1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong thơ tố hữu trước và sau năm 1975 qua cái nhìn đối sánh

119 1,9K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng tác giả trong thơ tố hữu trước và sau năm 1975 qua cái nhìn đối sánh
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 698,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ chú ý tới những công trình có đề cập đếnhình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu.Trước cách mạng, ngay từ khi mới xuất hiện với các tác phẩm đăng rãirác trên

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

tr ờng đại học vinh

Vinh 2010

MỞ ĐẦU

1 Lớ do chọn đề tài

1.1 Tố Hữu - Nhà hoạt động chớnh trị, nhà thơ lớn, lỏ cờ đầu của thơ

ca cỏch mạng Việt Nam thế kỉ XX, là tỏc gia cú vị trớ đặc biệt quan trọngtrong tiến trỡnh văn học hiện đại Cho đến nay vị trớ đú chưa bao giờ thayđổi Vỡ thế, nghiờn cứu thơ Tố Hữu núi chung, hỡnh tượng tỏc giả trong thơ

Tố Hữu núi riờng ta sẽ hiểu hơn quỏ trỡnh vận động phỏt triển của nền thơ

ca cỏch mạng và tiến trỡnh văn học hiện đại Việt Nam Đú chớnh là lớ do thứnhất để chỳng tụi chọn đề tài này

Trang 2

1.2 Với một tác gia như Tố Hữu thì lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu vềông và những đóng góp to lớn của ông sẽ khá dày Thật vậy, thơ Tố Hữu đãđược đánh giá, phân tích về mọi mặt từ nội dung tư tưởng tới hình thức,phong cách; từ đề tài, chủ đề, hình tượng tới phương pháp sáng tác, thểloại, ngôn ngữ Song với mỗi hiện tượng văn học lớn thì nói bao nhiêucũng là chưa đủ, hơn nữa từ xưa người ta đã biết đến nguyên tắc “văn nhưcon người” (Văn như kì nhân) - Tức là phải xác định được hình tượng tácgiả hiện hình trong tác phẩm Vậy nhưng các công trình nghiên cứu về thơ

Tố Hữu chưa có một công trình nào bàn trực tiếp và toàn diện đến hình

tượng tác giả Tố Hữu trong thơ, kể cả công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử Thi pháp thơ Tố Hữu là một công trình mà Trần Đình Sử đã

nghiên cứu khá đầy đủ toàn diện về thơ Tố Hữu, trong đó tác giả đã đề cậpđến nhiều phương diện của hình tượng tác giả, tuy nhiên Trần Đình Sửcũng chỉ bước đầu đề cập đến hình tượng tác giả thời kì trước 1975 Đề tàicủa chúng tôi muốn góp một tiếng nói làm rõ quá trình vận động của củahình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu ở cả hai chặng sáng tác trước và saunăm 1975 trong cái nhìn đối sánh

1.3 Trong chương trình ngữ văn thuộc nhiều cấp hiện nay ở Việt Nam(Từ phổ thông đến đại học), Tố Hữu có một vị trí đặc biệt Ở THPT, ông làmột trong số ít tác giả được được dạy riêng thành bài (Hồ Chí Minh,Nguyễn Tuân, Nam Cao, Xuân Diệu, Tố Hữu), và có hàng loạt các tác

phẩm được lựa chọn đưa vào chương trình lớp 11, 12: Từ ấy, Tâm tư trong

tù, Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du Vì vậy nghiên cứu đề tài này không

chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn với bản thân học viênđang trực tiếp giảng dạy trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Song hành với con đường sáng tác gần 60 năm của Tố Hữu, lịch sửnghiên cứu thơ ông cũng hết sức đa dạng, phong phú Tuy nhiên, trong

Trang 3

phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ chú ý tới những công trình có đề cập đếnhình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu.

