1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong phòng 6 (a p chekhov) và nhật kí người điên (lỗ tấn) qua cái nhìn so sánh

66 2,7K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Trong "Phòng 6" (A.P.Chekhov) Và "Nhật Ký Người Điên" (Lỗ Tấn) (Qua Cái Nhìn So Sánh)
Tác giả Đào Thị Mỹ Dung
Người hướng dẫn ThS. Phan Thị Nga
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Nước Ngoài
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 268 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lỗ Tấn bớc tiếp con đờng của Chekhov vào lúc ở Trung Quốc, truyện ngắn bị xem là thể loại “nhàn th ” và không đợc xếp vào thể loại văn học đích thực nào.Nhà văn Trung Quốc này đã miệt mà

Trang 1

mở đầu

Lời cảm ơn!

Sau một thời gian nghiên cứu, với sự nỗ lực hết mình của bản thân, tôi đã

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thế giới nghệ thuật trong "Phòng 6" (A.P.Chekhov) và "Nhật ký ngời điên" (Lỗ Tấn) (qua cái nhìn so sánh) Tôi

xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè; sự chỉ bảo tận tình củacác thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là ThS Phan Thị Nga - ngời trực tiếp h-ớng dẫn tôi

Đây là những bớc đi đầu tiên của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học,

do đó, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Tôi hy vọng nhận đợc sự góp ý tích cực

từ phía các thầy cô và các bạn

trờng đại học vinh khoa ngữ văn

đào thị mỹ dung

thế giới nghệ thuật trong "phòng 6'' (A.P.CHEkhov)

và "nhật ký ngời điên" (lỗ tấn)

(qua cái nhìn so sánh)

khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành: văn học nớc ngoài

Vinh - 2006

Trang 2

kỷ XIX Với tốc độ phát triển phi thờng, văn học Nga một trăm năm này đã vơnlên thành một trong những đỉnh cao của văn học thế giới ảnh hởng của nókhông bó hẹp trong biên giới nớc Nga mà tỏa bóng ra nhiều nền văn học khác,trong đó có Trung Quốc Lỗ Tấn cũng nh Pơ-rem Chân-đơ (ấn độ), Nô-bô-riXi-ô-mu (Nhật Bản), R.Rolland (Pháp), B.Shaw (Anh) đã thừa nhận ảnh hởng tốt

đẹp của văn học hiện thực Nga Không phải ngẫu nhiên, đã có ý kiến nhận định

Lỗ Tấn là Chekhov của văn học Trung Hoa Đấy chính là xuất phát điểm, là

nguyên cớ đầu tiên dẫn chúng tôi đến với ý tởng thiết lập mối tơng quan so sánhgiữa hai nhà văn trên phơng diện sáng tác văn chơng

1.2 Cho đến nay, toàn tập Chekhov xuất bản gồm 30 tập (15 tập truyệnngắn, 3 tập kịch, 120 tập th từ) còn trớc tác mà Lỗ Tấn để lại cho mai hậu thì

“cao bằng ngời”(trớc tác đẳng thân), bao quát một phạm vi hiện thực rộng,

Trang 3

phong phú về thể loại, gồm: 3 tập truyện ngắn, 650 bài tạp văn, nhiều tiểu luậnphê bình, nhiều trang nhật ký, th từ, thơ ca, tiểu thuyết

Phép thống kê sơ lợc đó giúp chúng ta nhận ra điểm gặp gỡ của hai nhà vănxét từ góc độ thể loại, chính là truyện ngắn Thể loại này là chỗ giao nhau đa tầmvóc A.P.Chekhov và Lỗ Tấn vợt không gian, vợt thời gian sánh ngang vớiN.V.Gogol hay G.de.Maupassant

Chekhov là ngời đi trớc, xây những bậc thang đầu tiên, lát những viên gạch

đầu tiên để tòa đại lầu truyện ngắn hình thành, đứng song hành cùng tiểu thuyết,trờng ca, sử thi - những thể loại vốn từ lâu đợc xếp vào vị trí trang trọng, cao quý.Khi ông bớc chân vào lãnh địa văn chơng, chủ nghĩa hiện thực Nga đã trải quamột thế kỉ huy hoàng, rực rỡ, hào quang tỏa khắp Đã có những A.Puskin,N.Gogol, L.Tolstoi đã có những bộ tiểu thuyết đồ sộ, những trờng ca bất hủ,

nổi tiếng thế giới Duy truyện ngắn vẫn bị xem là thể loại nấp bóng, thua chị kém

em Nỗ lực hết mình với những cách tân độc đáo, cùng phòng 6, thảo nguyên, anh gầy anh béo Chekhov đã từng bớc đa truyện ngắn đột phá vào tòa thành vốn chỉ u ái Chiến tranh và hòa bình hay Ngời con gái viên đại úy hay Epghênhi

Ônêghin, giành vị trí xứng đáng trên các tờ tạp chí nghiêm túc những năm 80, 90

của thế kỉ XIX

Lỗ Tấn bớc tiếp con đờng của Chekhov vào lúc ở Trung Quốc, truyện ngắn bị

xem là thể loại “nhàn th ” và không đợc xếp vào thể loại văn học đích thực nào.Nhà văn Trung Quốc này đã miệt mài tìm kiếm những hớng đi, những cách thứcbiểu hiện riêng, nhờ đó đã góp phần khẳng định quyền tồn tại, khẳng định địa vịquan trọng của thể loại truyện ngắn Ông nhận thấy, những tác phẩm đợc xem là

tấm gơng của một thời đại rất ít, nếu có thì 9/10 là những trớc tác lớn” Một thiên truyện ngắn muốn trở thành tòa đại lầu chứa đựng cả tinh thần thời đại“ ”

là điều hiếm hoi Thực tế ấy phải chăng tiếp thêm động lực cho Lỗ Tấn chuyên

tâm sáng tác? Và thời gian đã trả lời tất cả Ngày nay, những Cuồng nhân nhật

ký, AQ chính truyện của ông đã vợt ra biên giới Trung Hoa, sánh cùng Phòng 6, Thảo nguyên của Chekhov.

Nghiên cứu truyện ngắn của Lỗ Tấn và Chekhov trong tơng quan so sánh từgóc độ tiếp nhận văn học, thực chất, là một cách khẳng định tầm vóc vĩ đại,khẳng định những đóng góp của hai nhà văn cho nền văn học dân tộc nói riêng,văn học thế giới nói chung ở thể loại truyện ngắn Đặc biệt, qua so sánh, chúngtôi có thể thấy đợc Lỗ Tấn đã gặp gỡ Chekhov ở những điểm nào, và có điều gìkhác biệt để không bị cuốn vào vầng hào quang mà những ngời đi trớc đã đạt đ-ợc

Trang 4

Chúng tôi không có tham vọng đối chiếu toàn bộ truyện ngắn của Lỗ Tấn

và Chekhov, mà chỉ giới hạn ở hai tác phẩm: Phòng 6 và Nhật ký ngời điên Đây

là hai truyện ngắn tiêu biểu, in đậm dấu ấn phong cách mỗi nhà văn, là những

đòn tấn công, đả phá vào chế độ phong kiến chuyên chế gây ra vô vàn đau khổcho con ngời cả về tinh thần lẫn thể xác

1.3 So sánh trong cuộc sống hàng ngày là một trong những phơng pháp xác định

sự vật về nhiều mặt (định tính, định lợng, phân chia ngôi bậc ) Nhờ thao tác đặtcác sự vật bên cạnh nhau, đối chiếu dựa vào những tiêu chí nào đó, mà sự vật nàyhay sự vật khác đợc cấp cho những giá trị khu biệt

So sánh trong hoạt động nghiên cứu không phải là độc quyền của văn học.Bởi bất kì khoa học nào cũng đều ít nhiều sử dụng phơng pháp so sánh So sánhvăn học chính là phơng pháp xác định đánh giá các hiện tợng văn học trong mốiquan hệ với nhau Tuy nhiên, không phải bất kì sự so sánh nào cũng đợc xem là

đang làm văn học so sánh Giả dụ, một nhà nghiên cứu so sánh hai hiện tợng vănhọc thuộc cùng một nền văn học dân tộc thì thực chất, tác giả ấy đang sử dụngphơng pháp so sánh làm văn học sử dân tộc Nói khác đi, văn học so sánh liên

quan đến văn học sử thế giới, “hiểu theo nghĩa rộng là nghiên cứu so sánh lịch

sử, một chuyên nghành văn học sử, nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau, tơng tác và tơng quan, liên hệ và ảnh hởng của các nền văn học các nớc khác nhau trên thế giới” [1, 414] Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên cũng gián tiếp khẳng định điều này qua định

nghĩa: “Nghiên cứu so sánh - lịch sử là một nghành của nghiên cứu văn học, của lịch sử văn học, chuyên khảo sát những liên hệ và quan hệ có tính quốc tế của văn học, những tơng đồng và khác biệt giữa các hiện tợng văn học ở các nớc khác nhau” [10, 179].

Rọi chiếu vào đề tài nghiên cứu, Phòng 6 và Nhật ký ngời điên là hai

truyện ngắn tiêu biểu của hai tác giả vĩ đại thuộc hai nền văn học khác nhau, do

đó, tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Phòng 6 và Nhật ký ngời điên (qua cái nhìn

so sánh) là bớc đầu vận dụng lí thuyết văn học so sánh vào việc tìm hiểu cách cắtnghĩa về thế giới, về cuộc sống hiện thực của Lỗ Tấn và Chekhov, khám phánhững điểm tơng đồng và dị biệt giữa hai tác phẩm trên hai phơng diện hợp thànhchỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật: nội dung - hình thức Mục đích của chúng tôikhông nhằm đi sâu giải quyết mọi vấn đề liên quan đến văn học so sánh mà chỉxem đây là những tiền đề lí thuyết định hớng cho quá trình nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Từ lâu, trên văn đàn thế giới, Lỗ Tấn và truyện ngắn Lỗ Tấn đã giành đợcmột vị trí xứng đáng, trang trọng.Tác phẩm của ông nhanh chóng đợc dịch ra

Trang 5

nhiều thứ tiếng khác nhau Chúng ta dễ dàng nhận ra một tơng quan mang tính tỷ

lệ nghịch Số lợng truyện ngắn Lỗ Tấn không nhiều, chỉ có 3 tập: Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện cũ viết lại với tổng số là 34 tác phẩm, trong khi đó các công trình

nghiên cứu đã lên tới con số hàng trăm, hàng nghìn

ở Việt Nam, ngời đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm Lỗ Tấn là nhà cách mạngNguyễn ái Quốc Ngời đọc Lỗ Tấn lúc Ngời đang hoạt động tại Quảng Châu(Trung Quốc) Mãi sau này, các sáng tác của Lỗ Tấn vẫn lu lại trong tâm trí Ngờinhững ấn tợng khó quên

Ngời Việt Nam đầu tiên giới thiệu truyện ngắn Lỗ Tấn là giáo s Đặng Thai

Mai Năm 1944, giáo s đã dịch AQ chính truyện ra tiếng Việt Giáo s không chỉ

giới thiệu văn phẩm của Lỗ Tấn mà còn đa ra nhiều đánh giá chính xác về thipháp Lỗ Tấn

Sau Đặng Thai Mai, nhất là sau ngày nớc cộng hòa nhân dân Trung Hoathành lập (1949), ở Việt Nam đã nhanh chóng hình thành một đội ngũ các dịchgiả, nhà dịch thuật giới thiệu, nghiên cứu truyện ngắn Lỗ Tấn Năm 1955, Phan

Khôi dịch Truyện ngắn Lỗ Tấn và Tạp văn Lỗ Tấn, Nhà xuất bản Văn nghệ in ấn Trong thập niên 60 của thế kỉ XX, Giản Chi xuất bản AQ chính truyện 1960-

1961, Trơng Chính dịch lần lợt Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện cũ viết lại, Nhà

xuất bản Văn hóa in ấn Khoảng năm 1963, ông tiếp tục tuyển dịch 150 bài tạpvăn trong 3 tập

ở miền Nam trớc năm 1975, tác phẩm Lỗ Tấn đợc hai học giả nổi tiếng làNguyễn Hiến Lê và Giản Chi giới thiệu Giản Chi cho xuất bản AQ chính truyện

vào những năm 60 Còn Nguyễn Hiến Lê tự xuất bản 3 tập Văn học Trung Quốc hiện đại, trong đó dành một phần đặc biệt quan trọng giới thiệu Lỗ Tấn.

Sau khi đợc giới thiệu ở Việt Nam, truyện ngắn Lỗ Tấn đợc đa vào giảngdạy và học tập ở các trờng phổ thông, cao đẳng, đại học suốt từ năm 1956 Đồngthời, ngày càng xuất hiện nhiều giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc, trong đó,

có những bài nghiên cứu về Lỗ Tấn khá đầy đặn và công phu Năm 1958, Đặng

Thai Mai viết Lợc sử văn học hiện đại Trung Quốc Năm 1963, tập thể tác giả ờng ĐHSP Hà Nội, ĐHSPV biên soạn giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc.

tr-Năm 1987, theo chơng trình cải tiến do Bộ giáo dục ban hành, các tác giảNguyễn Khắc Phi, Trơng Chính, Lơng Duy Thứ viết lại giáo trình tinh giản hơn

Trong các giáo trình đó, Lỗ Tấn đợc khắc họa tơng đối toàn diện từ cuộc

đời đến con đờng t tởng và sự nghiệp sáng tác, từ truyện ngắn đến tạp văn Chínhvì mục đích biên soạn rộng nh vậy nên các tác giả cha có điều kiện tập trung khai

thác giá trị nội dung, nghệ thuật của từng tác phẩm Đối với truyện ngắn Nhật ký ngời điên, chúng tôi chỉ thấy những đánh giá khái quát Đặc biệt, các tác giả cha

Trang 6

đặt ra vấn đề so sánh sáng tác của Lỗ Tấn và Chekhov - cũng là một nhà viếttruyện ngắn nổi tiếng thế giới.

Bên cạnh các giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc, chúng tôi còn thấyxuất hiện nhiều chuyên luận về Lỗ Tấn Có thể dẫn ra đây một vài công trình tiêubiểu:

Năm 1976, Phơng Lựu viết chuyên luận Lỗ Tấn, nhà lí luận văn học Tác

giả đã hệ thống hóa ý kiến của Lỗ Tấn về mọi ngành hoạt động với tất cả cáckhía cạnh trên mặt trận văn học và phần nào chú ý tái hiện quá trình tiến triển

của nó Ông chia công trình thành 10 chơng: Mấy bớc đờng t tởng văn nghệ, Đấu tranh trên hai mặt trận, Sự tu dỡng của nhà văn, Đại chúng hóa văn nghệ, Kế thừa di sản dân tộc, Tiếp thu văn học nớc ngoài, Điển hình văn học, Loại thể văn học, Ngôn ngữ văn học, Phê bình văn học Với bố cục phân chia nh vậy, rõ ràng

tác giả không có ý định đi sâu vào bất kỳ một tác phẩm nào hay một thể loại nào

Nhật ký ngời điên do đó chỉ đợc nhắc đến sơ lợc ở những nội dung nổi bật.

