Sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đó xuất phát từ tinh thần yêu tự do, hòa bình của nhân dân thế giới, từ lợi ích của mỗi nước trong quan hệ với việc giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương;
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; những thông tin trong bản luận văn này là trung thực, chính xác và có xuất xứ rõ ràng; những kết luận của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 8năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Trí
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự dẫn dắt tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Hồ Khang, với sự tạo điều kiện thuận lợi của Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ môn Lịch sử Quân sự Thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Thư viện Quân đội Trung ương, Thư viện Quốc gia Việt Nam; trong quá trình thực hiện bản luận văn này, tôi cũng đượcsự hậu thuẫn to lớn từ gia đình tôi và được sự động viên thiết thực từ đồng đội, bạn bè thân thiết
Qua đây, tôi chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Hồ Khang; tôi cũng gửi lời cảm ơn tớiKhoa lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ môn lịch sử Quân sự Thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Thư viện Quân đội Trung ương, Thư viện Quốc gia Việt Nam và bạn bè, đồng đội gần xa; cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn và tình cảm thân yêu nhất đến những người thân của tôi
Hà Nội, tháng 8năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Trí
Trang 55
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: NỖ LỰC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ NGĂN CHẶN CHIẾN TRANH, TÍCH CỰC PHÁ VÂY VÀ MỞ CÁNH CỬA RA THẾ GIỚI (1945-1950) 14
1.1 Bối cảnh lịch sử và nỗ lực vận động quốc tế ngăn chặn chiến tranh của VNDCCH (1945-1946) 14
1.1.1 Bối cảnh lịch sử khi chiến tranh bùng nổ ở Nam Bộ 14
1.1.2 "Hòa để tiến" và nỗ lực vận động quốc tế ngăn chặn chiến tranh của VNDCCH (1945-1946) 20
1.2 "Thêm bạn, bớt thù", tích cực phá vây, bước ra thế giới (1947-1950) 40
1.2.1 Tiếp tục vận động quốc tế ngăn chặn chiến tranh 40
1.2.2 Tích cực phá vây, gia nhập "đại gia đình" các nước dân chủ mới 50
Tiểu kết
CHƯƠNG 2: ĐẨY MẠNH VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ, GÓP PHẦN ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1950-1954) 63
2.1 Tình thế mới và quan điểm vận động quốc tế của VNDCCH 63
2.1.1 Tình thế mới của cuộc kháng chiến 63
2.1.2 Quan điểm vận động quốc tế của VNDCCH 66
2.2 Vận động quốc tế vì mục tiêu hòa bình, độc lập và tự do (1950-1954) 68
2.2.1 Nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của các nước trong phe XHCN 68
2.2.2 Tăng cường đoàn kết chiến đấu với Lào, Campuchia và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới 74
2.2.3 Kết thúc chiến tranh bằng thương lượng, lập lại hòa bình ở Việt Nam 78
Tiểu kết
Trang 66
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT, Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 90 3.1 Nhận xét 90 3.2 Ý nghĩa và tác động của cuộc vận động quốc tế đối với sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” 98
3.3 Kinh nghiệm lịch sử 105
Tiểu kết
KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC 128
Trang 7QĐNDVN Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐQGVN Quân đội Quốc gia Việt Nam
VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 8Sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đó xuất phát từ tinh thần yêu tự do, hòa bình của nhân dân thế giới, từ lợi ích của mỗi nước trong quan hệ với việc giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương; sự đồng tình, ủng hộ từ bên ngoài ấy còn là kết quả của nỗ lực vận động quốc tế mà VNDCCH thực hiện trong cuộc trường kỳ kháng chiến này Do đó, nghiên cứu cuộc vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) góp phần lý giải sự ủng hộ quốc tế mà nhân dân Việt Nam nhận được, đồng thời giúp làm rõ cách thức mà VNDCCH giành ủng hộ bên ngoài trong cuộc kháng chiến này Nghiên cứu vấn đề này cũng giúp làm sáng tỏ đường lối đối ngoại của VNDCCH trong chín năm kháng chiến gian khổ (1945-1954); qua đây, chúng ta cũng nhận biết đúng đắn hơn về thái độ của quốc tế đối với VNDCCH và vai trò của ngoại lực trong cuộc trường kỳ kháng chiến này
Ngày nay, Việt Nam đang nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ mọi mặt của bạn
bè quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mình Và, lúc này, việc tìm hiểu cuộc vận động quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) cung cấp những kinh nghiệm quí giá từ thực tế lịch sử góp phần làm cho cuộc vận động quốc tế ngày nay thu được kết quả mong muốn
Chính bởi những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Cuộc động quốc tế
của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 99
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giành ủng hộ quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) sớm được các học giả quan tâm Năm 1954, ngay
khi cuộc chiến này kết thúc, các tác phẩm Struggle for Indochina (Cuộc chiến
giành Đông Dương) của Hammer và Việt Nam máu lửa của Nghiêm Kế Tổ đã
cho biết sơ bộ về nỗ lực của VNDCCH trong việc hoàn hoãn với quân Tưởng, kêu gọi sự ủng hộ từ Mỹ những năm 1945-1946 Hai tác phẩm trên cũng đề cập việc VNDCCH đoàn kết với Lào, Campuchia và gia nhập khối XHCN để kháng chiến chống thực dân Pháp
Sang thập niên 60 của thế kỉ XX, khi Mỹ và VNDCCH trực tiếp đối đầu ở miền Nam Việt Nam, vấn đề tìm hiểu sự trợ giúp từ các nước trong phe XHCN cho VNDCCH được các nước phương Tây, nhất là Mỹ quan tâm
Theo đó, năm 1967, Zasloff công bố công trình nghiên cứu The role of the
santuary in insurgency: The China’s support to the Vietminh, 1946-1954 (Vai trò của người bảo trợ trong phong trào nổi dậy: Sự hỗ trợ của cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh, 1946-1954) Trong đó, Zasloff đã nêu con số về
sự giúp đỡ của Trung Quốc cho VNDCCH, đồng thời chỉ ra những tác động của nước này đối với các chính sách đối nội và hoạt động đàm phán của VNDCCH ở Giơnevơ năm 1954 Ở hướng tiếp cận khác, năm 1969, King C
Chen cho ra đời công trình Vietnam and China, 1938-1954 (Quan hệ Việt
Nam-Trung Quốc, 1938-1954), trong đó, lần đầu tiên, những nỗ lực hòa hoãn,
thân thiện của VNDCCH đối với Trung Hoa Dân quốc từ năm 1945 đến 1947 được nêu ra khá chi tiết Bên cạnh đó, trong nỗ lực tìm hiểu VNDCCH, năm
1969, Bộ Quốc phòng Mỹ hoàn thành công trình nghiên cứu United States
and Vietnam relations, 1945-1967 (Quan hệ Mỹ-Việt, 1945-1967, thường
được biết đến dưới tên Tài liệu mật của Lầu năm góc) Ở công trình này,
những nỗ lực kêu gọi sự ủng hộ từ Mỹ, Pháp và các nước lớn của VNDCCH những năm 1945-1946 cũng lần đầu tiên được nêu ra chi tiết và khá đầy đủ
Trang 1010
Đáng chú ý, công trình này dẫn nhiều điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chính phủ Mỹ và các nước lớn khác trong những năm 1945-1946 Trong thời gian này, chúng ta cũng được biết thêm về nỗ lực xây dựng liên minh chiến
đấu của VNDCCH với Lào và Campuchia qua công trình The revolutions in
Laos: The North Vietnamese and the Pathet Laos (Phong trào cách mạng ở Lào: Quan hệ giữa lực lượng cộng sản Bắc Việt Nam và Pathet Lào) của P.F
Langer và J.J Zasloff (1969)
Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, với công trình Ba mươi lăm năm
đấu tranh của Đảng (Nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1971), ĐLĐVN bắt
đầu công khai sơ bộ nỗ lực gây thân thiện với Trung Quốc của mình trong những năm 1945-1946 Năm 1979, khi quan hệ Việt Nam và Trung Quốc căng thẳng, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra
sách trắng Sự thật về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua Trong đó, phía
Việt Nam công khai thừa nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc cho mình trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1950-1954) Cũng ở đây, phía Việt Nam tố cáo Trung Quốc tư lợi khi giải quyết vấn đề Đông Dương ở Hội ngị Giơnevơ năm 1954 Cùng thời gian này, ở Pháp, Phrăngxoa Goayô cho
