1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999 2008 luận văn ths lịch s

123 887 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm 1999 – 2000, chủ trương dồn điền đổi thửa DĐĐT - hay còn gọi là dồn thửa đổi ruộng - đã trở thành một chủ trương lớn trong cả nước, trong đó chú trọng ở đồng bằng sông Hồng ĐBS

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ 11

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Bố cục của luận văn 13

CHƯƠNG 1:QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008 14

1.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa 14

1.1.1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có chủ trương DĐĐT 14

1.1.2 Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân, thực trạng và hệ quả 16

1.1.3 Chủ trương DĐĐT của nhà nước: quá trình thực hiện và những kết quả ban đầu 19

1.2 Quá trình thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang 24

1.2.1 Quá trình triển khai công tác DĐĐT ở Hưng Yên 24

1.2.2 Tình hình thực hiện DĐĐT ở huyện Văn Giang 32

CHƯƠNG 2:BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI VĂN GIANG KHI THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA (1998 – 2008) 45

2.1 Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất 45

2.1.1 Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất tự nhiên và đất nông nghiệp của huyện 45

2.1.2 Những chuyển biến trong cơ cấu đất và cây trồng nông nghiệp 50

2.2 Những biến đổi về kinh tế 54

2.2.1 Biến đổi cơ cấu kinh tế chung 54

2.2.2 Chuyển dịch nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 61

2.2.3 Sự xuất hiện những mô hình kinh tế hiệu quả cao 67

2.3 Những biến đổi về xã hội 74

2.3.1 Biến đổi trong lực lượng lao động 74

2.3.2 Thu nhập và đời sống của nhân dân 79

Trang 4

2.3.3 Việc làm cho lao động ở nông thôn 81

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VĂN GIANG 1999 - 2008 85

3.1 Về công tác DĐĐT 85

3.1.1 Tiến độ thực hiện còn chậm và chưa triệt để 85

3.1.2 Những vướng mắc từ cơ chế 87

3.1.3 DĐĐT chưa gắn liền với quá trình tích tụ ruộng đất 89

3.1.4 Về mặt xã hội 90

3.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình DĐĐT của Văn Giang 92

3.3 Một số kiến nghị 94

3.3.1 Với công tác DĐĐT ở Văn Giang 94

3.3.2 DĐĐT và vấn đề tích tụ ruộng đất ở Việt Nam 96

3.3.3 Vấn đề công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 98

KẾT LUẬN 103

PHỤ LỤC 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DĐĐT: Dồn điền đổi thửa

ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng

HTX: Hợp tác xã

HU: Huyện uỷ

UBND: Uỷ ban nhân dân huyện

TU: Tỉnh uỷ

TƯ: Trung ương

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất đai là một nguồn lực quan trọng của Việt Nam Sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam trong thời gian dài phụ thuộc vào việc sử dụng có hiệu quả hay không nguồn lực đất đai và những chính sách có liên quan đến đất đai, thị trường đất, các đầu tư và nguồn lực tương ứng Cũng như nhiều nơi trên thế giới, đất đai và sử dụng đất đai luôn là vấn đề cơ bản trong lịch

sử cũng như trong sự phát triển của Việt Nam hiện tại và tương lai Với khoảng 75% dân số vẫn còn sinh sống ở khu vực nông thôn, thì các vấn đề liên quan đến tập trung đất đai, tính linh hoạt trong sử dụng đất, vai trò của thay đổi kĩ thuật, công nghệ hay ảnh hưởng của các chính sách về thuế, tín dụng… luôn luôn là vấn đề có tính thời sự

Là một nước nông nghiệp, mọi chủ trương, chính sách về đất đai của Việt Nam đều có tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội Nửa cuối thế kỉ XX, Việt Nam đã chứng kiến nhiều nỗ lực cải cách đất đai của chính quyền ở cả hai miền Nam, Bắc Đặc biệt là từ sau năm 1986, những chính sách về nông nghiệp nói chung, đất đai nói riêng đã tác động trực tiếp đến đặc điểm của nền nông nghiệp Việt Nam

Đặc điểm của đất nông nghiệp Việt Nam từ sau đổi mới là tình trạng manh mún, phân tán Tình trạng này bắt nguồn từ việc Nhà nước luôn đảm bảo tính công bằng trong chính sách giao quyền sử dụng đất cho nông dân Nhưng mặt trái của sự công bằng lại là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, năng suất thấp, khó áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, nhiều cơ hội để công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền nông nghiệp đã bị bỏ qua Từ năm 1993, Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích các địa phương cho các hộ tiến hành đổi ruộng để tránh tình trạng một hộ phải

Trang 7

canh tác trên hai mảnh ruộng Chủ trương này đã được áp dụng ở một số địa phương và cho kết quả khả quan Những năm 1999 – 2000, chủ trương dồn điền đổi thửa (DĐĐT) - hay còn gọi là dồn thửa đổi ruộng - đã trở thành một chủ trương lớn trong cả nước, trong đó chú trọng ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), nơi có tình trạng ruộng đất manh mún nhất nước, nhằm tập trung ruộng đất thành những mảnh có diện tích tương đối lớn, để từng bước phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Hưng Yên là một trong những tỉnh đi đầu thực hiện công tác này Từ năm 1998, Hưng Yên đã có chủ trương thực hiện DĐĐT đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong tỉnh, nhằm đưa nền nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh, tận dụng được lợi thế của một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng có địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu Chủ trương này của Hưng Yên đã nhanh chóng được triển khai đến từng thôn, xã và mang lại những hiệu quả kinh tế khả quan

Là một trong những huyện có nền kinh tế - xã hội phát triển hàng đầu của Hưng Yên, lại nằm ở vị trí địa lý tương đối thuận lợi, huyện Văn Giang đã sớm triển khai và hoàn thành tốt công tác DĐĐT Sau một thời gian tiến hành, công cuộc DĐĐT ở Văn Giang không những khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán, manh mún mà còn mở ra một hướng đi mới cho

sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Trong những năm từ 1999 đến

2008, chủ trương DĐĐT đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất tập trung, cung cấp hàng hoá cho thị trường, tạo đà để các ngành kinh tế khác phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế, xã hội của địa phương

Với mong muốn tìm hiểu những biến đổi về kinh tế - xã hội của huyện Văn Giang sau 10 năm triển khai công tác DĐĐT tôi chọn đề tài:

Trang 8

Biến đổi kinh tế - xã hội Văn Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT

1999 - 2008 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

DĐĐT là một chủ trương lớn của nhà nước nhằm làm thay đổi cung cách sử dụng đất nông nghiệp, thói quen, tập quán làm ăn của người nông dân, đưa người nông dân đến gần hơn nữa với nền nông nghiệp hàng hoá, một trong những bước quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết, đánh giá về tình hình đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng, sở hữu đất nông nghiệp

ở Việt Nam, đặc biệt là sau công cuộc đổi mới

Năm 1996, hai tác giả Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang có công

trình nghiên cứu “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội 1996, đã

đưa ra những nhìn nhận, đánh giá, phân tích về đặc điểm nền nông nghiệp Việt Nam, tác động của những chính sách kinh tế đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các giai đoạn từ 1981 đến 1996 Tuy nhiên, vấn đề tập trung ruộng đất mới chỉ được nhắc đến như một giải pháp cho nền nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tiếp theo

Năm 2001, Khoa Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn

trường Đại học Kinh tế quốc dân, xuất bản cuốn sách “Nông nghiệp nông

thôn Việt Nam bước vào thế kỉ XXI”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2001, đã

đánh giá tình hình nông nghiệp Việt Nam cho đến hết năm 2000, trong đó

đề cập đến thực trạng nông nghiệp Việt Nam và những và những chính sách phát triển nông nghiệp trước năm 2000 Sách lược DĐĐT ở đây được đánh giá là một chính sách tích cực nhưng tiến trình thực hiện và hiệu quả chưa cao

Trang 9

Năm 2006, tác giả Đặng Kim Sơn có công trình nghiên cứu: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới, NXB CTQG, Hà Nội

2006, đã có những nhìn nhận, phân tích và đánh giá về nông nghiệp Việt

Nam những năm trước và sau đổi mới Tác giả có đề cập đến những Nghị quyết của TƯ về vấn đề DĐĐT và tác động của chủ trương này đến nông nghiệp Việt Nam cho tới năm 2005 Những phân tích của Đặng Kim Sơn

về tính chất manh mún của ruộng đất, đặc biệt ở khu vực ĐBSH và kết quả trước mắt của công tác DĐĐT đã khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam và thế giới

Năm 2008, tác giả Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn “Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2008, đã

dành một phần tập trung đánh giá tình hình “tích tụ và tập trung đất nông nghiệp” ở Việt Nam Trong đó tác giả đã có những phân tích cụ thể về thực trạng manh mún đất đai của ĐBSH, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng này và phân tích những hình thức tập trung và tích tụ ruộng đất, trong

đó có chủ trương DĐĐT Tuy nhiên tác giả cũng chỉ mới đề cập đến kết quả sơ bộ của chính sách này mà chưa đi sâu phân tích những tác động đến sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung

Trong số những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể kể đến hai công trình nghiên cứu khá trực tiếp và sâu sắc đến tình trạng manh mún, những chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng manh mún về

ruộng đất và tác động của nó đến nông nghiệp Việt Nam Đó là cuốn “Phát triển nông nghiệp và những chính sách đất đai ở Việt Nam” của các tác

giả Sally P.Marsh, T Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng – Trung tâm

nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Ôx-trây-lia và Đại học Nông nghiệp

1 Hà Nội năm 2007 và “Đất đai trong thời kì đổi mới, cải cách và nghèo

đói của nông thôn Việt Nam” của Martin Ravallion và Dominique van de

Trang 10

Walle – Nhà xuất bản văn hóa thông tin 2008 Dưới góc nhìn của những

nhà nghiên cứu nước ngoài, chủ trương DĐĐT được xem như một giải pháp hữu hiệu cho quá trình giảm thiểu manh mún, tập trung diện tích đất nông nghiệp lớn, khắc phục đói nghèo và kích thích nông nghiệp Việt Nam phát triển Các tác giả này đã có những đánh giá khá thuyết phục về tác động của chính sách DĐĐT đến tập quán sản xuất của người nông dân Việt Nam và những biến đổi trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Hiện vẫn chưa có một công trình riêng nào tập hợp, nghiên cứu, đánh giá về quá trình DĐĐT, cũng như tác động của nó đến nền nông nghiệp và đời sống kinh tế xã hội Việt Nam kể từ khi nó được triển khai tới nay

Nhiều nhất vẫn là các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành của ngành nông nghiệp, kinh tế về kết quả DĐĐT ở một số địa phương và những thay đổi của nông thôn ở các cùng miền sau DĐĐT Đáng chú ý có

bài viết “Quan hệ họ hàng với việc DĐĐT và sử dụng ruộng đất với góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh

và Thomése Fluer trên Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 4/2007 Bài

viết nghiên cứu về quan hệ họ hàng dưới góc nhìn dòng họ và góc nhìn mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm trong việc DĐĐT và sử dụng ruộng đất Với cách tiếp cận xã hội học, hai tác giả đã chỉ ra rằng người nông dân đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội - với biểu hiện cụ thể là tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ

họ hàng, để nhận chung ruộng cùng nhau khi DĐĐT ở làng Quỳnh Đôi, xã Quỳnh Lưu, Nghệ An

Tác giả Mai Thị Thanh Xuân trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 297

(2/2003) có bài viết: “Chuyển đổi ruộng đất ở 3 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh”

đã tổng kết quá trình DĐĐT và chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp của 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, qua đó phân tích những hiệu quả của

Trang 11

chủ trương này và những hạn chế cần được xem xét, những kinh nghiệm rút ra cho công tác chuyển đổi ruộng đất

Gần đây có khoá luận “Quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT ở tỉnh Thái Bình” của sinh viên Phạm Thị Thuý, khoa Lịch sử, trường Đại

học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Khoá luận đã

tìm hiểu tương đối chi tiết quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT trên địa bàn tỉnh Thái Bình, kết quả đạt được và sơ lược về những tác động của nó đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân

Riêng về quá trình DĐĐT ở Hưng Yên và ở huyện Văn Giang, tác động của chủ trương này đến kinh tế xã hội của huyện sau khoảng 10 năm thực hiện thì chưa có một nghiên cứu, tổng kết đánh giá nào cụ thể Kết quả của quá trình DĐĐT mới chỉ được tổng kết trong các báo cáo của UBND huyện, phòng Nông nghiệp và phòng Tài nguyên môi trường, những thay đổi về kinh tế xã hội cũng được tổng kết sơ lược trong báo cáo phát triển kinh tế xã hội của huyện, tỉnh hàng năm

Sau những tổng kết, báo cáo về kết quả công tác DĐĐT của các địa phương trong cả nước, của tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang, đã cho thấy đây là một chủ trương đúng đắn và kịp thời không chỉ đối với ngành nông nghiệp Việc đi sâu, tìm hiểu, đánh giá những thay đổi trong hoạt động kinh tế, xã hội của địa phương từ một chính sách đất đai là một việc làm cần thiết Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề này để nghiên cứu trong luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ

Mục đích nghiên cứu của đề tài “Biến đổi kinh tế - xã hội Văn

Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT 1999 – 2008” tìm hiểu những

tác động của chủ trương DĐĐT đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế và đời sống

xã hội trong phạm vi của một huyện thuộc vùng ĐBSH - huyện Văn Giang,

Trang 12

tỉnh Hưng Yên Từ đó thấy được những thay đổi cơ bản của kinh tế - xã hội của địa phương này sau khoảng 10 năm từ một chủ trương về đất nông nghiệp; đồng thời đánh giá sự phù hợp của chủ trương này đối với điều kiện và thực trạng nền nông nghiệp của huyện và tỉnh, chỉ ra những hạn chế

và đề xuất một số kiến nghị cho công tác DĐĐT và phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương trong thời gian tới

Với một huyện thuộc ĐBSH như Văn Giang, một chủ trương về đất đai có thể tác động lớn đến nhiều ngành kinh tế và đời sống xã hội của nhân dân Vì thế, nhiệm vụ của Luận văn là: trên cơ sở tìm hiểu về việc thực hiện chủ trương DĐĐT, đặc biệt là việc thực hiện DĐĐT của Văn Giang, từ đó tìm ra những tác động của chủ trương này tới kinh tế, xã hội của huyện Đó là những thay đổi về kinh tế, về quản lí, sử dụng đất đai, cơ cấu lao động, chất lượng cuộc sống của nhân dân trong đó tập trung vào những biến đổi trong sử dụng đất nông nghiệp, tổ chức sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội của người dân

4 Phạm vi nghiên cứu

Những thay đổi về kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn trong cả nước sau quá trình thực hiện DĐĐT đã được phản ánh nhiều trên các tạp chí chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong một

số công trình nghiên cứu của các tác giả Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào về những biến đổi kinh tế - xã hội cụ thể ở những địa phương trong

cả nước trong và sau quá trình DĐĐT Vì thế, trong Luận văn của mình tôi tập trung tìm hiểu những thay đổi về kinh tế - xã hội của một huyện ở ĐBSH là huyện Văn Giang của tỉnh Hưng Yên, từ đó đánh giá bước đầu về những hiệu quả của chủ trương này đối với đời sống kinh tế - xã hội của nông dân và nông thôn một cách sâu sắc hơn và tìm ra những bước đi thích hợp cho thời gian tới

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng mang tính xuyên suốt là phương pháp nghiên cứu lịch sử, kết hợp thống kê, so sánh, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng, trong trạng thái vận động, phát triển

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các biện pháp thu thập thông tin, số liệu, điền dã, từ đó phân tích, đánh giá, so sánh để đưa ra những kết luận chính xác, mang tính khách quan nhất Đặc biệt trong nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội liên quan tới rất nhiều bảng biểu và số liệu nên phương pháp thống kê, điều tra chọn mẫu luôn là phương pháp được ưu tiên

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Văn Giang (Hưng Yên)

1.1 Một số vấn đề về chủ trương DĐĐT

1.2 Quá trình DĐĐT ở Văn Giang - Hưng Yên

Chương 2: Biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT 1999-2008

2.1 Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất

2.2 Những biến đổi về kinh tế

2.3 Những biến đổi về xã hội

Chương 3: Những vấn đề cần nhìn lại và một số hướng đi cho thời gian tới

3.1 Những hạn chế trong công tác DĐĐT ở Văn Giang

3.2 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình DĐĐT ở Văn Giang 3.3 Một số kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008

1.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa

1.1.1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có chủ trương DĐĐT

Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Trước năm 1945, đất nông nghiệp Việt Nam được chia làm hai loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất bằng một loạt những chính sách của chính quyền mới Trải qua các giai đoạn của hai cuộc kháng chiến ở cả hai miền Nam, Bắc, hình thức sở hữu, sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam đã có nhiều thay đổi Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kì kế hoạch hoá tập trung và thời kì kinh tế tập thể trong nông nghiệp Cùng thời điểm này dân

số lại tăng rất nhanh, điều đó dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói Nền kinh tế Việt Nam tụt hậu nhanh chóng và đứng trước nguy cơ sụp đổ

Cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam bắt đầu từ Chỉ thị

100CT của Ban Bí thư TƯ Đảng (ngày 13/1/1981) - Khoán 100, với nội

dung chính là các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động Mặc dù còn có giới hạn, nhưng Khoán 100 đã là bước đột phá trong quá trình chuyển đổi từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể, tích cực đến sản xuất nông

Trang 15

nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo Tuy nhiên sau một thời gian, nông dân vẫn tiếp tục thiếu đói Ở Miền Nam, các mâu thuẫn vẫn tiếp tục gia tăng ở khu vực nông thôn, đặc biệt trong mối quan hệ đất đai bởi sự cào bằng và phân chia đất Khoán 100 từng được coi là cứu cánh cho hộ nông dân, thì nay trở thành một gánh nặng Một số hộ trả lại bớt ruộng cho HTX để tập trung thâm canh, hy vọng đạt năng suất cao hơn để thu nhập vượt khoán Động lực sản xuất nhờ vượt khoán mất tác dụng

Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp

đã được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

(4-1988) – Khoán 10 về “Đổi mới quản lí kinh tế nông nghiệp” Với sự ra đời

của Nghị quyết 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ

10 đến 15 năm, và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Từ nay hộ trở thành chủ thể độc lập, được hưởng quyền quản lí và sử dụng đất đai và tư liệu sản xuất chính, được phân phối sản phẩm trực tiếp từ kết quả sản xuất, tự quyết định về sản xuất

Từ khi thực hiện Nghị quyết 10, tỉ lệ sản phẩm làm ra mà nông dân được hưởng đã tăng từ 10 đến 20% năm 1987 lên hơn 40 đến 50% trong những năm 90 của thế kỷ XX [31, tr 53] Đây là động lực để nông dân đầu

tư tiền của, sức lao động nhiều hơn vào đồng ruộng

Trong suốt thời kì đổi mới, một loạt các chính sách, văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến việc sử dụng và sở hữu đất đai đã ra đời Sau Nghị quyết 10, Luật đất đai năm 1993

đã giao đất cho hộ nông dân với 5 quyền cơ bản: chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng đất, và thế chấp, bảo lãnh và góp vốn

bằng giá trị quyền sử dụng đất trong thời hạn nhất định Sau đó là Luật đất

đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001, Luật đất đai mới năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định trong

Trang 16

phân bổ đất rừng và đất nông nghiệp Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7% năm (1994-1999) và khoảng 4,6% năm (2000-2003) [31, tr 72] An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng, nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi Tuy nhiên, rất nhiều thách thức mới cũng được đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam Một trong những thách thức lớn là tình trạng manh mún và quy mô nhỏ lẻ về ruộng đất

1.1.2 Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân, thực trạng và hệ quả

Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác từ 2 thửa ruộng riêng lẻ trở lên [22, Tr 69] Đây là một trong những vấn đề của nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Bắc Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường, đến năm 2000, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có 6 đến 7 thửa ruộng, hộ ít nhất 3 thửa, hộ nhiều từ 10 đến 20 thửa, cá biệt có hộ 30 đến 50 thửa [37, Tr 216]

Bảng 1.1: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc ĐBSH

2 )

Ít nhất Nhiều

nhất

Trung bình

[Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, năm 2002]

Quy mô diện tích đất sản xuất của các nông hộ sau khi được giao đất

và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất nhỏ, nhất là đối với các

Trang 17

tỉnh Miền Bắc Bình quân 1 hộ là 5747m2

, đối với ĐBSH chỉ có 1993m2/hộ[37, Tr 217]

Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạnh manh mún đất đai trong nông nghiệp là:

Khi chia đất theo Nghị định số 64/CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ

đã thực hiện với phương châm chủ yếu dựa vào hiện trạng đất nông nghiệp

mà các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng khi thực hiện Chỉ thị

100/CT-TƯ theo nguyên tắc cơ bản là: mỗi hộ được nhận ruộng có tốt, có xấu, có

gần, có xa Nói cách khác, nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng, thông thường là chia bình quân theo định xuất Để duy trì sự công bằng, mỗi hộ thường được giao nhiều mảnh ruộng với nhiều hạng đất khác nhau, ở nhiều cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Ngoài ra có thể từ những nguyên nhân khác như:

Công cụ lao động của người nông dân còn thủ công, sản xuất dựa vào sức kéo trâu bò, quy mô hộ nhỏ và sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, không cho phép thực hiện mùa vụ đồng thời trên một diện tích lớn, tập trung

Do đặc điểm điều kiện địa hình, đặc biệt là những nơi có nhiều đồi núi hoặc ruộng bậc thang Sự chênh lệch về độ cao buộc người nông dân phải đắp bờ để giữ nước, mà diện tích tạo nên sự chênh lệch lại quá nhỏ Các nguyên nhân về lịch sử và địa hình rất khó giải quyết và đòi hỏi nhiều thời gian mới tập trung được loại đất này

Manh mún cũng có thể được giải thích từ áp lực bởi tăng trưởng dân

số, từ sự thừa kế đất đai, khi các gia đình nông dân cần phải phân chia ruộng đất một cách công bằng cho các thế hệ sau Kết quả là, từ những mảnh ruộng to lại trở thành những mảnh nhỏ thuộc sở hữu của nhiều hộ gia đình cá thể Nhất là đối với những vùng nông dân không có việc làm phi nông nghiệp

Trang 18

Ở Việt Nam nói riêng, ngoài nguyên nhân chủ yếu là do quá trình giao đất, sự manh mún còn có khả năng do sự trục trặc của thị trường đất đai, quy định của nhà nước về mức hạn điền trong sở hữu, sử dụng và trao đổi đất Thị trường trao đổi quyền sử dụng đất ở Việt Nam rất phức tạp Nông dân nếu muốn sử dụng đất của họ để thế chấp vay ngân hàng cần có

sự chấp nhận của chính quyền địa phương Những nông dân có điều kiện tích tụ ruộng đất lớn thì lại vấp phải chính sách hạn điền của Nhà nước

Thậm chí manh mún ruộng đất có thể do chính người nông dân muốn duy trì khi họ cho rằng manh mún có thể có lợi ích nào đó Với những mảnh ruộng ở những vùng khác nhau, nông dân có thể giảm thời điểm căng thẳng bằng cách đa dạng hoá cây trồng

Hệ quả của sự manh mún về ruộng đất có thể nhìn thấy rõ rệt là sự cản trở việc cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ và đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và lao động hơn cho các hoạt động bởi khoảng cách quá xa giữa các mảnh ruộng, tăng chi phí, giảm diện tích sử dụng do ảnh hưởng của các bờ vùng bờ thửa, tăng các tác động xấu Quá nhiều hộ sản xuất với quy mô các thửa đất quá nhỏ đã tạo ra cản trở lớn đến việc tổ chức sản xuất theo hướng hàng hoá và hiệu quả, không huy động được tiềm năng về vốn và lao động tại chỗ có thể đầu tư vào cải tạo đồng ruộng vì người sử dụng đất sợ rủi ro

Sự manh mún có thể còn gây khó khăn cho việc quy hoạch đồng ruộng, chi phí sản xuất lớn, giá thành tăng cao trong khi chất lượng sản phẩm thấp, dẫn đến thiếu khả năng cạnh tranh

Nhưng ở một góc độ khác, manh mún có ảnh hưởng rất lớn đến đa dạng cây trồng Nếu mức độ manh mún càng cao thì mức độ đa dạng hoá cây trồng cũng càng cao Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang nhiều tính tự cung tự cấp thì điều này dẫn đến mức độ an toàn không những về lương thực mà còn về thu nhập cho hộ nông dân Điều đó lí giải

Trang 19

tại sao ở một số tỉnh nông dân vẫn muốn duy trì manh mún ở một mức độ nào đó Như vậy sự cân bằng giữa mức độ đa dạng cây trồng và manh mún đất đai cũng như phát triển sản xuất hàng hoá là vấn đề cần được chú ý và nghiên cứu

Manh mún và phân tán ruộng đất, xong lại đảm bảo tâm lí sản xuất cho nông dân, bởi sự công bằng giữa các nông hộ, không chỉ là vấn đề ruộng đất, mà còn là vấn đề chênh lệch thu nhập và mức sống trong phạm

vi xã hội nông thôn thu nhỏ ở các làng xã

Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải tập trung lại đất nông nghiệp đối với mỗi hộ sản xuất, giảm số thửa và tăng quy mô mỗi thửa ở từng hộ để tạo ra diện tích đất tập trung cùng loại sản phẩm ở từng địa phương Nhưng tập trung như thế nào để tăng hiệu quả sản xuất mà vẫn đảm bảo tính công bằng cho nông dân, đặc biệt là khi chuyển sang sản xuất theo hướng cung cấp hàng hoá, người sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc giảm các chi phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế

1.1.3 Chủ trương DĐĐT của nhà nước: quá trình thực hiện và những kết quả ban đầu

Trên cơ sở phân tích những tác động của manh mún ruộng đất, bài học từ DĐĐT và tích tụ ruộng đất của các nước khác, Chính phủ đã có những chủ trương, biện pháp khuyến khích việc chuyển đổi đất đai đề giảm bớt sự manh mún Trước khi có chủ trương DĐĐT, việc tập trung ruộng đất nông nghiệp đã diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú

Hình thức thứ nhất là chuyển đổi đất đai có hướng dẫn của địa phương ngay trong quá trình chia ruộng Hình thức này được thực hiện theo

tinh thần Nghị định 64/CP ngày 27-9-1993 Một số địa phương sớm nhận

thức được yêu cầu phải sử dụng đất tập trung để phát triển sản xuất hàng

hoá nên ngay trong khi chia đất nông nghiệp cho hộ nông dân theo Nghị

định 64/CP đã chủ động bàn với các hộ tiến hành đổi ruộng cho nhau sau

Trang 20

khi đã xác định rõ từng mảnh đất cho mỗi hộ trên bản đồ Đi đầu trong công tác này là huyện Ứng Hoà của tỉnh Hà Tây cũ Ngay từ năm 1993, chính quyền xã Trầm Lộng (Ứng Hoà) đã khuyến khích các hộ tự chuyển đổi đất cho nhau để tránh tình trạng quá nhiều mảnh, thửa Đến năm 1997,

