1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luan văn nga lich su

74 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Nghệ An Trong Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp 1946 – 1954
Tác giả Hồ Thị Thúy Nga
Người hướng dẫn TS. Trần Vũ Tài
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 306 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghệ An là một tỉnh có diện tích rộngchiếm khoảng 5% diện tích cả nước, tuy nhiên nền kinh tế còn nhiều lạc hậulại thường xuyên bị thiên tai lũ lụt và sự phá hoại của bọn thưc dân nhưng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “ kinh tế Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

1946 – 1954” được nghiên cứu trong một thời gian có hạn và gặp nhiều khókhăn trong việc tổng hợp tư liệu, số liệu ít ỏi, không đồng bộ Để thực hiện đềtài tôi dã dựa vào sự giúp đỡ của UBND tỉnh Nghệ An, phòng lưu trữ tỉnh ủy,thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện đại học Vinh, các thầy cô giáo khoa lịch sửtrường đại học Vinh, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo - tiến sĩ Trần

Vũ Tài giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc

Tác giả

Hồ Thị Thúy Nga

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Dân tộc Việt Nam là lịch sử gắn liền với những cuộc đấu tranhkiên cường bất khuất của nhân dân ta nhằm giành lại độc lập cho dân tộc.Xuất phát từ truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất nhưng cũng đàykhó khăn gian khổ dân tộc ta đã liên tiếp giành thắng lợi trước những bọnxâm lược hung bạo Đặc biệt là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ của chủ nghĩathực dân cũ và mới

Trang 3

Để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng Đảng đã thực hiệnphương châm: “Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình làchính” và khí thế “mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiếnsĩ” đánh giặc ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, mọi lĩnh vực đồng thời ra sức cũng cốhậu phương xây dựng vùng tư do kháng chiến căn cứ địa cách mạng, đồngthời Đảng Nhà nước cũng không ngừng xây dựng mở rộng mặt trận để đoànkết tất cả những người Việt Nam yêu nước tham gia các đoàn thể “cứu quốc”tạo sức mạnh tổng hợp nhằm làm cô lập suy yếu kẻ thù và một trong nhữngyếu tố quan trọng đưa cách mạng Viêt Nam đi đến thắng lợi “trước hết và trênhết là những chiến thắng về tổ chức và tiếp tế” đây là lời nhận xét củaBarnard Fal (dẫn theo Kinh tế Viêt Nam từ cách mạng Tháng Tám đến khángchiến thắng lợi 1945-1954;192) Nói như vậy để khẳng định rằng việc xâydựng tổ chức, sản xuất kinh tế ở hậu phương là vô cùng quan trọng quyết địnhđến thắng lợi của cách mạng Việt Nam Nghệ An là một tỉnh có diện tích rộngchiếm khoảng 5% diện tích cả nước, tuy nhiên nền kinh tế còn nhiều lạc hậulại thường xuyên bị thiên tai lũ lụt và sự phá hoại của bọn thưc dân nhưng vớitruyền thống yêu nước từ xa xưa đã thấm vào máu của những con người xứNghệ, những người con đất Nghệ An vẫn tôn tại và trở thành hậu phương cực

kỳ quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Là hậu phươngtrực tiếp chi viện cho chiến trường Lào và các chiến trường trong nước Đểđảm nhiệm vừa là vùng tự do vừa làm tròn nghĩa vụ hậu phương, nhân dânNghệ An đã ra sức phát triển kinh tế củng cố an ninh quốc phòng, đẩy mạnhhoạt động đối ngoại làm thay đổi tương quan lượng trên chiến trường có lợicho cuộc kháng chống thực dân Pháp của nhân dân ta Trên thực tế trong thời

Trang 4

trọng cùng cả dân tộc đi đến thắng lợi Với vị trí và vai trò đó Tôi chọn đế tài

“Kinh tế Nghệ An trong kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1954” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm khơi dậy tiềm năng của con người

1946-và vùng đất xứ Nghệ, bổ sung một phần nhỏ bé 1946-vào các công trình nghiên cứu

về lịch sử Nghệ An nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Từ trước tới nay, vấn đề Kinh tế Nghệ An từ năm 1946-1954 đã đượcquan tâm và đề cập trong các công trình nghiên cứu về Nghệ An như:

Lịch sử Đảng bộ Nghệ An (1930-1954) tập một NXB Chính Trị QuốcGia, Hà Nội năm 1998 Viết về phong trào Cách mạng Nghệ An trước và saukhi thành lập Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An trong công cuộcchống đế quốc, phong kiến và kiến thiết xây dựng Nghệ An

Nghệ An – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1954) của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An năm 1997 Viết về địa bàn chiếnlược, truyền thống yêu nước, xây dựng chế độ mới, bảo vệ chính quyền cáchmạng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp Phối hợp với các chiếntrường để chiến đấu,bảo vệ và xây dựng củng cố hậu phương để dốc sức chochiến trường, cùng với cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp điđến thắng lợi

(1945-Nghệ Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Bộchỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh 1998 NXB Nghệ Tĩnh (sơ thảo) nói về vị trí chiếnlược, truyền thống đấu tranh, quá trình xây dựng lực lượng chuẩn bị chokháng chiến, xây dựng củng cố hậu phương chi viện cho các chiến trường vàlàm nghĩa vụ quốc tế

Trang 5

Vùng trời tự do Thanh Nghệ Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp

1945-1954 Ngô Đăng Trí - NXB Chính Trị Quốc Gia Viết về những đóng góp củaThanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh cho các chiến trường Bình Trị Thiên, TrungLào, Hạ Lào, Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâmlược

Lịch sử công nghiệp Nghệ An 1945-1995, sở công nghiệp Nghệ NXB Hà Nội Viết về quá trình pháp triển của công nghiệp Nghệ An trước vàsau cách mạng Tháng Tám, vai trò của công nghiệp trong kháng chiến

An-Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu chung như: Lịch sử NghệTĩnh-NXB Nghệ Tĩnh năm 1984; Lịch sử Đảng bộ Nghệ Tĩnh hoặc các tácphẩm đi sâu vào môt chuyên đề nào đó như Đảng bộ Nghệ Tĩnh, lãnh đạocông cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong cuộc kháng chiến chốngPháp, các tác phẩm viết về văn hóa địa chí Nghệ An Trong các công trình nóitrên được đề cập nhỏ lẽ, một khía cạnh, một bộ phận của tiến trình lịch sử màchưa trở thành một đối tượng độc lập chuyên sâu về ý nghĩa lịch sử kinh tế.Hầu hết các tác phẩm này đề cập đến vấn đề Kinh tế Nghệ Tĩnh như một tiền

đề và cơ sở để nghiên cứu các vấn đề khác

Trang 6

3 Đối tượng nhiệm vụ của đề tài.

Việc nghiên cứu đề tài “Kinh tế Nghệ An trong káng chiến chống thựcdân Pháp (1946-1954)” trên cơ sở nguồn tư liệu đã tìm được Luận văn củaTôi đã trình bày một cách hệ thống về nền kinh tế Nghệ An trong giai đoạnchống Pháp 1946-1954, để thấy rõ hơn những chuyện biến của kinh tế Nghệ

An trong giai đoạn kháng chiến và tác động của sự nghiệp kháng chiến đếnnền kinh tế Tỉnh nhà Để đáp ứng nhu cầu tại chỗ và chi viện cho chiếntrường, hàng loạt các ngành nghế kinh tế ở Nghệ An đã góp phần cung cấpmột lượng lớn cho nhân dân và các chiến trường

Nhiệm vụ giải quyết

Kinh tế Nghệ An trước năm 1945

Các ngành kinh tế Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Pháp (tìnhhình phát triển, năng lực sản xuất,… )

Mục đích và vai trò của các ngành kinh tế Nghệ An trên phương diệnđời sống xã hội tại chỗ và cuộc kháng chiến của dân tộc

Từ thực tế nền kinh tế 1946-1954, luận văn rút ra ý nghĩa, bài học để ápdụng vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước ngày nay