xuất bản công trình Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông
Dương lần thứ nhất; trong đó, tác giả cung cấp những số liệu về việc Trung
Quốc viện trợ cho VNDCCH những năm 1950-1954 Công trình này cũng đi sâu phân tích sự tác động của Trung Quốc khiến VNDCCH chấp thuận giải pháp chia cắt đất nước tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, 1954 Đáng tiếc, cũng như công trình của Zasloff, sách trắng của Việt Nam và nghiên cứu của Phrăngxoa Goayô không cho biết rõ việc vận động Trung Quốc của VNDCCCH trước và trong Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, 1954
Sang thập niên 80 của thế kỷ XX, hoạt động vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống Pháp tiếp tục được bổ sung, làm rõ hơn Năm 1981, từ thực tế trải nghiệm của mình ở Việt Nam năn 1945,
Trang 1111
Archimedes L A Patti, Thiếu tá tình báo quân đội Mỹ, cho công bố công
trình Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?) Trong đó, những cố gắng của Chính
phủ VNDCCH, nhất là của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giành ủng hộ của Mỹ và các nước phương Tây được trình bày chi tiết và cụ thể hơn;
ở một công trình khác, năm 1988, Philippe Devillers cho công bố công trình
sưu tập tư liệu về cuộc chiến tranh Việt-Pháp, 1944-1947 mang tên
Pari-Saigon-Hanoi; trong đó, tác giả công bố những thư tín của chủ tịch Hồ Chí
Minh gửi phía Pháp và nỗ lực xây dựng quan hệ thân thiện với phương Tây của VNDCCH nhằm vãn hồi hòa bình trong những năm 1945-1947 Cũng trong năm 1988, ở Việt Nam, Đào Quang Cát có các công trình nghiên cứu khá sâu về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc những năm từ 1948 đến 1979 như:
Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong quá trình cách mạng hai nước
1948-1979 và Tư liệu nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm
1948 đến 1979 Trong các công trình này, ngoài việc cung cấp thêm thông tin
về viện trợ của Trung Quốc cho VNDCCH, tác giả còn cho biết chi tiết một
số nỗ lực vận động Trung Quốc của VNDCCH năm 1949 và đầu 1950
Từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay, khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, các kho lưu trữ ở Liên bang Nga, Trung Quốc và một phần nào đó ở Việt Nam được hé mở Theo đó, những nỗ lực vận động sự ủng hộ từ Trung Quốc
và Liên Xô của VNDCCH những năm 1945-1954 tiếp tục được sáng tỏ Cụ
thể, qua các công trình Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và
quan hệ Việt-Trung của nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam (1996), China and the Vietnam wars, 1950-1975 (Trung Quốc và
các cuộc chiến tranh Việt Nam, 1950-1975) của Qiang Zhai (2000), Mao’s China and the Cold war (Trung Quốc thời Mao và Chiến tranh lạnh) của
Chen Jian (2001), người ta được biết thêm về những nỗ lực vận động của VNDCCH trong việc giành ủng hộ của Trung Quốc những năm 1949-1954 Trong những công trình này, người đọc cũng được biết cụ thể, chi tiết hơn về
Trang 1212
lượng và loại hàng viện trợ vật chất mà Trung Quốc dành cho VNDCCH trong những năm 1950-1954; người đọc còn được biết về một kế hoạch rõ ràng của phía Trung Quốc nhằm thực hiện ý định thỏa hiệp với phương Tây trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương năm 1954
Bên cạnh đó, về nỗ lực của VNDCCH trong việc tranh thủ sự ủng hộ từ Liên Xô từ cuối thập niên 40 đến giữa thập niên 50 của thế kỷ XX, có các
công trình như: Những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Liên Xô
(1947-1950) của Benoit de Treglode (2000), Confronting Vietnam- Soviet policy toward the Indochina conflict, 1954-1963 (Giải quyết vấn đề Việt Nam- Chính sách của Liên Xô đối với cuộc chiến tranh Đông Dương, 1954-1963)
của Ilya V Gaiduk (2003), Courting diplomatic disater? The difficult
integaration of Vietnam into internationalist communist movement 1950) (Thất bại ngoại giao? Nỗi khó khăn của Việt Nam trong việc hội nhập phong trào cộng sản quốc tế (1945-1950) của Christopher E Goscha
(1945-(2006)…, qua các nghiên cứu của Benoit de Treglde và Christopher E Goscha trên đây, người ta được biết về những cố gắng bất thành của VNDCCH trong việc giành ủng hộ của Liên Xô những năm cuối thập niên 40 của thế kỉ XX; trong công trình của Ilya V Gaiduk nêu trên, người đọc được cấp thông tin về việc VNDCCH vận động sự ủng hộ của Liên Xô từ năm
1950 đến 1954, đồng thời, độc giả cũng được biết rõ hơn về thái độ của Liên
Xô cùng sự đồng thuận Xô-Trung trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954
Về nỗ lực vận động sự ủng hộ từ Mỹ, Trung Quốc những năm trước
1950, trong thời gian này nổi bật có các các công trình của W.J Duiker như:
The communist road to power in Vietnam (Con đường nắm quyền của cộng sản Việt Nam) (1995), US containment and the conflict in Indochina (Chính sách ngăn chặn của Mỹ và cuộc xung đột ở Đông Dương) (1996), Ho Chi Minh- A life (Hồ Chí Minh- Một cuộc đời) (2000)…
Trang 1313
Về việc vận động sự ủng hộ từ Lào, Campuchia, gần đây, ở Việt Nam
có một số công trình nghiên cứu bổ sung tài liệu lưu trữ, hồi kí về những hoạt động đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa VNDCCH với Lào và Campuchia
trong những năm sau 1945 như Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia
thời kỳ 1945-1954 (tư liệu lịch sử) của Ban Liên lạc cựu chiến binh Quân tình
nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954 (2000), Lịch sử quan hệ
đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, 1930-2007 do Đảng Nhân dân cách
mạng Lào và ĐCS Việt Nam tổ chức biên soạn (2011)…
Ngoài ra, từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, dựa trên nhiều nguồn
tư liệu được công bố, ở Việt Nam đã có nhiều công trình, chuyên khảo về nỗ lực vận động ngoại giao của VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một
phần hoặc toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) như: Ngoại
giao Việt Nam, 1945-2000 do Nguyễn Đình Bin chủ biên (2005); Hoạt động đối ngoại của nước VNDCCH thời kỳ 1945-1950, Luận án Tiến sĩ lịch sử của
Nguyễn Trọng Hậu (2001); Hồ Chí Minh với cuộc vận động sự ủng hộ quốc
tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp, 1946-1954, Luận văn Thạc sĩ của
Trần Thị Mai Dung (2010); Các nước XHCN ủng hộ Việt Nam kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của Nguyễn Thị Mai Hoa (2013)…
Như thế, cho đến nay, cuộc vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã được quan tâm, nghiên cứu
ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau Dù vậy, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, hệ thống trong một chuyên khảo nào; quá trình phát triển của cuộc vận động quốc tế của VNDCCH những năm từ 1945 đến 1954 cũng chưa được làm rõ
Nghiên cứu về cuộc vận động quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), các học giả thường nhấn mạnh thực tế VNDCCH không nhận được sự công nhận và trợ giúp vật chất đáng kể nào từ bên ngoài trong những năm trước 1950 mà chưa chỉ ra những thành quả mà VNDCCH thu được trong thời gian này; trong khi đó, phần lớn các nhà nghiên cứu đề cao sự giúp đỡ mà Trung Quốc và Liên Xô giành cho VNDCCH, trong những
Trang 1414
năm từu 1950 đến 1954, nhưng lại ít chỉ ra những hạn chế, tiêu cực mà VNDCCH gặp phải trong quá trình vận động các nước này những năm tháng này; các nhà nghiên cứu cũng chưa chỉ ra mối quan hệ giữa sự tăng viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô cho VNDCCH với những thay đổi trong chính sách đối nội, đối ngoại mà VNDCCH phải thực hiện trong những năm từ 1950 đến
1954 Nói cách khác, cách thức mà VNDCCH vận động các nước Liên Xô, Trung Quốc chưa được quan tâm, làm rõ
Nghiên cứu quan hệ giữa VNDCCH với Trung Quốc, Liên Xô trong quá trình đàm phán ở Giơnevơ về vấn đề Đông Dương năm 1954, các nhà nghiên cứu chủ yếu chỉ ra việc hai nước bạn thúc, ép VNDCCH chấp nhận giải pháp chia cắt đất nước song chưa làm rõ những nỗ lực của VNDCCH trong việc duy trì quan điểm của mình trước sức ép của của hai nước bạn ấy