Tỉnh uỷ Hà Tây đã có Chỉ thị số 14/CT- TU về công tác chuyển đổi đất

nông nghiệp trong toàn tỉnh

Hình thức thứ hai là chuyển đổi đất tự phát giữa các hộ nông dân sau một thời gian sử dụng Đây là tình trạng các hộ tự thấy tình hình manh mún của đất nông nghiệp làm cản trở sản xuất đã tự chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau để tạo ra những thửa ruộng lớn hơn, thích hợp với khả năng canh tác Hình thức này mang tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, chính quyền không can thiệp cũng không hướng dẫn, nên không giải quyết được những vẫn đề chung như quy hoạch vùng sản xuất, thiết kế lại đồng ruộng

Bên cạnh đó, nhiều hình thức tập trung ruộng đất cũng đã được tiến hành như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất, thế chấp, cầm

cố đất nông nghiệp, phát triển kinh tế trang trại

Cho đến nay, hình thức tập trung ruộng đất được thực hiện nhiều nhất, được nâng lên thành một chủ trương lớn trong thời gian gần đây là DĐĐT, hay là chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp có sự chỉ đạo của Đảng

uỷ và chính quyền các cấp

Chủ trương này bắt đầu được nhắc đến từ sau Hội nghị chuyên đề về

chuyển đổi đất nông nghiệp do Tổng cục Địa chính tổ chức tại Hà Tây cũ

năm 1997 Đến tháng 11 năm 1998 Bộ Chính trị, Ban chấp hành TƯ đã

thông qua Nghị quyết số 06 – NQ/TƯ, mở đường cho phong trào DĐĐT

diễn ra rộng khắp ở các địa phương trong cả nước, trong đó nhiều nhất là các địa phương trong cả nước, trong đó nhiều nhất là ĐBSH Chính phủ đã

hỗ trợ cho việc DĐĐT với hi vọng điều này sẽ giảm chi phí sản xuất trong dài hạn và tăng cường thâm canh Các nghị quyết của TƯ chủ yếu tập trung

Trang 21

vào việc DĐĐT bao gồm: Nghị quyết về việc thúc đẩy công nghiệp hoá -

hiện đại hoá nông thôn (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng

khoá IX – Nghị quyết số 15 – NQ/TƯ, ngày 18 – 3 – 2002) và Nghị quyết

về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả nền kinh tế tập thể (Nghị quyết Hội

nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu

quả kinh tế trang trại ngày 19 – 4 đến 22 – 4 – 2001)

Nghị quyết về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể chỉ

rõ: “Tiếp tục phát triển kinh tế trang trại trong các ngành, lĩnh vực, đặc biệt trong đó trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Phát triển kinh tế trang trại trong nông nghiệp nông thôn phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát triển, gắn với tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới” Trong đó chính sách về đất đai được nhắc đến là:

“Khuyến khích tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân DĐĐT, tập trung ruộng đất theo chính sách của nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hoá,

mở mang ngành nghề”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng ngày 18 - 3 - 2002

cũng chỉ rõ: “cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta chuyển dịch chậm, chưa theo sát với thị trường, sản xuất nông nghiệp nhiều nơi còn phân tán, manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất chậm, trình độ khoa học công nghệ của sản xuất nhiều mặt còn lạc hậu nên năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp còn thấp, kém hiệu quả và thiếu bền vững” Nghị quyết nêu rõ nội dung của công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn nước ta đến năm 2010 là: công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn liền với công nghiệp cơ bản và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học công

Trang 22

nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kĩ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường Nghị quyết cũng chỉ ra những chủ trương, biện pháp, chính sách nhằm thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Trong

đó, chính sách về đất đai là: “Nhà nước tạo điều kiện để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện DĐĐT trên cơ sở tự nguyện; nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất kinh doanh … Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”

Thực hiện tinh thần này, một số tỉnh, thành phố chủ động ra chủ trương chuyển đổi đất nông nghiệp bằng các Nghị quyết, chủ trương của tỉnh uỷ, kế hoạch triển khai của UBND tỉnh, hướng dẫn chuyển đổi đất nông nghiệp ở từng huyện, xã, tập trung chủ yếu ở các tỉnh ĐBSH Đi đầu trong việc thực hiện chủ trương này là tỉnh Phú Thọ Năm 1998, Phú Thọ chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên (Phong Châu) và Trưng Vương (Thành phố Việt Trì) tổ chức làm thí điểm

và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm ở 60 xã thuộc các vùng khác nhau

Tại Bắc Ninh, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 03 về việc vận động nông dân chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau Đến hết năm 1998 có 237 thôn

đã hoàn thành chuyển đổi ruộng đất

Ở Thanh Hoá, huyện Thọ Xuân là huyện đi đầu trong công tác chuyển đổi đất nông nghiệp với mục tiêu: khắc phục tình trạng manh mún, giảm thiểu số thửa ruộng trên mỗi hộ, kết hợp quy hoạch lại đồng ruộng phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá Đầu năm 1998, huyện mở cuộc vận

Trang 23

động DĐĐT Đến tháng 5 – 1999, 100% xã trên toàn huyện đã cơ bản hoàn thành việc DĐĐT Số thửa ruộng giảm từ 329000 thửa xuống còn 152000 thửa (giảm 54%) Bình quân mỗi hộ còn 3,2 thửa, quy mô thửa được nâng lên từ 272,52m2

lên 586,61m2 trên thửa [37, Tr 221]

Trong những năm tiếp theo, các tỉnh Thanh Hoá, Bắc Ninh, Phú Thọ, Nghệ An, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Nam… đã triển khai rộng rãi và có hiệu quả việc DĐĐT Đến ngày 20 – 5 – 2008, tại thành phố Bắc Ninh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bộ Tài

nguyên – Môi trường và UBND tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức diễn đàn: Công

tác DĐĐT phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

với sự tham dự của đại diện các sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, nông dân các tỉnh vùng ĐBSH, các bộ, ngành liên quan Kết quả bước đầu được tổng kết: “Các địa phương hầu hết đã giảm được một phần hai số thửa, có nơi giảm tới 80% Diện tích mỗi thửa bình quân tăng 3 lần, tạo điều kiện cho nông dân cải tạo đồng ruộng, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Diện tích đất nông nghiệp tăng lên nhờ giảm phần đất làm bờ (chiếm từ 2 đến 4%) Cơ sở hạ tầng nội đồng được nâng cấp, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng Thu nhập của các hộ nông dân sau khi DĐĐT tăng từ

mô lớn hơn, nhiều mô hình trang trại được mở rộng, tốc độ công nghiệp

Trang 24

hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn được đẩy nhanh, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt

Sau một thời gian thực hiện chủ trương này ở các địa phương trong

cả nước, nhất là vùng ĐBSH, đã tạo ra sự chuyển biến trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, kéo theo sự thay đổi trong đời sống kinh tế và xã hội ở nhiều vùng nông thôn, dấu hiệu của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá đang biểu hiện rõ rệt

Tuỳ theo đặc điểm tự nhiên, đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, mỗi địa phương, đến cấp huyện, xã, lại có cho mình một phương án DĐĐT và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau DĐĐT một cách hợp lí

và hiệu quả nhất

1.2 Quá trình thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang

1.2.1 Quá trình triển khai công tác DĐĐT ở Hưng Yên

* Thực trạng ruộng đất Hưng Yên trước DĐĐT

Năm 1997, Hưng Yên được tách ra từ tỉnh Hải Hưng Sau khi tái lập tỉnh, lãnh đạo và nhân dân Hưng Yên tập trung toàn bộ tinh thần cho việc phát triển kinh tế, xã hội Vốn là một phần của tỉnh Hải Hưng cũ, nhưng so với khu vực Hải Dương thì kinh tế Hưng Yên lại kém phát triển hơn về mọi mặt, nhất là về ruộng đất và sản xuất nông nghiệp

Tháng 4 năm 1993, Ban thường vụ TU Hải Hưng ra Nghị quyết số 03/NQ.TU (ngày 01/04/1993) về việc giao ruộng đất cho các hộ gia đình sử dụng lâu dài trước khi thực hiện Nghị định 64/CP (ngày 27/09/1993) của Chính phủ Khi đó các huyện thuộc địa phận Hưng Yên đã sớm triển khai việc giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Đến năm 1998, toàn tỉnh Hưng Yên đã giao 52.293 ha đất canh tác cho 951.584 khẩu nông nghiệp thuộc 250.897 hộ nông dân

Trang 25

Kết quả đó có tác động tích cực thúc đẩy nông nghiệp Hưng Yên phát triển, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, sản lượng lương thực tăng nhanh góp phần quan trọng vào sự ổn định tình hình kinh

tế, xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, với cơ chế khoán hộ, để đảm bảo sự công bằng trong quá trình giao quyền sử dụng đất, mỗi hộ nông dân Hưng Yên được nhận trên dưới 10 thửa ruộng lớn nhỏ khác nhau ở các

xứ đồng trong một thôn Những cánh đồng vốn không bằng phẳng, đồng đều về độ cao và chất đất của Hưng Yên đã bị xé lẻ Nhà nhà đều có chân ruộng tốt, ruộng xấu, đồng vàn, đồng trũng, cánh xa, cánh gần Bình quân mỗi hộ được nhận 0,21 ha đất nông nghiệp Điều này đã dẫn đến một thực trạng là sau khi giao quyền sử dụng đất, ruộng đất nông nghiệp trở nên phân tán, manh mún Biểu hiện manh mún là ruộng đất bị “băm nhỏ” để chia đều cho các hộ nông dân, nên một hộ canh tác rất nhiều thửa (khoảng

từ 8 đến 10 thửa), cá biệt có hộ tới 15 thửa nằm rải rác trên tất cả các cánh đồng, xứ đồng của thôn Kích thước các thửa cũng đa dạng Diện tích bình quân các thửa đất lúa phổ biến từ 200 đến 300m2, diện tích trồng rau màu

và cây công nghiệp ngắn ngày bình quân từ 100 đến 200m2

Thậm chí có những thửa vài chục m2, nhất là đất mạ diện tích có thửa dưới 10m2

[66, tr 1,2]

Tình trạng manh mún ruộng đất tập trung chủ yếu ở các loại đất trồng cây hàng năm đã giao ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân như đất trồng lúa, đất trồng rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày Loại đất càng tốt, có điều kiện thâm canh càng cao thì càng bị manh mún Canh tác bất lợi, khó đầu tư thâm canh, dẫn đến chậm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để làm ra khối lượng hành hóa lớn Thậm chí vụ đông, nhiều cánh đồng được coi là màu mỡ lại bị bỏ hoang Sản xuất nông nghiệp của Hưng Yên vẫn tăng nhưng khá chậm chạp

Trang 26

Tình hình đó đặt ra yêu cầu cho ngành nông nghiệp của Hưng Yên, làm thế nào để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, khai thác tối đa thế mạnh nông nghiệp của tỉnh, không để đất nông nghiệp bị bỏ hoang

* Chủ trương DĐĐT của tỉnh Hưng Yên

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về công tác dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, Hưng Yên đã trở thành một trong những tỉnh đi đầu tiến hành DĐĐT

Hưng Yên là một tỉnh thuộc ĐBSH, nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây xen kẽ những ô đất trũng thường xuyên bị ngập nước Các loại đất tuy

có khác nhau nhưng đều do phù sa bồi tụ, địa hình không có đồi núi, rừng

rú, ven biển, là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp hàng hoá, lại

có vị trí gần các trung tâm công nghiệp lớn Nhờ đó Hưng Yên có thể chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế, đặc biệt phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hoá, phục vụ nhu cầu lương thực, thực phẩm tươi sống và chế biến của các thành phố Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của Hưng Yên Trong đó ngành trồng trọt lấn át ngành chăn nuôi Có thể nói Hưng Yên có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc DĐĐT, có cơ hội chuyển dịch mạnh

mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nhất là xây dựng mô hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Ngày 18 – 8 – 1998, thường trực TU Hưng Yên đã ra thông báo “Về

việc làm điểm chuyển đổi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh” đã khẳng

định: “Tình trạng giao ruộng đất chia thành ô thửa nhỏ, phân tán manh mún

là khá phổ biến ở các địa phương làm hạn chế tốc độ phát triển nông nghiệp

và khó khăn cho việc lập hồ sơ địa chính, việc quản lí, sử dụng đất đai Vì vậy việc chuyển đổi đất nông nghiệp theo Luật đất đai để hạn chế tình trạng manh mún là việc cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá, tiết

Trang 27

kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động; có hiệu quả cao cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn” [65, tr 1] Vì vậy TU chỉ đạo làm điểm ở 3 huyện Châu Giang cũ (Khoái Châu và Văn Giang ngày nay), Mỹ Văn cũ (Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mĩ ngày nay) và Phù Cừ, mỗi nơi chọn một xã làm điểm để rút ra kinh nghiệm chỉ đạo trên diện rộng

Ngày 05 – 12 – 1998, UBND tỉnh Hưng Yên ra “Phương án chỉ đạo

làm điểm chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh”, trong đó

chỉ rõ: Mục đích của việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp của tỉnh là

“Nhằm phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho người lao động tiết kiệm thời gian, công sức đưa nhanh tiến bộ khoa học kĩ thuật, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đồng thời gắn việc giao ruộng đất ổn định lâu dài với việc cấp GCN quyền sử dụng đất, lập sổ bộ thuế sử dụng đất nông nghiệp đến từng

hộ nông dân và quy hoạch sử dụng đất theo yêu cầu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của từng địa phương, cơ sở Từ đó, tỉnh kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong quản lí, sử dụng ruộng đất, đưa công tác quản

lí đất đai và nền nếp, đúng pháp luật và sử dụng ruộng đất có hiệu quả” [66,

tr 3]

Sau một thời gian triển khai, đến tháng 6 năm 2001, Sở Địa chính

Hưng Yên đã có báo cáo “Về tình hình, kết quả chỉ đạo điểm chuyển đổi

ruộng đất ở 3 huyện” Kết quả chung ở các xã thí điểm là từ chỗ mỗi hộ

nông dân có 6 đến 8 thửa ruộng, sau quá trình chuyển đổi đã giảm xuống còn 3 đến 4 thửa/hộ, nhiều hộ chỉ còn 1 thửa Qua thực tế đã chứng minh, không chỉ giảm manh mún rõ rệt về ruộng đất mà các hộ còn “sản xuất có hiệu quả hơn, giảm bớt công chăm sóc, dễ bảo vệ, quản lí, thuận lợi bố trí cây trồng, tăng sản lượng hàng hoá” [75, tr 1] Tuy vẫn còn một số những khó khăn, nhưng chủ trương khuyến khích nông dân tự nguyện chuyển đổi ruộng và sắp xếp lại ruộng đất tạo thành những ô thửa lớn trong sản xuất

Trang 28

nông nghiệp của thương trực TU Hưng Yên là cần thiết và đúng đắn Sở Địa chính Hưng Yên đề xuất ý kiến cho phép triển khai ra diện rộng ở tất

cả các huyện trong tỉnh

Ngày 10 – 8 – 2001, TU Hưng Yên ra chỉ thị: “Về việc DĐĐT đất

nông nghiệp” trong toàn tỉnh, theo nguyên tắc: tự nguyện, công bằng, dân

chủ, lấy thôn làm đơn vị chuyển đổi, giữ nguyên đối tượng giao ruộng, theo phương pháp rút bù diện tích, song song với việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nông dân và quy hoạch lại đồng ruộng, hệ thống thuỷ nông nội đồng

Cuối năm 2001, UBND tỉnh Hưng Yên đã có nhiều văn bản về việc thực hiện DĐĐT trong toàn tỉnh, bao gồm các quyết định, kế hoạch, phương án, hướng dẫn, quy định về việc DĐĐT

Ngày 13 – 8 – 2002, UBND tỉnh Hưng Yên, Sở Địa chính Hưng Yên ban hành hướng dẫn về việc hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp sau khi DĐĐT, nhằm hoàn thiện hồ sơ địa chính, quản lí chặt chẽ quỹ đất đai và tạo tâm lí ổn định, yên tâm cho người nông dân sau khi DĐĐT

* Kết quả

Tháng 2 – 2003, UBND tỉnh và Sở Địa chính tỉnh Hưng Yên đã có báo cáo tổng hợp về việc DĐĐT đất nông nghiệp trong toàn tỉnh Tổng số

xã có đất nông nghiệp trong toàn tỉnh triển khai DĐĐT được tập huấn là

122 xã (chưa kể những xã làm điểm) Sở Địa chính, UBND đã cấp kinh phí, tổ chức tập huấn cho cán bộ chủ chốt của các xã và các ban ngành đoàn thể các huyện Sau khi được tập huấn và hướng dẫn cụ thể, các huyện,

xã trong toàn tỉnh đã tiến hành thống kê lại tình hình ruộng đất theo biểu mẫu có sẵn, lên phương án DĐĐT cho từng xã, lấy ý kiến của nhân dân về chủ trương DĐĐT và phương án DĐĐT Nông dân được phát biểu thẳng thắn và đóng góp ý kiến của mình vào việc xây dựng phương án DĐĐT tại

Trang 29

thôn Kết quả là sau khi dồn đổi, tỉ lệ thửa ruộng/hộ giảm, tỉ lệ hộ đã được

giao ruộng mới đạt cao Về cơ bản, việc DĐĐT trên toàn tỉnh hoàn thành

chỉ tiêu được giao

Bảng 1.2: Kết quả thực hiện DĐĐT đợt 2 của các huyện, thị xã

(tính đến hết năm 2002)

Nguồn: Báo cáo kết quả việc thực hiện DĐĐT ruộng đất nông nghiệp

trong toàn tỉnh (Hưng Yên ngày 6 - 5 - 2003)

