Dưới thời Nguyễn đặc biệt dưới triều vua Tự Đức nhiều nhà nghiên cứu cho rằng triều đình đã thi hành chính sách “bế quan tỏa càn g”, khước từ mọi quan hệ thông thương với các quốc g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Hải thương Việt Nam dưới triều vua
Tự Đức (1848 - 1883)” là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
GS.TS.NGND Nguyễn Văn Khánh Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục của luận văn Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước khoa và nhà trường
Tác giả Luận văn
Phạm Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS.NGND Nguyễn Văn Khánh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viện tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cho tôi những góp ý quý báu và giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt những năm học vừa qua
Tác giả Luận văn
Phạm Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Tư liệu nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: VIỆT NAM ĐẦU TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1883) 9
1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Viê ̣t Nam 9
1.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 9
1.1.2 Bối cảnh trong nước 11
1.2 Khái quát về tiềm năng biển, hoạt động thương mại biển của Việt Nam trước thế kỷ XIX 21
1.3 Tình hình thương mại trên biển dưới các triều vua từ Gia Long đến Thiệu Trị 25
Chương 2: HẢI THƯƠNG VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC: CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TRẠNG (1848 - 1883) 41
2.1 Chính sách hải thương dưới triều vua Tự Đức (1848 - 1883) 41
2.1.1 Hạn chế và nghiêm cấm giao lưu buôn bán trên biển (1848 - 1874) 41
2.1.2 Từng bước nới lỏng tiến tới xóa bỏ lệnh cấm buôn bán trên biển (1874 - 1883) 53
2.2 Thực trạng hải thương dưới triều vua Tự Đức (1848 - 1883) 57
2.2.1 Thực trạng hải thương giai đoạn 1848 - 1874 57
2.2.2 Thực trạng hải thương giai đoạn 1874 - 1883 70
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH HẢI THƯƠNG VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC (1848 - 1883) 82
Trang 63.1 Các quan điểm đánh giá về hải thương Việt Nam dưới triều vua
Tự Đức 82
3 2 Một số nhận xét 92
Kết Luận 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 110
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc , các hoạt động kinh tế và giao lưu kinh tế luôn có vai trò quan trọng, là yếu tố hàng đầu quyết định đến
sự phát triển của một quốc gia Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, từ nhiều thập
kỷ qua, một số học giả trong nước, quốc tế đã chuyên tâm khảo cứu về vấn đề này, tuy nhiên so với những thành tựu nghiên cứu các lĩnh vực khác như quân sự, xã hội thì những công trình khảo cứu về hoạt động kinh tế nhất là hoạt động ngoại thương chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Là quốc gia nằm ven bờ Thái Bình Dương, gần với Ấn Độ Dương, lại có chung biên giới đất liền với một số quốc gia trong khu vực, Viê ̣t Nam có hoa ̣t đô ̣ng thương ma ̣i biển từ sớm và khá sôi nổi, nhất là khoảng thế kỷ XVII, XVIII
Sang thế kỷ XIX , Viê ̣t Nam nằm dưới sự điều hành của nhà Nguyễn - triều đa ̣i cuối cùng trong li ̣ch sử phong kiến Viê ̣t Nam Là chính quyền quản lý một đất nước thống nhất , đô ̣c lâ ̣p, tự chủ từ năm 1802 đến năm 1884, nhà Nguyễn gắn liền với một thời kỳ li ̣ch sử có nhiều biến cố lớn Để hiểu rõ vai trò của vương triều này trong tiến trình lịch sử dân tộc, các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa cần phải được tiến hành đánh giá khách quan, khoa học
Dưới thời Nguyễn đặc biệt dưới triều vua Tự Đức nhiều nhà nghiên cứu cho rằng triều đình đã thi hành chính sách “bế quan tỏa càn g”, khước từ mọi quan hệ thông thương với các quốc gia bên ngoài, khiến kinh tế trong nước ngày càng suy sụp, không đủ tiềm lực chống lại sự xâm lược của đế quốc phương Tây Liệu có phải tình hình ngoại thương nói chung và hải thương Việt Nam nói riêng nửa cuối thế kỷ XIX như một bức tranh “tối màu” mà hậu quả do triều Nguyễn và vua Tự Đức đã thực thi chính sách “ức thương”, “bế quan tỏa cảng”? Khi nhận thức lại vấn đề lịch sử triều Nguyễn nói chung và triều vua Tự Đức nói riêng, chúng ta cần đánh giá khách quan câu hỏi đó
Trang 9Phải nói thêm rằng , từ trong lịch sử , Viê ̣t Nam giao lưu buôn bán với các nước bên ngoài chủ yếu qua hai con đường: Đường bộ và đường biển Buôn bán đường bộ ít phổ biến hơn, chủ yếu qua các tỉnh biên giới Tại đó đã hình thành nên những “Bạc dịch trường” Dưới thời trị vì của vua Tự Đức, quan hệ thương mại với bên ngoài chủ yếu qua đường biển
Trên thực tế, vua Tự Đức có thi hành chính sách ức thương hay không? Nguyên nhân sâu xa của các chính sách ức thương dưới triều vua Tự Đức là gì? Hoạt động hải thương dưới triều vua Tự Đức diễn ra như thế nào? Để trả
lời những câu hỏi đó, tôi quyết định chọn đề tài “Hải thương Việt Nam dưới
triều vua Tự Đức (1848 - 1883)” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Hải thương là một nội dung quan trọng trong kinh tế dưới triều Nguyễn nói chung và vua Tự Đức nói riêng Nghiên cứu về hải thương Việt Nam dưới triều Nguyễn đã có nhiều tác phẩm, sách báo, bài nghiên cứu, tạp chí Tuy nhiên việc nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học về tình hình hải thương dưới triều vua Tự Đức chỉ được đề câ ̣p khá khiêm tốn trong mô ̣t số cuốn sách
Năm 1961, tác giả Thành Thế Vỹ cho xuất bản cuốn “Ngoại thương Việt
Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX” dài 252 trang nhưng tác giả chỉ
dành một trang (tr 134) cho mục khai báo, lễ vật, thuế về giao thương buôn bán với các nước bên ngoài trong nửa đầu thế kỷ XIX
Mười năm sau, năm 1971, một công trình biên khảo xuất sắc mang tên
“Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của tác giả Nguyễn Thế
Anh dài 342 trang, đã dành trọn vẹn một chương (chương V) để mô tả về các hoạt động thương mại như các trung tâm buôn bán, chính sách thuế khóa Về chính sách ngoại thương, tác giả chú ý đến vai trò của Nhà nước trong việc quản chế thương mại quốc tế và thái độ của Nhà nước đối với các nhà buôn phương Tây, trong đó nhấn mạnh đến địa vị của thương nhân Hoa Kiều trong
Trang 10nền ngoại thương Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động hải thương cuối thế kỷ XIX chỉ chiếm một dung lượng rất nhỏ trong cuốn sách
Năm 1996, tác giả Đỗ Bang cho ra đời cuốn sách “Kinh tế thương
nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn” Đây là cuốn sách nghiên cứu chi tiết, cụ
thể nhất về hoạt động thương mại dưới triều Nguyễn từ trước đến giờ Cuốn sách đã có những nhận định khách quan hơn về chính sách ức thương , bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn và sức sống mãnh liệt của nền kinh tế hàng hóa trong bối cảnh chính trị không mấy thuận lợi ở nửa đầu thế kỷ XIX Trên
cơ sở những bảng thống kê chi tiết về số lượng hàng hóa nhập, xuất, những chuyến công cán của triều Nguyễn , tác giả đã phác họa lại bức tranh tương đối sống động , chân thực về hoạt động thương nghiệp nửa đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, hoạt động hải thương dưới triều vua Tự Đức, lại không được miêu
tả nhiều
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, năm 1961, tác giả Chu Thiên có bài
nghiên cứu “Vài nét về công thương nghiệp dưới triều Nguyễn” Về hoạt động thương nghiệp, tác giả chỉ dành hơn 1 trang để miêu tả sự “sa sút của nền
thương nghiệp” dưới triều Nguyễn
Năm 1993, trong chuyên bài “Nhà Nguyễn trong lịch sử nửa đầu thế kỷ
XIX”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử giới thiệu bài viết “Vài nét về thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Trương Thị Yến Tác giả nhấn
mạnh đến chính sách nghiêm cấm của Nhà nước trong việc giao thương với phương Tây nhưng lại quá ưu đãi với Hoa thương làm nền thương nghiệp nước ta phát triển không đồng đều và có phần sa sút so với thế kỷ trước
Trong Hội thảo khoa ho ̣c về Nghiên cứu và giảng dạy li ̣ch sử thời
Nguyễn ở Đại học, cao đẳng sư phạm và phổ t hông, được tổ chức năm 2002,
hàng loạt vấn đề về triều Nguyễn đã được đề cập đến Có một số ý kiến mới trong lĩnh vực ngoa ̣i thương và ngoa ̣i giao Ví dụ, tác giả Đỗ Bang cho rằng
