội là mối liên hệ với các lực lợng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ,nguồn gốc nhận thức của nó là tuyệt đối hoá một mặt của quá trình nhậnthức, tách ý thức ra khỏi thế giới vật chất

Lịch sử triết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duyvật và chủ nghĩa duy tâm (hai đảng phái chính) tạo nên động lực bên trongcủa sự phát triển t duy triết học, đồng thời biểu hiện cuộc đấu tranh hệ t t-ởng của các giai cấp đối địch trong xã hội

Các học thuyết triết học thuộc nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy

tâm) thì cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất, một trong haithực thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trớc quyết định cái kia Ngoài nhất

nguyên luận còn có các học thuyết triết học nhị nguyên luận, đó là các học

thuyết cho rằng vật chất và ý thức là hai nguyên thể song song tồn tại, là hai

nguồn gốc tạo nên thế giới Lại có cả những học thuyết triết học đa nguyên

luận, những học thuyết đó cho rằng vạn vật là do vô số nguyên thể độc lập

cấu thành Các học thuyết triết học nhị nguyên luận hoặc đa nguyên luận

đều không triệt để khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản triết học do đóthờng sa vào chủ nghĩa duy tâm

Đối với mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, trả lời câu hỏi con

ng-ời có khả năng nhận thức đợc thế giới hay không, đa số các nhà triết học, cảduy vật và duy tâm đều trả lời khẳng định, tức là thuộc trờng phái "khả tri".Triết học gọi đó là tính đồng nhất của t duy và tồn tại Các nhà triết học duyvật tìm cơ sở của sự đồng nhất đó ở vật chất, còn các nhà triết học duy tâmtìm cơ sở đó ở ý thức, tinh thần Các nhà triết học cho rằng con ng ờikhông thể hiểu biết thế giới, họ thuộc vào các học thuyết đ ợc gọi là

"thuyết không thể biết" (bất khả tri) Thuyết không thể biết đã bị phêphán gay gắt Đồng thời, chính thực tiễn của con ngời đã bác bỏ thuyếtkhông thể biết một cách triệt để nhất

5 Biện chứng và siêu hình

Trong lịch sử triết học, nghĩa xuất phát của từ "biện chứng" là nghệthuật tranh luận để tìm chân lý bằng cách phát hiện mâu thuẫn trong cáchlập luận, còn nghĩa xuất phát của từ "siêu hình" là dùng để chỉ triết học, vớitính cách là khoa học siêu cảm tính, phi thực nghiệm

Hiện nay, biện chứng và siêu hình dùng để chỉ hai phơng pháp tduy đối lập nhau, đó là phơng pháp t duy biện chứng và phơng pháp tduy siêu hình

5

Trang 6

Một vấn đề quan trọng mà triết học quan tâm là làm sáng tỏ các sự vật,hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh thế nào Mặc dù có nhiềucách trả lời khác nhau nhng suy cho cùng đều quy về hai quan điểm chính

đối lập nhau là biện chứng và siêu hình

Sự đối lập hai phơng pháp xem xét thế giới thể hiện ở chỗ, quan điểmsiêu hình chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt, không liên hệ, không vận

động, phát triển Ngợc lại quan điểm biện chứng không chỉ thấy sự vật cábiệt mà còn thấy mối liên hệ phổ biến; không chỉ thấy sự tồn tại mà cả sựsinh thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà cònthấy cả trạng thái động của sự vật Về tính chất của t duy, đối với nhà siêuhình, t duy của họ là cứng nhắc Ngợc lại, t duy biện chứng là một t duymềm dẻo, linh hoạt, không có những ranh giới tuyệt đối, nghiêm ngặt

Phơng pháp biện chứng và phơng pháp siêu hình đã xuất hiện ngay từthời cổ đại, luôn luôn gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học, của thựctiễn và đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau

Giai đoạn đầu tiên là phép biện chứng tự phát thời cổ đại, thể hiện rõ

nét trong triết học Trung Hoa, triết học Hylạp cổ đại Các nhà biện chứng

cổ đại đã thấy rằng các sự vật, hiện tợng của thế giới tồn tại trong nhữngmối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó tất cả đều vận động, biếnhoá, sinh thành và tiêu vong Song do khoa học và thực tiễn cha đạt trình độphân tích giới tự nhiên nên các nhà biện chứng cổ đại mơí chỉ chú ý đến sựvận động, sự quá độ, những mối liên hệ nhiều hơn là chú ý đến cái đang vận

động, đang quá độ, đang liên hệ với nhau Theo Ăngghen, cách nhận xétthế giới nh vậy còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhng căn bản là đúng và là kếtquả của một trực kiến thiên tài, song cha phải là kết quả của những sựnghiên cứu và thực nghiệm khoa học

Từ nửa cuối thế kỷ XV trở đi, nền khoa học tự nhiên thực sự phát triển

đem đến sự phân ngành mạnh mẽ Khoa học tự nhiên đã đi sâu phân tích,chia nhỏ giới tự nhiên, cố định những mảng riêng biệt để nghiên cứu, đã

đem đến những thành tựu vĩ đại trong nhận thức thế giới, nhng phơng phápnghiên cứu đó đã để lại thói quen xem xét sự vật một cách siêu hình Đếnkhi Lốccơ, Bêcơn đem cách xem xét của khoa học tự nhiên vào triết học thìphơng pháp t duy siêu hình trở thành thống trị trong triết học

Tuy vậy, phơng pháp t duy siêu hình đã đóng một vai trò tích cựctrong quá trình nhận thức thế giới Khi khoa học phát triển, từ việc nghiêncứu có tính chất su tập, mô tả từng sự vật, hiện tợng của thế giới, đòi hỏichuyển sang nghiên cứu các sự vật hiện tợng trong quá trình phát sinh, vận

động, phát triển của nó thì phơng pháp t duy siêu hình không còn đáp ứng

đợc yêu cầu của nhận thức khoa học nữa Khoa học phát triển, cùng vớinhững kết quả nghiên cứu mới đòi hỏi phải có cách nhìn biện chứng về giới

tự nhiên Nền triết học cổ điển Đức đã phát triển theo tinh thần biện chứng

và cho ra đời phép biện chứng duy tâm mà đỉnh cao là phép biện chứng duy

tâm của Hêghen Mâu thuẫn lớn nhất của triết học Hêghen là mâu thuẫngiữa phơng pháp biện chứng với hệ thống duy tâm

Chính sự phát triển của khoa học và thực tiễn, mà trực tiếp là thực tiễnsản xuất vật chất và thực tiễn đấu tranh chính trị - giai cấp, đòi hỏi phải phá

bỏ hệ thống triết học duy tâm của Hêghen Các Mác và Ph.Ăngghen đã cải

tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen và sáng tạo ra phép biện chứng

duy vật -giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng Công lao của

Mác và Ph.Ăngghen còn ở chỗ tạo đợc sự thống nhất giữa chủ nghĩa duyvật với phép biện chứng trong lịch sử phát triển triết học nhân loại, làm cho

chủ nghĩa duy vật trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng.

II- Lịch sử triết học với tính cách

là một khoa học

1 Lịch sử triết học và đặc điểm của nó

6

Trang 7

Với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, lịch sử triết học là

toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của các t tởng triết học, các khuynh hớng, các hệ thống triết học qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội trong sự phụ thuộc xét đến cùng vào tồn tại xã hội Nói cách khác lịch sử

triết học là toàn bộ t tởng triết học trong quá trình lịch sử của nó

Với tính cách là một khoa học, lịch sử triết học là khoa học nghiên

cứu sự vận động, phát triển có quy luật của các t tởng triết học và nghiên cứu lôgíc nội tại của các khuynh hớng, các hệ thống triết học tiêu biểu trong lịch sử Nói cách khác, lịch sử triết học là khoa học nghiên cứu triết

học trong sự vận động, phát triển có quy luật của nó

Đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học là có sự giao thoa, kết hợp giữa

khoa học lịch sử và triết học Đòi hỏi tiếp cận, nghiên cứu lịch sử triết học

phải am hiểu cả lịch sử và triết học Trớc hết, phải bảo đảm đợc yêu cầu vềtính chân thực, khách quan theo thời gian, trong đó phải nổi bật các sự kiệnthuộc về triết học Mặt khác, phải đáp ứng đợc yêu cầu của khoa học triếthọc mà quan trọng nhất là tính lí luận (triết lý) của các vấn đề lịch sử Đòihỏi của lịch sử triết học là phải có sự khái quát cao về lí luận và thực tiễn.Mặc dù vậy, so với khoa học lịch sử thì lịch sử triết học không nghiêncứu tất cả các sự kiện trong chiều dài lịch sử, mà chỉ nghiên cứu các sự kiện

có tính chất điển hình liên quan đến t tởng triết học So với triết học, lịch sửtriết học không đi sâu vào nội dung t tởng triết học của một trờng phái, mộthọc thuyết triết học mà chỉ nghiên cứu những t tởng cơ bản để làm rõ quátrình hình thành phát triển của nó

2 Đối tợng của lịch sử triết học

Các Mác là ngời đầu tiên đặt cơ sở hiện thực cho lí luận về lịch sửtriết học, nhờ đó lịch sử triết học trở thành một khoa học thật sự, khôngphải là những sử liệu t tởng của t tởng hỗn độn mà chỉ ra tính quy luậttrong sự phát triển t tởng triết học

Đối tợng của lịch sử triết học là nghiên cứu những quy luật phát triển của t tởng triết học và lôgíc nội tại quá trình phát sinh, phát triển của các hệ thống triết học trong lịch sử.

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, lịch sử triết học có hainhóm tính quy luật: nhóm tính quy luật phản ánh và nhóm tính quy luậtgiao lu Nhóm tính quy luật phản ánh bao gồm phản ánh điều kiện kinh tế,xã hội (thực tiễn) và phản ánh sự phát triển khoa học (khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội) Nhóm tính quy luật giao lu bao gồm giao lu đồng loại vàgiao lu khác loại Giao lu đồng loại bao gồm giao lu theo lịch đại (kế thừa,phát triển t tởng triết học nhân loại theo chiều dọc thời gian) và giao lu theo

đồng đại (liên hệ, ảnh hởng, kế thừa, kết hợp các học thuyết triết học trongcùng một thời gian) Giao lu khác loại bao gồm giao lu giữa triết học vớicác hình thái ý thức xã hội khác (kế thừa các hình thái ý thức xã hội) vàgiao lu giữa các hệ thống triết học khác nhau (giữa duy vật và duy tâm, giữabiện chứng và siêu hình)

Nh vậy, theo quan điểm mác-xít, lịch sử t tởng triết học đợc phát sinh,phát triển tuân theo những tính quy luật là:

Sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội Sự phát triển

của t tởng triết học - một hình thái ý thức xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xãhội, mà trớc hết là phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất

Đặc biệt, t tởng triết học là sự phản ánh nhu cầu phát triển của thực tiễn xãhội Do vậy, nó trực tiếp phụ thuộc vào thực tiễn đấu tranh giai cấp, đấutranh chính trị, xã hội

Sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Trình độ phát triển

của t duy triết học nhân loại phụ thuộc vào trình độ nhận thức chung củanhân loại, tức là phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa

7

Trang 8

học xã hội Khoa học phát triển, vừa là cơ sở, điều kiện cho triết học pháttriển Ngợc lại triết học phát triển, vừa là kết quả, vừa là cơ sở cho sự pháttriển của các khoa học Triết học với tính cách là một khoa học phụ thuộcvào trình độ phát triển của khoa học và văn hoá nói chung của nhân loại Cả điều kiện kinh tế-xã hội và trình độ phát triển khoa học, xét đếncùng quyết định nội dung các luận thuyết triết học và trong chừng mực,quyết định cả hình thức thể hiện t tởng triết học.

Sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc vào cuộc

đấu tranh giữa hai khuynh hớng triết học cơ bản- chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đây là một hình thức giao lu đặc biệt giữa các hệ t tởng triết

học trong toàn bộ lịch sử của nó Trong quá trình đấu tranh với các họcthuyết đối lập, mỗi học thuyết triết học cũng tự đấu tranh với bản thân mình

để vơn lên một trình độ mới Quá trình đấu tranh giữa triết học duy vật vàtriết học duy tâm, cũng đồng thời là một quá trình giao lu đặc biệt, bao gồmhấp thụ những gì tích cực, tiến bộ, hợp lý, đồng thời lọc bỏ những gì lỗithời, lạc hậu, tiêu cực, bất hợp lý trong nội dung t tởng triết học Đấu tranhgiữa duy vật và duy tâm là đấu tranh giữa hai mặt đối lập cơ bản nhất trongnội dung t tởng triết học nhân loại Thông qua cuộc đấu tranh nói trên màtriết học của mỗi thời đại có sự phát triển mang tích độc lập tơng đối so với

sự phát triển của điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá và khoa học, làm chomỗi hệ thống triết học có thể "vợt trớc" hoặc "thụt lùi" so với điều kiện vậtchất của thời đại đó Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ lịch sử t tởng triết học, tạo thành

động lực bên trong lớn nhất của sự phát triển t tởng triết học nhân loại, làbản chất của toàn bộ lịch sử t tởng triết học

Sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phụ thuộc vào cuộc

đấu tranh giữa hai phơng pháp nhận thức trong lịch sử là phơng pháp biện chứng và phơng pháp siêu hình Lịch sử có nhiều cách trả lời khác

nhau đối với vấn đề các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồntại nh thế nào, nhng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau làbiện chứng và siêu hình Sự phát triển của lịch sử triết học cũng chính là

sự phát triển của trình độ nhận thức, của ph ơng pháp t duy nhân loại,thông qua cuộc đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình Đây cũng là sự

đấu tranh giữa hai mặt đối lập, tạo nên động lực bên trong của sự pháttriển t tởng triết học nhân loại Đấu tranh giữa hai phơng pháp nhậnthức biện chứng và siêu hình gắn liền với của đấu tranh giữa hai thế giớiquan duy vật và duy tâm, nhng không phải là đồng nhất

Sự hình thành, phát triển của t tởng triết học nhân loại phụ thuộc vào

sự kế thừa và phát triển các t tởng triết học trong tiến trình lịch sử Đây là

quy luật giao lu t tởng triết học cùng loại theo chiều dọc tiến trình lịch sử.Giao lu t tởng triết học cùng loại trong lịch sử là một phơng thức tái tạo t t-ởng Sự tái tạo t tởng của một hệ thống triết học là một quá trình triển khainhững tiềm thế tồn tại ở cái ban đầu, cái xuất phát của cả hệ thống triết học

đó trong lịch sử Triết học của mỗi thời đại lịch sử bao giờ cũng dựa vào tàiliệu lịch sử của triết học các thời đại trớc, lấy đó làm tiền đề, làm điểm xuấtphát cho hệ thống triết học của mình Tuy vậy bao giờ nó cũng đợc chọnlọc, sửa chữa lại, lý giải lại và phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử mới

và theo tinh thần mà nó đại biểu về t tởng Đây chính là sự phủ định biệnchứng, bao gồm duy trì những giá trị tiềm thế và cải tạo có phê phán nhữngthành tựu t tởng có giá trị, nghĩa là sự kế thừa biện chứng trên con đờngphát triển của lịch sử t tởng triết học

Sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phụ thuộc vào sự liên hệ,

ảnh hởng, kế thừa, kết hợp giữa các học thuyết triết học trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế T tởng triết học nhân loại không phải là tổng số đơn

thuần của các hệ thống triết học hình thành trong từng nớc riêng lẻ, tách rời,

độc lập với nhau Những học thuyết triết học phát sinh, và phát triển ở mỗi

8

Trang 9

nớc, bằng các phơng thức khác nhau, đều nằm trong mối quan hệ lẫn nhaunhất định với những học thuyết triết học ở các nớc khác, vừa chịu ảnh hởng,vừa tác động trở lại các học thuyết triết học khác Đây chính là tính quy luật

về sự giao lu cùng loại, cùng thời đại lịch sử của các t tởng triết học khácnhau ở các vùng, miền, các quốc gia, dân tộc khác nhau Sự phát triển t tởngtriết học là kết quả của sự thống nhất và liên hệ lẫn nhau giữa các t tởngtriết học trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế

Sự hình thành, phát triển của các t tởng triết học phụ thuộc vào mối quan hệ với các t tởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Đây là một tính quy luật về sự giao lu khác loại, giao lu giữa hình

thái ý thức triết học với các hình thái ý thức xã hội khác Đây cũng là mộtbiểu hiện của tính độc lập tơng đối của ý thức xã hội trong đó các hình thái

ý thức xã hội có mối quan hệ tác động lẫn nhau Hình thái ý thức nào, tôngiáo hay nghệ thuật, đạo đức hay pháp quyền có ảnh hởng lớn đến nộidung t tởng triết học là tuỳ điều kiện lịch sử cụ thể Song, trong nhiều trờnghợp, hệ t tởng triết học trở thành cơ sở lí luận của hệ t tởng chính trị, phápquyền, đạo đức, tôn giáo nghệ thuật Ngợc lại, các hệ t tởng khác loại nàytrở thành cái biểu hiện của triết học Nhờ sự giao lu đồng loại và khác loại

mà một dân tộc có thể có trình độ phát triển kinh tế không cao, nhng lại cótrình độ phát triển triết học khá cao, vợt xa các dân tộc khác Đó là mộtthực tế lịch sử

Nh vậy, lịch sử triết học với tính cách là một khoa học, là lịch sử vận

động, phát triển có qui luật của các t tởng triết học

ơng vị mặt trời (Đông hoặc Tây) để phân chia vùng lịch sử triết học làlịch sử triết học phơng Đông hoặc lịch sử triết học phơng Tây Đây làhai vùng lịch sử triết học lớn, tổng quát nhất với các đặc điểm khácnhau về sự hình thành, phát triển cũng nh nội dung t tởng triết học.Trong hai vùng triết học tổng quát đó, thờng có những nền triết học lớncủa các nớc lớn mà sự hình thành lịch sử các quốc gia dân tộc đó t ơng

đối ổn định và có ảnh hởng lớn về văn hoá trong khu vực

Cùng với điều kiện tự nhiên thì căn cứ chủ yếu nhất để phân vùng lịch

sử triết học là điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Ngoài ra, chiếntranh cũng là một điều kiện ảnh hởng đến sự hình thành các vùng lịch sửtriết học Các cuộc chiến tranh lớn của thế giới có thể kìm hãm hoặc sátnhập các vùng lịch sử triết học

Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều vùng lớn lịch sử triết học Vùng triếthọc ả-rập (Do thái) ra đời sớm nhất, bao gồm toàn bộ vùng Trung Cận

Đông hiện nay Vùng triết học ấn Độ, vùng triết học Trung Quốc phát triểnrực rỡ nhất khoảng thế kỷ 7 đến thế kỷ 2 trớc công nguyên Vùng triết họcHyLạp-LaMã phát triển rực rỡ cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ ở châu Âu

ra đời, phát triển Vùng triết học Viễn Đông cũng đợc coi là một vùng triếthọc khá phát triển, bao gồm cả triết học Nga và các nớc Đông Liên Xô (cũ)

Có những vùng triết học về sau không phát triển, bị sát nhập, nh triết họcLaMã sát nhập cùng triết học HyLạp (thành triết học HyLạp), t tởng triếthọc của một phần Viễn Đông đợc sát nhập thành triết học phơng Đông Sựphân vùng lịch sử cho phép và đòi hỏi khi nghiên cứu lịch sử t tởng triết họcchỉ cần thiết nghiên cứu các vùng lịch sử triết học phát triển, tiêu biểu nhất

