1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và đánh giá thực trạng về bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

25 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 44,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và đánh giá thực trạng về bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Tính cấp thiết đề tài Trong thời đại kinh tế phát triển và hội nhập như hiện nay. Sự phát triển của sản xuất là điều kiện nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập thị trường trong và ngoài nước, cũng như thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới. Nhờ có những đổi mới trong các chính sách của nhà nước ta nên có rất nhiều doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp đang ngày được mở rộng kinh doanh trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy để có thể có những chiến lược kinh doanh cũng như nắm bắt quản lý quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều sử dụng công cụ khác nhau trong đó công tác kế toán là công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất. Đặc biệt là phương pháp cân đối kế toán đóng vai trò tình bày một cách tổng hợp một cách tổng quát toàn diện về tình hình tài sản nguồn vốn công nợ…Trên cơ sở đó các nhà quản lý tiến hành phân tích, đánh giá tình hình hoạt dộng sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính trong doanh nghiệp. Từ những nhu cầu cần thiết đó nhóm đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phương pháp tổng hơp cân đối kế toán, thực trạng và giải pháp hoàn thiện.” nhằm tìm hiểu rõ về công tác kế toán trong doanh nghiệp. Mục đích nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán, cũng như việc vận dụng phương pháp cân đối kế toán, bảng cân đối kế toán trong doanh nghiệp. Từ đó, có thể đưa ra nhận định, nhận xét và kết luận và đồng thời đưa ra các giải pháp để nâng cao các chính sách, hoạt động tổ chức bộ máy kế toán. I. LÝ THUYẾT 1. Nội dung, ý nghĩa của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán 1.1. Nội dung của phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán • Khái niệm: Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khác thuộc đối tượng hạch toán trên những mặt bản chất và các mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán. • Phương pháp tổng hợp và cân đối: là sự sàng lọc, lựa chọn, liên kết những thông tin riêng lẻ từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong sổ kế toán, theo các quan hệ cân đối mang tính tất yếu vốn có của các đối tượng kế toán, để hình thành nên những thông tin tổng quát nhất về tình hình vốn, kết quả kinh doanh của đơn vị, thể hiện dưới dạng các báo cáo tổng hợp và cân đối như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh… • Tổng hợp và cân đối kế toán được ứng dụng rộng rãi trong công tác kế toán, có thể ứng dụng trên từng bộ phận tài sản và nguồn vốn, từng quá trình kinh doanh hoặc cân đối toàn bộ tài sản, nguồn vốn hay tổng hợp kết quả kinh doanh chung cho toàn bộ quá trình kinh doanhdoanh của đơn vị trong một thời kỳ nhất định • Mục đích khi kế toán sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối là nhằm tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán để lên được các chỉ tiêu trong báo cáo. • Cơ sở để thực hiện xây dựng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán đó là tính cân đối vốn có của đối tượng kế toán. Như đã giới thiệu trong phần đối tượng mà kế toán theo dõi, phản ánh bao gồm: tài sản và sự vận động của tài sản, những đối tượng này hết sức đa dạng và phong phú cả về hình thức biểu hiện, công dụng và sự vận động, tuy nhiên bản thân chúng luôn tồn tại tính cân đối, điều này thuộc bản chất hay thuộc tính tự nhiên vốn có của chúng. Khi xem xét tính cân đối của đối tượng kế toán có thể tiếp cận từ hai góc độ: tính cân đối tổng quát và tính cân đối bộ phận. • Đối tượng kế toán khi xem xét từ góc độ tổng quát cũng tồn tại tính cân đối và được gọi là tính cân đối tổng quát, ví dụ: TÀI SẢN = NGUỒN VỐN TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU KẾT QUẢ (LÃI, LỖ) = DOANH THU (THU NHẬP) – CHI PHÍ Cụ thể hơn khi xem xét đối tượng kế toán dưới dạng cụ thể, chi tiết cũng có kết quả là chúng luôn tồn tại tính cân đối, trong trường hợp này được gọi là cân đối bộ phận hay cân đối chi tiết, ví dụ: Giá trị cuối kỳ của một đối tượng cụ thể = Giá trị đầu kỳ + Số phát sinh tăng – Số phát sinh giảm Phương trình trên có thể áp dụng cho bất kỳ đối tượng kế toán cụ thể nào. • Như vậy, đối tượng kế toán tiếp cận từ góc độ tổng quát hay cụ thể cũng luôn tồn tại tính cân đối, sử dụng yếu tố này, kế toán sẽ tổng hợp số liệu để lên các chỉ tiêu kinh tế trong các báo cáo đáp ứng yêu cầu của người sử dụng. • Nội dung của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán được xây dựng bởi hai yếu tố: Bảng tổng hợp cân đối và phương pháp tổng hợp số liệu. • Trong đó bảng tổng hợp cân đối là các báo cáo kế toán chứa đựng các chỉ tiêu kinh tế, hình thức biểu hiện của bảng tổng hợp sẽ khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu cung cấp thông tin, nhưng có hai dạng cơ bản là bảng tổng hợp tổng thể trong đó có các chỉ tiêu kinh tế tổng quát, khái quát và bảng tổng hợp bộ phận (chi tiết) trong đó có các chỉ tiêu báo cáo ở dạng cụ thể, chi tiết. • Yếu tố thứ hai tạo nên nội dung của phương pháp đó là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán để lên các chỉ tiêu trong báo cáo, trong công tác kế toán có rất nhiều loại sổ kế toán khác nhau và cũng có nhiều loại báo cáo kế toán khác nhau do vậy thiết lập mối liên hệ từ sổ kế toán với các kế toán là một công việc hết sức phức tạp do vậy yếu tố thứ hai trong nội dung phương pháp tổng hợp cân đối là hết sức quan trọng. • Để phục vụ cho công tác quản lý tài chính thì đơn vị cần phải có các tài liệu tổng hợp phản ánh toàn bộ hoạt động của mình. Các tài liệu tổng hợp không chỉ cần cho bản thân đơn vị mà còn cần thiết cho những đối tượng có quyền lợi trực tiếp hoặc gián

