1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH tại các DI TÍCH LỊCH sử văn hóa TỈNH NGHỆ AN

89 36 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hoạt Động Du Lịch Tại Các Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Tỉnh Nghệ An
Người hướng dẫn ThS. Dương Thị Vân Anh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-hình thành nên tính cách của con người nơi đây anh dũng , kiên cường bấtkhuất đã được ghi danh qua các cuộc kháng chiến chống pháp, chống mỹ.Nghệ an được mệnh danh là mảnh đất “ Địa lin

Trang 1

Trờng đại học vinh KHOA LịCH Sử

Trang 2

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

‐‐‐‐‐‐‐‐*****‐‐‐‐‐-‐‐‐

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HểA TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành việt nam học

Giáo viên hớng dẫn: Ths Dơng Thị Vân Anh

Vinh, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và để hoàn thành đề tài nghiên

cứu này là nhờ sự định hướng và giúp đỡ tận tình của cô giáo Th.s Dương Thị Vân Anh cùng toàn thể quý thầy cô giáo trong khoa lịch sử trường đại

học vinh với sự nổ lực , cố gắng hết mình của bản thân và sự động viênkhích lệ của gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện cho em được hoàn thành tốtkhóa luận tốt nghiệp của mình

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáohướng dẫn Th.s Dương Thị Vân Anh và các thầy cô giáo trong khoa lịch sửlời cảm ơn chân thành nhất

Em cũng gửi lời cảm ơn đến các cán bộ của thư viện tỉnh nghệ an , thưviện Nguyễn Thúc Hào _ trường Đại Học Vinh, ban quản lý di tích tỉnh Nghệ

An cũng như các cá nhân đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu liênquan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên , hơn nữa là em còn là một sinhviên bước đầu tập nghiên cứu nên sẽ có nhiều thiếu sót và nhiều điều cầnđược chỉ dạy và học hỏi nhiều từ quý thầy cô và các bạn sinh viên Vì vậy emmong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các bạn để từng bướchoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Vinh ,tháng4 năm 2014.

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Vinh, 2014 2

A PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài.

Nghệ An thuộc khu vực miền trung là điểm nối giữa hai trục Bắc Nam của hình chữ S Nó được ví như chiếc đòn gánh nặng ở hai đầu màphần ở giữa là nơi chịu nhiều khó khăn nhất.Những khó khăn khắc nghiệt đã

Trang 5

-hình thành nên tính cách của con người nơi đây anh dũng , kiên cường bấtkhuất đã được ghi danh qua các cuộc kháng chiến chống pháp, chống mỹ.

Nghệ an được mệnh danh là mảnh đất “ Địa linh - nhân kiệt “

Nghệ An là một trong những địa chỉ văn hoá đặc biệt của cả nước với

hệ thống di tích - danh thắng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, có niênđại trải dài từ thời khởi thuỷ con người có mặt trên trái đất đến ngày nay Trong con mắt của các nhà chiến lược, Nghệ An là “phên dậu” củanước nhà với địa bàn trọng yếu về quốc phòng, từng là căn cứ địa vững vàngcủa nhiều cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc

Nghệ An là quê hương của nhiều anh hùng hào kiệt mà tên tuổi và sựnghiệp còn vang mãi với non sông đất nước Đó là Mai Thúc Loan, Nguyễn

Xí, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu Nơiđây cũng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài củacách mạng Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới Nghệ An là quê hương củacao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng đã viết nên trang sử vàng rạng rỡ mởđầu cho lịch sử cách mạng Việt Nam

Hệ thống di tích - danh thắng Nghệ An được sinh ra và nuôi dưỡngbằng tín ngưỡng, đạo lý và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sứcsống, sức lan tỏa lâu bền, mãnh liệt Từ những di tích khảo cổ, di tích lịch sử,kiến trúc nghệ thuật, cách mạng, danh nhân hay di tích - danh thắng đều phảichống đỡ với sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên khắc nghiệt và củacon người (cả kẻ thù và cả những người dân thiếu ý thức trách nhiệm) Mặc

dù có những biến cố trong lịch sử , song nhìn chung, từ các triều đại phongkiến Việt Nam đến chế độ ta hiện nay, nhân dân vẫn nhận thức được rằng: ditích - danh thắng là một trong những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyềnthống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ Vì thế, nhiều di tích được xây dựng sớm,bảo vệ và tôn tạo chu đáo (tiêu biểu: đền Cuông, đền Còn, đền thờ và miếu

mộ Mai Hắc Đế, đền Quả Sơn, đền Bạch Mã, khu di tích Kim Liên )

Trang 6

Đặc biệt, từ khi có Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá

và danh lam thắng cảnh của Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ban hành (năm 1984) đến nay, ngành Văn hóa - Thông tin đã

có nhiều biện pháp để bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của các di tích, gópphần vào giáo dục truyền thống, chấn hưng văn hoá dân tộc

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử , hệ thống di tích lịch sử vănhóa nghệ an không còn nguyên vẹn như ban đầu , một số di tích bị phá vỡhoàn toàn do chiến tranh chỉ còn là phế tích, một số di tích hiện nay khôngcòn nữa vì vậy việc phục dựng, trùng tu, tôn taọ các di tích có giá trị là việclàm hết sức cần thiết nhằm trả lại diện mạo cũng như giá trị lịch sử văn hóacủa di tích.Đồng thời cùng với việc trùng tu tôn tạo kết hợp với việc khai thácphát triển thành sản phẩm du lịch, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

Với ý nghĩa đó, lại là người con của xứ nghệ tôi chọn đề tài : “ Đánh giá hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh nghệ an” Với

mong muốn trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh nghệ an

để từ đó đề xuất những kiến nghị giải pháp nhằm góp phần vào sự phát triểncủa hoạt động du lịch trong tương lai của quê hương

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu và nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa của Nghệ An khôngchỉ là sự quan tâm của các ban, nghành có liên quan mà từ lâu đã nhận được

sự chú ý của các nhà nghiên cứu khoa học Đã có nhiều công trình nghiêncứu, luận văn, báo chí, tạp chí…có đề cập đến một trong những di tích của hệthống di tích lịch sử - văn hóa Nghệ An

Dưới đây tôi xin đơn cử một số công trình nghiên cứu sau :

-Trần Thị Phượng, ” Nghệ An, di tích – danh thắng “ ,sở văn hóa thôngtin Nghệ An , xuất bản 2001

-Đào Tam Đỉnh, “Tìm trong di sản văn hóa xứ nghệ” , xuất bản 2010.-Nguyễn Đổng Chi (chủ biên ),” Địa chí văn hóa dan gian Nghệ Tĩnh”,NXB Nghệ An, 1995

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động du lịchtại các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An, tìm hiểu và đánh giá các giá trịnổi bật của các di tích và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huycác giá trị lịch sử, văn hóa

Khai thác các di tích lịch sử trở thành sản phẩm du lịch tâm linh thu hútkhách du lịch

Phạm vi nghiên cứu : Do quá trình nghiên cứu hạn chế bởi thời giannên đề tài mang tính chất nghiên cứu một số trường hợp tiêu biểu trong hệthống di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nghệ An( Nam Đàn – thành phố vinh) đượccông nhân là di tích cấp quốc gia

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu.

Tài liệu thành văn: Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, Đề tài sử dụngcác nguồn tài liệu thành văn gồm các công trình nghiên cứu về di tích lịch sửvăn hóa ở Nghệ An và các tài liệu có liên quan đến đói tượng và phạm vinghiên cứu của đề tài.trong đó chủ yếu là:

Trang 8

+ Các sách giáo trình về văn hóa, du lịch được dùng giảng dạy, học tậptrong các trường đại học, cao đẳng ở việt nam.

+ Các bài viết có liên quan trên các website

+ Các công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa

+Các bài nghiên cứu về các lễ hội nói chung và lễ hội ở Nghệ An nóiriêng được công bố trên các tạp chí văn hóa - thể thao - du lịch

+ Một số luận văn cao học, thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học có liênquan

Tài liệu điền dã: chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa và điều tra vàphỏng vấn một số đối tượng có liên quan để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu, qua

đó nhằm đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Nghệ An Từ đó, để đưa ra những đánh giá khách quan và cái nhìnchân thực về vấn đề nghiên cứu

-4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình thực hiện đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:

Phương pháp điền dã thông qua các cuộc khảo sát thực tế các di tíchlịch sử văn hóa bằng cách quan sát, phỏng vấn, điều tra bảng hỏi…

Phương pháp thống kê các tài liệu về các di tích lịch sử văn hóa của đềtài là tiền đề cho phương pháp sau này

Phương pháp đối chiếu là sau khi tổng hợp được các tài liệu của đề tàithì tiến hành phương pháp đối chiếu với các tài liệu khác để có những đánhgiá xác thực

Phương pháp so sánh là thông qua bảng hỏi và các tài liệu cụ thể của đềtài thì bắt đầu so sánh kết quả và tỷ lệ phần trăm

5 Đóng góp của đề tài.

Đánh giá các di tích lịch sử - văn hóa nhằm có cái nhìn khái quát, toàndiện về các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần đánhgiá một cách khách quan về hệ thống di tích trong hoạt động du lịch để đưa ra

Trang 9

một số giải pháp nhằm thúc đẩy nghành du lịch phát triển đồng thời giữ gìn

và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của các di tích lịch sử văn hóa

6 Bố cục của đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An

Chương 2 : Thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa.Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TỈNH NGHỆ AN

1.1 khái quát về điều kiện tự nhiên , dân cư và lịch sử hình thành.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư.

Nghệ an có Diện tích: 16.493,686 km2 Dân số: 3.113.055( theo điều tra dân số năm 2013) người Nghệ An bao gồm các Dân tộc: Việt (Kinh), Khơ

Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu, tộc người Đan Lai

Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phốVinh; Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương,

Trang 10

Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, HưngNguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.