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu sau: Cácvăn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Nghi quyết của Tỉnh ủy Nghệ An,các sách lịch sử Việt Nam, tỉnh Nghệ An, lịch sử quân sự Quân khu 4, cácluận án, các tiểu luận có liên quan tới đề tài, các tài liệu liên quan đến truyềnthống văn hóa - kinh tế Nghệ An

Trang 7

Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tuân thủ sử dụng có hiệu quả cácphương pháp nghiên cứu khoa học trong đó nổi bật là hai phương pháp cơbản: phương pháp lịch sử và lôgic ngoài ra còn sử dụng tư liệu chính xác đảmbảo tính khoa học của quá trình phân tích, tổng hợp nhằm trình bày một cách

có hệ thống sự phát triển, tác động và vai trò của nền kinh tế Nghệ An tronggiai đoạn 1946-1954

5 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đượctrình bày trong ba chương và phần kết luận

Chương 1 Khái quát chung về nền kinh tế Nghệ An thời Pháp thuộc(1858-1945)

Chương 2 Kinh tế Nghệ An trong kháng trong kháng chiến chống thựcdân Pháp 1946-1954

Chương 3 Vai trò của nền kinh tế Nghệ An đối với cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp 1946-1954

Trang 8

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ NGHỆ AN THỜI

PHÁP THUỘC (1858-1945) 1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lí

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ nằm trong tọa độ từ

18o33’20” đến 15o59’58” vĩ độ Bắc và từ 103o52’15” đến 105o48’17” Kinh độĐông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tỉnh, phía Đônggiáp biển Đông với chiều dài 92 km, phía Tây giáp các tỉnh Xiêng Khoảng,Pôlikhămxay, Hủa Phăn thuộc nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào vớiđường biên giới dài 419 km

* Điều kiện tự nhiên

Địa hình: diện tích tự nhiên có 16.487,39 km chiếm khoảng 1/5 diệntích cả nước Với địa hình đa dạng và phức tạp bị chia cắt mạnh, ở vùng đồngbằng vừa có núi cao, vừa có đồng bằng và ven biển, địa hình núi cao chiếm83% diện tích đất tự nhiên của núi như (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông,

… ), phía Tây Nam là dãy núi Trường Sơn chạy dài theo biên giới Viêt - Làotheo hướng Tây Bắc - Đông Nam làm cho địa hình bị chia cắt phức tạp vàhiểm trợ

Đồng bằng: được tạo nên do sự bồi đắp của các con sông: Sông Lam,Sông Hoàng Mai, Sông Cấm,… ở đây có một số đồng bằng rộng lớn do có sựbồi đắp của phù sa từ các vùng cao đổ xuống như: Yên Thành, Đô Lương,Nam Đàn

Trang 9

Sông ngòi: đặc điểm của sông ngòi ngắn và hẹp chỉ có Sông Lam làchủ yếu Sông suối Nghệ An có giá trị lớn về kinh tế - xã hội, đó là nguồncung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạthàng ngày cho nhân dân Là tuyến giao thông đường thủy tiện lợi, là nguồnthủy năng để phát triển thủy điện

Rừng: phong phú và đa dạng, theo số liệu năm 2003 Nghệ An có720,13000 ha rừng đứng thứ hai toàn quốc, độ che phủ 43,6% Rừng có nhiềuloại gỗ quý như: Đinh Hương, Lim, Sến, Táu,… có giá trị kinh tế cao Trữlượng có khoảng 51.000000 km và 1,1 tỉ cây nứa mét Động vật rừng đa dạng

và phong phú với nhiều loại thú lớn như: Voi, Hổ, Gấu, Nai,…

Tài nguyên biển: Nghệ An có bờ biển dài 82 km rộng 4229 hải lývuông (1 hải lý là 16 km) Với nhiều loại sinh vật biển và động vật biểnphong phú với khoảng 200 trăm loại tạo và 190 loài động vật nổi, 300 trămloài động vật đáy, 207 loài cá,… ngoài ra biển Nghệ An còn có vai trò lớn lànguồn cung cấp cá, muối cho nhân dân Mặt khác, đó cũng là nguồn tàinguyên có giá trị phát triển các ngành kinh tế biển đảm bảo đời sống cho nhândân và nhu cầu xuất khẩu

Khoáng sản với trữ lượng phong phú: Sắt, Thiếc, Vàng, các loại đá,đấtsét, đặc biệt là nguồn đá vôi thuận lợi cho phát triển các ngành khai khoáng,luyện kim và xây dựng (Thiếc ở Quỳ Hợp, Mangan ở Hưng Nguyên, Ti tan ởCửa Hội)

Tài nguyên nước: phong phú và đa dạng bao gồm nước trên mặt vànguồn nước ngầm là nguồn nước quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, các

Trang 10

Với hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ, đường sắt, đường sông,đường biển, đường hàng không là một phần của cơ sở hạ tầng, có vị trí, vaitrò lớn đối với nền kinh tế - xã hội cũng như quốc phòng an ninh của tỉnh nóiriêng của cả nước nói chung.

Về khí hậu: Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm trongphạm vi của khí hậu Việt Nam Hàng năm Nghệ An nhận được bức xạ mặttrời với tổng bức xạ khoảng 131,8 kcal/cm/năm và cán cân bức xạ khoảng87,3 kcal/cm/năm (tại trạm Vinh) Tổng nhiệt độ trong năm khoảng 8.500oc

Số giờ nắng trung bình năm đạt khoảng 1500 đến 1700 giờ Nhiêt độ trungbình năm ở vùng núi là 23,50c còn ở đồng bằng duyên hải là 23,90c

Với đặc thù đó nên Nghệ An không những là nơi ảnh hưởng mạnh mẽcủa gió mùa Đông Bắc, ít mưa và còn hứng chịu những trận gió Lào (gióPhơn Tây Nam) khô và nóng kéo dài có lúc nhiệt độ lên tới 39-400C Khoảnggiữa tháng 7 đến tháng 10 thường có bão và mưa lớn gây ra lũ lụt và ngậpúng Nhìn chung khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn nhiều vùng khác trong cảnước, với điều kiện khó khăn hơn là thuận lợi Đó cũng là một trong nhữngnhân tố tạo nên tính cách con người Xứ Nghệ

1.1.2 Dân cư

Trang 11

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đưa kết luận: trênđất Nghệ An đã có người vượn cư trú cách ngày nay khoảng 20 vạn năm cùngvới quá trình lao động và tiến trình của lịch sử, cư dân Nghệ An ngày càngphát triển tới hàng triệu người với hàng trăm họ tộc có nguồn gốc bản địahoặc từ nơi khác đến Hiện nay dân số Nghệ An có khoảng 3.014.850 người(31/12/2004) gồm nhiều họ tộc sinh sống, trên lãnh thổ Nghệ An có nhiếu dântộc chung sống: Kinh, Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú,… dân cư Nghệ An theophân loại của các nhà dân tộc học Việt Nam 6 tộc người cư trú thuộc 4 nhómngôn ngữ: tộc người Việt Mường Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường;tộc người Thái thuộc nhóm Tày - Thái; tộc người Khơ Mú và Ơdu thuộcnhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me; tộc người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mèo– Dao Trong đó đông nhất là người Kinh Do đặc thù về vị trí địa lí và điềukiện tự nhiên như thế, nên để tồn tại và phát triển con người nơi đây phải vượtlên tất cả những khó khăn, khắc nghiệt đó Chính trong quá trình ấy đã hìnhthành nên nét đẹp và cùng với lịch sử những nét đẹp ấy được bồi đắp mãi trởthành truyền thống tốt đẹp.