Trước cách mạng, ngay từ khi mới xuất hiện với các tác phẩm đăng rãirác trên các tờ báo cách mạng, thơ Tố Hữu đã nhận được sự đánh giá cao

của K và T qua bài viết Tố Hữu nhà thơ của tương lai (Báo mới số 1

-1/5/1939), tác giả bài viết khẳng định: “Tố Hữu là chàng thanh niên củatương lai, chàng thanh niên ấy ham sống và sống một cách dồi dào Chàngđeo đuổi một lí tưởng Thơ chàng là cả một nguồn sinh lực phục vụ cho lítưởng, với Tố Hữu chúng ta đã có một nhà thơ cách mạng có tài Nhà thi

sĩ ấy còn trẻ lắm Cuộc chiến đấu sẽ làm dày dạn tâm hồn anh, sẽ đem

kinh nghiệm lại cho anh” [29, 12] Chỉ một tháng sau đó, cũng trên Báo

mới Trần Minh Tước hân hoan bày tỏ tình cảm đặc biệt của ông với

“Những lời thơ hiên ngang” của thi sĩ Tố Hữu người đã “từ khốn cùngđứng lên mà ca hát với cả những tình cảm còn nóng của hàng ngũ mình”.Như vậy K và T cùng với Trần Minh Tước đã nhanh chóng nhận ra mộtkiểu nhà thơ mới ở Tố Hữu – Nhà thơ chiến sĩ

Sau cách mạng tháng tám thơ Tố Hữu được tập hợp in thành tuyển tập

Thơ và ngày càng nhận được đánh giá cao Trần Huy Liệu - chủ tịch hội

văn hoá cứu quốc đã nhìn nhận: Tố Hữu là nhà thơ chiến sĩ, là hiện tượngquan trọng và mới mẻ của nền văn học cách mạng, hồn thơ ông là niềm say

mê lí tưởng, tiếng thơ ông trẻ trung tràn đầy cảm hứng lãng mạn Đặc biệt

khi tập thơ Việt Bắc xuất hiện và tập Thơ được tái bản dưới nhan đề Từ ấy, Xuân Diệu đã rất nhạy cảm chỉ ra nét riêng của Tố Hữu: là tiếng thơ của thời

đại, không chỉ ở phương diện ghi lại hình ảnh, sự kiện của cuộc kháng chiến

mà chủ yếu là ở chỗ những tình cảm lớn, đời sống tinh thần của thời đại đã

vang ngân trong thơ Tố Hữu, là tiếng thơ của tình thương mến [29, 399], đã

làm nên hương vị thơ Tố Hữu và nét chủ đạo trong phong cách nghệ thuật

của ông Năm 1959 Xuân Diệu còn viết về mối quan hệ giữa Từ ấy và Thơ

Trang 4

mới gây một cuộc tranh luận sôi nổi trong suốt một năm, và cùng với thời

gian ý kiến của Xuân Diệu được khẳng định Sau đó Lê Đình Kỵ phát triểnthêm ý kiến của Xuân Diệu: “Mặc dầu có sự khác biệt căn bản về thế giớiquan, về lập trường tư tưởng, thơ Tố Hữu một mặt giữ bản sắc riêng củamình, mặt khác thì vẫn gắn với thơ Mới, nói rõ là thơ lãng mạn đương thời

ở cảm hứng trữ tình, tưởng tượng, cảm giác, hệ thống hình tượng, nhạcđiệu” Cũng nói về sự tương đồng giữa thơ Tố Hữu và thơ Mới, giáo sưĐặng Thai Mai với vốn kiến thức sâu rộng cùng khả năng tổng hợp tạo nên

sự bề thế và vẻ đẹp uyên bác của trí tuệ trong những bài viết của mình đãkhẳng định: “Là người của thời đại Tố Hữu không thể không đọc, khôngthưởng thức thơ mới trong phần thành công của nó Tố Hữu cũng đã viếtthơ mới Điều đó rất dễ hiểu Nhưng nội dung cách mạng sẽ làm thơ TốHữu có một phong cách riêng biệt… Trên cơ sở nhận thức biện chứng về

xu thế của xã hội Tố Hữu đã thực hiện được sự thống nhất giữa tình cảm và

lí trí, giữa nhận thức với hành động, hình thức với nội dung” [29, 15]

Không chỉ thế Đặng Thai Mai trong Mấy ý nghĩ về thơ in đầu tập thơ Từ ấy

còn nói về mối quan hệ giữa thơ Tố Hữu và cuộc sống “Thơ Tố Hữu là bóhoa lửa lộng lẫy, nồng nàn kết tinh trên cơ sở hiện thực cách mạng vĩ đạicủa dân tộc Việt Nam… Sống là hành động, thơ cũng là hành động, thơ với