Khí hậu - Thời tiết

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếpcủa gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùaĐông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)

Nhiệt độ trung bình là 24,2oC, cao hơn so với trung bình hàng năm là0,2o C

Tổng lượng mưa trong năm là 1.610,9mm,Độ ẩm trung bình hàng nămlà: 84%, độ ẩm thấp nhất là 42% vào tháng 7

Tổng số giờ nắng trung bình 1696 giờ Ngoài ra còn xuất hiện sươngmuối, mùa bão vào các tháng 7, 8, 9, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinhhoạt của người dân

Sông ngòi

Trang 11

Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trungbình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyệnMường Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đấtNghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ

An là 17.730 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó14,4.109 là nước mặt

Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất vàphục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân

Biển, bờ biển

Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáybiển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát.Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợithế cho việc phát triển nhành du lịch ở Nghệ An

Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việcvận tải biển, phát triển cảng biển và nghề làm muối (1000 ha)

1.1.2.Lịch sử hình thành.

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An

và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóagọi là văn hóa Lam Hồng , có chung biểu tượng là núi Hồng và sông Lam,mặc dù núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh và sông Lam nằm ở ranhgiới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh Trung tâm của Xứ Nghệ nằm ở hai bên dòngsông Lam là phủ Đức Quang và phủ Anh Đô khi xưa, tức là các huyện HươngSơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của Hà Tĩnh và cáchuyện Thanh Chương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn,

Đô Lương, Anh Sơn của Nghệ An ngày nay

Danh xưng Nghệ An có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu ThiênThành thứ hai Lúc đó gọi là trại Nghệ An, sau đó thì đổi thành châu Nghệ An

Trang 12

rồi Nghệ An thừa tuyên Năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đứcthứ 21) đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt là xứ Nghệ)đồng thời với các đơn vị hành chính khác lúc bấy giờ như: xứ Kinh Bắc, xứSơn Nam, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Thanh Hóa, xứ Lạng Sơn Năm 1831, thờivua Minh Mệnh, Xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Năm

1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh

Sắp tới đây, thành phố Vinh sáp nhập một số huyện của Nghệ An và HàTĩnh như Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Xuân và trở thành đô thịloại một trực thuộc trung ương Lúc đó Xứ Nghệ sẽ bị chia thành 3 đơn vịtrực thuộc trung ương

Nghệ An là một mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhàkhoa bảng, nhà khoa học, nhà văn nổi tiếng như Hồ Chí Minh, Phan BộiChâu, Mai Hắc Ðế, thi sĩ Hồ Xuân Hương Cũng như các tỉnh khác của ViệtNam, truyền thống văn hóa của tỉnh rất phong phú Là một tỉnh có nhiều dântộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều mang một bản sắc văn hóa, ngôn ngữriêng giàu truyền thống

Nghệ An là xứ sở của nền văn hóa dân gian đặc sắc với những điệu hò,hát phường vải, hát đò đưa Du khách đến với bất kỳ lễ hội nào của tỉnhNghệ An đều có thể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc này

Các dân tộc ít người của tỉnh Nghệ An có những loại hình âm nhạcriêng Dân tộc Khơ-mú có âm nhạc nữ đuổi chim thú, nhạc khí gắn trên gậychọc lỗ, tra hạt Thăm đao là loại nhạc cụ bằng tre nứa; đàn môi được chế tạobằng những mảnh cật tre vót mỏng Ngoài ra họ còn có nhiều loại sáo, khèn Còn người H'Mông lại có nhiều loại khèn và đàn môi để bày tỏ tình cảm, cangợi vẻ đẹp của cuộc sống, của quê hương đất nước

Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sôngnước như lễ hội Cầu Ngư, Rước Hến, Ðua thuyền Lễ hội làm sống lạinhững kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm

đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen Miền

Trang 13

núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ mừng nhà mới, lễ uốngrượu cần.

1.2.Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An

được hiểu như sau:

Di: đi lại, rớt lại, để lại

Tích: tàn tích, dấu vết

Di tích: tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ

Theo từ điển của Đại từ điển tiếng việt do trung tâm ngôn ngữ và văn hóa

Việt Nam – Bộ Giáo Dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn

hóa - Thông tin xuất bản năm 1998 thì Di tích LSVH:“ Tổng thể những công trình , địa điểm,đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại”.

Theo luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2001, thì : “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.

Theo luật Di sản văn hóa, để được coi là một di tích lịch sử - văn hóachúng phải thỏa mãn năm tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất: Di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây dựng,

địa điểm gắn với các sự kiện tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữnước của dân tộc tiêu biểu như: đền thờ vua quang trung, đền thờ Mai HắcĐế…

Tiêu chí thứ hai: Di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây dựng, địa

điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất

Trang 14

nước trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử của dân tộc: ví dụ như khu ditích kim liên (Nam Đàn – Nghệ An) gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân vănhóa thế giới Hồ Chí Minh Di tích lưu niệm Phan Bội Châu, khu lưu niêm LêHồng Phong….

Tiêu chí thứ ba: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm

gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng, kháng chiến tiêubiểu Ngã Ba Bến Thủy, Cồn Mô, Truông Bồn, cụm di tích Làng Đỏ HưngDũng…

Tiêu chí thứ tư: Di tich lịch sử - văn hóa là địa điểm có giá trị tiêu biểu về

khảo cổ phản ánh tiến trình phát triển của lịch sử tộc người, của quốc gia, dântộc Tiêu biểu như văn hoá Sơn Vi như Đồi Dùng, Đồi Rạng (Thanh Chương).Trong nhiều hang động ở các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân

Kỳ, Con Cuông, Tương Đương đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ họcthuộc văn hoá Hòa Bình Cồn Sò Điệp (Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu) là di chỉkhảo cổ học tiêu biểu của thời kỳ đá mới có niên đại cách ngày nay 2000 đến

2500 năm…

Tiêu chí thứ năm: Di tích lịch sử - văn hóa là quần thể kiến trúc hoặc

công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của mộthoặc nhiều giai đoạn trong lịch sử tiêu biểu như: đền hồng sơn, thành cổvinh…

Hiện nay, Nghệ An còn 474 di tích lịch sử, trong đó 89 di tích đã đượcxếp hạng quốc gia Một số di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như:

Khu di tích Kim Liên: Khu di tích Kim Liên gắn với thời niên thiếu củaChủ tịch Hồ Chi Minh Nơi đây còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu

bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình, Cáchtrung tâm Tp Vinh 12 km về phía Tây Nam

- Khu di tích Mai Hắc Đế: (ở huyện Nam Đàn) Nằm trong quẩn thể du

lịch núi Đụn, hiện có 3 hạng mục công trình tiêu biểu đó là: đền thờMai Hắc Đế, lăng mộ Mai Hắc Đế và mộ mẹ vua Mai

Trang 15

- Đền Cuông - An Dương Vương: Cách thành phố Vinh chừng 30 km

về phía Bắc, theo quốc lộ 1A, ngôi đền nằm bên sườn núi Mộ Dạ (còn

có tên là Dạ Muỗi) Là nơi thờ Thục An Dương Vương cùng vớitruyền thuyết cây nỏ thần Ngày 15 tháng 02 âm lịch hàng năm làngày lễ hội đền Cuông được nhân dân tổ chức trọng thể

- Di tích đình Hoành Sơn (Khánh Sơn - Nam Đàn)

- Di tích đình Trung Cần (Nam Trung - Nam Đàn)

- Di tích đền Cờn (Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu) Cách thành phố Vinh

chừng 75 km

- Di tích đền thờ - mộ Nguyễn Xí (Nghi Hợp - Nghi Lộc)

- Di tích thành cổ Vinh (Tp Vinh)

- Di tích đền Hồng Sơn (phường Hồng Sơn - Tp Vinh)

- Di tích nhà đồng chí Lê Hồng Phong (Hưng Thông - Hưng Nguyên).

Cách thành phố Vinh chừng 8 km

- Khu di tích Bến Thuỷ (Tp Vinh)

- Di tích đền Bạch Mã (Võ Liệt - Thanh Chương) Cách thành phố Vinh

chừng 50 km

- Di tích đền Quả Sơn (Bồi Sơn - Đô Lương)

- Di tích đình Võ Liệt (Võ Liệt - Thanh Chương)

- Di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9 (Thái Lão - Hưng Nguyên)

- Di tích đền ông Hoàng Mười (Hưng Thịnh - Hưng Nguyên) Cách

thành phố Vinh chừng 2 km

- Cụm di tích Xứ uỷ làng Đỏ Hưng Dũng (Hưng Dũng - TP Vinh)

- Nghĩa trang liệt sỹ Việt Lào (Anh Sơn)

- Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu)

- Di chỉ khảo cổ học Đồng Mõm (Diễn Thọ - Diễn Châu)

1.2.3 Các loại Di tích lịch sử - văn hóa.

Hiện nay ,trên địa bàn Nghệ An có các loại hình di tích

Trang 16

Di tích lịch sử được chia làm 3 loại: di tích lịch sử văn hoá, di tích cách mạng

và di tích lưu niệm danh nhân

Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồvật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cùng với giátrị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình pháttriển văn hóa, xã hội tiêu biểu có đền cuông, đền thờ Mai Thúc Loan, đềnBạch Mã, đền thờ Nguyễn Xí, núi Lam Thành, núi Dũng Quyết - PhượngHoàng Trung Đô, thành cổ Vinh Di tích lịch sử Nghệ An phản ánh lịch sửđấu tranh dựng nước và giữ nước của người dân xứ Nghệ trong từng giai đoạnlịch sử của dân tộc; đồng thời, qua hệ thống di tích này, chúng ta có thể hiểu

và khẳng định vai trò, vị trí của Nghệ An trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Di tích cách mạng là di tích ghi dấu những cơ sở cách mạng, nhữngphong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ An dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản Việt Nam Tiêu biểu cho loại hình di tích này ở Nghệ An là hệthống di tích Xô Viết Nghệ Tích như: mộ các chiến sỹ hy sinh trong ngày 12/9

ở Thái Lão - Hưng Nguyên; đình Võ Liệt; đình Quỳnh Đôi, làng Đỏ HưngDũng di tích Tràng Kè ở Yên Thành; di tích nhà cụ Vi Văn Khang ở Môn Sơn,Con Cuông; Ngã ba Bến Thuỷ Những di tích thời kỳ chống Mỹ cứu nướctiêu biểu có Truông Bồn, cột mốc số 0 - đường mòn Hồ Chí Minh