1.2 Tình hình kinh tế Nghệ An thời Pháp thuộc (1858-1945)

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều đìnhnhà Nguyễn do dự đã lùi hết bước này đến bước khác để rồi đến ngày 6 tháng

6 năm 1884 kí với Pháp hòa ước Pa – tơ – nốt đã biến nước ta thành nước phụthuộc Pháp cùng với đó là các quyền hành về kinh tế và quân sự đều do Phápnắm giữ

Trang 12

Khi thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) rồi lần thứ hai(1882) và chiếm luôn Bắc Kỳ, đất nước bước vào tình hình hỗn loạn nghiêmtrọng hơn bao giờ hết phong trào kháng chiến chống cả triều đình lẫn thựcdân Pháp nổ ra mạnh mẽ, trên địa bàn Nghệ An vào thời điểm lịch sử đó cũngdấy lên nhiều cuộc đấu tranh nhằm chống lại triều đình và thực dân Pháp, chođến khi Pháp chiếm thành Nghệ An (20/7/1885), thiết lập bộ máy cai trị ở đây

và công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đẩy mạnh sau chiến tranhthế giới thứ nhất thì nền kinh tế Nghệ An có nhiều biến chuyển mới

1.2.1 Nông nghiệp

Cho đến khi Pháp chiếm thành Nghệ An (20/7/1885) kinh tế Trung Kỳnói chung, Nghệ An nói riêng vẫn là nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông mangtính tự cung tự cấp lỗi thời lạc hậu Làng xã là địa bàn cư trú của đại bộ phậndân chúng Tuy nhiên, nền nông nghiệp Nghệ An có những chung cơ bản sau

Nông dân làng xã sống bằng nghề nông truyền thống theo quy luật:

“chồng cày vợ cấy – con trâu đi bừa”, nhưng đáng nói là đại bộ phận nôngdân làng xã cày ruộng thuê cho địa chủ, tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trongtay địa chủ, người giàu có

Nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, yếu tố khoa học kỹ thuậtchưa được can thiệp vào sản xuất

Tuy nhiên,bức tranh kinh tế nông nghiệp Nghệ An đến trước chiếntranh thế giới thứ nhất bùng nổ và kết thúc (1914-1918) xét về phương thứccanh tác trồng trọt chăn nuôi, nông cụ, giống vật nuôi cây trồng chưa mấythay đổi

Trang 13

Từ cuối thế kỉ XIX kinh tế đồn điền đã bắt đầu phát triển ở Nghệ An.Ngày 29/7/1887 chính quyền thực dân pháp ép vua Thành Thái ra dụ thừanhận quyền sử dụng đất đai của người Pháp chiếm được ở Trung Kỳ dưới mọihình thức Phòng thương mại Hà Nội, phòng canh nông Bắc Kỳ và Trung Kỳlập cơ quan đại diện ở Vinh ra sức hoạt động tạo điều kiện cho các nhà tư sảnpháp và Việt cướp đoạt ruộng đất và đồi núi lập các đồn điền.

Từ năm 1919 – 1939 các điền chủ người Pháp đã mạnh dạn bỏ vốn lập

ra một hệ thống đồn điền hầu khắp các huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An đáng

kể là đồn điền sapainhe, pau Hugon, Kí Viễn ở Hạnh Lâm (Thanh Chương),đồn điền của anh em nhà Le Jeune, đồn điền của Emileur, Chavanon ở QuỳnhLưu, đồn điền của Bá Hộ Cầu (Hưng Nguyên)…

Cho đến năm 1943 của thế kỉ XX Nghệ An có khoảng 70 đồn điềndiện chiếm 1/6 diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh (26085ha/140000ha)

Phần lớn đồn điền trồng các loại cây công nghiệp như cà phê cao su, hồtiêu và sản phẩm được xuất khẩu đi nhiều thi trường trên thế giới

Về chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nghệ An cũng không có bước chuyểnbiến, phần lớn trâu bó tập chung vào tay địa chủ phú nông và trung nông, mặtkhác việc chăn nuôi gia cầm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu gia đình, chưa trởthành sản phẩm hàng hóa trên thị trường Việc nuôi trồng thủy hảu sản chưatrở thành thói quen đối với người dân, có chăng một số địa chủ, phú nông,trung nông cho đào một vài hồ ao thả cá cuối năm thu hoạch, cung cấp phục

vụ nhu cầu tại gia

Trang 14

Từ năm 1939, khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ tình hình ViệtNam nói chung và Nghệ An nói riêng chịu nhiều biến đổi về kinh tế xã hội,kéo theo nông nghiệp cũng ít nhiều thay đổi, tuy vậy những thay đổi ấy chưa

đủ làm cơ sỏ thay đổi cuộc đời của đại bộ phận nông dân không có ruộng đất

và tư liệu sản xuất mà còn phải chịu biết bao nhiêu thứ thuế khóa, phu phentạp dịch do chính quyền thực dân phong kiến đề ra Những đầu tư của chínhquyền thực dân vào việc dẫn thủy nhập điền chống lũ lụt từ những năm 30 trở

đi tuy có làm thay đổi ít nhiều diện mạo của kinh tế nông nghiệp ở đồng bằngchứ không làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp tai đây,

Tóm lại, nền kinh tế nông nghiệp Nghệ An kể từ khi thực dân Phápvẫn là nền kinh tế tiểu nông truyền thống lỗi thời và lạc hậu với hai ngànhchính là trồng trọt và chăn nuôi Ruộng đất, tư liệu sản xuất nằm trong tay địachủ phong kiến, phú, trung nông là chủ yếu, nông dân phần lớn là không córuộng đất hoặc nếu có thì cũng không đáng kể, trâu bò, nông cụ

Quan hệ bóc lột kiểu phát canh thu tô truyền thống vẫn tiếp tục tồn tạimột cách phổ biến ở các làng xã

Ở các vùng miền núi phía tây nơi sinh sống của các đồng bào dân tộcthiểu số, thì việc canh tác nông nghiệp lại càng trở nên lạc hậu hơn bao giờhết, sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo phương thức phát nương làm rãy, phụthuộc nhiều vào tự nhiên, do vậy năng suất và chất lượng cây trồng khôngcao, đời sống nhân dân không ổn định

Có thể khẳng định rằng nền kinh tế tiểu nông đã bám chặt vào nếp sống

và suy nghĩ của mỗi con người xứ Nghệ, đây cũng là nguyên nhân gây nêntình trạng chậm phát triển của ngành nông nghiệp Nghệ An, mặc dù thực tế cóthể thấy rằng người Pháp cũng đã can thiệp vào nông nghiệp (xây dựng các

Trang 15

công trình thủy lợi tưới tiêu, các công trình ngăn lũ lụt ở dọc tả ngạn sôngLam…) Nghệ An.

Cũng với quan hệ sản xuất phong kiến tồn tại lâu đời trong nền kinh tếnông nghiệp Nghệ An mà mâu thuẫn truyền kiếp giữa nông dân và địa chủ ởmọi lúc mọi nơi đều âm ỉ cháy, rồi theo đó lại là sự can thiệp của thực dânpháp khiến những mâu thuẫn xã hội ngày cang chồng chất, và chỉ chờ có điềukiện là nó bùng phát thiêu trụi những tàn tích của sự bóc lột

1.2.3 Công ngiệp

Trang 16

1.2.3.1 Nghành cơ khí sửa chữa đầu máy toa xe và vận tải đường sắt

Ngày 27/12/1896, chính phủ Pháp quyêts định bổ nhiệm cựu bộ trưởngtài chính Pon-Đume, sang giữ chức toàn quyền Đông Dương, đồng thời xâydựng một dự án, chương trình hành động nhằm chuẩn bị cho công cuộc khaithác thuộc địa với quy mo lớn ở đây (xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thủylợi, đào tạo đội ngũ công nhân kĩ thuật, phục vụ cho quá trình khai thác thuộcđịa của chúng)

Trên địa bàn Nghệ An, ngay sau khi dập tắt phong trào Cần Vương(1896) các ông chủ người Pháp đã bắt đầu thực hiện quá trình đầu tư tư bảnvào Vinh, Bến Thủy, Trường Thi.Vinh được coi là trung tâm dầu mối giaothông vận tải thủy bộ, hàng không quy mô lớn, tập trung ở Bắc Kỳ, tiếp đóngười Pháp cho xây dựng nhà máy sửa chữa đầu máy xe lửa lớn nhất ĐôngDương tại Trường Thi(diện tích 10ha), cùng với việc xây dựng các tuyếnđường sắt, trong thời gian này việc xây dựng các tuyến đường bộ nối Vinh –Bến Thủy, Vinh –Phủ Quỳ, việc xây dựng sân bay vinh phục vụ cho mục đíchvận tải, quân sự cũng được gấp rút triển khai