Phần Tiếp thu văn học nớc ngoài, tác giả chuyên luận có xét tới mối liên

hệ ảnh hởng giữa Lỗ Tấn và văn học Nga, văn học Xô - Viết nói chung, LỗTấn và Chekhov nói riêng Tuy nhiên, chúng ta cha thấy tác giả phân tích, đốisánh các tác phẩm của hai nhà viết truyện này một cách chi tiết trên hai phơng

diện nội dung, nghệ thuật Trớc đấy, Phơng Lựu từng đặt Khám bệnh (Chekhov)

và Cố hơng (Lỗ Tấn) bên cạnh nhau song mục đích chỉ để toát lên sự phát triển

về t tởng của Lỗ Tấn so với Chekhov, cụ thể là lí tởng của Lỗ Tấn đã hớng về chủnghĩa xã hội

Năm 1977, giáo s Trơng Chính viết tiếp chuyên luận Lỗ Tấn, khảo sát kỹ

từng giai đoạn trong cuộc đời, các chuyển biến t tởng của nhà văn và lồng vào

những thành tựu văn chơng của mỗi giai đoạn Nhật ký ngời điên đợc giới thiệu

với t cách truyện ngắn đầu tay

Giống Phơng Lựu, Trơng Chính tập trung nhiều vào giá trị nội dung nhng

so với giáo trình của Phơng Lựu, tác giả chuyên luận Lỗ Tấn đã có sự phân tích

kỹ hơn tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến Trung Quốc ăn thịt ngời, đồng thời đềcập ảnh hởng của cách mạng Tháng Mời Nga tới t tởng của Lỗ Tấn Tác giả cònthử đi tìm nguyên mẫu cho hình tợng nhân vật trung tâm của tác phẩm

Chúng tôi phát hiện thấy tác giả có nhắc đến cảm tình của Lỗ Tấn với vănhọc Nga thế kỷ XIX song chỉ dừng ở nhận định chứ không phân tích kỹ Chẳng

hạn Về mặt t tởng thì điều này rõ nhất: cảm tình của ông với văn học Nga và văn học Xô - Viết càng ngày càng sâu sắc” [4, 130].

Năm 2004, Giáo s Lơng Duy Thứ cho ra mắt công trình Lỗ Tấn - Phân tích tác phẩm Bên cạnh những nghiên cứu nội dung nh: tuyên chiến chống

Trang 7

phong kiến, số phận ngời nông dân lao động, cuộc sống ngời trí thức tác giả đã

có những nghiên cứu về nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn Nhật ký ngời điên đợc

tác giả quan tâm tới phơng diện hình thức ở cách tổ chức sự kiện theo dòng chảytâm lý, ở hình tợng ngời kể chuyện và hình tợng các nhân vật điển hình Đây đều

là những nét lớn khá tiêu biểu cho nghệ thuật kiến tạo tác phẩm Nhật ký ngời

điên song do đối tợng mà tác giả chuyên luận hớng tới là toàn bộ truyện ngắn Lỗ

Tấn nên tác giả cha có điều kiện phân tích kỹ lỡng Luận văn của chúng tôi sẽlàm tiếp công việc còn bỏ ngỏ của tác giả

Trong một số công trình dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt mà chúng tôitham khảo cũng cha có tác phẩm nào thực sự chuyên tâm đào sâu các giá trị nội

dung, hình thức của Nhật ký ngời điên.

Năm 1960, Nhà xuất bản Giáo dục công bố tác phẩm Lỗ Tấn, Thân thế

-T tởng - Sáng tác của Lý Hà Lâm, do -Trần Văn -Tấn và Hồng Dân Hoa dịch.

Trọng điểm tác phẩm này hớng đến là sự phát triển t tởng, t tởng văn nghệ, tiểu

thuyết và tạp văn Nhật ký ngời điên chỉ chiếm một dung lợng nhỏ trong phần giới thiệu nội dung Nột hám và Bàng hoàng.

Năm 2004, Nguyễn Thị Mai Hơng và Lơng Duy Thứ cùng dịch Lỗ Tấn, lịch sử nghiên cứu và hiện trạng của Vơng Phú Nhân Đúng nh tên gọi của nó, tác phẩm cơ bản trình bày sự phức tạp của tiến trình nghiên cứu “ngời khổng lồ của văn hóa Trung Hoa thời hiện đại” [15, 6] Ngời viết dừng lại ở sự nhận định khái quát kiểu nh: “Mao Thuẫn là nhà bình luận đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu truyện Lỗ Tấn ở hai phơng diện t tởng và nghệ thuật ” [15, 25] hay “Lần đầu tiên, Chu Tác Nhân đã luận bàn truyện ngắn của Lỗ Tấn từ góc độ văn học so sánh” [15, 27]

Ngoài ra, chúng tôi còn muốn xét tới một số luận văn tốt nghiệp đại học,cao học đã sử dụng lý thuyết văn học so sánh để làm rõ mối quan hệ giữa sáng

tác của Lỗ Tấn với sáng tác của các tác giả khác Chẳng hạn: Những truyện ngắn

về ngời nông dân của Lỗ Tấn và Nam Cao (Phạm Minh Thanh), Từ Nhật ký ngời

điên của N.Gogol đến Nhật ký ngời điên của Lỗ Tấn v.v Qua đó, chúng tôi thấy rằng cha có luận văn nào thiết lập sợi dây liên hệ giữa Nhật ký ngời điên và Phòng 6 Sinh thời, Lỗ Tấn cũng cha bao giờ phát biểu phát biểu ý kiến nào về

mối tơng quan này Do vậy, những kết luận mà chúng tôi rút ra đợc trong khóaluận hoàn toàn dựa vào lý thuyết tiếp nhận văn học, cụ thể hơn là tiếp nhận haivăn bản ngôn từ trong quan hệ so sánh những yếu tố nội dung, hình thức

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Chỉ ra đợc những điểm giống và khác nhau giữa hai tác phẩm xét trêncả hai phơng diện nội dung và nghệ thuật kiến tạo hình thức tác phẩm

3.2 Tìm hiểu nguyên nhân những điểm giống và khác nhau đã chỉ ra đợc

Trang 8

Chúng tôi quán triệt rõ: không sa vào giới thuyết nhiều về lý thuyết vănhọc so sánh mà phải nắm vững các nguyên tắc so sánh để giải quyết các vấn đề

đặt ra

4 Đối tợng nghiên cứu

Chúng tôi giới hạn đối tợng nghiên cứu ở hai tác phẩm :

- Truyện ngắn Nhật ký ngời điên (Lỗ Tấn) rút ra từ Tuyển tập truyện ngắn

Lỗ Tấn do Trơng Chính dịch (2004).

- Truyện ngắn Phòng 6 (Chekhov) rút ra từ Tuyển tập truyện ngắn Chekhov do Vơng Trí Nhàn giới thiệu và tuyển dịch (1999).

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn của chúng tôi đặc biệt chú ý tới phơng pháp so sánh - đối chiếu

Đồng thời, sử dụng nhiều phơng pháp mang tính chất hỗ trợ nh: phơng pháp phântích, phơng pháp khảo sát - thống kê

Chơng 3: Nguyên nhân của sự tơng đồng và khác biệt.

Sau cùng là danh mục Tài liệu tham khảo.

Nội dung

Chơng 1 những điểm tơng đồng 1.1 Về nội dung t tởng

Văn học phản ánh hiện thực - đó là một nguyên lí tối quan trọng của lí luậnMác-xít Đặt bút sáng tạo ra tác phẩm, ngời nghệ sĩ phải tự tâm niệm anh ta sẽlàm cho bạn đọc nhớ về một hiện thực nào đấy, làm sống lại một thế giới nào

đấy L.Arioste từ những thế kỉ trớc công nguyên đã đề cập tới điều này Ông quy

sự phản ánh hiện thực của văn học vào hai chữ mô phỏng (memosis) Dĩ nhiên,

Trang 9

khác hẳn với sự sao chép y nguyên, khái niệm mô phỏng gần gũi với thuật ngữ

phản ánh chúng ta vẫn thờng dùng hiện nay Bức tranh cuộc sống đi vào tác

phẩm đợc khúc xạ qua lăng kính chủ quan của ngời nghệ sĩ, quyện hòa với t tởngcủa anh ta, tạo thành một chỉnh thể nội dung có sự phối ghép biện chứng của haiphơng diện: khách quan và chủ quan Từ đấy, hiện thực cụ thể đợc cấp cho những

giá trị, những ý nghĩa khái quát Nói khác đi, “nội dung đích thực của tác phẩm văn học là cuộc sống đợc lí giải, đánh giá, ớc mơ, là nhận thức và lí tởng, nỗi niềm đã hóa thành máu thịt hiển hiện, chứ không phải khái niệm về hiện thực hoặc khái niệm về lí tởng và tình cảm ” [19, 21] Sự hòa quyện gắn bó ấy là cơ sởquan trọng tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm văn học

Với loại tác phẩm trữ tình, tâm hồn nghệ sĩ mặc sức thăng hoa theo mạchnguồn suy t, cảm xúc riêng tây, kiểu nh “Ta là một là riêng là thứ nhất” hay “Làthi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” Nhng với loại tácphẩm tự sự lại không phải nh vậy Phơng diện khách quan lúc này đợc dành cho

một vị trí trọng yếu Ngòi bút tác giả nghiêng về tả vật, kể sự Bản thân câu

chuyện, bản thân thế giới sự vật đợc miêu tả sẽ tự cất lên tiếng nói khách quancủa chúng Rất nhiều nhà viết truyện tài năng trên thế giới thành công trông việc

“đóng cũi sắt tình cảm” của mình khi phản ánh hiện thực cuộc sống nhF.M.Dostoevsky, G.de.Maupassant, A.P Chekhov, Lỗ Tấn, Nam Cao v.v

Nếu ví thế giới hiện thực bao la rộng lớn đó giống một bức tranh đa sắcdiện thì mỗi phạm vi hiện thực ngời nghệ sĩ lựa chọn để phản ánh trong tác phẩm

là một mảng màu, một đề tài Đó là đối tợng đã đợc nhận thức, là kết quả lựachọn của nhà văn Xác định đợc đề tài tức là xác định đợc mình định “viết cáigì” Đề tài là cơ sở cho chủ đề hiện ra, là điểm tựa giúp nhà văn xây dựng hình t -ợng và tính cách điển hình

Trong Phòng 6 và Nhật kí ngời điên, Chekhov và Lỗ Tấn đã gặp gỡ nhau

khi lựa chọn đề tài về cuộc sống con ngời dới chế độ phong kiến chuyên chế

Đấy là đề tài không mới Nó gần nh xuyên suốt cả tiến trình lịch sử văn học NgaXIX và lịch sử văn học Trung Quốc mấy mơi thế kỷ

Bớc sang thế kỷ XIX, lúc nhiều nớc Tây Âu đã hoặc đang hoàn thành cáchmạng t sản và đi vào con đờng dân chủ t sản thì nớc Nga vẫn bị đè nặng dới bánh

xe của chế độ nông nô chuyên chế Vào đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa t bản Nga cònkhá yếu nhng từ giữa thế kỷ XIX nó đã phát triển với một tốc độ mãnh liệt Songgiai cấp t sản Nga sớm tỏ ra yếu thế và bạc nhợc về chính trị Chính chúng đã cấukết với nhà nớc nông nô chuyên chế tiến hành cuộc cải cách bịp bợm 1861 Hoàncảnh lịch sử cụ thể đó của nớc Nga đã dẫn đến một đặc điểm quan trọng - có thểxem là đặc điểm quan trọng nhất: đấy là sự gắn bó chặt chẽ giữa văn học với

Trang 10

phong trào đấu tranh giải phóng nhân dân Nga khỏi chế độ tăm tối của Sa hoàng.Những trang sách bất hủ của văn học hiện thực Nga đặt ra trớc d luận xã hội mộtvấn đề vô cùng cấp bách về sự tồn tại của nhà nứoc chuyên chế tàn bạo và mụcruỗng Các nhà văn Nga, trong đó A.Chekhov đã tiếp cận vấn đề này bắt đầu từviệc bóc tách, phơi bày bản chất của chế độ chuyên chế trên nhiều phơng diện.

Phòng 6 viết năm 1892 không nằm ngoài chủ đề đó Tác phẩm đánh dấu một bớc

ngoặt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Chekhov, làm chấn động d luận

Nga lúc bấy giờ Với Phòng 6, A Chekhov dõng dạc gọi tên cái bản chất nhà tù của nớc Nga những năm cuối thế kỷ XIX “Khắp nơi là phòng số 6 Đó là nớc Nga ” [Dẫn theo 9, 334] Hay nói cách khác, cái thực tế khắc nghiệt trong Phòng

6 làm bao nhiêu kẻ xấu số phải chết dần chết mòn, chính là hình ảnh thu nhỏ cho

số phận triệu triệu ngời dân Nga trong cái nhà tù khổng lồ do Sa hoàng dựng lên.Bao quanh căn nhà xép vì thế vì thế không gì khác ngoài những chiếc đinh đầunhọn tua tủa, thứ ngời ta thấy ở nhà lao nhiều hơn là ở bệnh xá Có một gianphòng riêng dành nhốt những bệnh nhân đặc biệt Họ là những ngời điên Một gã

tiểu thị dân “trớc kia làm nghề phân loại th từ ở nhà bu chính, ngời thấp bé, tóc vàng, vẻ mặt hiền lành nhng lại có một cái gì tinh quái” [17, 330] Một gã khác

“cao, gầy có bộ ria màu hung đỏ bóng nhoáng, đôi mắt đỏ hoe vì khóc nhiều” [17, 316] Thêm một ông già nhỏ bé ngời Do Thái - lão Môixeyka “Lão phát cuồng từ ngày cái xởng làm mũ của lão bị cháy” [17, 317] Cạnh lão là Ivan

Đmitrich Gromov - bệnh nhân duy nhất xuất thân từ từng lớp quý tộc Trớc kia

hắn làm lục sự ở tòa án và th kí ở dinh tỉnh trởng Còn bây giờ, hắn mắc bệnh bức hại cuồng Kế đó là gã mugich tròn quay, ngời núc ních những mỡ ( ) đần

độn” [17, 329] Năm con ngời đó ngày này qua ngày khác tồn tại trong căn nhà

xép, gần nh không gặp ai ngoài gã Nikita u trật tự hơn tất thảy mọi thứ trên đời

Phòng 6 đã khóa trái cuộc sống của họ, biến họ thành những tù nhân chịu sự

quản thúc của tên cai ngục Nikita cục cằn, thô bạo, hay đánh đập bệnh nhân

“Hắn đánh vào mắt vào ngực, vào lng ngời ta, bạ chỗ nào cũng đánh và đinh ninh rằng nếu không đánh đập nh vậy thì ở đây không sao có trật tự đợc” [17,

315]