Trang 11trong lĩnh vực ngoa ̣i thương , thì phê phán t riều Nguyễn “ bế quan tỏa cảng ”,
là không đúng; Nguyễn Văn Tâ ̣n nhấn ma ̣nh tính chất 2 mă ̣t trong chính sách ngoại thương [10, 50]
Năm 2004, tác giả Trương Thị Yến cho ra đời luận án Chính sách
thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX Trong luận án của mình,
tác giả đã dành toàn bộ dung lượng nghiên cứu về thực trạng chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, đánh giá ảnh hưởng và vai trò của chính sách này đối với hoạt động thương nghiệp nói riêng và toàn
bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung trong giai đoạn này Mặc dù tác giả không
đề cập nhiều đến hoạt động thương mại nửa sau thế kỷ XIX, nhưng đã tạo tiền
đề cho công tác nghiên cứu hoạt động thương mại ở Viê ̣t Nam trong nửa cuối thế kỷ XIX
Năm 2008, Hô ̣i thảo Khoa ho ̣c về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong li ̣ch sử Viê ̣t Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX được tổ chức ta ̣i Thanh
Hóa, đã đánh giá mô ̣t cách khách quan về “công” và “tô ̣i” của nhà Nguyễn trong li ̣ch sử dân tô ̣c Trong số 91 bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu
trong nước và quốc tế , có bài viết của Văn Ta ̣o “ Nhận thức mới về nhà
Nguyễn trong li ̣ch sử dân tộc ”, Lương Chí Minh “ Sự phục hồi kinh tế và sự phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước Trung Viê ̣t vào những năm đầu nhà Nguyễn (1802 - 1858)”, Phan Thuâ ̣n An “ Từ sự thành lập vương triều Nguyễn đến đảo lộn nhận thức về triều đại này trong giai đoạn vừa qua” đã đưa ra quan điểm khách quan về ngoa ̣i thương dưới triều Nguyễn nói
chung và vua Tự Đức nói riêng
Về nguồn tài liệu nước ngoài: Năm 2004, nhà nghiên cứu người Pháp Kham Vorapheth đa ̃ cho xuất bản cuốn sách Commerce et colonisation en
Indochine 1860 - 1945 (Nền thương mại và công cuộc thực dân hóa ở Đông Dương 1860 - 1945) Cuốn sách đã tái hiê ̣n la ̣i hoàn cảnh li ̣ch sử và hoa ̣t đô ̣ng
Trang 12thương ma ̣i của 3 nước Đông Dương dưới chế đô ̣ thuô ̣c đi ̣a của Pháp trong thời kỳ từ 1860 đến 1945 Tác giả dành khoảng 20 trang (từ trang 7 đến trang 37) để nói về các mặt chính trị, hoàn cảnh lịch sử, hoạt động buôn bán, giao lưu buôn bán của 3 nước Viê ̣t Nam, Lào, Campuchia từ năm 1860 đến năm 1883
Ngoài ra, các cuốn Documents pour servir a l’ histoire de Saigon 1859
- 1865 (Tài liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử Sài Gòn từ 1859 - 1865) của Jean
Bouchot; Report on a preliminary study on the Social and Economic history
of Vietnam during the Nguyen, period 1802 - 1881 (Báo cáo về việc nghiên
cứu bước đầu li ̣ch sử kinh tế và xã hô ̣i Viê ̣t Nam dưới triều Nguyễn , giai đoa ̣n
1802 - 1883) của Hantrakool… đều đề cập một phần tới tình hình kinh tế Việt Nam dưới triều vua Tự Đức, trong đó có vấn đề hải thương
3 Tư liệu nghiên cứu
Những bộ chính sử được biên soạn công phu dưới triều Nguyễn là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ trực tiếp cho luận văn, tiêu biểu như : Bộ
Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội
điển sử lệ
Bộ Đại Nam thực lục là bộ sử lớn do Quốc sử quán triều Nguyễn biên
soạn trong một thời gian dài từ năm 1821 đến 1909 Bộ sách này gồm hai phần Tiền biên và Chính biên, trong đó, phần Tiền biên ghi chép toàn bộ những sự kiện về thời các chúa Nguyễn (từ 1558 đến 1777); phần Chính biên ghi chép toàn bộ lịch sử từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi chúa ở Gia Định đến đời Đồng Khánh (1887) Bộ sách này đã được dịch ra chữ Quốc ngữ và xuất bản lần đầu tiên năm 1962 đến 1978 (dài 38 tập) Đây được coi là nguồn tài liệu gốc quan trọng nhất phục vụ cho luận văn Bộ sách ghi chép đầy đủ những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, lời dụ của các vị vua triều Nguyễn Qua đó chúng ta có thể hình dung được các chính sách đối với hoạt động thương mại dưới triều vua Tự Đức, những đoàn thuyền buôn các nước tới buôn bán…
Trang 13Bộ Quốc triều chính biên toát yếu do Cao Xuân Dục biên soạn, là nguồn
tài liệu gốc mà luận văn sử dụng Bộ Quốc triều chính biên toát yếu là một bộ
sử trích các phần quan yếu của bộ Quốc triều chánh biên hay Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn Sử chép bằng chữ Hán theo lối biên niên từ đời vua Gia Long trở về sau Quốc triều chính biên toát yếu được Bộ Học vâng chỉ dụ vua Khải Định thực hiện và dịch ra chữ quốc ngữ, để ấn hành ban cấp
cho các trường học với nhan đề Sử Quốc triều chính biên toát yếu
Bộ Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ là một công trình đồ sộ, gồm
262 quyển nhỏ do Nội các triều Nguyễn biên soạn theo thể Hội điển cũng là
mô ̣t nguồn tư liê ̣u mà luâ ̣n văn sử du ̣ng Hiện nay các nhà nghiên cứu đã biên tập bộ sách này thành nhiều tập lớn để tiện theo dõi Bộ sử ghi tất cả các điều
lệ, hiến chương, điển chế của Nhà nước đề ra và thi hành dưới thời Nguyễn từ năm Gia Long thứ 1 (1802) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Đây là bộ sách chứa đựng một khối lượng đồ sộ những kiến thức, sử liệu phong phú
Bên cạnh những bộ chính sử được biên soạn dưới triều Nguyễn, tác giả còn sử dụng các cuốn thông sử và giáo trình được biên soạn trong những giai
đoạn sau như: Viê ̣t Nam sử lược của Trần Trọng Kim , Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, Lịch sử chế độ phong kiến Viê ̣t Nam của Phan Huy Lê và một số tác giả , Lịch sử cận đại Việt Nam tập 1 của Trần Văn Giàu , Đinh Xuân Lâm, Tiến Trình Li ̣ch sử Viê ̣t Nam do Nguyễn Quang Ngo ̣c chủ biên
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về kinh tế công thương nghiê ̣p đặc biệt là thương mại trong li ̣ch sử Viê ̣t Nam xuất bản từ năm 1954 đến nay đã được tác giả sử dụng như những tài liệu tham khảo cần th iết trong quá trình viết luận văn Đặc biệt, sách viết về thương nghiê ̣p dưới triều Nguyễn của các tác giả như Thành Thế Vỹ , Nguyễn Thế Anh, Đỗ Bang và các tạp chí Nghiên cứ u li ̣ch sử , nghiên cứu kinh tế , Xưa
và nay… cũng cung cấp nhiều tài liệu tham khảo quý gi á cho chúng tôi
Trang 14Mỗi loại tài liệu có những đặc trưng nhất định, giúp cho việc thể hiện nội dung của luận văn thêm sâu sắc, đa dạng
Luâ ̣n văn còn tham khảo mô ̣t số tư liê ̣u tiếng nước ngoài , đă ̣c biê ̣t là các tư liệu tiếng Pháp về nền thươn g ma ̣i Đông Dương nói chung và Viê ̣t
Nam nói riêng , tiêu biểu như cuốn Commerce et colonisation en Indochine
1860 - 1945 (Nền thương mại và công cuộc thực dân hóa ở Đông Dương
1860 - 1945) của Kham Vorapheth; Documents pour servir a l’ histoire de
Saigon 1859 - 1865 (Tài liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử Sài Gòn từ 1859 -
1865) của Jean Bouchot ; Report on a preliminary study on the Social and
Economic history of Vietnam during the Nguyen, period 1802 - 1881 (Báo cáo
về viê ̣c nghiên cứu b ước đầu lịch sử kinh tế và xã hội Việt Nam dưới triều
Nguyễn, giai đoa ̣n 1802 - 1883) của Hantrakool; Les premières anneés de la
Cochinchine - colonie francaise (Những năm đầu tiên tại Nam Kỳ - thuộc địa
Pháp) của Paulin Vial
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp lịch sử, logic, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê giúp tác giả đưa ra tương đối đầy đủ những lần vua Tự Đức cử các phái đoàn ra nước ngoài buôn bán, những lần tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán, các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu…
Phương pháp phân tích tài liệu giúp tác giả đưa ra nh ững nhận định của mình làm cơ sở phác thảo về hoạt động hải thương Việt Nam dưới triều
vua Tự Đức
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chính sách về hải thương, các hoạt động trao đổi buôn bán với các nước phương Tây và các nước châu
Á qua đường biển dưới triều vua Tự Đức
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong khoảng thời gian từ năm 1848
đến năm 1883, tức là toàn bô ̣ thời gian tồn ta ̣i của triều Tự Đức
Trang 156 Đóng góp của luận văn
Bằng viê ̣c trình bày một cách có hệ thống về hoạt động thương mại biển Việt Nam dưới triều vua Tự Đức, luận văn trả lời cho câu hỏi liệu thực sự vua Tự Đức có thực hiện chính sách ức thương hay không? Dưới triều vua Tự Đức hoạt động buôn bán, giao thương trên biển diễn ra như thế nào?