2 Sự phân kỳ lịch sử triết học

9

Trang 10

Triết học là một bộ phận cấu thành kiến trúc thợng tầng xã hội về t ởng xét đến cùng phụ thuộc vào cơ sở kinh tế xã hội, do vậy phân kỳ lịch sửtriết học trớc hết dựa trên lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã hội.Phân kỳ lịch sử triết học còn phải căn cứ vào lôgíc nội tại của sự pháttriển các hệ thống triết học Bởi vì, triết học là một hình thái ý thức xã hội

t-có tính độc lập tơng đối Trình độ phát triển triết học là biểu hiện trình độnhận thức của nhân loại, phụ thuộc vào diễn biến chung của nhận thứcnhân loại Sự phát triển của triết học còn phụ thuộc vào trình độ pháttriển khoa học tự nhiên, khoa học xã hội

Sự phân kỳ lịch sử triết học còn phải căn cứ vào bớc ngoặt cách mạng

do sự sáng lập ra các học thuyết triết học có tính chất vạch thời đại Do vậy,

có thời đại triết học trớc Mác và có thời đại triết học Mác (kể từ sau khi chủnghĩa Mác xuất hiện) Trong mỗi thời đại triết học lại đợc phân chia thànhnhững thời kỳ lớn Tuỳ đặc điểm mỗi thời kỳ, có những hình thức đấu tranh

cụ thể giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Theo những căn cứ nói trên, thông thờng ngời ta phân chia những thời

kỳ lịch sử triết học nh sau:

- Triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ

- Triết học của xã hội phong kiến

- Triết học thời kỳ tiền t bản

- Triết học của xã hội t bản

- Triết học Mác - Lênin (bao gồm thời kỳ Mác -Ăngghen và thời kỳLênin bảo vệ, phát triển triết học Mác)

IV- Những yêu cầu phơng pháp luận và ý nghĩa của nghiên cứu lịch sử triết học

1 Những yêu cầu phơng pháp luận của việc nghiên cứu lịch sử triết học

Nhận thức khoa học phải phù hợp với quy luật khách quan Từ tínhquy luật của sự hình thành, phát triển t tởng triết học, có thể rút ra nhữngyêu cầu, những nguyên tắc phơng pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triếthọc

Trớc hết là nguyên tắc tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử triết

học Lịch sử t tởng triết học phụ thuộc vào lịch sử đời sống vật chất của xãhội, trớc hết là cơ sở kinh tế và thực tiễn đấu tranh giai cấp Đồng thời t t-ởng triết học tác động trở lại đối với điều kiện kinh tế- xã hội Do vậy,nghiên cứu sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phải chỉ ra nguồngốc kinh tế- xã hội ( nền tảng, cơ sở vật chất) của nó Phê phán quan điểmduy tâm, coi triết học tự nó sản sinh ra t tởng triết học, tách khỏi điều kiệnkinh tế -xã hội, triết học không có tính giai cấp và không có vai trò đối với

đấu tranh giai cấp Tính khách quan gắn liền với tính khoa học trong nhậnthức toàn diện những đóng góp của các t tởng triết học khác nhau, khắcphục t tởng chủ quan, phiến diện trong đánh giá các trào lu triết học

Nghiên cứu lịch sử t tởng triết học đòi hỏi phải dựa trên cơ sở nguyên

tắc tính đảng Cần thấy rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ

nghĩa duy tâm là lôgíc nội tại, xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Đòi hỏi khinghiên cứu mỗi triết gia, mỗi học thuyết triết học phải căn cứ vào nguyên tắctính đảng để phân biệt đợc duy vật hoặc duy tâm Đồng thời đấu tranh giữaduy vật và duy tâm là một hình thức giao lu t tởng triết học Do vậy, không đ-

ợc đem đối lập một cách giản đơn các học thuyết triết học mà phải thấy rõ

ph-ơng diện giao nhau, tiếp cận nhau, chuyển hoá lẫn nhau giữa các t tởng triếthọc trong những điều kiện nhất định

10

Trang 11

Tính đảng trong nghiên cứu lịch sử triết học gắn liền với tính chính trị,tính giai cấp Đằng sau cuộc đấu tranh giữa các đảng phái trong triết học làcuộc đấu tranh giữa các hệ t tởng đối địch của các giai cấp trong xã hội.

Nghiên cứu lịch sử t tởng triết học phải dựa vào nguyên tắc tính lịch

sử Xem xét các t tởng triết học phải theo quan điểm lịch sử, gắn liền với

kinh nghiệm lịch sử trong điều kiện cụ thể Phải dựng lại một cách trungthực và khách quan lịch sử phát triển tiến bộ của cả triết học phơng Đông vàphơng Tây với những đặc thù về nội dung và phong cách t duy vốn có của

nó, chống thái độ đề cao hoặc hạ thấp, thậm chí phủ định sạch trơn những

di sản triết học của quá khứ Quan điểm lịch sử trong xem xét các t tởngtriết học đòi hỏi nhìn nhận một học thuyết triết học không phải là có gì mới

so với hiện nay, mà có gì mới so với các học thuyết trớc kia Xem xét mọihọc thuyết triết học với tính cách là những bậc thang nhất định trong quátrình nhận thức thế giới, đòi hỏi không đợc phép hiện đại hoá nó, không chophép gán ghép những t tởng mà họ không có và không thể có Phải tìm đợc

sự liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, thấy đợc cội nguồn lịch sử và cả xu ớng phát triển, không gò ép, không áp đặt, không xuyên tạc lịch sử theo ýmuốn chủ quan nhằm phục vụ mục đích chính trị nào đó

h-Nghiên cứu lịch sử triết học phải trên nguyên tắc tính kế thừa Xem xét

sự hình thành, phát triển của t tởng triết học phải thấy đợc sự giao lu đồngloại( với các t tởng triết học khác) và giao lu khác loại ( với các hình thái ýthức xã hội khác), xác định đợc mối quan hệ của nó với t tởng chính trị,pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật Trong mối quan hệ giữa triết học với cáchình thái ý thức xã hội khác, thấy rõ sự xâm nhập, ảnh hởng, làm tiền đề,

điều kiện phát triển cho nhau

Lịch sử t tởng triết học cũng chính là lịch sử phát triển của nhận thứcnhân loại, cho nên trong sự phát triển của nó có mối liên hệ mật thiết và kếthừa sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Quan điểm kế thừa đòi hỏi xem xét lôgíc phát triển nội tại của các ờng phái triết học với tích cách là một quá trình phủ định biện chứng, baogồm sự kế thừa, lọc bỏ, bổ sung và phát triển Nguyên tắc kế thừa phải gắnvới nguyên tắc lịch sử, đòi hỏi phải xem xét những gì đợc kế thừa trong lịch

tr-sử, xem xét mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, mối liên hệ giữa dân tộc

và quốc tế

Nghiên cứu lịch sử triết học phải trên nguyên tắc tính thực tiễn Phải

tìm đợc mối liên hệ giữa t tởng triết học với thực tiễn xã hội Lịch sử triếthọc là quá trình t duy đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề mà nhu cầu thựctiễn đòi hỏi phải trả lời về mặt nhận thức Phải tìm cho đợc yêu cầu thựctiễn của t tởng triết học Nhu cầu thực tiễn là cơ sở cho t tởng triết học pháttriển Ngợc lại, sự tiến bộ về t tởng triết học là một nguồn gốc lý luận cho

sự tiến bộ trong thực tiễn, trong lịch sử vật chất xã hội

2 ý nghĩa nghiên cứu lịch sử triết học

Lịch sử triết học có khả năng bao quát lịch sử xã hội sâu rộng dới hìnhthức lý luận, cho ta khả năng hiểu biết và khái quát sự phát triển lịch sử t t-ởng và lịch sử t tởng triết học của nhân loại Lịch sử triết học là " bức đồ

ảnh rút gọn" của những thời đại lịch sử dới hình thức t tởng- lý luận trừu ợng nhất Do vậy, nghiên cứu lịch sử triết học giúp mỗi ngời làm giầu trítuệ của mình bằng cách thâu tóm trí tuệ của mỗi thời đại lịch sử đợc kếttinh trong triết học

t-Lịch sử triết học là lịch sử phát triển t duy của nhân loại dới hình thức

lý luận triết học, giúp ta nắm đợc kinh nghiệm của sự nhận thức khoa học,

sự hình thành và phát triển của phơng pháp nhận thức khoa học trong lịch

sử Do vậy, nghiên cứu lịch sử triết học giúp ta xây dựng phơng pháp nhậnthức khoa học, phơng pháp t duy đúng đắn, rèn luyện năng lực t duy độclập, phê phán, biết tranh luận, tự tranh luận, kế thừa, lọc bỏ, phát triển nhận

11

Trang 12

thức khoa học; giúp ta xây dựng thế giới quan, phơng pháp luận khoa học,thoát khỏi ảnh hởng tự phát của quan điểm duy tâm, siêu hình, phiến diện.Lịch sử triết học trang bị cho ta vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh ttởng, lý luận hiện nay Nghiên cứu lịch sử triết học, giúp chúng ta hiểu rõtính chất đúng đắn, tiến bộ của thế giới quan duy vật và tính chất hạn chế,sai lầm của thế giới quan duy tâm Lịch sử phép biện chứng từ lúc khởi thuỷcho đến nay là lịch sử đấu tranh, tìm tòi chân lý, phát triển nhận thức khoahọc Lịch sử triết học cho thấy, chỉ có triết học nào gắn liền mật thiết với

đời sống, với thực tiễn mới giúp con ngời tìm ra chân lý khách quan, giảithích đúng đắn thế giới và cải biến có hiệu quả thế giới hiện thực vì cuộcsống con ngời Nghiên cứu lịch sử triết học, trang bị cho chúng ta thế giớiquan khoa học và cách mạng, nâng t duy của chúng ta lên tầm biện chứngthì cũng đồng thời trang bị cho ta vũ khí t tởng, chuẩn mực phê phán, đánhgiá, đấu tranh với các trào lu t tởng phản khoa học, phản động

Nghiên cứu toàn bộ lịch sử hình thành, phát triển của t tởng triết họcnhân loại giúp chúng ta khẳng định sự xuất hiện triết học mác-xít là tất yếulịch sử, phù hợp với lôgíc khách quan của sự phát triển t tởng triết học nhânloại; thấy đợc triết học mác-xít không nằm bên ngoài mà đã và đangphát triển giữa dòng văn minh nhân loại, khẳng định bản chất khoa học

và cách mạng của triết học mác-xít Nghiên cứu toàn bộ lịch sử t tởngtriết học còn cho thấy tiếp cận triết học mác-xít chính là tiếp cận t duytriết học của nhân loại ở trình độ hiện đại

Nghiên cứu lịch sử triết học cho thấy tính tất yếu mở rộng, phát triểntriết học mác-xít trong điều kiện mới của thời đại; tính tất yếu của việc đấutranh với các quan điểm sai lầm, phản động, cơ hội, xét lại nhằm bảo vệ vàphát triển triết học mác-xít

12

Trang 13

cổ đại tồn tại và phát triển Theo tài liệu khảo cổ học, nơi đây đã xuất hiệnnhững nền văn minh rất sớm Đó là các nền văn minh sông Nin (Ai Cập),nền văn minh sông Tigơrơ và Ơphơrát (I-Rắc), nền văn minh sông Hoàng(Trung Quốc), nền văn minh sông Hằng (ấn Độ)

Cùng với những nền văn minh trên, những t tởng triết học và văn hoácũng xuất hiện hết sức đa dạng và phong phú Mỗi quốc gia, dân tộc phơng

Đông đều có lịch sử t tởng, văn hoá của mình và có những đóng góp nhất

định trong sự phát triển của t tởng triết học, văn hoá thế giới Nổi bật vàxuất sắc nhất phải kể đến hai trung tâm lớn đó là ấn Độ và Trung Quốc.Triết học ấn Độ , Trung Quốc cổ, trung đại không chỉ có cống hiến tolớn cho sự phát triển của t tởng triết học nhân loại, mà đã từ lâu có ảnh h-ởng rất lớn đến văn hoá Việt Nam Nghiên cứu lịch sử t tởng triết học ấn

Độ, Trung Quốc cổ, trung đại thực sự cần thiết cho việc tìm hiểu t tởng, vănhoá của Việt Nam

13

Trang 14

I- Triết học ấn Độ cổ, trung đại

1 Điều kiện kinh tế - xã hội

ấn Độ là một nớc lớn ở miền nam châu á, hai mặt Đông Nam và TâyNam giáp ấn Độ Dơng, phía Bắc là dãy núi Hymalaya hùng vĩ, án ngữ theovòng cung dài 2600 Km Tiếp xuống phía Nam là vùng đồng bằng ấn -Hằng, do các con sông ấn (Indus), sông Hằng (Gange) và sôngBrahmapoutra chuyên chở phù sa bồi đắp nên Giữa miền Bắc và miền Nam

ấn Độ đợc phân chia bởi dãy núi Vindhya và vùng xa mạc Thar rộng lớnMiền Nam ấn Độ là vùng cao nguyên rộng lớn (Cao nguyên Dekkan) cónhiều rừng núi, sông ngòi chảy qua, đổ ra ấn Độ Dơng Do địa hình hiểmtrở nên mực nớc các con sông ở đây không ổn định, chảy với tốc độ lớn Điều kiện thiên nhiên đã làm cho con ngời và xã hội ấn Độ có nhữngsắc thái riêng trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình

Lịch sử ấn Độ cổ, trung đại có thể chia thành ba giai đoạn chính:

Giai đoạn thứ nhất: Từ thiên niên kỷ I đến khoảng giữa thiên niên kỷ

II tr.CN Đây là giai đoạn thờng đợc gọi là" Nền văn minh Harappa" hay(Nền văn minh sông ấn) khởi đầu cho văn minh ấn Độ Cho đến ngày nay,ngời ta còn biết quá ít về nó Chủ nhân của nền văn minh này là ngờiDravida, hiện nay còn sinh sống ở nam ấn Độ

Giai đoạn thứ hai: Tiếp nối giai đoạn thứ nhất đến thế kỷ VII tr.CN.

Đây là giai đoạn hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của ngờiArya trên lu vực sông ấn và sông Hằng và cũng là thời kỳ rực rỡ nhất củanền văn minh ấn Độ cổ, trung đại

Khoảng giữa thiên niên kỷ II tr CN, ngời Arya từ phía bắc tiếndần xuống phía Đông Nam, nhanh chóng chinh phục đại bộ phận thổdân ấn, lập nên đất nớc Aryavarta của họ Đây là sự kiện quan trọng vềlịch sử, đánh dấu sự hoà trộn giữa hai nền văn minh của hai chủng tộckhác nhau Chính quá trình này đã làm xuất hiện một nền văn minh mớicủa ngời ấn Độ: nền văn minh Veda

Do chiếm đợc những vùng đất đai mầu mỡ, lại có lực lợng lao độngdồi dào (đai bộ phận thổ dân ấn bị biến thành nô lệ), do tiếp thu kỹ thuật,văn minh của ngời Dravida, ngời Arya bắt đầu chuyển dần từ chăn nuôi, dumục sang đời sống nông nghiệp định c, phát triển thủ công nghiệp và thơngnghiệp Sự phát triển kinh tế đã tạo ra một bớc thay đổi các quan hệ xã hội.Chế độ thị tộc bị tan rã, xã hội dựa trên cơ sở kết cấu kinh tế theo mô hình "công xã nông thôn" ra đời; mối quan hệ huyết thống trong cộng đồng trởnên mong manh, yếu ớt, thay vào đó là quan hệ kinh tế, giai cấp, đẳng cấp

đợc củng cố và phát triển

Việc phân hoá xã hội thành các giai cấp, đẳng cấp tăng lữ, quí tộc,bình dân và nô lệ là nguyên nhân chính làm cho xã hội luôn diễn ra cáccuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa các lực lợng đối lập Điều đó phầnnào giải thích đợc vì sao cuộc đấu tranh trên lĩnh vực hệ t tởng (trong

đó có triết học) ở thời kỳ này lại sôi nổi, phong phú và đa dạng nh vậy

Giai đoạn thứ ba: Trong khoảng 5 - 6 thế kỷ (từ thế kỷ VI tr CN đến

thế kỷ I tr CN) Đây là thời kỳ xã hội ấn Độ có những biến cố lớn lao cả vềkinh tế, chính trị , xã hội và t tởng Lúc này các quốc gia chiếm hữu nô lệ

đã thực sự phát triển và thờng gây chiến tranh để thôn tính lẫn nhau, dẫn tớihình thành các quốc gia lớn, các vơng triều thống nhất ở ấn Độ Thời kỳnày sức sản xuất phát triển rất mạnh do sáng tạo những công cụ sản xuấtbằng sắt, mở mang thuỷ lợi, khai khẩn đất đai Nghề thủ công cũng rấtphát đạt, nhất là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề luyện sắt , nghề làm đồ

gỗ, gốm sứ Sự phát triển kinh tế dẫn đến giao lu buôn bán cũng đợc pháttriển Nhiều con đờng thơng mại thuỷ, bộ, nối liền các thành thị với nhau vàthông từ ấn Độ qua các nớc Trung Hoa, Ai Cập và các nớc Trung á đợckiến tạo

14

Trang 15

Nhu cầu phát triển về mọi mặt của xã hội đã tạo ra những động lựcmạnh mẽ cho khoa học phát triển Ngời ấn Độ lúc này đã biết quả đấttròn và quay quanh trục của nó, biết làm lịch chính xác, đã giải thích đ -

ợc hiện tợng nhật thực, nguyệt thực Về toán học, đại số, hình học, l ợnggiác,y học và hoá học đều phát triển Nền văn học nghệ thuật cũng pháttriển rực rỡ Đây là thời kỳ phát triển t duy trừu tợng, thời kỳ hình thành

lý của vũ trụ, giải thích về bản chất đời sống tâm linh con ngời chỉ thực sựxuất hiện từ thời đại Upanishad (khoảng thế kỷ X đến thế kỷ VI tr CN).Triết học ấn Độ cổ, trung đại đợc chia ra thành hai trờng phái: Chính thống

ở thời kỳ trung đại, các nhà triết học ấn Độ thờng kế thừa, tìm cáchlàm sáng tỏ một học thuyết đã có và tránh mâu thuẫn với nó Triết học ấn

Độ cổ, trung đại đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề triết học nh bản thểluận, nhận thức luận, đạo đức học

2 Những t tởng triết học cơ bản của các trờng phái

a) Trờng phái Sàmkhya

Trờng phái triết học Sàmkhya là sự tiếp tục của trờng phái triết họctiền bối có tên là Proto-Sàmkhya xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII tr CN Ttởng triết học trung tâm của trờng phái này là lý luận về bản nguyên vũtrụ, những nhà t tởng Samkhya (thời sơ kỳ) không thừa nhận Brahman,tinh thần vũ trụ và phủ nhận sự tồn tại của thần linh Họ đ a ra họcthuyết Satkàrya-vàda tức học thuyết tồn tại của kết quả trong nguyênnhân trớc khi nó xuất hiện và học thuyết Parinàma-vàda tức học thuyết

về sự chuyển hoá thực tế của nguyên nhân trong kết quả Trong nguyênnhân đã chứa cái gì nằm trong kết quả Nh vậy, từ tính chất của kết quả,tìm đợc chìa khoá để đi vào nguyên nhân