Thực tế hiện hữu trong Phòng 6 - một cái nhà xép thuộc một bệnh viện

hàng tỉnh - tự nó đã nói lên tiếng nói tố cáo xã hội gay gắt, bóc trần bản chất chế

độ Sa hoàng Trớc mắt Chekhov bấy giờ, nớc Nga chính là một nhà tù khổ saikhổng lồ tối tăm và ngột ngạt đày đọa con ngời cả tinh thần và thể xác Thái độphê phán này càng quyết liệt hơn sau chuyến đi thăm đảo Xakhalin năm 1890.Tại đảo Xakhalin - hòn đảo mà chính quyền Nga hoàng dùng làm nơi đầy ảinhững ngời tù khổ sai - Chekhov đợc tận mắt chứng kiến những hình thức tra tấn

Trang 11

nhục mạ con ngời Đó là những những “t liệu sống” những “những con số biếtnói” về nớc Nga dới ách chuyên chế Sa hoàng Giờ đây, sự đánh giá của Chekhov

về hiện thực không còn là “lý thuyết màu xám” nữa mà đã có những cơ sở, nhữngcăn cứ cụ thể, chính xác Tháng 10/1890, ông trở về bằng đờng biển, bắt tay viết

Đảo Xakhalin (1891-1893) Trong thời gian viết Đảo Xakhalin, Chekhov sáng tác Phòng 6 (1892) Cả hai tác phẩm đều làm chấn động d luận Nga đơng thời, song

Đảo Xakhalin là một phóng sự khách quan trình bày hiện thực với các số liệu chính xác còn ở Phòng 6, câu chuyện một xã hội, một thời đại toát lên qua những

hình tợng nghệ thuật độc đáo

Cùng chung t tởng chống lại những thế lực chà đạp lên cuộc sống con

ng-ời, cụ thể đó là ách chuyên chế phong kiến, năm 1918, Lỗ Tấn viết thiên truyện

ngắn Nhật ký ngời điên (Cuồng nhân nhật ký) Tác phẩm vừa ra đời đã có tiếng

vang sâu rộng, nhanh chóng đợc xem là bài hịch mở đầu cuộc chiến chống lễgiáo đạo đức phong kiến, phủ nhận triệt để chế độ phong kiến Trung Quốc

Trong Nhật ký ngời điên, Lỗ Tấn đã không ngần ngại phản ánh cuộc sống cơ cực

về vật chất và tăm tối về tinh thần của con ngời “Bọn họ, trớc có kẻ bị ông huyện cùm kẹp, có kẻ bị thân hào vả miệng, có kẻ bị nha lại cớp vợ cớp con, có kẻ cha

mẹ bị chủ nợ bức quá phải tự sát” [21, 19] Không lúc nào họ đợc yên ổn vì luôn nơm nớp lo sợ có kẻ bức hại mình, ăn thịt mình Chính ma lực vô hình từ những

ràng buộc phong kiến đã đẩy con ngời vào chốn u mê, đề phòng nhau, giết hạinhau Sau bao nhiêu năm sống trong cõi u mê đó, một đêm trăng sáng, ngời điêngiật mình tỉnh giấc và kinh hoàng nhận ra mình đang sống trơ trọi giữa một bầysói biết nói tiếng ngời Chúng cấu xé tâm hồn anh ta bằng những chiếc răng nhọnhoắt, những cặp mắt trắng dã Chúng chích vào thể xác anh ta thứ nọc độc quái

ác, làm anh ta không chỉ tê liệt dây thần kinh vận động mà tê liệt cả hệ thống trigiác, mất khả năng t duy Thứ nọc độc ấy chính là con dao mềm lễ giáo đạo đức

phong kiến chặt vào cổ không thấy đau, chém vào đầu không chảy máu [Dẫn

theo 16, 205] Nó khiến ngời ta ngày càng mê muội, không hay biết mình đang bịhút dần sinh khí, sinh lực, trở nên những con vật đờ đẫn trong tay giai cấp thốngtrị Sự mê muội này bám sâu cội rễ vào tiềm thức mỗi ngời dân Trung Quốc từ

hàng nghìn năm nay “Cái gọi là văn minh Trung Quốc kì thực chỉ là bữa tiệc thịt ngời bày ra cho bọn giàu sang hởng thụ, mà cái gọi là nớc Trung Quốc kì thực chỉ là cái bếp để sửa soạn bữa tiệc đó ( …) bao nhiêu yến tiệc lớn bé, dọn)

bằng thịt ngời, đã đợc bày biện ra từ khi có văn minh cho mãi đến bây giờ” [20, 76] Trong Lễ cầu phúc, hơn một lần, Lỗ Tấn để cho thím Tờng Lâm kể lại cái

chết bi thảm của bé Mao - con trai thím Bé chết không vì đá đè, không vì tuyếtvùi, cũng không vì bị nớc băng tan mùa xuân cuốn trôi Bé Mao chết vì bị sói ăn

Trang 12

thịt Hình ảnh con sói là hình ảnh trở đi trở lại trong chuỗi các tác phẩm viết vềchủ đề chống phong kiến của Lỗ Tấn Nó là hình ảnh tợng trng hàm chứa nhiều

ẩn ý thâm thúy Con chó nhà cụ Triệu, con sói giết chết bé Mao giữa tiết xuân,con sói ám ảnh tâm trí AQ lúc ra pháp trờng không còn là con vật cụ thể mà đã

đợc tác giả cấp cho tầng ý nghĩa khái quát sâu sắc, cao độ về bản chất của chế độphong kiến - chế độ ngời ăn thịt ngời

Không phải ngẫu nhiên cuốn nhật kí không đề ngày tháng, và cũng khôngphải ngẫu nhiên nhân vật ngời điên không có tên Theo chúng tôi đó là một dụng

ý của tác giả nhằm tạo nên sự tơng hợp giữa hình thức tác phẩm với nội dung t ởng Với hình thức tổ chức đó, ngời điên có điều kiện nghiền ngẫm, tra cứu, đàosâu vào lịch sử, mở cuộc hành trình truy tìm căn nguyên gây ra tình trạng mêmuội đang ngự trị trong xã hội Từ đó, phát hiện thấy giai cấp phong kiến đãngụy trang, che giấu cái bản chất chó sói của chúng bằng lớp vỏ nhân nghĩa, đạo

t-đức vô cùng mĩ miều, đẹp đẽ Anh ta dũng cảm lột trần lớp mặt nạ, tố cáo tínhchất phi nhân tính của lễ giáo phong kiến Trung Hoa hơn bốn nghìn năm đã hủy

hoại thân xác, tinh thần con ngời Sự chiếu ứng ba khái niệm nhân, nghĩa, đạo

đức với ba chữ ăn thịt ngời đã xé toạc tấm bình phong che đậy bản chất dã man

tàn bạo đó, lôi tim đen của lễ giáo đạo đức phong kiến ra ngoài ánh sáng Lỗ Tấn

đã hạ bệ những khái niệm đợc xem là thiêng liêng, đợc xã hội phong kiến TrungQuốc tôn vinh bằng thái độ xem thờng, không coi trọng Thái độ đó bộc lộ quacách dùng từ ngữ miêu tả cuốn sử không đề niên đại mà ngời điên giở ra tra cứu:

“ở trang nào cũng có mấy chữ: nhân, nghĩa, đạo đức viết lung tung tí mẹt” [21,

20]

Vào thế kỉ XVI, giữa buổi bình minh của chế độ t bản, Hamlet - nhân vậttrong vở kịch cùng tên của Shakespeare - đã đau đớn phát hiện ra cả thế giới làmột ngục thất mà Đan Mạch là nhà ngục ghê tởm nhất, là khu vờn mọc đầy nấm

độc Tạm bỏ qua những khác biệt về phơng diện nội dung, chúng tôi muốn bàn

đến sự gặp gỡ giữa Lỗ Tấn và nhà văn phơng Tây này ở tính chất phát hiện bảnchất chế độ Hamlet nhận ra cái ngục thất Đan Mạch, còn ngời điên nhận ra quan

hệ lang sói thống trị suốt bốn nghìn năm trong lịch sử Trung Quốc Nọc độc tạo

nên cái quan hệ lang sói đó chính là tam cơng, ngũ thờng, là nhân nghĩa, đạo

đức, là lớp vỏ ngụy trang cho lễ giáo phong kiến khắc nghiệt và hủ bại.

Nh vậy, với nhãn quan hiện thực nhạy bén, Lỗ Tấn và Chekhov đã cùng

đặt chữ đời trên trang văn của mình, cùng bóc trần bộ mặt thật của nhà nớc

chuyên chế phong kiến, thông qua số phận những ngời dân khốn khổ sống dới

ách áp bức đó

Trang 13

Dĩ nhiên, do truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ nên dung lợng phản ánhcủa hai tác phẩm tất yếu chịu sự chế ớc đặc trng thể loại So với tiểu thuyết, bứctranh đời sống trong truyện ngắn không phải bao giờ cũng đợc khám phá, soi xét

tỉ mỉ, toàn diện từ nhiều góc độ Truyện ngắn tiến tới khắc họa một hình tợng,phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con ng-

ời, chứ không chiếm lĩnh đời sống trong tính toàn vẹn đầy đặn của nó Nói nh

Nguyễn Minh Châu: “Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn

là cái mặt cắt của dòng đời” [3, 313] - cái mặt cắt của thân cây vũ trụ Chỉ lớt

qua một đờng vân trên cái khoảng gỗ tròn tròn kia mà sau trăm năm vẫn thấy cả

đời thảo mộc

Rọi chiếu vào Phòng 6, A.Chekhov dù có đa Raghin đi du lịch qua

Moxkva hay Varsava thì cuối cùng câu chuyện cũng xoay về căn nhà xép số 6 hình ảnh biểu hiện tập trung nhất bản chất tù đọng, ngột ngạt của chế độ Nga

-hoàng Cũng nh vậy, Nhật ký ngời điên không tái hiện toàn bộ cuộc đời ngời điên

mà chỉ giới hạn trong thời gian mấy tháng anh ta bị ốm Song qua những dòng

suy nghĩ triền miên của anh ta, Lỗ Tấn đã khắc họa đậm nét bản chất ăn thịt ngời của lịch sử xã hội Trung Quốc bốn nghìn năm Thử làm phép so sánh với Hồng lâu mộng, chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt Tác phẩm này cũng mang nội

dung tố cáo chế độ phong kiến Trung Quốc song vì là tiểu thuyết tr ờng thiên nênphạm vi phản ánh trải ra trên nhiều phơng diện Phủ Vinh, phủ Ninh chính làhình ảnh thu nhỏ của nhà nớc chuyên chế đang theo đà lao xuống dốc, bộc lộ đầy

đủ những mặt xấu xa, bỉ ổi, đồi bại về phơng diện đạo đức trong quan hệ cha con,

vợ chồng, trong chế độ thi cử Lỗ Tấn gọi Hồng lâu mộng là tác phẩm “hiện thực không tô vẽ ( …) không vì chiều lòng ng ) không vì chiều lòng ng ời đọc mà xuyên tạc hiện thực ” [Dẫntheo 16, 127]

Giữa cái tăm tối, ngột ngạt của chế độ phong kiến chuyên chế, điều đángghi nhận ở Chekhov và Lỗ Tấn không chỉ là sự dũng cảm vạch trần bản chất chế

độ Đọng lại trong tâm trí độc giả, bên cạnh màu tối của hiện thực còn có nhữngtia sáng lóe lên từ phía ngày mai

A.Chekhov gửi gắm hy vọng đó vào những lời say sa của Gromov hớng tớithời đại mới, cái thời đại mà ở đó mọi gông xiềng, mọi phòng 6, mọi nhà giam

đều bị rục nát, ngời ta tng bừng nhảy múa trên đờng phố Đặt trong không khí ảm

đạm, xám ngắt của nớc Nga những năm 80, 90, cái nhìn của Chekhov rõ ràng cónhiều nét tích cực T tởng đó về sau này đã có sự chuyển biến, phát triển cao hơn

trong nhân vật Nadia (Cô dâu mới cới) Nadia đã đi tìm lối thoát cho mình, dẫu

lối thoát đấy cha định hình, cha đợc xác định cụ thể, rõ ràng Trớc Nadia, bác sỹ

Raghin trong Phòng 6 cũng từng đập cửa nhà giam đòi ra ngoài, nghĩa là bắt đầu

Trang 14

có ý thức phản kháng nhng sau cái đập cửa ấy là gì? “Cửa vẫn đóng và đời im ỉm

khóa” Raghin bị đánh gục bởi nắm đấm của Nikita - kẻ đại diện cho chế độ

“cảnh sát trị” Nga hoàng Thế nhng Chekhov vẫn hi vọng Năm 1892, Gromov

mơ ớc: “Buổi bình minh của cuộc sống mới sẽ rạng lên, chân lí sẽ toàn thắng” [17, 357] Năm 1898, một nhân vật khác lại nh bay lên khi nghĩ về tự do: “Ôi tự do! Tự do! Chỉ mới hình dung đến nó, chỉ mới hi vọng mênh mang đợc tự do, ng-

ời ta cũng đã cảm thấy tâm hồn mọc cánh, có phải thế không?”

Còn Lỗ Tấn, trớc những bữa thịt ngời lớn, bé đợc dọn ra tới tấp trong suốt

lịch sử Trung Quốc bốn nghìn năm vẫn ấp ủ một tia hy vọng mong manh Chắc

vẫn còn những đứa trẻ cha bị ăn thịt” [21, 32] Ngay sau lời cuối của nhân vật ngời điên là tiếng kêu đầy khẩn thiết “Hãy cứu lấy các em!” [21, 32] Các em ở

đây phải chăng là thế hệ thanh niên Trung Hoa sẽ gánh vác những trọng tráchcách mạng giao cho? Hơn một lần, Lỗ Tấn đặt niềm tin vào lớp ngời này trong

các sáng tác của ông “Bữa yến tiệc thịt ngời nay vẫn còn bày biện ra đấy, có nhiều ngời vẫn muốn cứ bày biện ra nh thế mãi Quét sạch những đứa ăn thịt ng-

ời ấy đi, hất đổ cái mâm tiệc ấy đi, đốt phá cái nhà bếp ấy đi, đó là sứ mệnh của thanh niên ngày nay” [20, 77].

