Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì chất lượng giáo dục ở các vùng - miền chưa đồng đều; trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học tập còn nhiều bất cập; các hiện tượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRI ̣ LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 5 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2001 – 2005) 12
1.1 Tình hình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trươ ́ c năm 2001 12
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị 12
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị 13
1.1.3 Khái quát về sự nghiệp giáo dục - đào tạo trước năm 2001 16
1.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo 5 năm đầu thế kỷ XXI (2001 – 2005) 25
1.2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo 25
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị 27
1.2.3 Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kết quả 31
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRI ̣ CHĂM LO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 50
2.1 Chủ trương phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị 50
2.1.1 Chủ trương phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng 50
Trang 42.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị về phát triển gia ́ o du ̣c
- đa ̀o ta ̣o (2005 - 2010) 53
2.2 Quá trình chỉ đạo, tổ chư ́ c thực hiê ̣n và kết quả (2005 - 2010) 56
2.2.1 Quá trình chỉ đạo, tổ chư ́ c thực hiê ̣n 56
2.2.2 Những kết quả đạt được 70
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 87
3.1 Nhận xét chung 87
3.1.1 Về những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo 87
3.1.2 Về qua ́ trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo 89
3.1.3 Về những thành tựu cơ ba ̉ n 94
3.1.4 Những hạn chế chính và nguyên nhân 100
3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu 102
3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo 103
3.2.2 Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng 105
3.2.3 Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo 109
3.2.4 Tăng cường các nguồn lực, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo, thực hiện xã hội hóa giáo dục 111
3.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 115
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 132
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế thừa truyền thống quý trọng hiền tài của dân tộc và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người, Đảng ta đã nhận thức rằng: chăm lo giáo dục - đào tạo
là chăm lo phát triển Vì thế, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[21, tr 107] Đến Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), tháng
12 năm 1996, Đảng ta đã xác định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” [22, tr 4] nhằm “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”
Mười năm đầu của thế kỷ XXI có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử của nhân loại và của mỗi quốc gia, trong đó vấn đề con người, vấn đề giáo dục nổi lên hàng đầu Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng ta đã chỉ rõ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của 10 năm đầu thế kỷ XXI là : “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [23, tr.159] Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, giáo dục và khoa học công nghệ phải đi trước một bước trong quá trình phát triển đất nước Với vai trò ấy, giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng nhất trong chiến lược con người của Đảng, là hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Trang 6Qua 25 năm đổi mới (1986 - 2011), nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng về giáo dục và đào tạo Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo đã đạt trên 20% tổng chi ngân sách Việc phát triển giáo dục - đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đặc biệt quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, nước ta đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 chiếm 40% tỉ lệ lao động đang làm việc…Có được những thành tựu như vậy
là nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự đóng góp tích cực của nhiều địa phương trong cả nước
Quảng Trị là tỉnh có truyền thống hiếu học, khuyến học và truyền thống cách mạng, đời sống kinh tế những năm gần đây có bước khởi sắc, nhu cầu học tập của người dân không ngừng tăng lên, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng… Có được những điều đó là do nhận được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi của các đoàn thể cho ngành giáo dục - đào tạo phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì chất lượng giáo dục ở các vùng - miền chưa đồng đều; trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học tập còn nhiều bất cập; các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục vẫn còn… Đó là những vấn đề lớn đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Quảng Trị phải có hướng lãnh đạo, giải quyết đối với vấn đề giáo dục - đào tạo của tỉnh nhà nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển hơn nữa để cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta đã nêu định hướng về phát triển giáo dục - đào tạo nước nhà, đó là: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
Trang 7đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, là một cán bộ giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo tại địa phương, để góp phần vào việc nghiên cứu
và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự nghiệp giáo
dục - đào tạo của tỉnh nhà, tôi đã chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh
đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 2001 đến năm 2010 làm luận văn
thạc sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục - đào tạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nên thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết về giáo dục - đào tạo Có thể nêu một số công trình chính như sau:
* Như ̃ng công trình của các đồng chí lãnh đạo:
- Hồ Chí Minh: Bàn về công tác giáo dục Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972 đã
nêu bật vai trò cực kỳ quan trọng của công tác giáo dục, đặc biệt tác phẩm đã khái quát, phản ánh sự cần thiết của một nền giáo dục dưới chế độ XHCN
- Phạm Văn Đồng: Về vấn đề giáo dục - đào tạo Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1999 đã khẳng định vai trò của giáo dục - đào tạo và nhấn mạnh:
để sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển mạnh mẽ cần có sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân và phải có những chính sách hữu hiệu nhất
- Đỗ Mười: Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
(1/1996) Trong bài phát biểu này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: muốn đưa sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước nhanh chóng đến thắng lợi thì dứt khoát phải phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Trang 8Những cuốn sách, bài viết trên đều khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của việc đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục - đào tạo và sự phát triển của giáo dục - đào tạo là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập đến sự phát triển giáo dục - đào tạo của từng địa phương
*Các nhà quản lý giáo dục có nhiều công trình, bài viết sau:
GS.TS Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế
kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Cuốn sách này đã trình bày
tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục nước ta qua các giai đoạn lịch sử; phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và phương hướng phát triển giáo dục trong thời gian tới
GS.TS Phạm Minh Hạc (chủ biên) cuốn: Nhân tố mới về giáo dục và
đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002 đã nêu lên những chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và học; có được những kết quả này là do có sự đổi mới về phương pháp của cả thầy và trò, phong trào học tập trong nhân dân được đẩy mạnh Từ đó xuất hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần thực hiện thắng lợi đường lối giáo dục và đào tạo của Đảng
Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng với Giáo dục Việt Nam hướng tới
tương lai, vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 đã nêu
lên những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam, đồng thời cũng tìm đến những giải pháp để thúc đẩy nền giáo dục nước nhà phát triển đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội trong xu thế hội nhập quốc tế
Nguyễn Thanh Bình: Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb
Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008 đã khắc họa được diện mạo của giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử của đất nước từ năm 1980 về đổi mới tư duy
Trang 9giáo dục, các quan điểm chỉ đạo tổ chức, phát triển giáo dục Đặc biệt, cuốn sách đã nhấn mạnh đến nền giáo dục Việt Nam ở các phương diện khác nhau trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010
TS Hồ Thiệu Hưng: Suy tư về giáo dục, Nxb Văn hóa - văn nghê ̣, thành
phố Hồ Chí Minh , 2011 đã đề cập tới nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống giáo dục và nhiều giải pháp giáo dục phù hợp để giáo dụ c Viê ̣t Nam đổi mới căn bản và toàn diê ̣n
Trần Kiểm: Khoa học và tổ chức giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà
Nội, 2012 đã trình bày một cách hệ thống tổ chức giáo dục cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân và đã đi sâu phân tích vai trò người học, người dạy
và môi trường nhằm tạo ra tương tác hướng tới hiệu quả hoạt động dạy - học trong nhà trường
TS.Trần Thị Bích Liễu: Đánh giá chất lượng giáo dục - nội dung,
nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật và nội dung đánh giá trong giáo dục và đã khẳng định việc đánh giá chất lượng giáo dục là một hoạt động thường xuyên, hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Nhìn chung, các công trình đều phản ánh một cách nghiêm túc thực trạng và đề xuất nhiều kiến nghị, giải pháp đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước nhà nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước nhà trong từng giai đoạn cũng như cụ thể từng địa phương
*Một số luận văn, luận án:
- Hoàng Thị Hằng: “Chiến lược con người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay”
Trang 10- Bùi Minh Hằng: “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục - đào tạo trong công cuộc đổi mới (1986 - 1996) (qua thực tiễn của tỉnh Đắc Lắc)”
- Hà Văn Định: “Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1986 đến năm 2000”
- Lê Văn Nê: “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2000)”
- Trần Xuân Tĩnh: “Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo (1991 - 2000)”
- Trần Văn Dũng: “Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
đề giáo dục chỉ được biết qua các báo cáo năm học, hoặc các bài viết ở các tập san của tỉnh, Hạn chế của các công trình này là sự kiện, nhân chứng chưa nhiều, phân tích chưa sâu, chưa thấy được bước trưởng thành cũng như mặt còn yếu kém, để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục Và cho đến nay, chưa
có một công trình nào nghiên cứu có hệ thống về Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 2001 đến năm 2010
Tuy nhiên, luận văn cũng có thể kế thừa những nhận định, đánh giá, những nguồn tư liệu của các công trình, luận văn trên
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị để phát triển giáo dục -
đào tạo ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2010; bước đầu tổng kết, rút ra
một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ
* Nhiệm vụ:
- Luận văn trình bày đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo
- Phân tích quá trình vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị khi
đề ra các chủ trương, giải pháp tổ chức thực hiện sự nghiệp giáo dục - đào tạo
ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2010
- Đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế của giáo dục - đào tạo
ở tỉnh Quảng Trị
- Trên cơ sở đó , luận văn rú t ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Quảng Trị, làm cơ sở góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
Luận văn đi sâu nghiên cứu những chủ trương, giải pháp tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2010
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương
- Thời gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề trên từ năm 2001(năm bắt đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đồng thời cũng là năm Đảng
bộ tỉnh chọn: “Năm Giáo dục” của tỉnh Quảng Trị) đến năm 2010 (năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV)
Trang 12- Không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Quảng Trị
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giáo dục - đào tạo; vai trò của nhân tố con người, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong tiến trình cách mạng
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng (phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic) Ngoài hai phương pháp chính, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh…để nghiên cứu về sự phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh Quảng Trị
* Nguồn tư liệu: Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh
- Các văn kiện của Đảng về vấn đề giáo dục - đào tạo
- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị từ năm 2001 đến năm
2010
- Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị
- Các kế hoạch, báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị
- Các báo cáo hàng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị
- Tham khảo các tác phẩm của các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã công bố; những tham luận của những học giả trong và ngoài nước
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã trình bày một cách hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo từ năm 2001 đến năm 2010
Trang 13- Làm rõ sự vận dụng đúng đắn, chủ động, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị trong quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương
- Đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở tỉnh Quảng Trị từ năm 2001 đến năm 2010
- Rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị về phát triển giáo dục - đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào
tạo 5 năm đầu thế kỷ XXI ( 2001 - 2005)
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Quảng Trị chăm lo phát triển giáo dục - đào
tạo từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và những kinh nghiệm chủ yếu
Trang 14Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRI ̣ LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 5 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2001 – 2005)
1.1 Tình hình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trươ ́ c năm 2001
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị nằm trên địa bàn duyên hải Bắc Trung Bộ Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Phía Đông giáp biển Đông Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tỉnh có diện tích tự nhiên là 474.699 km2