Về chỉ tiêu số thửa

Sau khi dồn thửa đổi ruộng đất nông nghiệp, bình quân số thửa trên

một hộ trong tỉnh là 3,09 (đối với những nơi đã thực hiện) Những huyện có

bình quân số thửa thấp nhất là: Khoái Châu 2,49, Phù Cừ 2,71, Tiên Lữ 2,9,

Ân Thi 2,98 Toàn tỉnh có 60 xã = 50.4% số xã đã giao xong ruộng có bình

quân < 3 thửa/ hộ Trong đó 24 xã có 100% số hộ trong xã nhận mỗi hộ

không quá 3 thửa như Nhuế Dương, Đồng Tiến (huyện Yên Mĩ), Tiên Tiến,

Tân Châu (huyện Khoái Châu), Thủ Sĩ, Thiện Phiến (huyện Phù Cừ), Thọ

Vinh, Lương Bằng (huyện Kim Động) Cá biệt có thôn chủ yếu nhận 1-2

thửa/hộ như: Tiền Phong 100% số hộ, Quang Trung 149/178 hộ, Trà

Dương 177/214 hộ, Hoàng Xá 159/231 hộ Những huyện có nhiều xã có

Tổng số

hộ SD đất

NN phải DĐĐT

Số xã đã giao

giao chưa xong

Xã chưa giao ruộng

T.số

hộ đã được giao ruộng

tỷ lệ

% số

hộ đã giao

Trang 30

bình quân số thửa thấp (<3 thửa/hộ) là: Phù Cừ 11/11 xã, Khoái Châu 16/17 xã, Ân Thi 13/18 xã, Tiên Lữ 9/17 xã Tuy vậy một số huyện bình quân số thửa/ hộ còn cao là: Mỹ Hào 4 thửa, Văn Giang 3,83 thửa, Yên Mĩ 3,58 thửa, Kim Động 3,40 thửa

Bảng 1.3: Kết quả thực hiện DĐĐT ở các huyện, thị xã ở Hưng Yên)

(tính đến tháng 5 năm 2003) Chỉ tiêu TX

Ân Thi

Yên

Mỹ hào

Văn Lâm

Văn Giang

Khoái Châu

Nguồn: Báo cáo kết quả việc thực hiện DĐĐT ruộng đất nông nghiệp

trong toàn tỉnh (Hưng Yên ngày 6 tháng 5 năm 2003)

Đến cuối năm 2002, tính cả 35 xã làm điểm thì toàn tỉnh có 154 xã (trong tổng số 157 xã có đất nông nghiệp) đã xây dựng xong phương án và giao ruộng cho nông dân, đạt 98% số xã với 256.419 hộ sử dụng đất nông nghiệp, với 8686 hộ sử dụng đất nằm trọn trong vùng quy hoạch khu công nghiệp và phát triển đô thị được giữ nguyên hiện trạng, số còn lại thực hiện DĐĐT là 247.733 hộ thì có 230.847 hộ đã được nhận ruộng và sản xuất ở

vị trí mới, đạt 93.17% so với số hộ nông dân tham gia DĐĐT Bình quân chung ở cả 35 xã làm điểm là 3.16 thửa trên hộ Những huyện có bình quân

số thửa/ hộ dưới 3 thửa là Khoái Châu: 2.55 thửa/hộ, Phù Cừ: 2.73 thửa/hộ

Sau khi tiến hành DĐĐT đạt kết quả, TU, UBND và các sở, ban, ngành của tỉnh đã xây dựng các đề án, phương án, kế hoạch phát triển kinh

Trang 31

tế - xã hội của tỉnh, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đến nay, bộ mặt kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở vùng nông thôn Hưng Yên đã có nhiều thay đổi Kinh tế chung của toàn tỉnh đạt mức tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng, cơ cấu kinh tế

có sự chuyển biến mạnh theo hướng phát triển công nghiệp

Trong nông nghiệp, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, cơ giới hoá, hiện đại hoá các khâu lao động Được hưởng các chính sách ưu đãi của tỉnh nên các trang trại tăng nhanh cả về lượng và chất Toàn tỉnh Hưng Yên đã phát triển được trên

3300 đơn vị kinh tế trang trại năm 2008, tăng 1400 trang trại so với năm

2003 Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút lượng tiền vốn khá lớn trong dân vào sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa tiến bộ kĩ thuật vào nông nghiệp một cách tự nhiên hơn, định hướng cho nông dân từ bỏ tư tưởng sản xuất tự cung, tự cấp, tiến tới sản xuất hàng hoá với quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ ổn định Kinh tế trang trại không những thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả đất đai vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, cải thiện môi trường sinh thái mà còn phát huy được lợi thế của từng thôn

xã Nhờ đó hiệu quả thu được từ phát triển kinh tế trang trại tăng lên, đến nay đạt bình quân gần 190 triệu đồng/ trang trại, tăng gần 100 triệu đồng so với năm 2003 Nhiều hộ nông dân trở nên giàu có hơn từ làm kinh tế trang trại Tỉnh đã tập trung phát triển những cánh đồng 50triệu/ ha ở các hầu khắp các huyện: Thị xã Hưng Yên, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang Khoái Châu Những cây trồng được coi là thế mạnh, đặc sản của tỉnh như: nhãn, vải, cam, quýt, dưa chuột, cây cảnh, cây vụ đông được đặc biệt quan tâm Diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau màu hàng hoá tăng lên nhanh chóng Để phát huy những thành tựu đạt được sau khi DĐĐT năm 2003 cũng như khắc phục những hạn chế trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiến đến xây dựng nền nông nghiệp phát triển

Trang 32

bền vững, công nghệ tiên tiến, hiện đại theo hướng sản xuất hàng hoá,

trong chương trình hành động của tỉnh Hưng Yên thực hiện Nghị quyết TƯ

7 về phát triển nông nghiệp từ nay đến năm 2010, định hướng đến năm

2020, ban Thường vụ TU chỉ đạo tiếp tục thực hiện DĐĐT, khuyến khích tích tụ đất đai trên cơ sở thoả thuận góp vốn bằng đất hoặc chuyển nhượng đất để sản xuất nông nghiệp theo đúng pháp luật Cùng với đó, tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ hỗ trợ cho chủ hộ có ruộng đất phát huy được tư liệu sản xuất, tạo thêm cơ hội làm giàu và giải phóng sức lao động cho người nông dân

1.2.2 Tình hình thực hiện DĐĐT ở huyện Văn Giang

* Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Lịch sử:

Các nguồn tư liệu lịch sử và các công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, con người đã có mặt trên mảnh đất Văn Giang từ rất sớm Nhân dân Văn Giang cần cù lao động, khai phá đất hoang, dựng nhà, lập làng, dần mở rộng địa bàn cư trú Những tên làng Hoàng Trạch, Phú Trạch, Quán Trạch, Phù Bãi, Phù Thượng, Phù Đình ở xã Thắng Lợi chính là kết quả của những cuộc vật lộn với thiên nhiên, lấn đầm, ngăn nước, mở rộng lãnh thổ

Trước năm 1947, Văn Giang là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vốn

có truyền thống lập làng sinh sống từ lâu đời Câu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung lập xóm làng, dạy dân làm ăn, buôn bán trên vùng đất Dạ Trạch,

Đa Hoà xưa vốn thuộc Văn Giang (nay thuộc Khoái Châu) Vùng đất Văn Giang cũng có thể có từ thời các vua Hùng định đô, mở nước

Theo sách Khâm định việt sử thông giám cương mục, thời kì loạn 12

sứ quân, đất Tế Giang xưa (tên gọi cũ của Văn Giang nay – vì có con sông

Tế Giang chảy qua) có tướng Lữ Đường chiếm giữ Thời Đinh, Tế Giang thuộc Bắc Giang đạo, đến nhà Lý đổi là Bắc Giang lộ, nhà Trần gọi là Kinh

Trang 33

Bắc Sách Đại Việt địa dư viết: Huyện Văn Giang (thuộc phủ Thuận An,

tỉnh Bắc Ninh), thời thuộc Minh gọi là huyện Tế Giang, đời Lê, năm 1496 đổi tên là huyện Văn Giang và từ tháng 10 – 1947 đến nay tên gọi Văn Giang không có thêm sự thay đổi nào Trải qua nhiều thăng trầm, biến động cùng lịch sử dân tộc, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, còn tiếp tục có

sự thay đổi về hành chính, khi thì thuộc tỉnh Hải Hưng, khi thì thuộc tỉnh Hưng Yên Cho đến năm 1999 thì chính thức là huyện Văn Giang thuộc tỉnh Hưng Yên

Vốn là vùng đất văn hiến có truyền thống hiếu học, chống ngoại xâm anh dũng, Văn Giang đã đóng góp cho đất nước nhiều nhà văn hoá lớn như: Nguyễn Thừa Ưng, Đỗ Nhân, Đỗ Tống, Chu Mạnh Trinh, Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Hành , những nhà văn, nghệ sĩ tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Nghị, Dương Bích Liên, đến những nhà hoạt động chính trị: Phó Đức Chính, Lê Văn Lương,

Tô Hiệu

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Văn Giang đã đóng góp nhiều chiến công lớn cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng Nằm trong vành đai bảo vệ thủ đô Hà Nội, suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, làng xóm bị giặc chiếm đóng, lập tề, đóng bốt, nhưng nhân dân và các lực lượng vũ trang Văn Giang dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã chiến đấu anh dũng và giành nhiều chiến thắng vẻ vang Trong chiến tranh chống Mĩ, Văn Giang vừa làm tròn nhiệm vụ của hậu phương, vừa trực tiếp chiến đấu chống kẻ thù ném bom, bắn phá, góp phần bảo vệ thủ đô Nhiều người con Văn Giang đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của

Tổ quốc Trên địa bàn Văn Giang hiện nay còn rất nhiều những địa danh lịch sử, ghi dấu ấn những trận đánh năm xưa và là bài học cho các thế hệ Văn Giang hôm nay tiếp bước truyền thống lịch sử anh hùng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội

Trang 34

Điều kiện tự nhiên

Huyện Văn Giang là huyện cực Tây của tỉnh Hưng Yên, nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, bên bờ tả ngạn sông Hồng, giáp với 2 tỉnh thành là Hà Tây (cũ) và Hà Nội, nay là Hà Nội Phía nam giáp huyện Khoái Châu, đông nam giáp Yên Mĩ, đông bắc giáp Văn Lâm (là các huyện thuộc tỉnh Hưng Yên), phía bắc và tây bắc giáp huyện Gia Lâm, tây giáp Thanh Trì và tây nam giáp Thường Tín (Hà Nội)

Trước năm 1997, Văn Giang cùng với huyện Khoái Châu hợp thành huyện Châu Giang thuộc tỉnh Hải Hưng cũ Năm 1997, Hưng Yên tái lập tỉnh, ngay sau đó, huyện Châu Giang tách ra thành Văn Giang và Khoái Châu Huyện Văn Giang mới hiện nay bao gồm 11 xã, thị trấn 9 xã của Châu Giang cũ và 2 của Mĩ Văn là: Xuân Quan, Phụng Công, Long Hưng, Cửu Cao, Tân Tiến, Vĩnh Khúc, Liên Nghĩa, Mễ Sở, Nghĩa Trụ, Thắng Lợi

và thị trấn Văn Giang

Về đất đai: Văn Giang có diện tích tự nhiên là 71,8 km2 Văn Giang nằm giữa vùng ĐBSH với khí hậu nhiệt đới ẩm có gió mùa, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 4m so với mực nước biển Tổng diện tích đất nông nghiệp của Văn Giang là 4437.8 ha, trong đó sản xuất nông nghiệp là: 3994.1 ha, đất trồng lúa là: 1888.3 ha, đất trồng cây lâu năm là: 1027.9 ha và đất mặt nước và nuôi trồng thuỷ sản là: 439.3 ha [64, tr 2] Đồng ruộng Văn Giang chia làm 3 vùng: vùng đất bãi Sông Hồng, vùng lúa

và vùng lúa – màu – cây công nghiệp Ruộng đất Văn Giang vốn màu mỡ (vào loại nhất đẳng điền cao, bờ xôi ruộng mật) Sự chênh lệch về độ phì của đất giữa các vùng không cao, chất đất tương đối đồng đều Đây là một điều kiện thuận lợi cho sự dồn đổi, tập trung ruộng đất của huyện

Về thuỷ văn: Văn Giang có 2 sông lớn chảy qua là Sông Ngưu Giang và Sông Tế Giang, dần dần bị bồi lấp, hiện nay còn lại là vùng trũng cấy lúa, đầm nuôi thuỷ sản, hồ chứa nước và lòng sông bị thu hẹp dần

Trang 35

Ruộng đồng Văn Giang hiện nay được cung cấp nước bởi hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp

Văn Giang có đoạn đê Sông Hồng dài 12km chạy từ xã Xuân Quan (giáp Gia Lâm – Hà Nội) tới xã Mễ Sở (giáp Khoái Châu - Hưng Yên) Từ

năm 1781 đến 1799 đê Văn Giang vỡ 18 năm liền (sách Đại nam thực lục

chính biên), làm cho đời sống nhân dân điêu đứng Năm 1924, đê Đa Hoà

vỡ [13 – tr 18 ] nước chảy tràn các huyện Khoái Châu, Văn Giang, Yên Mĩ, Phù Cừ, Kim Động, Ân Thi Vì thế sông Hồng vừa là một nguồn lợi, nhưng cũng là một trở ngại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện cả trong quá khứ và hiện tại

Về giao thông: Văn Giang có hệ thống đường giao thông thuỷ - bộ rất thuận lợi Đường thuỷ có bến đò Mễ (xã Mễ Sở) có thuyền bè từ các tỉnh miền Trung ra, từ các tỉnh Việt Bắc xuống Đường bộ huyện có đường

206 và 207 là những đường giao thông huyết mạch Văn Giang nằm ở vị trí gần phía đông nam Hà Nội, nhờ đó nhân dân sớm được tiếp cận với những tinh hoa của kinh kì Thăng Long xưa, với những tiến bộ của Hà Nội nay

Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số Văn Giang hiện nay có khoảng 104.4 nghìn người, trong đó nam là 49.439 người, chiếm 47,4% tổng số dân Dân số nông thôn là 92.934 người, chiếm 89% tổng số dân toàn huyện Trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động là 52.305 người, chiếm 50% dân số Lực lượng lao động trong nông, lâm, thuỷ sản là 37.727 người, chiếm 72.1% tổng số lao động [64, Tr 13], còn lại là lao động làm việc trong các ngành kinh tế khu vực nhà nước và các ngành kinh tế quốc dân khác Như vậy có thể thấy rằng đại đa số cư dân Văn Giang sống ở nông thôn và hoạt động trong ngành nông nghiệp Đây vừa là một thuận lợi, vừa là một khó khăn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 36

Vị trí địa lí của Văn Giang tiếp giáp với Hà Nội, và gần các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh nên người dân ở đây cũng rất nhanh nhạy với sự thay của nền kinh tế, xã hội đất nước, năng động trong làm ăn, sản xuất và xây dựng đời sống văn hoá

Nằm bên tả ngạn sông Hồng, giữa vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ,

là vùng đất bãi bồi, đất đai màu mỡ, mưa thuận gió hoà, lại có địa hình tương đối bằng phẳng, vì vậy từ trước đến nay kinh tế Văn Giang chủ đạo

là sản xuất nông nghiệp

Người dân Văn Giang có truyền thống làm nông nghiệp lâu đời, đời trước truyền cho đời sau những kinh nghiệm quan sát thời tiết, trồng lúa nước, chọn giống, làm đất, trồng dâu, nuôi tằm, đánh bắt, gột trứng cá sông Hồng và làm nghề thủ công

Cùng với nghề nông, Văn Giang còn có rất nhiều nghề thủ công truyền thống như đan thuyền, làm gốm sứ ở Xuân Quan, nhuộm vải thâm ở Xuân Cầu (Nghĩa Trụ), vải nâu ở Phú Thị (Mễ Sở), làm bánh ở Phụng Công, Cửu Cao, Mễ Sở, dệt vải Rồng ở Như Lân (Long Hưng) Thế kỷ XVII, Văn Giang đã trở thành điểm nối giữa Thăng Long với Phố Hiến Văn Giang có hai làng nghề buôn nổi tiếng và khá đặc biệt là Đa Ngưu (xã Tân Tiến) và Đồng Tỉnh (xã Nghĩa Trụ)

Bước vào thời kì đổi mới, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng trên đất Văn Giang được chuyển đổi và phát triển theo hướng mới như: thêu ren, mây tre đan, đồ gốm, đồ gỗ, nguyên vật liệu xây dựng Đây là những tiềm năng giúp cho Văn Giang có những bước tiến trong các thời kì phát triển của đất nước, nhất là khi nước ta đang trên đà đổi mới và hội nhập quốc tế

Trong những năm trở lại đây, với vị trí gần thủ đô Hà Nội, kinh tế Văn Giang đã có sự thay đổi mạnh mẽ, chuyển dần từ nông nghiệp là chính sang công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Nhiều nhà máy, xí nghiệp công

Trang 37

nghiệp vừa và nhỏ được xây dựng trên địa bàn Đoạn đường giao thông 5B

Hà Nội - Hải Phòng đang được thi công có đoạn chạy qua địa phận Văn Giang Hiện nay huyện vẫn đang tiếp tục quy hoạch các cụm công nghiệp, dịch vụ mới: khu công nghiệp phía đông huyện Văn Giang, khu công nghiệp cơ khí, năng lượng AGRIMECO Tân Tạo – khu công nghiệp Vĩnh Khúc, khu đô thị, thương mại, du lịch Văn Giang

Cơ cấu kinh tế huyện Văn Giang năm 2008 đạt tỉ lệ tương ứng nông nghiệp – công nghiệp xây dựng – thương mại dịch vụ là 34,9% - 28,4% - 36,7%, theo xu hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, tăng đóng góp của công nghiệp xây dựng và dịch vụ Các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương cơ bản được hoàn thành vượt chỉ tiêu Bộ mặt kinh tế - xã hội của Văn Giang đang có những thay đổi Đời sống của nhân dân được nâng cao

đà cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực của huyện phát triển Sau một thời gian thực hiện, đời sống của các hộ xã viên trong huyện vẫn gặp nhiều khó khăn Mặc dù là một huyện ĐBSH có đất nông nghiệp màu mỡ, nhưng trước những khó khăn chung của nền kinh tế và ngành nông nghiệp cả nước, sản xuất nông nghiệp của Châu Giang tăng trưởng chậm

Năm 1998, diện tích đất nông nghiệp của các xã thuộc phạm vi huyện Văn Giang ngày nay là 5148,23 ha, trên tổng số 7179,21 ha đất tự

Trang 38

nhiên Tổng số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp của huyện là 21.045 hộ Bình quân mỗi hộ nông dân trong huyện được sử dụng khoảng 0,24 ha Với tổng số khoảng 85 nghìn nhân khẩu và 36.827 lao động ở khu vực nông nghiệp, thì bình quân đất nông nghiệp của Văn Giang trên từng hộ và từng người quá nhỏ

Thực hiện chính sách Khoán 10, các hộ nông dân ở Văn Giang đã được nhận những thửa ruộng cao, thấp, xa, gần… khác nhau về diện tích Trong suốt một thời gian dài sau Khoán 10, sản xuất nông nghiệp của Văn Giang luôn trong tình trạng phân tán nhỏ lẻ, nông dân làm ăn theo lối tiểu nông Bình quân diện tích mỗi thửa ruộng khoảng 300m2 Thửa ruộng lớn cũng chỉ khoảng hơn 400m2

(không kể diện tích đất công) Những mảnh ruộng quá nhỏ không cho phép họ sử dụng máy móc thay cho sức người và sức kéo trâu bò, công cụ lao động không có sự thay đổi nhiều Mỗi hộ gia đình trong huyện sở hữu từ 7 đến 10 thửa ruộng, hộ ít cũng 5 thửa nằm rải rác ở khắp nơi, cách xa nhau hàng km Đất nông nghiệp của Văn Giang có khả năng thâm canh rất cao, có thể trồng xen canh, gối vụ Nhưng do đặc điểm các thửa ruộng nhỏ lại quá xa nhau, nên hầu hết các hộ gia đình không tận dụng hết tiềm năng của đất, thường chỉ canh tác 2 vụ, nhất là đối với đất màu Nhiều hộ gia đình muốn chuyển sang trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, hoa, cây cảnh nhưng thực sự gặp khó khăn trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật Giá thành sản phẩm cũng vì thế mà cao hơn Ngành chăn nuôi cũng phát triển nhỏ lẻ trong mỗi hộ gia đình, đảm bảo nhu cầu thực phẩm hàng ngày và những dịp lễ tết Nuôi trồng thủy sản hầu như chỉ diễn

ra trên những ao, đầm bao thầu của HTX

Vì vậy mà năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất nông nghiệp của Văn Giang những năm này không cao so với tiềm năng của một huyện ĐBSH Sản lượng lương thực có hạt năm 1999 của Văn Giang là: 25677 tấn, sản lượng cây ngắn ngày là: 4566 tấn, cây công nghiệp, cây lâu năm là:

Trang 39

8500 tấn Năng suất lúa cả năm của huyện năm 1999 mới đạt 56,7 tạ/ha, kéo theo giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện trong năm này cũng thấp, đạt 218.568 triệu đồng

Đồng ruộng Văn Giang có đất phù sa, đất cát pha và đất thịt, phù hợp cho việc trồng các loại cây lương thực (lúa, ngô, khoai ), cây ăn quả (nhãn, cam, bưởi, táo ), cây cảnh, cây công nghiệp và cây dược liệu Tuy diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nhưng ruộng đồng Văn Giang vốn màu mỡ (tỉ lệ nhất đẳng điền, bờ xôi ruộng mật cao) Những năm gần đây, người dân lại biết áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất nên năng suất cây trồng, vật nuôi ngày càng cao, sản phẩm nông nghiệp hàng hoá ngày càng nhiều

Trước khi chủ trương DĐĐT của TƯ và tỉnh xuống đến huyện, thì căn cứ vào đặc điểm canh tác nông nghiệp, nhiều hộ gia đình nông dân trong huyện đã tự động chuyển đổi ruộng đất cho nhau theo hình thức tự nguyện, để tập trung đất vào một mảnh thuận lợi cho canh tác Tình trạng này diễn ra phổ biến ở các xã mà người nông dân đã sớm chuyển từ trồng lúa sang trồng các cây công nghiệp, cây cảnh và cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao như Phụng Công, Liên Nghĩa, thị trấn Văn Giang, Mễ Sở từ trước năm 1998 Để tận dụng tối đa diện tích đất, giảm công chăm sóc, thu hoạch và nhất là áp dụng kĩ thuật canh tác được đồng bộ, các hộ gia đình nông dân có những thửa ruộng gần nhau, tương đối đồng đều về diện tích

đã tự sang đổi ruộng đất cho nhau, nhưng chỉ là trên thực địa do chưa có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, chưa có sự thay đổi trong giấy tờ sở hữu đất nông nghiệp Nhiều hộ đã mạnh dạn thuê hoặc mua lại đất của các

hộ bên cạnh để mở rộng sản xuất Nhiều cánh đồng trồng chuối, cam, quýt, quất cảnh, táo và những trang trại chăn nuôi, thả cá rộng từ vài sào đến hàng mẫu Bắc Bộ đã xuất hiện, chứng tỏ hiệu quả của phương thức sản

Trang 40

xuất tập trung Bên cạnh đó, một số nông dân và hộ nông dân đã chuyển sang làm các ngành khác, chủ yếu là dịch vụ và sản xuất thủ công

* Kết quả DĐĐT ở Văn Giang

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh và thường trực TU, căn cứ vào đặc điểm đất đai và tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương, ngay từ khi UBND tỉnh Hưng Yên có Nghị quyết về DĐĐT, Văn Giang lúc bấy giờ trực thuộc huyện Châu Giang đã trở thành một trong 3 huyện có xã được chọn làm điểm thực hiện DĐĐT Đến năm 1999, sau khi hoàn thành việc tách huyện, HU, UBND huyện Văn Giang đã có những văn bản hướng dẫn việc rà soát lại diện tích và tình hình sử dụng đất nông nghiệp, và hướng dẫn triển khai DĐĐT đến các xã, thôn

Ngày 20/2/1999, HU Văn Giang đã ra quyết định “Về việc rà soát

lại tình hình sử dụng đất nông nghiệp” trên địa bàn toàn huyện nhằm thống

kê lại tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân, số liệu về sự phân chia và sở hữu ruộng đất để chuẩn bị cho công tác DĐĐT do UBND tỉnh triển khai

Ngày 10 - 8 - 2001, TU Hưng Yên ra chỉ thị Về việc thực hiện

DĐĐT trong toàn tỉnh, thì đến ngày 16 – 8 – 2001, HU, HĐND, UBND

huyện Văn Giang có Nghị quyết “Về việc triển khai thực hiện Nghị quyết

của UBND tỉnh thực hiện DĐĐT đất nông nghiệp”, trong đó nêu rõ: “căn

cứ vào thực trong sử dụng đất nông nghiệp trong huyện, tình trạng phân tán ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của các hộ gia đình nông dân, nhất là các hộ trong vùng trồng cây cảnh, cây

ăn quả, cây rau màu hàng hoá và chăn nuôi gia súc lớn, thuỷ sản” Vì vậy,

HU và Phòng Nông nghiệp huyện đã tiến hành đo đạc, lên phương án, có những hướng dẫn cụ thể đến từng xã về tiến trình DĐĐT, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất sau DĐĐT

Ngày đăng: 19/12/2015, 09:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc ĐBSH - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 1.1 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc ĐBSH (Trang 16)
Bảng 1.2: Kết quả thực hiện DĐĐT đợt 2 của các huyện, thị xã - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 1.2 Kết quả thực hiện DĐĐT đợt 2 của các huyện, thị xã (Trang 29)
Bảng 1.3: Kết quả thực hiện DĐĐT ở các huyện, thị xã ở Hưng Yên) - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 1.3 Kết quả thực hiện DĐĐT ở các huyện, thị xã ở Hưng Yên) (Trang 30)
Bảng 1.4: Kết quả thực hiện DĐĐT huyện Văn Giang năm 2003 - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 1.4 Kết quả thực hiện DĐĐT huyện Văn Giang năm 2003 (Trang 42)
Bảng 2.1.  Diện tích đất đai hành chính (phân theo loại đất) - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.1. Diện tích đất đai hành chính (phân theo loại đất) (Trang 46)
Bảng 2.2. Thay đổi trong sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Giang - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.2. Thay đổi trong sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Giang (Trang 48)
Bảng 2.3. Diện tích gieo trồng cây hàng năm, lâu năm - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.3. Diện tích gieo trồng cây hàng năm, lâu năm (Trang 51)
Bảng 2.5: Diện tích các loại đất nông nghiệp phân theo xã - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.5 Diện tích các loại đất nông nghiệp phân theo xã (Trang 53)
Bảng 2.6: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành (Trang 57)
Bảng 2.11: Giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản trên một - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.11 Giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản trên một (Trang 63)
Bảng 2.12: Chăn nuôi gia súc, gia cầm hàng năm - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.12 Chăn nuôi gia súc, gia cầm hàng năm (Trang 64)
Bảng 2.14: Số cơ sở sản xuất thủ công nghiệp Văn Giang qua các năm - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.14 Số cơ sở sản xuất thủ công nghiệp Văn Giang qua các năm (Trang 71)
Bảng 2.17: Cân đối lao động trên lãnh thổ (thời điểm 1 tháng 7 hàng năm) - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.17 Cân đối lao động trên lãnh thổ (thời điểm 1 tháng 7 hàng năm) (Trang 75)
Bảng 2.18: Tỉ lệ lao động trong các ngành kinh tế trên lãnh thổ - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2.18 Tỉ lệ lao động trong các ngành kinh tế trên lãnh thổ (Trang 75)
Bảng 2. 22: Một số chỉ tiêu về đời sống của các xã - Biến đổi cơ cấu kinh tế   xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999   2008   luận văn ths  lịch s
Bảng 2. 22: Một số chỉ tiêu về đời sống của các xã (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w