1.2 Nghệ thuật

1.2.1 Xây dựng hình tợng nhân vật ngời điên

Có lần, M.Gorki đã khuyên một ngời bắt đầu viết văn hãy bỏ viết đi Lí dovì anh ta không có khả năng miêu tả những con ngời cho sinh động, mà đấy lại là

điều chủ yếu Nh vậy, theo quan niệm của M.Gorky, nghệ thuật bắt đầu ở nơi màngời đọc quên mất tác giả, chỉ còn trông thấy và nghe thấy những con ngời do tác

giả xây dựng nên Đó là những nhân vật văn học những con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phơng tiện văn học” [19, 61]

Nhân vật chính là hình thức cơ bản để nhà văn miêu tả thế giới một cáchhình tợng ý nghĩa, chức năng của nhân vật biểu hiện trên nhiều phơng diện,nhiều khía cạnh Nó không chỉ khái quát tính cách mà còn là tấm gơng khúc xạ,hội tụ những quan hệ khách quan của cuộc sống Từ góc độ này, Fedin gọi nhân

vật là một công cụ dẫn dắt ngời ta vào một thế giới đời sống sinh động Sẽ rất sai

lầm nếu xem nhân vật văn học trùng khít với tác giả hay với một nguyên mẫungoài đời, từ đó, yêu mến, ghét bỏ nó nh yêu ghét con ngời thật Đấy là hiện tợngkhông hiếm trong lịch sử tiếp nhận văn học

Mỗi tác phẩm văn học có một thế giới riêng đợc dựng nên bằng h cấu nghệthuật Nhân vật là một phần của thế giới đó Nhân vật có thể là ngời, có thể là đồvật, con vật Hoặc lắm lúc là những hiện tợng, chi tiết nổi bật trong tác phẩm, ví

nh : Chiếc quan tài trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Công Hoan hay Thời

Trang 15

gian trong sáng tác của Chekhov Tuy nhiên xét đến cùng, chủ yếu các nhà văn

vẫn xây dựng nhân vật là con ngời và gửi gắm vào “đứa con đẻ” của mình nhữngquan niệm, những t tởng mang tính chủ quan về cuộc đời, về các mảng đời sống

đợc chọn lựa Trên hành trình sáng tạo văn chơng, ngời nghệ sĩ lu giữ tên tuổicủa anh ta chính ở các nhân vật do anh ta tạo ra

Lỗ Tấn và Chekhov cũng không đi trệch hành trình đó Từ phơng diện xây

dựng nhân vật, điểm gặp gỡ giữa Phòng 6 và Nhật kí ngời điên nằm ở hình tợng

độc đáo - hình tợng ngời điên mắc bệnh bức hại cuồng - một căn bệnh làm cho

con ngời luôn luôn có cảm giác lo lắng, hoảng sợ về ý nghĩ đang bị kẻ khác rìnhrập, giết hại, thủ tiêu

Cái viễn cảnh bị vu khống, xử oan, giam cầm, trở thành nỗi ám ảnh đối vớiGromov - một bệnh nhân phòng 6 Nó biểu hiện trong mọi hành động, cử chỉ,suy nghĩ của anh ta Chỉ cần một tiếng sột soạt khẽ ở ngoài hành lang, một tiếng

quát ngoài sân cũng đủ khiến anh ta giật mình, bắt đầu nghe ngóng đề phòng họ

bắt đầu đến bắt minh chăng?Họ lùng mình chăng?” [17, 318] Tâm hồn đầy những sự giằng co, dày vò, lo sợ, lộ rõ trên “khuôn mặt rộng, gò má cao xanh xao và khổ sở” [17, 318], trong những lời lẽ lộn xộn rối rắm nh là mê sảng, tuôn

ra từng đợt ngắn chẳng có gì là mạch lạc

Cũng bị đè nặng bởi nỗi lo sợ, ngời điên trong truyện ngắn của Lỗ Tấntriền miên với những suy luận, về cảnh tợng mọi ngời xung quanh sắp “ăn thịt”anh ta Có cảm giác thần kinh anh ta hàng ngày, hàng giờ luôn phải căng ra đểphát hiện, cảnh giác và nghi ngờ Không phải ngẫu nhiên trong cuốn nhật ký của

anh ta xuất hiện liên tiếp những câu hỏi “Tại sao con chó nhà họ Triệu lại lờm mình nh thế ( …) không vì chiều lòng ng ” [21, 17] hay Phía tr ) ớc một bầy trẻ cũng đang bàn tán gì về mình ánh mắt y hệt ánh mắt của ông Triệu, mặt cũng tái mét Nghĩ bụng không hiểu chúng nó thù gì mình mà cũng lại nh thế? ” [21, 18] Ngời điên tự hỏi và tựgiải đáp Cái lý do anh ta viện ra thoạt nghe rất buồn cời và phi lý Mọi ngời đang

muốn ăn thịt anh ta, từ con chó đến con ngời, từ trẻ nhỏ đến ngời lớn, từ kẻ xa lạ

đến ông anh trai, chẳng trừ ai Song ngẫm kĩ, nó chứa đựng những t tởng nghệthuật sâu sắc và lớn lao sau đó

Trong văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc nó không phải làcá tính cũng không phải là các phẩm chất loại hình mà là một t tởng, một ý thức

Gromov trong Phòng 6 và ngời điên trong Nhật ký ngời điên chính là nhân vật t

t-ởng Đối với loại nhân vật này, ngời nghệ sĩ nếu quá “non tay” rất dễ biến nhânvật thành cái loa phát ngôn cho t tởng của mình Lỗ Tấn và Chekhov đã vợt quacái độ vênh đó của ngòi bút, khéo léo nhờ ngời điên nói hộ những suy nghĩnhững triết lý về cuộc đời, về hiện thực xã hội phong kiến chuyên chế

Trang 16

Gromov vốn là một thanh niên rất nhạy cảm và hay suy nghĩ ở tuổi 33,anh nghĩ nhiều về cái gọi là cuộc sống đang hiện hình trớc mắt ở đó ngời tasống vô nghĩa nhợt nhạt “Quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu Tới hay lui cũngchừng ấy mặt ngời” Ngột ngạt, buồn tẻ và đơn điệu Không chỉ thế, xã hội ấy

còn đầy rẫy bất công “Những kẻ đê hèn, đểu cáng thì no cơm ấm áo, còn những ngời trung thực chỉ ăn những mẩu thừa” [17, 322] Chính tình trạng đó của xã

hội, cộng thêm sự bất hạnh đau khổ của bản thân đã đẩy Gromov tới chỗ bệnh

hoạn, ngày đêm bị đọa đầy trong những suy tởng về lao tù, về xiềng xích “Với cái chế độ xử án ngày nay kết án nhầm là thờng chẳng có gì khó lắm” [17, 324].

Chẳng phải vô cớ mà kinh nghiệm hàng bao thế kỉ của dân gian đã dạy ngời ta

rằng không ai có thể biết chắc mình sẽ tránh khỏi trại lính hay nhà lao [17, 324].

Thử hỏi đấy có hoàn toàn là lời một kẻ điên? Rõ ràng, đằng sau những lời lẽ lộnxộn không đầu không cuối là lý trí, là lơng tri của một con ngời tỉnh táo “Ngôn

ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng”, từ một góc độ nào đó, chúng ta có thể áp

dụng câu nói của Lênin vào nhân vật Gromov Anh ta không thể nói về sự hèn hạcủa con ngời về bạo lực chà đạp lên chân lý nếu quả thực anh ta không mảy maysuy nghĩ về chúng

Nếu hình dung hành trình Gromov từ chân lục sự ở tòa án đến kẻ điên lọan

ở bệnh xá là một cuộc chạy trốn thì Gromov đã thất bại thảm hại trong cuộc chạytrốn này Gặp hai ngời tù bị áp giải, anh ta sợ chính mình rồi cũng có thể bị xiềngxích và bị áp giải nh thế Vậy là nghi ngờ tất cả mọi ngời anh ta gặp, rồi suốt đêmkhông ngủ, rồi đa ra hết dự tính này đến dự tính khác đề phòng mọi khả năng xẩy

ra Càng suy nghĩ càng khổ sở Rốt cuộc, Gromov “để mặc cho nỗi lo âu và tuyệt vọng tha hồ khống chế mình” [17, 327] Trong con ngời này luôn luôn tồn tại sự

đấu tranh, giằng co giữa lý trí và tình cảm, giữa lơng tri và tâm trạng kinh hãi Vàbao giờ cái tâm trạng kinh hãi ấy cũng lấn át lơng tri, mách bảo anh hành động

nh kẻ điên loạn Khi ngời ta đã tìm thấy hai cái xác rữa nát trong khe cạnh nghĩa

địa, ý nghĩ đầu tiên đến với Gromov là phải giả vờ mỉm cời bình thờng để mọingời không nghĩ anh ta là hung thủ Nhng sự dối trá làm Gromov mệt mỏi

Gromov chạy trốn, mang theo cảm giác “bạo lực của thế giới đã đổ hết lên lng anh và đuổi riết theo anh” [17, 328] Qua đó, ta nhận ra những sự lo sợ, hoảng

hốt của Gromov không nảy sinh một cách ngẫu nhiên Nó có cơ sở từ chính tìnhtrạng xã hội đầy bức bách, nhìn đâu cũng thấy mật thám, chó săn, nhìn đâu cũngthấy xiềng xích, lao tù Sự trốn chạy của anh là biểu hiện cao độ tâm trạng hoảng

sợ

Gromov muốn thoát khỏi tấm lới bạo lực mà xã hội đang bao vây quanhanh Nhng “tránh vỏ da, gặp vỏ dừa” hay đúng hơn, Gromov không đủ sức phá

Trang 17

rách tấm lới đó bởi nó đã giăng khắp nơi Ngời ta ném Gromov vào phòng 6 Cănphòng này về hình thức là phòng bệnh song thực chất, đây là một phòng giam,coi giữ những tù nhân đặc biệt Phòng 6 nói rộng ra là hình ảnh thu nhỏ của xãhội Nga, là nơi mà bạo lực của thế giới không còn dừng ở cảm giác mà là những

đòn tra tấn đánh đập của Nikita - gã đồ tể u trật tự hơn mọi thứ trên đời Nh vậy,cuộc chạy trốn của Gromov chỉ đơn giản là từ nhà tù này lọt vào nhà tù khác Cáihành trình luẩn quẩn không lối thoát đó đã lớn tiếng tố cáo xã hội phong kiếnNga hoàng một cách đanh thép Ta những tởng Chekhov đang thờ ơ lạnh lùng

đứng ngoài nhìn đứa con đẻ của mình hoảng loạn, lo sợ song không phải vậy.

Ông theo sát từng suy nghĩ từng trạng thái của Gromov Trong lời Gromov đánhgiá, nhận định về xã hội về con ngời, ta tìm thấy từ phía tác giả sự đồng tình ủng

hộ chứ hoàn toàn không mang sắc thái bỡn cợt, cời đùa Chekhov thực sự đã pháthuy có hiệu quả chức năng “công cụ” của nhân vật văn học để khái quát bản chấtxã hội, thể hiện quan điểm t tởng của bản thân

Còn Lỗ Tấn thì nh thế nào? Trớc khi đến với nghiệp văn chơng, cũng nhChekhov, Lỗ Tấn từng làm nghề thầy thuốc Có lẽ vì thế mà khi đặt bút khai thác

diễn biến tâm lý của nhân vật ngời điên - kẻ mắc bệnh bức hại cuồng - ông có

nhiều thuận lợi Do thiên truyện đợc kết cấu dới hình thức một tập nhật ký nênngời điên chủ yếu đợc tái hiện ở phơng diện tâm lý Qua đó, nhà văn tô đậm cáihạt nhân t tởng: vạch trần, tố cáo bản chất xã hội phong kiến Trung Quốc suốt

bốn nghìn năm lịch sử Đó là xã hội ăn thịt ngời Ngời điên không giây phút nào

không bị nỗi sợ này đeo riết Và điều kì lạ là càng sợ, càng nghĩ ra lắm thứ để màsuy xét và lo sợ Ngời điên sợ ánh mắt của những đứa trẻ, của ông Triệu, sợ cảcái nhìn của con chó nhà ông Triệu Xâu chuỗi lời bà mẹ đánh con, lời ngời tá

điền bên thôn Lang Sói nói với ông anh, ngời điên thất kinh hồn vía khi nhận ra

đó là những ám hiệu của bọn ăn thịt ngời ý nghĩa cụm từ ăn thịt ngời đã vợt ra

sự bó hẹp của câu chữ cụ thể, hớng tới lễ giáo đạo đức phong kiến với những thủ

đoạn độc địa cơng tỏa cuộc sống nhân dân, làm tê liệt ý thức của họ, khiến họ trởnên u mê Ngời điên tởng tợng ra nhiều điều vô cùng khủng khiếp: mẹ ăn thịtcon, anh ăn thịt em, moi tim gan kẻ ác rán mỡ ăn cho can đảm, mục đích là muốn

triệu triệu ngời dân Trung Quốc đang ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt [Dẫn

theo 16, 174] tỉnh dậy Hình tợng ngời điên đợc tái dựng trong sự đan cài hai

ph-ơng diện: điên và tỉnh Gromov trong Phòng 6 cũng đợc Chekhov xây dựng theo

phơng thức đó Có lẽ chính vì sự đan cài này mà rất nhiều ý kiến tranh cãi nhau

xem ngời điên điên thật hay hoàn toàn tỉnh táo? Thiết nghĩ chúng ta không thể

quy hẳn sự đánh giá về một phơng diện và tuyệt đối nó Bởi rõ ràng những diễnbiến căng thẳng đầy lo sợ trong tâm trạng của anh ta chứng tỏ anh ta mắc bệnh

Trang 18

bức hại cuồng thật sự Song mặt khác, những suy nghĩ của ngời điên, những lời ngời điên bộc bạch lại rất tỉnh Anh ta nhận ra thực chất cái gọi là lịch sử Trung

Quốc mấy ngàn năm chẳng qua là cuốn sách không đề niên đại, trong đó nổi lên

ba chữ ăn thịt ngời ở giữa những trang, những hàng viết “lung tung tí mẹt” về nhân, nghĩa, đạo đức Đó là bản chất áp bức, bóc lột của nhà nớc chuyên chế

phong kiến Không giản đơn là sự áp chế về thể xác Cao hơn, nham hiểm hơn,thâm độc hơn là sự áp chế về tinh thần Lễ giáo phong kiến nh sợi dây thòng lọngthít chặt vào cổ ngời, nh nọc độc con tò vò chích vào huyệt thần kinh vận độngcủa con sâu xanh, làm cho sâu tê liệt đi, không chết nhng cũng không thể chống

cự Giai cấp phong kiến còn ác độc hơn thế bởi “con tò vò chỉ cần con sâu xanh không động đậy là đợc Còn nh việc của chúng ta là muốn cho vận động đ-

ợc nhng không có tri giác ” [20, 67] Thông qua tâm lý ngời điên, Lỗ Tấn chỉ ranguyên nhân dẫn ngời Trung Quốc đến cuộc sống cơ cực, tăm tối Bên cạnh sựcùm kẹp của tri huyện, cờng hào, sự dồn đuổi của chủ nô là những ràng buộc tinh

thần vô cùng độc địa bắt nguồn từ con dao mềm lễ giáo, đạo đức phong kiến.

Nhân vật ngời điên đã nhận ra bản chất thực của chế độ phong kiến và kịch liệtlên án tố cáo xã hội phong kiến đó Tiếng nói tố cáo mạnh mẽ của ngời điên vanglên giữa năm đầu thế kỉ XX, khi mà mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp đã trởnên phức tạp, gay gắt, không khí tiền cách mạng bao trùm xã hội Trung Quốc, rõràng có một ý nghĩa nhận thức sâu sắc, làm lung lay những bức tờng bằng sắt củacăn nhà đang nhốt giữ ngời dân Trung Quốc u mê, tăm tối

Tóm lại, với thủ pháp biểu tợng hai mặt, nớc đôi, Lỗ Tấn và Chekhov đãsáng tạo nên một hình tợng nghệ thuật độc đáo – hình tợng ngời điên Hai tácgiả rất tài tình trong việc lợi dụng trạng thái điên của ngời bệnh để phát biểunhững t tởng không điên chút nào về thực trạng xã hội Nga và Trung Quốc lúcbấy giờ Qua đó, khẳng định một chân lí bất di bất dịch: bản chất ách chuyên chế

ở đâu cũng thế ở đâu con ngời cũng bị đày đoạ, áp chế về mặt tinh thần và thểxác Bản chất của ách chuyên chế phong kiến ở đâu cũng thế Chúng rất giốngnhau trong việc áp bức, gây đau khổ cho con ngời, đày đọa họ cả về tinh thần vàthể xác Cả Lỗ Tấn và Chekhov đều cố gắng làm bật nổi cái hạt nhân t tởng đótrong hình tợng ngời điên Vì vậy, tiếp sau những trạng thái căng thẳng, lo sợ của

Gromov trong Phòng 6 hay của ngời điên trong Nhật ký ngời điên, cái mà độc

giả dễ dàng nhận ra là những nhận xét, đánh giá về con ngời, về cuộc sống, bảnchất chế độ Giá nh Lỗ Tấn và Chekhov đồng loạt thay thế nhân vật ngời điênbằng nhân vật khác rất bình thờng, vô cùng tỉnh táo thì thiết nghĩ cha hẳn đã tạonên sức nặng cho tác phẩm nh vậy

1.2.2 Sử dụng những chi tiết nghệ thuật sáng tạo, độc đáo

Trang 19

Chi tiết là một khái niệm đợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau,

không phải là độc quyền văn học Đó là phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung hoặc hiện tợng Xét riêng trong lĩnh vực sáng tác văn chơng, chi tiết là “tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và t tởng” [10, 59] Các nhà nghiên

cứu đã phân ra hai loại chi tiết nghệ thuật: Chi tiết thuộc về nghệ thuật và chi tiếtmang tính nghệ thuật Chi tiết thuộc về nghệ thuật là những chi tiết chỉ đóng vaitrò làm vật liệu xây dựng làm tiền đề cho cốt truyện Còn chi tiết mang tính nghệthuật là chi tiết thể hiện tập trung cấu tứ của tác giả Loại chi tiết này thờng đợctô đậm, nhấn mạnh, nhiều lúc lặp lại Chi tiết nghệ thuật bao giờ cũng biểu hiệnmột quan niệm nghệ thuật nào đó của nhà văn về thế giới và con ngời

Đặc biệt, đối với loại tác phẩm tự sự (tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện

vừa ) chi tiết không thể thiếu Nó gắn liền với đặc trng thể loại nghiêng về tả vật,

kể sự của loại tác phẩm này “Chi tiết trong tác phẩm tự sự thờng mang chất văn xuôi, xơng xẩu nhất và mặt khác nhiều loại nhất Ta bắt gặp các chi tiết về chân dung ngoại hình, về tâm lý, sinh lí, phong cảnh, phong tục bao gồm các chi tiết tởng tợng, liên tởng hoang đờng mà không nghệ thuật nào trình diễn đợc” [ 19,

211]

Nhiệm vụ của của nhà văn là phải biết sàng lọc các chi tiết, lựa chọn cho

đợc những chi tiết đắt giá tạo thành điểm sáng nghệ thuật hội tụ t tởng, chủ đề

của tác phẩm Không phải vô cớ, chi tiết đợc xem là con dao hai lỡi Bởi sử dụng

chi tiết là cả là một nghệ thuật Nếu cao tay ngời nghệ sĩ sẽ lu đợc dấu ấn của anh

ta song ngợc lại nếu không biết lựa chọn chi tiết dẫn tới đa vào tràn lan, ngay lậptức việc sử dụng chi tiết sẽ phản tác dụng, không những không đem lại hiệu quảthẩm mỹ mà trái lại còn phá vỡ ý đồ của nhà văn

Truyện ngắn, nh đã trình bày ở phần (1.1) là thể loại tự sự cỡ nhỏ, vì vậy,

so với tiểu thuyết, số lợng chi tiết ít hơn rất nhiều Tuy nhiên, về vai trò của chitiết thì cha hẳn là chi tiết trong tiểu thuyết quan trọng hơn chi tiết trong truyệnngắn nếu xét từ đặc trng thể loại

Truyện ngắn sống đợc nhờ vào các chi tiết đắt giá Nói khác đi, ngời viết

truyện ngắn có thể không cần tạo ra một cốt truyện thật li kì, song nhất thiết phảisáng tạo đợc những chi tiết mang tính nghệ thuật Nếu ví truyện ngắn nh một bài

thơ trữ tình thì chi tiết nghệ thuật chính là cái tứ của bài thơ đó Mỗi chi tiết nghệ

thuật giống nh một giọt nớc mà qua đó ta thấy cả đại dơng mênh mông.Tiểuthuyết do có dung lợng lớn xét trên cả hai phơng diện hình thức và nội dung phản

ánh nên nó cho phép nhà văn độn vào nhiều đoạn trữ tình ngoại đề hay trải rộng phạm vi trần thuật Những truyện ngắn thì hoàn toàn khác Chỉ là một lát cắt nhỏ

của cuộc đời nên yêu cầu nội dung phải dồn nén cô đọng Để làm đợc điều đó dĩ

Trang 20

nhiên nhà văn phải cậy nhờ tới các chi tiết đắt giá, phải biết nhặt từ hiện thực đời sống những vụn vàng và cấp cho nó những ý nghĩa sâu xa “Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết nh thế nào mà là nghệ thuật vứt bớt đi những gì dở, kém nh thế nào ” [Dẫn theo 22, 393] Đừng để ngời khác phải nhận xét

“truyện của anh rất tốt, chỉ hiềm nó dài quá, trong đó có quá nhiều chi tiết vô

bổ ” [Dẫn theo 22, 393] Nguyên Ngọc trong bài Nói về truyện ngắn đã khẳng

định: “Truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ nh nớc lã Phát hiện và làm bật chi tiết cũng là thuộc về nghệ thuật bấm huyệt của truyện ngắn” [Dẫn theo

Chekhov viết truyện ngắn dới sự chỉ đạo sát sao của nhận thức đúng đắn

Nghệ thuật viết là nghệ thuật viết rút gọn Biết nói ngắn những truyện dài Ông

biết cắt bỏ những chi tiết d thừa và chọn lựa những chi tiết có sức nặng Quả là

không phóng đại khi ví những chi tiết đó giống nh năm ngón tay siết lại thành nắm đấm Hàng loạt truyện ngắn của Chekhov nh Anh béo anh gầy, Ngời mang bao, Ionứt…) đã chứng minh cho nhận định đó Gặp nhau trong giây lát trên sân

ga, anh gầy, anh béo tay bắt mặt mừng rất chân tình và thân thiết Nhng sau khi

biết phẩm hàm của anh béo, ngay lập tức những từ cậu, tớ biến mất và thay vào

đó là bẩm quan lớn, tha quan lớn Chỉ qua chi tiết nhỏ về xng hô giữa hai ngời,

nhà văn đã vẽ đợc một bức chân dung về thói xu nịnh, quỵ lụy quyền thế Ngay

trong cách gọi anh gầy, anh béo cũng đã bao hàm nhiều tầng ý nghĩa Gầy béo

đâu giản đơn chỉ là sự khác biệt về ngoại hình Đằng sau đó là hố ngăn cách giàu

- nghèo, sang - hèn

Phòng 6 đợc sáng tác ở giai đoạn hai trong sự nghiệp của Chekhov Giai

đoạn này, ông có chuyển đổi trong cách lựa chọn cốt truyện từ cốt truyện đồngtâm sang cốt truyện biên niên Tuy nhiên bao giờ ông cũng khắt khe với ngòi búttrong việc lựa chọn các chi tiết đa vào tác phẩm Bản thân phòng 6 - căn nhà xépcuối bệnh viện đã đợc xem là một chi tiết nghệ thuật đắt giá Ngay từ đầu, tác giả

đã tập trung tái hiện rất tỉ mỉ từ sàn gỗ, cửa sổ đến các bức tờng và trần nhà Tờng

đợc quét lớp sơn màu xanh bẩn, trần nhà đen kịt mồ hóng Sàn gỗ xám kịt và lởmchởm những chỗ bị xớc, đặc biệt các cửa sổ đều có chấn song sắt bên trong Trớc

đó, căn nhà xép đã xuất hiện với vẻ tiêu điều, ảm đạm, với dãy rào bằng gỗ màuxám tua tủa đinh bao quanh bệnh viện Tất cả các chi tiết cộng hởng với nhau bậtnổi hình ảnh phòng 6 - một nhà giam Nhà giam ấy không đặt ở sở cảnh sát mà

Trang 21

lại đặt ở cuối sân bệnh viện Phải chăng là sự phi lý? Tởng chừng là nh thế songthực chất đó là dụng ý nghệ thuật của Chekhov nhằm tố cáo chế độ Nga hoàngcuối thế kỉ XIX Nớc Nga là một nhà tù Khắp nơi là phòng số 6 Phòng 6 là hình

ảnh thu nhỏ của xã hội Nga rộng lớn Trong hình dung của độc giả, những songsắt cửa sổ, những chiếc đinh nhọn chìa ra ngoài không chỉ bao quanh căn nhà xép

mà còn bao quanh nớc Nga phong kiến Đó là những chi tiết biết “nói” và khảnăng “nói” của nó nhiều hơn cả bản thân nó Qua đó, khẳng định lại mối quan hệ

giữa chi tiết nghệ thuật và chủ đề t tỏng “Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực mà còn cần đạt tới nghĩa tợng trng, hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tởng tợng của nhà văn về cuộc sống” [22,

88] Chủ đề có tác dụng hớng dẫn ngời viết chọn chi tiết để tạo dựng cốt truyện

Đặc trng tác phẩm tự sự cho phép nhà văn thoải mái lựa chọn các loại chi tiếtphục vụ đắc lực cho việc biểu hiện chủ đề Có những chi tiết tả vật và có nhữngchi tiết tả ngời Chẳng hạn, để tô đậm hơn tính chất nhà tù của căn phòng số 6,bên cạnh hàng loạt các chi tiết nh chấn song sắt, đinh nhọn tua tủa, Chekhov cònviện đến những chi tiết miêu tả ngoại hình, tính cách Nikita - lão gác cửa phòng

6: “khuôn mặt hắn khó đăm đăm, xơng xẩu gầy guộc, đôi mày mọc tua tủa ( ) mũi hắn đỏ rừ, ngời hắn thấp ( ) đôi quả đấm sức mạnh có thừa ” [17, 315] Tácgiả nhắc lại tới bốn lần hành động đánh đập ngời khác của Nikita Lý do đơn

giản vì hắn là kẻ “u trật tự nhất trên đời” “Hắn đánh vào mắt, vào ngực, vào lng ngời ta, bạ chỗ nào cũng đánh” [17, 315] Khi Moixeyka từ ngoài phố về “hắn lột hết các túi áo túi quần của lão” [17, 317] Mỗi khi dọn dẹp cho gã Mugich nằm bên trái Gromov, “hắn đều đánh gã rất dữ, ráng hết gân sức nh ngời quai búa tạ, không nơng nhẹ hai quả đấm chút nào” [17, 329] Và cuối cùng, lúc bác

sĩ Raghin bất lực đòi mở cửa phòng 6, Nikita đã không ngần ngại “dùng hai tay

và đầu gối ẩy mạnh bác sĩ Raghin ra, rồi giang tay lấy đà và tống quả đấm quả

đấm vào mặt ông” [17, 400] Việc láy lại những chi tiết miêu tả hành động của

Nikita đã có tác dụng khắc sâu vào tâm trí độc giả sự hình dung về một xã hội

đầy bạo lực, một chế độ “cảnh sát trị” đang hiện hữu dới ách chuyên chế Ngahoàng bấy giờ Tiếng nói tố cáo tự cất lên từ bản thân các chi tiết

Thủ pháp láy lại các chi tiết nghệ thuật cũng đã đợc Lỗ Tấn phát huy cao

độ trong Nhật ký ngời điên.

Bảng thống kê

TT Chi tiết nghệ thuật Trang xuất hiện

chi tiết

Tổng số lần xuất hiện

1 Ngời điên dẫm lên cuốn sổ ghi nợ

của cụ Cố Cữu

Trang 22

2 Chi tiết miêu tả ánh mắt:

19, 2919

21, 2218

17, 2521

141211212121

4 Chi tiết nói trực tiếp tới việc ăn thịt ngời > 20

Đối với thể loại truyện ngắn, việc lặp lại các chi tiết rất dễ dẫn đến sự thừathãi, nhàm chán làm ảnh hởng đến giá trị của tác phẩm Tuy nhiên, dới ngòi bút

Lỗ Tấn, mỗi chi tiết lựa chọn đều đợc cấp cho một vị trí, một giá trị riêng biệt

Ông điều phối các chi tiết linh hoạt, chủ động chẳng khác gì một vị tớng giỏi

đang chỉ huy quân lính dàn trận Không phải bất kì chi tiết nào cũng đợc láy lại

Sự lặp lại một chi tiết nào đó phải hớng đến một dụng ý nghệ thuật mang tínhthẩm mỹ Bản thân chi tiết đợc lựa chọn cũng phải thật tiêu biểu, gắn chặt vớiquan điểm của nhà văn về con ngời và thế giới Mặt khác, lặp lại chi tiết nghệthuật nên kết hợp nhiều cách thức, có thể lặp lại hoàn toàn, nguyên vẹn songcũng có thể biến đổi về phơng diện từ ngữ, cấu trúc Do hạn chế về ngoại ngữchúng tôi cha có điều kiện khảo sát việc sử dụng chi tiết xét trên phơng diện cấutrúc ngữ pháp Vì thế, việc khảo sát của chúng tôi mới chỉ dừng lại ở phơng diệnnội dung ý nghĩa

Theo dõi bảng thống kê trên, điều chúng ta dễ nhận ra là tần số lặp lại chi

tiết nói trực tiếp tới việc ăn thịt ngời và chi tiết miêu tả ánh mắt rất lớn, nhất là chi tiết nói trực tiếp tới việc ăn thịt ngời Nếu ngời điên chuyển suy nghĩ của anh

ta thành ngôn ngữ đối thoại thì đây có lẽ là câu đầu cửa miệng trong mỗi cuộcnói chuyện Bất kì điều gì diễn ra xung quanh anh ta cũng khiến anh ta liên tởng

tới ba chữ ăn thịt ngời Nhất là những ánh mắt nhìn của mọi ngời Ban đầu anh ta còn ngạc nhiên đặt dấu hỏi: Tại sao con chó nhà họ Triệu lại lờm mình? ” [21,15] Không biết mấy đứa trẻ kia thù gì anh ta mà lại nhìn nh thế? Nhng từ khi

Trang 23

anh ta suy ra đợc ba chữ ăn thịt ngời thì chỉ cần bắt gặp một ánh mắt là anh ta kết

luận ngay ngời đó muốn ăn tơi nuốt sống anh ta, rằng tất cả những cái nhìn đó

đều giống nhau ở đây, nhà văn không chủ ý cho lặp lại ánh mắt của một ngờiduy nhất Có sự thay đổi về chủ thể : Lúc là con ngời, lúc là con vật, thậm chí là

sinh vật đã chết (mắt cá trắng dã), lúc là trẻ con, lúc là ngời lớn Sự thay đổi ấy

đem lại hiệu quả mở rộng đối tợng phản ánh, khẳng định một thực tế là ngời điênluôn trong trạng thái sợ cả xã hội ăn thịt mình Nó rất giống với cảm giác củaGromov lúc chạy trốn tởng cả thế giới dồn đuổi và đổ ập xuống đầu anh ta Mặtkhác, nó còn khẳng định t tởng ăn thịt ngời đã bám rễ sâu vào tâm thức của nhiềuthế hệ ngời dân Trung Quốc Con dao mềm lễ giáo đạo đức phong kiến đã pháthuy tối đa sức mạnh của nó Ngời ta đe dọa nhau, ăn thịt lẫn nhau gần nh trongtình trạng vô thức, u mê và tăm tối

Đặt trong sự liên hệ với những sáng tác khác của Lỗ Tấn, chúng tôi còn

nhận ra ông sử dụng chi tiết miêu tả ánh mắt không chỉ ở Nhật ký ngời điên Chẳng hạn, Lễ cầu phúc lặp lại tới 5 lần ánh mắt thím Tờng Lâm Trong AQ chính truyện, chú AQ thực sự kinh hoàng trớc những cặp mắt ghê tởm đang theo xiết y “không những nuốt chửng lời nói của y mà chực cấu xé cả thân hình y” [21, 176] Nó “ghê tởm nh cha bao giờ ghê tởm bằng, vừa lừ lừ, vừa sắc bén”

[21, 176] Khủng khiếp hơn cả đôi mắt chó sói đã từng làm y sợ chết ngất đi

Đám quần chúng trong AQ chính truyện chạy theo AQ xem, khi AQ bị đa ra

pháp trờng cũng là đám quần chúng đứng chứng kiến cuộc chặt đầu tên Hán giantay sai của đế quốc Nga, sau khi bị đế quốc Nhật bắt đợc Nhân dân Trung Quốcquả thật còn mê muội và tàn nhẫn quá chừng Nhắc lại ký ức của chú AQ về cặpmắt chó sói trong mối liên hệ với những cặp mắt đang hóa thành một khối cấu xétâm hồn chú là một cách để Lỗ Tấn lên tiếng vạch trần bản chất chế độ phongkiến Trung Hoa - chế độ ngời ăn thịt ngời Khởi nguồn dẫn đến chế độ đó chính

là lễ giáo đạo đức ràng buộc, cơng tỏa, đè nén tinh thần con ngời Đây là mộttrong những sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống các sáng tác của Lỗ Tấn, không riêng

gì truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) Cái gọi là văn minh Trung Quốc kỳ

thực chỉ là bữa tiệc thịt ngời bày ra cho bọn giàu sang hởng thụ, mà cái gọi là Trung Quốc, kỳ thực chỉ là cái bếp sửa soạn bữa tiệc thịt ngời đó Không biết mà tán dơng còn tha thứ đợc, biết mà tán dơng thì thế hệ này sẽ bị ngời đời sau nguyền rủa mãi mãi ” [20, 76]

Giữa lúc cả xã hội đang u mê tăm tối nh thế, chỉ duy nhất ngời điên còntỉnh táo nhận thấy bản chất thống trị áp bức của giai cấp phong kiến suốt mấynghìn năm lịch sử Chi tiết về cuốn sổ ghi nợ của cụ cố Cữu là chi tiết ám chỉ lịch

sử thống trị, áp bức đó Bản thân cách gọi Cố Cữu phải chăng cũng hàm chứa một

Trang 24

ẩn ý sâu xa Có tới hai lần ngời điên nghĩ đến cuốn sổ này và nhớ rằng hai mơinăm trớc anh ta đã dẫm lên nó Hành động đó rõ ràng là hành động chống lại chế

độ phong kiến Chính ách chuyên chế cùng lễ giáo đạo đức phong kiến là đầumối khiến anh ta lúc nào cũng lo lắng, hoảng sợ, lúc nào cũng bị ám ảnh bởi mấychữ ăn thịt ngời Nh vậy, ngời điên không những vạch trần bản chất chế độ phongkiến mà còn ra mặt tuyên chiến với nó đồng thời còn cảnh báo và kêu gọi mọi

ngời hãy thực tâm mà thay đổi “các ngời nên biết rằng tơng lai, ngời ta không dung thứ những kẻ ăn thịt ngời đâu Các ngời không thay đổi thì các ngời cũng sẽ

bị ăn thịt cả Dù có con đàn cháu lũ cũng sẽ bị ngời chân chính tiêu diệt, chẳng khác gì ngời đi săn tiêu diệt lang sói” [21, 30] Lời cảnh báo cũng đợc nhắc lại

hai lần thể hiện sự phản kháng sôi sục của nhân vật Đằng sau đó là mong muốn,

là tâm nguyện của Lỗ Tấn về một tơng lai không còn ngời ăn thịt ngời

Cùng với cách sử dụng chi tiết theo lối lặp lại nhiều lần, sáng tạo nhữngchi tiết miêu tả nội tâm đợc xem là đóng góp quan trọng của Lỗ Tấn cho tiếntrình phát triển tiểu thuyết Trung Hoa Trớc đó, tiểu thuyết Minh Thanh cơ bảnchỉ miêu tả tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, hành động và sự kiện, ítkhi miêu tả ngoại hình và diễn biến nội tâm Cái lu giữ hình ảnh Tào Tháo trong

tâm trí độc giả chính là những câu nói có một không hai: Ta thà phụ ngời chứ không để ngời phụ ta” hay “Ngời chửi ta, ai cũng biết cả, không giết họ, ta đợc mọi ngời cho là độ lợng Nhng ngời biết ý nghĩ riêng của ta mà không giết thì nguy Bởi khi ngời khác biết đợc ý nghĩ riêng của mình thì không đánh lừa đợc ai nữa” [Dẫn theo 16, 26] Ngôn ngữ trở thành nhân tố quan trọng làm rõ tính cách

sinh động của kẻ thống trị với triết lí sống vị kỉ cực đoan, đa nghi, nham hiểm và

tàn bạo Đó cũng là cách mà tác giả Tây du Ký sử dụng để khắc hoạ tính cách

Tôn Ngộ Không hay Tr Bát Giới, Đờng Tăng Chẳng hạn, khi bị Thái Bạch Kim

Tinh dẫn đến gặp Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng hỏi: Kẻ nào là yêu tiên? Tôn liền

đáp: Lão Tôn ta đây! Đấy chính là khẩu khí ngang nghạnh, xem thờng quyền uy

của Ngộ Không

Từ tiểu thuyết Minh Thanh đến Nhật ký ngời điên của Lỗ Tấn, cách thức lu

giữ ấn tợng trong độc giả đã có sự chuyển đổi Ngời điên triền miên với nhữngtrạng thái lo sợ, hoảng loạn Độc giả do đó cũng bị cuốn vào dòng suy nghĩ củaanh ta với rất nhiều chi tiết thể hiện nội tâm nhân vật Điều đặc biệt là mạch suynghĩ của ngời điên rất nhất quán và vô cùng logic, xuất phát từ hiện tợng để đi

đến sự khái quát bản chất chế độ “Việc gì cũng phải suy nghĩ mới vỡ nhẽ Bọn họ trớc có kẻ bị ông huyện cùm kẹp, có kẻ bị thân hào vả miệng, có kẻ bị nha lại cớp

vợ cớp con, có kẻ cha mẹ bị chủ nô bức quá phải tự sát nhng bấy giờ họ đâu có

đáng sợ và hung ác nh hôm qua” [21, 19] Liền giở lịch sử ra tra cứu thử Lịch sử

Trang 25

kh«ng ®Ò niªn ®¹i, cã ®iÒu trang nµo còng cã mÊy ch÷ nh©n nghÜa ®¹o ®øc“ ”

viÕt lung tung tÝ mÑt Tr»n träc kh«ng sao ngñ ®îc, ®µnh cÇm ®äc thËt kÜ, m·i

®Õn khuya míi thÊy tõ ®Çu chÝ cuèi, ë gi÷a c¸c hµng, ba ch÷ ¨n thÞt ngêi” [21, 20] Cµng suy nghÜ ngêi ®iªn cµng vì ra nhiÒu ®iÒu, ®Õn khi kh«ng thÓ nghÜ ®îc n÷ặ ) míi biÕt m×nh ®· sèng bao nhiªu n¨m ë mét n¬i mµ ngêi ta ¨n thÞt lÉn nhau tõ bèn ngh×n n¨m nay [21, 31].

Trªn hµnh tr×nh s¸ng t¹o ra nh÷ng chi tiÕt míi vÒ chÊt, l¸ch s©u vµo thÕgiíi t©m lÝ con ngêi, Lç TÊn vÉn kÕ thõa nh÷ng ®Æc trng ®éc ®¸o cña tiÓu thuyÕt

Minh Thanh Bëi vËy, sau ph¸t sóng lÖnh NhËt kÝ ngêi ®iªn, khi s¸ng t¸c Trêng minh ®¨ng, còng lµ mét t¸c phÈm mang néi dung chèng phong kiÕn triÖt ®Ó, Lç

TÊn ®· viÖn tíi nhiÒu c©u nãi døt kho¸t ®îc lÆp l¹i liªn tôc, nh»m t¸i dùng h×nh îng ngêi ®iªn ®ang quyÕt liÖt ®ßi thæi t¾t ngän ®Ìn tîng trng cho trËt tù ngµn ®êicña phong kiÕn Trung Quèc Theo chóng t«i thèng kª, cã 4 lÇn ngêi ®iªn nãi

t-“ph¶i thæi t¾t ngän ®Ìn ” [21, 309-310] vµ 3 lÇn kh¼ng ®Þnh “ph¶i cho mét måi löa” [21, 311-312] DÜ nhiªn xÐt riªng vÒ néi dung th× thêi k× nµy, t tëng Lç TÊn

®· tho¸t khái sù chi phèi cña thuyÕt tiÕn ho¸ tiÕn ®Õn quan ®iÓm giai cÊp nªn

ng-êi ®iªn trong Trêng minh ®¨ng thùc sù ®· trë thµnh ngng-êi chiÕn sü cña giai cÊp v« s¶n “TiÕng thÐt: Ph¶i ®èt s¹ch toµ miÕu thê ®Ìn cña nh©n vËt ngêi ®iªn gîi cho

ta nhí tíi lêi h« ®èt s¹ch Khæng gia ®iÕm cña häc sinh, sinh viªn B¾c Kinh“ ”

trong cuéc biÓu t×nh ngµy 4/5/1919 (Ngò Tø)” [2, 24].

NguyÔn C«ng Hoan cho r»ng: “Còng nh muèn c¸i lß xo bËt cao, ta ph¶i dïng søc m¹nh Ên c¸i cÇn xuèng, råi h·y bu«ng rạ Cho nªn khi muèn triÓn khai mét ý mét vÊn ®Ò th× t«i t×m nh÷ng chi tiÕt ®Ó Ên c¸i lß xo t×nh c¶m cña ®éc gi¶ xuèng m¹nh, råi ®Ó c¸i lß xo bËt cao” [DÉn theo 22, 87] Nh÷ng chi tiÕt ®ã

kh«ng cßn lµ vËt liÖu x©y dùng cèt truyÖn n÷a mµ ®· ®îc nhµ v¨n cÊp cho nh÷nggi¸ trÞ nghÖ thuËt vµ t tëng, quan niÖm Chóng trë thµnh chi tiÕt mang tÝnh nghÖthuËt Lç TÊn gÆp gì Chekhov trªn hµnh tr×nh nãi lªn tiÕng nãi tè c¸o ¸ch chuyªnchÕ phong kiÕn v« nh©n ®¹ọ C¶ hai t¸c gi¶ ®· cïng x©y dùng mét h×nh t îng hÕtsøc ®éc ®¸o - h×nh tîng ngêi ®iªn nh»m môc ®Ých b¾t bÖnh, vµ t×m ph¬ng thuèccøu ch÷a cho thùc tr¹ng x· héi ®¬ng thêị Trong khu«n khæ mét truyÖn ng¾n -thÓ lo¹i tù sù cì nhá, hai «ng ®· ph¸t huy tèi ®a søc nÆng cña c¸c chi tiÕt nghÖ

thuËt “Ên c¸i lß xo t×nh c¶m cña ®éc gi¶ xuèng m¹nh”, tõ ®ã chñ ®Ò hiÖn ra vµ

th¨ng hoa cïng thÕ giíi h×nh tîng ®éc ®¸o, kh¸c l¹

H×nh thøc nhá kh«ng cã nghÜa lµ néi dung kh«ng lín laọ VÊn ®Ò lµ ngêinghÖ sü ph¶i biÕt tiÕp nèi c¸i “ng¾n” cña h×nh thøc b»ng c¸i “dµi” cña néi dung,ph¶i biÕt t¹o nªn nh÷ng chi tiÕt cã dung lîng lín vµ hµnh v¨n mang Èn ý híng tíinh÷ng chiÒu s©u cha nãi hÕt

Trang 26

Chơng 2 Những điểm khác biệt

Vận dụng lý thuyết văn học so sánh để đối chiếu hai tác phẩm văn học, tấtnhiên phải đồng thời chỉ ra những điểm giống nhau và những điểm khác biệt Đó

là một trong nhiều nguyên tắc cơ bản của văn học so sánh Điều chúng tôi muốn

lu ý ở đây là tính chất tơng đối của sự so sánh Bởi không phải lúc nào sự giống

và sự khác cũng tách bạch nhau nh đen và trắng Nhiều khi chúng đan cài vàonhau Vấn đề quan trọng là chúng ta phải lẩy ra cái phơng diện nổi bật hơn, đậmnét hơn

Chơng 1 đã khai thác sự gặp gỡ của Lỗ Tấn và Chekhov trên hai mặt nộidung và hình thức Nếu chỉ dừng lại ở đó chúng ta sẽ vi phạm nguyên tắc so sánh,mặt khác, không khẳng định đợc vị trí của mỗi nhà văn trên hành trình sáng tạonghệ thuật Vì thế, khóa luận tiếp tục đi tìm những điểm dị biệt giữa hai tác phẩm