, có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyê ̣n với 138 xã, phường, thị trấn Dân số khoảng 601.670 người
Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianma qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh
tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh và Quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường xuyên Á
Trang 15Đi ̣a hình lãnh thổ Quảng Tri ̣ lưng tựa dãy Trường Sơn , mă ̣t hướng về biển Đông, đi ̣a hình đa da ̣ng phân bố xen kẽ giữa vùng ven biển , đồng bằng,
gò đồi và vùng núi Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Do địa hình phía Tây núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc
Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, Quảng Trị được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây nên hạn hán Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa nên dễ gây lũ lụt
Nhiệt đô ̣ trung bình toàn tỉnh bình quân từ 200
đến 250, tháng 5 và 7 có nhiê ̣t đô ̣ khoảng 350
hoặc cao hơn; tháng 11 và 12 nhiê ̣t đô ̣ giảm có khi xuống còn 80
đến 90 Độ ẩm không khí trung bình từ 85% đến 90% Những đă ̣c trưng về thời tiết của Quảng Tri ̣ gây nhiều bất lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và giáo dục - đào ta ̣o nói riêng
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị là một tỉnh chịu nhiều mất mát , đau thương trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Sau hơn 30 năm khôi phu ̣c và phát triển , kinh tế -
xã hội của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng Từ mô ̣t tỉnh khó khăn, tỉ lệ người nghèo đói cao , kết cấu ha ̣ tầng thấp kém , lạc hậu, đến nay tỉnh từng bước phát triển vượt qua giai đoạn khó khăn và vươn lên không ngừng Thu nhâ ̣p bình quân đầu người năm 1996 là 2,6 triê ̣u đồng, năm 2000
Trang 16đa ̣t 2,9 triê ̣u đồng, năm 2005 đạt 5,16 triệu đồng và đến năm 2010 đạt 16 triệu đồng (tương đương 845USD) Cơ cấu kinh tế chuyển di ̣ch theo hướ ng tích cực: tỉ trọng GDP của các ngành công nghiê ̣p - xây dựng chiếm 34,7%, ngành nông - lâm - ngư nghiê ̣p chiếm 29,9%, ngành dịch vụ chiếm 35,4% Tốc đô ̣ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm ở giai đoạn 1996 - 2000 đạt 8,5%, giai đoạn 2001 - 2005 đạt 8,7%, đến giai đoạn 2005 - 2010 đạt 10,8%
Về tiềm năng du li ̣ch, Quảng Trị có hệ thống di tích li ̣ch sử, văn hóa nổi tiếng của đất nước và thế giới Đó là Thành cổ Quảng Tri ̣ , hàng rào điện tử Macnamara, Làng địa đạo Vịnh Mốc, căn cứ Khe Sanh , làng Vây, sân bay Tà Cơn, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trườ ng Sơn , Đường 9 Quảng Trị còn là vùng đất của các lễ hộ i cách ma ̣ng nổi tiếng như : lễ hội thống nhất non sông, nhịp cầu xuyên Á , huyền thoại Trường Sơn thu hút đông đảo du khách trong
và ngoài nước
Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong khu vực miền Trung được Nhà nước quan tâm đầu tư, cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị có những bước phát triển mới: khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo phát triển có nhiều khởi sắc; các khu công nghiệp Nam Đông Hà, khu công nghiệp Quán Ngang; các cụm tuyến du lịch Hiền Lương, Cửa Tùng, Khe Sanh, Lao Bảo được đầu tư về hạ tầng, thu hút đầu tư, đang từng bước phát huy hiệu quả; cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông không ngừng được mở rộng; các lĩnh vực xã hội như: xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - thể thao được chú trọng phát triển
Những lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế và tiềm lực kinh tế đã đạt được đang tạo cho Quảng Trị một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong nước và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh trong thời gian tới
Trang 17Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2, thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xã Quảng Trị: 308 người/km2, thành phố Đông Hà: 1.157 người/km2
, trong khi
đó huyện Đakrông chỉ có 29 người/km2, Hướng Hoá 64 người/km2 Sự phân
bố dân cư không đều giữa các vùng gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế phục
vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng có địa hình núi cao, chia cắt, thưa dân Toàn tỉnh có 346.287 người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 57,5% dân số; số người trong độ tuổi lao động tăng thêm bình quân mỗi năm khoảng 3.000 - 4.000 người Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên môn
kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế Năm 2000, tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề của toàn tỉnh chỉ chiếm 11% dân số, năm 2005 chiếm 13%, năm 2010 tăng lên 23,5%
Về truyền thống văn hóa, nhân dân Quảng Trị có truyền thống cần cù, hiếu học, sáng tạo trong lao động sản xuất và có tình tương thân, tương ái, giúp nhau trong đời sống và trong xóa đói giảm nghèo Trải qua những giai đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân Quảng Trị vẫn bất khuất, kiên trung vượt qua gian khó vươn lên Quảng Trị còn là vùng đất lịch sử nổi tiếng, có truyền thống yêu nước, cách mạng, sản sinh những người con kiệt xuất cho quê hương, đất nước, tiêu biểu là Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn Qua các thời kỳ phát triển, Quảng Trị đã có nhiều danh nhân đạt những danh hiệu cao quý
Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc: Kinh, Vân Kiều
và Pa Cô Tỉ lệ các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9% tổng dân số Các dân tộc anh em trên đất Quảng Trị đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có những đóng góp to
Trang 18lớn cho thắng lợi của dân tộc và ngày nay đang chung sức đồng lòng, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất và xây dựng quê hương, đất nước
Nhìn chung, dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị dồi dào Tuy nhiên, vấn đề dân cư và lao động của tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập như: dân cư phân bố không đều trên các địa bàn lãnh thổ; trình độ dân trí còn thấp nhất là vùng sâu, vùng xa; trình độ chuyên môn, kỹ thuật lành nghề còn hạn chế, thiếu đội ngũ lao động có chất lượng cao, thiếu chuyên gia giỏi Do
đó vấn đề nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, phát huy yếu tố nội lực con người là nhiệm vụ cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài của tỉnh nhằm đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
1.1.3 Khái quát về sự nghiệp giáo dục - đào tạo trước năm 2001
Lịch sử GD - ĐT tỉnh Quảng Trị (1945 - 2000) là một bộ phận của lịch
sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, một phần trong 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của quốc gia Được hình thành và nuôi dưỡng từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám thành công, GD - ĐT Quảng Trị luôn là bộ phận gắn kết chặt chẽ hữu cơ với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH của nhân dân Quảng Trị, nhân dân
cả nước
Suốt 30 năm chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Quảng Trị thuộc chiến trường “Bình Trị Thiên khói lửa”, là nơi đụng đầu lịch sử của hai thế lực hùng mạnh nhất của thế kỷ XX Sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hai mùa nắng mưa thất thường, luôn bị đe dọa bởi các đợt nắng nóng của gió Lào khô rát, hạn hán mất mùa, mưa dầm rét buốt, bão lụt liên miên, người Quảng Trị vừa phải giành giật với thiên nhiên khắc nghiệt để có miếng cơm manh áo, vừa phải cầm súng cầm gươm chống giặc ngoại xâm góp phần quan trọng giành lại độc lập tự do cho dân tộc, tiếp tục xây dựng và phát triển cuộc sống Vật lộn với tự nhiên, đương đầu với