Tố Hữu là hình thức tươi đẹp của của hoạt động cách mạng, của sự sống”[29, 366] Đặng Thai Mai đã nhìn thấy sự chi phối sâu sắc của lí tưởngcách mạng trong thơ Tố Hữu, đó là một yếu tố làm nên sự thành công trongsáng tác của ông

Trong bài Thơ Tố Hữu in đầu tập Thơ Tố Hữu 1937 - 1962, dưới góc

độ một nhà thơ Chế Lan Viên khẳng định chắc chắn “Tố Hữu là người mởđầu và hiện nay là người dẫn dầu nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa củachúng ta …Khi chúng ta đang tìm đường, nhận đường thì đã thấy một ví dụsống trên đường là tác phẩm Tố Hữu đấy rồi” [29, 190] Chế Lan Viên còn

Trang 5

phát hiện chất giọng rất đặc trưng, rất riêng của nhà thơ Tố Hữu “Trong cáctập thơ, giọng thơ Tố Hữu chủ yếu là giọng tâm tình, giọng đầy thươngmến, vì vậy người đọc luôn thấy Tố Hữu gần gũi, không hề cách xa”.

Có thể nói ở mỗi góc độ khác nhau, mỗi người đã theo một cách thứcriêng chỉ ra thế giới thơ mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng các giá trị nhânvăn, thẫm mĩ sâu sắc của thơ Tố Hữu - Một nhà thơ chiến sĩ, nhà thơ cáchmạng với tiếng thơ kêu gọi hành động, kêu gọi chiến đấu nhưng rất đỗi trữtình Nhưng lịch sử nghiên cứu Tố Hữu và thơ ông chưa dừng lại ở đó, từnhững năm 80 trở lại đây thơ Tố Hữu vẫn tiếp tục được nghiên cứu nhiều,đặc biệt là dưới góc độ thi pháp học Và giai đoạn này nghiên cứu về thơ

Tố Hữu đã xuất hiện nhiều công trình nổi tiếng

Thứ nhất là Chuyên luận Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979), chuyên

luận có độ dài hơn 500 trang, đề cập đến thơ Tố Hữu đầy đủ và hệ thống.Trong chuyên luận này tác giả Lê Đình Kỵ đánh giá nhà thơ Tố Hữu rấtcao và đã nhấn mạnh tính Đảng, tính dân tộc, đại chúng trong thơ ông Mặtkhác tác giả chuyên luận còn đề cập đến sự thể hiện của nhân vật Tôi trong

tập thơ Từ ấy ở hành động, tính chiến đấu, đó là một trong những tư liệu

giúp chúng tôi tìm hiểu hình tượng tác giả biểu hiện trong tập thơ

Công trình thứ hai mà chúng tôi muốn nhắc đến là Thơ Tố Hữu là

tiếng nói đồng ý, đồng tình - Nguyễn Văn Hạnh (1985) Tác giả đã khai

thác làm nổi bật một số đặc điểm thơ Tố Hữu “Thơ Tố Hữu là tiếng nóiđồng ý, đồng tình, đồng chí Đây là một trong những nguyên nhân khiếncho thơ Tố Hữu tìm được sự đồng cảm của nhiều người đọc Tiếng nói ấylại được diễn đạt bằng một nghệ thuật giàu tính dân tộc và đại chúng nêncàng dễ thấm sâu vào trái tim của đông đảo quần chúng nhân dân”

Một công trình khá đặc sắc và nổi bật lên ở giai đoạn này là Thi pháp

thơ Tố Hữu của tác giả Trần Đình Sử (1987) Tác giả Trần Đình Sử đã vận

dụng thành công thi pháp học vào nghiên cứu Tố Hữu Công trình là một

sự nỗ lực mới để khám phá và lí giải thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu trong