Tuy nhiên, do nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu có ha ̣n , luận văn chưa thể mở rộng, đi sâu nghiên cứu, so sánh hoạt động hải thương dưới triều vua Tự Đức với các nước trong khu vực Hy vọng những hạn chế và thiếu sót này được khắc phục trong những công trình sau của tác giả
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận , tài liệu tham khảo , mục lục , phụ lục , luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Việt Nam đầu triều Nguyễn (1802 - 1883)
Chương 2: Hải thương dưới triều vua Tự Đức: Chính sách và thực trạng (1848 - 1883)
Chương 3: Một vài đánh giá và nhận xét về tình hình hải thương Việt Nam dưới triều vua Tự Đức (1848 - 1883)
Trang 16Chương 1: VIỆT NAM ĐẦU TRIỀU NGUYỄN 1802 - 1883
1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Viê ̣t Nam
1.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nước Mỹ đã tiến hành xong cuộc chiến tranh giành độc lập từ giữa thế
kỷ XVIII nên có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế tư bản Trong những thập niên đầu của thế kỷ XIX, Mỹ cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp, là thị trường cung cấp nguyên liệu, cây công nghiệp cho châu Âu mà chủ yếu là cho Anh Sau cuộc khủng hoảng chu kỳ đầu tiên 1837 - 1842, nền công nghiệp Mỹ phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu
và vươn lên giành vi ̣ trí dẫn đầu trong nền kinh tế thế giới
Nước Anh từ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế thế giới đã nhường chỗ cho Mỹ Mặc dù vậy, tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng, việc sử dụng máy móc vào sản xuất ngày càng nhiều Ngành luyện kim và cơ khí phát triển rất nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị kỹ thuật toàn bộ nền công nghiệp Đến năm 1850 nước Anh đã có tới 10.000 km đường sắt Điều đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng cường mối liên hệ kinh tế giữa các trung tâm công nghiệp [28, 101]
Nước Pháp đứng hàng thứ ba trong nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp đang trên đà phát triển Số lượng máy hơi nước tăng lên nhanh chóng Sản lượng các ngành công nghiệp cũng tiến bộ rõ rệt: Sản lượng than tăng từ 225 nghìn tấn (1832) lên 373 nghìn tấn (1846) Trong nhiều nước khác ở châu Âu nhân tố tư bản chủ nghĩa cũng đã nảy nở Mặc dù quan hệ phong kiến còn chiếm địa vị thống trị, nước Đức cũng đã có một số chuyển biến nhất định tuy chậm hơn Anh, Pháp Quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển
Trang 17mạnh mẽ nhất ở vùng sông Ranh và Vesphaland vì ở đó nhân dân được giải phóng một phần khỏi chế độ phong kiến và có nhiều nguyên liệu hơn cả thủ
đô Berlin của Phổ [28, 96]
Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Thị trường trong nước không đủ đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh
tế, vì vậy, các nước tư bản Âu, Mỹ tăng cường tiến hành chiến tranh xâm lược giành giật thị trường thuộc địa Và châu Á, trong đó có Việt Nam trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu của quá trình ấy Trong bối cảnh đó , châu Á đứng trước nhiều sự lựa cho ̣n : Thứ nhất đầu hàng thực dân phương Tây ; thứ hai, chống lại thực dân phư ơng Tây bằng 2 cách: Mô ̣t là, tiến hành cải cách , lựa cho ̣n mô hình như phương Tây, phát triển sức mạnh vật chất đủ sức chống lại phương Tây; hai là, bảo thủ đóng cửa, không giao thương với phương Tây (con đườ ng tất yếu dẫn đến sự thất ba ̣i)
Dưới tác đô ̣ng của chủ nghĩa tư bản, nhiều nước trở thành thuô ̣c đi ̣a của thực dân phương Tây (Ấn Độ , Indonesia, Miến Điê ̣n , Malaysia, Philippin),
mô ̣t số nước trở thành phong kiến nửa thuô ̣c đi ̣a (Trung Quốc), có nước vượt qua chế đô ̣ phong kiến , tiến lên tư bản (Nhâ ̣t Bản), cũng có nước bằng chính sách khôn khéo đã giữ vững được nền độc lập (Thái Lan)
Xã hội Trung Quốc cuối thế kỷ XIX rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Tầng lớp nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề, liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa Thêm vào đó, cuộc chiến tranh Nha phiến giữa Trung Quốc và Anh bùng nổ năm 1839 đã buộc Trung Quốc phải ký Hiệp ước Thiên Tân, nhượng cho Anh nhiều đặc quyền kinh tế Từ đó, Trung Quốc ngày càng suy yếu và bị nhiều nước thực dân phương Tây xâu xé
Chế độ phong kiến Nhật Bản Tokugawa sau mấy thế kỷ thống trị đến thế kỷ XIX đã rơi vào khủng hoảng , bế tắc Nông nghiệp chậm phát triển Tình trạng mất mùa đói kém xảy ra liên miên , các quan hệ sản xuất cũ tan rã
Trang 18và thay vào đó là các quan hệ sản xuất mới Những cuộc nổi dậy của nhân dân chống Mạc phủ ngày càng lên cao Trong khi đó ở bên ngoài các nước phong kiến phương Tây luôn nhòm ngó, rình rập Trước tình thế đó, Nhật Bản đã sáng suốt tiến hành duy tân đất nước (cải cách của vua Meiji), mở cửa cho các nước phương Tây vào buôn bán đồng thời tiến hành hiện đại hoá đất nước theo mô hình các nước phát triển ở phương Tây Nhờ đó, Nhật Bản không bị các nước phương Tây xâm lược và trở nên cường thịnh
Thái Lan trong thế kỷ XIX đã bị Anh và Pháp nhòm ngó Một nửa đất nước thuộc phạm vi quyền lợi của Anh, một nửa còn lại thuộc phạm vi quyền lợi của Pháp Trong tình cảnh đó, Nhà nước phong kiến Thái Lan đã thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo, mở cửa buôn bán với các nước phương Tây Nhờ vậy, Thái Lan thoát khỏi nạn ngoại xâm , đổi mới đất nước theo phương Tây và trở nên giàu mạnh Trong bối cảnh thế giới và khu vực như vâ ̣y , triều Nguyễn sẽ lựa cho ̣n thái đô ̣ ứng xử thế nào?