Trang 19hiểm nguy, chết chóc, người Quảng Trị sớm nhận ra quy luật của tạo hóa để tồn tại, phát triển và trưởng thành Hơn một phần hai thế kỷ XX, GD - ĐT Quảng Trị trải qua 4 thời kỳ phát triển:
*Thời kỳ 1945 - 1954: Thời kỳ hình thành nền giáo dục cách mạng
Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ, giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm hoành hành, hơn 95% người mù chữ, trường Tiểu học đếm chưa hết trên mười đầu ngón tay Lực lượng thầy giáo dạy trong các trường Tiểu học trước cách mạng là những người yêu nước, ủng hộ kháng chiến đi theo cách mạng Nhưng số lượng chưa tới năm mươi người, trình độ Bằng Thành Chung chỉ có 5 - 7 người, còn đa số là Bằng Rime yếu lược Trong hoàn cảnh
và điều kiện ngặt nghèo đó, Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Trị quyết định giữ nguyên Ty Thanh tra Tiểu học vụ và thành lập Ty Bình dân học vụ Ngày 15/9/1945 (sau Hội nghị cán bộ toàn tỉnh) bốn ngày, Ty Thanh tra Tiểu học
vụ, Ty Bình dân học vụ được thành lập (tiền thân của Sở Giáo dục - Đào tạo ngày nay) Sự nghiệp giáo dục cách mạng Quảng Trị hình thành và đứng vững
*Thời kỳ 1954 - 1975: Giáo dục Quảng Trị phát triển trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước Đất nước tạm thời chia làm hai miền, Quảng Trị tạm thời trở thành hai khu vực hành chính của hai chế độ khác nhau Vĩnh Linh trở thành đặc khu trực thuộc Trung ương tiến lên CNXH, các huyện, thị còn lại tạm thời thuộc chính quyền Mỹ - Ngụy kiểm soát Chuyển vùng giáo dục là nét đặc thù riêng biệt của Quảng Trị Chuyển vùng để tồn tại và phát triển, chuyển vùng để trở lại tiếp tục sự nghiệp cao cả của mình Tổ chức và phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt đã tạo cho giáo dục Quảng Trị giành được nhiều thành tích rực rỡ ngay sau khi quê hương Quảng Trị được giải phóng (01/05/1972)
Trang 20*Thời kỳ 1976 - 1989: Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên sáp nhập
thành tỉnh Bình Trị Thiên Vốn cùng chúng chiến hào trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người Quảng Trị sớm hòa nhập và nhanh chóng thích nghi hoàn cảnh Bốn huyện, thị của Quảng Trị lúc bấy giờ thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Bình Trị Thiên Vừa phải lo khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, vừa lo phát triển quy mô xây dựng hệ thống mạng lưới trường lớp từ ngành Mầm non đến THPT, nhưng phong trào
thi đua “Hai tốt” vẫn phát triển mạnh mẽ, các điển hình tiên tiến xuất sắc ở
khu vực Quảng Trị đã trở thành những bài học quý báu đối với giáo dục Bình Trị Thiên và của cả nước Tỉnh Bình Trị Thiên đã cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có đổi mới về giáo dục để đào tạo những con người có đủ đức, đủ tài góp phần xây dựng đất nước
*Thời kỳ 1989 - 2000: Phát triển giáo dục trong điều kiện mười năm đầu
tỉnh nhà tái lập, tiếp tục thực hiện việc đổi mới sự nghiệp giáo dục Giáo dục Quảng Trị đã giành được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa sâu sắc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế: chuyển nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN (gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN) Đại hội VI (12/1986) xác định vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục trong sự nghiệp đổi mới là đào tạo những con người có đủ đức, đủ tài để xây dựng đất nước
Công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ với nhiều quyết sách quan trọng, trong đó có việc chia tách một số tỉnh để phù hợp với dân cư và địa giới hành chính Nghị quyết 86/NQ-BCT ngày 14/4/1989 của Bộ Chính trị và nghị
Trang 21quyết tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VIII có quyết định chia tách một số tỉnh; ngày 30/6/1989, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định chia tách tỉnh Bình - Trị - Thiên thành 3 tỉnh: Tỉnh Quảng Bình, Tỉnh Quảng Trị và Tỉnh Thừa Thiên - Huế Từ đây lịch sử chuyển sang trang mới với biết bao khó khăn thử thách, nhưng đồng thời cũng là cơ hội mới, vận hội mới đối với mảnh đất và con người Quảng Trị Trở về tên gọi của mình, tỉnh Quảng Trị đối mặt với một thực trạng nghèo nàn và lạc hậu: đời sống đói kém khó khăn, mặt bằng dân trí còn hạn chế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vì vậy cũng chậm phát triển Toàn ngành Giáo dục chỉ có 3 ngôi trường kiên cố, cao tầng; quy mô, mạng lưới trường lớp còn rất hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân; đội ngũ cán bộ, giáo viên vừa thiếu lại vừa yếu; vì vậy, chất lượng giáo dục của toàn ngành rất thấp; do đó, khó khăn càng tăng lên gấp bội đối với một tỉnh nghèo lại mang trên mình quá nhiều thương tích của chiến tranh Ngày 01/7/1989, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị ký quyết định số 01/QĐ-UB thành lập Sở Giáo dục Quảng Trị Hướng trước mắt của Sở là ổn định tình hình một cách nhanh chóng và đưa ra các giải pháp mạnh “tự vượt lên chính mình” Vừa làm vừa tự đánh giá so sánh một cách khách quan giữa cái đã đạt được và chưa đạt được, vừa tự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu chung của thời kỳ đổi mới
Đến tháng 12/1996, Hội nghị BCHTƯ lần thứ 2 khóa VIII đã ra Nghị
quyết quan trọng “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng để lãnh đạo, chỉ
đạo sự nghiệp phát triển GD - ĐT ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH Nghị quyết đã nêu 6 tư tưởng chỉ đạo phát triển GD - ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH
Một là, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo Hai là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
Trang 22Ba là, giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng , của Nhà nước và của toàn dân
Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh
Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo
Sáu là, giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa
dạng hóa các loại hình giáo dục và đào tạo
Quán triệt những tư tưởng chỉ đạo của NQTƯ2 ( khoá VIII), ngày 19/4/1997, Tỉnh ủy Quảng Trị đã đề ra Chương trình hành động số
69CTHĐ/TU “Phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2000 thực hiện Nghị
quyết hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)”
Chương trình hành động xác định nhiệm vụ và mục tiêu như sau:
- Nhiệm vụ:
Sắp xếp, củng cố hệ thống trường công lập, các trung tâm dạy nghề, trường sư phạm, trường thanh niên dân tộc nội trú, trường chuyên Phát triển loại trường ngoài công lập ở ngành học mầm non, PTTH, dạy nghề
Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại, đảm bảo đủ số lượng, nâng cao trình độ giáo viên theo quy định
Tăng cường ngân sách đầu tư cho GD - ĐT, đẩy mạnh công tác “xã hội hoá giáo dục”, tập trung các nguồn lực xây dựng CSVC, trang thiết bị dạy học, xoá tình trạng học 3 ca, phòng học tạm bợ
Nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủ y Đảng, chính quyền địa phương đối với giáo dục, tạo được sự chuyển biến căn bản thể hiện rõ nét
“giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tạo tiền đề cho sự phát triển mới vào đầu thế kỷ XXI
Trang 23- Mục tiêu:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện gồm đức dục , trí dục, thể dục,
mỹ dục ở tất cả các bậc học đồng t hời chú trọng giáo dục chính trị , tư tưởng, đạo đức, nhân cách và truyền thống dân tộc, quê hương
Mở rộng các loại hình trường lớp, phấn đấu đưa từ 10 - 12% số cháu vào nhà trẻ; 45 - 50% số cháu vào mẫu giáo, trong đó trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo
và học chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị vào lớp 1 đạt 85 - 90%
Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, ngoại ngữ và tin học cho tất cả học sinh trung học
Giữ vững phổ cập GDTH và chống mù chữ, thanh toán nạn mù chữ cho người trong độ tuổi (15 - 35) ở vùng khó khăn, đối tượng khó Đảm bảo cho
20 - 25% số trường tiểu học được học 2 buổi/ ngày, phần lớn học sinh tiểu học học đủ 9 môn theo quy định Phấn đấu đưa phần lớn học sinh trong độ tuổi vào trường tiểu học, 70% vào trường THCS và THPT, 40% học các trường dạy nghề và chuyên nghiệp
Tập trung xây dựng Trường CĐSP tỉnh thành trung tâm đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non và tiểu học đáp ứng yêu cầu bức xúc cho các trường phổ thông trong tỉnh
Sau những năm lập lại tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn về KT -
XH nhưng thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy Quảng Trị và của Bộ GD - ĐT, giáo dục Quảng Trị đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng Đặc biệt, sau 4 năm thực hiện NQTƯ2 (khoá VIII) và Chương trình hành động của Tỉnh uỷ, GD - ĐT Quảng Trị đã vượt qua khó khăn, tạo thế và lực cho sự phát triển, góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đóng góp quan trọng cho sự phát triển KT -
XH của tỉnh
Trang 24Thứ nhất, Quy mô ngành học, bậc học phát triển Cụ thể: trong năm học
2000 - 2001
- Ngành học Mầm non:
+ Nhà trẻ: có 2564 cháu, đa ̣t 9,3% so với độ tuổi
+ Mẫu giáo: có 21225 cháu, đạt 54,1% so với độ tuổi
- Ngành học phổ thông:
+ Tiểu học: 84157 học sinh, đạt 96% so với độ tuổi
+ THCS: 47520 học sinh, đạt 90% so với độ tuổi
+ PTTH : 20907 học sinh , đạt 75% so với độ tuổi (cả công lập và bán công)
hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho con em đến trường Ngành GD - ĐT Quảng Trị từng bước mở rộng quy mô, tăng số lượng học sinh, đặc biệt hệ bán công, dân lập và tư thục phát triển mạnh
Năm học 2000 - 2001 toàn tỉnh có 145 nhà trẻ, 131 trường mẫu giáo (trong đó công lập 14, dân lập 111, tư thục 6); 164 trường Tiểu học; 84 trường THCS; 10 trường PTCS; 5 trường Dân tộc nội trú; 1 trường năng khiếu (chuyên cấp 3); 9 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp HNDN (trong đó 1 trung tâm cấp tỉnh); 9 trung tâm GDTX (1 trung tâm cấp tỉnh); 1 trung tâm trẻ em khuyết tật; 1 trường C2 - 3 ( Tân Lâm); 21 trường PTTH (17 công lập, 4 bán
Trang 25công); 1 trường CĐSP (nâng cấp năm 1997 từ trường THSP tỉnh); 1 trường Trung học Nông nghiệp và phát triển nông thôn (thành lập năm 1976); 1 trường CN lái xe và nghiệp vụ giao thông (thành lập năm 1976); 1 trường Trung học Y tế thành lập năm 2000
Thứ ba, Công tác phổ cập GDTH - Chống mù chữ được thực hiện tốt
Bằng nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, hợp lý, Tỉnh uỷ đã lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền các cấp, ngành GD - ĐT và các ngành có liên quan thực hiện thắng lợi công tác phổ cập GDTH - Chống mù chữ Tỉ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 80,85% so với độ tuổi, riêng trẻ 5 tuổi đạt 99,5%; tỉ lệ huy động học sinh tiểu học, THCS tăng Minh chứng cho sự quan tâm của xã hội đối với việc học là công tác phổ cập chống mù chữ toàn tỉnh đã được hoàn thành vào năm 1996 - là tỉnh thứ 3 của khu vực phía nam đạt được thành quả này Năm học 2000 - 2001, có 138/138 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập GDTH - chống mù chữ Quảng Trị là tỉnh thứ 18/61 tỉnh thành được công nhận chuẩn quốc gia về phổ cập GDTH - chống mù chữ
Công tác phổ cập THCS cũng được đẩy mạnh Năm học 2000 - 2001, toàn tỉnh có 83/138 xã, phường với 4 huyện, thị (Vĩnh Linh, Gio Linh, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị) đạt chuẩn phổ cập THCS
Thứ tư, Chất lượng dạy và học ở các ngành học, bậc học có sự chuyển
biến cả diện đại trà và mũi nhọn Tỷ lệ trung bình học sinh lên lớp và tốt nghiệp các cấp đạt kết quả cao Năm ho ̣c 2000 - 2001: Lên lớp (Tiểu học: 99,5%, THCS: 99,4%, THPT: 99,4%); Tốt nghiệp (Tiểu học: 99,9%, THCS: 97%, THPT: 93%, BTCS: 100%, BTTH: 97%)
Thứ năm, Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường cả về số lượng và
chất lượng Năm học 1996 - 1997 có 5744 người (trong đó số có trình độ thạc
sĩ là: 35, đại học tiểu học: 16); Năm học 2000 - 2001 có 8524 giáo viên (trong
Trang 26đó có 49 thạc sĩ, 115 đại học tiểu học, kể cả số đang theo học; 1.357 giáo viên ngoài biên chế) Số lượng đảng viên chiếm tỷ lệ 23,8%
Thứ sáu, CSVC trường học từng bước được nâng cấp và đã đạt được
những thành tựu đáng kể Năm 2000, toàn tỉnh có 162 trường cao tầng với
1547 phòng học chiếm 45% tổng số trường Các phương tiện như sách, thiết
bị đồ dùng dạy học được tăng cường Ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục tăng mạnh: từ 49,368 triệu đồng năm học 1996 - 1997 lên 73 tỷ năm học
1999 - 2000
Thứ bảy, Công tác xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh cả diện rộng lẫn
chiều sâu theo hướng: xã hội hoá trí lực, xã hội hoá nhân lực và xã hội hoá vật lực Huy động toàn xã hội có trách nhiệm với sự nghiệp GD - ĐT Kết hợp tốt giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội 100% huyện, thị, xã phường đã xây dựng đề án phát triển GD - ĐT phù hợp với địa phương mình
Mặc dù đã đạt được những thành tựu như vậy, nhưng ngành GD - ĐT Quảng Trị vẫn còn nhiều mặt yếu kém Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu Phương pháp giáo dục chậm đổi mới Việc triển khai giáo dục toàn diện còn lúng túng Giáo dục mầm non, giáo dục miền núi còn khó khăn Trang thiết bị phục vụ cho dạy học còn nghèo, trường học nhiều nơi còn thiếu thốn, nhất là vùng sâu, vùng xa Số trường tạm bợ xuống cấp nghiêm trọng cần phải đầu tư xây dựng mới khá nhiều…Đời sống một bộ phận giáo viên còn khó khăn nhất là về nhà ở Thiếu chính sách cụ thể để thu hút cán bộ giáo viên lên công tác ở vùng sâu, vùng xa Những hạn chế, yếu kém đó đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Quảng Trị phải có hướng chỉ đạo giải quyết, khắc phục để đưa nền GD -
ĐT tỉnh nhà phát triển lên một tầm cao mới, toàn diện và vững chắc hơn; đảm bảo cho Quảng Trị tiến lên trên con đường CNH, HĐH cùng với cả nước trong xu thế hội nhập toàn cầu
Trang 271.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo 5 năm đầu thế kỷ XXI (2001 – 2005)
1.2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo
Bước vào thế kỷ XXI, nhân dân ta tràn đầy phấn khởi và tin tưởng vì công cuộc đổi mới đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng khá; văn hóa, xã hội có nhiều tiến
bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, GD - ĐT phát triển về quy mô và CSVC; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, nước ta
đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập GDTH; tình hình chính trị -
xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng…Những thành tựu đó càng củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế
Trong bối cảnh đó, về GD - ĐT, Đại hội IX, Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững” [23, tr.108-109] Đại hội chủ trương: phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa” Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức chính quy, không chính quy, thực hiện “cả nước trở thành một xã hội học tập” Chăm lo phát triển giáo dục mầm non; củng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập GDTH; đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS, tạo điều kiện cho các địa phương hoàn thành sớm phổ cập giáo dục bậc trung học Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo; khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực
Trang 28Ngày 19/2/2000, Quốc hội khóa X ban hành 2 Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết 40/QH-10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết 41/QH-10 về chủ trương phổ cập giáo dục THCS
Tháng 12/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, xác định mục tiêu, giải pháp, các bước tiến hành theo phương châm “đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” nhằm xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn, hiệu quả; tạo bước chuyển mạnh về chất lượng để nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 Ngày 22/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2001/NĐ-CP
“về việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở” Nghị định nêu mục tiêu phổ cập
giáo dục THCS là đảm bảo cho hầu hết thanh thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ THCS trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tiếp theo, ngày 15/11/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
159/2002/QĐ-TTg “về việc phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình kiên cố
hóa trường, lớp học” Mục tiêu của Đề án là thực hiện Chương trình kiên cố
hóa các trường, lớp học trong cả nước từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông để đến cuối năm 2003 xóa bỏ tình trạng học 3 ca và đến năm 2005 không còn lớp học tạm thời tranh, tre, nứa, lá
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày
15/11/2002 “về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non” Quyết định
khẳng định Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở
Trang 29những xã có điều kiện KT - XH khó khăn; nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi, tạo điều kiện để trẻ em được phát triển toàn diện
về chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách
Tất cả những chủ trương của Đảng, Nhà nước nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, để giáo dục nước ta có thể hòa nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị
Cùng với sự phát triển của đất nước trong công cuộc đổi mới, nền kinh
tế của Quảng Trị đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nổi bật là việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nông nghiệp toàn diện, đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục và thực hiện chính sách thương binh liệt sĩ, người có công
Hệ thống chính trị được củng cố Quốc phòng an ninh được tăng cường, đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể Ngành GD - ĐT Quảng Trị có đóng góp quan trọng vào sự phát triển KT - XH của tỉnh và sự phát triển KT - XH cũng tạo điều kiện và đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp GD - ĐT
Trên cơ sở đường lối Đại hội IX của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIII (ngày 27/2- 1/3/2001) đã xác định: “Giáo dục - Đào tạo phải được đặt ở vị trí là quốc sách hàng đầu [67; tr 58]” và đã chọn năm 2001 là
“Năm Giáo dục” Đây là chủ trương sáng ta ̣o của Đảng bô ̣ tỉnh , với mục tiêu tạo bước chuyển đột phá về chất lượng GD - ĐT mà trước hết là đột phá vào những vấn đề còn bất cập, đồng thời tạo bước chuyển về chất trong công tác
xã hội hóa giáo dục
Đại hội cũng đề ra các nhiệm vụ, mục tiêu để phát triển GD - ĐT tỉnh nhà giai đoạn 2001 - 2005:
Trang 30Thứ nhất, Củng cố vững chắc kết quả phổ cập GDTH và xóa mù chữ,
tiến hành phổ cập THCS đạt chuẩn ở vùng đồng bằng và một số xã miền núi
có điều kiện
Thứ hai, Đổi mới phương pháp dạy - học; nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện, chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà ở các cấp học, ngành học
Thứ ba, Tập trung xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng; đồng bộ
về cơ cấu, loại hình; vững vàng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ Chú ý phát triển Đảng - Đoàn trong trường học Tăng cường giáo dục đạo đức trong nhà trường, tạo môi trường giáo dục lành mạnh Khắc phục những tiêu cực trong thi cử, dạy thêm
Thứ tư, Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tăng cường đầu tư
nguồn lực, phấn đấu đến năm 2005 cùng với việc cơ bản hoàn thành kiên cố hóa và cao tầng hóa trường học, từng bước bổ sung phương tiện dạy học theo hướng hiện đại, tiên tiến Phấn đấu nâng cao tỉ lệ huy động học sinh đến trường và tỉ lệ phổ cập đúng độ tuổi ở các bậc học Xây dựng trường chuyên PTTH và hệ thống trường chuẩn quốc gia, trường kiểu mẫu ở các cấp học, ngành học Mở rộng mạng lưới trường lớp (chính quy, phi chính quy và các hình thức học tập khác) Quy hoạch xây dựng trường dạy nghề Mở rộng quy
mô, nâng cao chất lượng các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề theo hướng hiện đại Nâng tỉ lệ người lao động được đào tạo nghề lên 20% Có chính sách đầu tư mũi nhọn học sinh giỏi, đầu tư phát triển giáo dục miền núi, vùng khó và giáo dục mầm non
Thực hiện Chỉ thị 50 CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội khuyến học Việt Nam”, để từng bước quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về nhiệm vụ chiến lược Giáo dục - Đào tạo, xây dựng “cả nước trở thành một xã hội học tập”, xã hội hoá giáo dục, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến
Trang 31khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục, ngày 13/8/2001, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có thông báo số 52 TB/TU về việc thành lập Hội khuyến học tỉnh Quảng Trị Hội khuyến học có nhiệm vụ phối hợp với Mặt trận và các ban ngành, đoàn thể góp phần tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển giáo dục của tỉnh nhà trong năm 2002 và những năm tiếp theo; tạo điều kiện cho con
em các gia đình nghèo, con em đồng bào dân tộc thiểu số được học tập và có chính sách khuyến khích người học giỏi; động viên các nhà giáo, nhà khoa học, trí thức khác và những người hoạt động xã hội tham gia phát triển giáo dục; cổ vũ, quan tâm đến vai trò người thầy trong sự nghiệp GD - ĐT, kịp thời khuyến khích các giáo viên dạy giỏi ở các cấp học
Ngày 24/6/2002, Tỉnh ủy Quảng Trị đã ra Chỉ thị số 14-CT/TU, “Chỉ thị
về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở” Để tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển của GD - ĐT, hoàn thành việc phổ cập giáo dục THCS của tỉnh nhà vào năm 2005, Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:
- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể tiếp tục xây dựng và bổ sung chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 61-CT/TW của Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng khoá VIII về thực hiện phổ cập THCS nhằm đạt mục tiêu nâng cao mặt bằng dân trí một cách toàn diện, làm cho hầu hết công dân đến 18 tuổi đều tốt nghiệp THC; kết hợp phân luồng sau cấp học này, tạo
cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; phát huy cao độ tính độc lập, năng động, sáng tạo và bản lĩnh chính trị của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
- Chương trình hành động thực hiện phổ cập THCS phải gắn với việc khắc phục những yếu kém về chất lượng đào tạo Đổi mới phương pháp giáo dục, triển khai tốt giáo dục toàn diện, khắc phục tiêu cực trong dạy thêm, thi
Trang 32cử Xây dựng và thực hiện kế hoạch phổ cập THCS theo hướng cập nhật những thành tựu mới của khoa học công nghệ, gắn với yêu cầu phát triển KT -
XH của địa phương trong thời kỳ mở cửa hội nhập
- Củng cố vững chắc và phát huy kết quả của công tác xoá mù chữ và
phổ cập GDTH Những nơi đã hoàn thành phổ cập THCS cần tiếp tục củng
cố, nâng cao chất lượng, tổ chức phân luồng và có kế hoạch cụ thể phổ cập THPT
- Phát huy kết quả “Năm Giáo dục”, có kế hoạch củng cố và xây dựng