Trang 6

tính thống nhất và hệ thống, trong sự ứng chiếu quan niệm nghệ thuật củanhà thơ, trong khuynh hướng trữ tình chính trị Trần Đình Sử đã chỉ ranhững đặc điểm quan trọng của thơ Tố Hữu từ kiểu nhà thơ, quan niệmnghệ thuật về con người, thế giới đến ngôn ngữ thơ, giọng điệu thơ… Đây

là một công trình đánh giá khá đầy đủ và toàn diện về nhà thơ chiến sĩ TốHữu và tiếng thơ của ông, đồng thời nó cũng là một trong những công trìnhcung cấp khá nhiều tư liệu cho đề tài nghiên cứu về hình tượng tác giả TốHữu trong thơ của chúng tôi

Năm 1999, cuốn sách Tố Hữu - tác gia và tác phẩm do Phong Lan

tuyển chọn đã tổng hợp được các bài viết của nhiều tác giả khác nhau HàMinh Đức, Phong Lan, Mai Hương, Tố Hữu, Hoàng Xuân Nhị, Anh Đức,Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, TếHanh, Phan Cự Đệ, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hoàng TrungThông…, đề cập đến những vấn đề lớn như: Quan niệm của Tố Hữu về vănhọc nghệ thuật, câu chuyện về con đường thơ, Tố Hữu một tài năng thơ ca -nhà thơ mở đầu nền thơ ca cách mạng, nhà thơ của tình thương mến, nhàthơ của những lẽ sống lớn thời đại… Cũng trong cuốn sách này các bài viếtđánh giá về từng tập thơ, bài thơ cụ thể được giới thiệu khá đầy đủ và

phong phú: “Cái mới của Từ ấy, những bài thơ đầu tiên của Tố Hữu” (Như Phong); “Từ ấy tiếng hát của một người thanh niên, người cộng sản” (Hoài Thanh); “Đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu” (Hà Xuân Trường);“Ta

và mình trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu” (Nguyễn Đức Quyền); “Gió lộng, một bước tiến mới của Tố Hữu, một bài thơ mang khí thế mới của cách mạng Việt Nam” (Hoài Thanh), “Mấy ý nghĩ về tập thơ gió Lộng”

(Bảo Đình Giang); “Cuộc sống kêu gọi qua một tập thơ: Ra trận” (Nhị Ca)

… cuốn sách và các bài viết đã giúp người đọc có một cái nhìn vừa cụ thể,vừa đa dạng về giá trị tư tưởng, giá trị giáo dục và giá trị nghệ thuật trongcác tác phẩm của Tố Hữu

Trang 7

Không chỉ có vậy thơ Tố Hữu còn trở thành nguồn đề tài phong phúcho nhiều khoá luận, luận văn của sinh viên ngữ văn nhiều trường cao

đẳng, đại học trên cả nước như:“Sự vận động của cái tôi trữ tình trong

thơ Tố Hữu từ Từ ấy đến Việt Bắc” của Hoàng Huy Tùng (Đại học

Vinh); “Đóng góp của Tố Hữu về lí luận, phê bình văn nghệ thời kì kháng

chiến chống pháp 1945 - 1954” của Trần Thị Phương (Đại học Quốc gia

Hà Nội); “Khảo sát vốn từ ngữ chỉ không gian, thời gian trong thơ Tố

Hữu” - Trần Thị Bích Thuỷ (ĐH Vinh); “Tính hiện thực trong thơ Tố Hữu sau cách mạng” - Vũ Thanh Dũng (ĐH Vinh)…

Như vậy, hầu hết các vấn đề lớn trong sáng tác của nhà thơ Tố Hữunhư tư tưởng chủ đạo, tính Đảng, tính vô sản, tính dân tộc, thế giới quan,nhân sinh quan, lẽ sống, phong cách thơ, nghệ thuật thơ… đều đã được cácnhà nghiên cứu có tên tuổi, các nhà văn nhà thơ, bạn đọc, khai thác, đánhgiá Tất nhiên mỗi người có một cách nhìn nhận, khám phá và thể hiện đểchỉ ra thế giới thơ phong phú, mới mẻ của nhà thơ nhưng nhìn chung khinói về Tố Hữu và thơ ông, các ý kiến dường như đều đi đến một sự thốngnhất - Tố Hữu xứng đáng tiêu biểu cho dòng thơ ca hiện thực xã hội chủnghĩa của dân tộc Việt Nam, tổ quốc Việt Nam Thơ ông là tiếng thơ củathời đại, có sức bao quát những vấn đề lớn của cách mạng, dân tộc, thời đạitrong giọng tâm tình ngọt ngào, mến thương