Phòng 6 và Nhật ký ngời điên trong một cái nhìn tổng thể cả về t tởng và

nghệ thuật

2.1 Về phơng diện nội dung t tởng

Phòng 6 và Nhật ký ngời điên lúc mới ra đời đều nhanh chóng đợc độc giả

đón nhận, có tiếng vang sâu rộng trở thành những phát súng lệnh cho cuộc chiến

chống lại ách chuyên chế phong kiến, vạch trần bản chất chế độ đó Phòng 6 công kích vào nhà nớc Nga hoàng còn Nhật ký ngời điên hớng sự đả phá vào chế

độ phong kiến Trung Quốc Khai thác mảng đề tài này, hai nhà văn đã đi theo haihớng khác hẳn nhau Và nội dung tố cáo, lên án chế độ của hai tác phẩm cũngkhác hẳn nhau

Trang 27

Với Phòng 6, Chekhov trải ngòi bút của mình trên một phạm vi rộng Lấy

xuất phát điểm là câu chuyện cụ thể của một bệnh viện hàng tỉnh, nhà văn lựachọn những chi tiết, những tình tiết tiêu biểu, từ đó nới rộng phạm vi phản ánh và

tố cáo ra toàn bộ nớc Nga tù đọng và ngột ngạt, nêu lên nhiều vấn đề cần phảisuy nghĩ về số phận con ngời, về vận mệnh của đất nớc Đấy là những vấn đề có

ý nghĩa xã hội, triết học lớn lao

Cái bệnh viện hàng tỉnh mà Phòng 6 đa chúng ta đến nhìn bên ngoài thoạt

đầu cứ tởng là bình thờng Nó có đủ bác sĩ, y tá, hộ lý, gác cổng, bệnh nhân, có

đủ bông băng dao kéo, có phòng khám bệnh, phòng điều trị Nhng thực chất đây

là cái cơ quan “vô luân và rất có hại cho sức khỏe của dân phố” [17, 335] Các

phòng bệnh, các hành lang, sân bệnh viện tất cả đều bốc mùi hôi hám Dán, rệp,chuột đều quá nhiều, phòng bệnh của ngời ốm kiêm luôn nhiệm vụ chỗ trọ cholao công, hộ lý và con cái họ ngủ đêm Cả bệnh viện chỉ có hai con dao mổ,không có cái nhiệt kế nào Gọi là phòng phẫu thuật nhng bao nhiêu năm tồn tạicha bao giờ chiến thắng chứng viêm quầng Bệnh nhân thì nhiều mà thì giờ thì ít,dẫn tới hệ quả là công việc khám chữa bệnh biến thành khâu thăm hỏi qua loa vàphân phát một thứ thuốc vô hại nh dầu long não hay dầu đu đủ Quản lý, thủ kho,

y tá chỉ lo ăn bớt của bệnh nhân Ông bác sỹ phụ trách bệnh viện trớc khi Raghin

về thì buôn cồn trái phép, biến bệnh viện thành nhà chứa riêng Sau khi Raghintới đây, tình trạng trên vẫn diễn ra nh cũ, chỉ khác là có thêm hai cái tủ đựng y

cụ Đây không chỉ là sự xuống cấp nghiêm trọng của cơ sở vật chất mà còn là sựxuống cấp, sự tha hóa về nhân cách, đạo đức con ngời Mới một bệnh viện tỉnh lẻ

đã vậy, thử hỏi khắp đất nớc Nga này tình trạng xã hội sẽ nh thế nào? Bằng cảmquan hiện thực nhạy bén và bằng trái tim của một thầy thuốc chân chính,Chekhov đã bắt mạch cuộc sống đang diễn ra trớc mắt bắt đầu từ sự thiếu thốn,tồi tàn của một bệnh viện Tuy nhiên đó mới chỉ là bình diện thứ nhất của sự phản

ánh hiện thực

Các nhà nghiên cứu đã thống nhất ý kiến cho rằng: truyện Chekhov luôn

tồn tại hai bình diện Bình diện thứ nhất lộ rõ trên bề mặt Bình diện thứ hai kín

đáo ẩn chứa phía trong tạo thành cái bề dày, cái chiều sâu cho sự phản ánh

Stanixlapxki gọi bình diện thứ hai này là dòng chảy ngầm ở phía sau văn bản Hai

bình diện này hòa kết, đan xen vào nhau Từ bình diện thứ nhất phát hiện ra bìnhdiện thứ hai, mở rộng dung lợng phản ánh cho tác phẩm Ngời đọc thú vị vớinhững điểm còn ẩn giấu sau những dấu lặng của câu chữ

Lần giở từng trang truyện, ta thấy hiện ra phía cuối cái bệnh viện tồi tàn,nghèo nàn đó là một căn phòng đặc biệt – phòng 6 Cách dãy hàng rào của bệnhviện không xa sừng sững một nhà tù có tờng đá bao bọc Chi tiết ấy là chi tiết bổ

Trang 28

sung Nó thiết lập một trờng liên tởng trong suy nghĩ của độc giả Phòng 6 phải

chăng cũng là nhà tù? Bởi bao quanh nó là hàng đinh nhọn tua tủa, là cửa sổ bằngsắt án ngữ trớc cửa phòng là lão gác cổng luôn luôn dùng nắm đấm đánh đậpngời chẳng khác gì một cai tù Còn năm bệnh nhân bị tống vào đó thì thực sự bịgiam cầm nh những ngời tù Họ tồn tại chứ không phải sống Sự tồn tại của họ có

lẽ đã biến mất trong bộ nhớ của xã hội nếu hàng tháng không có vài lần ông thợcạo Xemion Lazaryts đến cắt tóc cạo râu cho họ ý niệm về thời gian đối với họchẳng quan trọng nữa Sáng sáng, họ rửa ráy quanh một thùng to, uống một cốcnớc chè Tra, ăn canh bắp cải và cháo bột Tối thì ăn cháo thừa buổi tra Đơn điệu

và ngột ngạt Lênin hồi trẻ khi đọc xong tác phẩm này “bỗng cảm thấy thật ghê rợn, không thể ngồi lại trong phòng mình nữa mà phải đứng dậy bớc ra ngoài vì cảm giác nh đang bị nhốt trong phòng số sáu ” [Dẫn theo 9, 455] Dòng chảy ngầm bắt đầu lộ dần trớc mắt độc giả qua sự liên tởng khái quát: Phòng 6 - Nhà

tù - Nớc Nga Cả xã hội Nga cuối thế kỉ XIX là một nhà tù khổng lồ với chế độ

cảnh sát trị khắc nghiệt, dã man, dồn đuổi, bức bách con ng ời, làm cho conngời trở nên điên loạn

Từ đây, chúng ta nhận ra cái thực trạng xuống cấp nghiêm trọng về cơ sởvật chất và nhân cách đạo đức con ngời trong bệnh viện mặc dù cũng có giá trị tốcáo song cha phải là nội dung cơ bản Có thể xem đây là cái phông, cái nền cho ttởng chủ đề đợc khắc họa rõ nét Nhìn thẳng vào hiện thực đơng thời, Chekhovdũng cảm gọi tên bản chất nhà tù của nớc Nga thông qua hình ảnh tợng trng:hình ảnh phòng 6 Từ hình ảnh này, phạm vi phản ánh hiện thực đợc nới rộng dần

đạt đến sự khái quát sâu sắc cao độ

Trên hành trình khái quát bản chất nhà tù của nớc Nga phong kiến cuối thế

kỉ XIX, Chekhov đồng thời bộc lộ sự phản đối hay đúng hơn là phê phán gay gắt

thuyết tu thiện đang ngự trị trong một bộ phận trí thức Nga lúc bấy giờ Đại diện

tiêu biểu là bác sĩ Raghin Bàng quan và vô trách nhiệm, Raghin gần nh khôngquan tâm gì tới cái thực trạng ngột ngạt, tăm tối xung quanh ông ta, thây kệ sựtha hoá về đạo dức của y sỹ, y tá, thủ kho, quản lí; thây kệ sự tồi tàn của hệ thốngcơ sở vật chất trong bệnh viện; đặc biệt không hiểu gì về sự đày đoạ tinh thần vàthể xác mà năm con ngời trong phòng 6 hàng ngày, hàng giờ phải chống chọi,chịu đựng

Lúc Raghin đến cái bệnh viện tỉnh lẻ này làm giám đốc, ông cũng bất bìnhbởi sự vô luân và phản vệ sinh của nó Nhng ông làm ngơ Đơn giản vì ông thiếutinh thần phản kháng và ý chí chiến đấu Với ông, nói một câu to tiếng là điều vô

cùng hiếm Bao giờ cũng là “giá nh , giá nh ” “giá nh ” “giá nh , giá có tí trà …) không vì chiều lòng ng , giá có chút gì ăn nhỉ …) không vì chiều lòng ng” [17, 336] Thấy Moixêyka đầu không mũ, chân chỉ có đôi đế lót ngoài

Trang 29

bằng cao su mỏng, Raghin thơng hại bảo Nikita: Giá có đôi ủng, đôi giày gì cho “giá nh cái ông già Do Thái này, không thì ông ta cảm lạnh mất” [17, 353] Sự thơng hại

mà Raghin dành cho lão chỉ dừng ở đó Vì không nói ra thì độc giả cũng hiểuchẳng đời nào Nikita làm theo lời thỉnh cầu của Raghin Cứ thế, vô hình trung,Raghin đã thoả hiệp với cái ác, dung túng cho cái ác tồn tại, phát triển Ông dựnglên một hệ thống lí luận để biện hộ cho thái độ của mình Thứ lí luận đó đã bịGromov phản đối quyết liệt Cuộc tranh luận giữa Raghin và Gromov một mặtkhắc sâu hơn cái thế giới tù túng, ngột ngạt đang hiện hữu trong phòng 6, mặtkhác bộc lộ sự lên án, phê phán sự bàng quan, vô trách nhiệm của trí thức Nga tr-

ớc thời cuộc

Raghin thản nhiên cho rằng mọi việc trên đời này đều là sự tình cờ, mayrủi đã sinh ra nhà tù và nhà điên tất phải có ngời này hay ngời kia vào đó.Gromov không may nên phải vào phòng 6 Thế thôi Tởng không còn gì đơn giảnhơn Raghin đang viện lý lẽ bao che cho cái trật tự hiện tại - cái trật tự mà ở đó

hàng chục, hàng trăm ngời điên tự do đi lại trên đờng phố còn số ít ngời có đầu

óc suy xét tỉnh táo nh Gromov thì phải chịu cảnh tù ngục, bị giam cầm khôngkhác gì những sinh vật hạ đẳng

Raghin không thấu hiểu sự đau khổ của Gromov Ông ta khuyên anh đitìm sự bình tâm trong bản thân, trong thế giới tinh thần Khi đó, sự đau khổ trở

nên vô nghĩa và mặc dù sống sau ba dãy chấn song nh “giá nh ng vẫn sung sớng hơn bất kì bậc đế vơng nào trên trái đất” [17, 385] Ngay lập tức Gromov phản công lại.

Anh gọi cái triết lý lãnh đạm của Raghin là thứ triết lý thuận tiện nhất cho một

thằng lời ngời Nga Anh nói thẳng: Ông coi khinh sự đau khổ nh “giá nh ng chắc hẳn nếu cánh cửa chẹt phải ngón tay ông, ông sẽ gào tớng lên cho mà xem” [17, 369].

Raghin thực chất chẳng biết chút gì về đời Ông ta tự lừa phỉnh mình bằng những

lý thuyết suông, phi thực tế

Chỉ đến phút cuối, khi bị tên Khobotov lập mu đẩy vào phòng 6, Raghinmới biết thế nào là cảm giác đau đớn gớm ghiếc mà Gromov, Moixêyka từ nămnày qua năm khác phải đơn độc chịu đựng Cú đấm vào giữa mặt của Nikita đẩy

ông vĩnh viễn chìm vào cõi vô tri song đã thức tỉnh lơng tri ông về thế giới thựctại tăm tối, ngột ngạt, phi nhân tính Đó là nớc Nga cuối thế kỉ XIX Mặc dùChekhov cha chỉ ra đợc lối thoát cho Gromov, cho Raghin, cha có cách giật tungnhững ô cửa sắt, những hàng rào nhọn hoắt những đinh song ông đã vạch trần cáibản chất nhà tù của xã hội Nga dới ách chuyên chế Sa hoàng Đồng thời trongcảm quan hiện thực của ông đã lờ mờ xuất hiện một hi vọng về tơng lai Ôngcũng ý thức rõ phải đứng dậy đấu tranh mới đợc sống nh những con ngời thực sự.Cái chết của Raghin vì thế là khởi đầu cho những Nadia sau này

Trang 30

Trong khi Chekhov mở rộng dần phạm vi phản ánh để đi tới sự khái quát

về chế độ Nga hoàng tù đọng, bức bối thì Lỗ Tấn lại phát hiện bản chất ăn thịt ngời của chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt bốn nghìn năm lịch sử

Lễ giáo và đạo đức phong kiến vốn bắt nguồn từ học thuyết của Khổng Tử

và đồ đệ của ông Học thuyết này có một vị trí quan trọng trong lịch sử t tởngTrung Hoa nói riêng và lịch sử t tởng phơng Đông nói chung, đề cao tam cơng:vua - tôi, cha - con, vợ - chồng và ngũ thờng : nhân, lễ, nghĩa, trí, tín nhằm củng

cố địa vị cho giai cấp thống trị, giữ yên ngai vàng cho kẻ làm vua Vì thế, nó trởthành một thứ giáo lý nặng nề, một gánh nặng tinh thần cơng tỏa cuộc sống nhândân lao động, đẩy họ vào tình trạng u mê, ngu muội Đầu thế kỉ XX, hàng triệu

ngời Trung Quốc đang ngủ yên trong cái nhà hộp bằng sắt, không cửa sổ do giai

cấp thống trị dựng lên Chen chúc trong căn nhà ấy, ngời Trung Quốc cấu xé, ăn

thịt lẫn nhau một cách vô thức Ngời điên chính là chiến sĩ tiên phong chỉ cho

mọi ngời thấy rõ sự thực trạng đó, giúp họ nhận ra bộ mặt thật của ách chuyên

chế phong kiến Khi viết tựa cho tập Gào thét, Lỗ Tấn đã nhắc lại sự tê dại của

tâm hồn lúc lao vào tìm hiểu cái gọi là quốc dân tính hay trở về thời thợng cổ saochép văn bia Thực sự, không phải ông không thấy đợc sự ngủ mê của ngời dân