1.1.2 Bối cảnh trong nước
Thành lập năm 1802, nhà Nguyễn được thừa hưởng những thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ rộng lớn trải dài từ dải Nam quan đến mũi Cà Mau Có thể nói, Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất về cương vực, thị trường và tiền tệ, có cơ hội phát triển đất nước giàu mạnh Tuy nhiên, xã hội Việt Nam dưới thời trị vì của các vua Nguyễn lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, thể hiện trên tất cả các mặt từ kinh tế đến tư tưởng, chính trị - xã hội Thời vua Tự Đức, mọi mâu thuẫn xã hội được đẩy lên đến đỉnh điểm Tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, đời sống nhân dân cực khổ, đặc biệt là dân tộc ta đang đứng trước một mối nguy hại lớn từ sự xâm lược của thực dân Pháp
Trang 19Về kinh tế: Cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã làm đảo lộn toàn bộ
cuộc sống của xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX Sau nhiều năm xây dựng
và củng cố nền thống trị, ổn định xã hội, phát triển kinh tế theo mong muốn của mình, những vấn đề ruộng đất, đê điều, nông dân luôn được các vua Nguyễn đặt lên hàng đầu
Khi mới lên ngôi, những năm 1802 - 1803, vua Gia Long đã lệnh cho các quan lại khuyến khích nhân dân và quân sĩ phục hóa ruô ̣ng đất, nhưng đến năm 1806, nhiều nơi ở Bắc Kỳ nhân dân bị đói, hơn 370 xã người nông dân phải bỏ đi phiêu tán, ruộng bỏ hoang lên tới 12.700 mẫu, đến cuối những năm
1830, ruộng đất bỏ hoang đã lên tới 1.314.927 mẫu [41,76] Đến thời vua Tự Đức, theo báo cáo của đình thần Trương Quốc Dụng thì năm 1850, vì có sự
kêu ca của nhân dân nên nhà vua “chuẩn y cho các địa phương nếu có ruộng
đất mà chỉ có hư danh trong địa bạ như là: Ruộng bị sông xói, bị cây rừng mọc tràn lên, nước bị ngập mặn thấm vào, với những ruộng đất bị sỏi đá, cát bồi, hoang phế, cộng tất cả là 104.016 mẫu” [72, 79]
Giải pháp hữu hiệu cho hoạt động nông nghiệp được vua Tự Đức áp dụng trong thời gian này là khai hoang, phục hóa Ngay từ những năm 1850,
khi nhận chức Kinh lược sứ Nam Kỳ, Nguyễn Tri Phương đã đề nghị “họp
dân làm đồn điền để giúp sinh kế” Và tinh thần “đồn điền Nam Kỳ nhằm giữ giặc, yên dân” của ông được nhiều người tán đồng Theo báo cáo của Nguyễn
Tri Phương năm 1854 ở đây đã hình thành 21 cơ chia làm 124 ấp [42, 26]
Năm 1867, cả 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp Vùng “đồng
bằng đất rộng người ít” không còn nữa, dự trữ thóc gạo xưa nay vẫn góp phần
giải quyết khó khăn lương thực cho các tỉnh miền Trung đã mất Nền nông nghiệp rơi vào khó khăn Tình hình đó buộc Nhà nước phải khuyến khích khẩn hoang theo cả 3 hình thức đồn điền, doanh điền và đồn sơn phòng Năm 1867, theo báo cáo của các Doanh điền sứ địa phương, ở tỉnh An Giang và Hà Tiên đã
Trang 20lập được 149 thôn với 8.333 mẫu ruộng Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, số ruộng khẩn hoang cũng không bù lại được tình trạng dân lưu tán, bỏ hoang ruộng đất do lụt bão, mất mùa Khi thực dân Pháp đánh sang Gia Định, Biên Hòa khiến 74 xã, thôn ở đây phải chạy sang nơi khác Năm 1866, theo báo cáo của các tỉnh, cả nước có đến 900.000 mẫu ruộng bỏ hoang [42, 27]
Một vấn đề quan trọng của tình hình ruộng đất liên quan trực tiếp đến thu nhập của Nhà nước , cuộc sống của nhân dân và trật tự xã hội chính là ruộng đất công Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, ruộng đất công chỉ chiếm
17% tổng diện tích ruộng công, tư nhưng theo báo cáo năm 1865 “ruộng công
quân cấp nhiều người cầm cố cho nhà giàu”, nhân dân không có ruộng, phải
đi làm thuê cho nhà giàu, cuộc sống lầm than
Một vấn đề khác nữa nổi lên lúc đó, đặc biệt ở Nam Kỳ là tình trạng vỡ
đê Từ năm 1871 - 1883, 5 tỉnh Bắc Kỳ (Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Bắc Ninh, Nam Định) hầu như năm nào cũng vỡ đê, lụt lội Hàng vạn dân nghèo phải bỏ làng, lang thang kiếm ăn khắp nơi Hàng vạn mẫu ruộng bị hoang hóa Sự phát chẩn, cứu giúp của Nhà nước chỉ đỡ được phần nhỏ
Nông nghiệp sa sút và nông dân lưu tán đã kéo theo sự suy thoái rõ rệt của các ngành nghề thủ công truyền thống trong nhân dân Còn công nghiệp cũng ngày càng lụi tàn vì các quy định ngặt nghèo như các chế độ công tượng, đánh thuế sản vật nặng Trên cơ sở một nền kinh tế sa sút về các mặt như vậy, tài chính quốc gia ngày càng kiệt quệ Năm 1847, khi vua Tự Đức
mới lên ngôi, quan đại thần Trương Quốc Dụng đã tâu rằng: “Hiện nay tài lực
của nhân dân thì không bằng 5, 6 phần mười so với trước…” [72, 60] Như
vậy, vua Tự Đức lên ngôi được thừa hưởng một nền tảng kinh tế đã đến lúc suy sụp
Về xã hội: Vấn đề cấp bách nhất trong xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XIX là tình trạng nhân dân lưu tán phổ biến trong nông thôn Hiện tượng đó
Trang 21được Trần Văn Giàu nhận xét “là một hiện tượng thường xuyên, phổ biến
khắp ba kỳ và ngày càng trầm trọng Có thể khẳng định rằng, đó là hiện tượng tiêu biểu nhất của sự khủng hoảng chế độ phong kiến nhà Nguyễn” [20,
82] Từ năm 1810, vấn đề dân lưu tán đã trở nên nghiêm trọng Lê Văn Duyệt
khi làm sổ hộ tịch ở Nghệ An đã tâu rằng: “Ở xứ Nghệ dân đinh giảm nhiều
quá, năm ngoái có một vạn dân lưu tán, năm nay số ấy lên đến hai vạn” [63,
91] Thời vua Minh Mạng thì tình hình lưu tán của nông dân lại càng nguy ngập hơn thời vua Gia Long Năm 1826, tỉnh thần tâu rằng Hải Dương có 13 huyện mà nhân dân lưu tán bỏ đi nơi khác mất hết 108 xã [63, 115] Thời vua
Tự Đức, tình trạng nông dân lưu tán trở nên trầm trọng, buộc nhà vua đã phải
ra điều lệ thưởng phạt về việc chiêu mộ lưu dân: “Số dân địa phương mà 10
phần bỏ đi lưu tán tới 6 phần thì quan lại địa phương ấy bị phạt; đã lưu tán rồi mà điền hộ lại được 7/10 trở lên thì quan lại được thưởng” [76, 67]
Có thể nói, giặc giã, khởi nghĩa nông dân, bão lụt thường xuyên xảy ra
đã gây bao khó khăn cho cuộc sống của nhân dân Từ năm 1862 đến 1882, hầu như năm nào nạn đói cũng hoành hành ở Quảng Nam và nhiều tỉnh Bắc Kỳ, đặc biệt là Hải Dương Hai năm 1871 - 1872, đê các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ liên tục vỡ, ruộng đất bỏ hoang, mất mùa, đói kém Năm 1879, nạn đói hoành hành ở các tỉnh Bắc Kỳ, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
Giặc giã, trộm cướp vẫn là một tai họa lớn, đặc biệt đối với các tỉnh biên giới Việt Trung và ven biển miền Trung Từ giữa năm 1859, trong khi thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ thì ở phía Bắc, tàn quân Thái bình Thiên quốc cũng bắt đầu tràn vào, đặc biệt hung hãn trong bọn này
là giặc Tam Đường, giặc Hoàng Anh, giặc Ngô Côn Hàng trăm làng ở Thái Nguyên, Tuyên Quang bị tàn phá Cũng trong thời gian này, giặc biển hoành hành các vùng biển Quảng Yên, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định… Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân ở các tỉnh bùng lên, kéo theo
Trang 22không ít nạn trộm cắp… khiến chính vua Tự Đức cũng phải than vãn “dùng
binh nay đã 4, 5 năm, đánh dẹp, vỗ về không xong, tiền của thiếu, sức lực kiệt làm thế nào cho được” [42, 38]
Lợi dụng khó khăn của nhà Nguyễn, cha cố người Pháp và Tây Ban Nha dụ dỗ người theo đạo, hứa hẹn hạnh phúc bình đẳng, càng làm khơi sâu lòng dân bất tín nhiệm với triều đình Và thực tế, một số người dân bị lừa gạt
đã làm tay sai cho kẻ xâm lược Năm 1854, vì sợ Pháp xâm lược, Tự Đức ban hành lệnh cấm đạo, buộc giáo dân phải hoàn lương, xử chém hàng chục giáo
sỹ Năm 1858, một số ít giáo dân đã theo Pháp, nhiều người thiếu suy nghĩ bị thực dân Pháp xúi giục, đã đi lính cho chúng khiến mâu thuẫn lương giáo bùng lên
Có thể nói những chính sách đối nội, đối ngoại có phần không hợp lý của triều Nguyễn đã trở thành nguyên nhân của hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân suốt từ thời vua Gia Long đến vua Tự Đức Trong đó có những cuộc khởi nghĩa lớn kéo dài nhiều năm thu hút hàng nghìn người tham gia , khiến mâu thuẫn xã hội ngày càng thêm sâu sắc Theo ước tính, trong thời kỳ 1848 -
1862, đã có tới 40 cuộc khởi nghĩa và nếu tính đến năm 1883, các cuộc khởi nghĩa chống triều đình đã lên tới con số 103
Tình hình chính trị: Ngày 1/9/1858, sau một thời gian dài nhòm ngó
thông qua truyền giáo, thực dân Pháp đổ bộ vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam Ngay từ đầu khi quân Pháp tấn công vào cửa biển Đà Nẵng đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của triều đình và
nhân dân ta, khiến cho quân Pháp gặp nhiều khó khăn, buộc Pháp phải “án
binh bất động” trong thời gian dài Nhưng chính thái đô ̣ do dự của triều