Ngày 17/3/1905, tuyến đường sắt Hà Nội – Bến Thủy dài 326km chínhthức được đưa vào sử dụng khai thác Nhà máy sửa chữa đầu máy toa xeTrường Thi, Đề Pô xe lửa Vinh trở thành ngành công nghiệp vận tải đường sắtcủa Pháp (quy mô 1000 công nhân, với 4 phân xưởng), đặt nền móng cho sựhình thành và phát triển ngành công nghiệp vận tải đường sắt ở Bắc Kỳ,Trung Kỳ ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX, là điểm nối trên bản đồngành công nghiệp vận tải thời thuộc Pháp

Với sự phát triển của nhà máy sửa chữa đầu máy toa xe Trường thi lànguyên nhân dẫn đến việc vua Khải Định ra đạo dụ thành lập trung tâm đô thiTrường Thi (27/7/1917)

Trang 17

Việc hình thành ngành cơ khí vận tải đường sắt là nguyên nhân hìnhthành đội ngũ công nhân cơ khí đông đảo.

1.2.3.2 Ngành công nghiệp vận tải đường bộ

Khi bình định xong lãnh thổ Việt Nam Pháp bắt tay vào xây dựng hệthống giao thông quy mô lớn nối các tỉnh,các vùng, các xứ,…

Đường xuyên Việt (đoạn từ Quỳnh Lưu đến phà Bến Thủy hay còn gọi

là quốc lộ 1) cho phép đi từ Vinh – Bến thủy đến bất cứ tỉnh nào ở Bắc kỳhoặc Trung Kỳ, Nam Kỳ

Đường số 7 Nối Vinh bến thủy với Phủ Quỳ - Trấn Ninh – Cửa Rào tậnViên Chăn

Đường số 8 Nối Vinh – Bến Thủy với Hà Tỉnh qua Trung Lào taị cửakhẩu Cầu treo thuộc địa phận Hương Sơn – Hà Tĩnh

Ngoài ra Pháp còn huy động cộng đồng cư dân xứ Nghệ xây dựng cáctuyến đường nội tỉnh như : Đường Vinh – Cửa Hội – Cửa Lò, Vinh – HưngNguyên – Nam Đàn – Thanh Chương Chủ yếu phục vụ vận tải hàng hóa vàhành khách, vận chuyển lương thực, quân đội đàn áp các lực lượng vũ trangchống đối,…

Ngành công nghiệp vận tải đường thủy

Vào cuối thế kỷ XIX hết chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp độc quyền

về vận tải đường thủy trên đất nước ta Cảng Bến Thủy nằm trong hệ thốngcảng sông, cảng biển do hội đồng các hải cảng Đông dương trực tiếp nămgiữa,độc quyền Cảng bến thủy trở thành đầu mối giao thông quan trọng ởtrung Kỳ - lào

Trang 18

Với tầm quan trọng của cảng Bến Thủy Ngày 17/3/1930 Hội đồng hảicảng Đông Dương ra thông báo về dự án cải tạo cảng Bến Thủy nhằm đưa cácloại tàu bề cập bến (tuy vậy dự án này chỉ nằm trên giấy tờ chưa được thựchiện do tác đọng của một số nguyên nhân khách quan) Tuy vậy cản Bến Thủyvẫn được nhắc đến như 1 thương cảng quan trọng nhất Bác Kỳ…

1.2.3.5 Ngành công nghiệp sản xuất diêm, cưa, xẻ gỗ và chế biến lâm sản xuất khẩu

Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, ngành khai thác cưa, xẻ gỗ, lâm sảnkhá phát triển, các công ty lâm sản của người Pháp và người Việt dần đượchình thành như Công ty diêm Đông Dương, Công ty lâm sản thương mạiTrung Kỳ, các xưởng cưa của người Việt như Xưởng cưa của Lê Viết Lới rađời Các công ty này mở rông cưa xẻ gỗ, lắp đặt hệ thống máy cưa xẻ gỗ hiệnđại, lập các đại lý mua bán gỗ trên địa bàn Nghệ An Do thị trường tiêu thụrộng lớn nên sản phẩm làm ra từ gỗ được xuất khẩu đi nhiều nơi

Bến Thủy trong suốt thời gian thuộc Pháp, nhất là giai đoạn sau chiếntranh thế giới thứ nhất luôn là trung tâm buôn bán kinh doanh gỗ lớn nhấtĐông Dương

Bên cạnh việc sản xuất và chế biến lâm sản, người Pháp còn cho xâydựng nhà máy diêm Bến Thủy, nhằm tận dụng lượng gỗ dư thừa và tạo ra thịtrường tiêu thụ mới Hàng năm nhà máy diêm Bến Thủy có thể sản xuất tới190.000.000 – 200.000.000 bao diêm, cung cấp cho toàn Đông Dương và xuấtkhẩu đi một số nước khác

Tuy vây khi Nhậ đảo chính Pháp ngày (9/3/1945) thì nhà máy diêmBến Thủy ngừng sản xuất và từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đếnnhững năm 90 của thế kỷ tước, công nghiệp sản xuất diêm được tổ chức vàxây dựng lại trên địa bàn Nghệ An

Trang 19

Công nghiệp điện lực.

Ngay từ đầu những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, người Pháplại đẩy mạnh quá trình khai thác thuộc địa,bên cạnh việc xác tiến mở cáctuyến giao thông, đào tạo đội ngũ công nhân, người Pháp cũng hiểu rằngmuốn làm cho quá trình khai thác và sản xuất, chế biến đạt được hiểu quả caothì cần phải đẩy mạnh phát triển điện lực

Trên địa bàn Nghệ An lúc bấy giờ người Pháp đã cho xây dựng nhàmáy nhiệt điện Bến Thủy lớn nhất ở Trung kỳ với công suất 2760kw/h gấp 12lần công suất các cơ sở điện lực ở Sầm Sơn, Hồi Xuân, Thanh Hóa cộng lại[KTNA ;154, Chỉ tính riêng nhà máy nhiệt điện Bến Thủy có khả năng sảnxuất 1.690.000kw/h chiếm gần 1/3 khả năng sản xuất điện của tất cả các àmáy ở Trung Kỳ

So với Sài Gòn, Hà Nội, Nam Định nganh công nghiệp điện lực đượcđầu tư xây dựng ở Nghệ An muộn hơn vài thập kỷ Phải đến giữa thập kỷ XXcủa thế kỷ trước nhà máy điện Bến Thủy mới được xây dựng xong Tuynhiên, sự ra đời của ngành điện lực đã thúc đẩy tốc độ sản xuất ở cảng BếnThủy, nhà máy cưa xẻ gỗ, nhà máy xe lửa Trường Thi phát triển với quy môngày càng lớn, tốc độ đô thị hóa ơ Vinh – Bến Thủy diễn ra nhanh

Công nghiệp điện lực ở Nghệ An thời Pháp thuộc là bức tranh thu nhỏcủa nền công nghiệp điện lực nước ta và cả Liên bang Đông Dương

1.2.4 Buôn bán - Thương mại

Trang 20

Nhìn chung thời Pháp thuộc, việc buôn bán giao dịch thương mại trênđịa bàn Nghệ An đó là sự độc quyền kiểm soát của công ty Rừng và DiêmĐông Dương đều nằm trong tay ông chủ buôn người Pháp hàng năm công tynày có thể xuất khẩu tới 60.000 đến 70000m3 gỗ và khoảng 190.000.000 đến200.000.000 bao diêm, công ty dầu lửa Pháp Á, hãng Shell, Caltex mỗi năm

số lượng hàng hóa nhập khẩu từ 35000 tấn đến 55000 tấn đều do pháp độcquyền năm giữ.[200]

Việc buôn bán các mặt hàng như muối đều do Sở Thương Chính độcquyền năm giữ, đem lại nguồn lợi lớn cho người pháp, theo số liệu thông kêcủa kĩ sư GilBert – chánh sở canh nông Bắc Kỳ vào năm 1929 Các tỉnh Trung