Trung Quốc nhng nếu “bây giờ anh gào thét lên làm cho mấy ngời còn mơ mơ màng màng giật mình tỉnh dậy thì số ít ngời bất hạnh đó phải trải qua cảnh vật vã của một cái chết không tài nào cứu vãn đợc ” [21, 13] Nh vậy theo ông là làm

hại họ chứ không phải giúp họ Nhng hy vọng về tơng lai của Kim Tâm Dị –một trong những ngời biên tập tờ Tân Thanh Niên, tạp chí tối quan trọng củaphong trào tân văn hoá thời Ngũ Tứ - đã thuyết phục ông tin là có thể phá hủy

ngôi nhà sắt ấy Ông bắt tay viết Nhật kí ngời điên Thiên truyện ngắn này không

đơn giản phơi bày thực trạng xã hội mà quan trọng hơn nó đào sâu vào lịch sửchế độ phong kiến để tố cáo, lên án cả mấy ngàn năm giai cấp thống trị đè nén,

dồn đuổi cuộc sống nhân dân Trung Hoa bằng ngọn roi mềm lễ giáo đạo đức phong kiến, “chém vào cổ không thấy đau, chặt vào đầu không thấy chảy máu ” [Dẫn theo 16, 205] Nhật ký ngời điên đợc ghi nhận là tác phẩm mở đầu nền văn

học mới Trung Hoa

Trớc Nhật ký ngời điên, trong lịch sử văn học Trung Quốc đã xuất hiện nhiều tiểu thuyết đả phá, lên án chế độ phong kiến nh : Thủy hử, Nho lâm ngoại

sử, Hồng lâu mộng Tuy nhiên, xét về mức độ triệt để, quyết liệt nhất thì chỉ

thiên truyện của Lỗ Tấn đạt đợc Tiếng nói ngời điên vang lên mạnh mẽ, khác ờng Anh ta đòi lật tung tận gốc rễ chế độ phong kiến, dẫm đạp lên sự ngự trị dàilâu của nó bằng hành động dẫm lên cuốn sổ ghi nợ của cụ Cố Cữu Điều này

th-khác xa với Thuỷ hử hay Hồng lâu mộng Vì sao vậy? Những tác phẩm này mới

Trang 31

dừng lại ở mức độ chống lại một mặt bất hợp lý nào đấy của chế độ phong kiến

và ớc muốn xây dựng một chế độ phong kiến hoàn hảo hơn, nghĩa là vẫn duy trì

ách bóc lột chuyên chế tàn bạo Sáng tác sau Nhật ký ngời điên bảy năm, Ngọn

đèn sáng mãi cũng là tác phẩm chứa đựng tinh thần chống phong kiến triệt để,

sâu sắc Nhân vật ngời điên trong đó kiên quyết đòi thổi tắt cây đèn đợc thắp lên

từ thời Lơng Vũ Đế, tợng trng cho uy lực thống trị lâu đời của giai cấp phongkiến Thậm chí anh ta còn đòi đốt quách ngôi đền để tiêu hủy luôn ngọn đèn

Để tiếng nói của ngời điên có sức nặng, Lỗ Tấn đã lách sâu vào thế giới

nội tâm của nhân vật, lợi dụng diễn biến tâm lý của bệnh nhân mắc chứng bức hại cuồng và đa ra những nhận xét đánh giá rất tỉnh táo, không điên chút nào.

độc Mọi ngời đổ dồn vào anh Vừa nh sợ lại vừa nh muốn hại anh ta Với một

suy luận của một ngời mắc bệnh bức hại cuồng, ngời điên đi truy lùng nguyên

nhân của tất cả những cái nhìn đáng ngờ và đáng sợ đó Nếu Gromov trong

Phòng 6 gọi trực tiếp xã hội Nga đơng thời là cái nhà tù khổng lồ xuất phát từ chính những điều anh ta thấy và trải nghiệm thì ngời điên trong Nhật ký ngời

điên lại đào sâu vào lịch sử, lấy những tích, những chuyện từ quá khứ, xâu chuỗi chúng lại và xem thực tại là hệ quả tất yếu của sự xâu chuỗi đó “Dịch Nha nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn Đó là chuyện ngày trớc Ai biết đợc từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, ngời vẫn ăn thịt ngời, cho đến con Dịch Nha và từ con Dịch Nha cho đến ông Từ Tích Lâm và từ ông Từ Tích Lâm cho đến cái anh gì bên thôn Lang Sói” [21, 28] Tổ s của mấy ông thầy thuốc cũng từng viết rõ ràng trong “giá nh cuốn Bản thảo gì gì ấy rằng: thịt ngời có thể rán ăn đợc" [212, 23] Gần hơn cả

là những chuyện về ông anh của ngời điên Miệng anh ta thờng phát ngôn đổi “giá nh con mà ăn (Dịch tử nhi thực) ” [21, 23], xẻo thịt mà ăn, lấy da làm nệm (Thực “giá nh ” nhục tẩm bì) [21, 24] Nghĩa là ông anh cũng không nằm ngoài đám nhân quần

đang giữ miếng, chờ cơ hội là xâu xé, ăn thịt lẫn nhau Ngời điên chợt kinhhoàng khi nghĩ đến cái chết năm xa của đứa em gái Ai biết chắc đó không phải

là do ông anh gây nên? Ai dám khẳng định ông ta không đem trà trộn với thức ăntrong nhà? Bấy giờ mới biết bao nhiêu năm nay, ngời điên sống ở một nơi cótruyền thống ăn thịt ngời trên bốn nghìn năm Bấy giờ mới biết giai cấp phongkiến không chỉ áp chế ngời dân Trung Hoa bằng gông cùm, bằng sự tra tấn thể

Trang 32

xác mà thâm độc hơn, chúng đầu độc họ bằng thứ lễ giáo đợc ngụy trang bởi vỏ

ngoài nhân, nghĩa, đạo đức rất tốt đẹp Kỳ thực, giữa những dòng nhân nghĩa viết lung tung đó là ba chữ ăn thịt ngời Kì thực, cuốn sử không đề niên đaị mà ngời

điên nhắc đến là cuốn sử viết về truyền thống ăn thịt ngời của phong kiến Trung

Quốc từ triều đại này đến triều đại khắc Chúng đã biến t tởng nhân nghĩa củaNho giáo thành một thứ công cụ đắc lực bảo vệ địa vị thống trị của chúng Trênthực tế, cái văn minh tinh thần mà ngời Trung Quốc tự phụ đề cao chẳng qua là

“bữa tiệc thịt ngời dài dằng dặc ” [20, 76] và bản thân họ chính là những con muông thú dùng “sắm sửa cho những bữa tiệc ấy ” [20, 76] Con ong eo lng chích

cái vòi vào huyệt thần kinh vận động của sâu xanh làm cho nó tê liệt đi, đó làhành động bản năng Giai cấp thống trị thì khác hẳn Chúng đầu độc nhân dân

một cách tự giác, có hệ thống “Hung ác nh s tử, khiếp nhợc nh thỏ, giảo quỵêt

nh hồ ly ” [21, 24] Chúng che giấu cái bản chất thực của mình nhằm ru ngủ đánh

lừa quần chúng Và đau đớn biết bao khi triêụ triệu ngời dân Trung Hoa cũng lại

tự giác chấp nhận sự ru ngủ đó hay chính xác hơn họ không hề biết, không hề ýthức đợc cái tình trạng u mê, tăm tối của họ Đầu thế kỷ XX, Lỗ Tấn phải dùngmột tiếng nói khác thờng để gây sự chú ý, để mong muốn sẽ lay tỉnh đợc ngờidân Trung Quốc, giật tung đợc cái lồng sắt đang giam giữ tinh thần họ Ngời điênngay thời điểm này đang là một chiến sĩ đơn độc nhng trong tơng lai không xa,anh ta sẽ là ngời lính đi tiên phong trong đoàn ngời cách mạng đập tan chế độ

phong kiến ăn thịt ngời có lịch sử trên bốn nghìn năm ở Trung Quốc.

Từ đây, chúng tôi muốn khẳng định lại một lần nữa sự khác nhau đứng

trên phơng diện t tởng giữa hai tác phẩm Phòng 6 của Chekhov và Nhật ký ngời

điên của Lỗ Tấn Hai thiên truyện này cùng hớng sự khái quát hiện thực vào bản

chất phong kiến nhng cụ thể cái bản chất đó nh thế nào thì hoàn toàn không

giống nhau Phòng 6 là hình ảnh thu nhỏ của nớc Nga nhà tù Trong khi đó Nhật

ký ngời điên lại là sự bóc trần bản chất ăn thịt ngời của giai cấp thống trị Trung

Hoa, là sự tuyên chiến với lễ giáo, đạo đức phong kiến tồn tại suốt mấy nghìnnăm Lỗ Tấn đã đào sâu vào lịch sử đó truy tìm tận gốc những nguyên nhân cănbản đẩy nhân dân Trung Hoa vào tình trạng mê muội, tăm tối, tàn nhẫn, ác độc

2.2 Về phơng diện nghệ thuật

2.2.1 Kết cấu

Cũng nh thuật ngữ “chi tiết”, kết cấu không thuộc độc quyền của văn học.

Phạm vi sử dụng của nó rất rộng rãi, trải ra trên nhiều lĩnh vực, trong nhiềungành nghệ thuật lẫn phi nghệ thuật (kiến trúc, hội họa ) Tuy nhiên, dẫu sử

dụng ở phạm vi nào thì nội hàm của khái niệm kết cấu vẫn là sự nối kết giữa các

Trang 33

yếu tố xa nhau, bố trí, sắp xếp chúng phù hợp, nhằm tạo dựng một công trình cógiá trị hợp lý tối đa.

Sáng tác văn chơng xét từ một phơng diện nào đó có thể cô gọn trong hai

chữ kết cấu Tìm hiểu tác phẩm văn chơng là quá trình thâm nhập vào “toàn bộ

tổ chức phức tạp và sinh động” [10, 56] của nó Có bao nhiêu tác phẩm có bấy

nhiêu kiểu kết cấu Mỗi tác phẩm có một cách tổ chức sắp xếp, nhào nặn cácmảnh vỡ hiện thực, tơng hợp với đặc trng thể loại và ý đồ của ngời nghệ sĩ

Quan điểm truyền thống lâu nay vẫn xếp kết cấu vào phơng diện hình thức,song hình thức chỉ có tính độc lập tơng đối Nó không chỉ là cái áo khoác ngoàicủa nội dung mà bản thân nó cũng là nội dung, ngng kết bên trong một quan

điểm, một cách nhìn, một lối nghĩ Về cơ bản, nó gắn với nội dung nh “hai mặt của một tờ giấy” [F.de.Saussure] Do vậy, kết cấu từ bề mặt là sự bố trí, sắp xếp

hài hòa, cân đối nhng đằng sau đó là sự tái tạo thế giới hình tợng, là t tởng tìnhcảm của ngời nghệ sĩ Đánh giá kết cấu một tác phẩm vì thế không thể tách rời giátrị biểu đạt nội dung và khả năng dựng lên thế giới hình tợng của nó

Khái niệm kết cấu mở rộng theo chiều ngang đợc xem xét ở bình diện quyluật tổ chức thể loại: kết cấu tự sự , kết cấu kịch, kết cấu trữ tình ứng với mỗi thểloại là những phơng thức tổ chức riêng Dĩ nhiên cái gọi là phơng thức nó biếnhóa linh hoạt chứ không nhất nhất gò vào một khuôn đúc sẵn, cũng nhắc Tínhchất phức tạp và sinh động của kết cấu lộ ra với vô vàn biểu hiện không giốngnhau tùy thuộc vào phối ứng của nó với t tởng và bức tranh đời sống đợc phản

ánh

Kết cấu truyện ngắn thuộc dạng kết cấu tự sự Đề cập đến kết cấu truyệnngắn là đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau: nhân vật, sự kiện, chi tiết, ngời trầnthuật Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi không chủ ý đào sâu khai thác tất cảnhững phơng diện kết cấu hai tác phẩm mà chỉ tập trung lẩy ra cái riêng của mỗinhà văn khi xử lí mối quan hệ giữa ngời kể chuyện với câu chuyện đợc kể

Không phải bất kì tác phẩm văn học nào cũng có ngời kể chuyện Có thểxem loại nhân vật này là đặc trng của loại tác phẩm tự sự, trong đó có truyệnngắn Nó giống nh sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm, gắn kết các câu chuyệnriêng lẻ với nhau thành một khối thống nhất Vị trí của ngời kể chuyện chịu sựchi phối từ động cơ, ý đồ nghệ thuật và thái độ của tác giả Từ đó, xuất hiện haikhả năng: hoặc đứng cùng một bình diện với các nhân vật khách quan của tácphẩm hoặc không đứng cùng các nhân vật đó Tuy nhiên, dẫu ở vị trí nào thì ngời

kể chuyện vẫn đóng vai trò dẫn ra câu chuyện của tác giả, xem xét, đánh giá, các

nhân vật và sự kiện đợc phản ánh Đó là “hình tợng ớc lệ về ngời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện đợc kể bởi một nhân vật cụ

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. M.Baktin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh C dịch, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Baktin
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trớc đèn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trớc đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2002
4. Trơng Chính (1977), Lỗ Tấn, Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn
Tác giả: Trơng Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá
Năm: 1977
5. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lí luận và ứng dụng , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học" –" Lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
6. Nguyễn Văn Dân (2000), Lí luận văn học so sánh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
7. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2001), Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
8. M.Gorky (1970), Bàn về văn học (Tập 2), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: M.Gorky
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1970
9. Nguyễn Hải Hà (Chủ biên) (2001), Lịch sử văn học Nga, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Nga
Tác giả: Nguyễn Hải Hà (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
11. Lý Hà Lâm (1960), Lỗ Tấn, Thân thế T – tởng Sáng tác – , Trần Văn Tấn – Hồng Dân Hoa dịch, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn, Th©n thÕ T"– " tởng Sáng tác
Tác giả: Lý Hà Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1960
12. Phơng Lựu (1998), Lỗ Tấn Nhà lí luận văn học – , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn Nhà lí luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
13. Phơng Lựu – Nguyễn Xuân Nam – Thành Thế Thái Bình (1988), Lí luận văn học (Tập 3), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu – Nguyễn Xuân Nam – Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1988
14. Phơng Lựu – Trần Đình Sử – Lê Ngọc Trà (1986), Lí luận văn học (Tập 1), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu – Trần Đình Sử – Lê Ngọc Trà
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1986
15. Vơng Phú Nhân (2004), Lỗ Tấn Lịch sử nghiên cứu và hiện trạng – , Nguyễn Thị Mai Hơng – Lơng Duy Thứ dịch, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn Lịch sử nghiên cứu và hiện trạng
Tác giả: Vơng Phú Nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
16. Nguyễn Khắc Phi – Lơng Duy Thứ (1988), Văn học Trung Quốc (Tập 2), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi – Lơng Duy Thứ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1988
17. A.P.Sekhov (1999), Tuyển tập tác phẩm (2 tập), Vơng Trí Nhàn giới thiệu và tuyển dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm
Tác giả: A.P.Sekhov
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1999
18. Trần Đình Sử (Chủ biên) (2004), Tự sự học, Nhà xuất bản Đại học S phạm Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học
Tác giả: Trần Đình Sử (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học S phạm Hà Néi
Năm: 2004
19. Trần Đình Sử - Phơng Lựu – Nguyễn Xuân Nam (1987), Lí luận văn học (Tập 2), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Trần Đình Sử - Phơng Lựu – Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1987
20. Lỗ Tấn (1998), Tạp văn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn
Tác giả: Lỗ Tấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê - Thế giới nghệ thuật trong phòng 6 (a p  chekhov) và nhật kí người điên (lỗ tấn) qua cái nhìn so sánh
Bảng th ống kê (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w