Nguyễn đã khiến ta bỏ lỡ nhiều cơ hô ̣i tiêu diê ̣t Pháp khi chúng đang gă ̣p khó khăn: 5 tháng liền quân Pháp bị giam chân tại Đà Nẵng , bị dịch bệnh hoành hành (200 tên chết trong vòng một tháng ), khả năng được tiếp ứng từ đất liền
Trang 23hoàn toàn không có Chính Giơnuiy đã nhận định rằng: “Nếu họ đánh mạnh
thì họ đã đánh bại chúng tôi lâu rồi” Trong tình trạng khó xử đó , Giơnuiy
quyết định chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở bán đảo Sơn Trà , còn đại quân tiến vào Nam Kỳ mà đầu tiên là thành Gia Định Bị đánh bất ngờ , triều Nguyễn nhanh chóng để thực dân Pháp chiếm được thành Gia Định
Bằng áp lực quân sự , tháng 6/1862, thực dân Pháp buô ̣c triều Nguyễn phải ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa
Cochinchine (Nam kỳ) Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm
1873, thực dân Pháp đem quân ra Bắc Kỳ , ký với nước Thanh Hoà ước Thiên Tân buô ̣c nhà Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam
Ngày 6/6/1884, Hòa ước Patenôtre được ký kết tại kinh đô Huế gồm 19 điều khoản, chia nước Việt Nam làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới ba chế độ khác nhau Mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng: Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đình nhà Nguyễn vẫn được quyền kiểm soát trên danh nghĩa
Tình hình ngoại xâm đã vậy, tình trạng tham nhũng, sách nhiễu dân trong hàng ngũ quan lại khá phổ biến Năm 1851, vua Tự Đức đã từng than
thở: “Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như cọp Quan mưu tích cho
đầy túi tham, ngày đục, tháng khoét… Dân điêu tàn mà gốc của nước lay động, rất đáng lo sợ thay”; tiếp đến trong lời Dụ năm 1855, vua Tự Đức lại
nói: “Triều đình nhiều lần cứu giúp dân rất chậm… mà quan lại địa
phương, noi theo thói quen, xẻo xén không chán, phàm một việc hay một vật gì đều lấy tiền làm được thua, khiến cho ân huệ không xuống đến người dân, dân đều chứa oán…” [ 73, 150] và năm 1873 “quan lại… quen thói phong lưu, bóc lột máu mủ của dân để bù vào chi phí xa hoa, mượn danh tước triều đình để thỏa vui thích…”
Trang 24Có thể nói tình hình xã hội Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XIX phức tạp và nhiều khó khăn Bối cảnh lịch sử ấy có tác động không nhỏ đến sự phát triển của nền ngoại thương thời gian này
Trong bối cảnh lịch sử , chính trị rối ren đó , nhiều nhà trí thức tân tiến Viê ̣t Nam đã nhâ ̣n ra sự la ̣c hâ ̣u của đất nước , quyết tâm đi tìm căn nguy ên khiến dân tô ̣c không thể đối đầu với phương Tây Ở bất cứ nơi nào mà các sứ thần đă ̣t chân tới , họ đều ghi lại những điều mắt thấy tai nghe bằng chính những tư tưởng và tình cảm của riêng mình Từng người mô ̣t không phân biê ̣t thành phần xã hội đã đem sự học và hiểu biết của bản thân viết các bản điều trần gửi lên triều đình thuyết phu ̣c nhà vua thực hiê ̣n cải cách , tiêu biểu là : Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ
Nhà cải cách Phạm Phú Thứ bị cuốn hút mạnh mẽ bởi sự hoạt động tấp nập của thương cảng Marseilles ở Pháp, còn Bùi Viện đã bị cuốn hút bởi sự phát triển của Ma Cao và Hương Cảng Đây là hai trong số những trung tâm giao dịch trong tuyến thương mại trên biển quan trọng giữa phương Tây và phương Đông Nhận thức được tầm quan trọng của biển trong vai trò giao thương quốc tế, Phạm Phú Thứ và Bùi Viện tha thiết kêu gọi triều đình sớm
mở cửa cảng ven biển để tăng cường quan hệ buôn bán với phương Tây Hai ông là những người có công lớn nhất trong việc xây dựng thương cảng Ninh Hải Phạm Phú Thứ là người khai mở ý tưởng, còn Bùi Viện là người thực hiện ý tưởng đó
Đặng Huy Trứ từng nói: “Làm ra của cải là một đạo lý lớn, không thể
coi thường” (Sinh tài đại đạo sự phi khinh) Trong cơ cấu xã hội “tứ dân”
truyền thống (sĩ, nông, công, thương) thì thương nhân là tầng lớp có địa vị thấp nhất trong xã hội Cũng như các triều đại phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn chỉ đề cao người học chữ thánh hiền, mà không chú trọng đến tầng lớp thương nhân, vì vậy phần lớn người dân đều muốn theo đường khoa bảng
Trang 25làm quan chứ không muốn phải đi buôn bán khắp nơi Như Nguyễn Trường
Tộ đã nhận xét: Thời Tự Đức chẳng những chỉ biết trọng văn, khinh võ, lại
còn khinh cả các nghề chân tay làm ra của cải vật chất Điều đó khác hẳn với văn minh phương Tây chú trọng đến công nghệ và kỹ xảo [18, 34]
Đặng Huy Trứ được vua Tự Đức hai lần cử ra nước ngoài Vì vậy, Ông được chứng kiến sự sầm uất của thương cảng Ma Cao và Hương Cảng (Trung Quốc) Khi về nước, Ông thành lập nhiều thương điếm ở Hà Nội để xuất hàng hóa của nước ta ra nước ngoài; khuyến khích phát triển tiểu công nghệ, tập hợp những hộ nghề nghiệp theo ngành nghề; cổ vũ việc khai mỏ, lập đồn
điền Năm 1865, Ông tâu xin : Đặt sứ ty bình chuẩn với lý do “Việc kinh
doanh buôn bán dẫu là nghề mạt nhưng về ích nước lợi dân thì là việc lớn của triều đình Trong đó, tiết mục nhiều lắm, phải nên am hiểu tình hình thi hành ở các địa phương và hết thảy con đường chốt yếu đi lại mới có thể kiến nghị, đem ra thi hành” Vua bèn sai xem xét để làm, nhân đó cho Đặng Huy
Sứ lãnh chức Bình Chuẩn Ty [75, 34]
Nguyễn Trường Tộ phê phán tư tưởng bảo thủ, phê phán quan niệm
“mở cửa buôn bán là mở cửa cho giặc vào” của triều Nguyễn Ông viết:
“…Cửa bể khắp các nước Phương Đông đã khai thông cả thì tại sao một
mình nước ta lại có thể đóng kín được” [12, 410] Từ thực tế của Trung Quốc,
Nhật Bản, Thái Lan, Nguyễn Trường Tộ đã chua chát nói rằng: “Chỉ riêng
một mình nước ta thi hành đường lối khác, cho nên thiên hạ cho nước ta là một nước li kỳ nhất Triều đình ta từ trong khoảng từ Gia Long đến Minh Mạng hợp tác với người Tây, thường phái thuyền đi du hành các nước trở nên dần dần hưng thịnh Nếu không có lệnh đóng cửa đuổi khách bạn ra, mà theo đường lối ấy tới nay thì ta cũng có thể sánh vai dong duổi cùng thiên hạ và người Pháp cũng không thể tác oai, tác quái với ta được” [12, 412]
Trang 26Năm 1866, Nguyễn Trường Tộ gửi bản điều trần về việc học thực dụng lên vua Tự Đức , nêu lên 14 điều, trong đó có 11 điều bàn về kinh tế thực dụng, coi trọng nghề nghiệp Ông đề nghi ̣ đặt khoa Hải lợi , khuyến khích ai
có vốn riêng hoặc góp vốn đóng được thuyền lớn, mua được tàu có thể vượt biển đi buôn bán với nước ngoài cũng được thưởng Nguyễn Trường Tộ nhấn
mạnh: “Nước ta một mặt là bờ biển, đất hẹp mà dài, đường bộ khó đi, cho nên
lấy xa làm gần thì chỉ có đường biển mà thôi Đường biển của ta có ba cái hại lớn: Một là gió bão, hai là giặc biển, ba là người Tây Muốn trừ được ba cái hại ấy chỉ có kế khai cảng Khai cảng là một kế lớn có lợi lâu dài cho nước ta, thế mà nhiều người không hiểu, chỉ thấy cái cực nhọc trước mắt, bàn chuyện cản trở Trong chính sách mở cửa, Nguyễn Trường Tộ có nói rằng: Lại nhân việc mở mang này mà ta mở các cửa khẩu để thuyền bè các nước ra vào, ta ngồi thu thuế mà tăng quốc dụng Mặt khác có hoả thuyền qua lại trên mặt biển thì cái hoạ giặc biển cũng dần dần tiêu diệt, sự sinh sống của nhân dân ta cũng dần thịnh vượng hơn” [12, 416]
Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ mạnh dạn đề nghị triều đình cho phép nhà giàu ở gần cửa biển được mua những tàu lớn để có thể vượt biển chở những đồ vật của nước mình đưa ra bên ngoài bán và chở về nước những vật dụng cần thiết Rõ ràng, Nguyễn Trường Tộ không muốn người Việt Nam thụ động chỉ biết trông chờ người nước ngoài đến giao thương với mình mà cần phải chủ động trong các mối giao thương quốc tế
Trần Túc, Nguyễn Huy Tế sau chuyến đi Anh vào năm 1868, đã xin mở các cửa biển Trà Lý, Nam Định và đặt lãnh sự ở Hương Cảng Họ tâu với vua
Tự Đức: “Chúng tôi xét cửa biển Trà Lý thuộc tỉnh Nam Định, bãi cát cao
rộng, nhà cửa được yên ổn; cửa biển hơi sâu, tàu thuyền đậu được vững vàng; đường thủy thông với tỉnh Nam Định, cũng là một chỗ rất quan yếu; còn đường biển thời thuyền Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương và các xứ Nam
Trang 27Bắc đều tới đó đậu được; đường sông từ thời Nam Định đến mấy hạt miền thượng du các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang qua lại đều được tiện lợi Gần đây tàu buôn các nước tới đậu nhiều chỗ ấy cũng là chỗ tốt Vậy xin cho mở cửa hàng buôn bán cho dân tới buôn và nhóm của thiên hạ để tính việc lâu dài” [ 43, 354 - 355] Họ nhấn
mạnh tới yêu cầu “Mở thương điểm thông thương với bên ngoài, chiêu tập
nhân dân trong thiên hạ, tụ hội hàng ngoài thiên hạ để tính cách lợi ích lâu dài sau này” [43, 357]
Đến tháng 1/1873, các quan ở Viện Thương Bạc cũng xin mở ba cửa
biển ở Đà Nẵng, Ba Lạt và Đồ Sơn để thông thương:“Mở cửa buôn bán ở các
hải khẩu Đà Nẵng, Ba Lạt, Đồ Sơn nhằm phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng giao thương với bên ngoài nhằm nắm rõ tình hình thế giới Việc làm này