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mô tả và phục dựng tương đối khách quan, đầy đủ bức tranh vận động quốc tế của VNDCCH trên phông nền của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; chỉ ra cách thức VNDCCH giành ủng hộ bên ngoài và làm rõ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến này của nhân dân Việt Nam; cung cấp một
số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày bối cảnh lịch sử, quan điểm quốc tế và đường lối đối ngoại của VNDCCH
- Phân tích quá trình VNDCCH thực hiện cuộc vận động quốc tế qua hai giai đoạn: 1945-1950, 1950-1954
- Phân tích những thành công, hạn chế và đặc điểm cuộc vận động quốc
tế của VNDCCH từ năm 1945 đến năm 1954
- Nêu lên ý nghĩa của cuộc vận động đối với công cuộc kháng chiến kiến quốc của VNDCCH những năm 1945-1954; đồng thời, đúc rút một số kinh nghiệm cho hiện tại
Trang 1515
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cuộc vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) trên mọi chiều cạnh, từ yêu cầu khách quan, diễn biến cho đến kết quả
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung khoa học: Nghiên cứu những hoạt động chính, quan trọng,
nổi bật của VNDCCH trong quá trình vận động sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Pháp
Về thời gian: Mốc bắt đầu nghiên cứu là từ tháng 9/1945- thời điểm
cuộc kháng chiến bắt đầu và mốc kết thúc nghiên cứu là tháng 7/1954 – khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc
Về không gian: Không gian nghiên cứu là những địa bàn liên quan đến
hoạt động vận động quốc tế của VNDCCH
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, luận văn còn ứng dụng những phương pháp thống kê, so sánh
6 Nguồn tài liệu
Phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở trên, luận văn sử dụng nhiều nguồn tài liệu thành văn ở trong và ngoài nước
- Về nguồn tài liệu trong nước:
+ Các văn kiện của ĐCS Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 đã được in trong bộ Văn kiện Đảng toàn tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành những năm 2000, 2001; các bài nói và bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm 1954 in trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập do Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2011
Trang 1616
+ Các báo cáo, thống kê về viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho VNDCCH những năm 1950-1954 khai thác từ Trung Tâm Lưu trữ, Bộ Quốc phòng (K4); các báo cáo về hoạt động giúp đỡ cách mạng Campuchia những năm từ 1950 đến 1954 khai thác từ Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương ĐCS Việt Nam
+ Các điện tín trao đổi giữa VNDCCH với Trung Quốc khai thác từ Phòng Lưu trữ, Bộ Ngoại giao
+ Các sách, báo, luận văn và luận án viết về hoạt động đối ngoại của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
- Về nguồn tài liệu nước ngoài:
+ Các tài liệu lưu trữ từ thư khố của Trung Quốc, Liên Bang Nga và Hoa Kì được đăng tải trên Internet bởi Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Woodrow Wilson, Cục Thư khố quốc gia Mỹ
+ Các sách, báo in và các sách, báo điện tử của các học giả phương Tây viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam (1945-1954); các trang web bàn về cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
7 Đóng góp của luận văn
- Tập hợp, hệ thống tài liệu liên quan đến cuộc vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), trong đó có một số tài liệu lưu trữ lần đầu được công bố
- Trình bày đầy đủ, rõ ràng hơn quá trình vận động quốc tế của VNDCCH từ năm 1945 đến năm 1954; chỉ ra cách thức VNDCCH giành ủng
hộ quốc tế và làm rõ hơn sự ủng hộ bên ngoài cho cuộc kháng chiến này của nhân dân Việt Nam
- Nêu ra những nhận xét, ý nghĩa và kinh nghiệm từ cuộc vận động quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) phục vụ cho công cuộc vận động quốc tế ngày nay của Việt Nam
Trang 1717
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở Đầu và Kết Luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bố cục thành 3 chương
Chương 1: NỖ LỰC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ NGĂN CHẶN CHIẾN TRANH, TÍCH CỰC PHÁ VÂY VÀ MỞ CÁNH CỬA RA THẾ GIỚI (1945-1950)
Chương 2: ĐẨY MẠNH VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ, GÓP PHẦN ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1950-1954)
Chương 3: NHẬN XÉT, Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
Trang 181.1.1 Bối cảnh lịch sử khi chiến tranh nổ ra ở Nam Bộ
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đời sống chính trị thế giới có nhiều biến đổi lớn Phong trào dân tộc, dân chủ phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi Trong phong trào dân tộc, nhân dân một số nước châu Á như Inđônêxia, Lào
đã giành được chính quyền; trong phong trào dân chủ, lực lượng cộng sản hoạt động mạnh ở nhiều nước tư bản châu Âu Ở Pháp và ở Ý, các Đảng Cộng sản nổi lên là những lực lượng chính trị mạnh, đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước [45, tr 9]
Thế giới sau chiến tranh cũng chứng kiến Mỹ và Liên Xô vươn lên thành hai siêu cường quốc, chiếm địa vị hàng đầu thế giới Với Mỹ, chiến tranh đã đưa nước này trở thành cường quốc hùng mạnh nhất hành tinh Về kinh tế, tổng sản phẩn quốc dân của Mỹ tăng từ 209,4 tỷ đô la năm 1939 lên 355,2 tỷ đô la năm 1945, gần bằng một nửa tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của thế giới; nước Mỹ cũng giữ 59% lượng dầu [127, pg 264] và 2/3 lượng vàng dự trữ của nhân loại [43, tr 124] Về quân sự, vào năm 1945, nước Mỹ
có quân đội đông tới 12 triệu người với lực lượng không quân và hải quân mạnh nhất thế giới Đặc biệt, Mỹ là quốc gia duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân-thứ vũ khí hủy diệt lớn nhất được con người tạo ra Khi chiến tranh kết thúc, lực lượng quân sự ấy của Mỹ hiện diện ở khắp các châu lục trên địa cầu Bên cạnh đó, Mỹ nắm quyền hành lớn trong nhiều tổ chức quốc tế trọng yếu của thế giới Trong Liên Hợp Quốc, Mỹ là một trong những nước có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an; trong Ngân hàng thế giới, nước Mỹ đóng góp tới 1/3 trong 9,1 tỷ đô la vốn điều lệ và theo đó nước Mỹ cũng nắm 1/3 quyền
Trang 1919
hành của tổ chức này; trong Quĩ tiền tệ quốc tế, Mỹ cũng giữ quyền chi phối
và tổ chức này thừa nhận đồng đô la Mỹ là đồng tiền chuẩn so với các loại tiền có giá trị khác [79, tr 126-127] Với sức mạnh chính trị, kinh tế và quân
sự đó, tiếng nói của nước Mỹ trở nên có sức thuyết phục cao trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế; nước Mỹ trở thành địa chỉ mà nhiều nước cậy nhờ
để khôi phục vị thế đã mất bởi chiến tranh
Về phía Liên Xô, chiến tranh đã đưa nước này trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, Liên Xô cũng có lực lượng vũ trang hùng hậu với số lượng tương đương số quân của quân đội Mỹ-
12 triệu người [37, tr 16]; quân đội Liên Xô có mặt từ khu vực Đông Âu đến Đông Bắc Á; Liên Xô cũng nắm quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc Thêm nữa, với sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ trên thế giới, Liên Xô còn có một lực lượng cảm tình đông đảo từ nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc và cả ở các nước tư bản chủ nghĩa Tuy vậy, theo Geir Lundestad, việc coi Liên Xô là một siêu cường chủ yếu xét trên khía cạnh
“sức mạnh quân sự, đặc biệt là về số lượng quân có vũ trang” [37, tr 17] Quả vậy, Liên Xô cũng bị chiến tranh gây thiệt hại nặng về nhân lực và vật lực: Về nhân lực, chiến tranh đã lấy đi của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết 28,5 triệu người [43, tr 99]; về vật lực, chiến tranh làm sức sản xuất về thép và nông nghiệp của Liên Xô năm 1945 giảm một nửa so với năm 1941 Với thực trạng kinh tế- xã hội đó, Liên Xô không có nhiều cơ sở như Mỹ để mở rộng ảnh hưởng của mình ra thế giới
Trong khi đó, hầu hết các nước tư bản và đế quốc chủ nghĩa ở cả phe Trục và phe Đồng minh đều bị chiến tranh tàn phá nặng nề: Nước Đức bị mất 17,5% tài sản cố định, nước Nhật bị phá hủy 1/3 thiết bị máy móc, nước Pháp
bị mất 10% tài sản cố định [73, tr 11-12]; số thiệt hại về tài sản cố định của nước Anh trị giá tới 3 tỷ bảng Anh [37, tr 19-20] Không chỉ thế, các nước Đức và Nhật còn bị Đồng minh chiếm đóng; các nước Anh và Pháp phải gánh những khoản nợ nước ngoài khổng lồ Nước Anh nợ Mỹ và các nước trong