Di tích lưu niệm danh nhân: thiên nhiên và con người xứ Nghệ luôngắn bó với nhau Thiên nhiên cùng lịch sử đã hun đúc nên con người xứNghệ Nhà thơ, nhà yêu nước Nguyễn Xuân Ôn từng thốt lên:

“Non nước Châu Hoan đẹp tuyệt với Sinh ra trung nghĩa biết bao người ”

Những con người xứ Nghệ đã góp công sức, trí tuệ của mình tạo cho vănhoá xứ Nghệ có bản sắc dân tộc độc đáo Đó là những con người mang trongmình những đức tính: Khi xông pha lửa đạn thì anh dũng hy sinh, khi chịuđựng gian khổ thì gan góc lầm lì; khi theo việc lớn, việc nghĩa thì thuỷ chungson sắt Chính họ đã hy sinh trọn cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc tự

Trang 17

do của nhân dân và đã để lại cho quê hương một hệ thống các di tích lưu niệmdanh nhân Trong số 26 di tích lưu niệm danh nhân, tiêu biểu: Khu di tích lưuniệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Kim Liên, nhà cụ Phan Bội Châu ở Nam Đàn,nhà đồng chí Lê Hồng Phong ở Hưng Nguyên, nhà đồng chí Phan Đăng Lưu

ở Yên Thành, nhà thờ cụ Hồ Án Nam và nhà Hồ Tùng Mậu ở Quỳnh Lưu Hầu hết các di tích lưu niệm danh nhân của Nghệ An đều được bảo tồn

và phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Đặc biệt, Khu

di tích Kim Liên hàng năm phục vụ hàng chục triệu lượt khách thập phươnghành hương về quê Bác

Di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình văn hóa có kiến trúc cổ,đẹp,thường là những ngôi đình, đền, chùa, miếu có giá trị tiêu biểu trong cácgiai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc, ví dụ: đền hồng sơn, đềnquang trung, đền thờ vua Mai…

Danh lam thắng cảnh là những cảnh quan thiên nhiên, địa điểm có sự kếthợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử,thẩm mỹ, tiêu biểu như: núi Quyết và khu vực phượng hoàng trung đô, khu ditích Kim Liên…

Yếu tố xây dựng đầu tiên là cần có vị trí đẹp, cao ráo, có thể hội tụ đầy

đủ linh khí của trời đất với không gian thoáng đãng và yên bình,hài hòa vớithiên nhiên nên kiến trúc thường có sự kết hợp giữa “kiến trúc đóng” và “kiếntrúc mở” Kết cáu thường có sự kết hợp hài hòa giữa âm và dương, có trước

có sau, có cảnh trí hai bên cân đối Hầu hết các công trình kiến trúc thường

Trang 18

không đồ sộ mà có quy mô vừa và nhỏ.Bố cục giản di, mộc mạc , nhẹ nhàng ,thanh thoát, ít có nhũng hình thức nặng nề, lòe loẹt , rườm rà phô trương.

Đền, Chùa là kiến trúc phật giáo thường được xây dựng trên mảnh đấthội tụ khí thiêng của đất trời, vị trí đẹp, hài hòa giữa các yếu tố: thiên, nhân,địa,có khung cảnh tĩnh lặng Kiến trúc thường bao gồm cổng tam quan, sânchùa, nhà bái đường, chính điện và hậu đường Ngoài ra còn có vườn cây, aosen, giếng.Về đại thể, kiến trúc bên ngoài của đền cũng có những đặc điểm cơbản giống với chùa, chỉ khác về nội dung thờ cúng

Khác với đền, chùa thì đình thường lấy vị trí trung tâm, có kiến trúcđơn giản hơn Đình thường là một ngôi nhà to, rộng, có 3 đến 5 gian, xâydựng bằng những cột lim to, tròn và thẳng, tường xây bằng gạch, mái lợpngói mũi hài.Gian giữa thờ thành hoàng làng, có một chiếc trống cái dùng đểtập trung quần chúng khi hội họp Phía trước đình là mội cái sân rộng, là nơi

tổ chức các sự kiện quan trọng của làng

Miếu có quy mô nhỏ hơn đền, thường tọa lạc nơi yên tĩnh, thiêng liêng,

xa khu dân cư, là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần Miếu thường có 3 gian,không có nhà tả, hữu, sân nhỏ, không có tam quan Đối tượng thờ cúng rất đadạng Miếu cũng là nơi thờ những người có công với non song đất nước

Thành lũy được xây dựng theo kiến trúc phòng ngự, phục vụ chủ yếucho mục đích quân sự, quốc phòng Bố cục thành lũy có các dạng khác nhaunhư hình vuông, đa giác… vật liêu xây dựng rất đa dạng gồm: đất, đá, gạch,vôi vữa kiến trúc lăng mộ là những công trình lăng tẩm, mộ táng của nhữnganh hùng dân tộc, người có công to lớn với dân với nước

Mỗi công trình là kết quả của một quá tả trình sáng tạo cuả nhân dân tatrong suốt thời kỳ lịch sử, thể hiện tài hoa, trình độ thẩm mỹ, điêu khắc củacha ông trong lịch sử

Trang 19

Chương 2 : ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH NGHỆ AN.

2.1 Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu.

2.1.1 Đền Quang Trung.

Đền Quang Trung tọa lạc trên núi Dũng quyết là một trong những côngtrình tiêu biểu của Lâm viên Núi Dũng Quyết và khu vực Phượng HoàngTrung Đô

2.1.1.1 Danh nhân Quang Trung – Nguyễn Huệ.

NGUYỄN HUỆ (1789 – 1792)

Nguyễn Huệ còn gọi là Hồ Thơm, là con trai của ông bà Hồ Phi Phúc,Nguyễn Thị Đồng, quê ở thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thạnh, huyện Tuy Viễn, phủQuy Nhơn, thường gọi là ấp Tây Sơn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).Cha là Hồ Phi Phúc , Mẹ là Nguyễn Thị Đồng Tổ tiên của Nguyễn Huệ vốngốc họ Hồ ở xã Quỳnh Đôi , Huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, sau di cư về xãThái Lão, nay thuộc Xã Hưng Đạo, huyện Hưng nguyên, tỉnh Nghệ An HồPhi Phúc đi theo nhóm chúa Nguyễn vào vùng miền Nam Trung Bộ, lập cơnghiệp mới ở ấp Tây Sơn, huyện An Khê, đổi sang họ Nguyễn

Gia đình này có ba con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và NguyễnHuệ, trong đó Nguyễn Huệ là em út Lúc nhỏ ông có tên là Hồ Thơm, tức chú

Ba Thơm Cái tên Huệ là do thầy giáo Hiến đặt cho Thầy giáo vốn là ngườiHuế, vào dạy học ở đất An Thái, phát hiện ra tài nǎng của mấy cậu bé này,thường khuyến khích lớp trẻ bằng một câu sấm - không rõ ông lấy từ đâu:

"Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" (nổi lên ở Tây Sơn sẽ lập công lớn ở miềnBắc)

Các tài liệu xưa cho biết Nguyễn Nhạc xuất thân chỉ là một viên biệnlại, thường gọi là biện Nhạc, có nghề buôn trầu Bất bình với sự chuyên quyềncủa Trương Phúc Loan và chúa Nguyễn đàng trong, ông đã cùng các em nổi

Trang 20

dậy, cướp được Quy Nhơn, rồi dựng nên cơ nghiệp nhà Tây Sơn Nǎm 1776,Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn vương, cho Nguyễn Huệ làm phụchính,Nguyễn Lữ làm thiếu phó, xây dựng thủ phủ ở Đồ Bàn

Hai nǎm sau (1778) Nguyễn Nhạc lên ngôi vua, đặt niên hiệu là TháiĐức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm tiếtchế

Trong suốt hơn 20 nǎm đời chinh chiến, Nguyễn Huệ chưa hề chùnbước Ông tin tưởng vào quần chúng biết trọng dụng nhân tài, có niềm tintuyệt vời vào khả nǎng của mình Ông còn là vị danh tướng chỉ đánh thắng,không có bại.Giúp anh là Nguyễn Nhạc, ông đã 4 lần vào đánh Gia Định, bắtNguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) phải mấy phen chạy trốn ra biển Năm 1784, trước nguy cơ sụp đỏ của chính quyền chúa nguyễn ở đangtrong, Nguyễn Ánh đã sang xiêm cầu cứu viện trợ Được tin 5 vạn quân Xiêm– Nguyễn kéo sang nước ta, Nguyễn Nhạc ra lệnh cho Nguyễn Huệ cầm quânmai phục ở đoạn sông Tiền Giang từ Rạch gầm - Xoài Mút và giành đượcthắng lợi

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút đã đi vào lịch sử như những chiếncông hiển hách, một trang quyết chiến tiêu biểu ,một trang sử vàng của dântộc, thể hiện tài năng quân sự và tinh thần chiến đấu kiên cường của nghĩaquân tây sơn

Nǎm 1786, được sự mách nước của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệđem quân kéo vào thăng long, chính quyền chúa Trịnh đã bị lật đổ, trao trảquyền hành cho vua Lê

Năm 1788 , trong lúc chính quyền Vua Lê đang trên đà suy yếu , gặplúc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà thanh, Tôn sĩ nghị dẫn đầu 29 vạnquân thanh chia làm 4 đạo tiến công sang nước ta.Trong bối cảnh đó, NguyễnHuệ chọn ngày, lập đàn tế trời đất, thần sông, thần nước tại núi Bân Sơn( Huế), ngày 22/12 /1788(tức 25/11/năm mậu thân) đăng quang hoàng đế, đặthiệu là Quang Trung và ra quân ngay sau đó Ông tuyên bố: Chỉ trong 10

Trang 21

ngày sẽ quét sạch quân xâm lược và hẹn trước sẽ cùng quân sĩ ǎn tết với nhândân Thǎng Long vào ngày 7 tháng giêng.