Những nhà t tởng Sàmkhya cho rằng, nếu thế giới là vật chất thìnguyên nhân của nó cũng phải là vật chất, đó là "vật chất đầu tiên"(Pràkriti) - một dạng vật chất không thể dùng cảm giác mà có thể nhận biết

đợc Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sattva(nhẹ, sáng, tơivui); Rajas (kích thích, động); Tamas (nặng, ỳ) Khi ba yếu tố này ở trạngthái cân bằng thì Prakriti ở trạng thái cha biểu hiện - tức trạng thái khôngthể trực quan đợc Nhng khi trạng thái cân bằng bị phá vỡ thì đây là điểmkhởi đầu của sự hình thành vạn vật trong vũ trụ Vật chất là vĩnh hằngnhng không đứng yên, biến đổi không ngừng từ dạng này sang dạngkhác

Trái với quan niệm trên, những nhà t tởng Sàmkhya hậu kỳ lại cókhuynh hớng nhị nguyên khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu

15

Trang 16

tố đầu tiên là vật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa) Yếu tố Purusa yếu tố tinh thần mang tính phổ quát vĩnh hằng và bất biến, nó truyền sinhkhí, năng lợng biến hoá vào yếu tố vật chất.

b) Trờng phái Mimànsà

Mimànsà là một trong những trờng phái chính thống của triết học

ấn Độ cổ đại Trờng phái này do triết gia Jaimini sáng lập (khoảng thế

kỷ II tr CN) Kinh điển đầu tiên của hệ thống này là Mimànsà-Sùtra,gồm 2500 câu châm ngôn

Cũng nh trờng phái Sàmkhya, trờng phái Mimànsà sơ kỳ không thừanhận sự tồn tại của thần Các nhà triết học của Mimànsà cho rằng khôngtìm đợc bằng chứng nào về sự tồn tại của thần Cảm giác không thể nhận rathần mà các nguồn khác của tri thức thì suy cho cùng cũng dựa trên cảmgiác Họ chống lại quan điểm triết học duy tâm vì nếu tin rằng thế giới hiệnthực là không tồn tại, chỉ có ý thức sinh ra thì nghi lễ mà Mimànsà coitrọng và hiệu quả của nó trở nên vô nghĩa

Tinh thần duy vật ấy của triết học Mimànsà đã không đợc tiếp tục pháttriển Những nhà triết học hậu kỳ lại thừa nhận sự tồn tại của thần

c) Trờng phái Vedànta

Vedànta đợc coi là phái chính thống của triết học ấn Độ cổ đại, hìnhthành từ phong trào biên soạn, chú giải thánh kinh Véda và Upanishad màngời khai sáng là Badarayana, khoảng thế kỷ II tr C.N, sau này ngời kế tụcxuất sắc là Sankara, ở thế kỷ thứ VIII Tác phẩm "Brahman-Sùtra" hayVedànta-Sùtra đợc coi là kinh điển của trờng phái này Về nội dung, Sùtranày đợc trình bày khá mơ hồ nên đã có nhiều cách giải thích khác nhau củanhững ngời đi sau

Cách luận giải có ảnh hởng lớn nhất là quan điểm Advaita-Vedànta(Vedànta-nhất nguyên) hay Màyà-Vada (lý thuyết ảo ảnh) Theo lý thuyết

này, Brahman, hay tồn tại tuyệt đối, đồng nhất với cái "tôi" (atman) nghĩa là

ý thức thuần tuý Thế giới vật chất tuyệt đối không hiện thực, hình ảnh của

nó chỉ là ảo ảnh sinh ra do "vô minh" (Avidya) "Avidya" có nghĩa là "duynhất" Triết học Advaita là triết học của nhất nguyên luận tuyệt đối Nókhông thừa nhận sự tồn tại của bất cứ cái gì ngoài Brahman hay ý thứcthuần tuý

Các phái Vedànta sau này lại giải thích "Brahman-Sùtra" theoquan điểm hữu thần, hay duy tâm khách quan Họ coi Brahman là linhhồn của vũ trụ, vĩnh hằng, còn Atman là linh hồn cá thể, một bộ phậncủa linh hồn tối cao, tức thợng đế Brahman

d) Trờng phái Yoga

Yoga theo tiếng Phạn có nghĩa là "sự hiểu biết" hay "hợp nhất tâm thể

về cùng một khối" T tởng triết học cốt lõi của trờng phái này là sự thừanhận nguyên lý hợp nhất vũ trụ nơi mỗi cá thể Trờng phái Yoga kết hợp t t-ởng triết học của trờng phái Sàmkhya với sự thừa nhận sự tồn tại của thầnlinh, thợng đế Theo họ, thần hay thợng đế không phải là đấng sáng tạohoặc duy trì vũ trụ, không có nhiệm vụ thởng, phạt con ngời mà chỉ là mộtloại"linh hồn đặc biệt", không khác các linh hồn cá thể khác là mấy Vìvậy, bằng phơng pháp tu luyện và tập luyện nhất định, có thể làm chủ và

điều khiển đợc bản thân mình, tiến đến làm chủ và điều khiển đợc môi ờng, vạn vật và cao hơn nữa là đạt tới sự "giải thoát","tự do tuyệt đối" Để

tr-đạt đợc trạng thái đó, ngời ta phải tu luyện kiên trì, dần dần từng bớc theotừng giai đoạn, phải tự chủ, phải kiên nhẫn tập luyện lâu dài, bằng tám ph-

ơng pháp gọi là "Bát bảo tu pháp" Nhiều trờng phái Yoga cho rằng, nếuthực hiện tốt các phơng pháp này con ngời sẽ có sức mạnh siêu nhiên

Nh vậy, trờng phái Yoga cũng nh các trờng phái Vedànta, Mimànsa

đều có xu hớng giải quyết vấn đề nhân sinh quan theo chủ đích đạt tới sự

"giải thoát" tối hậu: hoà đồng cái tôi (tiểu ngã) với cái vũ trụ (đại ngã)

16

Trang 17

đ) Trờng phái Nyàya-Vaisesika

Triết học Nyàya và triết học Vaísesika từ buổi đầu đã gắn kết vớinhau, và qua thời gian, thực sự hoà làm một Vì vậy, có thể gọi chung làNyàya-Vaísesika Đại biểu cho trờng phái Nyàya là Gantama, tác giả của

"Nyàya-Sùtra" Đại biểu của trờng phái Vaísesika là Kamanda, tác giả của

"Vaísesika-Sùtra" Những quan điểm t tởng triết học tơng đồng của hai ờng phái này là: học thuyết nguyên tử, lý luận nhận thức và lôgíc học

tr-Về thuyết nguyên tử

Giải quyết vấn đề bản nguyên của thế giới, phơng pháp luận của haiphái này là quy toàn bộ tính đa dạng của tồn tại vào bốn yếu tố: đất-nớc-lửa-gió (hay không khí) Những yếu tố này lại đợc quy vào bản nguyên duynhất, đó là nguyên tử (Anu) Nguyên tử, theo họ, là phần tử cuối cùng,không thể chia cắt, không có đơn vị kích thớc, bất biến, vĩnh hằng, đợcphân biệt ở chất lợng, khối lợng và hình dạng, tồn tại trong một môi trờng

đặc biệt, trong không gian và thời gian

Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của Anu, các phái này còn cho rằng

có sự tồn tại của linh hồn ở những trạng thái phụ thuộc hoặc ở ngoài nhữngnguyên tử vật chất, đợc gọi là Ya; mà đặc tính của nó đợc thể hiện ra nh: ớcvọng, ý chí, vui, buồn, giận hờn v.v

Để thấu triệt nguyên lý thống nhất của những hiện hữu, hai phái này

đã tìm đến lực lợng thứ ba mang tính siêu nhiên, giữ vai trò phối hợp, điềuphối sự tác động của các linh hồn giải thoát ra khỏi các nguyên tử Đó là

thần Isvara của phái Nyàya hay là linh hồn thế giới (Adrishta) của phái

Vaisesika

Về nhận thức luận

Hai phái này đều thừa nhận tính khách quan của khách thể nhận thức

Họ đấu tranh chống lại các quan điểm cho rằng, nhận thức dựa vào kinhnghiệm là giả; nhận thức không thể kiểm tra đợc.v.v Theo họ, nhận thức

có thể tin cậy, nhng cũng có thể không tin cậy đợc Tiêu chuẩn của tin cậy

đó là phản ánh không nghi ngờ và trung thành với hình ảnh của đối tợng.Bốn hình thức nhận thức không đáp ứng các yêu cầu đó, đợc coi là khôngtin cậy:1 ký ức; 2 nghi ngờ; 3 sai lầm; 4 giả thiết (cha có chứng cớ chắcchắn)

Nhng nhận thức không tin cậy, không nhất thiết là giả Nhận thức là

đúng đắn khi nó phù hợp với bản chất của đối tợng Nhận thức là giả khi nókhông phù hợp với bản chất của đối tợng

Sự giải thích duy vật mộc mạc đó là những đóng góp của các trờngphái này vào sự phát triển của lý luận nhận thức nói chung

Về lôgíc học

Hai trờng phái này cũng có những đóng góp quan trọng cho lôgíc hìnhthức Hình thức biện luận do các phái này đa ra là " ngũ đoạn luận", gồmnăm mệnh đề: 1 luận đề ; 2 nguyên nhân ; 3 ví dụ ; 4 suy đoán ; 5 kếtluận Việc tuân thủ "ngũ đoạn luận" sẽ giúp cho t duy của con ngời phản

ánh chính xác sự vật hiện tợng của thế giới

Lịch sử phát triển t tởng triết học ấn Độ cho thấy, các trờng pháinày ban đầu có t tởng vô thần và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâmtriết học Song ở giai đoạn cuối, lại thừa nhận có thần và cho rằng thần

đã dùng nguyên tử để xây dựng nên thế giới

e) Trờng phái Jaina

Jaina là một tôn giáo xuất hiện gần nh đồng thời với Phật giáo Ngờisáng lập trờng phái này là nhà hiền triết Mahavira, còn có hiệu là Jaina(nghĩa là chiến thắng) Những nhà triết học của trờng phái này phủ nhận sựsáng tạo ra thế giới của thần linh hay của một lực lợng siêu nhiên, nh "tinhthần vũ trụ tối cao" Brahman Chính vì thế, học thuyết Jaina đợc xếp vào hệ

17

Trang 18

thống triết học không chính thống Tác phẩm trình bày đầy đủ t tởng triếthọc của Jaina là " Tattvartha-Dhigama-Sùtra" gọi tắt là ( Tattvartha-Sùtra).

T tởng triết học cơ bản của Jaina là học thuyết về "cái tơng đối" Theothuyết này, tồn tại đầu tiên là bất biến, vô thuỷ, vô chung, sự biến chuyểncủa vạn vật là không cùng; thế giới vạn vật là sự thống nhất của cái bất biến

và cái biến đổi Cái vĩnh hằng là vật chất; cái không vĩnh hằng là các dạngvật chất cụ thể Ngoài ra, Jaina còn thừa nhận có một thứ vật chất tinh tế,cái mà không thể nhận thức đợc bằng cảm giác, nó quyết định mối liên hệgiữa linh hồn và thể xác Triết học Jaina không thừa nhận có linh hồn duynhất và Thợng đế tối cao Song lại cho rằng, trong thế giới có một số lợngrất lớn và cố định những linh hồn đợc thể hiện trong các thực thể sống, hoặc

là không đợc thể hiện ra Linh hồn cũng nh vật chất không do ai tạo ra, tồntại ngay từ đầu và tồn tại mãi mãi

Quan điểm của Jaina đợc thể hiện qua các khái niệm: 1 tồn tại; 2.Không tồn tại; 3 vừa tồn tại, vừa không tồn tại; 4 không thể miêu tả; 5 tồntại và không thể miêu tả; 6 không tồn tại và không thể miêu tả; 7 tồn tại vàkhông tồn tại và không thể miêu tả đợc

g) Trờng phái Lokàyata

Lokàyata còn đợc gọi là triết học Carvaka, hay Barhaspatya Nhiềunhà nghiên cứu cho rằng, tên Lokàyata ra đời do chỗ triết học này phổ biếnrộng rãi trong nhân dân (Lokésu)

T tởng triết học của phái Lokàyata phát triển trong nhiều thế kỷ vànhững ngời theo phái này luôn chống lại những t tởng duy tâm, tôngiáo Quan điểm triết học của họ thể hiện tập trung ở luận giải về bảnthể; lý luận nhận thức và đạo đức học

Về bản thể luận

Lokàyata cho rằng tất cả mọi sự vật, hiện tợng trong vũ trụ đều do bốnyếu tố, đất, nớc, lửa và không khí cấu thành Bốn yếu tố này có khả năng tựtồn tại, tự hoạt động trong không gian để tạo thành vạn vật, kể cả con ng ời.Tính đa dạng của vạn vật là do sự kết hợp khác nhau của những yếu tố bảnnguyên ấy Sự hợp thành và tan rã của chúng, quy định sự tồn tại hay mất đicủa vạn vật ý thức cũng đợc nảy sinh từ những yếu tố đó nh là sức mạnhkích thích Con ngời không phải là gì khác ngoài thân thể có ý thức

Lokàyata là trờng phái triết học duy vật triệt để nhất trong các tr ờng phái triết học ấn Độ cổ, trung đại; nó khá xa lạ với tinh thần truyềnthống tôn giáo của nớc này

-Về lý luận nhận thức

Triết học Lokàyata thừa nhận cảm giác là nguồn duy nhất xác thực củanhận thức, đồng thời phủ nhận tính xác thực của tri thức gián tiếp Theo họ,suy lý, kết luận hay những chứng minh v.v đều là những phơng pháp sailầm của nhận thức

Về đạo đức học

Trờng phái triết học Lokàyata kịch liệt phê phán những học thuyếttuyên truyền cho sự chấm dứt đau khổ bằng cách kiềm chế mọi ham muốndục vọng và hy vọng một cuộc sống hạnh phúc nơi thiên đờng, nơi thế giớibên kia sau khi chết Các nhà triết học của phái này chủ trơng hãy để chomọi ngời sống, hoạt động hởng thụ tất cả trên cõi đời với những niềm cay

đắng và những vị ngọt ngào của nó Vì thế, lý luận đạo đức của họ đợc gọi

là "chủ nghĩa khoái lạc"

h) Trờng phái Buddha ( Phật giáo)

Phật giáo ra đời khoảng giữa thiên niên kỷ I tr CN do Thích CaMầu Ni ( Sakyamuni), hay còn gọi là Buddha sáng lập

Kinh điển triết học Phật giáo rất đồ sộ, gồm ba bộ phận (Kinh; Luật;Luận) gọi là (tam tạng kinh)

T tởng triết học Phật giáo thể hiện tập trung ở những phơng diện: bảnthể luận; quan điểm về nhân sinh; nhận thức luận và lý luận về đạo đức

18

Trang 19

Về nhân sinh quan

Nội dung triết lý nhân sinh của đạo Phật tập trung ở 4 luận đề (Tứ diệu

đế) đợc Phật giáo coi là 4 chân lý vĩ đại

- Khổ đế, cho rằng đời sống con ngời là bể khổ trâm luân Trong

kinh Phật nói rằng: "Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cáigì a mà phải rời là khổ, cái gì không a mà phải nhập là khổ, cái gì muốn

mà không đợc là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trọc giả hợp làkhổ."

- Nhân đế, giải thích nguyên nhân của đau khổ Nguyên nhân của

đau khổ chính là do dục vọng không bao giờ nguôi ngoai của con ng ời.Vì tham sống mà luân hồi sinh tử, càng tham càng muốn, càng đợc càngtham Trong kinh nhà Phật giải thích nỗi đau khổ của con ng ời bằng

lý thuyết "Thập nhị nhân duyên" tức 12 nguyên nhân: 1.Vô minh; 2.Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ;

10 Hữu; 11 Sinh; 12 Lão, tử

Ngoài" Thập nhị nhân duyên" Nhà Phật còn cho rằng: nỗi khổ của conngời còn do nghiệp báo, luân hồi, đó chính là luật báo ứng (gieo gió gặpbão), (gieo gì gặp nấy) Theo thuyết này, đã sinh ra thì phải có chết đi, đãchết đi thì phải có tái sinh, vô cùng, vô tận

- Diệt đế, cho rằng có thể tiêu diệt đợc cái khổ, đạt tới trạng thái

Niết bàn

- Đạo đế, chỉ ra con đờng diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con

đ-ờng"tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm tám nguyên tắc (Bátchính đạo)

Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào ba điều học tập, rèn luyện là:tập trung tinh thần; nhìn rõ sự thật; ý chí ngay thẳng Làm đợc nh vậy, conngời sẽ thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, trở về trạng thái hoàn toàn yêntĩnh, trong sạch (Niếtbàn)

Về nhận thức luận

ở ấn Độ, triết học gọi vấn đề nguồn gốc của nhận thức là "tri l ợng" Trớc khi Phật giáo xuất hiện, có thuyết Thánh giáo l ợng (nguồngốc của nhận thức do thần, thánh mách bảo) Phật giáo bác bỏ Thánhgiáo lợng, mà cho rằng nguồn gốc của nhận thức là do hiện lợng và tỷ l-ợng Từ cảm giác đi qua tri giác đến quan niệm, đó là hiện l ợng Tỷ l-ợng gồm có phán đoán, suy lý Hiện lợng cho ta biết " Tự tớng" của sựvật, tỷ lợng cho ta biết "cộng tớng" của sự vật biết sự vật là phải biết cả

Mặt khác, xuất phát từ quan điểm cho rằng Ngời và Ta đều là nhữngpháp khác nhau của giới pháp, vô thuỷ, vô chung; đều thuộc về Chân nh cả

19

Trang 20

vì vậy lý luận đạo đức Phật giáo chủ trơng: đối với mình " khắc kỷ", đối vớimọi ngời phải từ bi, bác ái, vị tha, coi ngời khác nh mình Vì vậy, khôngphải chỉ biết cứu mình mà còn cứu nhân độ thế

Nh vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có t tởng vô thần luận, phủ nhận đấngsáng tạo tối cao (Brahma) và có t tởng biện chứng (thuyết duyên khởi) Đây

là những đóng góp to lớn của nó cho sự phát triển của t tởng triết học nhânloại nói chung và ấn Độ nói riêng

Sau khi Phật tịch, các học trò của ông đã biên soạn các kinh điển Phậtgiáo, trớc hết là kinh tạng và luật tạng Trong kinh điển Phật giáo, đây đợccoi là kết tập lần thứ nhất

Một trăm năm sau khi Phật tịch, kết tập lần thứ hai Do bất đồng vềquan đểm, Phật giáo chia thành hai phái: Đại chúng bộ và Thợng toạ bộ.Vào khoảng đầu Công nguyên, từ các trào lu Phật giáo, nổi lên haigiáo phái phật giáo tiêu biểu là Đại thừa và Tiểu thừa Phái Đại thừa tự coi

là "cỗ xe lớn", cho rằng mình có thể đa đợc nhiều ngời đến giác ngộ Theo

Đại thừa, mọi ngời đều có thể giác ngộ để đi đến Niết bàn không chỉ bằng

tự lực, mà còn bằng sự dẫn dắt của các bậc đại giác (các vị bồ tát)

Về mặt triết học, Đại thừa có hai phái chủ yếu có ảnh hởng lớn:

- Phái trung luận (Madhyamika) Phái này quan niệm thế giới cóbản chất là tính không (Sunyata), còn các hiện tợng thấy đợc là giả Thế

giới hiện ra là vì vô minh, nếu Tuệ (Prajna) hiện ra thì thế giới sẽ về với

Phật giáo trên đất ấn Độ suy tàn vào khoảng thế kỷ IX; nhng trong thờigian tồn tại của nó, Phật giáo đã từ ấn Độ truyền bá ra các nớc xung quanh,trở thành hệ thống tôn giáo-triết học thế giới, có ảnh hởng lớn đến đời sốngtinh thần và lịch sử văn hoá của nhiều nớc Phơng Đông trong đó cóViệt Nam

3 Một số đặc điểm về t tởng triết học ấn Độ cổ, trung đại

Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bớc đầu giải quyết nhiềuvấn đề của triết học Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bản thểluận, nhận thức luận và nhân sinh quan , triết học ấn Độ đã thể hiệntính biện chứng và tầm khái quát sâu sắc; đã đ a lại nhiều đóng góp quýbáu vào kho tàng di sản triết học của nhân loại

Một xu hớng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ, trung đại là quantâm giải quyết những vấn đề thuộc đời sống tâm linh, không mãn nguyệnvới việc suy luận tri thức mà gắn với đời thực, việc thực

Triết học ấn Độ cổ, trung đại suốt mấy ngàn năm phát triển khôngdiễn ra cuộc cách mạng t tởng Nó chỉ phát triển dới hình thức chúthích, diễn giải; chỉ có sự kế thừa, phát triển, không có sự phủ định cáchọc thuyết tiền bối

Hầu hết các trờng phái triết học ấn Độ cổ, trung đại đều có sự biến

đổi theo xu hớng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâmhay nhị nguyên Điều đó phản ánh sức ỳ của một xã hội dựa trên cơ sởcủa "Phơng thức sản xuất Châu á"

II- Lịch sử triết học Trung Quốc cổ, trung đại

1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trung Hoa là một nớc lớn ở miền Đông Châu á, phía Đông và ĐôngNam giáp biển; phía Nam, Tây- Nam đợc ngăn cách với các nớc Việt Nam,Lào, ấn Độ bởi những dãy núi cao hùng vĩ; tiếp xuống Trung Nguyên làvùng đồng bằng rộng lớn do các con sông Hoàng Hà, Hắc Thuỷ, Nhợc

20

Trang 21

Thuỷ, Lạc Thuỷ chuyên chở phù sa bồi đắp nên Trung Quốc thuộc vùngkhí hậu ôn đới, rất thuận lợi cho con ngời tồn tại và phát triển.

Lịch sử Trung Quốc cổ, trung đại có thể chia thành bốn thời kỳ chính:

Thời kỳ thứ nhất: thời kỳ hình thành và tồn tại xã hội nguyên thuỷ

Trung Quốc, khoảng thiên niên kỷ V trớc C.N, trở về trớc Trong thời kỳnày đợc chia thành hai giai đoạn:1/Giai đoạn viễn cổ Cho đến ngày nay ng-

ời ta còn biết quá ít về nó; song dựa vào những kết quả khai quật hoá thạchtrong lòng đất cho thấy: Ngời Vợn đã sinh sống ở Trung Quốc cách đâytrên dới một triệu năm Họ sống thành bầy đàn đợc phân chia theo huyếtthống 2/ Giai đoạn hình thành xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc(khoảng thiên niên kỷ IV tr C.N đến thiên niên kỷ II tr C.N) Giai đoạnnày gắn liền với các thủ lĩnh có tên tuổi ở Trung Quốc thời đó nh :Hoàng Đế; Nghiêu; Thuấn; Vũ

Đặc điểm kinh tế-xã hội của thời kỳ này

Về sản xuất vật chất: trình độ sản xuất còn rất lạc hậu, công cụ sảnxuất chủ yếu bằng gỗ, đá ở thời kỳ này ngời ta đã biết mài xơng động vậtlàm kim khâu, biết cách chăn nuôi, trồng trọt cùng với săn bắn, đánh cá.v.v

Về tổ chức xã hội: từ bầy ngời nguyên thuỷ, con ngời tiến lên sốngtrong các hình thức cộng đồng mới (thị tộc, bộ lạc) Cuối thời Hoàng Đế, đãxuất hiện tổ chức quản lý xã hội, đứng đầu là một ngời có uy tín, do thị tộc,

bộ lạc tín nhiệm bầu ra và đợc thay thế theo chế độ "thiện nhợng".(1)

Về đời sống văn hoá tinh thần: Chủ yếu là Tôtem giáo, Vật linh giáo,bên cạnh những truyền thuyết hoang đờng, thần bí, không có thật

Thời kỳ thứ hai: thời kỳ hình thành và tồn tại của xã hội Nô lệ Trung

Quốc Thời kỳ này tồn tại khoảng hơn một ngàn năm, trải qua các triều đại:Hạ, Ân-Thơng và Chu

Về sản xuất vật chất, từ nhà Hạ đến nhà Chu (đặc biệt là Tây Chu) lựclợng sản xuất có bớc phát triển mạnh Thời nhà Hạ, nhà Ân ngời ta đã biếtdùng và chế tạo đồ sắt, biết dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi để gieotrồng, chăn nuôi Nhờ vậy, họ đã tạo ra đợc đời sống ổn định, sản xuất pháttriển Cuối đời Ân, xã hội Trung Quốc đã có sự phân chia giữa thành thị vànông thôn, có sự phân định và xác lập bờ cõi Đến đời Tây Chu, do thựchiện chính sách cải cách mới về kinh tế, hoàn thiện hệ thống thuỷ nông,phát triển các loại cây trồng, mở rộng quy mô sử dụng lực lợng sản xuất

đã làm cho lực lợng sản xuất và một số ngành thủ công nghiệp phát triểnmạnh mẽ Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất nô

lệ cũng từng bớc đợc hoàn thiện mà đỉnh cao là chế độ quốc hữu về t liệusản xuất và sức lao động nhà Chu Thời Tây Chu, nhà vua tự xng là "Thiêntử" thống trị toàn bộ đất đai và thần dân trong nớc Thiên tử thực hiện chế

độ phong hầu kiến địa cho ch hầu và họ hàng, thân tộc; ch hầu lại phongchức tớc, đất đai cho đại phu vì thế, mặc dù năng suất lao động có pháttriển, song đời sống ngời lao động vẫn rất khổ cực

Về chính trị-xã hội: chế độ thiện nhợng bị bãi bỏ, thay vào đó là chế

độ thế tập vơng vị Trong xã hội tầng lớp quý tộc đợc đề cao, ngời lao động

bị khinh rẻ, ngợc đãi Đây là nguyên nhân nẩy sinh mâu thuẫn đối khángtrong xã hội Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp quý tộc đã tôn giáo hoámột cách toàn diện hệ thống t tởng chính trị của mình Chúng cho rằng: sựbiến hoá của mọi sự vật, hiện tợng trong tự nhiên và trong đời sống xã hộicũng nh số phận của con ngời đều bị ý chí của trời và quỷ thần chi phối.Chúng tuyên bố là chịu mệnh trời để cai trị nhân dân trên mặt đất; mọi ngờichỉ có quyền phục tùng tuyệt đối, nếu không trời và quỷ thần sẽ trừngphạt

Về đời sống văn hoá tinh thần: do trình độ nhận thức và đời sống xãhội còn thấp, lại chịu ảnh hởng tuyên truyền của giai cấp quý tộc làm cho

đời sống tâm linh, tôn giáo thời kỳ này có sự phát triển mạnh Tô tem giáo

và tín ngỡng vật linh giáo đã mất hết giá trị, thay vào đó là những tín ngỡng

21

Trang 22

tôn giáo thần bí với các biểu tợng về "Thợng đế, Thần linh, Linh hồn tổtiên" Theo họ đây là gốc gác của con ngời; muốn có đời sống yên lành cầnphải tế lễ chu đáo Không chỉ thế, họ còn tin rằng, con ngời có thể thông đạtvới những lực lợng linh thiêng đó bằng thuật chiêm tinh, bói toán

Bên cạnh sự phát triển của tôn giáo, do nhu cầu của sự phát triển xãhội nói chung và sản xuất vật chất nói riêng, ở thời kỳ này khoa học cũng

có sự phát triển nhất định Ngời ta đã phát minh ra chữ viết, ghi việc bóitoán lên xơng thú, mai rùa, gọi là "văn giáp cốt" Họ đã quan sát sự vậnhành của mặt trăng và nhận biết đợc vị trí của nhiều ngôi sao, tính đợc chu

kỳ của thuỷ triều, tìm ra quy luật sinh trởng của cây trồng mà làm ra âmlịch Họ cũng đã dựa trên hệ thống 10 (can), 12 (chi) phối hợp để tính ngày,giờ, tháng, năm và bốn mùa, sáng tạo ra lịch pháp để phục vụ cho sản xuất

Thời kỳ thứ ba: sự tàn lụi của xã hội nô lệ và sự hình thành xã hội

phong kiến Trung Quốc (khoảng từ thế kỷ V tr C.N đến cuối thế kỷ III tr.C.N), còn đợc gọi là thời kỳ Xuân thu-Chiến quốc

Đặc điểm kinh tế-xã hội của thời kỳ này

Về sản xuất vật chất: trong thời kỳ này, do sử dụng công cụ bằng sắt

và dùng bò kéo cày đã khá phổ biến, tạo điều kiện cho việc khai khẩn đấthoang, hoàn thiện kỹ thuật canh tác ruộng đất và kỹ thuật "dẫn thuỷ nhập

điền", góp phần nâng cao năng suất lao động (trong nông nghiệp) Thủcông nghiệp có bớc phát triển mới, đặc biệt ở sự phân công lao động vàchuyên môn hoá sản xuất, tạo ra một loạt ngành nghề mới bên cạnh cácnghề cổ truyền nh nghề luyện kim, nghề đúc và rèn sắt, nghề mộc, xây,thuộc da, nhuộm v.v

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp, thơng nghiệpbuôn bán cũng phát triển hơn Do phát triển sức sản xuất xã hội, đất do ngờidân vỡ hoang trở thành ruộng t ngày càng tăng thêm Bọn quý tộc có quyềnthế chiếm đoạt ruộng đất ngày càng nhiều Chế độ sở hữu t nhân vềruộng đất hình thành Thời Chiến quốc kinh tế tiếp tục phát triển, do cóchế độ mua bán ruộng đất tự do Bọn quý tộc, th ơng nhân đã chiếm đợcnhiều ruộng đất của nông dân, trở thành những địa chủ lớn, chúngchuyển sang hình thức mớn nhân công và cho phát canh thu tô Quan hệphong kiến nông nô xuất hiện dần dần chiếm u thế trong đời sống xãhội

Về chính trị-xã hội: đây là thời kỳ phong kiến hoá xã hội Trung Quốc

Do sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là sự xuất hiện của tầng lớp mới, có thữu tài sản, có địa vị kinh tế trong xã hội đã làm cho quyền lực nhà Chungày một suy giảm Suốt thời Xuân thu, mệnh lệnh của thiên tử không còn

đợc tuân thủ, trật tự, lễ nghĩa, cơng thờng xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi

"vơng đạo suy vi, bá đạo trị vì" Các nớc ch hầu đua nhau động binh gâychiến tranh thôn tính lẫn nhau hết sức tàn khốc Chiến tranh liên tục và tànkhốc làm cho đời sống nhân dân vốn đã cùng cực lại càng cùng cực hơn,trật tự xã hội bị đảo lộn, lòng dân ly tán Mạnh Tử viết:"Đánh nhautranh thành, thì giết ngời thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, thìgiết ngời thây chết đầy đồng" ("Mạnh Tử", Ly lâu thiên14)

Về đời sống tinh thần xã hội: chính trong thời đại lịch sử chuyển biếnsôi động đó đặt ra nhiều vấn đề về xã hội, con ngời , buộc các nhà t tởngphải quan tâm lý giải Và kết quả là hàng loạt hệ thống các quan điểm vềchính trị-xã hội, triết học, đạo đức, đã xuất hiện Sự phong phú, đa dạng

đó thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống văn hoá, tinh thần xãhội Trung Quốc cổ đại.Vì thế thời kỳ này còn đợc gọi là thời kỳ " bách giatranh minh"

Thời kỳ thứ t :thời kỳ xã hội phong kiến Trung Quốc từ thế kỷ III trớc

C.N đến trớc cách mạng Tân Hợi 1911

Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, xã hội phong kiến TrungQuốc chính thức hình thành Do chính sách cai trị hà khắc của Tần Thuỷ

22

Trang 23

Hoàng, nhà Tần chỉ tồn tại đợc 15 năm Nhà Hán thay thế, xã hội phongkiến Trung Quốc đi vào ổn định và phát triển Xã hội phong kiến phát triểncực thịnh ở đời Tống và từ đó bắt đầu đi vào thời kỳ suy tàn.

Đặc điểm kinh tế-xã hội của thời kỳ này

Về kinh tế: từ Tần đến Đờng là thời kỳ tiếp tục hoàn thiện quan hệ sảnxuất phong kiến, hình thái sở hữu ruộng đất lớn tiếp tục đợc củng cố và cóchiều hớng gia tăng Tầng lớp đại địa chủ, quan liêu quý tộc tiếp tục củng

cố địa vị thống trị của mình Đến đời Tống, quan hệ sản xuất phong kiến

đạt đến đỉnh điểm của sự phát triển và bắt đầu suy tàn Hình thái sở hữu lớn

về ruộng đất dới hình thức "điền trang","thái ấp" trở thành hình thái sở hữuthống trị Phơng thức bóc lột chuyển sang phơng thức ngời nông dân phụthuộc trực tiếp vào chúa phong kiến; chúa phong kiến thực hiện bóc lộtnông dân bằng địa tô là chủ yếu ở thời kỳ này, thành thị và kinh tếcông-thơng nghiệp cũng có sự phát triển mạnh mẽ Nghề in, đúc thép,dệt vải, làm giấy đều có sự tiến bộ mới Tầng lớp chủ các công tr ờngthủ công, các thơng nhân ngày một nhiều, những mầm mống ban đầucủa quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đã xuất hiện

Về chính trị xã hội: ở thời kỳ này, xã hội Trung Quốc phát triển tơng

đối ổn định Kết cấu xã hội về cơ bản vẫn gồm hai giai cấp: nông dân và địachủ, ngoài ra còn xuất hiện một số tầng lớp khác nh chủ các công trờng thủcông, các thơng nhân Đây là thời kỳ hoàn thiện nhà nớc phong kiến trung

ơng tập quyền Để củng cố địa vị thống trị của mình, nhà nớc phong kiến đãchia quốc gia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính quận, huyện

Về đời sống văn hoá tinh thần xã hội: do xã hội không có sự phát triển

đột biến về cơ sở kinh tế và kiến trúc thợng tầng nên bộ mặt đời sống tinhthần ở thời kỳ này nghèo nàn hơn nhiều so với thời kỳ Xuân thu-Chiếnquốc Các trào lu t tởng mới hầu nh không xuất hiện, mà chủ yếu là kế thừa,khai thác và phát triển các trào lu t tởng lý luận của các thời kỳ trớc Thậmchí, để bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ, phong kiến, các nhà t tởng thời

kỳ này còn có biểu hiện xuyên tạc một cách cực đoan, phủ nhận những giátrị của những t tởng cổ truyền

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh, phát triểncủa t tởng triết học Trung Quốc gắn liền với quá trình biến đổi của điềukiện kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học Triết học Trung Quốc cổ,trung đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ II, đầu thiên niên kỷ I trớc C.N vàphát triển rực rỡ nhất ở thời kỳ Xuân thu-Chiến quốc Đặc trng chủ yếu nhấtcủa t tởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại là đều có xu hớng giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn chính trị-đạo đức của xã hội Song, nó cũng đặt ra vàgiải quyết những vấn đề triết học khác nh: vấn đề về bản nguyên của thếgiới; vấn đề cơ bản của triết học; vấn đề con ngời

2 Những t tởng triết học cơ bản của các trờng phái

a) Thuyết âm-dơng, ngũ hành

Thuyết Âm dơng và thuyết Ngũ hành là hai trào lu t tởng triết họcTrung Quốc đã đợc lu truyền từ trớc thời Xuân thu-Chiến quốc Tới Xuânthu- Chiến quốc những t tởng này đạt tới mức trở thành một hệ thống cácquan điểm về bản nguyên và sự vận động của vũ trụ Lý luận Âm dơng-Ngũ hành có ảnh hởng rất sâu sắc đến các trờng phái cũng nh các cá nhânnhững nhà t tởng Trung Quốc kể cả duy vật lẫn duy tâm cổ, trung đại

Âm dơng-Ngũ hành có chung một gốc, đó là tìm hiểu và giải thíchcăn nguyên và cơ cấu của vũ trụ với quan điểm duy vật chất phác và t tởngbiện chứng tự phát, lấy chính t nhiên để giải thích tự nhiên Song giữa haithuyết này cũng có nét độc lập tơng đối

T tởng triết học Âm dơng, có thiên hớng suy t về nguyên lý vận hành

đầu tiên và phổ biến của vạn vật, đó là sự tơng tác của hai thế lực đối lậpnhau: Âm và Dơng

23

Trang 24

"Âm" là một phạm trù rất rộng; phản ánh khái quát những thuộc tínhphổ biến của vạn vật nh mềm, yếu, thấp, tối, ẩm ớt, giống cái, số chẵn "D-

ơng" là phạm trù đối lập với "Âm", phản ánh các thuộc tính nh: rắn, mạnh,cao, sáng, khô ráo, giống đực, số lẻ

Âm - Dơng thống nhất trong Thái cực, thể hiện nguyên lý về sự thốngnhất của hai mặt đối lập Hai thế lực này tuy đối lập, song chúng không tồntại độc lập mà luôn thống nhất với nhau trong mỗi sự vật, hiện tợng Sự tác

động qua lại giữa chúng làm cho mọi sự vật, hiện tợng vận động và biến đổikhông ngừng

Âm dơng đảo đổi cho nhau theo các quy luật: âm thịnh, dơng suy;trong âm có dơng, trong dơng có âm; quan hệ âm dơng tuy tơng phảnnhng không loại trừ, phủ định nhau mà là tơng giao, tơng thành, tơng cầu, t-

ơng ứng

T tởng triết học Ngũ hành, có xu hớng phân tích cấu trúc của vạn vật

và quy nó về những yếu tố khởi nguyên, với những tính chất khác nhau,những tơng tác (tơng sinh, tơng khắc, tơng thừa, tơng vũ) với nhau Đó lànăm yếu tố Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ gọi là Ngũ đại

Ngũ hành không chỉ biểu hiện ở những hiện tợng tự nhiên, mà cònbiểu hiện cả tính chất, năng lực của con ng ời cũng nh các quan hệ xãhội và những biến cố lịch sử

Các yếu tố của ngũ hành không tồn tại tĩnh, mà chúng là những yếu tố

động, liên hệ, tơng tác thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau Sự tơng tác lẫnnhau của ngũ hành theo nguyên tắc "tơng sinh","tơng khắc"