CSVC, thiết bị trường học theo hướng tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá gắn liền với việc đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục và sách giáo khoa để tạo điều kiện phổ cập giáo dục THCS có chất lượng và hiệu quả
- Nâng cao tỉ lệ huy động học sinh đến trường, tỉ lệ phổ cập đúng độ
tuổi ở các bậc học Cùng với việc mở rộng và hoàn thiện mạng lưới THCS, ngành GD - ĐT cần phối hợp với các ngành liên quan có kế hoạch nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của Trường CĐSP, Trung học Nông nghiệp, Trung học Y tế, Trường Công nhân kỹ thuật và NVGT, các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp HNDN, các trung tâm GDTX…đảm bảo đáp ứng tốt yêu cầu phân luồng học sinh, góp phần đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh
- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục Xây dựng và hoàn thiện chế
độ chính sách của tỉnh đối với giáo viên nói chung và giáo viên tham gia phổ cập THCS nói riêng Chú ý những địa bàn khó khăn, KT - XH kém phát triển như vùng núi, miền biển
- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể coi việc thực hiện phổ cập THCS là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT - XH của địa phương, đơn vị Phải tăng cường công tác kiểm
Trang 33tra, kịp thời sơ kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng điển hình tiên tiến Coi trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đúng tiến độ và có chất lượng nhiệm vụ phổ cập THCS
1.2.3 Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kết quả
Để đưa Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII vào cuộc sống, HĐND tỉnh đã họp và ban hành nhiều cơ chế chính sách có hiệu quả như: ra nghị quyết giải quyết cho 1209 giáo viên Mầm non ngoài biên chế được tăng phụ cấp ưu đãi và đóng bảo hiểm xã hội; giải quyết chế độ ưu đãi cho 141 cán bộ quản lý giáo dục công tác ở cơ quan Sở và phòng Giáo dục, đầu tư hơn 1 tỷ đồng để xây dựng nhà ở cho giáo viên ở vùng sâu, vùng cao… Nhằm cụ thể hóa Chỉ thị số 14-CT/TU, “Chỉ thị về việc thực hiện phổ
cập trung học cơ sở” của Tỉnh ủy Quảng Trị , ngày 15/8/2002, UBND tỉnh
Quảng Trị đã ra Kế hoạch số 1373/KH-UB, “Kế hoạch thực hiện phổ cập
trung học cơ sở tỉnh Quảng Trị (2001 - 2005)” Kế hoạch đã đề ra những mục
tiêu cụ thể sau:
- Củng cố, phát huy kết quả chống mù chữ và phổ cập GDTH; tiếp tục chỉ đạo xóa mù chữ, phổ cập GDTH, đặc biệt 2 huyện miền núi Đakrông và Hướng Hóa
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện THCS; giảm tỉ lệ lưu ban, bỏ học; đảm bảo số học sinh THCS đi học trong độ tuổi đạt 90% vào năm 2005
và 95% vào năm 2010; về cơ bản không còn trẻ em bước vào 15 tuổi bị mù chữ vào năm 2010; tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt từ 90% trở lên
- Các huyện - thị xã: Vĩnh Linh, Gio Linh, Đông Hà, Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Cam Lộ quyết tâm đạt chuẩn phổ cập THCS vào năm
2003 và 2 huyện Đakrông, Hướng Hóa vào năm 2005
Trang 34Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XIII, các Nghị quyết Quốc hội khóa X về giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Trị đã chọn chủ đề hàng năm để tập trung chỉ đạo thực hiện
- Năm 2001: Năm Giáo dục của tỉnh Quảng Trị
- Năm 2002: Đổi mới thi tốt nghiệp Tiểu học
- Năm 2003:Tổ chức giáo viên tình nguyện làm phổ cập giáo dục vùng khó
- Năm 2004: Toàn tỉnh hợp lực giúp vùng khó làm giáo dục THCS
- Năm 2005: Đề án phát triển giáo dục Mầm non
- Năm 2006: Chất lượng dạy - học, chất lượng phổ cập giáo dục vùng khó
- Năm 2007: Nâng cao chất lượng quản lí giáo dục, thực hiện cuộc vận
động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”
- Năm 2008: Năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lí tài chính, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
- Năm 2009: Năm đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục - Xây dựng công trình vệ sinh nước sạch
Đây là cách làm sáng tạo, phù hợp với giáo dục ở những vùng có xuất phát điểm thấp, khó khăn khách quan nặng nề Mỗi năm một chủ đề nhưng cùng thống nhất trong chương trình mục tiêu đổi mới sự nghiệp GD - ĐT của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Quảng Trị
Bên cạnh đó, ngành GD - ĐT cũng đã đề ra những kế hoạch cụ thể cho giai đoạn 2001 - 2005:
Thứ nhất, Tiếp tục sắp xếp, củng cố và phát triển mạng lưới trường, lớp
- Tiếp tục bổ sung quy hoạch mạng lưới trường, lớp; phát triển quy mô phù hợp với tình hình KT - XH ở từng địa bàn và nhu cầu học tập của con em nhân dân Thực hiện tốt quyết định 161/QĐ-TTg về phát triển giáo dục mầm
Trang 35non; củng cố, nâng cấp và phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, huyện; nâng cấp các trung tâm GDTX, trung tâm Kỹ thuật tổng hợp HNDN, thành lập thêm một số trường THPT ở những địa phương có điều kiện Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, ngành học
- Phát triển Trường CĐSP theo hướng đa ngành, đa hệ Tập trung đầu tư xây dựng Trường Dạy nghề tổng hợp tỉnh Đồng thời, đa dạng hoá các loại hình đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đào tạo nghề trong tỉnh
Thứ hai, Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả
- Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy - học theo tinh thần đổi mới giáo dục phổ thông Tăng cường giáo dục toàn diện, gắn việc trang bị tri thức với đạo đức lối sống, gắn kiến thức tự nhiên với kiến thức xã hội; chú trọng giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của quê hương Chú ý hạn chế tối đa tệ nạn học đường, nhất là tệ nạn ma tuý
- Tập trung đầu tư nâng cấp chất lượng giáo dục mũi nhọn từ công tác phát hiện, tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng tại trường THPT chuyên đến chế độ chính sách nhằm đào tạo nhân tài tương lai cho tỉnh và đất nước
- Củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập GDTH - Chống mù chữ, thực hiện phổ cập đúng độ tuổi; phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào năm 2005
Thứ ba, Tiếp tục bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên
- Tổ chức quán triệt và triển khai trong toàn ngành Chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đề án của Chính phủ về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo trong sạch, vững mạnh và chuẩn hoá, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Trang 36- Triển khai thực hiện có chất lượng việc bồi dưỡng giáo viên thay sách giáo khoa lớp 1, 2, 3, 6, 7, 8 và các lớp tiếp theo cấp THPT Thực hiện bồi dưỡng chu kỳ và thường xuyên; bồi dưỡng đạt chuẩn và trên chuẩn Hàng năm, ngành cử giáo viên đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và chuẩn hoá giáo viên mầm non, giáo viên phổ thông theo kế hoạch
- Tiếp tục thực hiện sâu rộng cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương - Tình
thương - Trách nhiệm” trong đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
góp phần nâng cao tâm huyết và trách nhiệm với nghề, với học sinh
Thứ tư, Huy động nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất trường học
- Tiếp tục huy động nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho giáo dục để xây dựng, mua sắm cơ sở vật chất trường học Triển khai thực hiện tốt quyết định 159/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kiên
cố hoá trường lớp học
- Thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu, các nguồn lực huy động
để tăng cường cơ sở vật chất trường học, đặc biệt là miền núi và vùng khó
- Xây dựng kế hoạch ngân sách và thực hiện có hiệu quả để phát triển giáo dục Tăng tỉ trọng chi cho giáo dục phù hợp với khả năng phát triển kinh
tế của tỉnh
Thứ năm, Thực hiện công tác phổ cập giáo dục THCS