Tóm lại, nói như Trần Đình Sử trong Thi pháp thơ Tố Hữu thì “…giới

nghiên cứu đã tích luỹ được một vốn tri thức hết sức phong phú về tư tưởng

và nghệ thuật thơ Tố Hữu Không còn tập thơ, bài thơ nào có giá trị củaông mà không được bàn đến, không có hình tượng thơ hay câu thơ nào củaông mà không được phát hiện” [51, 31] Nhưng nhìn lại một cách tổng quátlịch sử nghiên cứu thơ Tố Hữu ta có thể kết luận các bài nghiên cứu tậptrung nhiều hơn vào thơ Tố Hữu trước 1975, ít có công trình đối sánh giữathơ thơ hai giai đoạn trước và sau 1975 và cũng chưa có công trình nào đề

Trang 8

cập trực tiếp, toàn diện đến hình tượng tác giả Tố Hữu trong thơ qua cáinhìn đối sánh Vì vậy đề tài của chúng tôi sẽ trên cơ sở tiếp thu nhữngthành tựu của những người đi trước và tiếp tục đặt ra những vấn đề mới đểnghiên cứu, tìm hiểu về hình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu trước và saunăm 1975 một cách hệ thống và toàn diện.

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu trước và sau năm 1975 Từ đóchỉ ra những nét tiêu biểu, những nét kế thừa, sự chuyển biến của hìnhtượng tác giả trong thơ Tố Hữu qua hai giai đoạn sáng tác

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn trước hết sẽ xác lập cơ sở lí luận để tìm hiểu hình tượng tácgiả trong thơ Tố Hữu

Thứ hai là xác định những đặc trưng của hình tượng tác giả thể hiệntrên phương diện tư tưởng, cái nhìn nghệ thuật, sự tự thể hiện và giọng điệucủa tác giả trong thơ qua hai giai đoạn sáng tác của Tố Hữu Từ đó chỉ ra

sự thống nhất và biến đổi của hình tượng tác giả qua cái nhìn đối sánh ở haichặng sáng tác

Lý giải sự biến đổi của hình tượng tác giả biểu hiện qua thơ Tố Hữugiai đoạn sau 1975

4 Phạm vi tư liệu khảo sát

Luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát cuốn “Tố Hữu - Thơ”, NXB

văn học (2009), gồm có 7 tập thơ: Từ ấy (1937 1946), Việt Bắc (1946 1954), Gió lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Một Tiếng đờn (1979

1992), Ta với ta (1993 2001).

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi kết hợp sử dụng cácphương pháp sau:

Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Trang 9

Phương phỏp phõn loại - thống kờ

Phương phỏp phõn tớch - tổng hợp

Phương phỏp so sỏnh - đối chiếu

6 Đúng gúp mới của luận văn

Luận văn là cụng trỡnh nghiờn cứu, khảo sỏt hỡnh tượng tỏc giả trongthơ Tố Hữu một cỏch hệ thống, toàn diện Với cỏi nhỡn đối sỏnh, luận vănkhụng chỉ nờu ra những đặc trưng của hỡnh tượng tỏc giả trong thơ Tố Hữu

mà cũn chỉ ra sự vận động, tớnh kế thừa và biến đổi của hỡnh tượng tỏc giảtrong thơ ụng trước và sau năm 1975

7 Cấu trỳc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn

được triển khai trong 3 chương

Chương1 Khỏi niệm hỡnh tượng tỏc giả và nhỡn chung về hỡnh tượng tỏc giả trong thơ Tố Hữu

Chương 2 Hỡnh tượng tỏc giả trong thơ Tố Hữu thời kỡ trước năm 1975 Chương 3 Hỡnh tượng tỏc giả trong thơ Tố Hữu thời kỡ sau năm 1975

Chơng 1 Khái niệm hình tợng tác giả và Nhìn chung

1.1 Khái niệm hình tợng tác giả

Trong tác phẩm văn chơng không chỉ tồn tại hình tợng văn học mà còn

có hình tợng đặc biệt, khó nhận biết, đó là hình tợng tác giả Cho đến nay

việc tìm hiểu, nghiên cứu về tác giả nói chung và hình tợng tác giả nói

riêng là những vấn đề đang đợc các nhà nghiên cứu định hớng và quan tâmnhiều

Có thể nói, tác giả là một trong những khái niệm cơ bản, đợc sử dụng

nhiều nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học Theo Bakhtin, tác giả

là ngời làm ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức ra nội dung và hình thức cái

Trang 10

nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là ngời mang một cảm quan thế giới đặcthù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật Lý luậnvăn học hiện đại đã chỉ ra khả năng vô cùng to lớn của quá trình đồng sángtạo của độc giả Quá trình tiếp nhận cho phép độc giả có thể mở ra nhiều

cách hiểu khác nhau về tác phẩm Chính vì vậy tác giả nói chung và hình

t-ợng tác giả nói riêng thật sự là những vấn đề quan trọng, thiết yếu.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hình tợng tác giả là phạm trù thể

hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mìnhtrong tác phẩm Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái tôi trongnhân cách của mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hìnhtợng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật.Văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kểchuyện hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời vớiviệc xây dựng ra ngời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định”

[20, 149] ở đây định nghĩa đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái tôi trong nhân

cách cũng nh cái tôi trong nghệ thuật Cái tôi trong nhân cách của tác giảgóp phần lớn vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giá vai trò của cánhân trong cuộc sống Cái tôi do đó là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức củanhân cách, có thể coi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thành nhữngtình cảm xã hội của con ngời xỏc định mặt cá tính của nhân cách Cái Tôivới sự tự ý thức về chủ thể, về các vấn đề đời sống cá nhân với t cách là mộtcá tính là điều không thể thiếu đợc trong tác phẩm trữ tình Nói cách khác

sẽ không có một tác phẩm trữ tình nếu thiếu đi sự sự ý thức về chủ thể củacái tôi cá nhân Từ cái Tôi nhân cách hình thành nên cái Tôi nghệ thuật

Nh vậy, sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩm chính là hạt nhân của hìnhtợng tác giả

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng thừa nhận sự tồn

tại của khái niệm hình tợng tác giả Hình tợng tác giả gắn liền với sự pháttriển của nhân tố sáng tạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cáchtác giả nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm Lại Nguyên Ân cònxem xét hình tợng tác giả với t cách là chủ thể tổ chức ngôn ngữ, ngời trầnthuật hiện diện trong tác phẩm Để kết nối lời tự sự, lời trần thuật với hình t-ợng tác giả, trong ý thức nghệ thuật phải xác lập đợc t tởng về quyền h cấunghệ thuật là cái sẽ hợp thức hoá hình ảnh tác giả Từ cách đặt vấn đề nhthế, Lại Nguyên Ân đa ra những nhận định về đặc trng của hình tợng tácgiả qua từng thời kì văn học: “Giai đoạn đầu của văn học cận đại, hình tợng

Trang 11

tác giả nhuốm giọng phi cá nhân, chủ nghĩa lãng mạn giải phóng giọng

điệu cá nhân của tiếng nói tác giả, sau đó ngôn từ trần thuật của nhà vănhiện thực lớn thế kỉ XIX đã đa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giớinội tâm nghệ sĩ, đã đa vào văn học hình tợng tác giả thật sự”

Viện sĩ Nga Vinôrađốp hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thểcủa ngôn từ Song dẫu có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không

bỏ qua đợc “chiều sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sĩ” Cách hiểu của ông vềthuật ngữ phần lớn dựa vào giọng điệu cá nhân”, ngôn từ tác giả còn thiếurành mạch khi nắm bắt khái niệm Chính vì vậy ngời đọc rất khó phân định

ra hình tợng tác giả có phải là sự tự ý thức của tác giả thể hiện trong tácphẩm hay tác giả với t cách là ngời tổ chức ngôn từ nghệ thuật