có 5 điều lợi là nhóm dân ở bờ biển để làm bền vững bờ cõi đất nước, tích chứa của cải trong dân và làm mạnh quân đội nhờ việc buôn bán, các cơ sở buôn thiết lập dọc bờ biển thì tin tức thông suốt từ Đông sang Tây sẽ ngăn được hải tặc, lập các sở buôn thì thuyền chiến phải có mặt ở đó vừa đuổi được giặc lại vừa bảo vệ được các tàu vận tải, ta với ngoại quốc thông thương hàng hóa thì lâu ngày sẽ biết nhau hơn mà dễ xem xét tình trạng của các nước ngoài” [43, 367]
Đầu năm 1881, quan Tu Soa ̣n ở Hàn Lâm Viê ̣n là Phan Liêm dâng sớ
đề nghị triều đình cho mở các thương cục , chung vốn lâ ̣p hô ̣i buôn, đẩy ma ̣nh viê ̣c khai mỏ, cử người đi ho ̣c ngoa ̣i ngữ và kỹ nghê ̣ ở nước ngoài
Cùng với tư tưởng đó , năm 1882, sau khi đi sứ ở Hồng Kông về , quan Khoa đa ̣o Lê Đỉnh tâu với vua Tự Đức rằng các nước phương Tây giàu ma ̣nh chẳng qua nhờ viê ̣c buôn bán và phát triển quân sự , dùng quân sự để hỗ trợ viê ̣c thương ma ̣i, dùng thương mại để phát triển quân đô ̣i, nên chỉnh đốn viê ̣c thông thương là điều hết sức cần kíp Nước Nhâ ̣t Bản nhờ bắt chước phương
Trang 28Tây tiến hành thông thương khắp nơi, nước Trung Hoa cũng làm theo cách này
mà dần được cường thịnh Nước Nam ta vốn sản vật cũng nhiều (như các mỏ vàng, bạc, đồng, than…), người thông minh cũng đông, nếu gắng sức mà phấn đấu thì sự giàu ma ̣nh chắc cũng chẳng khó khăn gì; hiếm vì chuô ̣ng thơ văn và quá câu nệ trong cách thực hiện nên không phát triển lên được [9, 185 - 186]
Tất cả các nhà canh tân đều có chung một điểm là mong muốn “mở
cửa”, mở cảng biển để giao lưu, buôn bán với nước ngoài Từ việc thông
thương buôn bán với nước ngoài mà có thể tránh được sự xâm lược của thực dân Pháp, hay dù thực dân Pháp đã chiếm đóng toàn bộ Nam Kỳ, thì việc mở cảng biển cũng làm kinh tế phát triển, tạo tiềm lực để triều đình có thể đẩy lùi cuộc xâm lược của thực dân Pháp
Liệu trước bối cảnh lịch sử đầy biến động và những đề nghị cải cách
mở cảng biển của các nhà nho tân tiến, vua Tự Đức có thay đổi thái độ, quan điểm đối với việc giao lưu buôn bán với các nước khác hay không?
1.2 Khái quát về tiềm năng biển, hoạt động thương mại biển của Việt Nam trước thế kỷ XIX
Việt Nam là quốc gia nằm ở phía Đông Nam của châu Á, từ lâu biển đã giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, quốc phòng của người Việt Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Nước ta có bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước
Trang 29kinh tế đảo, bán đảo là điều kiện thuận lợi để nước ta có thể thiết lập và mở rộng quan hệ giao thương với thế giới bên ngoài Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam
Tuy nhiên, người Việt ít chú trọng khai thác biển Việt Nam không có nền kinh tế thương mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dương, khai phóng và hội nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một số quốc gia ven biển khác trên thế giới Người Việt có làm cảng ở sông, ở biển, nhưng chủ yếu là để buôn bán nội vùng, khá hơn là liên vùng trong nước Người Việt thụ động trông chờ người nước ngoài đến buôn bán, không chủ động đóng tàu thuyền ra nước ngoài buôn bán Mối liên hệ kinh tế văn hoá giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á hay châu Á, ngoại trừ
trường hợp Trung Quốc, không thực sự sâu sắc và thường xuyên
Vào những thế kỷ Sau Công nguyên, mặc dù đã làm chủ được hầu khắp vùng đồng bằng sông Hồng và chinh phục được một số dải đất ven biển nhưng người Việt vẫn không thể (và thực tế là không cần) vượt ra khỏi không
gian kinh tế nông nghiệp truyền thống để tiến ra biển: Cái không gian sinh tồn
cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven biển
[25, 45] Tập quán sinh sống định cư gắn chặt với đồng đất là nguyên nhân
chính yếu kiềm toả sức vươn ra biển, nhu cầu muốn chinh phục biển khơi của người Việt Biển là một thế giới quá mênh mông, mơ hồ và đầy hiểm nguy
trong tâm thức của người Việt
Do nhiều yếu tố , thương nghiệp Việt Nam, trong đó có ngoại thương, luôn được coi là ngành kinh tế phụ Từ trước thế kỷ X, tư duy thương mại biển của người Việt dường như cũng chưa mấy rõ ràng Mai An Tiêm bị đày
ra đảo hoang đã trồng dưa hấu để trao đổi với các tàu buôn đi qua đó lấy các
Trang 30vật dụng và thực phẩm, nhưng cuối cùng cũng quay trở lại đất liền Từ thế kỷ
X trở đi, sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ Các triều đình phong kiến đã có sự quan tâm nhất định tới vấn đề biển đảo Triều Lý đã chú ý đến việc buôn bán với nước ngoài bằng đường biển (Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á);
cho lập cảng Vân Đồn để tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán: Vượt ra khỏi ý
nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế , trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế , việc nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự du nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương
khu vực và quốc tế qua khu vực Biển Đông [51, 12]
Đại Việt từ cuối thời Trần và đầu thời Lê, vai trò của thương cảng Vân Đồn và vùng cảng biển Đông Bắc trong hệ thống hải thương khu vực và quốc
tế ở Biển Đông được biết đến nhiều qua chức năng trung chuyển và xuất khẩu gốm sứ từ Trung Quốc ra thị trường khu vực, đồng thời đưa gốm sứ Đại Việt (men nâu thời Trần và men lam thời Lê Sơ) ra thị trường quốc tế
Nhìn chung, các triều đình phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ
XV hầu như chưa thể hiện một tư duy hải thương lớn Người Việt chỉ khai thác biển như một nguồn tài nguyên tự nhiên và chính quyền phong kiến chỉ quan tâm tới việc phòng thủ biển để bảo vệ đất liền, chứ chưa kết hợp được
phát triển kinh tế biển với phát triển ngoại thương và củng cố quốc phòng
Từ thế kỷ XVI trở đi, do sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến, Đại Việt bị tách thành hai tiểu quốc là Đàng Ngoài và Đàng Trong Một bộ phận cư dân ở Đàng Trong từng bước di cư xuống phía Nam men theo bờ biển Chính sách khai phá các vùng đất hoang vu, quan tâm đến nông nghiệp, mở rộng thủ công nghiệp và phát triển ngoại thương của các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho kinh tế Đàng Trong phát triển Nhiều đô thị ven biển và hải cảng nổi tiếng như Hội An, Thanh Hà, Gia Định được hình
Trang 31thành và phồn thịnh Quan hệ buôn bán giữa Đàng Trong với các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây được thiết lập và phát triển
Trong tác phẩm “Tư Dung Vãn” của Đào Duy Từ đã nói tới những cánh buồm của thương nhân trên vùng biển miền Trung: “Buồm ai dàng dạng chân trời”
[13, 46] Sau thương cảng Hội An thế kỷ XVI - XVII, người Việt Nam ở Đàng Trong lại có thêm thương cảng Hà Tiên thế kỷ XVIII
Bên cạnh việc mở mang phát triển kinh tế thì “Chúa Nguyễn Hoàng đã
sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa biển Đông Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của Nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có
được” [35, 12]
Trên thế giới, từ thế kỷ XVI trở đi là thời kỳ sôi động của các hệ thống
thương mại Đông - Tây, các “đế chế đại dương” bắt đầu chiếm ưu thế đồng thời chấm dứt thời kỳ hoàng kim của các “đế chế lục địa” Các “quốc gia
thương nghiệp” được hình thành ở vùng hải đảo, hoặc khu vực ven biển phát
triển rực rỡ Từ đó, biển trở thành một nhân tố hết sức quan trọng trong việc
phát triển kinh tế và chiến lược quốc phòng của mỗi quốc gia
Nhìn chung, trong lịch sử, người Việt và triều đình phong kiến có xu hướng tiến ra biển, nhưng chỉ dừng lại ở giới hạn nhất định Biển không phải
là đối tượng của những nỗ lực khám phá và chinh phục để phát triển Khát
vọng về biển không phải là vượt đại dương, tìm ra những bờ biển mới
Trang 321.3 Tình hình thương mại trên biển dưới các triều vua từ Gia Long đến Thiệu Trị
Trên đà phát triển của chủ nghĩa tư bản , công cuô ̣c tìm kiếm thi ̣ trường của các nước tư bản phương Tây là một nhu cầu cấp thiết Sau những thất ba ̣i
ở Việt Nam những thế kỷ trước , sang thế kỷ XIX , chúng ta lại thấy các lái buôn Anh và Pháp quay trở lại Họ là đại biểu cho thế lực tư bản , có sự đánh giá đúng đắn về vai trò và vị trí chiến lược của Việt Nam trong kinh tế và chính trị Chính vì thế, khác với các lái buôn phương Tây trong những thế k ỷ trước chỉ chú trọng tìm mọi cách kiếm lời , các đại biểu tư sản trong thời kỳ này đòi hỏi phải đặt được quan hệ thông thương chắc chắn lâu dài , có những ký kết buôn bán rành mạch Trước sự “đổ bô ̣” của thương nhân nước ngo ài vào đất nước, vua quan nhà Nguyễn có thái đô ̣ như thế nào?