Kỳ có 617ha 24,9 arơ trong đó Nghệ An cố 34ha 2 arơ

Hoạt động buôn bán rượu cũng nằm trong sự kiểm soát của sở thươngchính của người Pháp ở Vinh – Bến Thủy, Pháp cấm các hoạt động nấu rượutrong nhân dân thay vào đó là các cơ sở sản xuất và buôn bán của chính quyềntay sai ở phủ, huyện

Các hoạt động buôn bán nhỏ ở nông thôn của các tầng lớp tiểu thươngnhà buôn nhỏ cũng diễn ra không mấy sôi động, chủ yếu buôn bán nhỏ tại cácchợ nhằm kiếm vốn nuôi sống gia đình Tuy vậy, buôn bán vẫn chưa được coi

là nghề phụ, buôn bán trao đổi nhỏ khiến cho các thương nhân chưa dám thoátkhỏi lũy tre làng

Các hoạt đông buôn bán lớn ở thành phố Vinh – Bến Thủy diễn ra khánhộn nhịp, muối rượu do các đại lí Sở Thương Chính độc quyền nắm giữ vớiđầy đủ các mặt hàng (vải vóc, tơ lụa,… ) Chợ Vinh trở thành một trongnhững chự lớn nhất ở Trunh Kỳ

Trang 21

Hoạt động buôn bán thương mại trên địa bàn Nghệ An sau chiến tranhthế giớ thứ nhất diễn ra theo một chiều, đó là các công ty tư bản Pháp độcquyền chiếm thị trường, nắm các đầu mối qun trọng trong giao lưu buôn bán,còn hoạt động buôn bán của một bộ phận tiểu thương tiểu chủ diễn ra nhỏ lẽchưa đủ sức thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển Nghệ An, một triệu dân vẫn

là thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất trong nước hay nhập từ Pháp và xuấtkhẩu những sản phẩm mới sơ chế mà thôi

1.2.4 Ảnh hưởng của các chương trình khai thác thuộc địa đến tình hình kinh tế xã hội ở Nghệ An

Ngày 20 tháng 7 năm 1885, tướng Sô - Mông đem hai đại đội lính Phápgồm 118 tên đổ bộ lên Cửa Hội, đánh chiếm thành nghệ An Thương biển tỉnh

vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình đã hèn nhát dâng thành Nghệ An cho giặc Tòathành kiên cố tượng trưng cho vương quyền họ Nguyễn ở lưu vực sông Lam

đã hoàn toàn mất hết chức năng, là một pháo đài quân sự Từ đây, số phậnNghệ An nói riêng và toàn xứ Trung kỳ nói chung bước vào một giai đoạn đầykhó khăn thử thách “Của thời kỳ phát triển trong chế độ thuộc địa nửa phongkiến, trong bão táp của công cuộc khai thác thuộc địa kéo dài của tư bảnPháp” [Tạp chí thức tỉnh KTDD-27]

Trang 22

Để đạt được mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Thựcdân Pháp đã khai thác với quy mô ngày càng lớn Với mưu đồ cai trị củachúng, dưới sự sắp đặt của quan thầy Pháp, chính cơ mật viện triều đình Huế

và Vua Thành Thái về lập sáu trung tâm đô thị ở trung Kỳ trong đó có Vinh

“Vinh trở thành một mắt xích quan trọng đối với chính quyền thuộc địa cả vềkinh tế lẫn chính trị văn hóa” [ thông cáo của xứ ủy Trung Kỳ… 27] Đếnnăm 1914, toàn quyền Đông Dương buộc vua Duy Tân ra đạo dụ ngày13/3/1914 nâng thị trấn Bến Thủy lên thành Thị xã Vinh-Bến Thủy Đến ngày28/7/1917 vua Khải Định lại ra đạo dụ lập thị xã Trường Thi

Như vậy đến thời điểm này ở Nghệ An đã có 3 thị xã Ba Thị xã nàytồn tại với 3 chức năng khác nhau: Vinh là trung tâm chính trị, Trường Thi làthị xã của công nghiệp sữa chữa máy móc và Bến Thủy là trung tâm thươngnghiệp buôn bán và giao lưu luân chuyển với bên ngoài

Đến ngày 10 tháng 12 năm 1927, toàn quyền Đông Dương ra quyếtđịnh bãi bỏ Thị xã Vinh, Trường Thi, Bến Thủy và ra nghị quyết sát nhập địabàn 3 thị xã đó thành lập thành Thành Phố Vinh – Bến Thủy đặt dước sự điềuhành của công xứ Nghệ An kiêm giữ chức đốc lý thành phố

Tư bản Pháp đã đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở công thương nghiệpVinh – Bến Thủy, đi liền với nó chúng tận thu mọi nguồn lợi nông nghiệp vàthuế để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của chúng

Trong công nghiệp: Chúng tăng cường khai thác gỗ và các lâm sản quý

để kinh doanh, nhập khẩu, vừa mở đồn điền Chúng ra sức chiếm đoạt taìnguyên, tận dụng tối đa sức người sức của để phục vụ cho mưu đồ của chúng

Trang 23

Trong thương nghiệp – dịch vụ: Thực dân Pháp đẩy mạnh hoạt độngxuất nhập khẩu, chúng còn độc quyền kinh doanh các mặt hàng đặc biệt vàlập ri 17 đồn thương chính ở Nghệ An để kiểm soát những mặt hàng: Muối,rượu, thuốc phiện, thuốc lá.

Về nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác, trước sự khai tháccủa thực dân Pháp Nông nghiệp Nghệ An đã cÓ sự biến đổi sâu sắc ở trênnhiều khía cạnh Nông nghiệp không còn giữ vị trí độc tôn như trước nữa.Trong khi tiến hành xây dựng đường giao thông, cầu, cảng, cơ sở côngnghiệp, Thực dân pháp đã xóa sổ một phần lớn ruộng đất của nông dân, cùngvới sự tàn phá của thiên tai, nông nghiệp Nghệ An đã mất hẳn vị trí là mộtngành kinh tế chủ đạo Chúng còn mở rộng khai thác bằng cách chiếm đoạtruộng đất, lập đồn điền, chiếm đất đai làm trại lính, công xưởng và giao Pháptăng cường tuyển mộ culi Hàng trăm ngàn người dân xứ Nghệ bị bắt làm culivới đồng lương rẻ mạt phải chịu những trận đòn roi tra tấn của các chủ đồnđiền

Bên cạnh những biện pháp khai thác thuộc địa trên lĩnh vực kinh tế thìthực dân Pháp còn áp dụng những chính sách về chính trị, văn hóa, giáo dục.Chính những điều đó đã tác động sâu sắc đến đời sống các tầng lớp nhân dânNghệ An

Đối với giai cấp công nhân: Đây là một giai cấp được hình thành trongcuộc khai thác thuộc địa của Thực dân pháp, công nhân Nghệ An cũng chịuchung số phận như công nhân cả nước với đời sống bấp bênh, đồng lương ít

ỏi, bị bóc lột nặng nề nên khi được giác ngộ họ nhanh chóng trở thành nhữngchiến sĩ cộng sản kiên cường

Trang 24

Giai cấp tiểu tư sản: tầng lớp tiểu tư sản Nghệ An bao gồm viên chức,trí thức học sinh, thợ thủ công, tiểu thương tiểu thủ… (tầng lớp này làm biếnđổi thêm một bước tiến trong cơ cấu xã hội), họ cũng có một cuộc sống bấpbênh, tiềm lực kinh tế mỏng, lại bị chèn ép nên họ có tinh thần chống Pháp,chống phong kiến

Giai cấp tư sản: Tư sản người Việt ở nghệ An nhỏ bé, hình thành saugiai cấp công nhân, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực buôn bán nhưng bịchèn ép bởi tư sản Pháp, tư sản nước ngoài, nên đời sống của họ cũng gặpnhiều khó khăn, bởi thế giai cấp tư sản Nghệ An cũng có ý thức chống đếquốc, chống phong kiến Bên cạnh đó có một bộ phận ôm chân đế quốc là taysai cho thực dân Pháp

Giai cấp nông dân: Nông dân Nghệ An có số lượng đông nhất, là lựclượng đầu tiên chịu hậu quả cuộc khai thác thuộc địa thực dân Pháp Quá trìnhxây dựng Nghệ An, đặc biệt là Vinh thành một trung tâm công thương nghiệpcũng là quá trình phá sản của những người nông dân ở đây

Cùng với sự ra đời của kinh tế công thương nghiệp, kinh tế nôngnghiệp ở Nghệ An bị đẩy vào hàng thứ yếu nên nông dân Nghệ An cũng bịphá sản, vì họ đã bị mất tư liệu sản xuất Đất canh tác của nông dân bị sanbằng, thay vaò đó là các nhà máy, đặt các hiệu buôn bán,… điều đó dẫn tới sựphân hóa sâu sắc trong nội bộ giai cấp nông dân, người thì đi tha phương cầuthực, còn một bộ phận khác thì tìm việc tại các phân xưởng nhà máy Họ lànhững đối tượng bị bóc lột trực tiếp của bọn tư bản, cai lý, đốc công,… Hầuhết nông dân Nghệ An vẫn bám trụ lấy số ruộng còn lại gắn bó với nghề nôngsong thực tế bị sưu thuế ngặt nghèo lại bị thiên tai đe dọa nên chẳng mấy chốc

họ trỏ thành bần nông, cố nông rơi xuống đấy của xã hội

Trang 25

Như vậy, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa đã làm biến đổisâu sắc tình hình xã hội ở Việt nam nói chung ở đầu thế kỷ 20, ở Nghệ An nóiriêng cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ về xã hội đó là sự phân hóa trong lòngcác giai cấp cũ: giai cấp nông dân, địa chủ, và sự ra đời các tầng lớp giai cấpmới: Giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản, cùng với đó làsựh bần cùng hóa các tầng lớp nhân dân Chính những nhân tố này tạo điềukiện tiền đề cần thiết cho phong trào giải phóng dân tộc ta ở những giai đoạnsau.

Trang 26

CHƯƠNG 2: KINH TẾ NGHỆ AN TRONG KHÁNG CHIẾN

CHỐNG PHÁP (1946 - 1954 ) 2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủCộng hòa ra đời đã phải đối đầu với muôn vàn khó khăn và thử thách Nghệ

An cũng nằm trong hoàn cảnh chung của cả nước, nhưng có những mặt cònnghiêm trọng hơn Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã lam cho hàng chục vạnngười chết, hàng ngàn gia đình tan nát, hàng trăm xóm làng điêu tàn [3;52].Thiên tai dồn dập làm hàng vạn hoa màu bị tàn phá Sau bão lụt bệnh dịchphát triển và lan khắp nơi đã gây thiệt hại nhiều cho người và gia súc Sảnxuất bị đình trệ, đời sống công nhân và nhân dân lao động lâm vào cảnh bếtắc Tài chính kiệt quệ, hàng hóa trên thị trường khan hiếm, sự giao thươnggiữa các tỉnh chưa thực hiện được Các tệ nạn tuy có giảm nhưng vẫn cònnhiều vấn đề cần phải giải quyết

Chính quyền cánh mạng từ tỉnh đến cơ sở mới được thành lập, hầu hếtcác cán bộ chưa có kinh nghiệm quản lý Nhà nước Ở một số nơi như TươngDương, Quỳ Châu, khi cách mạng thành công ta chuyển nguyên bộ máy chínhquyền cũ sang làm nhiệm vụ của chính quyền cách mạng Tình hình đó đãlàm cho các hoạt động của chính quyền cách mạng và công tác mặt trận gặpnhiều khó khăn

Trang 27

Trong lúc toàn dân ta đang ra sức khắc phục khó khăn và xây dựng bảo

vệ chế độ mới thì bọn phản động cách mạng cũng dần dần tập hợp lực lượnglại để chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam và tạo điều kiện cho bọnthực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương Lúc này ở Nghệ An quân Tưởngnúp dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, nhưngthực chất chúng đã bằng mọi cách thực hiện âm mưu: tiêu diệt Đảng Cộngsản, phá tan Việt Minh, giúp bọn tay sai đánh đổ chính quyền nhân dân, lậpchính phủ quân sự do chúng nắm, cùng với đó là bọn Việt Quốc Việt Cáchcũng theo gót quân Tưởng vào phá hoại chính quyền cách mạng Giữa lúc đóphía biên gới Việt Lào, quân Pháp đã co cụm lại và chiếm giữ Nọong Hét trêntrục đường số 7 Chúng còn cho quân nhảy dù tăng cường thêm lực lượngmóc nối với bọn phản động nội địa, ráo riết chuẩn bị cho cuộc tấn công xâmlược vào đất Nghệ An

Trong bối cảnh hết sức khó khăn cùng một lúc phải đối đầu với nhiều

kẻ thù Vì vậy muốn bảo vệ được thành quả cách mạng giữ vững được chínhquyền dân chủ nhân dân, một yêu cầu khẩn cấp đối với toàn Đảng, toàn dânlúc này là phải chủ động đối phó với những âm mưu hành động phá hoại củađịch, đồng thời tích cự chuẩn bị nhân tài, vật lực về mọi mặt đặc biệt là kinh

tế để đảm bảo tối thiểu đời sống tự cung tự cấp cho quân dân trên địa bàn,đồng thời làm nghĩa vụ hậu phương chi viện cho chiến trường, góp phần quantrọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cả nước đếnbến bờ thắng lợi

2.2.Kinh tế Nghệ An trong kháng chiến chống Pháp 1946-1954

2.2.1 Nông nghiệp

Trang 28

Sau cách mạng Tháng Tám, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn

về nạn đói, mù chữ,… cùng với đó là phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng mộtlúc, vấn đề “độc lập dân tộc” vẫn là trên hết, nhiệm vụ dân chủ được đề ra vàđược thực hiện ở một chừng mực nhất định Tạo điều kiện cho toàn dân tậptrung nhân tài, vật lực phục vụ cho cuộc kháng chiến lâu dài

* Quá trình thực hiện chính sách

Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chínhNghệ An đã lãnh đạo nhân dân thực hiện những chính sách ruộng đất nhằmgiải quyết một phần yêu cầu ruộng đất của nông dân phục vụ yêu cầu cuộckháng chiến và kiến quốc

Trang 29

Để nhân dân có ruộng, Tỉnh ủy còn phát động sâu rộng phong trào khaihoang, phục hóa làm thủy lợi nhỏ (dẫn thủy nhập điền), phong trào khaihoang mở rộng diện tích phát triển mạnh tháng 6 năm 1946 các huyện YênThành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc đã vỡ hoang được hơn

700 mẫu (Trung Bộ), phục hóa 1420 mẫu Tính đến tháng 11 năm 1948 toàntỉnh đã khai hoang được hơn 2000 ha ruộng đất, lập 20 trại sản xuất và nuôitrâu bò ở Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Thanh Chương So với năm 1947,tổng sản lượng lúa, ngô tăng gấp đôi, diện tích bông tăng từ 17511 lên 24056mẫu

Năm 1947 - 1948 Nghệ An tiến hành vận động xóa nợ giúp nông dânchuẩn bị ruộng đất để tập trung sản xuất

Khi Sắc lệnh giảm tô của Chính phủ ban hành năm 1949 ấn định mứcđịa tô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh Đến năm 1950, Chính phủ lại banhành Sắc lệnh tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chạy vào vùng địch tạmchiếm và trưng thu tất cả ruộng đất bỏ hoang tạm cấp cho nông dân nghèo càycấy Cuộc vận động giảm tô, giảm tức, quy chế lĩnh canh, tạm cấp ruộng đấtcho nông dân đã được Đảng bộ và chính quyền các cấp thực hiện

Trong năm 1950, Nghệ An đã vận động được các chủ ruộng giảm tô25% cho hơn 95% diện tích ruộng đất phát canh, tạm cấp 17 đến 282 mẫuruộng đất công, ruộng đất của tư bản Pháp, Việt gian và đất vắng chủ cho

4892 hộ nông dân nghèo

Trong những năm 1950 - 1951, thực hiện chủ trương quân cấp côngđiên, ở các địa phương Nghệ An đã tiến hành quân cấp lại nhưng nhìn chung

Trang 30

Ở Nam Đàn, trước đây do không có sự hướng dẫn thống nhất củahuyện nên việc sử dụng ruộng đất công ở mỗi xã thực hiện một cách, nơi thìđấu thầu lấy tiền và hoa lợi bỏ vào quỹ xã, nơi thì giao cho dân quân sản xuất

tự túc, có nơi thì lấy ruộng đất công chia cho dân ngụ cư Trình trạng đó gâynên các vụ kiện cáo, tranh chấp, mất đoàn kết trong nông thôn, nhất là ở langVạn Thu (Nam Lộc) Sau khi có chỉ thị hướng dẫn cụ thể của Trung ƯơngĐảng, Tỉnh ủy, Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo các xã chia lại ruộng đất côngtheo nguyên tắc ruộng đất làng nào chia cho dân làn ấy Trường hợp ở nhữngnơi nhiều ruộng công mới vận động nhường cho dân làng khác Vận động cácgia đình địa chủ, phú nông nhường phần ruộng đất được hưởng của mình chonông dân (ở xã Vạn Thọ vì số ruộng đất công và ruộng nhà chung còn cónhiều ý kiến khác nhau nên tạm gác cấp cho dân cày và nạp cho Chính phủ10% địa tô) Đây là một thắng lợi lớn, làm cho mọi người tin tưởng, phấnkhởi đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất trên phần ruộng được chia, nhằmnâng cao đời sống và góp phần phát triển kinh tế, phục vụ kháng chiến, kiếnquốc

Ở Diễn Châu, năm 1951 có 442 chủ điền giảm tô, giảm lợi Từ sự giảm

tô, giảm tức của các chủ điền có 1061 tá điền được hưởng

Cũng trong năm 1950 - 1951, Nghệ An đã tiến hành tạm cấp một sốđồn điền đông thời tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian, ruộng vắng chủ vàruộng bỏ hoang chia cho nông dân sản xuất

Trang 31

Trong năm 1949 -1950, Nghệ An thực hiện chủ trương vận động hiếnđiền Trong năm 1949 đã vận động được một vạn mẫu Ủy Ban kháng chiếntỉnh còn thu gần 600 mẫu từ các chủ đồn điền để cấp cho bộ đội địa phương,lập các trại sản xuất phục vụ thương binh Tuy nhiên trong cuộc vận độnghiến điền ở Nghệ An còn mắc phải một số hạn chế đó là: coi hiến điền là một

bộ phận trong chính sách ruộng đất nhằm giảm bớt sự bóc lột của phú nông

và địa chủ nên có nơi vận động cả những hộ còn thiếu ruộng hiến điền, trongkhi đó việc sử dụng ruộn hiến điền không có hiệu quả

Từ năm 1952, có phong trào đấu tranh chống dây dưa thuế Chính sáchvận động đóng thuế nông nghiệp đã đi vào cuộc sống, địa chủ buộc phải giaocanh cho nông dân và nộp thuế cho Nhà nước Người nông dân có cơ hộichuộc lại ruông, địa chủ phải trả ruộng cho nông dân

Hình thức bóc lột của địa chủ cũng giảm, nông dân ít nhiều được cấpruộng đất nên ít phụ thuộc vào địa chủ hơn, hình thức nợ lãi đến năm 1951hầu như không còn, hình thức bóc lột công nhân giảm mạnh

Tuy nhiên vẫn còn một số địa chủ có nợ máu thâm thù với cách mạngngoan cố không chấp hành đúng chích sách giảm tô Chích sách thuế nôngnghiệp chỉ có một số địa chủ có tinh thần yêu nước sớm nhận thức và chấphành nghiêm túc

Trang 32

Như vậy, để thiết thực bồi dưỡng sức dân, nhất là nông dân, Tỉnh ủy đãthực hiện từng bước chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ, UBKHHành chính đã mở 17 lớp huấn luyện cho 600 cán bộ huyện xã về chính sáchgiảm tô 25%, quy chế lĩnh canh, chính sách quân cáp công điền, công thổ, xử

lý ruộng đất vắng chủ hoang hóa: toàn tỉnh có 586 chủ điền đã thực hiện giảm

tô đúng 25% và các quy chế lĩnh canh, lĩnh điền đối với 5622 tá điền Ruộngđất đồn điền Trịnh Môn được cấp cho nông dân nghèo Có 477 ha ruộng vắngchủ được tạm chia cho 1588 bần, cố nông Một số sai lệch trong quá trìnhquân cáp điền thổ được phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa kịp thời

Việc thực hiện chính sách năm 1945 - 1952 là cơ sở để quân và dânNghệ An vượt qua thiên tai, địch họa tạo điều kiện cho hàng chục vạn nôngdân nhập ngũ trở thành chiến sĩ trên mặt trận sản xuất ở địa phương và hănghái tham gia phục vụ tiền tuyến Trong 6 tháng của năm 1951, nông dân toàntỉnh làm hơn 1 vạn tấn phân bón cho 5233 ha đất hoang hóa thu nhập gần

9000 tấn thóc, có 1946 hộ được công nhận là gia đình gương mẫu sản xuất.Cùng với việc thực hiện chính sách về ruộng đất, công tác chấn chỉnh bộ máychính quyền cũng hết sức được chú trọng Trong chương trình nội chínhnăm 1948, UBKC Hành chính Liên khu IV đã đề ra nhiệm vụ trọng tâmtrong công tác nội chính là củng cố bộ máy chính quyền cấp xã Tháng 7năm 1950 đã diễn ra cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp kém nănglực và được thay thế bằng những đại biểu thực sự đại diện cho các tầnglớp nhân dân Đặc biệt đã đưa thành phần bần, cố nông vào bộ máy chínhquyền

Trang 33

Việc thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An mặc dù còn nhiều hạnchế nhưng bước đầu đã đem lại lợi ích thiết thực cho người nông dân, bộ mặtnông thôn bước đầu có sự chuyển biến Tuy yêu cầu về ruộng đất của nôngdân mới chỉ giải quyết được một phần nhưng đó cũng là cơ sở để tiếp tục thựchiện khẩu hiệu “ người cày có ruộng ” trong những năm tiếp theo.

Trước khi bước vào công cuộc triệt để giảm tô, giảm tức năm 1953

-1954 Nghệ An đã diễn ra phong trào quần chúng nông dân đấu tranh với giaicấp địa chủ nhằm không cho địa chủ dây dưa với thuế nông nghiệp, phongtrào này được phát động trong toàn tỉnh bắt đầu từ ngày 20 tháng 12 năm

1952 Đến năm 1953, Đảng bộ Nghệ An đã phát động phong trào đấu tranhchính trị nhằm hạ uy thế cường hào đi đôi với đấu tranh chính trị là giảm tô,giảm tức, thoái tô, xóa nợ

Từ tháng 6 năm 1953, Nghệ An đã thực hiện thí điểm phát động giảm

tô ở các xã Tam Thái (Nghi Lộc), Tân Diễn (Diễn Châu), Quang Thành (YênThành) để mở đầu cho cuộc phát động quần chúng đánh đổ thế lực về chínhtrị của địa chủ, phong kiến ở nông thôn, bước đầu thư hiện người cày córuộng, tạo thêm niềm tin tưởn cho các chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận

Qua một thời gian, phong trào đã hạ được uy thế của bọn cường hào,địa chủ, phú nông mang lại quyền lợi thiết thực cho nông dân

Trang 34

Tại Nam Đàn, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, vănhóa Từ cuối năm 1953, Tỉnh cử cán bộ về huyện Nam Đàn tiến hành cuộcvận động phát động quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức.Được các đội công tác phát động, giai cấp nông dân trong các huyện đã vùngdậy vạch tội ác của cường hào, địa chủ phong kiến, đấu tranh buộc chúng phảitriệt để giảm tô, giảm tức Những tên trước đây ngoan cố không chịu thựchiện hoặc thực hiện chưa đúng mức nay buộc phải thoái tô cho tá điền Ruộngcông được chia hẳn cho nông dân, các thứ nợ được giảm lãi, có thứ bỏ hẳncho nông dân Qua công cuộc bình tô ở Nam Đàn thì thấp nhất là giảm 37%,trung bình và đại bộ phận là 60%, cao nhất là 90% Ở Diễn Châu, mức tô thấpnhất là 25%, trung bình và đại bộ phận là 40 - 45%, cao nhất là 90% ỞQuỳnh Lưu thấp nhất là 25%, trung bình là 45 - 50%, cao nhất là 95%.