Tơng sinh là sinh hoá cho nhau: thổ sinh kim; kim sinh thuỷ; thuỷ sinhmộc; mộc sinh hoả; hoả sinh thổ v.v

Tơng khắc là quá trình các yếu tố của ngũ hành chế ớc lẫn nhau: mộckhắc thổ; thổ khắc thuỷ; thuỷ khắc hoả; hoả khắc kim; kim khắc mộc v.v

Sự hợp nhất Âm dơng-Ngũ hành còn đợc thể hiện ở chỗ, bản thânmỗi hành đều là sự thống nhất âm dơng, xét cho cùng sự vận động củaNgũ hành cũng chính là sự vận động của âm dơng, và ngợc lại, sựthống nhất âm dơng cũng thuộc về các hành nhất định Sự đảo đổi của

âm dơng làm cho các hành vận động Học thuyết Âm dơng-Ngũ hành

đợc thể hiện đặc biệt rõ nét trong tác phẩm " kinh dịch", một tác phẩm

cổ điển nhất của Trung Quốc thời cổ , một cuốn kỳ th của thế giới Chỉvới hai vạch âm (nét đứt), dơng (nét liền) đảo đổi cho nhau mà ngờiTrung Quốc có thể giải thích đợc mọi sự sinh thành, vận động, biến đổicủa vũ trụ, nhân sinh

b) T tởng triết học Nho gia (Nho giáo)

Nho gia ra đời vào khoảng thế kỷ VI trớc C.N, do Khổng Tử (551-479T.C.N), nhà t tởng vĩ đại của Trung Quốc thời cổ sáng lập Đến thời Chiếnquốc, nho gia đợc Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai h-ớng khác nhau, trong đó dòng nho Khổng-Mạnh có ảnh hởng rộng và lâudài nhất trong lịch sử Trung Quốc và một số nớc lân cận

Kinh điển của Nho gia gồm Tứ th (Trung dung, Đại học, Luận ngữ vàMạnh tử), ngũ kinh (Lễ, Dịch, Thi, Th và Xuân thu)

Qua hệ thống kinh điển của nho giáo cho thấy, hầu hết các kinh vàsách viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Quốc Điều đóchứng tỏ xu hớng biện luận về xã hội, về chính trị, đạo đức là những t tởngcốt lõi của nho giáo Đơng nhiên, nói nh vậy không có nghĩa nho giáokhông bàn đến những vấn đề thuộc về thế giới tự nhiên

T tởng triết lý nho gia thể hiện trên những phơng diện: bản thể luận;triết học chính trị-xã hội và học thuyết về giáo dục

Về bản thể luận

Nho gia cho rằng, vạn vật trong vũ trụ luôn sinh thành, biến hoá khôngngừng theo đạo của nó Tuy nhiên , bên cạnh việc giải thích nguồn gốc vũtrụ nh vậy, nho giáo còn thừa nhận có trời và quỷ thần

24

Trang 25

Trời, theo nho gia là lực lợng có ý chí, làm chủ của vũ trụ, chi phốimọi sự biến hoá cho hợp lẽ điều hoà Khổng Tử nói:" Đạo của ta thi hành ra

đợc cũng do mệnh trời, mà bị bỏ phế vong cũng do mệnh trời" ("Luậnngữ", Hiến vấn, 38); T Mã Thiên viết:"Phù thiên giả, nhân chi thuỷ dã"nghĩa là (trời là thuỷ tổ của con ngời); trời là cái bất biến, cùng mục đíchvới con ngời, con ngời có thể hiểu đợc trời đất

Khổng Tử cũng tin có quỷ thần và cho rằng, quỷ thần là do khí thiêngcủa trời đất tạo thành, tuy mắt ta không nhìn thấy, tai ta không nghe thấyv.v nhng dờng nh lu động trong đầu ta, ở bên phải ta, bên trái ta, đâu đâucũng có".(Trung dung", 16) Song, Ông lại cho rằng, quỷ thần không có tácdụng chi phối đời sống con ngời Vì vậy, ông phê phán mê tín, sùng bái quỷthần, kêu gọi mọi ngời hãy chú trọng vào việc làm của mình

Nh vậy, trong quan điểm về thế giới, t tởng Nho gia có tính chấtmâu thuẫn Một mặt, giải thích thế giới đi từ chính bản thân thế giới, đó

là yếu tố duy vật chất phác và t tởng biện chứng tự phát Mặt khác, lạithừa nhận có lực lợng siêu tự nhiên chi phối, quyết định sự tồn tại, vận

động và phát triển của sự vật, của con ngời, đó lại là những yếu tố duytâm Thực chất mâu thuẫn trong t tởng, lý luận nho gia chính là phản

ánh mâu thuẫn của xã hội lúc đó

Hoc thuyết về đạo đức, chính trị, xã hội

Từ quan niệm trời là cái bất biến, cùng mục đích với nhân loại, nhogia chủ trơng xây dựng, tổ chức đời sống xã hội theo đạo trời ( nền thiêntrị)

T tởng "thiên trị" thể hiện ở chỗ: lấy trời làm cứu cánh cho việc trịnớc (vua thay trời hành đạo), trị nớc theo luật của tự nhiên "thiên tạo",còn các luật do con ngời đặt ra "nhân tạo" đều cố hết sức tránh, nếu bất

đắc dĩ phải lập ra, thì chỉ cốt dùng tạm thời "Dùng hình pháp cốt mongsao bỏ đợc hình pháp"

Nho gia cho rằng một xã hội thịnh trị khi, xã hội đó có chủ nghĩa, cótôn ti trật tự trên dới,có đờng lối tổ chức, dân chúng đợc giáo hoá, thuận trời

đất, lòng ngời Ngợc lại, xã hội sẽ loạn, khi, lòng ngời xa rời đạo lý, khinhthị cơng thờng, vua không ra vua, tôi không ra tôi, xã hội không còn tôn titrật tự

Để đổi loạn thành trị, Nho gia chủ trơng thuyết "chính danh".Khổng Tử giải thích:"Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng"("Luận ngữ", Nhan Uyên, 1) "Chính danh" thì ngời nào có địa vị, bổnphận chính đáng của ngời ấy, trên dới, vua tôi, cha con trật tự phânminh Và, muốn trị nớc, trớc tiên "ắt phải sửa cho chính danh", vì nếu

"danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việckhông thành, việc không thành thì lễ nhạc không hng thịnh, lễ nhạckhông hng thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thìdân không biết đặt tay làm, đặt chân đứng vào đâu"

Để thực hiện chính danh, Nho gia chủ trơng "tu thân" theo ngũluân, ngũ thờng

Ngũ luân là năm mối quan hệ Quân-Thần, Phụ-Tử, Phu-Phụ, Côn-Đệ,Bằng-Hữu Trong năm mối quan hệ đó có ba mối quan hệ rờng cột (Quân-

Thần, Phụ-Tử, Phu-Phụ) gọi là tam cơng Nguyên tắc tu thân theo ngũ luân

đòi hỏi: Quân nhân- thần trung, phụ từ- tử hiếu, phu nghĩa- phụ thính,huynh lơng- đệ đễ, và bằng hữu phải thành tín

Ngũ thờng là năm phẩm chất của con ngời (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín),trong tu thân cần rèn luyện Trong việc trị nớc, tu thân, Khổng Tử đặc biệtquan tâm đến đức "nhân" và"lễ"

"Nhân" là đức tính toàn thiện, là cái gốc đạo đức của con ng ời Chữ

"nhân" theo Nho gia bao hàm một nội dung hết sức rộng rãi Một họctrò hỏi Khổng Tử,"thế nào là nhân", ông trả lời: "thơng ngời là nhân","

điều gì mà mình không muốn thì đừng đem áp dụng cho ngời khác" (kỷ

25

Trang 26

sở bất dục, vật thi nhân) là nhân; "mình muốn lập thân, thì cũng giúpngời lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp ng ời thành đạt"("Luận ngữ", Ung Giã, 28) là nhân Có chỗ Khổng Tử lại nói:" nhân làthơng yêu ngời", nhân là " tôn trọng ngời hiền, nhân là lòng ngời, tìnhngời, là quan hệ giữa ngời với ngời" v.v.

"Lễ" là những phong tục, tập quán, những quy tắc quy định trật

tự xã hội và cả thể chế pháp luật nhà nớc, nh: sinh, tang, tử, hôn, tế

lễ, triều sinh, luật lệ, hình pháp

"Lễ" quan hệ chặt chẽ với "nhân" "Nhân" là chất, là nội dung, "lễ" làhình thức biểu hiện của "nhân" Vì thế để đạt đợc "nhân" Khổng Tử khuyêncon ngời ta:" chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ

và chớ làm điều trái lễ" ("Luận ngữ", Nhan Uyên, 1)

Theo Nho gia, ngời muốn đạt đức nhân còn phải là ngời có"trí"và"dũng" Có thể có ngời"trí" mà không "nhân", nhng không thể là "nhân"

mà thiếu "trí" Nhng vì tin theo "Thiên mệnh", nên trong quan niệm về "trí",

một mặt, Khổng Tử tin rằng, "con ngời sinh ra tự nhiên biết đợc đạo lý, là

hạng ngời cao thợng" ("Luận ngữ", Quý Thị, 9); mặt khác, ông lại quan

niệm trí không phải ngẫu nhiên mà có, nó chỉ đợc hình thành khi ngời tatrải qua quá trình học tập tu dỡng Vì thế, ông chủ trơng "hữu giáo vô loại"("Luận ngữ", Vệ Linh Công, 30), nhng ông lại quan niệm "đối với dân, việcgì cần làm thì cứ sai khiến ngời ta làm, không nên giảng giải vì dân không

có khả năng hiểu đợc nghĩa lý sâu xa " Rõ ràng, đằng sau quan điểm hợp

lý của Khổng Tử, lại ẩn dấu sự phân biệt thứ bậc đẳng cấp xã hội mà ônghầu nh không thể thoát ra khỏi thiên kiến và sự ràng buộc đó

Để xây dựng một xã hội thực sự yên bình, Nho gia đặt ra yêu cầu rấtcao đối với việc "tu thân" của các bậc đế vơng, hiền thần Quan niệm củaNho gia, Đế vơng là ngời quán tam tài, nối kết (Trời-Đất-Ngời) ảnh hởngcủa Đế vơng sẽ qua các trung gian hiền thần mà thấu đến bách tính Báchtính hấp thụ đợc ảnh hởng ấy sẽ đợc giáo hoá, sẽ đợc hoàn cải(1)

Nh vậy, quan niệm về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội của Khổng Tử

có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vàomọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp những vấn đề

đặt ra của lịch sử Song, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp,học thuyết của ông luôn chứa đựng những mâu thuẫn, giằng co, đan xengiữa những yếu tố duy vật, vô thần và những yếu tố duy tâm, giữa những t t-ởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng của ông trớcbiến chuyển của thời cuộc

Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông tiếp tục đợc các thế hệ sau

lu giữ và phát triển, trở thành một trờng phái lớn ở Trung Quốc Học thuyếtcủa ông đợc các giai cấp thống trị cải biến và dùng làm t tởng chính thốngcủa nhiều triều đại nh: Hán, Đờng, Tống, Minh, Thanh những ngời cócông bảo vệ, bổ sung và phát triển t tởng Nho gia là: Mạnh Tử Tuân Tú(cuối Xuân thu-Chiến quốc); Đổng Trọng Th (thời Hán); Chu Đôn Di, Tr-

ơng Tải, Trình Hạo, Trình Di (thời Tống)

c/ T tởng triết học Đạo gia

Đạo gia là một trong bốn trờng phái triết học lớn trong lịch sử t ởng Trung Quốc thời Xuân thu-Chiến quốc ( Đạo gia; Nho gia; Mặc gia;Pháp gia)

t-Ngời sáng lập Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI trớc C.N), cùngthời với Khổng Tử Toàn bộ t tởng của Lão Tử đợc thể hiện cô đọng trongtác phẩm " Đạo Đức Kinh", ở đó bàn về những vấn đề cơ bản nh: bản thểluận, nhận thức luận, học thuyết "vô vi" hay những vấn đề đạo đức nhânsinh, chính trị - xã hội

( 1) Xem: "Cửu trù" trong thiên Hồng phạm của Kinh th; "Cửu kính" trong Trung dung.

26

Trang 27

Về bản thể luận

Từ quan sát sự vận chuyển của vạn vật trong thế giới, Lão Tử đã rút

ra quy luật về sự biến hoá của tự nhiên, đề ra học thuyết "đạo" để giảithích nguồn gốc hình thành vạn vật Ông cho rằng mọi sự sinh thành,biến hoá của vạn vật đều từ "đạo" mà ra

"Đạo" là cái bản nguyên sâu kín, huyền diệu,là thực thể vật chất củakhối "hỗn độn", "mập mờ", "thấp thoáng", không có đặc tính, không cóhình thể, "nhìn không nhìn thấy, nghe không nghe thấy, bắt không bắt đợc"("Đạo Đức Kinh", Chơng 14) Đạo có trớc trời đất, là cái từ đó vạn vật sinh

ra, có danh tính, có hình thể " đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, basinh vạn vật" (" Đạo Đức Kinh", Chơng 42) Theo Lão Tử, gắn với "đạo"còn có "đức" Đức là biểu hiện của "đạo" trong hiện thực Ông nói: "đạolàm cho vạn vật sinh trởng, đức làm cho vạn vật tơi tốt"

Nh vậy, "đạo" theo quan điểm của Lão Tử là một phạm trù khái quát,

nó không chỉ một sự vật, hiện tợng cụ thể hữu hình nào, mà là cái tất cả,mọi sự vật, hiện tợng sinh ra từ đó, là cái tồn tại vĩnh viễn, bất biến Vạn vật

dù muôn hình, muôn vẻ cũng chỉ là sự biểu hiện khác nhau của một cái duynhất đó là "đạo" và "đạo" không tồn tại ở đâu ngoài các sự vật hữu hình,hữu danh, đa dạng,vô cùng, vô tận Vì thế, "đạo" vừa duy nhất, vừa thiênhình, vạn trạng; vừa biến hoá, vừa bất biến Quan điểm nh vậy hoàn toàn

đối lập với quan điểm của Khổng, Mặc Khổng, Mặc tin có trời, trời là tốinhân Lão thì ngợc lại, cho rằng không có ý trời, chỉ có đạo vô cùng, vôhạn, không thể huỷ diệt; ấy là tính tự nhiên của vạn vật Quan điểm này đã

đa Lão Tử lên địa vị những ngời đầu tiên xác lập quan điểm duy vật ở thờiTrung Quốc cổ đại

ở Lão Tử còn có t tởng biện chứng sơ khai, khi ông quan niệm rằngmọi vật luôn luôn biến đổi và bất cứ sự vật, hiện tợng nào cũng đều là sựthống nhất của hai mặt đối lập, vừa xung khắc với nhau, lại vừa dựa vàonhau và liên hệ, ràng buộc, bao hàm lẫn nhau "Trong vạn vật, không vậtnào không cõng âm, bồng dơng" ("Đạo Đức Kinh", Chơng 58) hay "hoạ làchỗ tựa của phúc, phúc là chỗ náu của hoạ" ("Đạo Đức Kinh", Chơng 58)

Sự vận động của vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến: quy luật quânbình và quy luật phản phục Luật quân bình giữ cho vận động luôn luôn đợcthăng bằng, theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không có cái gì thái quáhoặc bất cập Phản phục có nghĩa là vạn vật biến hoá nối tiếp nhau theo mộtvòng tuần hoàn đều đặn, nhịp nhàng, bất tận nh bốn mùa xuân, hạ, thu,

đông đảo đổi cho nhau

Về nhận thức luận

Đạo gia chủ trơng thuyết "Vô Danh" Lão Tử cho rằng, khái niệm("Danh") chỉ là tơng đối, hữu hạn, không phải là cái "thờng" tuyệt đối; mọikhái niệm "Danh" chẳng qua chỉ là sự so sánh, quy định nhau (tốt là so vớixấu, trắng là so với đen ) và Lão Tử đi đến kết luận "cái tên" ("Danh") cóthể nói ra đợc không phải là tên vĩnh hằng không thay đổi, cái tên ("Danh")không nói ra mới là tên vĩnh hằng, đúng nhất ở đây, mặc dù sự suy luậncủa Lão Tử còn chất phác, lập luận cha có cơ sở khoa học, nhng rõ ràng đã

có yếu tố biện chứng trong lý luận nhận thức Lão Tử đã nhận ra sự "đồngnhất" giữa ý thức chủ quan và tự nhiên khách quan trong quá trình nhậnthức chân lý Tuy nhiên, trên lĩnh vực này, Lão Tử cũng thể hiện nhiềuhạn chế, không tránh khỏi quan điểm duy tâm về nhận thức Ông khảng

định, không thể nhận thức thông qua khái niệm, mà phải bằng ph ơngpháp tởng tợng trực giác Ông phủ nhận cực đoan chân lý t ơng đối trongquá trình nhận thức; xem nhẹ nhận thức cảm giác kinh nghiệm, thậmchí có xu hớng thần bí hoá nhận thức: "không ra khỏi nhà mà biết việcthiên hạ, không nhìn ra ngoài cửa, mà thấy đ ợc đạo trời, càng đi xa càng

ít biết", ("Đạo Đức Kinh", Chơng 47)

Về những vấn đề đạo đức nhân sinh, chính trị-xã hội

27

Trang 28

Mở rộng quan điểm về "đạo" vào đời sống xã hội, Lão Tử đề xuất họcthuyết "vô vi", qua đó ông trình bày những quan điểm của mình.