Với lực lượng quân đội 10 vạn người, dưới sự lãnh đạo tài tình củaNguyễn Huệ cùng với tinh thần chiến đấu của đội quân chỉ trong 5 ngày đêm,quân tây sơn đã đánh bại quân đội nhà Thanh đông gấp 3 lần, làm nên chiếnthắng Ngọc Hồi – Đống Đa

Để tưởng nhớ sự nghiệp và ông lao vĩ đại của hoàng đế Quang Trung,nhân dân Nghệ An cùng với lãnh đạo đã thông nhất xây dựng đền thờ vuaQuang Trung trên núi quyết, nơi Nguyễn Huệ đóng đô

2.1.1.2 Quá trình xây dựng – kiến trúc.

Theo thần thoại, khi xưa có 100 con phượng hoàng bay qua sông Lamthì có 99 con để lại ngọn Hồng Lĩnh, con thứ 100 chính là núi Quyết

Quang Trung - vị vua nổi tiếng với chiến công đại thắng quân Thanh,một trong những huyền thoại chống giặc ngoại xâm hiển hách nhất của lịch sửdân tộc ta, với tư cách là Bắc Bình Vương đã phát hiện và nhận thấy đây làđịa điểm chiến lược để xây dựng kinh đô, làm gốc rễ sâu bền cho sự phồnvinh của đất nước

Để tỏ lòng biết ơn vị Anh hùng áo vải dân tộc, UBND tỉnh Nghệ An đã

ra quyết định ngày 23/7/2004 xây dựng đền thờ Vua Quang Trung tọa lạc trênđỉnh thứ 2 núi Dũng Quyết có độ cao 97m so với mặt nước biển, thuộc vùngđất linh thiêng được Vua Quang Trung chọn đóng đô cách đây hơn 220 năm

Đền được khởi công xây dựng vào tháng 7/2005 và hoàn thành vàotháng 5/ 2008 Dự án xây dựng đền thờ Quang Trung mang nặng tính đặc thùvăn hóa - lịch sử vì thế, phải có giải pháp kiến trúc phù hợp với mục đích vàyêu cầu của một ngôi đền thờ truyền thống

Kết cấu của công trình gồm có: sân lễ hội, đường lên xuống đền, sânđền chính, sân đền trước, nhà tiền đường, nhà trung đường, nhà hậu cung, nhà

tả vu, hữu vu, nhà nghi môn, hai nhà bia, bình phong, tứ trụ, bia dẫn tích vàcác hạ tầng kỹ thuật khác

Trang 22

Bãi đậu xe cũng đồng thời là sân lễ hội, nơi diễn ra phần hội ,trò chơidân gian, múa hát, thể thao…sân có diện tích là 1.800m2, kết cấu bằng bê tôngmác 200, dày 10cm Lối vào đền là dãy cầu thang 99 bậc đi thẳng vào sântrước đền biểu trưng cho sự trường tồn vĩnh cửu, tương ứng với 99 conphượng hoàng Đường lên xuống đền được lát bằng đá Thanh Hóa Haibên đường là 2 dãy cây sanh.

Sân trước đền có diện tích: 1.400 m2, được lát bằng gạch bát cổ phụcchế loại 30 x 30 cm Trước cửa đền là 2 con voi bằng gỗ chầu 2 bên

*Nhà Nghi Môn.

Bước vào cổng chính là nhà nghi môn, có diện tích là 48m2.Đền có 3cổng : cổng chính và hai cổng nhỏ đối xứng hai bên Cổng chính bố trí mộtgian hai dĩ , mặt đứng kết cấu 2 tầng mái kiểu chồng diêm , các góc đao uốncong, có góc bờ nóc, đầu kìm.Cổng chính và cổng phụ đều lợp ngói mũi hài,nền lát gạch bát cổ phục chế loai 30 x 30 cm, các kết cấu gỗ đều bằng lim.Bước vào cổng chính là hai tượng quan hộ pháp đứng trấn giữ hai bên , vớichức năng , nhiệm vụ là theo dõi , kiểm soát

*Hai nhà Bia

Bố cục hình vuông 6 x 6 m , kết cấu khung vì nóc chồng rường, xànách con chồng: mặt đứng hai tầng mái, phần mái trên có chắn mái con tiện, 8góc mái có đầu đao,kìm nóc, gỗ đều bằng lim,mái lợp ngói mũi hài hai lớp,gạch bát kiểu cổ phục chế Nhà bia bên phải bỏ trống và bia ghi công trạngcủa Quang Trung,nhà bên trái là gác chuông , có bia chiếu của HoàngđếQuang Trung - Nguyễn Huệ ,bia chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi hoang đếQuang Trung

* Nhà tả vu và Hữu vu.

Trang 23

Hai ngôi nhà này có kết cấu giống nhau Diện tích là 80m2/ nhà.Kết cấunhà 5 gian, 3 hàng cột, kết cấu vì kèo kiểu chồng rường giá chuông, hạ kẻtruyền liền bẩy Hệ thống cửa kiểu bức màn thượng song hạ bản Nhà tả vu cóchức năng chính là soạn lễ, nghỉ ngơi Nhà tả vu có chức năng trưng bày cáchiện vật, di vật có liên quan đến hoàng đế Quang Trung và triều đại tây sơn.

*Nhà tiền đường.

Có diện tích là 180m2, thiết kế 3 gian, 2 dĩ, 4 hàng cột,kết cấu vì kèochồng rường, mặt đứng kết cấu 2 tầng mái, ở giữa có hệ chắn song con tiện đểthông gió, lấy ánh sáng ; 4 góc đầu đao uốn cong , bậc cấp có chồng chầubằng đá Gian chính giữa là tiền đường là nơ thò đức phật thích ca mau ni,bên hữu thờ Tứ phủ công đồng , bên tả thờ trấn phủ Nghệ An Thận trực Hầu

*Nhà trung Đường.

Có diện tích là 160m2 , nhà bố trí 3 gian 2 dĩ , 4 hàng cột, mặt đứng kếtmột tầng mái Gian giữa là bàn thờ cộng đồng, bên hữu thờ quan võ là Thủy

sư đô đốc Ngô văn Sở, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân Bên tả thờ quan văn

là Ngô thì Nhậm, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Phạm Công Trị

*Nhà hậu cung.

Có diện tích là 60m2 ,Mặt bằng được kết nối với nhà trung đường, gồm

3 gian thu hồi, 2 hàng cột với 2 cột Gian giữa thờ Hoàng đế Quang Trung,bên tả thờ vương phụ Quang Trung Trong nội thất có 5 pho tượng: tượngvương phụ, vương mẫu , Vua Quang Trung và tượng hộ pháp đều được làmbằng chất liệu bằng đồng

Ngoài ra còn có bình phong, tứ trụ, bia dẫn tích làm bằng đá thanh hóakhối lớn, có chạm khắc họa tiết

2.1.1.3 Đời sống tâm linh và lễ hội.

Đền thờ vua Quang trung hàng năm đều hốn tiếp hàng vạn lượt kháchkhắp mọi miền tham quan Đặc biệt trong mấy năm trở lại đây số lượng khách

đã tăng lên nhiều hơn so với các năm trở về trước Lượng khách đông nhất

Trang 24

thường là vào dịp tết và kéo dài cho đến hết tháng 2 âm lịch Mọi người đếnđây chủ yếu là thắp hương, tham quan, tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân đối vớihoàng đế Quang Trung.

Hàng năm, đền thờ tổ chức vào 3 ngày lễ lớn:

- Ngày 5/1 âm lịch: kỉ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa

- Ngày 29/7 âm lịch: ngày mất của vua Quang Trung

- 1/ 10 dương lịch: ngày hoàng đế quang trung ra chiếu dời phú xuân raPhượng Hoàng Trung Đô

Trong đó, ngày giỗ Quang Trung được coi là ngày quan trọng nhất.Phần lễ bao gồm nghi thức tế lễ, đọc văn tế, lễ dâng hương Phần hội thường

tổ chức thi võ thuật, đấu kiếm, kéo co, thi hát dân ca…

Mặc dù vậy, các ngày lễ này chưa trở thành lễ hội thường xuyên và cótính kêu gọi quần chúng Các ngày lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh than thế

và sự nghiệp của hoàng đế Quang Trung và vương triều tây sơn đồng thờigiáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của dân ta

2.1.2 khu di tích Mai Hắc Đế.

Khu di tích vua Mai Hắc Đế nằm ở ven sông Lam, thuộc địa phận thị

trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn), cách thành phố Vinh khoảng 22km về phíatây Đền được xây dựng để tưởng nhớ công ơn vua Mai Hắc Đế - vị anh hùng

có công đuổi đánh giặc Đường, bao gồm 3 hạng mục là đền vua Mai, mộ vua

Mai và mộ mẹ vua Mai.

2.1.2.1 Quá trình xây dựng và trùng tu tôn tạo.

* Đền vua Mai Hắc Đế.

Đền thờ vua Mai được xây dựng trên một mảnh đất rộng rãi thoángđãng tại vùng đất Sa Nam Trước đây đền vua Mai là một ngôi đền nhỏ, kiếntrúc đơn giản Đến năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được xây dựng khang trang,

to đẹp, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái Lần trùng tu gần đây nhất vàođầu thời Nguyễn, Đền được giữ nguyên kiến trúc theo kiểu chữ “Tam”, hạđiện 5 gian theo kiểu chồng diêm 8 mái, quy mô tương đối lớn, trang trí rồng

Trang 25

phương công phu, các câu đối, đại tự, hương án kiệu rồng được sơn son thiếpvàng lộng lẫy Đền có diện tích trên 10.000m2.công trình bao gồm: cổng tamquan, nhà hạ điện, nhà trung điện, thượng điện.

+Cổng tam quan.

Cổng tam quan được xây dựng theo hướng vươn cao đồ sộ với kết cấuhình trụ vuông kết hợp với những nét gờ được tỉa tót và trang trí khá côngphu Nhìn tổng quát hai bên có 2 con ngựa được đắp bằng xi măng Phía trướchơi tiến lên một chút là 2 con voi Ngựa và voi là hai con vật gần gũi với vualúc ra trận

Ở hai bên cổng có hai câu đối bằng chữ hán mà thông qua việc dịchthuật toát lên niềm tự hào và sự hoài cổ của kinh đô xưa:

“Vân phi vũ tuyển tân cao các Thủy nhiểu sơn hồi cựu đế đô”.