Trang 2020
Liên hiệp Anh tới 50 tỷ đô la [43, tr 99]; nước Pháp nợ Mỹ 2 842.000.000 đô
la (tính từ tháng 11 năm 1941 đến tháng 9 năm 1945) [137, pg 402] Như thế, sau chiến tranh, các nước tư bản và đế quốc trên không còn giữ vị thế cường quốc vốn có nữa; trái lại, họ lại phụ thuộc hoặc chịu sự chi phối của Mỹ
Sự thay đổi căn bản tương quan giữa các cường quốc như vậy là cơ hội cho các siêu cường mới nổi mở rộng ảnh hưởng của mình Với Mỹ, chộp lấy
cơ hội ấy, ngay từ trong chiến tranh, nước này đã chủ trương gạt các nước đế quốc, gồm cả các đế quốc Đồng minh, ra khỏi thuộc địa của họ Theo đó, năm
1941, Mỹ thúc đẩy nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc bằng việc buộc Anh ra tuyên bố chung Đại Tây Dương với nội dung khẳng định tôn trọng quyền lựa chọn chính thể của các dân tộc và mong muốn chủ quyền của các dân tộc bị tước đoạt được khôi phục lại [115, pg 368] Tiếp đó, năm
1942, Mỹ đưa ra sáng kiến áp dụng chế độ ủy trị quốc tế ở các thuộc địa để đưa những vùng đất này đến độc lập [153, pg 7-8] Trong chủ trương này, Đông Dương là nơi Mỹ định thực hiện thí điểm Những năm từ 1942 đến đầu năm 1945, Mỹ luôn khẳng định quan điểm Pháp không được trở lại Đông Dương và bán đảo này phải được đặt dưới sự ủy trị quốc tế để đi đến độc lập [153, pg 7-8; 156, pg 13; 140, pg 39]
Đối với Liên Xô, chiến tranh cũng là một cơ hội cho nước này mở rộng ảnh hưởng và tấn công vào chủ nghĩa thực dân Do đó, Liên Xô đồng tình với quan điểm của Mỹ về vấn đề dân tộc và thuộc địa Tháng 1 năm 1942, Liên Xô tham gia Tuyên bố chung Liên Hợp Quốc ủng hộ Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941 [150]; Tại Hội nghị Têhêran tháng 12 năm 1943 và Hội nghị Ianta tháng 2 năm 1945, Liên Xô đều tán thành chủ trương áp dụng chế độ ủy trị quốc tế cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương [156, pg 13; 140, pg 39]
Với sự thống nhất về vấn đề thuộc địa của Liên Xô, Mỹ như vậy, tháng
6 năm 1945, Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký kết; trong đó, điều 73 của Hiến chương qui định các nước nắm quyền quản trị những vùng đất thuộc địa
có trách nhiệm thực hiện các quyền tự do, dân chủ để thúc đẩy tự trị ở các xứ này [149]
Trang 2121
Như thế, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới có nhiều đổi thay lớn, bao hàm trong đó nhiều cải cách, tiến bộ cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc phụ thuộc Thế nhưng, cải cách là một chuyện, độc lập lại là một chuyện khác Sau chiến tranh, các dân tộc phụ thuộc vẫn đứng trước đầy rẫy cản trở trên con đường giành lại những quyền cơ bản của mình
Thật vậy, ngay khi chiến tranh kết thúc, các nước đế quốc Đồng minh đã triển khai ngay việc khôi phục quyền cai trị của mình ở các thuộc địa Vương quốc Anh cho quân trở lại các thuộc địa như Miến Điện, Malayxia…, Pháp và
Hà Lan dựa vào quân Anh cũng bắt đầu tái lập vị trí ở Đông Dương và Inđônêxia Trong khi đó, do sự đối lập về lợi ích quốc gia, hai siêu cường hàng đầu thế giới (Liên Xô, Mỹ) dần chuyển từ hợp tác sang đối đầu Cuộc Chiến tranh lạnh này đã khiến hai nước lớn ấy phải thay đổi chính sách đối với vấn đề thuộc địa theo hướng có lợi cho các đế quốc Đồng minh để tranh thủ sự ủng hộ của họ Tháng 2 năm 1945, tại Hội nghị Ianta, hai nước Mỹ và Liên Xô nhất trí
không nhất thiết áp dụng chế độ ủy trị quốc tế ở thuộc địa của các đế quốc
Đồng minh để đưa những xứ này đến “độc lập” [114, pg 977]
Đối với vấn đề Đông Dương, theo sự thay đổi chính sách chung với các
đế quốc Đồng minh, cả Mỹ và Liên Xô đều từ bỏ chủ trương loại Pháp ra khỏi bán đảo này Về phía Mỹ, ngày 8 tháng 5 năm 1945, tại Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định Mỹ không phản đối chủ quyền Pháp ở Đông Dương [117, pg 307] Về phía Liên Xô, tháng 8 năm
1945, trong văn thư nội bộ gửi cơ quan ngoại giao của mình ở Pháp, Bộ Ngoại giao Liên Xô khẳng định nước này không có ý định áp dụng chế độ ủy trị quốc tế ở Đông Dương [55, tr 4] Và, thay vào đó, hai nước chỉ chủ trương buộc Pháp cải thiện điều kiện chính trị, kinh tế ở bán đảo này Cụ thể, Mỹ muốn Pháp trao cho người Đông Dương quyền tự trị [153, pg 21] Để thúc đẩy ý muốn ấy, mùa hè năm 1945, một mặt, Mỹ không cho Pháp tự do tái lập chủ quyền ở Đông Dương: Quân Pháp tham chiến ở Mặt trận Thái Bình Dương đặt dưới sự kiểm soát của Mỹ [137, pg 397-398]; phần Bắc vĩ tuyến
Trang 2222
16 của bán đảo Đông Dương vẫn được đặt trong phạm vi chiến trường Trung Quốc do Mỹ kiểm soát [116, pg 1465] Mặt khác, Mỹ chủ trương lợi dụng người bản xứ để buộc Pháp có sự cải cách thực sự ở Đông Dương Ngày 30 tháng 8 năm 1945, trong một văn kiện gửi một số sứ quán của mình, Bộ Ngoại giao Mỹ bày tỏ mong muốn thấy Pháp chứng minh thực tế việc được người bản xứ tán thành sự trở lại của mình [117, pg 313] Về phía Liên Xô, tháng 8 năm 1945, tại Hà Nội, hội đàm với Thiếu tá quân đội Mỹ Patti, đại diện Liên Xô Solosieff nói rằng: “Thời đại của chủ nghĩa thực dân đã hết và người Đông Dương phải tự nắm lấy vận mệnh của mình” [104, pg 179]
Sự thay đổi thái độ của Mỹ và Liên Xô đối với Đông Dương tạo thuận lợi cho Anh giúp Pháp trở lại xứ sở này Từ đầu tháng 9 năm 1945, nhân việc vào Đông Dương giải giáp quân Nhật theo lệnh của Đồng minh [128], quân Anh cho một đại đội quân Pháp cùng vào Đông Dương và tái vũ trang cho tù binh Pháp ở nơi này [98, tr 29]…Đồng thời, ở Luân Đôn, Anh và Pháp bàn thảo về việc Pháp đảm nhận quyền quản trị dân sự ở Nam vĩ tuyến 16 của Đông Dương [140, pg 79] Trong khi đó, về phía Trung Quốc, trước thái độ nhượng bộ Pháp của Mỹ và Liên Xô, nước này cũng có thái độ mềm mỏng đối với sự trở lại Đông Dương của Pháp Theo đó, khi chuẩn bị vào miền Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo phân công của Đồng minh [135, pg 155; 128], cuối tháng 8 năm 1945, Trung Quốc tuyên bố “liên hệ mật thiết” với Pháp và “đàm phán" với Pháp về các khoản thanh toán ở Đông Dương [135, pg 118] Tiếp đó, ngày 19 tháng 9, Trung Quốc tuyên bố công nhận chủ quyền Pháp ở Đông Dương và thỏa thuận với Pháp mở cuộc đàm phán về việc quân Pháp thay quân Trung Quốc giải giáp quân Nhật ở Đông Dương vào tháng 10 cùng năm [4, tr 96]
Như thế, khi chiến tranh bùng nổ ở Nam Bộ, Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung đã là nơi mà các nước lớn nhượng bộ quyền lợi với Pháp Về nguyên tắc, họ không còn phản đối sự khôi phục quyền kiểm soát của Pháp ở xứ sở này nữa Không chỉ vậy, phong trào cách mạng của Việt Nam còn
Trang 2323
bị các nước này nhìn nhận với thái độ tiêu cực, thậm chí đối lập Về phía Mỹ, những người cách mạng Việt Nam, nhất là lãnh tụ Hồ Chí Minh, bị giới lãnh đạo nước này khẳng định là cộng sản Trong điện văn gửi Ngoại trưởng Mỹ ngày 22 tháng 8 năm 1945, Giám đốc Cục Công tác chiến lược Mỹ (OSS) khẳng định: “Việt Minh hoàn toàn một đảng cộng sản” [151, pg C66] Với Trung Quốc, nhằm ngăn sự liên lạc giữa những người cộng sản Việt Nam với những người cộng sản Trung Quốc và cũng để dọn đường cho việc lập thế lực của mình ở Đông Dương, Trung Quốc chủ trương “diệt cộng, cầm Hồ”, đưa các đảng tay sai Việt Quốc, Việt Cách lên cầm quyền [24, tr 427; 135, pg 120;
77, tr 384] Trong khi đó, về phía Liên Xô, vốn không đồng tình với quan điểm của lãnh tụ Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giai cấp [1, tr 34-35] nên trước việc Việt Minh hợp tác với Mỹ trong chiến tranh họ nghi ngại hơn về lập trường giai cấp của các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam [111, pg 84]
Trong hoàn cảnh đó, trước khi chiến tranh nổ ra ở Nam Bộ, Việt Nam
đã vận động Mỹ, Trung Quốc và các nước lớn khác ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của mình bằng việc tham gia Đồng minh chống Nhật, bằng việc thực hiện chính sách hợp tác, thân thiện với Đồng minh…Nhưng, nỗ lực vận động ấy của Việt Nam chỉ nhận được cảm tình cá nhân từ một số quân nhân
Mỹ và đạt được sự hòa hoãn tạm thời với quân Tưởng Trong khi đó, nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam chưa được nước nào công khai ủng hộ, nước VNDCCH chưa được một nước nào công nhận