"Vô vi" theo nghĩa thông thờng là "không làm gì", nhng trong triết họcLão Tử thì "vô vi" là sống, hoạt động theo bản tính tự nhiên của "đạo", tức

là " không làm gì cả, mà không gì không làm" Theo đạo "vô vi", Lão Tửlên án bọn quan lại, cờng hào áp bức dân lành, lên án sự bất công trong xãhội Sách Đạo Đức Kinh viết: "Nhân dân sở dĩ đói rét là do kẻ cầm quyềnthu thuế nặng; nhân dân sở dĩ khó cai trị vì kể cầm quyền tích cực hữu vi".Cũng từ học thuyết "vô vi", Lão Tử chủ trơng bỏ hết những gì trái với

tự nhiên trong phép trị nớc Ông nói: "Nếu ta vô vi, nhân dân tự nhiên sẽhoá theo; nếu ta thích yên lặng, nhân dân tự nhiên sẽ ngay thẳng; nếu ta tiêucực không làm gì thì nhân dân tự nhiên sẽ giàu có" Ngời làm việc trị dânphải "mu việc khó ở chỗ dễ, làm việc lớn ở chỗ nhỏ", "đóng giỏi không cầnkhoá mà không mở đợc"

Chính trị của Lão Tử là hoà bình, chống chiến tranh: "Chỗ nào đóngquân, chỗ đó gai góc mọc đầy" "Binh khí tốt là đồ không lành, bất đắc dĩmới dùng" "Khoe khoang chiến thắng tức là thích giết ngời" "Muốn choyên tĩnh, hoà bình thì phải làm cho nớc nhỏ đi, dân tha đi; phải làm chonhân dân suốt đời không cần đi đâu xa, tuy có xe mà không cần đi xa, tuy

có giáp binh mà không cần mặc; phải làm cho nhân dân trở lại dùng cáchthắt nút để thay chữ viết"

T tởng của Lão Tử về bản thể luận, nhận thức luận và về đạo đức nhânsinh, chính trị-xã hội là rất sâu sắc và độc đáo Với trình độ t duy trừu tợngcao, những t tởng ấy đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển t tởng triết họcPhơng Đông nói chung và triết học Trung Quốc nói riêng

Sau khi Lão Tử mất, học thuyết của ông đã đợc các thế hệ sau tiếp tụcphát triển Tiêu biểu là Trang Tử thời Chiến Quốc (369-286 trớc C.N.) Nh-

ng Trang Tử đã gạt bỏ những yếu tố duy vật của Lão Tử, đẩy những yếu tốduy tâm trong học thuyết "Đạo gia" đến cực đoan Với Trang Tử, "Đạo" là

"thiên cơ" Vô vi trở thành xuất thế Biện chứng trở thành nguỵ biện Chínhthế giới quan duy tâm đó đã phản ánh tâm lý sợ sệt trớc hiện thực tàn khốccủa cuộc chiến tranh thời Chiến Quốc của Trang Tử mà tầng lớp ông đãhoàn toàn bất lực, tìm chỗ ẩn náu sâu kín trong thế giới tinh thần

d) T tởng triết học Mặc gia

Mặc gia là một trong bốn trờng phái triết học lớn ở Trung Quốc thờiXuân thu-Chiến quốc Ngời sáng lập trờng phái triết học này là Mặc Tử( khoảng 479 đến 381 trớc C.N) Mặc Tử họ Mặc, tên Địch, ngời nớc Lỗ,từng làm quan đại phu nớc Tống Học thuyết Mặc gia khác với Đạo gia và

đối lập với Nho gia cả về nội dung t tởng lẫn chủ trơng về nền tảng xã hội

Về bản thể luận

Quan điểm của Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần Ông cho rằng,mọi biến đổi của tự nhiên, xã hội đều do ý chí của trời, quỷ thần quyết định.Theo ông, trời là một đấng anh minh, có ý chí, có nhân cách và quyền lựctối cao Trời chiếu sáng cho vạn vật, tạo ra và nuôi dỡng muôn loài Trờixoay vần bốn mùa, sinh ra các tiết, tạo ra muôn loài Trời luôn yêu thơng vàlàm lợi cho tất cả

Về nhận thức luận

T tởng triết học về nhận thức của Mặc Tử có yếu tố duy vật Ông coitrọng kinh nghiệm cảm giác, đề cao vai trò của nhận thức cảm giác trongquá trình nhận thức của con ngời Ông cho rằng phàm là cái gì mà lỗ tai,con mắt không cảm nhận đợc là không tồn tại Tuy nhiên ông đã khôngphân biệt đợc cảm giác đúng, cảm giác sai và vai trò của chúng trong quátrình nhận thức, vì vậy ông khảng định tởng tợng, ảo giác của con ngờicũng là cảm giác đúng, và lấy đó để chng minh rằng có thần linh Nh vậy,

ông đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm, hữu thần Ông đa ra thuyết "tam biểu"nổi tiếng; ông khảng định: muốn ngôn luận, suy nghĩ chính xác phải căn cứ

28

Trang 29

vào ba biểu là: có "cái gốc" của nó, có "cái nguồn" của nó, có "cái dụng"của nó Ông giải thích rằng "cái gốc" tức là xem xét việc làm của thánh v-

ơng đời xa nếu thấy đúng thì làm, nếu thấy sai thì bỏ; "cái nguồn" của nó làxét đến cái thực của tai mắt trăm họ ( tức là xem xét có phù hợp với thực tếkhách quan hay không); " cái dụng" của nó là xem có lợi cho nhà nớc, nhândân hay không

Về chính trị-xã hội

Xuất phát từ lập trờng của ngời lao động, của một giai tầng đang lên,cho nên trong học thuyết về chính trị-xã hội của Mặc Tử có nhiều điểm tiến

bộ, cho dù còn nhiều ảo tởng và duy tâm Ông khẳng định: "ý trời" là

"muốn ngời ta cùng thơng yêu nhau, cùng làm lợi cho nhau", cho nên ôngchủ trơng "kiêm ái"

"Kiêm ái" là yêu hết thảy mọi ngời, không phân biệt thân-sơ, tiện, trên-dới, yêu ngời nh yêu mình Theo Mặc Tử, "kiêm ái là cái đảocủa thánh nhân, là cái gốc của mọi đức con ngời; thi hành tốt "kiêm ái"thì vua chúa ắt có lòng huệ, bề tôi ắt có lòng trung, cha mẹ ắt có lòng

quý-từ, con ắt có lòng hiếu, anh ắt có lòng thơng, em ắt có lòng kính ("MặcTử", Kiêm ái trung)

Tóm lại, Mặc Tử là ngời sáng lập ra trờng phái triết học có ảnh hởnglớn đến sinh hoạt xã hội Trung Quốc cổ đại Triết học của ông về cơ bản làduy tâm thần bí, nhng trong học thuyết của ông cũng có những yếu tố duyvật, nhất là đóng góp của ông về mặt nhận thức luận, với phép "tam biểu".Thái độ của Mặc Tử đối với tín ngỡng tôn giáo cổ đại thực chất là biểu hiệntính chất thoả hiệp và nhu nhợc của tầng lớp tiểu t hữu bị phá sản ở thời kỳchiếm hữu nô lệ đang suy tàn của xã hội Trung Quốc cổ đại

Sang thời kỳ Chiến quốc, học thuyết triết học của Mặc Tử bị các trờngphái triết học khác phê phán gay gắt; để bảo vệ và phát triển t tởng của Mặc

Tử, một môn phái triết học thời kỳ Chiến quốc ra đời đợc gọi là trờng pháitriết học Hậu Mặc

Các nhà triết học Hậu Mặc, đã loại bỏ thế giới quan tôn giáo của Mặc

Tử, đồng thời phát triển những t tởng duy vật về thế giới Theo họ, hình tháicủa sự vật dù có thay đổi thế nào, tồn tại vật chất cũng không hề thay đổi.Thời gian, không gian liên hệ khăng khít với sự vận động của cơ thể, vậtchất vận động trong không gian, thời gian

Đặc biệt, các nhà triết học Hậu Mặc đã phát triển nhân tố duy vậttrong nhận thức luận của Mặc Tử thời kỳ đầu và đã xây dựng nên họcthuyết về nhận thức trên quan điểm duy vật để đấu tranh với các học thuyếtnguỵ biện và chủ nghĩa duy tâm

Mặc dù trong học thuyết của phái hậu Mặc còn có khuynh hớng chủnghĩa máy móc và siêu hình, nhng t tởng triết học của họ đã đạt tới một hệthống hoàn chỉnh, nhất là trong lý luận nhận thức, lôgích học Học thuyếtcủa họ là sự phản ánh trình độ phát triển của khóa học tự nhiên thời bấy giờ

và là đại biểu cho lợi ích của tầng lớp công thơng nghiệp đang trên đà pháttriển độc lập, đối lập với quan điểm và quyền lợi của giai cấp quý tộc cũ đ-

ơng thời ở Trung Quốc cổ đại

d) T tởng triết học Pháp gia

Trong lịch sử t tởng triết học Trung Quốc cổ đại, một trong những ờng phái có ảnh hởng đến sự thống nhất về t tởng và chính trị của xã hộiTrung Quốc là t tởng Pháp gia

tr-T tởng Pháp gia phản ánh nguyện vọng, ý chí của giai cấp địa chủtrong giai đoạn hình thành quan hệ sản xuất phong kiến cuối thời ChiếnQuốc

Đại biểu tiêu biểu cho t tởng Pháp gia là Hàn Phi Tử ( khoảng 280

-233 tr CN) Ông là nhà t tởng lớn theo xu hớng duy vật thời Chiến Quốc,

có nhiều công lao trong việc xây dựng và hoàn thiện học thuyết Pháp gia

T tởng triết học Pháp gia đợc thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

29

Trang 30

Về bản thể luận

Hàn Phi Tử đã kế thừa và phát triển những yếu tố duy vật về tự nhiêncủa Lão Tử và Tuân Tử Ông thừa nhận đã là quy luật tự nhiên thì phảikhách quan, giới tự nhiên tự phát sinh, phát triển, không do ai sáng tạora.Và, giới tự nhiên vận động theo quy luật khách quan, phổ biến, tồn tạivĩnh hằng, bất di bất dịch Đó là cái "đạo", cái "một" Còn cái "đức" là cáicông của "đạo", là cái hiểu đợc, vì nó là cái sâu sắc, phổ biến Cái sâu sắcphổ biến đó thực chất là cái "đạo", cái "một" đã phân chia thành sự vật cụthể có hình dáng và vận động, biến đổi

Về chính trị-xã hội

Để cải biến xã hội Pháp gia với những căn cứ lý luận và lịch sử củamình, chủ trơng "pháp trị" Phép trị nớc, theo Pháp gia cần sử dụng tổnghợp ba thủ pháp: "pháp", "thế" và "thuật" Trong đó "pháp" là nội dung củachính sách cai trị, "thế" và "thuật" nh là phơng tiện để thực hiện chính sách

đó Cả ba "pháp, thế và thuật đều là công cụ của đế vơng" ("Hàn Phi Tử",thiên Dơng xác)

Về luân lý đạo đức

Hàn Phi Tử cho rằng, mọi thứ luân lý đạo đức trong quan hệ giữa ngờivới ngời nh Trung, Tín, Hiếu, Nhân đều đợc xây dựng trên cơ sở tính toánlợi hại cá nhân Đây là quan điểm biểu hiện rõ tính chất duy vật và t tởngbiện chứng tự phát của ông về đời sống đạo đức con ngời Mặc dù cha thấy

đợc động lực thực sự của lịch sử, nhng với cố gắng đi tìm nguyên nhân biến

đổi của đời sống xã hội từ điều kiện sinh hoạt vật chất, xem lợi ích vật chất

nh là cơ sở của các quan hệ xã hội và hành vi của con ngời đó là một bớctiến dài so với quan điểm duy tâm tôn giáo về lịch sử thời đó

Tóm lại, Pháp gia là một trờng phái triết học lớn của Trung Quốc cổ

đại, chủ trơng dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nớc là tiêu chuẩn điềuchỉnh hành vi đạo đức của con ngời, là công cụ quan trọng cho sự phát triển

đời sống xã hội và củng cố chế độ chuyên chế ở Trung Quốc thời Chiếnquốc Pháp gia là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, tiến hành đấutranh quyết liệt chống lại tàn d của chế độ truyền thống công xã gia trởng

và t tởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đơng thời Học thuyết của Pháp gia màHàn Phi Tử là đại biểu đã trở thành vũ khí tinh thần để nhà Tần thực hiệncông cuộc thống nhất Trung Quốc, thiết lập chế độ phong kiến trung ơngtập quyền của mình

3 Một số đặc điểm về t tởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại

Triết học Trung Quốc là một nền triết học có truyền thống lịch sử lâu

đời, hình thành từ cuối thiên niên kỷ II trớc C.N Đó là những kho tàng t ởng phản ánh lịch sử phát triển của những quan điểm của nhân dân TrungHoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ của con ngời với thế giới xung quanh.Triết học Trung Quốc cổ, trung đại ra đời và phát triển rực rỡ nhất vàothời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến Đây là thời

t-kỳ "bách gia tranh minh" (trăm nhà đua tiếng) Chính quá trình "tranhminh" đó đã sản sinh ra những nhà t tởng vĩ đại, hình thành những những hệthống triết học khá hoàn chỉnh mở đầu cho lịch sử t tởng Trung Quốc và làcơ sở xuất phát điểm cho toàn bộ các quan điểm, các trờng phái triết họcsau này

Trong tất cả những lĩnh vực đa dạng mà triết học Trung Quốc đềcập tới, thì vấn đề chính trị-xã hội, đạo đức, luân lý đ ợc các nhà t tởngchú ý quan tâm nhiều nhất Họ lý giải những vấn đề đó bằng nhiều cáchkhác nhau, để tập trung tìm ra câu trả lời cho câu hỏi lớn của thời đại

đặt ra, làm thế nào để thiên hạ từ loạn thành trị?

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần tiến bộ với chủ nghĩaduy tâm, tín ngỡng tôn giáo và sự "cạnh tranh" giữa các trờng phái triết học

ở Trung Quốc diễn ra không kém phần gay gắt và quyết liệt Thực chất củacuộc đấu tranh đó là sự phản ánh tính chất mâu thuẫn về địa vị và lợi ích

30

Trang 31

của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau đơng thời.Trong đó chúngvừa kế thừa t tởng của nhau vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các vấn đềcủa triết học Chính cuộc đấu tranh đó đã làm cho nền triết học Trung Quốc

cổ, trung đại phát triển

III- ảnh hởng của triết học Trung Quốc,

ấn Độ cổ, trung đại đến xã hội và con ngời Việt Nam

Việt Nam là một nớc có lịch sử văn hoá lâu đời Theo các tài liệu khảo

cổ học thu đợc cho thấy: Cách đây hàng chục vạn năm trên dải đất ViệtNam đã có ngời Việt cổ sinh sống Khoảng thế kỷ VII tr CN, xã hội ViệtNam chính thức bớc vào thời kỳ xuất hiện nhà nớc Văn Lang, Âu Lạc Cdân Văn Lang, Âu Lạc đã đạt đợc một trình độ văn hoá phát triển khá rực

rỡ thể hiện qua các dụng cụ, đồ trang sức, trống đồng, thạp đồng, thànhquách v.v Bên cạnh những thần thoại, truyền thuyết, tín ngỡng, tôn giáo(Tô tem giáo, vật linh giáo ) cũng có sự phát triển, đã xuất hiện chữ viết

Sự phát triển toàn diện của xã hội nguyên thuỷ Việt nam lúc bấy giờ có một

ý nghĩa hết sức quan trọng, nó tạo dựng nên một nền tảng cơ sở vật chấtvững chắc cho sự hình thànhvà phát triển của nền văn hoá nớc ta

Tuy nhiên, do ở vào một vị trí địa lý đặc biệt, rất thuận lợi trongquan hệ giao lu buôn bán với các nớc trong khu vực; do bị phong kiếnphơng Bắc xâm lợc ngót ngàn năm sự phát triển của nền văn hoá nớc

ta còn chịu ảnh hởng khá đậm nét của văn hoá nớc ngoài mà trớc hết làcủa Trung Quốc và ấn Độ

Sự ảnh hởng của t tởng triết học Trung Quốc và ấn Độ vàoViệt Namdiễn ra khá phức tạp: có thể là sự ảnh hởng trực tiếp của một trờng phái cụthể, có thể là sự ảnh hởng đan xen của nhiều trờng phái, bằng nhiều con đ-ờng khác nhau v.v trong đó ba trờng phái có ảnh hởng lớn, cơ bản đó là:Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo

1 ảnh hởng của Nho, Phật, Lão đến xã hội và con ngời Việt Nam

a) Sự ảnh hởng của Nho giáo đến xã hội và con ngời Việt Nam

Việt Nam chịu ách đô hộ của phơng Bắc bắt đầu từ thời kỳ nhà Hán.Lúc này Nho giáo ở Trung quốc đã trở thành quốc giáo, thành ý thức hệ củavơng triều phong kiến thống nhất

Nho giáo đợc truyền bá vào Việt Nam chủ yếu do những kẻ xâm lợc,với mục tiêu dùng Nho giáo nh một vũ khí nhằm đồng hoá dân tộc, biếnViệt Nam thành một bộ phận thuộc Trung quốc

Đầu công nguyên, hai viên thái thú Tích Quang và Nhâm Diên "dựnghiệu học, dạy lễ nghĩa" thực chất là truyền Nho giáo vào Việt Nam, ép nhândân theo phong tục của nhà Hán Do lợi ích của kẻ xâm lợc, Nho giáo vàoViệt Nam bằng con đờng này bị xuyên tạc đi nhiều, những yếu tố tích cực,mang tính nhân loại của Nho "Tiên Tần" hầu nh bị loại bỏ

Bên cạnh con đờng chủ yếu đó, Nho giáo còn đợc truyền bá vào ViệtNam bởi các nhân sỹ, danh nho từ Trung Quốc do lánh nạn, di c hoặc đốilập với quan điểm chính trị của nhà nớc chạy sang, mở trờng học kiếmsống Bằng con đờng này, Nho giáo còn ít, nhiều giữ đợc những giá trị phổbiến, mang tính nhân loại của nó

Lịch sử phát triển của nớc ta cho thấy, ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, trảiqua ngót ngàn năm đến Tiền Lê, Nho gia ở Việt Nam có sự phát triển nhất

định, song nó cha chiếm u thế trong đời sống tinh thần của nhân dân, kể cảtrong các tầng lớp trên của xã hội Sở dĩ nh vậy là vì:

Nho gia là hệ t tởng của giai cấp phong kiến Nó nhằm bảo vệ lợi íchcủa giai cấp phong kiến, chứng minh cho cái gọi là tính chất hợp lý của sựthống trị phong kiến và duy trì chế độ phong kiến, vì vậy chỉ có tầng lớptrên mới cần đến Nho giáo, còn nhân dân với đời sống đơn giản của mìnhtrong gia đình, trong công xã Nho gia không phải là nhu cầu cần thiết Vả

31

Trang 32

lại, muốn thu nhận Nho gia đòi hỏi phải đèn sách lâu dài, trong khi đó theo

đạo Phật, Đạo gia, Tín ngỡng bản địa dễ dàng hơn

Với tính cách là hệ thống lý luận chính trị-xã hội ngoại nhập, ở thời kỳ

đầu Nho gia đã bị nhân dân xem nh một thứ vũ khí của kẻ xâm lợc nhằm

đồng hoá dân tộc Vì thế, một mặt họ bảo vệ những t tởng, tín ngỡng, phongtục, tập quán của mình đồng thời đấu tranh quyết liệt nhằm loại bỏ nó rakhỏi đời sống

Đối với các tầng lớp trên, dới các triều đại Ngô, Đinh, Lê trong buổi

đầu của việc xây dựng nhà nớc phong kiến dân tộc, do vừa phải chống thùtrong, giặc ngoài, triều đình cha có điều kiện để phát triển việc học Việchọc lúc đó chủ yếu do nhà Chùa đảm nhiệm Thời đó Tam giáo tự do luhành Nhà nớc phong kiến sử dụng nhân tài từ ba nguồn -Phật, Đạo, Nho-

mà trớc hết và chủ yếu từ Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo còn cha đợc chú ý.Khi nhà Lý đợc thành lập, do tình hình trong nớc có phần ổn định,triều đình có điều kiện mở mang học vấn Nho giáo theo đó mà có b ớcphát triển đáng kể Dới triều đại nhà Lý và cả nhà Trần, Phật giáo vẫn làtôn giáo có thế lực mạnh nhất ở cả triều đình và trong nhân dân SongPhật giáo không phải là đạo "trị nớc" Nhà Lý đã nhận thấy Nho giáo làhọc thuyết có lợi cho sự thống trị của mình, do vậy đã tích cực truyềnbá và đề cao Nho giáo Năm 1070, Lý Thánh Tông sai dựng Văn Miếu ởthủ đô Thăng Long, đắp tợng Chu Công, Khổng Tử và 72 tiên hiền, mở