Từ cổng tam quan đi vào qua một sân rộng ghép gạch đỏ với cây cảnh

là đến hạ điện Là ngôi nhà có 3 gian 2 hồi, được xây dựng theo kiên trúcchồng diêm 4 mái với quy mô tương đối lớn Đây là nơi xây dựng để thờnghĩa binh cùng với thờ cộng đồng

Bên trong có đặt bức hoành phi bằng gỗ đề bốn chữ hán “Nam bang kiều sở” có nghĩa là “Nước nam đẹp đẽ anh hùng” Nằm ở giữa gian có đặt

một hương án làm bằng gỗ sơn đen Hai bên đặt 2 chiếc kiệu gỗ to được sơn

on thiếp vàng Góc phải hạ điện có treo một chiếc chuông đồng nặng khoảng

50 – 60 kg Đỉnh chuông được chạm khắc hình đầu rồng, đặt cạnh là chiếctrống to

Trang 26

+Nhà Trung điện.

Trung điện là nơi thờ hai vị văn thần, võ tướng được gọi là (kiêm cai )của Mai triều Lối vào trung điện trổ 3 cửa, 3 gian và 2 hồi Là công trìnhđược xây dựng cầu kỳ theo cách quá giang câu đẩu, hai kẻ dài góc chéo nhautheo chiều dốc mặt mộng với nhau ở đỉnh vì, đỡ thượng lưng và chạy xuốngđầu cột cái, rồi chạy xuống tận hết mái

Bên trong được bài trí bức hoành phi dề ba chữ hán: “Chấn linh thanh”

có nghĩa là: “tiếng tăm vang dội”.Ở gian giữa từ ngoài vào là hương án bằng

gỗ, hai bên hương án là giá đặt đồ tế khí của vua và nghĩa binh Ở gian tráithờ Chưởng Tiền Nam Dực - một tướng của Mai Thúc Loan Gian phải thờChưởng Tả Đông Dực phủ vải vàng Gian giữa thờ long ngai Hùng SơnThượng tướng và long ngai thống lĩnh đại tướng, phủ vải đỏ

+Nhà thượng điện.

Nhà thượng điện có quy mô lớn hơn trung điện, kiến trúc tương đối đơngiản.Thượng điện có 3 gian vơi kích thước: Gian giữa rộng 3.5 m, gian tráirộng 3.0m, gian phải rộng 3.0m, cao 2.0 m, gồm có 6 cánh cửa làm bằng gỗ

Bên trong điện thờ vua Mai phủ vải vàng và nhiều đò tế khí , các longngai, tám đạo sắc phong được bảo quản một cách cẩn thận trong hộp gỗ Ở

gian giữa có đặt bức đại tự đê bốn chữ hán: ”Thánh cung vạn tuế”, nghĩa là:

”ông đức của Thánh Mai muôn đời” Ngoài ra còn có thờ thân mẫu vua Mai

ở gian phải , gian trái thờ Mai thiếu Đế

* Khu lăng mộ.

Từ đền vua Mai, du khách theo đê 42 hoặc đi thuyền ngược theo tảngạn sông Lam khoảng 3km về phía tây là đến khu mộ vua Mai Lăng mộ vuaMai được xây dựng ngay trên khu đất an táng hài cốt Ngài qua đời năm 723,trong thung lũng núi Đụn rộng vài chục mẫu, ba mặt có núi bao quanh,ngoảnh mặt về hướng đông, nhìn thẳng ra dòng sông Lam Ngôi mộ được xây

theo kiểu “thượng miếu hạ mộ” (miếu ở trên, mộ ở dưới) Hiện nay, khu mộ

Trang 27

đã được tôn tạo lại có quy mô bề thế, trang trí công phu Khu mộ vua MaiHắc Đế gồm có mộ, hậu cung, bái đường.

Khu lăng mộ vua Mai Hắc Đế hiện nay bao gồm các kiến trúc sau: Nhàbái đường, nhà hửu vu, nhà tả vu, nhà thượng cung (miếu và mộ)

+Nhà bái đường

Nhà bái đường là nơi thờ cộng đồng binh lính, chư quan chư tướng củavua Mai ( gồm 12 vị tướng và 30 vạn quân) Nhà bái đường trước đây đượcxây dựng một gian hai hồi Nhưng nay, sau lần đại tu năm 2004, nó được xâytheo lối kiến trúc 3 gian, hai hồi, bốn mái, lợp ngói mũi hài

Ở gian giữa nhà bái đường có đặt một hương án và hai bên có hai kiệughỗ , hai cái lọng, hai con ngựa ghỗ Trong nhà bái đường còn treo một cáitrống to để dùng trong các ngày lễ hội

+Nhà tả vu và hữu vu

Nhà hữu vu là nơi thờ quan văn, được xây dựng theo kết cấu hai gian,hai hồi,bốn mái lợp bằng ngói mũi hài, làm bằng gỗ lim Trong nhà có đặt haihương án: gian thứ nhất thờ tứ trụ thứ nhất - Phan Huynh.Gian thứ hai thờ tứtrụ thứ hai -Phan Đệ

Nhà tả vu hay còn gọi là hồi võ bởi nơi đây thờ quan võ của vua Mai.

Nhà được xây dựng theo kiến trúc hai gian, hai hồi làm bằng gỗ lim, lợp ngóimũi hài gồm 4 mái Trong nhà đặt hai hương án thờ tứ trụ thứ ba Nam Sơn-Nậm Sơn, tứ trụ thứ tư là thủy trấn Hữu Bạch kha Giữa hai gian có đặt mộtcon ngựa gỗ màu trắng

+Nhà trung cung.

Là nơi thờ vua Mai Hắc Đế, Mai Thánh Thiếu Đế - Mai Thúc Huy vàthân mẫu vua Mai Nhà trung cung có kích cỡ nhỏ hơn nhà bái đường Nhàgồm ba gian, bốn mái lợp ngói mũi hài Gian giữa đặt hương án thờ vua MaiHắc Đế và đặt một tượng vua Mai màu đen Hai gian hai bên thờ mẫu thânvua và các quan văn võ của Mai triều

+Nhà thượng cung.

Trang 28

Vào năm minh mệnh thứ hai ( năm 1921) thượng cung được xây dựng

theo kiến trúc “thượng miếu , hạ mộ “ Ngày nay, thượng cung được xây

dựng theo kiểu “lộ thiên” Tuy nhiên, thượng cung vẫn bao gồm phần miếu và

mộ như sau:

Miếu: Miếu được làm bằng gỗ tròn, có bốn mái lợp ngói mũi hài, cácmái được làm bằng gắn đầu rồng làm bằng xi măng sơn xanh

Mộ: Mộ vua mai có kích thước: chân mộ rộng 2.4 m; dài 3.6m; thân

mộ rộng 1,75m; cao 5,8cm Mộ được lát bằng đá màu trắngvà xám

Như vậy, đền thờ và khu mộ của vua Mai Hắc Đế là một tổng thể côngtrình kiến trúc đã được khởi dựng từ rất lâu Qua thời gian được tôn tạo, tu bổkhang trang, bề thế có sức hấp dẫn du khách

2.1.2.2 Đời sống tâm linh và lễ hội.

Lễ hội đền vua Mai hằng năm thu hút đông đảo hàng ngàn khách thậpphương về tham dự lễ hội Mọi người đến đây để thắp hương, cầu khấn, thamquanvà tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân vị vua Đen của dân tộc

Lễ hội vua Mai bao gồm hai phần chính là phần lễ và phần hội

Phần lễ : được tổ chức trang trọng mang đậm tín ngưỡng dân gian,phục vụ đời sống văn hóa tâm linh của mọi tầng lớp nhân dân, bao gồm: Lễkhai quang, lễ yết cáo, lễ tưởng niệm, lễ đại tế và lễ đại tạ

Ngày 13 tháng giêng âm lịch diễn ra lễ khai quang bao gồm: quét dọn

di tích, lau chùi đồ tế khí, tắm tượng, treo cờ tổ quốc, cờ lễ hội

Chiều Ngày 14 âm lịch diễn ra lễ Yết Cáo tại địa điểm Mộ thân mẫu,đền vua Mai, miếu mộ vua Mai

Ngày 15 âm lịch diễn ra lễ rước, lễ tưởng niệm, lễ đại tế

Sáng ngày 15 âm lịch, lễ tưởng niệm được tiến diễn rất rang nghiêmvới ý nghĩa ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của vua cùng các thân tướng nghĩabinh với những chiến công oanh liệt cách ngày nay 1300 năm

Ngày 16 âm lịch lễ tạ được thực hiện sau khi hoàn thành cả phần lễ vàphần hội

Trang 29

Phần hội: thường tổ chức quanh khu vực đền vua Mai du khách thậpphương về trẩy hội Các trò diễn, trò chơi dân gian như đua thuyền, cờ thẻ,chọi gà, chọi gà, đu tiên, đấu vật… Ban đêm tổ chức ca hát các loại nhạctruyền thống như ví phường vải, ca trù, chèo, tuồng, giao duyên…Trong đóhoạt động quan trọng nhất và có ý nghĩa là hội vật để khơi gợi lại tinh thầnthượng võ của nghĩa binh

2.1.3.Di tích Ngã Ba Bến Thủy.

2.1.3.1Vị trí địa lý

Di tích Ngã ba Bến Thuỷ nằm bên tả ngạn sông Lam, dưới chân núiQuyết; cách trung tâm thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 5km về phía Đông Ngã ba Bến Thuỷ trước đây thuộc làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường,huyện Hưng Nguyên; nay thuộc phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh Di tích

có diện tích 5.000 m2 sát dưới chân núi Quyết, một vùng đất có vị trí quantrọng; nơi mà Vua Quang Trung Nguyễn Huệ chọn để xây dựng thành PhượngHoàng Trung Đô(năm 1788)

2.1.3.2 Nguồn gốc lịch sử.

Những năm đầu thế kỷ XX, Vinh- Bến Thuỷ là một trung tâm côngnghiêp lớn ở Bắc Trung Kỳ Thành phố Vinh - Bến Thuỷ lúc đó là tỉnh lỵđồng thời cũng chính là trung tâm văn hoá, chính trị của tỉnh Do có một vị tríchiến lược quan trọng như vậy, thực dân Pháp đã chú ý đầu tư xây dựng ở đâythành một thành phố có thu nhập và ngân sách riêng Hàng loạt nhà máy đãmọc lên: nhà máy các hộp, nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi Đáng chú ýnhất là công ty vô danh Rừng và Diêm(gọi tắt là Si Pha) được hình thành từ

cơ sở buôn bán của Giăng đuy puy bao gồm các nhà máy: cưa Xi ri, LaoXiên, Điện, Diêm

Các công xưởng ra đời đã thu hút hàng nghìn công nhân mà phầnđông là nông dân các vùng lân cận bị phá sản, không có ruộng vườn phải vàođây để bán rẻ sức lao động Đời sống của người thợ hết sức bấp bênh, làmviệc theo thời hạn nhất định, theo mùa vì vậy mối quan hệ của họ với nông

Trang 30

thôn đang còn gắn bó hết sức chặt chẽ Do bị áp bức nặng nề, phong trào đấutranh của công nhân Vinh- Bến Thuỷ đã liên kết được với phong trào nôngdân các làng xung quanh ngay từ khi chưa có Đảng cộng sản Dưới sự chỉ đạocủa các tổ chức tiền thân, phong trào ngày càng phát triển mạnh bề rộng cũngnhư bề sâu, đi dần đến đấu tranh tự giác.