Trong khi chưa nhận được sự ủng hộ chính thức từ bên ngoài cho sự nghiệp giành độc lập hoàn toàn của mình, nước VNDCCH non trẻ cũng đối mặt với chồng chất khó khăn, cản trở từ chính bản thân mình, đó là: Chính quyền cách mạng mới thành lập, chưa được củng cố, kiện toàn, thiếu cán bộ ở mọi ngành, cấp; tài chính gần như trống rỗng- ngân khố quốc gia chỉ có 1.250.000 đồng, trong đó 580.000 đồng là tiền rách nát [98, tr 26]; quân đội mới thành lập, thiếu mọi mặt từ vũ khí trang bị đến cán bộ và trình độ cùng kinh nghiệm tác chiến Trong khi đó, ở miền Bắc các đảng chính trị được
Trang 2424
Trung Quốc dung dưỡng như Việt Quốc, Việt Cách chiếm nhiều vị trí như Vĩnh Yên, Móng Cái, Yên Bái và đòi cải tổ Chính phủ …Ở miền Nam, các giáo phái và lực lượng Trôkit gây ra nhiều vụ xung đột và đưa ra “những khẩu hiệu quá tả có hại cho nội trị và ngoại giao của Chính phủ lâm thời” [20, tr 17]; về xã hội, có đến hơn 90% dân số mù chữ; về kinh tế, sản lượng lương thực qui thóc vụ chiêm năm 1945 ở miền Bắc thu hoạch chỉ đạt 792.000 tấn, bằng 50% so với mức thu trung bình hàng năm và do đó, đến giữa tháng 8 năm 1945, số thóc dự trữ đã cạn kiệt Nạn lụt trong mùa hè năm 1945 làm ¾ đất canh tác ở đồng bằng Bắc Bộ bị ngập lụt Tình hình đó đã đặt nước Việt Nam đứng trước hai quốc nạn: Nạn đói và nạn dốt [67, tr 119; 59, tr 118]
Có thể nói, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, VNDCCH đứng trước đầy rẫy khó khăn, cản trở Mặc dù thế, lúc này, lịch sử cũng cho thấy nhân dân Việt Nam đang dâng cao tinh thần độc lập và đoàn kết xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh Tháng 1 năm 1946, báo cáo trước
Bộ Ngoại giao Mỹ về tình hình Việt Nam cuối năm 1945, Chuẩn tướng quân đội Mỹ Philip E Gallagher nhận xét: “Ở khắp nơi, người Việt Nam đều mong muốn độc lập và ngay cả trong những xóm làng, những người nông dân cũng nói về trường hợp độc lập của Philipin” [118, pg 17] Cùng với xu hướng tiến
bộ và chống chủ nghĩa thực dân cũ của thế giới sau chiến tranh, ý chí và nguyện vọng độc lập ấy của dân tộc Việt Nam mang lại cho VNDCCH những
vũ khí thiết yếu, mạnh mẽ để vận động sự ủng hộ quốc tế cho cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn
1.1.2 “Hòa để tiến” và nỗ lực vận động quốc tế ngăn chặn chiến tranh của
VNDCCH (1945-1946)
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự hậu thuẫn của quân Anh, thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc tái chiếm Việt Nam và Đông Dương Hành động này của thực dân pháp đẩy nước VNDCCH non trẻ vào thế đầy bất lợi khi không chỉ phải đương đầu với một kẻ thù mạnh hơn mà còn phải cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù
Trang 2525
Trước tình hình đó, một mặt, VNDCCH kiên quyết đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp để “tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam không chịu ách nô lệ một lần nữa” [4, tr 97] Tập trung sức lực cho cuộc kháng chiến này, VNDCCH tiếp tục chủ trương hòa hoãn với quân Tưởng Theo đó, từ chiều ngày 22 đến ngày 23 tháng 9, đại diện Chính phủ Hồ Chí Minh đã có các cuộc tiếp xúc với đại diện quân đội Trung Quốc ở Hà Nội; trong các cuộc gặp này, hai bên bàn việc cho những người Việt thân Trung Quốc tham chính [104, pg 346-348; 3, tr 46] Đến ngày 27 tháng 9, Chính phủ lâm thời nước VNDCCH tán thành cho một số đảng viên của đảng Việt Cách tham gia chính quyền Theo đó, Nguyễn Hải Thần được giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ, Trương Trung Phụng được bổ làm Tham nghị trưởng
Bộ Quốc phòng [3, tr 50]
Song, để giành ủng hộ của thế giới cho cuộc chiến chính nghĩa này,
trong thư Gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn
dặn: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại Chúng ta chỉ đòi độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước” [59, tr 29-30]
Mặt khác, Chính phủ VNDCCH nỗ lực vận động ngoại giao để ngăn chặn cuộc chiến không cân sức này Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến lãnh đạo Mỹ, Anh và chỉ huy quân Anh ở Nam vĩ tuyến 16 của Việt Nam, phản đối hành động giúp Pháp và vi phạm quyền tự do, dân chủ của quân Anh
ở Nam Bộ Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Truman ngày 24 tháng 9, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đề nghị phía Mỹ can thiệp buộc phía Anh chấm dứt những hành động vi phạm quyền tự nhiên của nhân dân Việt Nam và thực hiện những nguyên tắc tự do, tự quyết của Hiến chương Đại Tây Dương trên đất nước mình [59, tr 27]
Trang 26Vận động sự ủng hộ của Mỹ cho nỗ lực vãn hồi hòa bình ấy, trong cuộc gặp Thiếu tá quân đội Mỹ Patti ngày 30 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn Mỹ dàn xếp một thỏa thuận tạm thời giữa Việt Nam với Pháp; đồng thời, để giành sự ủng hộ của Mỹ cho đề nghị đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ VNDCCH muốn tự do thương mại và phủ nhận quan hệ với quốc tế cộng sản của bản thân mình [104, pg 368-369]
Chính sách mềm dẻo, ôn hòa với Trung Quốc của VNDCCH tiếp tục giành được sự hòa hoãn trong quan hệ với quân đội nước này ở miền Bắc đất nước Hơn thế, Chỉ huy quân Trung Quốc ở miền Bắc Đông Dương, Trung tướng Lư Hán công khai tuyên bố đồng tình với sự phản kháng oanh liệt của nhân dân Việt Nam ở Nam Bộ và ngụ ý trừng phạt người Pháp nếu họ gây chiến ở Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương- nơi quân Trung Quốc đảm nhận việc giải giáp quân Nhật [59, tr 149; 135, pg 125]
Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam được đông đảo nhân dân thế giới ủng hộ, tán đồng Hội nghị liên Phi ra quyết nghị án ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam [59, tr 71]; dư luận Ấn Độ bày tỏ sự bất bình trước việc Anh dùng người Ấn Độ đàn áp cách mạng Việt Nam [147, pg 69]; báo chí Mỹ lên tiếng chỉ trích chính sách thực dân của Pháp ở Đông Dương là lỗi thời và đe dọa hòa bình thế giới [59, tr 150] Tại thực địa, sự đoàn kết dân tộc, chính sách thân thiện của VNDCCH
Trang 2727
tiếp tục giành được sự cảm tình của một bộ phận quân nhân Mỹ Ở miền Bắc, một số quân nhân Mỹ không chỉ tiếp tục giúp chuyển thư của Hồ Chí Minh ra ngoài mà ngăn Pháp mở rộng chiến tranh ra miền Bắc khi nhất trí với Chính phủ Hồ Chí Minh không cho tù binh người Pháp tự do ở Hà Nội (26/9/1945) [104, pg 357-358] Ở miền Nam, Peter Dewey, Trung tá quân đội Mỹ, không đồng tình với việc giúp gây chiến của phía Anh và duy trì liên lạc với các đại diện của Chính phủ VNDCCH bất chấp sự ngăn cản của Tư lệnh quân Anh ở khu vực này [36, tr 422, 428-429]
Tinh thần chiến đấu kiên quyết của nhân dân Việt Nam và sự đồng tình của đông đảo nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh của Việt Nam gây cho các Chính phủ Mỹ và Chính phủ Anh nhiều lo lắng Với Mỹ, lo ngại sự bất ổn
ở Đông Dương và khu vực châu Á Thái Bình Dương, các nhà hoạch định chính sách nước này đều cho rằng cần có sự đối thoại giữa Pháp với người Việt Nam [117, pg 313] Ngày 5 tháng 10 năm 1945, trong điện văn gửi Đại biện Mỹ ở Trung Quốc Robertson, Quyền Ngoại trưởng Acheson nhắc lại quan điểm muốn Pháp có sự đồng thuận của người bản xứ trong việc trở lại Đông Dương của mình [117, pg 313] Về phía Anh, việc quân Pháp bị bao vây ở Sài Gòn và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành được sự đồng tình của nhân dân Ấn Độ khiến giới chức nước này không chỉ lo ngại cho bộ phận quân Pháp bị bao vây mà còn lo ngại về sự bùng nổ của phong trào cách mạng ở các thuộc địa của mình Bởi vậy, họ liên hệ với phía VNDCCH để tổ chức một cuộc thương lượng giữa Pháp với Việt Nam Theo đó, ngày 1 tháng
10, với sự chứng kiến của đại diện Anh H.N Brain, đại diện Pháp Cédile và đại diện VNDCCH Phạm Ngọc Thạch họp ở Sài Gòn, thỏa thuận tạm thời ngừng bắn để tiếp tục thương thảo đi đến chấm dứt chiến tranh
Mặc dù vậy, Mỹ, Anh và Trung Quốc vẫn giữ quan điểm ủng hộ sự tái lập quyền kiểm soát của Pháp ở Đông Dương Với Mỹ, dù lo ngại về hành động chiến tranh của Pháp, nhưng, ngày 2 tháng 10, nước này quyết định
Trang 2828
không can thiệp vào cuộc chiến ở Đông Dương [156, pg 37] Hơn thế, trong tháng này, Mỹ còn cung cấp 8 tàu chiến để chuyên trở quân Pháp đến Việt Nam vào tháng 10 năm 1945 [148, pg 69-70] Về phía Anh, ngày 9 tháng 10,
họ trao cho Pháp quyền quản trị dân sự ở Nam vĩ tuyến 16 của bán đảo Đông Dương [148, pg 46] Cùng lúc, họ dùng quân Nhật yểm trợ cho quân Pháp
mở rộng vùng chiếm đóng ở Nam Việt Nam Về phía Trung Quốc, Chính phủ nước này cũng đồng ý cho Pháp thiết lập một sự quản trị dân sự ở ở Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương [104, pg 353] Đồng thời, tiếp tục gạt mối lo ngại cộng sản và tạo thế lực của mình ở xứ sở này, họ thúc ép Chính phủ Hồ Chí Minh lập một chính phủ liên hiệp với sự tham gia của các đảng tay sai bản xứ
Sự đồng lõa trên đây của các nước lớn đã khuyến khích thực dân Pháp tăng cường hoạt động chiến tranh ở Nam Việt Nam Thật vậy, từ ngày 10 tháng 10, với quân tăng viện, thực dân Pháp tập trung phá vây ở Sài Gòn và
mở rộng chiến tranh ra Nam Trung Bộ Việt Nam
Trước tình hình đó, VNDCCH tiếp tục kháng chiến để thiết thực ngăn chặn bước tiến của thực dân Pháp và giành sự ủng hộ quốc tế Trong thư gửi đồng bào Nam Trung Bộ ngày 15 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Phải tin vào sức ta trước hết: Chỉ có nỗ lực mới làm cho ngoại giao toàn thắng Chỉ có xương máu mới ngăn được quân thù” [59, tr 57] Đồng thời, tập trung lực lượng cho cuộc kháng chiến, VNDCCH tiếp tục nhượng bộ phía Trung Quốc cả về kinh tế và chính trị Về kinh tế, VNDCCH chấp thuận cho quân đội Trung Quốc ở miền Bắc Đông Dương mua 2/3 số gạo chuyên chở từ miền Nam ra [3, tr 73]; về chính trị, từ cuối tháng 10, VNDCCH tiếp tục đàm phán với các chính đảng thân Trung Quốc (Việt Quốc và Việt Cách) về việc thành lập chính phủ liên hiệp với sự tham gia của họ Tăng cường xây dựng quan hệ “thân thiện” với Trung Quốc, ngày 22 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy gửi thư tới Thống chế Tưởng Giới Thạch, đề nghị thúc đẩy quan hệ giữa hai nước Bên cạnh đó, cũng nhằm đẩy mạnh cuộc
Trang 2929
kháng chiến chống thực dân Pháp, VNDCCH xây dựng khối đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia Với Lào, ngày 16 tháng 10, Chính phủ VNDCCH công nhận Chính phủ Lào độc lập, đồng thời hai nước ký Hiệp định “Tương trợ Lào-Việt” Với Campuchia, ngày 15 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ cử 5 cán bộ sang nước này xây dựng liên minh chiến đấu [6, tr 47]
Gia tăng nỗ lực kháng chiến và giành sự ủng hộ quốc tế cho nỗ lực đó nhưng VNDCCH vẫn thúc đẩy giải pháp ngoại giao với Pháp để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chấm dứt cuộc chiến tranh này Theo đó, giữa tháng 10 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp khẳng định: Việt Nam tôn trọng quyền lợi kinh tế của Pháp ở lãnh thổ của mình nhưng muốn độc lập và yêu cầu Pháp chấm dứt cuộc chiến ở Nam Việt Nam Rõ ràng hơn, ngày 23 tháng 10, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước VNDCCH tuyên bố “hoanh nghênh” việc thương thuyết để chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Pháp với Việt Nam [59, tr 85]
Song, lúc này, để tăng cường giành ủng hộ của các nước lớn cho nỗ lực vãn hồi hòa bình của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tính đến giải pháp ngoại giao đa phương Theo đó, ngày 17 và 22 tháng 10, Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, trong đó đề nghị các nước lớn cho Việt Nam tham gia Ủy ban Tư vấn Viễn Đông và yêu cầu giải quyết vấn đề Việt Nam tại ủy ban này Thúc đẩy Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ giải pháp này, ngày 21 tháng 10, Hồ Chí Minh gửi thư tới Chủ tịch Stalin, cảnh báo về nguy
cơ mất an ninh ở Viễn Đông do hành động chiến tranh của thực dân Pháp ở Việt Nam; ngày 28 tháng 10, Hồ Chí Minh gửi thư tới Thống chế Tưởng Giới Thạch, tố cáo quân Anh dùng quân Nhật đàn áp cách mạng Việt Nam và yêu cầu phía Trung Quốc can thiệp ngăn chặn Trong nỗ lực quốc tế hóa việc giải quyết vấn đề Việt Nam, VNDCCH vẫn coi trọng vai trò của Mỹ Cho nên, cùng với yêu cầu Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam, VNDCCH chủ trương tăng cường xây dựng quan hệ thân thiện với Mỹ, trước tiên từ quan hệ ngoại giao nhân dân Theo đó, ngày 17 tháng 10, Hội hữu nghị Việt-Mỹ được thành lập
Trang 30Trong lúc này, cuối tháng 10 năm 1945, cuộc tuyển cử ở Pháp mang lại thắng lợi lớn cho lực lượng cộng sản ĐCS Pháp giành số ghế cao nhất trong Quốc hội (155 ghế) [59, tr 386] Thái độ của Mỹ cùng với tình hình chính trường Pháp mang lại cho các nhà lãnh đạo VNDCCH niềm lạc quan mới trong giành ủng hộ quốc tế cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của mình Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc ngày 25 tháng 11 của Đảng nhận định: “Pháp rất
có thể thừa nhận cho Đông Dương độc lập và ký với Đông Dương một bản hiệp ước thân thiện, đặng giữ thể diện với quốc tế và cứu vãn quyền lợi kinh
tế của Pháp ở Đông Dương” [25, tr 25]
Trong bối cảnh đó, một mặt, VNDCCH tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến Phục vụ cho nỗ lực này, Chính phủ Hồ Chí Minh tăng cường huy động sức mạnh nội lực và ngoại lực Theo đó, huy động sức mạnh trong
nước, ngày 5 tháng 11 được lấy làm ngày Kháng chiến toàn quốc; giành
thêm sự trợ giúp từ bên ngoài, ngày 17 tháng 11, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống nước Cộng hòa Inđônêsia, đề nghị hai nước tuyên bố đoàn kết trong cuộc đấu tranh giành tự do và kêu gọi các nước Ấn Độ, Miến
Trang 31Mặt khác, VNDCCH tăng cường thúc đẩy cuộc thương lượng với Pháp Ngày 12 tháng 11, Chính phủ lâm thời nước VNDCCH gửi cho đại diện Pháp
ở Đông Dương một giác thư, đề nghị ngừng bắn và công nhận Việt Nam độc lập; đổi lại, phía Việt Nam nhượng bộ cho Pháp những quyền lợi về kinh tế và văn hóa ở Đông Dương [66, tr 132]; ngày 13 tháng 11, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới lãnh tụ các đảng phái lớn ở Pháp đề nghị ngăn chặn chiến tranh và công nhận độc lập của Việt Nam Tiếp tục nỗ lực đó, đầu tháng 12 năm 1945, Hồ Chí Minh tỏ ý sẵn sằng gặp Cao Ủy Pháp ở Đông Dương để xúc tiến thương lượng chính thức [83, tr 133]
Song song với việc trực tiếp kêu gọi phía Pháp thương lượng, VNDCCH tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc, Mỹ và các nước phương Tây khác cho nỗ lực vãn hồi hòa bình ấy của mình bằng cách tiếp tục gạt mối nghi ngại của họ
về tính chất cộng sản của mình Theo đó, đầu tháng 11 năm 1945, ĐCS Đông Dương tuyên bố tự giải tán Trong thông cáo về việc này, Ban chấp hành Trung ương ĐCS Đông Dương nêu rõ mục đích hành động của mình là: “Để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà” [25, tr 19]
Trang 3232
Những nỗ lực vận động quốc tế trên đây của VNDCCH tiếp tục
giành được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của nhân dân thế giới: Báo Thời mới
và Sự thật của Liên Xô lên tiếng chỉ trích chính sách thực dân của Pháp ở
Việt Nam [84, tr 103]; tháng 12 năm 1945, Hội đồng Nhà nước Xây Lan ra quyết nghị ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam [148, pg 49]; Cùng lúc, Thủ tướng Ấn Độ, Nehru, tuyên bố phản đối việc quân đội Anh dùng binh lính người Ấn Độ đàn áp cách mạng Việt Nam [125, pg 119]
Bên cạnh đó, cố gắng hòa nhượng của VNDCCH đối với Trung Quốc tiếp tục giành được sự hòa hoãn quí giá VNDCCH hạn chế sự chống phá của
họ mà vẫn giữ vững chính quyền cách mạng ở Bắc vĩ tuyến 16 và tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử, lập Chính phủ chính thức Cùng lúc, những
nỗ lực thúc đẩy thương lượng của VNDCCH với Pháp đã gây được sự chú ý
từ phía Mỹ Cuối tháng 1 năm 1946, Bộ Ngoại giao Mỹ cử Landon đến Đông Dương tìm hiểu cuộc thương lượng này [118, pg 20]
Tuy thế, nỗ lực vận động của VNDCCH vẫn không làm thay đổi quan điểm ủng hộ Pháp lập lại quyền kiểm soát ở Đông Dương của các nước lớn Cuối năm 1945, quân đội Anh chuyển giao cho quân đội Pháp ở Nam Đông Dương 1 phi đội máy bay cường kích Spitfire Mark IV Đến đầu năm 1946, quân đội Anh bắt đầu chuyển giao quyền kiểm soát toàn bộ Nam vĩ tuyền 16 của bán đảo này cho quân đội Pháp Về phía Mỹ, tháng 12 năm 1945, nước
Mỹ bán cho Pháp 279 xe các loại phục vụ cho chiến tranh ở Đông Dương [148, pg 70] Về phía Trung Quốc, vì lợi ích riêng, nước này tiếp tục các cuộc đàm phán với Pháp về việc quân Pháp vào miền Bắc Đông Dương thay quân đội của họ
Được các nước lớn ủng hộ thực tế, phía Pháp giữ quan điểm thực dân của mình đối với việc giải quyết vấn đề Việt Nam Trong các cuộc đàm phán với Chính phủ VNDCCH đầu năm 1946 và qua các cuộc tiếp xúc với các quan chức ngoại giao Mỹ, đại diện Pháp khẳng định Pháp không trao độc lập cho nhân dân Việt Nam [118, pg 24]
Trang 3333
Trước tình hình đó, tháng 1 và tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi 5 thư tới Liên Hợp Quốc và Mỹ, kêu gọi ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam Trong thư gửi Tống thống Mỹ ngày 28 tháng
2, Chủ tịch Hồ Chí Minh tố cáo mưu kiểm soát Việt Nam bằng vũ lực của Pháp và đề nghị phía Mỹ can thiệp ngay để thúc đẩy cuộc thương lượng Việt-Pháp [136]
Giành sự ủng hộ quốc tế, nhất là sự ủng hộ của các nước phương Tây, cho yêu cầu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh nguyện vọng độc lập của dân tộc Việt Nam Ngày 21 tháng 1 năm 1946, trả lời báo chí nước ngoài, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có
tự do tin tưởng, tự do tổ chức Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải
đứng ra ngoài mọi đảng phái Nay tôi chỉ có tin tưởng vào Dân tộc độc lập
Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam Đảng đó sẽ chỉ có một
mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài” [59, tr 187-188]
Cố gắng quốc tế hóa việc giải quyết vấn đề Việt Nam của Chính phủ
Hồ Chí Minh trên đây vẫn không nhận được hưởng ứng từ các nước lớn Đã thế, họ còn chính thức thừa nhận quyền trở lại miền Bắc Đông Dương của Pháp Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Trung Quốc kí Hiệp ước Hoa-Pháp, trao cho quân Pháp quyền giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Đông Dương Về phía
Mỹ, ngày 10 tháng năm 1946, trong điện gửi Đại sứ của mình ở Pari, Bộ Ngoại giao Mỹ hoan nghênh việc Pháp trở lại miền Bắc Đông Dương [118,
pg 34; 131, pg 51]
Tuy vậy, trước sự đấu tranh kiên quyết vì nền độc lập của VNDCCH,
Mỹ, Anh và Trung Quốc đều lo ngại về sự ổn định ở Đông Nam Á và mong muốn giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam Thúc đẩy việc này, đại diện Trung Quốc ở Việt Nam đã trực tiếp thúc giục Việt Nam và Pháp đàm phán [135, pg 144]
Trang 3434
Trong hoàn cảnh đó, để bảo toàn lực lượng và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ hòa bình của các nước lớn và nhân dân thế giới, Đảng chủ trương “hòa để tiến” Thực hiện chủ trương đó, ngày 2 tháng 3, Quốc hội nước VNDCCH họp, lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến để tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán với Pháp; ngày 6 tháng
3 năm 1946, VNDCCH và Pháp kí Hiệp định sơ bộ, trong đó, Pháp công nhận VNDCCH là một quốc gia tự do Hai bên tiếp tục đàm phán ở Hà Nội, Sài Gòn hoặc Pari để giải quyết vấn đề quan hệ Việt-Pháp Đổi lại, VNDCCH chấp nhận 15.000 quân Pháp vào miền Bắc nước mình làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và lực lượng này rút dần trong 5 năm [59, tr 584, 586]
Việc VNDCCH ký Hiệp định sơ bộ với Pháp được nhiều nước và dư luận quốc tế đồng tình, hoan nghênh Các nước Mỹ, Trung Quốc và Anh cử đại diện dự buổi ký Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp ngày 6 tháng 3; sau khi Hiệp định được ký kết, trả lời hãng thông tấn Pháp AFP, đại diện ĐCS Trung Quốc, Chu Ân Lai, nhận xét: “Đó là một việc đáng làm khuôn mẫu cho các đế quốc ở Thái Bình Dương và châu Á” [11, tr 72]; trong khi đó, lãnh tụ đảng Quốc đại Ấn Độ cũng phát biểu đồng tình với Hiệp định sơ bộ, Toàn quyền
Hà Lan tại Inđônêxia Van Mok cử đại diện đến Hà Nội để tìm hiểu kinh nghiệm đàm phán từ hiệp định này
Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 mang đến “điều kiện chính trị” thuận lợi cho VNDCCH thúc đẩy giải pháp thương lượng và vận động sự ủng hộ quốc tế cho giải pháp ấy [59, tr 228] Nhưng, bên cạnh những thuận lợi mới, VNDCCH vẫn đứng trước nguy cơ đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc khi quân đội Trung Hoa Dân quốc không rút toàn bộ lực lượng về nước vào ngày
31 tháng 3 năm 1946 theo theo qui định của Hiệp ước Pháp-Hoa (28/2/1946) [135, pg 141] Đến đầu tháng tháng 5 năm 1946, Quân đoàn 53 và các đơn vị độc lập của quân đội Trung Quốc vẫn ở miền Bắc Đông Dương [118, pg 42]
Trước tình hình đó, để giữ hòa bình, tập trung đối phó với Pháp, VNDCCH tiếp tục chính sách thân thiện, hòa hoãn với Trung Quốc Ngày 3
Trang 3535
tháng 4 năm 1946, Hội đồng Chính phủ nước VNDCCH họp quyết nghị chấp thuận nhượng cho phía Trung Quốc 25km đường sắt trị giá 10 triệu đồng [3,
tr 186] Đồng thời, cũng để thúc đẩy quân đội Trung Quốc nhanh chóng rút
về nước, một mặt, ngày 8 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lệnh cho cho toàn thể nhân dân và bộ đội giúp đỡ quân đội Trung Hoa trong lúc họ thoái triệt Mặt khác, VNDCCH vận động Mỹ thúc đẩy phía Trung Quốc rút quân về nước Trong cuộc hội đàm với Phó lãnh sự Mỹ ở Hà Nội O’Sullivan, ngày 14 tháng 5, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “một số vấn đề trong mối quan hệ Việt-Pháp sẽ được giải quyết khi quân Trung Quốc rút về nước” [118, pg 42]
Trong khi đó, tranh thủ điều kiện thuận lợi do Hiệp định sơ bộ mang lại
để thúc đẩy giải pháp thương lượng và giành ủng hộ quốc tế, nhất là sự ủng
hộ của nhân dân Pháp, ngay sau khi Hiệp định được ký kết, ngày 7 tháng 3 năm 1946, VNDCCH chủ trương mở cuộc đàm phán tiếp theo ở Pari [66, tr 198] Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ VNDCCH kêu gọi thế giới tác động để phía Pháp thực hiện đúng Hiệp định sơ bộ Ngày 11 tháng 3 năm
1946, trong Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định sơ bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kêu gọi “nhân dân và chính phủ cả thế giới, nhất là nhân dân Pháp, hãy ủng
hộ chính nghĩa làm sao cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định sơ bộ” [59, tr 231] Đồng thời, trong hai cuộc gặp đại diện Pháp Sainteny ngày 7
và 15 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn mở cuộc đàm phán với Pháp ở Pari và thúc giục phía Pháp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của mình Đến ngày 24 tháng 3, trong cuộc hội đàm với Cao ủy Pháp ở Đông Dương Th D’Argenlieu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu đề nghị đó
Cùng với nỗ lực kêu gọi tổ chức đàm phán ở Pháp, VNDCCH cũng tranh thủ việc được Pháp công nhận để mở rộng quan hệ quốc tế, trước tiên với các nước lớn Theo đó, Chính phủ VNDCCH gửi các công hàm đến các nước Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Thụy Sỹ và Đức, yêu cầu họ công nhận Việt Nam là quốc gia tự do [3, tr 173] Trong nỗ lực xây dựng quan hệ với
Trang 3636
các nước lớn, VNDCCH quan tâm xây dựng quan hệ với các nước Mỹ, Anh
và Trung Quốc Trong những cuộc hội đàm với các đại diện Mỹ và Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục bày tỏ VNDCCH muốn hợp tác kinh tế bình đẳng với các nước này Hơn thế, với Mỹ, ngày 18 tháng 3, hội đàm với Thiếu tá quân đội Mỹ Frank White, Hồ Chí Minh nhấn mạnh Việt Nam hy vọng nhận được sự giúp đỡ từ nước này hơn là từ Liên Xô [155, pg 366] Với Trung Quốc, cùng với việc đề nghị công nhận, giữa tháng 3 năm 1946, VNDCCH cử một đoàn cán bộ cấp cao sang thăm nước này [3, tr 173]
Thái độ “đồng lõa” của các nước lớn đối với Pháp trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương và thực tế Pháp kiên quyết không chấp nhận Việt Nam độc lập đã cho các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy một cuộc chiến tranh với Pháp ngày càng khó tránh Vì thế, ngày 3 tháng 3 năm 1946, khi quyết nghị “hòa để tiến”, Đảng nhấn mạnh: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với
Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng
kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức sửa soạn sự chuẩn bị ấy”
[25, tr 46] Thực hiện chủ trương đó, trong việc xây dựng quân đội, VNDCCH tranh thủ những người Nhật tiến bộ hỗ trợ công tác huấn luyện, đào tạo [108, pg 49-51]; để củng cố mặt trận chống thực dân Pháp ở Đông Dương, VNDCCH tiếp tục giúp đỡ lực lượng kháng chiến ở Lào đánh chặn các cuộc hành quân mở rộng đánh chiếm vào các thành phố, thị xã như Thà Khec (3/1946), Viêng Chăn (4/1946)…Đồng thời, VNDCCH bắt đầu liên lạc với lực lượng cách mạng Trung Quốc Tháng 3 năm 1946, VNDCCH tiếp nhận, cung cấp lương thực cho 1.000 quân của Trung đoàn 1, Quân giải phóng nhân dân Nam Quảng Đông (Trung Quốc) [143, pg 11]
Hoạt động tương trợ trên đây của VNDCCH đã tăng cường mối quan
hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng các nước láng giềng, nhất là với cách mạng Trung Quốc Hè năm 1946, Trung đoàn 1 của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc huấn luyện giúp cho một số đơn vị của QĐQGVN ở miền Bắc [143, pg 11-12] Bên cạnh đó, nỗ lực thúc đẩy thương lượng của
Trang 3737
VNDCCH tiếp tục thu hút được sự quan tâm của các nước Mỹ, Anh Ngay sau khi Hiệp định sơ bộ được kí kết, các quan chức ngoại giao Mỹ và Anh ở Đông Dương đã có nhiều cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bàn về vấn
đề thương lượng Do vậy, cùng với nỗ lực tiếp nối thương lượng của VNDCCH, thái độ quan tâm đến cuộc thương lượng Việt-Pháp đã góp phần khiến phía Pháp phải chấp nhận yêu cầu của VNDCCH trong việc tổ chức tiếp tục thương lượng để giải quyết mối quan hệ Việt - Pháp Theo đó, trong cuộc gặp Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 3, ở Vịnh Hạ Long, D’Argenlieu chấp thuận cuộc đàm phán Pháp-Việt chính thức sẽ tổ chức ở Phôngtennơblô (ngoại ô Thủ đô Paris, Pháp) sau khi hai bên đàm phán trù bị ở Đà Lạt (Việt Nam) Tại cuộc gặp này, phía Pháp cũng mời đoàn đại biểu Quốc hội nước VNDCCH và Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm thiện chí nước mình
Theo thỏa thuận trên, cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt (Việt Nam) được
tổ chức từ ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5; cuộc đàm phán chính thức ở Phongtennơblô được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1946 Trong các cuộc đàm phán này, để thúc đẩy thương lượng và giành ủng hộ quốc tế, VNDCCH thể hiện quan điểm đàm phán ôn hòa- giữ nguyên tắc độc lập, thống nhất nhưng sẵn sàng nhượng bộ phía Pháp về kinh tế, văn hóa
Hơn nữa, giành thế mạnh trong các cuộc đàm phán ấy, một mặt, VNDCCH tăng cường thực lực của mình Tháng 5 năm 1946, Hội Liên Hợp Quốc dân Việt Nam được thành lập với tôn chỉ “đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam: độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường” [25, tr 69] Mặt khác, VNDCCH tăng cường xây dựng quan hệ quốc tế Theo đó, nhận lời mời của phía Pháp, Quốc hội và Chính phủ VNDCCH tổ chức các đoàn thăm nước Pháp Phái đoàn Quốc hội
do Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước từ ngày 25 tháng 4 đến 16 tháng 5 năm 1946; phái đoàn Chính phủ do Hồ Chí Minh dẫn đầu thăm hữu nghị Pháp từ ngày 12 tháng 6 đến ngày 14 tháng 9 cùng năm Ngoài ra, cũng nhằm
Trang 3838
tăng cường quan hệ quốc tế, Chính phủ VNDCCH điện thăm hỏi Chính phủ các nước Philipin, Inđônêxia, Ấn Độ; đại diện Chính phủ VNDCCH tiếp xúc với đại diện Chính phủ Ấn Độ, đại diện Chính phủ Thái Lan
Trong nỗ lực mở rộng quan hệ quốc tế đó, VNDCCH tiếp tục quan tâm xây dựng quan hệ thân thiện với các nước phương Tây Vì thế, bên cạnh việc bày tỏ mong muốn và ý chí giành độc lập của mình, VNDCCH thể hiện thái
độ thân thiện, sẵn sàng hợp tác với Pháp và tư bản nước ngoài Đặc biệt, ngày
12 tháng 7 năm 1946, trả lời báo chí Pháp và thế giới, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam đòi quyền độc lập Độc lập không phải là đoạn tuyệt với nước Pháp, mà ở trong Liên hiệp Pháp quốc…Về mặt khinh tế và văn hóa, Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp" [59, tr 417] Tiếp tục gạt mối nghi ngại của phương Tây về chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, trong cuộc họp báo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Muốn chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình Ở nước chúng tôi, những điều kiện đó chưa đủ” [59, tr 315]
Ra sức thúc đẩy thương lượng, duy trì hòa bình nhưng VNDCCH cũng tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp Trong nỗ lực này, VNDCCH tiếp tục tranh thủ các quân nhân Nhật đào ngũ ở Đông Dương cho việc huấn luyện quân đội và chế tác vũ khí [109, pg 546-547] Những người Nhật này được tôn trọng, tạo thuận lợi trong sinh hoạt Họ được gọi là “người Việt Nam mới” Cùng lúc, VNDCCH tăng cường khối đoàn kết chiến đấu với hai nước bạn trên bán đảo Đông Dương Với Lào, tháng 6 năm 1946, lực lượng cách mạng của các tỉnh Trung Lào sang Việt Nam tập kết, xây dựng lực lượng ở Khu 4 của Việt Nam Với Campuchia, các cán bộ hải ngoại của Việt Nam đã thúc đẩy lực lượng kháng chiến nước này lập Ủy ban cách mạng Cao Miên Đồng thời, trong hè năm 1946, một đội vũ trang hỗn hợp gồm người Việt và người Campuchia đã được thành lập Ngoài ra, để tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô trong cuộc kháng chiến
Trang 39sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế Liên đoàn Lao động thế giới, Hội Thanh niên thế giới đã nhận công đoàn và thanh niên Việt Nam là hội viên
Mặc dù thế, VNDCCH vẫn chưa nhận được sự ủng hộ thực sự của các nước lớn Trong cuộc gặp đại diện VNDCCH Nguyễn Lương Bằng ở Trùng Khánh (Trung Quốc), Đại sứ Liên Xô khuyên phía VNDCCH “tìm cách thỏa hiệp với Chính phủ Pháp, trong đó có đại diện của ĐCS Pháp, để có thể đưa
ra một chính sách tiến bộ” [65, tr 81] Thế nhưng, Liên Xô không có một tuyên bố hay hành động thực tế nào để thúc đẩy phía Pháp thương lượng nghiêm túc với VNDCCH theo hướng đó Về phía Mỹ, họ lo ngại về sự thiếu thành thực của Pháp trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương bằng thương lượng nhưng, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh gia tăng, họ cũng lo ngại hơn
về chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam Bởi mối lo ngại này nên, dù nhận thấy
Trang 4040
Pháp không thực hiện nghiêm Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, Mỹ vẫn không ngăn hoặc lên tiếng chỉ trích về những hoạt động phá hoại Hiệp định sơ bộ của Pháp ở Đông Dương [156, pg 42-43]
Sự im lặng của Liên Xô và Mỹ thực tế càng khuyến khích Pháp xúc tiến kế hoạch giành quyền kiểm soát Việt Nam bằng vũ lực Thật vậy, sau việc lập Chính phủ Nam kỳ tự trị và chiếm phủ Toàn quyền ở Hà Nội vào tháng 6 năm 1946, đầu tháng 8 cùng năm, quân Pháp gây vụ xung đột ở Bắc Ninh, làm thiệt mạng nhiều dân thường Việt Nam
Trước tình hình đó, VNDCCH kiên quyết ngăn chặn quân Pháp trên thực địa, đồng thời, tạm đình cuộc đàm phán ở Phôngtenơblô để phản đối hành động của phía Pháp Nhưng, để vãn hồi hòa bình và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, VNDCCH vẫn chủ trương giải quyết mối quan hệ với Pháp bằng thương lượng Theo đó, ngày 12 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại M.Mutet đề nghị hai bên Việt, Pháp “làm dịu” tình hình bằng việc “làm cho cả hai bên hiểu rõ những cái mà
họ có thể giành được” [59, tr 321] Tranh thủ sự ủng hộ của những người cộng sản Pháp cho nỗ lực ngoại giao này, ngày 13 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Tổng bí thư ĐCS Pháp M.Thorez mời các tất cả Bộ trưởng là đảng viên cộng sản dự buổi họp Hội đồng Chính phủ Pháp bàn về Đông Dương vào ngày 14 tháng 8
Thế nhưng, đến đầu tháng 9 năm 1946, ý tưởng ký thỏa thuận tạm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa trở thành hiện thực Phía Pháp đưa ra một dự thảo tạm ước trong đó có những điều mà VNDCCH chưa đồng ý [11, tr 79] Trước tình hình đó, để thúc đẩy thương lượng và tranh thủ ủng hộ quốc tế cho
nỗ lực này, một mặt, VNDCCH khẳng định trước thế giới về ý chí chiến đấu cho độc lập tự do của mình Ngày 11 tháng 9, trả lời phóng viên David Schoenbrun của Thời báo Niu Oóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định VNDCCH sẵn sàng chiến đấu nếu chiến tranh không tránh khỏi và cảnh báo thế giới về sức mạnh dân tộc của Việt Nam: “Chúng tôi có vũ khí mạnh