Tháng 6 năm 1953 Ủy Ban cải cách ruộng đất Trung Ương cử mộtđoàn cán bộ về chỉ đạo thí điểm cuộc “phóng tay phát động quần chúng triệt

để giảm tô ” ở Nghệ An đã chọn xã Tam Thái (Nghi Lộc) là một trong ba xãlàm thí điểm Đến tháng 9 năm 1953 cuộc vận động giảm tô đã được mở rộng

ra toàn tỉnh Ở Nghi Lộc cũng được tiến hành rộng ra các xã Qua cuộc “phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô phát động được đại bộ phậnnông dân vùng dậy đấu tranh hạ uy thế của bọn địa chủ, cường hào ác bá, bắtchúng phải thoái tô, thoái tiền công quỵt của tá điền Qua đợt phát động nàycác đơn vị hành chính xã và các tổ chức Đảng, chính quyền mặt trận, đoàn thể

ở các cấp đều được chấn chỉnh, sắp xếp lại

Trong việc giảm tô vụ chiêm năm 1953 ở Nghệ An từ nông dân nhất làbần, cố nông đã hăng hái thực hiện chủ trương giảm tô của Đảng, gây thànhmột phong trào sôi nỗi rộng khắp

Trang 35

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giảm tô vụ chiêm năm 1953 Đảng

bộ Nghệ An cũng đã mắc một số sai lầm, đó là chính sách không được phổcập rộng rãi trong Đảng trong nhân dân, nông dân học tập còn sơ sài, khôngnghiên cứu kỹ nội dung của chính sách, do đó khi thực hiện nhiều nơi đẩymức tô 80 - 90%, thẩm chí có nơi lên 100%, 120% Ngoài ra còn có một sốsai lầm, lớn nhất là không tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện

mà lập các đội công tác độc lập Tuy nhiên,những sai lầm này đã dần đượckhắc phục trong đợt sau

Qua các đợt giảm tô được thực hiện ở các địa phương trong toàn tỉnhNghệ An đã có hàng vạn mẫu ruộng, hàng vạn tạ thóc thu được đã được nôngdân đưa vào sử dụng sản xuất, mua sắm trâu bò, nông cụ Sau đợt đấu tranhnày đã dấy lên phong trào thi đua sản xuất phục vụ kháng chiến, đóng thuế và

đi dân công

Như vậy, từ năm 1945 - 1953 dưới tác động của chính sách ruộng đất,

số ruộng đất của địa chủ và phú nông ngày càng giảm theo hướng có lợi chonông dân, đối tượng chính của quá trình thực hiện chính sách ruộng đất đã có

sự chuyển biến tích cực rõ rệt cả về số hộ và ruộng đất So với trước cáchmạng Tháng Tám và năm 1949 thì chiếm hữu ruộng đất cũng như bình quânruộng đất của nông dân có sự chuyển biến lớn Nhìn chung đối tượng chủ yếu

có ruộng vẫn là trung, bần nông còn cố nông rất ít Nguyên nhân đó là trongkhi chia ruộng cho nông dân chúng ta không thực hiện đúng nguyên tắc “thiếu ít chia ít, thiếu nhiều chia nhiều ” mặt khác trung, bần nông có điều kiệnchuộc lại ruộng,còn cố nông thì không Tuy nhiên bộ mặt nông thôn Nghệ An

về cơ bản đã có sự chuyển biến tích cực, chính quyền cấp xã được chấn chỉnh,

Trang 36

Bước sang năm 1954, Nghệ An cùng các tỉnh miền Bắc thực hiện hainhiệm vụ trọng tâm mà Trung Ương Đảng và Hồ Chủ Tịch xác định là “ rasức đánh giặc và thực hiện cải cách ruộng đất ”.

Dưới sự chỉ đạo của Trung Ương Đảng và Liên khu ủy, Đảng bộ Nghệ

An đã lãnh đạo quần chúng tiếp tục thực hiện các đợt giảm tô trong điều kiện

cả nước dồn sức cho chiến cuộc Đông Xuân và chiến dịch Điện Biên Phủ.Nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô nhằm đẩy mạnh hơn nữa sức ngườitập trung cho nhiệm vụ đánh giặc

Như vậy, từ năm 1953 - 1954 Nghệ An đã tiến hành phát động quầnchúng đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức tại 120 xã trong số 155

xã thuộc các huyện đồng bằng, trung du Qua các đợt phát động quần chúng,các địa phương đã đưa ra khỏi tổ chức Đảng, chính quyền cấp huyện và cấp

cơ sở những địa chủ và quan lại cường hào trước cách mạng Tháng Tám năm

1945 làm tay sai cho đế quốc phong kiến Những cán bộ địa phương thuộcthành phần công nhân, bần cố nông được tăng cường vào cấp ủy Đảng vàchính quyền cấp huyện, xã, quyền làm chủ của nông dân được đề cao

2.2.1.2 Kết quả của quá trình thực hiện chính sách.

Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An từ 1945 - 1954dưới sự lãnh đạo của Trung Ương và Liên khu 4 về căn bản đã giành đượcthành quả mà quá trình thực hiện đã mang lại

Trang 37

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nghệ An đã thực hiện chính sáchruộng đất, giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việtgian chia cho dân cày, chia lại công điền công thổ Toàn tỉnh đã có 586 chủđiền đã thực hiển giảm tô đúng 25% và các quy chế lĩnh canh, lĩnh điền đốivới 5622 tá điền Sắc lệnh giảm tô của Chính phủ được ban hành năm 1949thì Nghệ An đã đẩy mạnh việc giảm tô Đến năm 1950 về cơ bản Nghệ An đãgiảm tô 25%, có nơi cao tới 30 - 90%.

Nghệ An đã thực hiện chính sách tạm cấp ruộng đất cho nông dân,ruộng đất đồn điền được cấp cho nông dân nghèo, có 477 ha vắng chủ đượcchia cho 1580 bần cố nông Đến năm 1952, 2/3 ruộng đất công chia cho nôngdân công bằng và hợp lý

Trong năm 1949 - 1950, việc vận động hiến điền được phát động từnăm 1949, trong năm này đã vận động được 1 vạn mẫu Trong những 1950đến 1952, dưới tác động của bước đầu thực hiện chính sách ruộng đất, ruộngđất của địa chủ đã giảm mạnh Hình thức bóc lột cũng như mức độ bóc lột củađịa chủ và phú nông cũng giảm

Trong năm 1953 - 1954, Nghệ An phát động quần chúng đấu tranhtriệt để giảm tô, giảm tức tại 120 xã trong số 155 xã thuộc các huyện đồngbằng, trung du Kết quả lớn nhất là đánh đổ địa chủ về mặt chính trị, đem lạimột phần quyền lợi về kinh tế và chính trị cho nông dân Tình hình nông thôn

ở Nghệ An có sự chuyển biến tích cực, nông dân mà chủ yếu là bần cố nôngđược tham gia vào bộ máy chính quyền, tham gia nông hội trong đó phụ nữbước đầu đã khẳng định được vai trò chính trị của mình Trên cơ sở đó Nghệ

An đã có những đóng góp lớn trong chi viện sức người, sức của cho chiến

Ngày đăng: 02/09/2021, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w