4 trờng dạy Nho giáo và tổ chức các kỳ thi Nho giáo

Sang nhà Trần, Nho giáo phát triển mạnh hơn nhà Lý ở thời kỳ nàycác khoa thi đợc mở đều đặn hơn Năm 1236, Trần Thái Tông lập Quốc tửviện, ở đó dạy Tứ th, Ngũ kinh cho con em các nhà quý tộc Năm 1253,Quốc học viện đợc thành lập để cho các nho sỹ đã có trình độ nhất định vềNho giáo lui tới học tập Triều đình còn đặt ra "Tam khôi" (trạng nguyên,bảng nhãn, thám hoa) càng làm cho việc thi cử thêm phần hấp dẫn

Từ nhà Lê trở đi, Nho gia thành quốc giáo của Việt Nam Từ đây, Nhogiáo đợc xem nh một học thuyết triết học và chính trị-xã hội không thể thaythế ở Việt Nam Đến thế kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp và phong kiến

ở nớc ta đã huỷ bỏ chế độ học tập và thi cử theo Nho giáo Tuy vậy, Nhogiáo vẫn ảnh hởng lâu dài đến xã hội và con ngời Việt Nam

Là một học thuyết triết học và chính trị-xã hội tồn tại hàng nghìn năm,Nho giáo có những điều đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của xã hội và conngời sống trong xã hội Vì thế, xem xét sự ảnh hởng của Nho giáo đến xãhội và con ngời Việt Nam cần thấy đợc sự tác động của những giá trị phổbiến toàn nhân loại của nó để cải tạo và phát huy

Những giá trị phổ biến toàn nhân loại của Nho gia đợc thể hiện ởnhững nội dung cơ bản:

Một là: Nho gia đòi hỏi con ngời trong cuộc sống phải giải quyết các

mối quan hệ theo bản tính ngời của mình

Hai là: Nho gia yêu cầu phải biết tôn trọng sự sống và giá trị sự

sống của con ngời Trong ba việc mà Khổng Tử thận trọng hơn hết, thì cóhai việc trực tiếp có liên quan đến sự sống của con ngời là chiến tranh vàbệnh tật (Luận ngữ, Thuật nhi/12) Hơn thế nữa, ngay cả dùng gỗ đẽothành hình ngời để dùng vào việc tuẫn táng (hình nhân thế mạng), cũng

bị Khổng Tử kịch liệt phản đối bằng một lời hết sức nặng nề "ph ờng vôhậu" (kẻ không có ngời nối dõi)"

Ba là: Nho gia chấp nhận khát vọng hạnh phúc của con ngời và cố hết

sức tìm cách đáp ứng khát vọng đó, dù rằng đây chỉ là con ngời trong hệquy chiếu cổ đại (Nô lệ hoặc Phong kiến) Khát vọng về hạnh phúc của conngời theo Nho giáo gắn liền với khát vọng hoàn thiện nhân cách và hoànthiện nghĩa vụ làm ngời mà "Luận ngữ" gọi là "Thành nhân" (Luận ngữ,Hiến vấn/14) Khát vọng hạnh phúc của con ngời gắn liền với đời sống hiệnthực của họ, thông qua các quan hệ của họ với cộng đồng "lý", "hơng",

32

Trang 33

"gia", "bang", "thành", "quốc" v.v Để đạt đợc hạnh phúc ấy cần có ba điềukiện: đợc hởng sự đông đúc trù mật, sự giàu có và đợc giáo dục lẽ phải ở

đời (Luận ngữ, Tử lộ/9)

Những giá trị phổ biến toàn nhân loại đó của Nho giáo đã ảnh h ởngmột cách cực kỳ sâu xa và mạnh mẽ đến tâm thức của con ng ời Việtnam nói chung và tạo thành một nét đẹp văn hoá đợc bảo tồn cho đếnngày nay Đó là vô luận kỷ cơng trật tự xã hội và gia đình có "khủnghoảng trầm trọng" đến thế nào, nhng bất cứ một sự hỗn hào, bạc đãi củabất cứ ai, ở thứ bậc xã hội nào, đối với cha mẹ và ông bà đều bị phản

đối và coi khinh Đó là tinh thần yêu n ớc, tinh thần giải phóng bảo vệ sựsống, bảo vệ sinh mạng của con ngời nói chung và của c dân Đại Việtnói riêng Đọc kỹ "bài thơ Thần" của Lý Thờng Kiệt; "Bình Ngô đạicáo" của Nguyễn Trãi ta thấy toát lên "đức hiếu sinh" tuyệt vời trong t t-ởng của ngời Việt Nam ta Đó là: Khát vọng hạnh phúc của con ng ờiViệt Nam, khát vọng ấy đợc chế định thành những quy phạm tâm lý vàchuyển thành những hình ảnh rất đỗi quen thuộc đốivới họ: luỹ tre,giếng nớc, mái đình, cây đa, bàn thờ tổ tiên, bàn thờ họ, nén nhang ngàygiỗ ngày tết cho đến bát canh cho ngời già, tấm áo cho con trẻ v.v Nho giáo còn có vai trò hết sức to lớn trong kiến tạo, tổ chức thiết chếxã hội Phong kiến Việt Nam

Tuy nhiên, do là hệ t tởng của giai cấp phong kiến thống trị phơng

Đông, là lý luận nhằm duy trì, bảo vệ chế độ Phong kiến, Nho giáo đãkhông thừa nhận bất cứ một t duy và hành động cách mạng nào của con ng-

ời Nho giáo thực sự là trở lực kìm nén sự phát triển của xã hội và con ng ờiViệt Nam Về vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh khảng định: "Lý luận củaKhổng Tử là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và về sự trang nhã

Về căn bản chủ nghĩa Khổng Tử chỉ là sự bình yên trong xã hội không baogiờ thay đổi"(1)

b) ảnh hởng của Phật giáo đến xã hội và con ngời Việt Nam

Hiện nay cha có tài liệu nào xác định đợc một cách chính xác Phật

giáo du nhập vào Việt Nam từ thời gian nào Song theo sách Thiền uyển tập

anh thì (vào cuối thế kỷ thứ II) có học giả tên là Mâu Bác, xứ Thơng Ngô

(Quảng Tây) sang Giao Châu để nghiên cứu đạo Phật Cũng theo sách này,hồi đó còn có cả Tăng Hội (ngời Khơng) sang Việt Nam dịch kinh Phật từchữ Phạn sang chữ Hán Nh vậy, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyênPhật giáo ở Việt Nam đã rất thịnh hành

Phật giáo đợc truyền vào Việt Nam bằng hai con đờng chính: Đờngthuỷ, do các nhà buôn đi từ ấn Độ, Tích Lan, Nam Hải mang vào nớc ta.Phật giáo du nhập bằng con đờng này không còn đợc nguyên bản, nó đã

bị ảnh hởng rất nhiều của đạo Bà-la-môn, của mê tín dị đoan Đờng bộ,

do các tăng s Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Ngời đầu tiên mangPhật giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam là ông Tì-ni-đa-lu-chi, nguyên làngời ấn Độ, ông sang Trờng An (Trung Quốc) xuống Quảng Châu, rồisang Việt Nam Ông trụ tại chùa Pháp Vân và tịch tại đó Trong 15 năm

ở xứ ta, ông đã đào tạo đợc rất nhiều học trò theo phái Phật giáo Thiềntông

So với Nho gia, con đờng phát triển của Phật giáo ở Việt Nam cóphần thuận chiều hơn Thời kỳ Bắc thuộc, vào khoảng thế kỷ VIII, Phậtgiáo đã có sự phát triển khá mạnh Biểu hiện: Số tông đồ Phật giáo rấtnhiều, trong số đó có nhiều s tăng thông thạo kinh Phật, giỏi chữ Phạn,chữ Hán; Khắp nơi đua nhau xây chùa (nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở n ớc

ta đợc xây cất ngay từ thời kỳ này) nh chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, PhápLôi, Pháp Điện (chùa Dâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh) Phật giáo tuy đã

(1) Hồ Chí Minh: Văn hoá nghệ thuật cũng là mặt trận, Nxb Văn học, Hà nội, 1981, Tr 477

33

Trang 34

trở thành một lực lợng xã hội, song vai trò của nó cha lớn, hoạt độngtheo nhu cầu tâm linh của con ngời là chủ yếu.

Thời kỳ đầu của nền độc lập, Phật giáo có đợc một sinh khí mới, mộtthời kỳ phát triển mới, thời kỳ trong đó tuy Tam giáo đều lu hành và đợcthừa nhận chính thức nhng Phật giáo chiếm u thế Vì nó là tôn giáo của nhàVua, của số đông Vơng giả và quần chúng nhân dân Từ nhà Ngô cho đến

đầu Lý, lực lợng trụ cột mà các vơng triều dựa vào đó là Phật giáo Phậtgiáo trở thành lực lợng chính trị hùng mạnh, tập đoàn này có nhiều s tăng,

có cơ sở địa phơng, có hệ thống trong cả nớc, có tự viện, ruộng đất, nông nô

Thời Trần, giai đoạn đầu, Phật giáo vẫn giữ một vai trò chính trị quantrọng Vua tiếp tục ban đất cho chùa, vơng hầu, công chúa vẫn tiếp tục dựngchùa làm phúc Song vai trò của Phật giáo giảm dần Nho gia lên ngôi, Phậtgiáo mất địa vị quốc giáo của mình

Từ nhà Lê đến nhà Nguyễn và kéo mãi đến những năm 20 của thế kỷ

XX, Phật giáo bị rẻ rúng Trong triều ngời ta không dùng Phật nữa, thậm

chí còn coi Phật nh một tà đạo Điều lệ hơng đảng của Gia Long, điểm 5 nói:"Nếu nh việc thờ Phật thì sách Truyện nói:say mê dị đoan chỉ có hại

thôi; lại nói: có tội với Trời thì cầu khẩn vào đâu đợc thờ cha mẹ chẳng ragì, dù hằng ngày ăn chay niệm Phật cũng vô ích "(1) Nhng không thể phủnhận một thực tế trong thời kỳ này đó là: trong triều thì bài xích Phật giáo,trong nhân dân số đông vẫn theo Phật giáo và ngay cả trong số những ngờihọc Nho, tín đồ Phật giáo cũng không ít, kể cả trong hoàng tộc, đình thần.Mặt khác, triều đình cũng nhận thấy tác dụng an thần của Phật giáo, vì thếPhật giáo vẫn đợc duy trì và phát triển ở một mức độ nhất định Chính LêThánh Tông đã từng viết sớ cầu Trời, khấn Phật; Trịnh Tạc trùng tu chùaTây Phơng; Chúa Nguyễn Hoàng dựng chùa Thiên Mụ; Minh Mạng dựngchùa Hồng Nhân, Linh Hựu, Giác hoàng.v.v

Tóm lại, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II Kể từ đó

đến thế kỷ XV Phật giáo hầu nh là hệ t tởng chủ đạo Từ thế kỷ XV đếnnhững năm đầu của thế kỷ XIX, mặc dù về mặt nhà nớc, Nho giáo là hệ t t-ởng chủ đạo, nhng trong tầng lớp bình dân, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển.Khác với Nho giáo và những hệ t tởng khác, Phật giáo cho đến nay vẫn tồntại Nh vậy dù trực tiếp hay gián tiếp, hầu hết ngời Việt Nam đều chịu ảnhhởng ít, nhiều của Phật giáo

Cũng nh Nho gia, Sở dĩ Phật giáo tồn tại lâu dài trong đời sống con

ng-ời là vì trong hệ thống lý luận của nó bao chứa những giá trị phổ biến, phùhợp với đời sống xã hội và con ngời sống trong xã hội

Những giá trị phổ biến đó là: Quan niệm của Phật giáo về sự tồn tạicủa sự vật, hiện tợng trên thế giới (sắc sắc- không không), sự tan, hợpcủa các yếu tố động làm cho mọi vật đều vận động qua các trạng tháisinh, trụ, dị, diệt; phát hiện đúng mối quan hệ cơ bản phổ biến của mọi

sự vật, hiện tợng (quan hệ nhân quả), đó là cơ sở làm cho việc lý giải về

vũ trụ, nhân sinh của Phật giáo có tính thuyết phục cao

(1) Trần Văn Giàu: Sự phát triển t tởng ở Việt nam, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996, Tr,489-490.

34

Trang 35

Các quan điểm này đã biến thành quan niệm về Thế giới quan vàNhân sinh quan của đại đa số con ngời Việt Nam Đó là, đa số ngờiViệt Nam quan niệm về sinh, tử nh là lẽ tự nhiên của cuộc sống, họ rấtyêu và thiết tha với cuộc sống, song đứng tr ớc cái chết họ không baogiờ khiếp sợ, bạc nhợc; Đó là, quan niệm của họ về nhân quả (nhânnào quả ấy), (gieo gió gặt bão), (đời cha ăn mặn đời con khát nớc)thậm chí không cần phải đợi đến đời con, mà ngay ở đời cha (ăn mặnthì khát nớc), (tự gieo thì tự gặt); Đó là, quan niệm đề cao sức mạnhcủa nội tâm, giải quyết mọi quan hệ trong cuộc sống cái quan trọngnhất phải là tấm lòng, thành tâm, thiện tâm Quản lý, lãnh đạo giỏiphải là thu phục đợc nhân tâm của con ngời.v.v

ảnh hởng của Phật giáo đến con ngời Việt Nam không chỉ thể hiện ởmặt thế giới quan, nhân sinh quan, mà còn đến cả lối t duy của họ Điều đóthể hiện trớc hết trong hệ thống ngôn ngữ Việt Nam, các khái niệm củaPhật giáo chiếm vị trí không nhỏ, làm cho ngôn ngữ Việt Nam thêm phongphú Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, t duy Việt nam có thêm một loạtkhái niệm, phạm trù về bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức luân lý, đó lànhững vấn đề của triết học Phật giáo đã làm tăng tinh thần triết học trong tduy của ngời Việt Nam, khiến phơng pháp t duy của họ mang tính khái quáthơn, trừu tợng hơn ảnh hởng của Phật giáo đến phơng pháp t duy của ngờiViệt Nam còn đợc thể hiện ở quan niệm về sự phát triển của vạn vật, trảiqua 4 giai đoạn Đó là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của mọi sự vật, hiện t -ợng Quan niệm về sự phát triển của Phật giáo có cơ sở, có lý luận vữngchắc, có lôgic chặt chẽ, khiến ngời Việt Nam chấp nhận dễ dàng và nhanhchóng

Ngoài ra, với tính cách là một lực lợng chính trị-xã hội, Phật giáo đãgóp phần to lớn vào việc điều chỉnh, tiết chế hoạt động của các thiết chếchính trị, với quan điểm "Từ bi hỷ xả" của mình

Tuy nhiên là một tôn giáo, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực

đến xã hội và con ngời Việt Nam Phật giáo nh một lý thuyết về sự giảithoát bể khổ nhân gian bằng cách đi vào tự ngã của cái tâm bên trong nhằm

đạt tới sự sáng suốt tối cao ở Niết Bàn Học thuyết đó có sức mạnh đa conngời vào thế giới thanh bạch "Từ bi hỷ xả", nhng nó thực hiện lý tởng đóbằng khớc từ những ham muốn quý báu vốn có của con ngời, thủ tiêu sứcsống hành động của con ngời(1)

Đánh giá về đạo Phật, Hồ Chí Minh nói:"nếu có đức mà không có tài

ví nh ông Bụt không làm hại gì, nhng cũng không lợi gì cho loài ngời"(2)

c) ảnh hởng của Đạo giáo đến xã hội và con ngời Việt Nam

Hai giáo của Trung Quốc ảnh hởng mạnh nhất và lâu đời nhất đếnViệt nam là Nho giáo và Đạo giáo Đối với số đông nhân dân ta ngày xa,không phải Nho giáo mà chính là Đạo gia đã ảnh hởng sớm nhất và sâunhất Điều đó đợc giải thích bởi những lý do sau:

Thứ nhất, Đạo giáo vào nớc ta trớc tiên là Đạo phù thuỷ, nó nh đã có

sẵn miếng đất và dân ở bản địa(3)

Thứ hai, Đạo giáo phù thuỷ vốn là vũ khí khởi nghĩa của nông dânchống phong kiến, nó cũng là một vũ khí tinh thần mà nhân dân ta cần

có nhằm tập hợp lực lợng, phát động nhân dân đấu tranh chống ách đô

hộ của bọn bóc lột phơng Bắc

Lịch sử phát triển của xã hội ta cho thấy, trong suốt ngàn năm Bắcthuộc, sau Phật giáo (tôn giáo phát triển mạnh nhất) là đến Đạo giáo Sách

An nam chí nguyên chép rằng ở huyện Giao Chỉ (Hoài Đức) có 29 chùa, 6

quán; ở huyện Chu Diên (Hải Dơng) có 29 chùa, 9 quán; ở huyện TốngBình (Hà Nội) có 5 chùa, 4 quán.v.v

(1) Xem: Đề tài KX - 07 - 03, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1997, tr 143.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996, t.9, tr.172.

(3) Trớc khi Đạo giáo vào nớc ta, ở nớc ta đã có Đạo nguyên thuỷ gần nh Đạo giáo bên Trung Quốc.