- Bên cạnh việc duy trì kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, toàn ngành tập trung thực hiện phổ cập giáo dục THCS nhằm phấn đấu
đạt mục tiêu hoàn thành “Kế hoạch thực hiện phổ cập trung học cơ sở tỉnh
Quảng Trị (2001 - 2005)”
- Với tư cách là cơ quan thường trực trong công tác phổ cập giáo dục THCS, Sở GD- ĐT đã có công văn số 1147/2002/GDTX ngày 31/12/2002
“Về việc hướng dẫn CBGV tham gia công tác phổ cập giáo dục THCS” Sở đã
tổ chức tập huấn về công tác phổ cập giáo dục THCS cho toàn thể CBGV
Trang 37trong tỉnh Thực hiện phương châm “Một hội đồng, hai nhiệm vụ”, mỗi
CBGV vừa thực hiện việc dạy tốt, vừa là thành viên tích cực cho công tác phổ cập giáo dục THCS
Thứ sáu, Chú trọng phát triển giáo dục cho vùng dân tộc ít người, vùng
sâu, vùng xa
Phát huy sức mạnh nội lực tại chỗ; đồng thời tập trung sức mạnh cả tỉnh giúp Hướng Hoá, Đakrông và một số xã vùng khó hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào năm 2005 Phát triển các trường dân tộc nội trú, thành lập trường đào tạo cán bộ miền núi, thực hiện tốt chế độ cử tuyển đối với học sinh người dân tộc thiểu số Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số Xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng để nâng cao kiến thức phổ thông, kiến thức khoa học cho đồng bào dân tộc Tiếp tục xây dựng nhà ở cho giáo viên miền núi
Thứ bảy, Đổi mới công tác quản lý giáo dục
Sở GD - ĐT tỉnh Quảng Trị chỉ đạo trong toàn ngành thực hiện đổi mới công tác quản lý, thực hiện phân cấp quản lý giáo dục nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, tạo điều kiện tốt hơn để cán bộ quản lý các cấp phát huy tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục của đơn vị, nhà trường
Bồi dưỡng năng lực quản lý cho cán bộ quản lý các cấp là khâu đột phá thực hiện đổi mới quản lý giáo dục Tăng cường thanh tra, kiểm tra, tăng khảo sát, đảm bảo chất lượng Kiện toàn đội ngũ công tác thanh tra chuyên ngành, đưa các hoạt động thanh tra vào nề nếp, tăng cường thanh tra chuyên môn
Thứ tám, Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá giáo dục là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về phát triển GD - ĐT Quan điểm đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao
Trang 38sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt hàng ngàn năm lịch sử
Vì vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, đoàn thể, các lực lượng xã hội chăm lo phát triển sự nghiệp GD - ĐT về xây dựng môi trường giáo dục, huy động nguồn lực và công tác quản lý giáo dục Xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng Tăng cường hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, Hội Khuyến học, Hội cha mẹ học sinh Phối kết hợp chặt chẽ giữa Nhà trường - Gia đình - Xã hội Tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực
GD - ĐT
Như vậy, trên tinh thần quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển GD - ĐT trong 5 năm đầu thế kỷ XXI Được sự chỉ đạo trực tiếp, sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và Bộ GD - ĐT…Sở GD -
ĐT Quảng Trị đã chỉ đạo thống nhất toàn ngành thực hiện tốt các nhiệm vụ của từng năm học theo từng chủ đề năm học, góp phần cùng cả nước thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục theo định hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa” do Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra
Một số kết quả đạt được
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, sự phối hợp chặt chẽ của
các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh nhà đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Về kết quả của việc thực hiện “Năm Giáo dục - 2001”
Kết thúc “Năm Giáo dục - 2001”, ngành GD - ĐT Quảng Trị đã đạt
được nhiều kết quả to lớn trên nhiều mặt Trên địa bàn toàn tỉnh quy mô các
ngành học, bậc học liên tiếp được củng cố và phát triển Hệ thống mạng lưới trường lớp được tiếp tục điều chỉnh phù hợp với quy mô phát triển từng vùng, miền, đặc biệt đã thành lập thêm 3 trường THPT ở vùng khó, vùng chiến khu
Trang 39cách mạng và vùng cao, nhờ vậy đã đáp ứng được cơ bản yêu cầu phát triển,
số lượng học sinh được huy động đạt tỉ lệ cao Năm học 2001 - 2002 tăng gần
8000 học sinh so với năm học trước , trong đó Mẫu giáo huy động 60,6%, riêng số trẻ 5 tuổi đạt tỷ lệ 94,7%; Tiểu học đạt tỷ lệ 95,3%, riêng trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt tỷ lệ 96, 21%; THCS đạt tỷ lệ 89,78% Công tác phổ câ ̣p GDTH
- Chống mù chữ tiếp tục được duy trì, củng cố và nâng cao; có 136 xã, phường, thị trấn (100%) đạt chuẩn phổ cập tiểu học Công tác phổ cập THCS được đẩy mạnh có 69/136 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS đạt tỷ
lệ 50,73%; có 3 đơn vị (thị xã Quảng Trị, Đông Hà và huyện Hải Lăng) đạt chuẩn phổ cập THCS Chất lượng và hiệu quả giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học, các loại hình đào tạo đều có chuyển biến và tiến bộ rõ rệt, tỷ lệ học sinh xếp đạo đức tốt và văn hóa giỏi tăng đáng kể Đặc biệt qua kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 có 290 em đạt giải cao; lớp 9 có 420 em đạt giải kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh Có 6 giải học sinh giỏi cấp quốc gia trong đó có 1 giải nhất Tin học
Thành tựu đáng ghi nhận trong “Năm Giáo dục - 2001” là đội ngũ CBGV đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng; đã tuyển chọn mới 557 giáo viên, từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên nhất là ở vùng sâu, vùng xa Chất lượng giáo viên được tăng lên đáng kể, phong trào giỏi việc trường, đảm việc nhà thường xuyên được duy trì; qua các hội thi giáo viên giỏi cấp tỉnh với 250 giáo viên dự thi có 80% đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh Công tác phát triển Đảng trong CBGV đã được ngành chú trọng, chỉ riêng trong năm 2001 có trên 500 giáo viên được kết nạp vào Đảng, nâng tổng số đảng viên trong toàn ngành lên 2.277 đồng chí, chiếm 28% (so với tổng số CBGV trong toàn ngành), (Năm 1995 có 872 đảng viên (15%),
Trang 40năm 2000 có 1765 đảng viên (23,97%)) Đã có 258/327 trường công lập có chi bộ Đảng riêng
Kết quả lớn nhất của “Năm Giáo dục” Quảng Trị là thành công của chủ trương “xã hội hóa” xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học Thực hiện chủ trương “cao tầng hóa”, chỉ tiêu đề ra là xây dựng 21 trường cao tầng nhưng sau 1 năm thực hiện đã có 48 trường cao tầng được xây dựng, vượt hơn 2 lần so với kế hoạch đề ra Nhận thức đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, vì vậy mặc dù trong năm 2001 ngân sách của tỉnh gặp nhiều khó khăn, chỉ tiêu thu không đạt, song ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục hơn 108,863 triệu đồng, đạt 35,5% so với nguồn chi ngân sách Nhà nước Đặc biệt, tổng vốn đầu tư xây dựng trường trong “Năm Giáo dục” là 44,234 triệu đồng Ngoài ra, ngành GD - ĐT đã đầu tư xây dựng 200 công trình lớn nhỏ (thư viện, phòng máy vi tính, phòng học ngoại ngữ, phòng bộ môn ) với tổng đầu tư hàng tỉ đồng…
Những thành quả bước đầu trong “Năm Giáo dục - 2001” là tiền đề rất quan trọng, tạo đà phát triển vững chắc cho sự nghiệp GD - ĐT trong những năm tiếp theo
Kết quả đạt được trong những năm học từ 2002 đến 2005
1 Quy mô giáo dục tiếp tục phát triển; mạng lưới trường, lớp được điều chỉnh theo hướng hợp lý, phù hợp với điều kiện vùng, miền
Số lượng học sinh các ngành học, cấp học đều tăng qua hàng năm Từ năm 2001 đến 2005, gắn liền với quá trình phát triển KT - XH của vùng miền, mạng lưới trường lớp đã tăng và phân bố khá đều để có thể đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân