1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhân cách người giáo viên

36 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Cách Người Giáo Viên
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 59,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đây chúng tacũng phần nào thấy được “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu “,nhiệm vụcủa giáo dục là nâng cao dân trí ,đào tạo nhân lực ,bồi dưỡng nhân tài ,đào tạocon người mới ,có

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy Điềunày cho thấy, nghề giáo là một nghề rất cao cả, luôn được xã hội kính trọng vàyêu quý từ ngàn xưa đến nay Xã hội dù có phát triển đến đâu thì vị trí, vai tròcủa người thầy giáo, cô giáo trong lòng mỗi con người vẫn được khẳng định với

sự kính yêu và tôn trọng Với mỗi chúng ta, khoảng thời gian đi học là khoảngthời gian đẹp nhất, với nhiều kỷ niệm đáng nhớ, đáng giữ gìn trân trọng nhất.Trong ký ức đó, bạn bè, trường lớp và thầy cô là hình ảnh không bao giờ phai.Thầy, cô giáo là những người đã truyền đạt các kiến thức, những kinh nghiệmsống cho con người từ khi chập chững bước vào đời cho đến khi họ trưởngthành, những kiến thức và kinh nghiệm đó có thể ở nhiều lĩnh vực khác nhaucủa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và cả những kiến thức để hình thànhnhân cách con người, góp phần tạo dựng một xã hội tốt đẹp Như nhà bác học

Lê Quý Đôn đã từng nói “Phi trí bất hưng” nghĩa là quốc gia muốn hưng thịnhthì không thể không quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Giáo dục là sinh mệnhcủa mỗi quốc gia “giáo dục là gốc rễ để gây nền chính trị “ (Phan Bội Châu) Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục làquốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý là khâu then chốt” Đại hội cũng đã xác định: Chăm lo xây dựng đội ngũgiáo viên; xã hội hoá giáo dục, đào tạo; khuyến khích các hoạt động khuyến học,khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng hợp tác quốc tế và tăng ngân sáchcho hoạt động giáo dục, đào tạo (GD-ĐT) Phát triển đội ngũ nhà giáo với cơcấu hợp lý, có chất lượng sẽ là động lực quan trọng để đổi mới và nâng cao chấtlượng GD-ĐT, góp phần quan trọng tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao,đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế.Đồng thời, Đại hội cũng đã chỉ ra các giải pháp cơ bản phát triển đội ngũ giáoviên, trong đó coi giải pháp: "xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp

Trang 2

ứng yêu cầu về chất lượng”, là khâu then chốt, là tiền đề trong đổi mới GD-ĐThiện nay Chủ trương “Phát triển đội ngũ giáo viên là khâu then chốt trong đổimới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo” thể hiện tư duy và nhận thức cáchmạng, khoa học, toàn diện, triệt để và sâu sắc của Đại hội XI Qua đây chúng tacũng phần nào thấy được “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu “,nhiệm vụcủa giáo dục là nâng cao dân trí ,đào tạo nhân lực ,bồi dưỡng nhân tài ,đào tạocon người mới ,có kiến thức ,có phẩm chất cách mạng , có kĩ năng xây dựng vàbảo vệ đất nước Và người đảm bảo sứ mệnh quan trọng và thiêng liêng đókhông ai khác là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục - Những người vẫnđược xã hội tôn vinh sự nghiệp “Trồng người” - đạo đức của nhà giáo có ảnhhưởng to lớn đến hình thành nhân cách , đạo đức của người học Bởi vậy việcnâng cao phẩm chất đạo đức của nhà giáo là vấn đề vô cùng quan trọng đặt ra ởbất kì thời điểm nào , nhất là trong giai đoạn hiện nay

Trong những năm qua , lớp lớp thế hệ nhà giáo đã nỗ lực hết mình , vượtqua bao khó khăn, gian khổ để đào tạo cho quê hương , đất nước những thế hệcon người mới có tri thức cao , có phẩm chất đạo đức tốt, có kĩ năng nghềnghiệp , kĩ năng sống , đáp ứng sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc Đa số độingũ nhà giáo của ngành tâm huyết , có tinh thần trách nhiệm , tận tụy với côngviệc , sáng tạo và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục Tuy nhiên, cùngvới sự phát triển của đất nước , do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trườngcùng với đời sống còn nhiều khó khăn , một số nhà giáo chưa thực sự gươngmẫu , đang có nguy cơ suy thoái về phẩm chất đạo đức, nhân cách, xói mònlương tâm nghề nghiệp

Hiện nay ,chúng ta ko quá bất ngờ khi trên các phương tiện truyền thông,báo chí ngày càng không ít vụ việc thầy giáo đánh học sinh, lạm dụng uy quyền

để thực hiện lợi ích cá nhân của mình , nhiều học sinh đã bỏ học vì chán ghétgiáo viên của mình Tất cả đều liên quan đến nhân cách người thầy.Trước thựctrạng đó đã thôi thúc tôi chọn đề tài “nhân cách người giáo viên “ đề nghiên cứuvới mong muốn có thể góp phần nâng cao nhận thức của một bộ phận giáo viênnhằm nâng cao chất lượng giáo dục, xứng đáng với kì vọng , tin cậy của xã hộivới sự nghiệp trồng người

Trang 3

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NHÂN CÁCH

I: LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nhân cách là vấn đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.Khảo sát các công trình khoa học nghiên cứu về nhân cách, chúng ta thấy cónhiều định nghĩa về nhân cách Với mỗi ngành khoa học nghiên cứu khoa họcvới mỗi công trình nghiên cứu , tùy vào yêu cầu , mục đích nghiên cứu cụ thể ,các nhà khoa học lại xây dựng một định nghĩa khác nhau về nhân cách

Tư tưởng về nhân cách đã được Arixtot (384-322 TCN) – nhà triết học cổ

Hi Lạp – Bàn đến khi ông cho rằng , con người là một “ động vật chính trị “(Joon poltikon) Ở đây , bước đầu Arixtot đã thấy được vai trò xã hội của giáodục tác động đến sự phát triển của con người như là một nhân cách Đến cuốithế kỉ XIX đầu thế kỉ XX , hai nhà tâm lí học người Đức - Dilthey và Spangermới đưa ra khái niệm nhân cách Theo các ông, nhân cách là cái mặt nạ có tínhchất xã hội của cái tôi bên trong Khi nào cái mặt nạ đó trùng với cái tôi thì nhâncách phát triển chin muồi Thuật ngữ nhân cách (Personalyti) xuất phát từ tiếng

la tinh cổ đại Persona(cá tính) và tiếng latinh trung cổ personalitas, nghĩa gốccủa từ mặt nạ , chỉ vẻ bề ngoài của cá nhân

Ngày nay, xã hội ngày càng văn minh , phát triển thì mối quan hệ ngườivới người ngày càng trở nên phức tạp nên vấn đề yêu cầu về nhân cách tốt, cóđạo đức của mỗi con người là một vấn đề ngày càng được quan tâm , được chú ýnhiều do vậy đòi hỏi việc nghiên cứu về vấn đề nhân cách cũng ngày càng trởnên cấp thiết trong nhiều lĩnh vực như kinh tế-chính trị,ngoại giao,giáo dục Chỉkhi trong mỗi con người nhận thức hiểu biết rõ về nhân cách thì từ đó mới có thểphát huy được bản thân và điều chỉnh hành vi của mình sao cho hợp lí , đúng vớichuẩn mực của xã hội Đây là vấn đề quan trọng và rất cần thiết trong mốiquan hệ giữa con người với con người ,điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứusâu hơn trong vấn đề nhà trường với mối quan hệ thầy (cô) giáo với học sinhTHPT để từ đó phần nào đánh giá nhìn nhận được tình hình phát triển nhân cách

Trang 4

của thế hệ trẻ Nhưng điều cần thiết và quan trọng cốt yếu nhất là trước tiênnhững người có khả năng hướng dẫn ,chỉ dạy đặc biệt là người giáo viên phải

có một nhân cách tốt , có thể hiểu được tâm lí của từng độ tuổi, hiểu đượcnguyên nhân dẫn tới nhiều hành động sai trái của các em , biết quan tâm , chia

sẻ , giúp đỡ động viên các em, phải dạy cho các em thấy được cách dùng tìnhyêu thương để bù đắp những sự mất mát , đau thương, biết được dùng bạo lực làkhông nên , không nên thờ ơ ,vô cảm khi thấy người gặp hoạn nạn mà khônggiúp đỡ … để từ đó bồi đắp cho học sinh nhân cách cao đẹp và tạo ra một thế hệ

có những người có đủ đức , đủ tài để góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước và đểlại được cho nhiều thế hệ sau nữa nhiều bài học, nhiều tấm gương về nhân cáchtốt Bên cạnh những mặt tốt của đa số giáo viên yêu nghề, có lòng nhiệt huyết ,quan tâm góp phần phát triển nhân cách của học sinh thì vẫn còn tồn tại một sốngười giáo viên có phương hướng giáo dục nhân cách sai lệch , có những hành

vi , cử chỉ không phù hợp với tư cách của người giáo viên đã gián tiếp “đầu độc”tâm hồn của học sinh và khiến tạo ra một số suy nghĩ tiêu cực trong người họcsinh về nhân cách của giáo viên từ đó gây ra những định hướng , hành động sailệch trong các em Vì thế chúng ta phải nghiên cứu thật kĩ càng , đi sâu vào tìmhiểu nhân cách để từ đó góp phần xây dựng, bồi đắp nhân cách , nếp sống tốtcũng như loại bỏ , giảm bớt được phần nào những suy nghĩ , hành động tiêu cựctrong nhân cách của mỗi con người

II: TÌM HIỂU CHUNG VỀ NHÂN CÁCH

1:Khái niệm nhân cách

1.1:Khái niệm con người,cá tính,cá nhân,nhân cách

Con người :là thành viên của cộng đồng,một xã hội,vừa là một thực thể

tự nhiên,vừa là một thực thể xã hội Có một định nghĩa về con người được thừanhận khá rộng rãi là: “Con người là một thực thế sinh vật-xã hội và văn hoá”.Với quan niệm này cần nghiên cứu tiếp cậncon người theo cả ba mặt: sinhvật,tâm lí,xã hội

Cá nhân :khái niệm cá nhân dùng để chỉ một người cụ thể của một cộng

Trang 5

đồng,thành viên của xã hội Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật-xã hội và vănhoá, nhưng được xem xét cụ thể riêng ở từng người với các đăc điểm về sinhlí,tâm lí và xã hội để phân biệt cá nhân với cá nhân khác trong một cộng đồng.

Cá tính :khái niệm cá tính dùng để chỉ cái đơn chất ,có mottj không

hai,không lặp lại trong tâm lí( hoặc sinh lí) của cá thể động vật hoặc cá thể(cánhân) người

Nhân cách:khái niệm nhân cách chỉ bao hàm phần xã hội,tâm lí của cá

nhân với tư cách thành viên của một xã hội nhất định,là chủ thể của các quan hệngười-người của hoạt động có ý thức và guiao lưu

1.2:Khái niệm nhân cách trong tâm lí học

Có rất nhiềuđịnh nghĩa và quan niệm khác nhau về nhân cách Ngay từnăm 1949,G.Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm líhọc về nhân cách

Hiện nay có rất nhiều lí thuyết khác nhau về nhân cách trong khoa họctâm lí Có thể nêu lên một số học thuyêt sau: Thuyết phân tâm củaS.Freud,thuyết siêu đẳng và bù trừ của A.Adler thuyết lo lắng của K.Horney,thuyết phát huy bản ngã của A.Maslow thuyết đặc trưng của G.Allport, thuyếtnhu cầu tâm lí của H.Murray ,thuyếttương tác xã hội của Mead , thuyết cá nhâncủa R.Sears, lí thuyết nhân cách của nhà tâm lí học Xô Viết:A.N.Lêônchier,A.V.Pêtrovxki

Quan điểm sinh vật hoá nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong

các đặc điểm hình thể (Krestchmev), ở góc mặt (C.Lombrozo) ,ở thể trạng thái(Sheldon).ở bản năng vô thức (S.Fread)

Quan điểm xã hội hoá nhân cách lấy các quan hệ xã hội (gia đình ,họhàng,hàng xóm ) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lícủa cá nhân

Các nhà tâm lí học khoa học cho rằng khái niệm nhân cách là một phạmtrù xã hội, có bản chất xã hội-lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nộidung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội cụ thể chuyển vào thành đặc

Trang 6

điểm nhân cách của từng người

Có một số định nghĩa về nhân cách như sau:

- “Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong

xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” (A.G.Côvaliôav)

- “Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính vàphẩm chất tâm lí,qui định của hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội”(E.V.Sôrôkhôva)

Từ những điều trên ,có thể nêu lên một định nghĩa về nhân cách như sau:Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân ,biểuhiện bản sắc và giá trị xã hội của con người

Như vậy, nhân cách là sự tổng hoà khống phái các đặc điểm cá thể củacon người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viêncủa xã hội,nói lên bộ mặt tâm lí – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi

cá nhân Những thuộc tính tâm lí tạo thành nhân cách thường biểu hiện trên bacấp độ: cấp đọ bên trong cá nhân ,cấp độ liên cá nhân và cấp độ biểu hiện rahoạt động và các sản phẩm của nó

2:Các đặc điểm nhân cách

Có thể xem xét nhân cách như một cấu trúc tâm lí ổn định, thống nhấtmang tính tích cực và giao lưu với tư cách là chức năng xã hội , guiá trị xãhội,cốt cách làm nhân cách của cá nhân Vì thế người ta thường nói đến 4 đặcđiểm cơ bản của nhân cách như sau:

2.1 Tính thống nhất của nhân cách

Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữađức và tài của con người Trong nhân cách có sự thống nhất hài hoà giữa các cấpđộ: Cấp độ bên trong cá nhân ,cấp độ liên cá nhân và cấp đọ siêu cá nhân Cấp

độ thứ ba xem xét giá trị xã hội của nhân cách ở những hoạt động ở những mốiquan hệ xã hội mà nhân cách gây nên như biến đổi ở những nhân cách khác.Chính vì thế các nhà tâm lí học Xô Viết đã viết “ Nhân cách chỉ có thể trong sựthống nhất của ba bình diện ( cá nhân,liên cá nhân,siêu cá nhân ) như là sự đại

Trang 7

diện lí tưởng của cá nhân trong những cá nhân khác, trong các mối quan hệ củanóvới cá nhân ấy Trong chính bản thân nó mhư là một đại diện của cái toànthể,được khám phá qua thực tế của xã hội”

Vì thế ,khi đánh giá về nhân cách của bất kỳ một cá nhân nào , chúng tacần đánh giá tính thống nhất của nó chứ không tách riêng từng nét,từng thuôctính để đánh giá Khi rèn luyện và hình thành nhân cách phải hoàn thiện mộtcách đồng bộ, không giáo dục nhân cách theo “từng phần”

Ví dụ: Ở Bác Hồ có sự thống nhất giữa đức và tài

2.2: Tính ổn định của nhân cách

Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lí tương đối ổn định , tiềm tàngtrong mỗi cá nhân Những đặc điểm tâm lí nói lên bộ mặt tâm lí – xã hội của cánhân , quy định giá trị xã hội làm người của mỗi cá nhân Vì thế nhân cách làcái sinh thành và phát triển trong suốt cuộc đời cộng đồng , biểu hiện trong hoạtđộng và mối quan hệ giao lưu của cá nhân trong xã hội Vì thế các đặc điểmnhân cách, các phẩm chất nhân cách tương đối khó hình thành và cũng khó mất

đi Trong thực tế từng nét nhân cách(từng thuộc tính,từng phẩm chất) có thể bịthay đổi do cuộc sống , nhưng nhìn một cách tổng thể thì chúng vẫn tạo thànhmột cấu trúc trọn vẹn , tương đối ổn định Do tính ổn định của nhân cách , khiđánh giá nhân cách , chỉ đánh giá những phẩm chất hoặc những nét tính cáchkhá ổn định của nhân cách Đồng thời trong quá trình hình thành hay điều chỉnhnhân cách cần chú ý không nóng vội, đòi hỏi kết quả nhanh chóng

Ví dụ : Một người nào đó có tính cách rất hay nóng nảy và rất hay quátmắng trước những chuyện mà người đó không vừa lòng và khi người đó muốnsửa đổi tính cách của mình thì cũng rất khó khăn để có thể thay đổi được

2.3: Tính tích cực của nhân cách

Nhân cách là chủ thể của hoạt động và gián tiếp , là sản phẩm của xã hội

Vì thế nhân cách mang tính tích cực Một cá nhân được thừa nhận là một nhâncách khi nào anh ta tích cực hoạt động trong những hình thức đa dạng củanó,nhờ vào việc nhận thức , cải tạo sáng tạo ra thế giới và đồng thời cải tạo

Trang 8

chính bản thân mình Giá trị đích thực của nhân cách , chức năng xã hội và cốtcách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực của nhân cách các nhàtâm lí học cũng đã chỉ rõ hệ thống nhu cầu của cộng đồng là nguồn gốc và độnglực chủ yếu của nhân cách Tính tích cực của nhân cách biểu hiện trong quátrình thỏa mãn các nhu cầu của nó Con người không thỏa mãn bằng các đốitượng có sẵn mà nhờ công cụ , nhờ lao động con người đã biến đổi, đã sáng tạo

ra các đối tượng làm cho nó phù hợp với nhu cầu của bản thân Mặt khác conngười tích cực tìm kiếm những cách thức , các phương thức thỏa mãn các nhucầu là một quá trình tích cực có mục đích , trong đó con người làm chủ đượcnhững hình thức hoạt động do sự phát triển xã hội quy định nên

Ví dụ : trong nhân cách của mỗi con người thì có nhận thức và lí trí vì thếkhi nhìn nhận về sự vật , hiện tượng con người có thể nhận biết được mặt tốt của

sự vật , hiện tượng đó để từ đó phát huy , tiếp thu và phát triển hơn nữa cũngnhư thấy được mặt xấu để từ đó hạn chế lại và tránh mắc sai lầm

2.4: Tính giao lưu của nhân cách

Nhân cách chỉ có thể hình thành , phát triển , tồn tại và thể hiện trong hoạtđộng và trong mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác Nhu cầu giaolưu được xem như là một nhu cầu bẩm sinh của con người gia nhập vào cácquan điểm xã hội , lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội Đồng thời cũng qua giao lưu mà con người được đánh giá , được nhìn nhận theoquan hệ xã hội Qua giao lưu, con người đóng góp các giá trị phẩm chất nhâncách của mình cho người khác , cho xã hội Một nguyên tắc giáo dục cơ bản làgiáo dục bằng tập thể, trong tập thể Chính nhân cách được hình thành trongmối quan hệ giao lưu và hoạt động cùng nhau, hoạt động tập thể

Ví dụ: Tính giao lưu của nhân cách được thể hiện qua hoạt động giao tiếpkhi mình đi học Khi tiếp xúc , nói chuyện với bạn bè , thầy cô chúng ta có thểhọc hỏi, tiếp thu được thêm các hành động,tính cách tốt như tốt bụng, hòa đồng ,biết chia sẻ , cảm thông , giúp đỡ người gặp khó khăn… nhưng bên cạnh đócũng có những hành động,tính cách không tốt như rủ rê bạn bè uống rượu bia,

Trang 9

đánh bài bạc, không giúp đỡ, chia sẻ khi người khác gặp hoạn nạn….

3: BẢN CHẤT CỦA NHÂN CÁCH

Là nhân tính của con người đã được trường phái nhân văn nhấn mạnh Đại diện của trường phái này là C.Rôgiơ,A.Matxlau,G.Ônpooc… những người ởtrường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đếnnhững đặc tính riêng của mỗi người , kinh nghiệm của con người Những nhucầu tiếp xúc, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng, đặc trưng chogiống người Nhân cách là dộng cơ tự bảo hành ( G.Ônpooc) , là nhucầu(A.Muray), là tương tác xã hội (G.H.Mít) là lo lắng (K.Hoocnay) Nhữngquan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật con người , phủ nhận bảnchất xã hội của nhân cách

4: Cấu trúc của nhân cách

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của nhân cách:

- A.G Coovaliov cho rằng cấu trúc của nhân cách bao gồm : các quá trìnhtâm lí , các trạng thái tâm lí và các thuộc tính tâm lí cá nhân

- Có quan điểm cho rằng nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản : Nhậnthức( ban gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ),tình cảm( rung động , thái độ ) và ýchí (phẩm chất ý chí ,kĩ năng kĩ xảo ,thói quen)

- K.K.Platonov nêu lên 4 tiểu cấu trúc của nhân cách như sau :

+ Tiểu cấu trúc của nguồn gốc sinh học (bao gồm khí chất ,giới tính,lứatuổi và đôi khi cả những thuộc tính về bệnh lí)

+ Tiểu cấu trúc về đặc điểm của quá trình tâm lí ( cảm giác , tri giác ,trínhớ,tư duy…)

+ Tiểu cấu trúc về vốn kinh nghiệm ,tri thức, kĩ năng , kĩ xảo , năng lực…+ Tiểu cấu trúc xu hướng nhân cách : nhu cầu , hứng thú, lí tưởng, thếgiới quan, niềm tin…

- Quan điểm coi nhân cách gồm 4 nhóm thuộc tính tâm lí điển hình của cánhân:

Xu hướng , tính cách, khí chất và năng lực

Trang 10

- Quan điểm coi cấu trúc nhân cách gồm 2 mặt thống nhất với nhau là đức

và tài

Gần đây trong một số tài liệu tâm lí học , các tác giả trong nước cho rằngnhân cách bao gồm 4 khối (hay 4 bộ phận) sau:

+ Xu hướng của nhân cách

+ Những khả năng của nhân cách

+ Phong cách hành vi của nhân cách

+ Hệ thống “cái tôi” (cái tạo ý thức)- hệ thống điểu chỉnh hành vi củanhân cách

Tóm lại,cấu trúc nhân cách khá phức tạp , bao gồm nhiều thành tố có mốiquan hệ qua lại chế ước lẫn nhau ,tạo nên một bộ mặt tương đối ổn định nhưngcũng rất cơ động Nhờ có cấu trúc nhân cách như vậy mà cá nhân có thể làm chủđược bản thân, thể hiện tính mềm dẻo,linh hoạt cao với tư cách là chủ thể đầysáng tạo

5: Các kiểu nhân cách

Sự hình thành các kiểu nhân cách không chỉ phụ thuộc vào chính bản thân

cá nhân mỗi người mà còn phụ thuộc vào quan hệ xã hội , lịch sử mà con người

đó sống Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại kiểu nhân cách Tất cả cáccách phân loại đều chỉ mang tính chất tương đối , vì trên thực tế không có ngườinào chỉ thuộc về một kiểu nhân cách

Trên thế giới , các nhà bác học đã từng nghiên cứu mẫu người TheoDrucker , một triết gia nhân cách Anh , có thể có:

- Con người tinh thần , tâm linh

- Con người trí tuệ

- Con người kinh tế

- Con người hùng

5.1: Phân loại nhân cách theo hướng giá trị

Spanger(1882-1963), nhà tâm lí học người Anh, thuộc trường phái tâm líhọc mô tả , căn cứ các định hướng giá trị trong hoạt động sống của cá nhân , cho

Trang 11

rằng có 5 kiểu nhân cách sau:

Karen Horney (1885-1952) , nhà tâm lí học Mỹ , đại diện của phái phântâm học , dựa vào định hướng giá trị trong quan hệ người-người , chia ra 3 kiểunhân cách:

- Kiểu người nhường nhịn(bị áp đảo)

- Kiểu người công kích ( mạnh mẽ)

- Kiểu người hờ hững(lạnh lùng)

5.2: Phân loại nhân cách qua giao tiếp

Căn cứ vào thái đọ học tập của sinh viên , một số tác giả (G.DavitGoottolit và Khôtkinơ đã nêu lên 4 nhân cách sinh viên như sau:

Kiểu W : Đó là những sinh viên học tập nhằm mục đích chuẩn bị chonghề nghiệp tương lai , học có thể hành nghề khi ra trường, họ ít quan tâm tớicác lĩnh vực tri thức và hoạt động chung

Kiểu X : Gồm những sinh viên chỉ lao vào học những môn học mà họ cho

là sẽ cung cấp những tri thức và kinh nghiệm về cuộc sống nói chung, họ khôngquan tâm tới việc tham gia các công việc xã hội, ngoài việc họp hành trong các

tổ chức sinh viên

Kiểu Y : Gồm những sinh viên cố gắng đạt kết quả cao trong học tập ,nhưng cũng tích cực tham gia các hoạt động chung , coi tập thể sinh viên có ýnghĩa nhất định đối với sự phát triển của bản thân

Kiểu F : Những sinh viên thuộc kiểu này thường quan tâm tới các hoạt

Trang 12

động xã hội ở trường đại học hơn là bản than các môn khoa học , nghề nghiệp.

Tóm lại, vấn đề các kiểu nhân cách xã hội nói chung của con người vàkiểu nhân cách của sinh viên là vấn đề phức tạp và đang có nhiều quan điểmkhác nhau Mỗi cách phân loại kiểu nhân cách dựa trên một tiêu chí cụ thể ,song trên thực tế không có cá nhân nào chỉ thuộc về một kiểu nhân cách ổn định

6: Sự hình thành và phát triển nhân cách

6.1: các yếu tố chi phối sự hình thành nhân cách

Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng nguyên thủy

mà nhân cách là cấu tạo tâm lí mới được hình thành và phát triển trong quá trìnhsống – giao tiếp , vui chơi,học tập, lao động… Như V.I.Lênin đã khẳng định : “Cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lí , đạo đức của xã hội mà nó làthành viên” Nhà tâm lí học Xô Viết nổi tiếng A.N.Lêônchiev cũng chi ra rằng :nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo conđường từ bên ngoài chuyển vào nội tâm ,từ các quan hệ với thế giới tự nhiên ,thế giới đồ vật , nền văn hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các qua hệ xã hội

Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình , nhà trường,

xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người Theonghĩa hẹp thì giáo dục có thể xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, đạođức,hành vi của con người ( giáo dục là đạo đức , giáo dục là lao động, giáo dục

là hành vi , lối sống…)

Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủđạo , điều đó được thể hiện như sau :

Trang 13

- Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhâncách vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định , hình thành một mẫungười cụ thể cho xã hội – một mô hình nhân cách phát triển , đáp ứng những yêucầu của cuộc sống

Ví dụ : Khi chúng ta đến trường để học tập thì thầy (cô) giáo sẽ dạy chochúng ta những điều hay, lẽ phải , góp phần giúp chúng ta nhận thức được đâu làđúng, đâu là sai, những việc nào nên làm , những việc nào không nên làm để từ

đó giúp chúng ta phần nào nhận thức , phân biệt đúng sai và có sự phát triểnnhân cách một cách đúng đắn nhất

- Thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau nền văn hóa –lịch sử để tạo nên nhân cách của mình( qua các mặt nội dung giáo dục )

Ví dụ : Khi chúng ta đi học thì được học môn lịch sử, qua đó chúng ta đãthấy được công lao to lớn và sự hi sinh dũng cảm của ông cha ta để từ đó tạonên trong chúng ta lòng yêu nước, yêu quê hương sâu sắc và biết ơn nhữngngười đã có công bảo vệ , xây dựng đất nước được như ngày hôm nay

- Giáo dục đưa con người , đưa thế hệ trẻ vào “ vùng phát triển gần” ,vươn tới những cái mà thế hệ trẻ sẽ có, tạo ra cho thế hệ trẻ một sự phát triểnnhanh, mạnh , hướng về tương lai

- Giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chiphối sự hình thành nhân cách như các yếu tó thể chất (bẩm sinh di truyền) , yếu

tố hoàn cảnh sống , yếu tố xã hội, đồng thời bù đắp cho những thiếu hụt , hạnchế cho yếu tố trên sinh ra ( như người bị khuyết tật , bị bệnh hoặc có hoàn cảnhkhông thuận lợi )

Ví dụ : Đã có nhiều trường học xây dựng dành riêng cho những người cónăng khiếu về âm nhạc , hội họa để từ đó giúp các em rèn luyện , bồi dưỡng,phát huy năng khiếu sở trường năng khiếu của mình đồng thời thông qua đócũng bù đắp những thiếu hụt , hạn chế do các yếu tố khác gây ra như có nhữngchương trình giáo dục đặc biệt cho trẻ em khuyết tật, dạy chữ nổi , kí hiệu bằngtay hay có chính sách ưu đãi dành cho những người gặp khó khăn …

Trang 14

- Giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch về mặt nào đó so với chuẩn mực

do tác động tự phát của môi trường nên và làm cho nó phát triển theo hướngmong muốn của xã hội(giáo dục lại)

Ví dụ: Xây dựng các trại cải tạo nhằm giáo dục trẻ vị thành niên hưhỏng,có những hành động sai trái nghiêm trọng…

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển nhâncách, song không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, giáo dục không phải làvạn năng , cần phải tiến hành giáo dục trong mỗi quan hệ hữu cơ với việc tổchức hoạt động , tổ chức quan hệ giao tiếp , hoạt động cùng nhau trong các mốiquan hệ xã hội , quan hệ nhóm và tập thể Giáo dục không thể tách rời với tựgiáo dục , tự rèn luyện , tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân

6.1.2: Hoạt động nhân cách

- Hoạt động là phương thức tồn tại của con người , là nhân tố quyết địnhtrực tiếp hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động của con người là hoạtđộng có mục đích, mang tính chất xã hội , mang tính cộng đồng, được thực hiệnbằng những thao tác nhất định với mỗi công cụ nhất định

Ví dụ : Khi tham gia giao thông trên đường khi gặp đèn đỏ thì người thamgia điều khiển phương tiện giao thông phải dừng lại Tuy nhiên vẫn có nhữngngười cố tình vượt đèn đỏ và họ sẽ bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm hoặc gây

ra những hậu quả lien quan đến thân thể,tính mạng của người khác Từ đó ta ýthức được rằng phải tuân thủ theo đúng pháp luật

- Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động

mà nhân cách được bộc lộ và hình thành Con người lĩnh hội kinh nghiệm của

xã hội lịch sử bằng hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách Mặt kháccũng thông qua hoạt động con người xuất hiện tâm “lực lượng bản chất”( sứcmạnh của thần kinh,cơ bắp , trí tuệ, năng lực …) và xã hội , “ tạo nên sự đại diệnnhân cách của mình” ở người khác trong xã hội

- Sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi người phụ thuộc vào hoạtđộng chủ đạo ở mỗi thời kì nhất định Muốn hình thành nhân cách , con người

Trang 15

phải tham gia vào các hoạt động khác, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò củahoạt động chủ đạo Vì thế phải lựa chọn , tổ chức và hướng dẫn các hoạt độngđảm bảo tính giáo dục và tính hiệu quả đối với việc hình thành và phát triểnnhân cách Việc đánh giá hoạt động là rất quan trọng trong việc hình thành nhâncách Việc đánh giá sẽ chuyển dần thành tự đánh giá giúp con người thấmnhuần những chuẩn mực , những biểu giá trị xã hội trở thành lương tâm conngười

Tóm lại , hoạt động có vai trò quyết định trực tiếp sự hình thành và pháttriển nhân cách , nên trong công tác giáo dục cần chú ý làm thay đổi phong phúnội dung , hình thức , cách tổ chức hoạt động sao cho lôi cuốn thực sự cá nhântham gia tích cực , tự giác vào các hoạt động đó Hoạt động của con người luônmang tính xã hội, tính cộng đồng , nghĩa là hoạt động luôn đi với giao tiếp Do

đó đương nhiên giao tiếp là một nhân tố cơ bản trong sự hình thành phát triểnnhân cách

6.1.3 : Giao tiếp và nhân cách

Nhà tâm lí học Xô Viết nổi tiếng B.Ph Lomôv cho rằng : “ Khi chúng tanghiên cứu lối sống của một cá nhân cụ thể , chúng ta không thể chỉ giới hạn ở

sự phân tích xem nó làm cái gì và như thế nào, mà còn phải nghiên cứu xem nógiao tiếp với ai và như thế nào” Vì thế cùng với hoạt động có đối tượng , giaotiếp có một vai trò cơ bản trong việc hình thành và phát triển nhân cách

- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người Nhu cầugiao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản , xuất hiện sớm nhất ở conngười C.Mác đã chỉ ra rằng: “ sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi

sự phát triển của tất cả cá nhân khác và nó giao lưu một cách trực tiếp và giántiếp của họ”

Thực tế chứng minh những trường hợp trẻ con do động vật nuôi đã mấtbản tính người , mất nhân cách và chỉ còn lại những đặc điểm tâm lí , hành vicủa con vật đã có nhiều công trình nghiên cứu cho rằng sự giao tiếp hạn chế ,nghèo nàn đã dẫn đến những hiệu quả nặng nề là dễ mắc bệnh “đói giao lưu do

Trang 16

nằm viện lâu ngày” ( hospitalism).

- Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào các quan hệ xã hội , lĩnh hội nềnvăn hóa xã hội, chuẩn mực xã hội “tổng hòa các quan hệ xã hội” làm thành bảnchất con người , đồng thời thong qua giao tiếp, con người đóng góp tài lực củamình vào kho tang chung của nhân loại, xã hội

- Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận thức người khác , nhận thứccác quan hệ xã hội , mà nhận thức còn được chính bản than mình, tự đối chiếu

so sánh với người khác , với chuẩn mực xã hội , tự đánh giá bản than mình như

là một nhân cách để hình thành một thái độ giá trị - cảm xúc nhất định đối vớibản than Hay nói khác đi , quan hệ giao tiếp con người hình thành năng lực tự

ý thức

Ví dụ : Khi đang còn học ở các trường tiểu học, trung học, trung học phổthông thì hầu hết chúng ta đều có những thói quen xấu như cẩu thả, luộmthuộm…vì khi đó chúng ta vẫn đang còn sống với bố mẹ , phụ thuộc vào bố mẹnhưng khi bước vào đại học, phải sống xa gia đình,xa bố mẹ , phải tự lập, ởcùng với bạn bè mới, được tiếp xúc với những con người mới , nền giáo dục mới

và chúng ta sẽ nhận thấy thói quen của mình trước kia là không tốt Chính vìvậy ta ý thức được cần phải phải thay đổi những thói hư, tật xấu trước kia và từ