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I LÝ THUYẾT 3

1 Nội dung, ý nghĩa của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán 3

1.1 Nội dung của phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán 3

1.2 Ý nghĩa của phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán 5

2 Bảng cân đối kế toán 6

2.1 Nội dung của Bảng cân đối kế toán 6

2.2 Kết cấu của Bảng cân đối kế toán 7

2.3 Tính chất của bảng cân đối kế toán 8

2.4 Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán 9

II Thực trạng và đánh giá thực trạng về bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 11

1 Thực trạng chế độ kế toán Việt Nam qua một số thời kỳ về lập, sử dụng Bảng cân đối kế toán 11

2 Căn cứ lập bảng cân đối kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam 14

3 Quy trình lập bảng cân đối kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam 14

4 Đánh giá thực trạng bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 15

III Hoàn thiện bảng cân đối kế toán 17

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết đề tài

Trong thời đại kinh tế phát triển và hội nhập như hiện nay Sự phát triển của sản xuất làđiều kiện nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập thị trường trong và ngoàinước, cũng như thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới Nhờ có những đổi mớitrong các chính sách của nhà nước ta nên có rất nhiều doanh nghiệp và loại hình doanhnghiệp đang ngày được mở rộng kinh doanh trên nhiều lĩnh vực

Vì vậy để có thể có những chiến lược kinh doanh cũng như nắm bắt quản lý quá trình sảnxuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều sử dụng công cụ khác nhau trong đó công tác kếtoán là công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất Đặc biệt là phương pháp cân đối kế toán đóngvai trò tình bày một cách tổng hợp một cách tổng quát toàn diện về tình hình tài sản nguồnvốn công nợ…Trên cơ sở đó các nhà quản lý tiến hành phân tích, đánh giá tình hình hoạtdộng sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính trong doanh nghiệp

Từ những nhu cầu cần thiết đó nhóm đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phương pháp tổng hơp cân đối kế toán, thực trạng và giải pháp hoàn thiện.” nhằm tìm hiểu rõ về công tác

kế toán trong doanh nghiệp

Trang 3

I LÝ THUYẾT

1 Nội dung, ý nghĩa của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

1.1 Nội dung của phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán

Khái niệm: Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán là phương pháp khái quát tình

hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khác thuộc đối tượng hạch toán trên những mặt bản chất và các mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán

Phương pháp tổng hợp và cân đối: là sự sàng lọc, lựa chọn, liên kết những thông tin

riêng lẻ từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong sổ kế toán, theo các quan hệ cân đối mang tính tất yếu vốn có của các đối tượng kế toán, để hình thành nên những thông tin tổng quát nhất về tình hình vốn, kết quả kinh doanh của đơn vị, thể hiện dưới dạng các báo cáo tổng hợp và cân đối như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh…

 Tổng hợp và cân đối kế toán được ứng dụng rộng rãi trong công tác kế toán, có thể ứng dụng trên từng bộ phận tài sản và nguồn vốn, từng quá trình kinh doanh hoặc cân đối toàn bộ tài sản, nguồn vốn hay tổng hợp kết quả kinh doanh chung cho toàn bộ quá trình kinh doanhdoanh của đơn vị trong một thời kỳ nhất định

Mục đích khi kế toán sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối là nhằm tổng hợp số liệu

từ các sổ kế toán để lên được các chỉ tiêu trong báo cáo

Cơ sở để thực hiện xây dựng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán đó là tính cân đối

vốn có của đối tượng kế toán Như đã giới thiệu trong phần đối tượng mà kế toán theodõi, phản ánh bao gồm: tài sản và sự vận động của tài sản, những đối tượng này hết sức

đa dạng và phong phú cả về hình thức biểu hiện, công dụng và sự vận động, tuy nhiênbản thân chúng luôn tồn tại tính cân đối, điều này thuộc bản chất hay thuộc tính tự nhiênvốn có của chúng Khi xem xét tính cân đối của đối tượng kế toán có thể tiếp cận từ haigóc độ: tính cân đối tổng quát và tính cân đối bộ phận

Đối tượng kế toán khi xem xét từ góc độ tổng quát cũng tồn tại tính cân đối và được

gọi là tính cân đối tổng quát, ví dụ:

Trang 4

TÀI SẢN = NGUỒN VỐN TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU KẾT QUẢ (LÃI, LỖ) = DOANH THU (THU NHẬP) – CHI PHÍ

Cụ thể hơn khi xem xét đối tượng kế toán dưới dạng cụ thể, chi tiết cũng có kết quả làchúng luôn tồn tại tính cân đối, trong trường hợp này được gọi là cân đối bộ phận haycân đối chi tiết, ví dụ:

Giá trị cuối kỳ của một đối tượng cụ thể = Giá trị đầu kỳ + Số phát sinh tăng –

Số phát sinh giảm

Phương trình trên có thể áp dụng cho bất kỳ đối tượng kế toán cụ thể nào

 Như vậy, đối tượng kế toán tiếp cận từ góc độ tổng quát hay cụ thể cũng luôn tồn tạitính cân đối, sử dụng yếu tố này, kế toán sẽ tổng hợp số liệu để lên các chỉ tiêu kinh tếtrong các báo cáo đáp ứng yêu cầu của người sử dụng

 Nội dung của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán được xây dựng bởi hai yếu tố:Bảng tổng hợp cân đối và phương pháp tổng hợp số liệu

 Trong đó bảng tổng hợp cân đối là các báo cáo kế toán chứa đựng các chỉ tiêu kinh tế,hình thức biểu hiện của bảng tổng hợp sẽ khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu cung cấpthông tin, nhưng có hai dạng cơ bản là bảng tổng hợp tổng thể trong đó có các chỉ tiêukinh tế tổng quát, khái quát và bảng tổng hợp bộ phận (chi tiết) trong đó có các chỉ tiêubáo cáo ở dạng cụ thể, chi tiết

 Yếu tố thứ hai tạo nên nội dung của phương pháp đó là phương pháp tổng hợp số liệu

từ các sổ kế toán để lên các chỉ tiêu trong báo cáo, trong công tác kế toán có rất nhiềuloại sổ kế toán khác nhau và cũng có nhiều loại báo cáo kế toán khác nhau do vậy thiếtlập mối liên hệ từ sổ kế toán với các kế toán là một công việc hết sức phức tạp do vậyyếu tố thứ hai trong nội dung phương pháp tổng hợp cân đối là hết sức quan trọng

 Để phục vụ cho công tác quản lý tài chính thì đơn vị cần phải có các tài liệu tổng hợpphản ánh toàn bộ hoạt động của mình Các tài liệu tổng hợp không chỉ cần cho bản thân

Trang 5

đơn vị mà còn cần thiết cho những đối tượng có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đốivới đơn vị, và những ai có quan tâm đến hoạt động của đơn vị.

 Việc phản ánh vào sổ sách kế toán mới chỉ phản ánh được từng loại tài sản, từng loạinguồn vốn cũng như từng mặt riêng biệt của quá trình hoạt động của mỗi đơn vị Các tàiliệu này mặc dù rất cần thiết cho công tác quản lý, song yêu cầu tổng hợp từ các sổ kếtoán thành hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về mặtquản lý tài chính Các thông tin tổng hợp được gọi là các thông tin tài chính mà công tác

kế toán phải có trách nhiệm cung cấp một cách kịp thời, chính xác trung thực

 Do tính chất tổng hợp của các thông tin tài chính nên số liệu được sử dụng để xác lậpcác chỉ tiêu tổng hợp đều được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ (chỉ sử dụng duy nhấtthước đo bằng tiền)

 Cân đối là tính chất vốn có gắn liền với đối tượng mà kế toán phản ánh và giám đốcbiểu hiện qua mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành nên tài sản, ngoài ra nó cầnđược biểu hiện thành những quan hệ cụ thể bên trong của bản thân tài sản, bản thânnguồn vốn và mối quan hệ giữa chúng với nhau trong quá trình vận động

 Hình thức biểu hiện:

Hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán (hệ thống báo cáo kế toán)

 Báo cáo tài chính:

 Bảng cân đối kế toán

 Báo cáo kết quả kinh doanh

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

 Bản thuyết minh BCTC

 Báo cáo kế toán quản trị

1.2 Ý nghĩa của phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán

 Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán cung cấp những thông tin khái quát, tổng hợp nhất về vốn, nguồn vốn, quá trình kinh doanh mà các phương pháp chứng từ, đối ứng tài

Trang 6

khoản, tính giá thành phẩm, hàng hoá… không thể cung cấp được những thông tin được

xử lý lựa chọn trên các báo cáo kế toán do phương pháp tổng hợp, cân đối tạo ra

 Cung cấp các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp để đánh giá năng lực hoạt động và khảnăng tài chính của doanh nghiệp đối với nhà quản trị, đối với cơ quan quản lý nhà nước

và đối với tổ chức, cá nhân ngoài doanh nghiệp

 Có ý nghĩa to lớn cho những quyết định quản lý có tính chiến lược trong nhiều mối quan

hệ qua lại của các yếu tố, các quá trình, kiểm tra tình hình chấp hành kế hoạch, phát hiện

và ngăn ngừa tình trạng mất cân đối và dựa vào kết quả đã thực hiện để điều chỉnh, cụ thể hoá các kế hoạch kinh tế, quản lý một cách tốt hơn việc thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp trong các lĩnh vực tài chính và quá trình kinh doanh

 Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán cung cấp những thông tin khái quát, tổng hợpnhất về tài sản, nguồn vốn và quá trình kinh doanh mà các phương pháp kế toán khác đãthực hiện như: phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tínhgiá

 Sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán có thể tập hợp số liệu từ nhiều sổ kếtoán để lên được các chỉ tiêu kinh tế trong báo cáo kế toán đáp ứng yêu cầu của người sửdụng

 Nhờ có phương pháp tổng hợp cân đối kế toán, các đối tượng sử dụng thông tin có đượcthông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả hoạt động của đơn vị kếtoán Từ đó, có cơ sở để tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả hoạtđộng kinh doanh, tình hình tài chính của đơn vị Trên cơ sở phân tích, đánh giá các tìnhhình trên nhà quản lý doanh nghiệp sẽ nghiên cứu và ban hành các chính sách, chế độkinh tế tài chính mới phù hợp hơn Bên cạnh đó còn đề ra các giải pháp, các quyết địnhtối ưu về quản lý và điều hành các hoạt động của đơn vị trong hiện tại và trong tương lai,thúc đẩy sự phát triển của đơn vị

Trang 7

2 Bảng cân đối kế toán

2.1 Nội dung của Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán,

phản ánh tài sản của một đơn vị tại một thời điểm theo hai góc độ theo kết cấu vốn kinhdoanh và theo nguồn hình thành vốn kinh doanh

Bảng cân đối kế toán còn là kết quả của loại hình kế toán tài chính, nó là một trongnhững báo cáo tài chính mà đơn vị lập

Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản cuả đơn vị theo hai cách phânloại tài sản và nguồn vốn, được chia thành 2 phần: phần tài sản và phần nguồn vốn

- Phần tài sản: bao gồm một hệ thống chỉ tiêu kinh tế được chia thành từng loại, mục,khoản mục phản ánh tình trạng và cơ cấu của tài sản bao gồm 2 loại:

+ Loại A: Tài sản ngắn hạn

+ Loại B: Tài sản dài hạn

- Phần nguồn vốn: bao gồm một hệ thống chỉ tiêu kinh tế được chia thành từng loại,mục, khoản mục phản ánh tình trạng của nguồn vốn và cơ cấu của nguồn vốn gồm 2loại:

+ Loại A: Nợ phải trả

+ Loại B: Vốn chủ sở hữu

2.2 Kết cấu của Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần theo kết cấu dọc:

- Phần trên là phần “Tài sản”

- Phần dưới là phần “Nguồn vốn”

Căn cứ vào mức độ linh hoạt của tài sản hoặc tính thanh khoản của nguồn vốn để sắpxếp thứ tự các chỉ tiêu trong từng phần theo tính giảm dần (Tài sản ngắn hạn, tài sản dàihạn; nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn; vốn chủ sở hữu, nguồn kinh phí và các quỹ)

 Kết cấu phần chính của Bảng cân đối kế toán được chia thành 05 cột:

- Cột chỉ tiêu (tài sản, nguồn vốn);

Trang 8

- Cột số đầu năm: Lấy số liệu của bảng cân đối kế toán cuối năm trước;

- Cột số cuối kỳ: Căn cứ vào số dư cuối kỳ của các tài khoản kế toán để xây dựng cácchỉ tiêu tương ứng

 Để lập Bảng cân đối kế toán cần phải thực theo theo 3 nguyên tắc sau:

- Số dư bên Nợ các tài khoản (tài khoản loại 1 và 2 trong hệ thống tài khoản kế toánthống nhất) phản ánh vào bên Tài sản

- Số dư bên Có các tài khoản (tài khoản loại 3 và loại 4) phản ánh vào bên Nguồn vốncủa Bảng cân đối kế toán

- Không được bù trừ số dư các tài khoản hỗn hợp khi lập Bảng cân đối kế toán

 Những trường hợp đặc biệt: Cần xử lý khi lấy số dư của các tài khoản thuộc nhóm tàikhoản điều chỉnh và tài khoản hỗn hợp hay còn gọi là tài khoản thanh toán:

- Số dư bên Có của các tài khoản sau đây được phản ánh bên Tài sản của Bảng cân đối

kế toán, nhưng ghi đỏ hay ghi trong ngoặc đơn: TK 214, TK 129, TK 159, TK 229

- Số dư của các tài khoản sau đây luôn được phản ánh bên Nguồn vốn của Bảng cânđối kế toán, nếu số dư bên Có ghi bình thường, nếu số dư bên Nợ phải ghi đỏ (ghiâm): TK 421, TK 412, TK 413

- Đối với các tài khoản sau đây không được bù trừ số dư bên Nợ và bên Có, phải táchriêng số dư bên Nợ để phản ánh vào bên Tài sản của Bảng cân đối kế toán, số dư bên

Có để phản ánh bên Nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán: TK 131, TK 331

Trang 9

2.3 Tính chất của bảng cân đối kế toán

- Tính chất cơ bản nhất của bảng cân đối kế toán là tính cân đối Biểu hiện của tính cânđối là tổng số tiền phần tài sản và tổng số tiền phần nguồn vốn của bảng cân đối kế toánđược lập ở một thời điểm luôn bằng nhau

- Tính chất cân đối của bảng cân đối kế toán là một tất yếu khách quan, vì bảng cân đối

kế toán được xây dựng trên cơ sở quan hệ tổng hợp và cân đối tổng thể giữa tài sản và nguồnvốn

- Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thường xuyên phát sinh các nghiệp vụkinh tế có nội dung khác nhau làm cho tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp biến động

Do đó, tại các thời điểm khác nhau, tình trạng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp cũngkhác nhau Nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm ảnh hưởng đến cả hai bên tài sản và nguồn vốncủa bảng cân đối kế toán sẽ làm cho tỷ trọng các mục bên tài khoản và bên nguồn vốn thayđổi, tổng số tiền bên tài khoản và bên nguồn vốn cùng tăng hoặc cùng giảm Vì vậy bất kỳnghiệp vụ kinh tế phát sinh nào cũng không làm mất tính cân đối của bảng cân đối kế toán

2.4 Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán

 Cơ sở của mối quan hệ

Trước hết cả Bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán đều được sử dụng để phản ánh

về đối tượng kế toán nhưng ở phạm vi mức độ và tình trạng khác nhau.BCĐKT phản ánh đốitượng kế toán ở trạng thái tĩnh, TKKT phản ánh đối tượng kế toán cả trạng thái tĩnh và động.Đối với Bảng cân đối kế toán đối tượng kế toán chỉ bao gồm tài sản của đơn vị và giá trịphản ánh là tại một thời điểm.Trong khi đó với tài khoản kế toán cũng là phản ánh đối tượng

kế toán nhưng tài khoản gồm những loại phản ánh về tài sản và cả sự vận động của tài sản(tài khoản doanh thu, tài khoản chi phí ) nội dung tài khoản phản ánh về từng đối tượngcũng bám sát theo từng nghiệp vụ kinh tế, do vậy số liệu trong tài khoản vừa mang đặc tínhthời điểm (thể hiện ở số dư của tài khoản) nhưng cũng đồng thời mang cả đặc tính thời kỳ(thể hiện ở số phát sinh).Tài khoản dùng phản ánh một cách thường xuyên liên tục các đốitượng kế toán hay cụ thể hơn là phản ánh từng khoản tài sản, từng khoản nguồn hình thànhcủa tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phương pháp

Trang 10

TKKT thu thập các thông tin đầu vào, phương pháp TH-CĐ kế toán là nơi cung cấp thôngtin đầu ra.

Điểm khác biệt nữa giữa Bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán đó là mức độ thôngtin khi phản ánh đối tượng Trong Bảng cân đối kế toán các chỉ tiêu phản ánh về đối tượng là

ở góc độ khái quát còn với hệ thống tài khoản thì khả năng phản ánh sẽ cụ thể, chi tiết hơnthể hiện là tài khoản kế toán không chỉ có tài khoản tổng hợp mà còn có những tài khoản chitiết đi kèm nếu có nhu cầu chi tiết hóa thông tin

 Biểu hiện của mối quan hệ

Về mặt ghi chép thì 2 phương pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mốì quan hệ đóđược thể hiện ở 2 điểm sau:

 Đầu kỳ khi mở các tài khoản kế toán thì phải căn cứ và SCI liệu trên Bảng cân đối kếtoán ở kỳ trước để ghi số dư đầu kỳ vào tài khoản

 Cuối kỳ kế toán phải lập Bảng cân đối kế toán bằng cách căn cứ vào số liệu ở trên tàikhoản chủ yếu là số dư cuối kỳ của các tài khoản để ghi vào bảng cân đối kế toán:SDCK các TKTS được xếp vào các vhir tiêu bên tài sản của BCĐKT, SDCK các TKNVđược xếp vào chi tiêu bên nguồn vốn của BCĐKT

Bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tại một đơn

vị kế toán khi mới đi vào hoạt động (hay bắt đầu kỳ kế toán mới) thì căn cứ để kế toán ghi số

dư đầu kỳ vào các tài khoản đó là Bảng cân đối kế toán Từ số dư này trong kỳ kế toán sẽcập nhật nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào trong tài khoản, đến cuối kỳ kế toán sẽ xác định số

dư của từng tài khoản Số dư của các tài khoản ở thời điểm cuối kỳ là căn cứ để kế toán lậpBảng cân đối kế toán mới.Bảng CĐKT lập theo nguyên tắc trên, kế toán sẽ tiến hành cộngtổng TS và tổng NV

Số tiền của phần Tài sản = Số tiền phần nguồn vốn

- Đối với các tài khoản đặc biệt:

+ TK điều chỉnh giảm cho tài sản: TK 214, 129, 139, 159…

+ TK lưỡng tình 131, 331

Trang 11

- 4 chi tiêu gộp:

+ Tiền

+ Hàng tồn kho

+ Vay và nợ ngắn hạn

II Thực trạng và đánh giá thực trạng về bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp

ở Việt Nam hiện nay

1 Thực trạng chế độ kế toán Việt Nam qua một số thời kỳ về lập, sử dụng Bảng cân đối kế toán

Trải qua các giai đoạn khác nhau, bảng cân đối kế toán đang ngày càng thay đổi, điềuchỉnh để hợp lý hóa phù hợp với các doanh nghiệp Do đó khi nghiên cứu thực trạng hệthống báo cáo tài chính nói chung và Bảng cân đối kế toán nói riêng qua các thời kỳ, phảidựa vào đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước

Giai đoạn trước năm 1957: Việc điều hành kinh tế xã hội giai đoạn này chủ yếu bằng

mệnh lệnh nên hệ thống báo cáo tài chính được xây dựng và ban hành càng mang tính cứngnhắc, chủ yếu phục vụ quản lý của các cơ quan nhà nước mà ít chú trọng đến phục vụ quản

lý của bản thân doanh nghiệp đến hệ thống báo cáo tài chính được áp dụng thống nhất theotừng loại hình xí nghiệp theo quyết định 223_CP ngày 1/12/1970 hệ thống báo cáo tài chínhđịnh kỳ gồm 13 báo biểu, chia ra làm 4 loại, phản ánh vốn và nguồn vốn kinh doanh của xínghiệp; phản ánh chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, phản ánh tình hình tiêu thụ sảnphẩm và lãi lỗ, phản ánh các quỹ xí nghiệp, tiền mặt và thanh toán

Giai đoạn từ năm 1975 đến 1986: nước ta mới thoát khỏi chiến tranh, nền kinh tế gặp

phải vô vàn khó khăn nên hệ thống kế toán trước đây đã bắt đầu bộc lộ những điểm khiếmkhuyết nhất định Do vậy, trong giai đoạn này các chế độ kế toán mới liên tục được sửa đổi,

bổ sung hay ban hành cho phù hợp.Từ đó đã ra đời chế độ báo cáo thống kê kế toán định kỳ

do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành theo quyết định số 13-TCTK/PPCĐngày 13/1/1986 nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác kế hoạch hoá và công tác quản lý

Trang 12

kinh tế tài chính của nhà nước trong giai đoạn này Tuy nhiên, ở đây chỉ là sự thay đổi vềlượng chứ chưa phải là sự biến đổi về chất

Giai đoạn từ năm 1987 đến 1996: xuất phát từ những yêu cầu của cơ chế quản lý mới

và nhằm khắc phục những hạn chế của chế độ báo cáo kế toán định kỳ trước đây Bộ trưởng

bộ tài chính đã ban hành quyết định 224-TC/CĐKT áp dụng đối với các doanh nghiệp quốcdoanh và quyết định 598-TC/CĐKT áp dụng với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Sau mộtthời gian vận dụng vào thực tế, hệ thống báo cáo kế toán ban hành theo quyết định số 224-TC/CĐKT đã bộc lộ nhiều khuyết điểm Trước thực trạng đó, Bộ Tài Chính ban hành quyết định số 1142/TC/CĐKT áp dụng cho các doanh nghiệp Bảng cân đối kế toánban hành kèm theo quyết định 1141/TC/CĐKT đã có những sửa đổi căn bản cả về tên gọi,kết cấu, nội dung, trật tự sắp xếp các chỉ tiêu Các chỉ tiêu trong từng báo cáo đã được đơngiản hóa, phục vụ thiết thực hơn cho việc quản trị doanh nghiệp, thời gian lập, nộp báo cáotài chính cũng thoáng hơn

Giai đoạn từ 1997 đến nay: Đứng trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế mở và xu

hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu quản lý doanh nghiệp, ngày 25/10/2000chế độ báo cáo tài chính được ban hành theo quyết định 167/2000/QĐ/BTC áp dụng thốngnhất cho mọi loại hình doanh nghiệp Hệ thống biểu mẫu báo cáo được xây dựng trên cơ sởcác nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế, phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực vàquốc tế, có nhiều ưu điểm cả về nội dung lẫn hình thức, khắc phục được phần lớn các nhượcđiểm của chế độ báo cáo trước đây Số lượng báo cáo kế toán đã giảm đáng kể, việc lập vàxét duyệt báo cáo đơn giản, ít tốn kém về công sức và thời gian Tuy vậy, hệ thống báo cáotài chính hiện hành vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Một số chỉ tiêu báo cáotài chính vẫn còn quá chi tiết và thuộc phạm vi của báo cáo quản trị, các chỉ tiêu phản ánhtrong từng báo cáo mặc dù có sự sắp xếp lại nhưng vẫn còn chưa thật hợp lý và không nhấtquán; các tính toán chỉ tiêu chưa thật chính xác; biểu mẫu vẫn còn quá cồng kềnh, phức tạp,không phù hợp với trình độ thực tiễn Việt Nam nên doanh nghiệp khó lòng thực hiện…Điềunày đã dẫn đến tình trạng hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể lập và nộp báo cáotài chính cho các cơ quan quản lý đúng hạn được chứ chưa nói đến báo cáo tài chính đó cóchính xác hay không Một thực tế đau lòng mà chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận là hệ

Ngày đăng: 01/09/2021, 21:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w