35

Trang 36

Trong thời kỳ nhà nớc phong kiến dân tộc, dới các triều Ngô, Đinh,

Lê, Lý, Trần tuy Nho giáo dần dần chiếm vị trí mỗi lúc thêm mạnh, Đạogiáo vẫn phát triển cả trong nhân dân lẫn các vơng hầu quý tộc

Đến hậu Lê, khi Nho gia đã trở thành quốc giáo thì Đạo giáo vẫn

đợc duy trì và phát triển Sách Hội chân biên chép rằng Lê Thánh Tông

đi chơi chùa Ngọc Hồ, gặp tiên nữ, mời lên xe cùng về, xe đến cửa ĐạiHng thì tiên nữ biến mất, vua bèn sai lập "Vọng tiên lâu" Tr ớc khixuất quân đi đánh Chiêm Thành, Lê Thánh Tông sai quan đến BíchCâu đạo quán hỏi tiên Trần Tú Uyên về sự thành bại của cuộc viễnchinh; khi đắc thắng trở về, vua phong Tú Uyên t ớc "An quốc chânnhân" Đó là trong vơng triều, còn trong dân gian thì Đạo giáo cònphát triển mạnh hơn nữa Ngời ta lập ra rất nhiều đền thờ các vị tiên,thánh nổi danh nh: Liễu Hạnh, Hà Giáng Kiều, Bồi Liễn, Đức ThánhTrần

Đến thời Nguyễn, Đạo gia không những không bị Nho giáo đánh bại

mà còn tiếp tục đợc phát triển Đặc biệt trong nhân dân, Đạo giáo trở nên

hết sức nặng nề Trong Điều lệ hơng đảng, nói rõ điều đó:" Gần đây

có kẻ tính việc kết phát, nhẹ dạ nghe lời thầy địa lý, sáng chôn chiềubới, di cải bất thờng, tấm lòng thơng xót không còn gì nữa, chẳng nghĩ

đến đạo làm ngời duy trung với hiếu"(1)hoặc " Đời sống của dân đều có

định mệnh; tai không thể giải đợc, phúc không thể cầu đợc, thuật cầu

đảo giải trừ đều là vô ích Từ xa đồng cốt nhảm nhí bày ra để dốidân"(2)

Đạo giáo tồn tại ở Việt Nam trong lịch sử với hai t cách: T cách triếtthuyết và t cách tôn giáo Về triết thuyết, nó là học thuyết đối trọng với Nhogiáo, nó là lối thoát tinh thần của các nho sỹ thất thế hoặc chán ngán vớithời cuộc Nó cũng đã và đang là cơ sử t tởng cho những suy nghĩ lãng mạn,những ớc mơ bay bổng, những sáng tạo trong đời sống tinh thần của conngời Với t cách là một tôn giáo, nó chính là cơ sở tinh thần cho các hiện t-ợng đồng bóng, bói toán, cầu xin ở các đền chùa, miếu mạo, là cơ sở chonhững hoạt động mê tín dị đoan Mặc dù, Đạo giáo trong lịch sử đã thể hiện

đợc một số vai trò của mình trong chính trị, trong việc thoả mãn nhu cầutâm linh của con ngời song do đối lập với khoa học nên tác động tiêu cựccủa nó là chủ yếu

3 Một số nhận định về ảnh hởng của Nho, Phật, Lão đối với xã hội

và con ngời Việt Nam

- Trớc khi các Giáo phái phơng Đông ảnh hởng vào Việt Nam, tuy đã

có một đời sống văn hoá, tâm linh khá phong phú Ba thuyết giáo ảnh hởng

đến Việt Nam sớm nhất, sâu sắc nhất là: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo

- Để tồn tại và phát triển, các thuyết giáo này vừa phải có sự biến hoácho phù hợp với văn hoá bản địa, vừa phải đấu tranh, nơng tựa, thoả hiệpvới các thuyết giáo khác Chính điều này làm cho các thuyết giáo ở ViệtNam có những nét đặc sắc riêng so với nó ở các nớc khác (Phật giáo ở ViệtNam có yếu tố của Nho, Đạo; Nho có Phật, có Đạo; Đạo có Phật, có Nho.Chùa cũng thờ Thánh, thờ Khổng; Miếu cũng thờ Khổng, thờ Phật Ngaybàn thờ của gia đình cũng có mặt của Phật, có tiên, có tổ tiên) Vì lẽ đó,xem xét sự ảnh hởng của các Giáo phái đến xã hội và con ngời Việt Namcần phải thấy sự tác động hoà quyện giữa chúng Việc bóc tách các Giáophái để nghiên cứu chỉ có tính chất tơng đối và đầy hạn chế

- Các giáo phái đều có tác động tích cực và tiêu cực đến xã hội và conngời Việt Nam Viềc làm rõ mặt tác động tích cực để cải tạo và phát huy;mặt tác dộng tiêu cực để hạn chế, khắc phục là việc làm có ý nghĩa to lớntrong xây dựng xã hội và con ngời Việt Nam hiện nay

(1) Xem: Sự phát triển của t tởng ở Việt nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996, tr.457.

(2) Sđd: tr.458.

36

Trang 37

Chơng III

Khái lợc Lịch sử triết học phơng tây trớc Mác

Lịch sử triết học phơng Tây trớc Mác bắt đầu từ triết học Hy Lạp cổ

đại, kết thúc ở triết học cổ điển Đức Nghiên cứu lịch sử triết học phơngTây trớc Mác cho ta cơ sở khoa học để nhận thức sự ra đời và phát triển tấtyếu của triết học Mác, khẳng định triết học của C.Mác và Ph Ăngghen là

sự kế thừa và phát triển các giá trị t tởng triết học tiến bộ trớc đó và là đỉnhcao của t tởng triết học nhân loại

I- Triết học Hy Lạp cổ đại

1 Điều kiện kinh tế - xã hội và nét đặc thù của triết học Hy Lạp cổ đại

Xã hội Hy Lạp cổ đại tồn tại và phát triển vào thế kỷ thứ VIII đến thế

kỷ III tr CN Thời kỳ này ngời Hy Lạp đã đóng đợc thuyền lớn và đã vợtqua biển Địa Trung Hải, mở rộng giao lu văn hoá, khoa học với nhiều nớctrong khu vực Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất đã làm đảo lộn quan hệ

và tổ chức của xã hội cộng sản nguyên thuỷ; trong các bộ lạc, bộ tộc dầndần xuất hiện các t tởng t hữu về của cải, mỗi cá nhân dần dần ý thức về sựtồn tại của họ trong cộng đồng cho phù hợp với hoàn cảnh mới Sự pháttriển của lực lợng sản xuất là tiền đề chủ yếu làm xuất hiện xã hội chiếmhữu nô lệ và phân chia xã hội này thành các giai cấp, lao động trí óc vàchân tay, nhờ đó khoa học ngày càng phát triển và đa lại nhiều thành tựumới Thời kì này cha có sự phân biệt giữa triết học và các khoa học cụ thể,nhà triết học đồng thời là nhà khoa học tự nhiên nh Talét, Pitago Khoahọc thời kì này cùng với nhiều thành tựu mới nh định luật ácsimét, hìnhhọc của Ơclít đã từng bớc khám phá ra những sai lầm duy tâm, giả dốicủa bức tranh vũ trụ và nhân sinh quan tôn giáo, thần thoại Cuộc đấu tranhgiữa giai cấp chủ nô và nô lệ trên lĩnh vực t tởng, triết học đã diễn ra gaygắt

Những điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội, giai cấp, văn hoá và khoahọc ở xã hội Hy Lạp cổ đại đã quy định các đặc điểm của triết học thời kỳnày

Thứ nhất, Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển phong phú về trờng phái,

sự phân chia và đối lập giữa các trờng phái triết học duy vật và duy tâm,biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần trong đó điển hình là cuộc

đấu tranh giữa hai "đờng lối" triết học: đờng lối triết học duy vật của

Đêmôcrít và đờng lối duy tâm của Platôn

Thứ hai, các hệ thống triết học Hy Lạp cổ đại đều có xu hớng đi sâu

giải quyết các vấn đề về bản thể luận và nhận thức luận triết học Đó là

37

Trang 38

những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Thứ ba, nền triết học Hy Lạp cổ đại nói chung còn ở trình độ trực

quan, chủ nghĩa duy vật còn thô sơ mộc mạc và phép biện chứng còn ởtrình độ tự phát, cha đợc chứng minh bởi khoa học Triết học Hy Lạp cổ đại

đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học phải giải quyết, chứa đựng nhữngmầm mống của thế giới quan duy vật sau này

Thứ t, Triết học Hy Lạp cổ đại luôn gắn với khoa học tự nhiên

2 Một số triết gia tiêu biểu của triết học Hy Lạp cổ đại

- Trờng phái triết học Milê

Trờng phái triết học Milê là trờng phái của các nhà triết học ở Milêthuộc vùng Iônia trên bán đảo Tiểu á, thuộc Hy Lạp Các nhà triết học tr-ờng phái Milê tiêu biểu là Talét, Anaximanđrơ, Anaximen; các nhà triết họcnày thể hiện quan điểm của các tầng lớp tiến bộ trong giai cấp chủ nô, t t-ởng của họ có nhiều điểm khác với quan niệm thần thoại, tôn giáo đangthống trị thời đó Các nhà triết học phái Milê tìm cách lý giải vấn đề bảnnguyên đầu tiên của thế giới Với những tri thức khoa học sơ khai, họ

đã cố gắng giải thích thế giới nh một chỉnh thể thống nhất và đợc sinh

ra từ một khởi nguyên đầu tiên

Quan niệm của Talét về thế giới là quan niệm duy vật mộc mạc, thôsơ, song căn bản là đúng, Ông nhìn thế giới trong sự vận động, biến đổikhông ngừng Tuy nhiên, Talét còn chịu ảnh hởng của các quan niệm thầnthoại và tôn giáo Ông thừa nhận: Trong thế giới tồn tại các vị thần và các vịthần linh là các lực lợng đã làm cho thế giới vận động, biến đổi

Anaximanđrơ (610 - 546 tr CN)

Anaximanđrơ là học trò của Talét Ông là ngời tìm ra cách đo thờigian theo bóng nắng mặt trời, tởng tợng ra vũ trụ có hình cầu Anaximanđrơcho rằng, bản nguyên đầu tiên sinh ra các sự vật, hiện tợng là "Apâyrôn".Apâyrôn không có hình dạng xác định, là chất vô định hình, vô cùng, vôtận, tồn tại vĩnh viễn, không do ai sinh ra và tiêu diệt đợc, là cái mang tínhvật chất "Apâyrôn" là cơ sở của sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện t-ợng; là nguồn gốc của sự thống nhất của các sự vật đối lập nhau nh nóng -lạnh, sinh ra, chết đi Toàn bộ vũ trụ đợc cấu thành từ "Apâyrôn", thế giớitồn tại trong sự vận động, biến đổi không ngừng

Anaximanđrơ còn là ngời thừa nhận sự tồn tại của thần trong các quanniệm thần thoại và tôn giáo Tuy vậy, ông cũng có phỏng đoán khá chínhxác về nguồn gốc và quá trình tiến hoá của sự sống Anaximanđrơ cho rằng,sinh vật lúc đầu xuất hiện trong nớc, sau đó phát triển lên cạn

Anaximen (khoảng 588 - 525 tr.CN)

Anaximen là học trò và là ngời kế tục của Anaximanđrơ, ông tiếp tục

đờng lối duy vật thô sơ của trờng phái Milê ở Hy Lạp cổ đại Anaximen làngời theo quan điểm địa tâm, khẳng định trái đất hình cầu, có hình nh cáitrống Ông cho rằng, trái đất tự quay xung quanh mình nó Anaximen là ng-

ời phát hiện ra nguyên nhân của ma đá và tuyết rơi

Anaximen cho rằng, bản nguyên của thế giới là "không khí" Khôngkhí là cái sinh ra mọi sự vật, hiện tợng kể cả thần thánh Ông còn khẳng

định chất "Apâyrôn" mà Anaximanđrơ coi là bản nguyên của thế giới cũng

đợc sinh ra từ không khí, là một tính chất của không khí

38

Trang 39

Không khí tạo ra mọi sự vật, hiện tợng bằng cách "loãng ra"; hay "đặclại" "không khí" "loãng ra" thì biến thành lửa và đặc lại trở thành gió, mây,nớc, đất đá.

Milê là trờng phái triết học duy vật đã cố gắng đi tìm một bản nguyênvật chất đầu tiên sinh ra thế giới Họ đã nhìn thế giới trong một chỉnh thểthống nhất và biến đổi phong phú Mặc dù còn mộc mạc, ngây thơ, songnhững quan điểm của họ đã đặt nền móng cho sự phát triển của chủ nghĩaduy vật sau này

- Trờng phái Êphetsơ -Hêraclít (544 - 483 tr.CN)

Hêraclít là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứngtrong giai đoạn đầu của triết học Hylạp cổ đại

Nếu nh Talét tìm thấy khởi nguyên của thế giới ở nớc, Aneeximen ởtrong không khí thì Hêraclít lại coi "lửa" là bản nguyên của thế giới Ông chorằng: thế giới đã, đang, sẽ và mãi mãi bùng cháy và tàn lụi theo quy luậtcủa nó Mọi sự vật, hiện tợng trong thế giới đều đợc sinh ra từ lửa

Hêraclít cho rằng, thế giới vận động, biến đổi và có sự tác động giữacác sự vật, hiện tợng là do thêm lửa hay bớt lửa Sự vận động của các sự vật

là đi lên nếu đợc thêm lửa, sự vận động đó sẽ đi xuống nếu bớt lửa ( Lửacháy thành không khí, bớt lửa thành nớc, nớc bớt lửa thành đá, đất; đấtthêm lửa thành không khí)

Hêraclít không chỉ là một nhà triết học duy vật mộc mạc thời cổ màcòn là một trong các nhà triết học đầu tiên sáng lập phép biện chứng Ông

có nhiều câu nói nổi tiếng thể hiện t tởng biện chứng nh: ''Chúng ta khôngthể tắm hai lần trên cùng một dòng sông, vì nớc sông không ngừng chảy ''.Hêraclít là nhà triết học vô thần, ông cho rằng, vũ trụ không phải dochúa trời hay một lực lợng siêu nhiên nào tạo ra, mà nó'' mãi mãi đã, đang

và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn, đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi"

Ngời đơng thời không hiểu đợc t tởng biện chứng của Hêraclít khôngthể hiểu đợc "sự vật tồn tại lại vừa không tồn tại, vừa là nó vừa là cái khác"

Họ đã gọi triết học Hêraclít là triết học tối tăm

Hêraclít cũng thấy rõ vai trò của cảm giác, ông khẳng định không cócảm giác thì không có nhận thức, "mắt, tai là ngời thầy tốt nhất nhng mắt lànhân chứng chính xác hơn tai" Hêraclít đòi hỏi sự nhận thức phải đạt tớinhận thức quy luật phát triển của sự vật, chỉ ra bản chất của sự vật đó.Hêraclít cũng thấy rõ tính tơng đối và chuyển hoá biện chứng giữa tốt - xấu,thiện - ác, lợi - hại là tuỳ điều kiện cụ thể C.Mác, Ph.Ăngghen đánh giácao chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của Hêraclít và coi Hêraclít là

đại biểu xuất sắc của phép biện chứng thời cổ

Về mặt chính trị xã hội, Hêraclít là ngời theo phái bảo thủ, chống lạidân chủ, thù địch với nhân dân Hêraclít cũng là ngời giải quyết một cáchduy vật vấn đề ''linh hồn'' con ngời Ông cho rằng, ''linh hồn '' con ngờicũng do lửa tạo ra

- Trờng phái Nguyên tử luận - Đêmôcrít ( khoảng 460 - 370 tr CN )

Đêmôcrít là học trò giỏi và là ngời tiếp tục đờng lối '' nguyên tử luận ''của Lơxíp Đêmôcrít hiểu biết sâu nhiều khoa học nh : Triết học, đạo đứchọc, tâm lý học, toán học, sinh vật học, vật lý học, mỹ học, ngôn ngữ học,

âm nhạc Ông đã viết tới 70 quyển sách về các lĩnh vực trên C Mác và Ph

Ăng ghen đánh giá cao Đêmôcrít và coi ông là một bộ óc bách khoa đầutiên của Hy Lạp cổ đại

Đêmôcrít cho rằng, nguyên tử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật trong thếgiới Nguyên tử là hạt vật chất nhỏ bé không thể phân chia, không nhìnthấy; không mùi vị, không âm thanh, màu sắc, không khác nhau về chất l-ợng; chỉ khác nhau về hình thức và trật tự kết cấu Theo Đêmôcrít, nguyên

tử vừa vô hạn về số lợng và cũng vô hạn về hình thức; mỗi nguyên tử cómột hình thức xác định cụ thể Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn và luôn vận

động trong khoảng không Nguồn gốc của sự vận động của các nguyên tử là

39

Trang 40

do sự va chạm.

Đêmôcrít đã giải thích một cách duy vật về thế giới, ông cho rằng, các

sự vật, hiện tợng đều đợc cấu thành từ các nguyên tử Các nguyên tử kếthợp, liên kết với nhau theo một trật tự xác định để tạo ra một sự vật cụ thể

Sự liên kết các nguyên tử khác nhau đã quy định bản chất khác nhau củacác sự vật

Theo Đêmôcrít, sự hình thành, tồn tại và mất đi của các sự vật, hiện ợng trong vũ trụ, những biến đổi trong tự nhiên đều là sự kết hợp, phân táncủa nguyên tử trong quá trình vận động trong khoảng không tuân theo quyluật của tự nhiên

t-Đêmôcrít đã phỏng đoán thiên tài về vận động, vận động gắn liền vớivật chất Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, nguyên nhân vận

động của nguyên tử từ bản thân nó, những khoảng "chân không" là điềukiện của vận động Tuy nhiên, Đêmôcrít cha lý giải đợc nguồn gốc của vận

động

Từ thuyết "nguyên tử" Đêmôcrít đã đi tới quan điểm sai lầm về thuyếtquyết định luận Ông thừa nhận sự ràng buộc, tính tất nhiên và khách quannhng theo luật nhân quả, sự vận động theo một quỹ đạo định trớc Quan

điểm này đa vào lĩnh vực xã hội dẫn tới quan điểm định mệnh

Quan niệm của Đêmôcrít về con ngời và nhận thức

Đêmôcrít cho rằng, các sự vật kể cả con ngời và linh hồn con ngời đều

đợc cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không Con ngời, theo Đêmôcrít, là

động vật có khả năng học, có cảm giác, năng động; linh hồn con ngời làtổng thể các nguyên tử và là cơ sở của mọi hoạt động cũng nh sức sống củacon ngời Đêmôcrít phủ nhận quan niệm duy tâm tôn giáo về linh hồn vàcho rằng, linh hồn cũng chết đi cùng với thể xác, mọi quan niệm về thế giớibên kia, về thiên đờng chỉ là bịa đặt

Đêmôcrít có quan điểm duy vật về cảm giác, khi cho rằng, chỉ tồn tạicác sự vật, hiện tợng vật chất do nguyên tử tạo ra; màu sắc, âm thanh, mùivị là kết quả tác động của nguyên tử lên giác quan con ngời mà có

Theo Đêmôcrít, nhận thức có hai trình độ khác nhau: nhận thức cảmtính và nhận thức trí tuệ Nhận thức cảm tính còn gọi là nhận thức kiếngiải Tuy vậy, Đêmôcrít cho rằng, đây là trình độ nhận thức "tối tăm" Trình

độ nhận thức này chỉ đem lại sự hiểu biết bề ngoài của sự vật, hiện tợng,những mặt riêng biệt của đối tợng nhận thức, chỉ có trình độ nhận thức trítuệ mới giúp ta hiểu biết bản chất đích thực về sự vật

Điểm hạn chế căn bản của Đêmôcrít trong lý luận nhận thức là ông

ch-a thấy sự khác biệt cơ bản mà chỉ thấy sự khác nhch-au đơn thuần về số lợng,cha thấy sự chuyển hoá biện chứng giữa hai trình độ của nhận thức Ôngcũng đã nêu ra các vấn đề khái niệm, quy nạp trong lôgíc

Quan điểm của Đêmôcrít về chính trị, xã hội

Đêmôcrít đứng trên lập trờng dân chủ chủ nô, bảo vệ nền dân chủnhà nớc Aten Theo quan điểm chính trị của Đêmôcrít, nền dân chủAten là dân chủ cho chủ nô, còn đối với nê lệ thì không có dân chủ, nô

lệ chỉ cần biết tuân theo chủ

Trong lĩnh vực đạo đức, Đêmôcrít cũng có nhiều đóng góp có giá trị.Theo ông, đối tợng của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số phận mỗi ng-

ời Hạt nhân trung tâm trong đạo đức học là lơng tâm, là sự lành mạnh vềtinh thần của từng cá nhân Ông chống lại sự giàu có quá đáng, lợi nhuậnbất lơng "gây hại cho ngời lơng thiện"

Đêmôcrít là ngời theo quan điểm vô thần, ông không thừa nhận có thầnlinh, thợng đế Thần là hình ảnh do trí tợng của con ngời tạo ra, là sự nhân cáchhoá những hiện tợng của tự nhiên hay những thuộc tính của con ngời

- Triết học của Platôn (khoảng 427 - 347 tr.CN)

Platôn là học trò của Xôcrát, ông liên minh với phái triết học Pitago

đấu tranh chống lại phái chủ nô dân chủ và chống lại triết học của

40

Ngày đăng: 18/12/2016, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w