đó góp phần hoàn thiện nhân cách của mình

Tóm lại, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ người- người ,

là một nhân tố cơ bản của việc hình thành phát triển tâm lí, ý thức , ý thức , nhâncách Song hoạt động và giao tiếp của con người chỉ có thể diễn ra ở trong cộngđồng , trong nhóm và tập thể

6.1.4: Tập thể và nhân cách

Nhân cách con người được hình thành và phát triển trong môi trường xãhội song con người lớn lên và trở thành có nhân cách không phải là trong môitrường xã hội trừu tượng , chung chung , mà trong môi trường xã hội cụ thể là :gia đình , làng xóm , quê hương , khu phố, là các nhóm , cộng đồng và tập thể

mà nó là thành viên Gia đình là nhóm cơ sở , là cái nôi đầu tiên mà nhân cách

Trang 17

con người được hình thành từ ấu thơ Con người là thành viên của các nhómnhỏ: nhóm chính thức , nhóm không chính thức, nhóm thực và nhóm quy ước.Các nhóm nhỏ như gia đình , nhóm bạn than, lớp họp, tổ công tác… Có ảnhhưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách Các nhóm có thể đạttới trình độ phát triển cao được gọi là tập thể Tập thể là một nhóm người , một

bộ phận xã hội được thống nhất lại theo những mục đích chung , phục tùng cácmục đích xã hội

Nhóm và tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhâncách Trong nhóm và tập thể diễn ra các hình thức hoạt động đa dạnh , phongphú (vui chi,hoạt động , học tập , lao động ,hoạt động xã hội ) và các mối quan

hệ giao tiếp giữa các cá nhân và cá nhân, cá nhân với nhóm, nhóm với nhóm.Ảnh hưởng của xã hội , các mối quan hệ xã hội thong qua các nhóm tát độngđến từng người Ngược lại , mỗi nhân cách tác động đến cộng đồng , tới xã hội ,tới cá nhân khác cũng thong qua các tổ chức nhóm và tập thể mà nó là thànhviên Tác động của tập thể đến nhân cách thông qua các tổ chức nhóm và tậpthể mà nó là thành viên Tác động của tập thể đến nhân cách thong qua hoạtđộng tập thể , dư luận tập thể , truyền thống tập thể , bầu không khí tâm lí củatập thể

Ví dụ + Là một thành viên trong tập thể lớp , thông qua các quá trình họctập , tham gia các hoạt động của trường lớp , ta thấy rằng cần phải học tậpnhững đức tính tốt như siêng năng, chăm chỉ,cần cù, ham học hỏi…và tránh xacác thói quen xấu như : ăn chơi , đua đòi , vô lễ với người lớn, giáo viên…

+ Trong các buổi sinh hoạt lớp chúng ta có quyền được phát biểu những ýkiến của mình cũng như lắng nghe những lời đánh giá , nhận xét của người khác

về bản than mình để từ đó sửa đổi những mặt còn chưa tốt , phát huy những thếmạnh đồng thời hướng nhân cách tới sự chuẩn mực

Tóm lại, bốn nhân tố : giáo dục,hoạt động, giao tiếp và tập thể tác độngđan xen nhau, bổ sung , hỗ trợ cho nhau trong việc hình thành và phát triển nhâncách

Trang 18

6.2: Sự hoàn thiện nhân cách

Cá nhân hoạt động và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội , dưới tácđộng chủ đạo của giá dục , sẽ dẫn tới việc hình thành một cấu trúc nhân cáchtương đối ổn định và đạt một trình độ phát triển nhất định Trong cuộc sống ,nhân cách tiếp tục biến đổi và hoàn thiện dần thông qua việc cá nhân tự ýthức,tự rèn luyện , tự giáo dục , tự hoàn thiện nhân cách của mình ở trình độphát triển cao hơn , đáp ứng những yêu cầu hang ngày của cuộc sống, của xãhội Cá nhân có thể có những chệch hướng trong sự biến đổi những nét nhâncách so vứi chuẩn mực chung , thang giá trị chung của xã hội , có thể đưa đến sựphân li , suy thoái nhân cách đòi hỏi cá nhân phải tự điều khiển , tự điều chỉnh ,

tự rèn luyện theo những chuẩn mực chân chính , phù hợp với quy luật kháchquan của xã hội để tự điều khiển , tự điều chỉnh nhân cách của mình Vì thế vaitrò của giáo dục, tự rèn luyện có ý nghĩa đặc biệt trong việc hoàn thiện nhâncách

Ví dụ: Một người đã quen với cuộc sống trong rừng quen với thói chạynhảy , săn bắt và khi người đó chuyển tới thành phố để sống khi đó người đómuốn thây đổi bản tính thì cần mất một thời gian dài và đó cũng là điều rất khókhăn

Ngày đăng: 27/08/2021, 01:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w