Đặc biệt sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930, dưới

sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh bộ lâm thời Vinh - Bến Thuỷ, các chi bộ trongcác nhà máy, phong trào đấu tranh của công nhân Vinh - Bến Thuỷ phát triểnmạnh mẽ hơn bao giờ

Dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Trung Kỳ, tỉnh bộ lâm thời Vinh- BếnThuỷ đã tiến hành phát động quần chúng đấu tranh kỷ niệm 1/5 ngày Quốc tếlao động Kế hoạch cuộc biểu tình đã được vạch ra trong cuộc họp tỉnh bộ lâmthời Vinh- Bến Thuỷ tại nhà đồng chí Nguyễn Phúc làng Yên Dũng Hạ dođồng chí Nguyễn Phong Sắc (Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ) chủ trì

Rạng ngày 1/5, hơn 1.200 nông dân các làng Ân Hậu, Tân Hợp, ĐứcHậu (huyện Nghi Lộc), Lộc Đa, Đức Thịnh, Yên Dũng Thượng (phủ HưngNguyên) kéo về phía nhà máy Trường Thi trong hàng ngũ chỉnh tề, thu hútnhiều người đi chợ tham gia Đến ngã ba Quán Lau, tri phủ Hưng NguyênPhạm Hữu Văn dẫn lính chặn đường hiểu dụ.Đoàn biểu tình vẫn hiên ngangvượt qua Đến nhà máy Trường Thi, bọn địch đóng cổng không cho côngnhân tham gia Một số công nhân vượt tường ra ngoài gia nhập đoàn Đoànbiểu tình vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu: tăng tiền lương, ngày làm 8 giờ, giảmcác loại sưu thuế, ủng hộ Xô Nga và đọc to bài “Quốc tế ca”

Cuộc biểu tình ngày 1/5 tại ngã ba Bến Thuỷ là điểm mốc quan trọng

mở đầu cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, là hình ảnh xúc động của tình đoàn kết

công nông là tấm gương bất khuất muôn đời sống mãi Báo “Người Lao khổ”

cơ quan ngôn luận của Xứ uỷ Trung Kỳ ngày 2/5/1930 đã đánh giá: “Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng xứ ta, công - nông - binh bắt tay nhau giữa trận tiền” Tên thực dân Biller đã phải thừa nhận: cuộc biểu tình chấm dứt bằng đổ

Trang 31

máu này đã kích động mạnh mẽ và sâu sắc dư luận quần chúng Công- nôngthức tỉnh và do đó phong trào lại rộng hơn, mạnh hơn.

Gần 80 năm trôi qua, khu vực ngã ba Bến Thuỷ không còn như xưa,những gương mặt của các chiến sỹ Xô Viết năm xưa mãi mãi không phai mờtrong ký ức của bao thế hệ Và truyền thống kiên cường bất khuất đó được kếtục trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, nhiều đơn vị và cá nhân được tặngDanh hiệu Anh hùng như: Đội phà Bến Thuỷ, nhà máy Điện Vinh, Cảng BếnThuỷ

2.1.3.3.Quá trình xây dựng

Để tưởng nhớ tới cha ông một thời oanh liệt 1930-1931 Nơi đây đãxây dựng một tượng đài Công Nông Binh hùng vĩ, một trong những điểm dulịch của quần thể Lâm Viên núi Quyết Hàng năm trong các ngày lễ kỷ niệmcủa đất nước, các thế hệ trẻ đều đến đây để ôn lại truyền thống lịch sử trênmảnh đất này

Ngã ba Bến Thủy trở thành địa danh lịch sử đặc biệt đánh dấu sự mởđầu cho Phong trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh Với ý nghĩa đó, ngày16/11/1988, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch)

đã có quyết định công nhận xếp hạng Di tích Ngã ba Bến Thủy là Di tích Lịch

sử -Văn hóa cấp quốc gia

Năm 2010, UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định bảo tồn, tôn tạo và xâydựng Khu Di tích này với tổng kinh phí 45 tỷ đồng, do UBND Thành phốVinh làm chủ đầu tư Sau hơn 2 năm công trình đã hoàn thành, đưa vào sửdụng với thiết kế làm bằng đá khối xanh Thanh Hóa, cao 13,57m, gồm 2 nhânvật nam và nữ, trong tư thế giương cao ngọn cờ Đảng búa liềm, biểu hiện cholực lượng công nông trên đà lớn mạnh Đây là một công trình độc đáo và ấntượng, có tính khái quát cao

2.1.4 Thành cổ Vinh.

2.1.4.1 Nguồn gốc lịch sử.

Trang 32

Thành cổ vinh nằm trên địa phận 2 xã Yên Trường và Vĩnh Yên, Tổngyên trường, huyện Chân lộc nay thuộc địa bàn các phường Cửa Nam, ĐộiCung, Quang Trung của thành phố vinh Nghệ An Là một công trình kiến trúctiêu biểu dưới thời nhà nguyễn,được xây dựng kiên cố vào năm 1831 thời vuaMinh Mạng

Sử sách ghi rằng, chiếm được Phú Xuân (năm 1802), Nguyễn Vương(1762-1820) lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long Sau khi lên ngôi vị vua nàyđưa quân tiến ra đất Bắc Ðến tháng 6 cùng năm, vua Gia Long thống nhấtđược sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm

Đến năm 1804, Gia Long ra chỉ dụ cho rời Trấn sở của Nghệ An từlam Thành – Phù thạch, chọn làng Vĩnh Yên (Khu vực Thành cổ bây giờ) nằmphía Tây Bắc núi Dũng Quyết (Phường Trung Đô, TP Vinh ngày nay) để xâythành Nghệ An bằng đất Khi vua Gia Long băng hà, Nguyễn Phúc Đảm (conthứ 4 của vua Gia Long) lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng (1791-1840) mớicho xây lại thành Nghệ An bằng đá ong theo kiểu Vô- băng vào năm1831(Vauban là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kế kiểu thành này) Vì

là thủ phủ của Nghệ An nên nhân dân gọi là Thành Vinh Mặt khác, do thànhđược xây theo hình 6 cạnh, trong giống con rùa nên còn có tên là thành conRùa (Thành quy hình)

Thành phố Vinh thuộc hạ lưu sông Lam, trước đây là một vùng đầm lầyhoang vắng, cây cối rậm rạp.Từ xa xưa, vùng này đã trở thành nơi cư trú củangười việt cổ với nền văn minh lúa nước phát triển khá sớm Vùng đất này cómột vị trí khá thuận lợi, là đầu mối giao thông quan trọng trên trục đường BắcNam cả đường Bộ, đường sắt và đường hàng không, hơn nữa vinh lại nằmgần cửa biển, cửa sông nên có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng vè mặtquân sự

Dưới con mắt của nhà quân sự, từ thời cổ, trung, cận đại và cho đếnngày nay, Vinh luôn được coi là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng và làtrung tâm của tỉnh Nghệ An Chính vì lẽ đó, Thành Vinh ra đời nhằm tạo ra

Trang 33

một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một tỉnh, là căn cứ quân sự vàphòng thue chiến lược chống ngoại bang Trải qua những thăng trầm lịch sử,thành Vinh trở thành một thành trì của các phong trào yêu nước nhằm lật đỏtriều đình phong kiến vầ đánh đuổi thực pháp xâm lược Thành cổ là chứngtích cho một giai đoạn trong lịch sử.

2.1.3.2 Quá trình xây dựng và kiến trúc.

Thành được xây dựng năm 1804 nhưng khá thô sơ,vật liệu chủ yếu làđất , nhà cửa , đồ trại trong thành cũng bằng vách tre, vách đá Năm 1831,Minh mệnh cho xây lại một cách kiên cố hơn bằng đá ong, gạch sò, gạch vồ ,mật đỏ.Thành được xây dựng theo kiến trúc phương đông kết hợp với kiếntrúc thành trì có tính chất phong ngự phương tây ( kiến trúc vô Băng)

Trong cuốn “ Tìm trong di sản văn hóa Xứ Nghệ” [2,trang21], tác giả

Đào Tam Đỉnh trích dẫn : “ Thành tỉnh Nghệ An ở địa phận hai xã YênTrường và Vĩnh Yên, huyện Chân Lộc, chu vi 603 trượng, cao 1 trượng 1thước 5 tấc, mở 3 cửa, hào rộng 7 trượng, sâu 8 thước… năm Gia Long thứ 3

…đắp bằng đất, năm Minh Mệnh thứ 12, đổi xây đá ong.”

Thời kỳ pháp thuộc với kết cáu thành cao, hào sâu, lô cốt, vọng gác,thành vinh mang tính chất và ý nghĩa của một công trình phòng thủ chiếnlược nhiều hơn là cơ quan hành chính địa phương Thành Vinh có diện tích420.000 m2 , chu vi 2520m , bao gồm 2 vòng thành : vòng thành ngoài vàvòng thành trong, cách nhau 13.4 m ,có 3 cổng: tiền, tả, hữu Cấu trúc củathành theo hình lục giác có 6 cạnh và 6 góc, mỗi cạnh dài 400m, mỗi góc làmột cạnh

*Vòng thành

Vòng thành bao gồm vòng thành trong và vòng thành ngoài

Vòng thành ngoài bao gồm 3 phần: móng, thân và nữ tường

Móng tường thành có hình thang, đáy lớn là 1,6m, đáy bé là 1,08m,sâu 0,4m, xây bằng đá xanh

Trang 34

Thân tường thành cao 4,6m, dến đời tự đức xây cao thêm 0,48m.Tường được xây bằng đá ong, tường thành có dạng hình thang, chân tườngdày 1.6m, phía trên dày 1m, Phía trong có bậc thang bằng đất.

Nữ tường cao 1m, là những đoạn tường thấp, xây gián đoạn thành ụtrên mặt tường thành, mỗi ụ cách nhau 5m nhô ra và thụt vào

Vòng thành trong cao 2,68m, sâu 0,2m, đáy dưới dày 1,2m, đáy trêndày 0,92m, cứ cách 5m lại xây một ụ đất (nữ tường) cao 1m

*Nội thành

Nội thành bao gồm các công trình: Dinh thự của các quan lại địaphương, trại lính, nhà giam, lô cốt, bốt gác, nhà kho

*Cổng thành

Cổng thành bao gồm: Tiền hướng về phía Nam có khắc hai chữ hán

“Tiền Môn”, Cổng tả quay về hướng Đông có khắc hai chữ hán “Tả Môn”, cổng hữu quay về hướng tây được khắc hai chữ hán “Hữu Môn”

Cổng thành được xây dựng theo kiểu vòm cuốn, xây bằng đất nungvới kích thước viên dài 30 cm, rộng 15 cm, dày 6cm Trên mỗi cổng đều cóvọng lâu được kết cấu theo kiểu chồng diêm, mái uốn cong, lợp ngói âmdương, gỗ được chạm trổ cẩn thận, bên trong treo trông canh Lối vào cổngthành được xây dựng theo kiểu vòm cuốn gồm 3 lớp, lớp ngoài và lớp trongcùng được cuốn dọc, lớp chính giữa được cuốn ngang và xây cao hơn Phầndưới xây rộng hơn phần trên mỗi bên 12 cm Mỗi cổng được đóng kín bởinhững cánh cửa bằng gỗ lim rất chắc Phía ngoài 3 cổng có xây bờ tròn hìnhvành trăng gọi là sở lũy

*Hào thành.

Vòng hào thành được đào sâu 3,2 m, rộng 28cm Hai bên bờ hào đượcxếp đá nhằm chống xói lở Phần hào hai bên các cổng và ở giữa mỗi đoạn gấpkhúc đều được đào sâu và rộng hơn thành hình cái hồ Trong hệ thống hào cótrồng hoa sen, hệ thống hào được nối liền với sông vĩnh(song cửa tiền) songnày hiện tại không còn Cầu được xây trước cổng thành cách 30m, được xây

Trang 35

theo kiểu vòm cuốn với 6 lớp gạch xây nghiêng, vòm cầu dày 0,95, rộng4,42m, cao 2,5m, phần móng được xây dựng bằng đá rất kiên cố.

Trải qua các thời kỳ chiến tranh trong lịch sử Thành Vinh là nơi chứngkiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và cũng là nơi hứng chịu,

bị tàn phá nặng nề nhất, nhiều công trình đã trở thành đóng gạch vụn

Hiện tại toàn bộ thành cổ chỉ còn lại 3 cổng thành và một cầu ở phíacổng hữu, còn hệ thống tường thành hầu như không còn nguyên vẹn nữa, do

bị hư hỏng, bị san bằng, chỉ còn những đoàn bờ thành bằng đất ở phía đông

Năm 1998, Thành Cổ Vinh đã được Bộ Văn Hóa Thể Thao xếp hạng là

di tích cấp quốc gia theo quyết định số 95/1998 Bộ VHTT ngày 24/1/1998.Năm 2004, UBND Thành phố đã triển khai dự án tu bổ, phục hồi ba cổngthành

2.1.5 khu lưu niệm Hồ Chí Minh.

2.1.5.1.Quá trình hình thành Khu di tích Kim Liên.

- sự hình thành các di tích thời niên thiếu.

* Cụm di tích Hoàng Trù – Quê ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hoàng Trù xưa gọi là làng Chùa thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh,huyện Nam Đàn, nay làng Hoàng Trù thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An

Cụm di tích Hoàng Trù, nơi cất tiếng khóc chào đời của Nguyễn SinhCung (ngày 19 tháng 5 năm 1890) và là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm, nhiều hiệnvật gắn liền với cuộc đời cụ Hoàng Xuân Đường, cùng gia đình Bác Hồ (từnăm 1878 - 1890), đặc biệt là lần thứ hai Bác về thăm quê, năm 1961

Di tích nằm trong vùng cảnh quan hùng vĩ, cùng với làng Sen, núiChung và mộ bà Hoàng Thị Loan, tạo nên một tổng thể di tích liên quan đếnthời niên thiếu của Bác Hồ

+ Ngôi nhà nơi sinh chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông nội chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Nhậm có hai đời vợ Bà

vợ trước sinh ra Nguyễn Sinh Trợ (Nguyễn Sinh Thuyết) Bà vợ kế là Hà Thị

Trang 36

Hy, người làng Mậu Tài, một người đàn bà thông minh tài hoa, có nhan sắc,

đã sinh ra cậu Nguyễn Sinh Sắc (1863) Lên 3 tuổi Nguyễn Sinh Sắc mồ côicha, lên 4 tuổi mồ côi mẹ, cậu phải ở cùng người anh trai cùng cha khác mẹ làNguyễn Sinh Trợ Nhà anh khó khăn, Nguyễn Sinh Sắc phải lao động vất vả

và không có điều kiện theo đòi nghiên bút Song là người hiếu học, cậu béSắc được ông đồ người làng Hoàng Trù tên là Hoàng Xuân Đường đưa về nhàmình, nuôi cho ăn học Sau hai năm đèn sách, tiếng tăm về lực học củaNguyễn Sinh Sắc đã lừng lẫy trong vùng Mến vì đức, cảm vì tài của cậu họctrò nghèo, cụ Hoàng Xuân Đường lại cho Nguyễn Sinh Sắc được đính hôn vớicon gái đầu lòng của mình là Hoàng Thị Loan

Năm 1883, Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan làm lễ thành hôn CụHoàng Xuân Đường dựng một ngôi nhà tranh ba gian trong vườn nhà mìnhcho đôi vợ chồng trẻ làm nơi sinh sống Trong ngôi nhà này, ông Nguyễn SinhSắc và bà Hoàng Thị Loan đã sinh ra ba người con yêu nước Năm 1884, sinhngười con gái đầu lòng đặt tên là Nguyễn Thị Thanh tự là Bạch Liên Năm

1888, sinh người con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Khiêm tự là Tất Đạt Năm

1890 sinh người con thứ ba đặt tên là Nguyễn Sinh Cung tự là Tất Thành.Hướng nhà mở phía Nam Nhà ngăn làm hai phần: gian ngoài và gian trongđược ngăn cách bằng một bức phên nứa

Kỳ thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894), ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Cửnhân, năm 1895, ông đi thi Hội ở Huế không đậu nhưng lại được nhận vàohọc ở trường Quốc Tử Giám Ông về quê đón vợ và hai con trai vào Huế sinhsống học tập Ngôi nhà giao lại cho con gái và bà ngoại trông coi

Năm 1959, Ty Văn hóa Nghệ An đã khôi phục lại ngôi nhà này trên nềnđất cũ để làm di tích lưu niệm Ngày 9 tháng 12 năm 1961, sau 60 năm xacách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm lại ngôi nhà nơi Người cất tiếng khócchào đời và sống những năm đầu của tuổi ấu thơ Người vô cùng xúc độngngắm nhìn những kỷ vật đã gắn liền với tuổi ấu thơ của mình cùng với nhữngngười thân trong gia đình Cảnh vật và những kỷ niệm cũ còn đó mà những

Trang 37

người thân yêu đã đi xa Sau đó, Bác đã ngồi trước thềm nhà nói chuyện với

bà con làng Hoàng Trù

* Ngôi nhà cụ Hoàng Xuân Đường

Nhà được dựng khoảng nửa đầu thế kỷ XIX Cụ Hoàng Xuân Đường

và Nguyễn Thị Kép - Ông bà ngoại của Bác Hồ đã sống trong ngôi nhà rộng 5gian, 2 chái, mái lợp tranh lá mía, tường vách bao che chủ yếu bằng phên nứatre đan, trong ngôi nhà này năm 1868 bà Hoàng Thị Loan - mẹ của Bác Hồ đãchào đời Năm 1877 bà Hoàng Thị An dì ruột của Bác cũng chào đời tại đây.Ông bà ngoại của Bác chỉ có hai người con gái, không có con trai

Năm 1878, ông Nguyễn Sinh Sắc được cụ Hoàng Xuân Đường đưa vềnuôi cho ăn học và sau đó được chọn làm con rể

Năm 1893, cụ Hoàng Xuân Đường qua đời Năm 1904, cụ Nguyễn ThịKép qua đời

Từ đó ngôi nhà được cháu trong họ là Hoàng Xuân Kỳ thừa tự Sau khiông Kỳ qua đời thì con ông là Hoàng Xuân Đương quản lý, vì vậy ngôi nhà

đã trải qua nhiều lần sửa chữa nhưng vẫn giữ được nguyên khung gỗ

Ngày 9/12 năm 1961, trong lần về thăm quê lần thứ 2, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã vào thăm lại ngôi nhà này Bác đi từ gian này đến gian khác, Ngườixúc động khi dừng trước chiếc án thư để mộc và đôi tràng kỷ tre, nơi xưa kia

cụ Hoàng Xuân Đường thường ngồi giảng bài cho học trò

Năm 1970, Khu di tích Kim Liên tiếp nhận bảo quản và đưa vào tuyếntham quan phục vụ du khách viếng thăm

+ Nhà thờ chi họ Hoàng Xuân.