Đối với các nước Phương Tây: Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chính sách
hải thương của Việt Nam chịu sự chi phối to lớn của bối cảnh quốc tế Lúc này Anh và Pháp là hai đối thủ thương mại lớn nhất ở châu Á Việc Anh có được thị trường Ấn Độ, tiếp đến là những lợi ích thương mại to lớn ở Trung Hoa đã thúc đẩy Pháp quan tâm nhiều hơn đến thị trường châu Á So với một
số nước, Việt Nam không phải là một thị trường lớn nhưng lại rất quan trọng đối với Pháp vì Pháp muốn biến Việt Nam thành bàn đạp để mở cửa vào thị trường giàu có châu Á Chính sự tranh giành giữa Anh và Pháp ở châu Á và
âm mưu nhòm ngó của Pháp đối với Việt Nam đã làm cho triều Nguyễn hết sức lo ngại
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long Từ
đó, triều Nguyễn lạnh nhạt dần mối quan hệ với phương Tây nhất là với Pháp
vì sợ thân cận với Pháp và phương Tây sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường về sau Vì vậy, chính sách hạn thương với phương Tây được bắt đầu từ thời vua
Trang 33Gia Long và thực thi triệt để hơn dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị Chính sách này được cụ thể hóa bằng việc triều Nguyễn đã liên tiếp thoái thác việc ký kết các hiệp định thương mại với các nước phương Tây mà trước hết
là với những nền thương mại lớn như Pháp, Anh, Mỹ
Cuô ̣c xâm chiếm Indonesia và chinh phu ̣c Ấn Đô ̣ của người Anh , cuô ̣c chiếm cứ Ma Cao của người Bồ Đào Nha , Ý… càng khiến nhà Nguyễn thêm cảnh giác đối với sự thăm viếng của các thương gia hay các đoàn truyền giáo nước ngoài Tờ sớ của Kiêm quản Viê ̣n Đô sát Vũ Đức Khuê bàn về công viê ̣c thông thương của triều đình thể hiê ̣n mô ̣t quan niê ̣m hết sức la ̣c hâ ̣u : “Các
nước di di ̣ch ở phương Tây lớn mạnh nhất không nơi nào bằng đại tây , tiểu tây, chỉ lấy việc buôn bán xây dựng cho nước , nếu chỗ nào có lợi, cố sức liều chết lấy cho bằng được… Viê ̣c ngăn giữ từ lúc mới chớm có và khi còn nhỏ , không nên không sớm tính đến Vậy nên, tự ta đi trước đóng cửa cự tuyê ̣t viê ̣c
đi lại, để họ coi ta như Trời, không biết đâu mà lường…” [60, 320]
Tháng 6/1802, người Hồng Mao (tức người Anh) đến dâng phương vật
và xin lập phố buôn ở Trà Sơn (Quảng Nam), vua trả lại lễ vật và từ chối Năm 1803, một phái đoàn thương mại của Công ty Đông Ấn Anh do J.W Robert dẫn đầu đến Việt Nam Vua Gia Long đã không tiếp kiến và khước từ
đề nghị được lập thương điếm của Anh ở Trà Sơn Tháng 4/1804, người Hồng Mao lại đến xin buôn bán ở Đà Nẵng Vua Gia Long không cho Tiếp đó, tháng 9/1807, tháng 8/1812, tháng 6/1822, các thương nhân người Anh đến xin buôn bán nhưng đều bị từ chối Năm 1817, Chính phủ Pháp đã cử Achille
de Kergariou, trưởng tàu Cybele đến Việt Nam để thiết lập quan hệ bang giao Vua Gia Long đã từ chối tiếp kiến với lý do Kerariou không có quốc thư của vua Pháp
Trang 34Bảng 1.1: Bảng thống kê tàu thuyền phương Tây đến Việt Nam buôn bán
dưới triều vua Gia Long nhưng bị từ chối
Năm Thuyền, Tàu các
1804 Người Hồng Mao Đà Nẵng Xin buôn bán Khước từ
1807 Người Hồng Mao Đà Nẵng Xin buôn bán Khước từ
1812 Người Hồng Mao Đà Nẵng Xin buôn bán Khước từ
quan hê ̣ buôn bán
Từ chối vì không có quốc thư
(Nguồn: Đại Nam thực lục, bản dịch, tập I, Nxb Giáo Dục, HN, 2004 )
Nối tiếp chính sách thương mại của vua cha, năm 1820, vua Minh Mạng từ chối việc ký kết một hiệp ước thương mại với đại diện của Chính phủ Pháp là Jean Baptiste Chaigneau Tiếp đó, năm 1822, vua Minh Mệnh không tiếp kiến Courson de la Ville - đặc sứ của vua Pháp và John Crawfurd - phái viên của Thống đốc Anh tại Ấn Độ Năm 1826, hai chiếc tàu của Pháp là Thestis và Esperence đến thiết lập quan hệ buôn bán nhưng cũng bị vua Minh Mạng từ chối Năm 1832 và năm 1836, vua Minh Mạng tiếp tục từ chối đề nghị của Edmund Roberts về việc thiết lập quan hệ ngoại giao và thương mại Việt Mỹ Tháng 11/1832, quốc trượng nước Nhã Di Lý (Hoa Kỳ) dâng quốc thư xin thông thương Triều đình cử người đến trả lời và khéo đuổi đi
Trang 35Bảng 1.2: Bảng thống kê tàu thuyền phương Tây đến Việt Nam buôn bán
dưới triều vua Minh Mê ̣nh nhưng bị từ chối
Đà Nẵng Xin thông thương Không cho
Xin thông thương Không đồng ý
sai quy đi ̣nh
1836 Thuyền binh cu ̉ a Mỹ Mỏ Diều
biển
(Nguồn: Đại Nam thực lục, bản dịch, tập II, III, IV, V Nxb Giáo Dục, HN, 2007)
Trang 36Qua viê ̣c tiếp xúc của các vị vua đầu triều Nguyễn với đa ̣i biểu các nước phương Tây như Anh , Pháp, Mỹ có thể khẳng định một điều : Quan hê ̣ hải thương của triều đình Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX với các nước tư bản phương Tây theo con đường chính thức là hoàn toàn không có Chính sách này được nhà Nguyễn thi hành từ vua Gia Long (mô ̣t người đã từng có món nợ với mô ̣t nước phương tây là nước Pháp) và được duy trì trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX Có lẽ chính vì vậy , mô ̣t số người phương Tây đã cho rằng triều Nguyễn hoàn toàn có ý đi ̣nh đóng cửa về mă ̣t ngoa ̣i thương với phương Tây Trong mô ̣t bức thư gửi Barôngđen năm 1821, Vanhie - người từng ở Viê ̣t Nam
khá lâu , được vua Gia Long ban quan tước , viết: “Tôi tin rằng sẽ phải cực
nhọc và khổ tâm lắm mới buôn bán được với xứ này , nhất là buôn bán sao cho có lãi bởi vì Chính phủ này chẳng muốn có một mối quan hê ̣ buôn bán gì với các nước châu Âu cả, lo sợ các nước châu Âu lắm” [26, 150]
Tuy nhiên, các sự kiện lịch sử ở thời Nguyễn trong quan hệ thương mại với các nước phương Tây đã chứng minh sự thâ ̣t không phải như vâ ̣y Tài liệu lịch sử đã xác nhận rằng , thời vua Gia Long, vua Minh Mệnh, vua Thiệu Trị, triều đình Huế đã mở cửa Đà Nẵng cho tàu thuyền phương Tây đến thông thương và nếu đảm bảo thủ tục ngoại giao sẽ được hội thương tại triều đình Huế và được tặng thưởng của nhà vua Đà Nẵng, một cửa khẩu từng làm tiền cảng cho Hội An trong các thế kỷ thịnh vượng ngoại thương giờ trở thành cảng quốc tế của triều Nguyễn, vì nó không quá gần như Hội An để người ngoài có thể nhòm ngó đe dọa đến Kinh đô Huế, cũng không quá xa Trung ương như Quy Nhơn hay Gia Định làm triều Nguyễn không có khả năng kiểm soát và thu lợi
Dù có thành kiến với người Anh, năm 1807 khi tàu của Kê-Lê-Mân đậu
ở cửa biển Đà Nẵng, vua sai Tham tri Bộ Hộ Lê Viết Nghĩa và Giám thành sứ
Trần Văn Học đến thăm dò Vua Gia Long dụ rằng: “Người Hồng Mao không
Trang 37hiểu lễ phép, luật lệ, bọn người chuyến đi này nên đối xử rộng rãi”, rồi đưa
Kê-Lê-Mân về kinh sai Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Thắng và Lê Văn Lăng tiếp chuyện Trong những năm 1817 - 1819, Gia Long đã cấp giấy phép cho các tàu Henry và Larose của Pháp đến buôn bán ở Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện cho họ vừa bán hàng vừa thu mua tơ, đường và trà đưa về Pháp Năm 1819, John White, một thương gia người Mỹ, đã nhận được nhiều hứa hẹn cho các hoạt động của ông tại Việt Nam Năm 1825, Minh Mạng cử người sang Tân Ba Gia để hỏi vì sao các thương nhân Anh không tới các cửa khẩu Việt Nam buôn bán Năm 1830, nhân một chiếc tàu Anh vào đậu ở cửa
biển Thị Nại, quan tỉnh Bình Định tâu lên, vua nói: “Cửa biển ấy không phải
là chỗ tàu Anh Cát Lợi vào để buôn bán, vậy theo ý này truyền bảo họ: “Nếu buôn bán phải chở đi Đà Nẵng, Quảng Nam mới được” [63, 70] Đến thời
Thiệu Trị, năm 1845, có hai chiếc thuyền người Anh đến Đà Nẵng và xin đến Kinh đô Huế trình quốc thư nhưng vua Thiệu Trị bảo là không hợp lệ, ban tặng lễ vật, cho họ tiếp đãi tử tế để họ ra về
Do quan hệ thông thương và sự du nhập của các giáo đoàn, các đồng tiền của phương Tây đã có mặt ở Việt Nam từ khá lâu Đến thế kỷ XIX, những đồng tiền nước ngoài được lưu hành ở nước ta là đồng bạc Hoa biên (tức đồng Rêan - Tây Ban Nha), đồng Quỷ đầu (đồng đô la Mỹ), đồng Kê ngăn, đồng Song thúc (đồng Mêhicô) Theo số liệu tính toán của các chuyên gia về tiền, tỷ giá giữa tiền Việt Nam so với đồng bạc Mêhicô và các đồng bạc nước ngoài vào thời 1810 - 1820 là 1,5 quan [82, 70] Việc các đồng tiền phương Tây được lưu hành khá phổ biến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX cũng chứng tỏ quan hệ hải thương của triều Nguyễn và các nước phương Tây vẫn được tiến hành trong một chừng mực nhất định
Tháng 3/1845, chiến hạm Constitution của Hoa Kỳ cập bến Đà Nẵng yêu cầu nhà cầm quyền thả 1 nhà truyền giáo người Pháp và gây áp lực đã bắt
Trang 38mô ̣t số quan nhà Nguyễn làm con tin Năm 1847, 2 chiến hạm Pháp tới Đà Nẵng đòi Chính phủ cho phép Công giáo hoạt động tự do và phóng thích các nhà truyền giáo Pháp Do hiểu lầm, người Pháp bắn chìm các chiến thuyền Việt Nam trong cảng Từ sau những sự kiện đó, quan hệ buôn bán với phương Tây bị tổn hại, triều Nguyễn càng tỏ ra lo ngại trước nguy cơ xâm lược đang đến gần từ các nước phương Tây
Có thể nhận thấy, chính sách hải thương của triều Nguyễn đối với các nước phương Tây không nhất quán Một mặt triều Nguyễn không muốn thiết lập quan hệ thương mại với bất cứ quốc gia phương Tây nào bởi lo ngại sẽ dẫn đến những tranh chấp giữa các nước đó tại Việt Nam và cũng không muốn lệ thuộc vào một quốc gia cụ thể nào Mặt khác, triều Nguyễn cũng tạo những điều kiện thuận lợi nhất định cho các tư nhân phương Tây đến Việt Nam buôn bán Rõ ràng vấn đề buôn bán với phương Tây không bị triều đình Huế ngăn cấm, nhưng vì lý do an ninh, triều đình Huế chỉ mở cửa biển Đà Nẵng để thuyền buôn Phương Tây đến trao đổi hàng hóa Như vậy, triều Nguyễn đối với phương Tây không hoàn toàn bế quan tỏa cảng mà có mở cửa, nhưng chỉ mở cửa Đà Nẵng để dễ kiểm soát Nếu như không bị đè nặng bởi tư tưởng có thể bị xâm lược thì triều Nguyễn có thể sẽ thiết lập quan hệ thương mại cởi mở với phương Tây
Đối với các nước châu Á: Trong khi quan hệ với phương Tây bị thắt
chặt thì triều Nguyễn lại tăng cường mở rộng quan hệ thương mại với châu Á
Do điều kiện địa lý, từ lâu nước ta đã giao lưu buôn bán với các nước châu Á theo hai tuyến đường: Đường bộ và đường biển Đối với đường biển, các thuyền buôn của Trung Quốc, Xiêm, Hạ Châu, Chà Và, Mã Cao… qua lại thông thương Mức thuế nhập cảng mà các thuyền buôn này phải chịu thường chỉ ngang với mức thuế các thuyền buôn vùng Hà Tiên
Trang 39Việc buôn bán với châu Á chủ yếu do Nhà nước kiểm soát bở i vì đoàn thuyền buôn của tư thương không được trang bị vũ khí nên thường bị bọn hải tặc, đặc biệt là hải tặc Trung Quốc khống chế Bởi vậy, chỉ có triều đình mới
có thể tổ chức được các hoạt động giao thương vì có các thuyền lớn và được trang bị vũ khí tương đối tốt
Các vua đầu triều Nguyễn đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao dịch buôn bán Ngay từ năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu
Ba (Indonesia) Từ năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu và Tân Ba Gia để mua vải và đồ thủy tinh Từ đây, mối quan hệ giao thương giữa triều Nguyễn với Tân Ba Gia có tính chất thường xuyên hơn và kim ngạch thương mại tăng đáng kể Sau đó, mỗi năm đều có quan viên được phái
đi tới các trung tâm mậu dịch của người Âu ở khắp Đông Nam Á Từ
1831-1832 trở đi, các chuyến công cán càng lúc càng nhiều, điểm đến cũng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon - Philippines), đảo Borneo, Quảng Đông, Giang Lưu Ba, Trong khoảng 1835 - 1840 đã có 21 chiếc được cử đi Hàng bán ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len dạ và vũ khí, đạn dược
Bảng 1.3: Các thương đoàn của triều Nguyễn tới một số trung tâm
thương mại châu Á [1, 238 - 239]
Năm Phái viên Thuyền hiệu Nơi đến
Trang 401837 Lê Bá Tú Phấn Bằng Bornéo
Lê Bá Tú - Lê Viết Trị An Dương Hạ Châu
Lý Văn Phúc - Phan Tĩnh Linh Phượng Hạ Châu
Lê Văn Phú - Trần Đại Bản Tiên Ly Hạ Châu
1839 Đào Trí Phú - Trần Tú Đĩnh Thụy Long Giang Lưu Ba
Trần Đại Bản – Nguyễn Du Tiên Ly Hạ Châu
Ngoài ra, triều đình còn có các chính sách khuyến khích lái buôn gạo nước ngoài Năm 1825, thuế cảng thuyền buôn gạo nước ngoài được giảm