Thủy tổ dòng họ Hoàng ở làng Hoàng Trù giữ chức Võ Ban tướng quân dướithời Vĩnh Tộ (1619 - 1628), triều Lê Thánh Tông (1619 -1643), trong chuyếndẹp loạn ở vùng Thuận Quảng khi trở về đã lấy vợ ở huyện Hưng Nguyên -Nghệ An lập ra dòng họ Hoàng ở đây Đến đời thứ 9 có Hoàng Phác Cần lấy

vợ về làng Hoàng Trù và lập dòng họ Hoàng tại Hoàng Trù, 5 thế hệ sau cóHoàng Xuân Cẩn đậu ba khoa tú tài, cụ Hoàng Xuân Đường là thế hệ thứ 15

Trang 38

của dòng họ Ngôi nhà thờ được cụ Hoàng Xuân Đường lập ra để thờ cúng cốnội là Hoàng Xuân Mượu (còn gọi là Hoàng Trọng Mạo), ông nội là HoàngXuân Lý và thân phụ là Hoàng Xuân Cẩn Trên xà nhà ghi rõ năm hoàn thành:

“Tự Đức tam thập tứ niên chi tuế tạo hoàn” (Hoàn thành vào năm Tự Đức thứ 34 – (1882)[3,trang19]

Nhà thờ có một gian chính và hai gian phụ Nhà được làm bằng gỗ lim,

có cửa bàn khoa song tiện Ngôi nhà này từ khi dựng là nhà gỗ, lợp tranh lá

mía, thưng phên nứa Trước nhà thờ có đôi câu đối “ Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ

Chung Cự hùng thanh chấn ức niên”

Nghĩa là : “Hoàng Vân khí tốt truyền từ ngàn xưa lại

Chung Cự tiếng hùng vọng đến vạn năm sau”

Từ năm 1970, Khu di tích Kim Liên tiếp nhận và bảo quản nhà thờ đưavào tuyến tham quan phục vụ khách thăm viếng

*Cụm di tích Làng Sen - Quê nội Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Làng Sen xưa thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay làng Sen thuộc

xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Làng Sen là là mảnh đất nơi lưu giữ nhiều kỷ vật gắn liền với cuộcsống thời niên thiếu của chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia đình, bạn bè hàngxóm láng giềng trong những năm từ (1901- 1906) và đặc biệt là hai lần chủtịch Hồ Chí Minh về thăm quê năm 1957 và 1961

Trang 39

Làng Sen với hệ thống nhiều di tích lịch sử quan trọng như nhà ôngPhó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm, nhà thờ họ NguyễnSinh, nhà cử nhân Vương Thúc Quý, lò rèn Cố Điền, ao Sen, giếng Cốc, cây

đa, sân vận động làng Sen Ngoài ra còn có khu nhà tưởng niệm chủ tịch HồChí Minh, nhà trưng bày, vườn trồng cây lưu niệm, và nhiều hạng mục côngtrình phục vụ công cộng khác

+Nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Khoa thi Hội Tân sửu năm (1901) Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng.Dưới triều Nguyễn, những người đậu đại khoa đều có phần thưởng cao quý đểvinh quy Nguyễn Sinh Sắc được những đặc ân đó, ông được vua Thành Thái

ban biển “ Ân tứ ninh gia’’ và cờ “Phó bảng phát khoa”.

Lần đầu tiên làng Sen có người đậu đại khoa, chiểu theo lệ làng, hộiđồng Hương dịch làng Sen đã trích quỹ công mua một ngôi nhà gỗ 5 gian vềdựng trên mảnh đất học điền của làng tại xóm Phú Đầm để mừng quan Phóbảng Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Sinh Trợ cũng dỡ 3 gian nhà lẫm củamình chuyển sang làm ngôi nhà ngang cho ông Nguyễn Sinh Sắc

Nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc nằm gọn trong mảnh vườn rộng 4sào 14 thước Nhà có 5 gian: Gian thứ nhất dùng để tiếp khách, gian thứ haidùng để thờ tự, gian thứ ba dùng làm buồng nghỉ của cô Nguyễn Thị Thanh,gian thứ tư là nơi nghỉ của ông Nguyễn Sinh Sắc và nơi sinh hoạt hằng ngàycủa gia đình, gian thứ năm là nơi nghỉ của Nguyễn Sinh Khiêm và NguyễnSinh Cung

Năm 1906 triều đình triệu ông đi làm quan, khi đi, ông mang theoNguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung đi cùng, ruộng vườn, nhà cửagiao lại cho con gái là Nguyễn Thị Thanh trông nom Sau này cô Thanh thamgia phong trào yêu nước đến năm 1914 bị bắt giam Cả hai ngôi nhà này tạmgiao cho ông Nguyễn Sinh Mợi trông coi, vườn giao cho ông Nguyễn SinhXơng (chú họ) làm

Trang 40

Năm 1915,cô Thanh ra tù vă đê bân 5 gian nhă lớn cho ông Tú Dền ở(Nam Hùng).Còn đồ đạc trong nhă cô Thanh đem xuống Vinh Khi dựng nhẵng Tú Dền bớt đi chỉ còn 3 gian một hồi vă thím một cửa sổ đầu hồi gianngoăi Ông Dền ở được một thời gian thì qua đời Năm 1932, vợ ông bân nhă

đó cho ông Trần Hữu Do (Nam Giang), ông Do sửa thănh nhă 3 gian hai hồi Năm 1956, Tỉnh ủy, Ủy ban nhđn dđn tỉnh Nghệ An có chủ trương khôiphục di tích quí hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôi nhă được chuộc về phụchồi như cũ

Ngôi nhă ngang ông Nguyễn Sinh Mợi đem về lăm nhă ở, năm 1942,ông Nguyễn Sinh Khiím ra tù về lấy lại, năm 1945 ông Khiím đem cho ông

Ký Tiềm ở Hưng Thâi, huyện Hưng Nguyín Thâng 3 năm 1959 Ty văn hóaNghệ An chuộc về vă dựng lại

+ Di tích nhă thờ họ Nguyễn Sinh

Khởi thủy của dòng họ Nguyễn Sinh đến Kim Liín, lập nghiệp lă ôngNguyễn Bâ Phổ, đến đời thứ 4 ông Nguyễn Văn Dđn đổi từ Nguyễn Vănthănh Nguyễn Sinh Đến đời thứ 6 ông Nguyễn Sinh Trí sinh được 3 ngườicon lă Nguyễn Sinh Kính, Nguyễn Sinh Xuđn, Nguyễn Sinh Phiín, trong đóông Nguyễn Sinh Xuđn không lập gia đình Hiện nay chi ông Nguyễn SinhKính lă chi trưởng

Ông Nguyễn Sinh Phiín sinh ra ông Nguyễn Sinh Nhđn, ông NguyễnSinh Nhđn sinh ra ông Nguyễn Sinh Hữu, ông Nguyễn Sinh Hữu sinh ra ôngNguyễn Sinh Vượng (Nguyễn Sinh Nhậm)- ông nội của Chủ tịch Hồ ChíMinh

Ông Nguyễn Sinh Nhậm sinh ra ông Nguyễn Sinh Trợ (Nguyễn SinhThuyết) vă ông Nguyễn Sinh Sắc

Ông Nguyễn Sinh Sắc sinh ra bốn người con đó lă: Nguyễn Thị Thanh(1884), Nguyễn Sinh Khiím (1888), vă cậu Nguyễn Sinh Cung (1890) tứcchủ tịch Hồ Chí Minh vă Nguyễn Sinh Xin (1901) mất từ lúc còn nhỏ

Ngày đăng: 06/09/2021, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Phượng ,” Nghệ An, di tích – danh thắng “ ,sở văn hóa thông tin Nghệ An, xuất bản 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, di tích – danh thắng
2. Sở văn hóa thông tin Nghệ An,” Nghệ An, di tích – danh thắng”, NXB Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, di tích – danh thắng
Tác giả: Sở văn hóa thông tin Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
3. Khu di tích Kim liên, Những người thân trong gia đình Bác Hồ, Nxb Nghệ An, Vinh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người thân trong gia đình Bác Hồ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
4. Ninh Viết Giao,“ tục thờ thần và thần tích Nghệ An”, sở văn hóa thông tin nghệ An, Vinh , 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tục thờ thần và thần tích Nghệ An
5. Ninh Viết Giao,“ Từ điển nhân vật xứ nghệ ”, hội văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ nghệ
Nhà XB: NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
6. Ninh Viết Giao “Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh”NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
7. Đào Tam Đỉnh, “Tìm trong di sản văn hóa xứ nghệ” , xuất bản 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm trong di sản văn hóa xứ nghệ
Tác giả: Đào Tam Đỉnh
Năm: 2010
8. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên),” Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ An, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1995
9. Trần Bá Chí,”Danh nhân Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ Tĩnh, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
10. Trần Viết Thụ ( chủ biên),”Địa danh lịch sử văn hóa Nghệ An”, NXB Nghệ An, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Địa danh lịch sử văn hóa Nghệ An
Nhà XB: NXBNghệ An
11. Đinh Văn Hiến, “Mai Hắc Đế Truyền thuyết và lịch sử”, NXB Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Hắc Đế Truyền thuyết và lịch sử
Nhà XB: NXB Nghệ An
12. Hippolyte Le Breton,”An Tĩnh cổ lục”, NXB Nghệ An, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Vinh 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục”
Nhà XB: NXB Nghệ An
13. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Bảo tàng tổng hợp Nghệ An , “ Lý lịch Thành cổ Vinh”, Nghệ An, Vinh 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịchThành cổ Vinh
14. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Ban quản lý di tích danh thắng,“Danh mục kiểm kê di tích – danh thắng trên địa bàn Nghệ An”, Nghệ An, Vinh 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Danhmục kiểm kê di tích – danh thắng trên địa bàn Nghệ An”
15. Sở văn hóa thể thao và du lịch Nghệ An, chương trình phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011- 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng2.1: Lượng khỏch du lịch đến nghệ an từ 2010-2013. - ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH tại các DI TÍCH LỊCH sử   văn hóa TỈNH NGHỆ AN
Bảng 2.1 Lượng khỏch du lịch đến nghệ an từ 2010-2013 (Trang 50)
+ bảng chỉ dẫn cụ thể. - ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH tại các DI TÍCH LỊCH sử   văn hóa TỈNH NGHỆ AN
b ảng chỉ dẫn cụ thể (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w