So với các quan niệm về khái niệm hình tợng tác giả nói trên thì tác giảTrần Đình Sử là ngời đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ nét kháiniệm này Theo Trần Đỡnh Sử “Hỡnh tượng tỏc giả cũng giống như hỡnhtượng nhõn vật đều là những sỏng tỏc nghệ thuật trong tỏc phẩm văn học,song chỳng khỏc nhau ở nguyờn tắc sỏng tạo Nếu hỡnh tượng nhõn vậtđược sỏng tạo theo nguyờn tắc hư cấu, được miờu tả theo những quan niệmnghệ thuật về con người và theo tớnh cỏch nhõn vật, thỡ hỡnh tượng tỏc giảđược biểu hiện theo nguyờn tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thỏi độ thẩm

mĩ đối với thế giới nhõn vật Nhu cầu tự biểu hiện mỡnh là nhu cầu rất tựnhiờn của con người tiến bộ Trong giao tiếp, người ta cú nhu cầu tự biểuhiện mỡnh đối với người đối thoại như là uyờn bỏc, hào phúng, hiếu khỏch…theo những yờu cầu tiến bộ của xó hội Cũng như vậy, trong văn học cỏc nhàvăn thường tự biểu hiện mỡnh như người phỏt hiện, người khỏm phỏ cỏi mới,người cú nhón quan cấp tiến, cú cỏ tớnh nghệ sĩ… điều đú đó trở thành nhu cầuquy ước đối với người đọc” [52, 107] Leptụnxtụi đó từng núi: Nếu trước mặt

ta là một tỏc giả mới thỡ cõu hỏi tự nhiờn đặt ra là liệu anh ta cú thể núi điều

gỡ mới đối với người đọc Nếu nhà văn khụng cú gỡ mới, khụng cú gỡ riờngthỡ cú thể núi anh ta khụng phải là một tỏc giả đỏng để chỳ ý

Từ nguyờn tắc sỏng tạo đặc trưng đó nờu, ta nhận thấy hỡnh tượngtỏc giả là cỏi được biểu hiện ra trong tỏc phẩm một cỏch đặc biệt Nhà thơ

Trang 12

Đức I WGớt nhận xét: Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tảchính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt Có nghĩa là nhàvăn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ, ngôn ngữ vàcách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm

và sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học [52, 107] Viện sĩNga V.Vinôgradôp trong rất nhiều công trình khẳng định hình tượng tácgiả là cở sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ A.Chichêrin cũng chorằng hình tượng tác giả được sáng tạo ra như hình tượng nhân vật Đây là

sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lí của sự kiện, mà là chân lí của

ý nghĩa của tư duy như chân lí của thi ca

Nhìn chung sự biểu hiện của hình tượng tác giả trong sáng tác là mộtvấn đề đang được nghiên cứu Có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ởphương diện ngôn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu hiện trên tất

cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái

gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn Tronggiọng điệu thì không chỉ giọng điệu người trần thuật mà cả giọng điệu củanhân vật Có người tập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm: cái nhìn nghệthuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc cốt truyện,nhân vật và giọng điệu

Tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể thấy hình tượng tácgiả là một phạm trù quan trọng trong nghiên cứu văn học, nó không chỉ là

sự phản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện sự tương quan giữa con ngườisáng tạo ra văn học và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật,

sự thể hiện của chủ thể Nói cách khác, hình tượng tác giả trong sáng tácbiểu hiện trên ba phương diện cơ bản: Tư tưởng, cái nhìn nghệ thuật củatác giả, sự tự thể hiện của tác giả trong sáng tác và giọng điệu tác giả

Trang 13

1.2 Nhìn chung về hình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu

1.2.1 Vài nét về cuộc đời thơ

Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 tạilàng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế,trong một gia đình nhà Nho nghèo Nhưng chính gia đình nhà Nho nghèo

đó cùng với quê hương xứ Huế đã góp phần nuôi dưỡng, trau dồi hồn thơông, hình thành nên tài năng thơ Tố Hữu

Cha Tố Hữu là một nhà Nho không gặp thời, lận đận nhiều năm trongthi cử, cuối cùng thì làm một chân kí lục, nhưng ông có một vốn vănchương vô cùng phong phú Ông hiểu biết thơ cổ điển, hay làm thơ và say

mê sưu tầm văn học dân gian gian “Cái thú sưu tầm ca dao tục ngữ nhưmột thứ men say đã ngấm vào máu cha tôi” Từ năm lên 6 tuổi Tố Hữu đãtrở thành thư kí của cha, ghi chép tất cả những bài ca dao, hò vè, thơĐường mà cha sưu tầm và sáng tác “Hồi ấy tôi cho đó là một việc đáng sợ,

ai đời mới 4 giờ sáng mà ông cụ đã lôi tôi dậy, bắt chép hàng chục câu cadao vào pho sách, và cứ dày lên mãi Ấy thế mà rồi quen đi, tôi dần nhớ đếnthuộc lòng những câu hát cũ, cho tới khi lớn lên những tiếng, chữ, âm điệu ấy

cứ ngân nga mãi trong lòng” [22, 60], để sau này chúng đã đi vào cuộc đờithơ Tố Hữu trong tiếng thơ ngọt ngào đậm chất văn hóa dân gian Bên cạnhviệc giao cho Tố Hữu làm một thư kí cha Tố Hữu và những khách thơ củaNgười còn tích cực dạy Tố Hữu luyện cách tìm chữ, ghép câu có vần điệu

để làm thơ Năm 10 tuổi, Tố Hữu đã có những câu thơ tứ tuyệt đầu tiênvịnh bức tranh khách đến tặng cha - Bức tranh có hình đôi chim đậu trêncành mai:

Đôi chim chèo bẻo đậu nhành mai Đầu đỏ lông đen đẹp cả người Đối mỏ giao đầu hình nói chuyện.

Chim này đố bắt hỡi kìa ai

Trang 14

Không dừng lại ở đó năng khiếu thơ Tố Hữu còn được nuôi dưỡng từngười mẹ Mẹ ông vốn là con một nhà Nho, hiền lành, giàu tình yêu thương

con người, và rất am hiểu về ca dao, dân ca xứ Huế, Truyện Kiều Và Tố

Hữu là “con út, con cưng, nên thường được mẹ tôi ấp ủ và ru bằng tiếng hátngọt êm” [43, 49], điều đó đã góp phần hình thành nơi Tố Hữu một tâmhồn thơ giàu xúc cảm, mượt mà

Tố Hữu đã từng tâm sự thân mật rằng: ông rất “thích nhạc quê hương”,

“yêu tiếng hát ngọt êm của người đàn bà xứ Huế” nên trong thơ ông có

“giọng hò, tiếng ca xứ Huế” Thật vậy, Tố Hữu đã lớn lên trên vùng đấtnghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên núi sông hữu tình và rất nên thơ, xứHuế còn nổi tiếng là một vùng văn hoá phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắcdân tộc bao gồm cả văn hoá cung đình và văn hoá dân gian mà nổi tiếngnhất là những điệu ca, hò như Nam ai, Nam bình, Mái đẩy Nơi đây đã từngsản sinh ra nhiều nhà văn, nhà thơ lớn với những tác phẩm hay trong lịch

sử văn học nước nhà như Nam Trân, Tôn Nữ Thu Hồng… Và cũng chínhmảnh đất văn hoá, văn vật này đã góp phần quan trọng vào sự hình thànhhồn thơ Tố Hữu, để nhà thơ phát triển tiếng thơ ngọt ngào yêu thương

“chan hoà ánh sáng” (Từ dùng của Chế Lan Viên) và giầu nhạc điệu củamình

Như vậy, gia đình và quê hương là những yếu tố thật sự quan trọng đãquyết định đến sự hình thành tài năng thơ Tố Hữu, song nói đến sự trưởngthành và lớn lên của thơ ông ta không thể không nói đến sự chi phối của lítưởng cộng sản

Tố Hữu lớn lên trong hoàn cảnh đất nước nô lệ, cả dân tộc đang chìmđắm trong kìm kẹp, đói nghèo Lúc bấy giờ nhiều trí thức đang vật vã trong

sự bế tắc đến ngạt thở để tìm ra con đường đi cho mình, cũng như cho cảdân tộc Trên con đường tìm kiếm đó, nhiều tác giả: Xuân Diệu, Huy Cận,Chế Lan Viên… trước khi giác ngộ cách mạng đã tìm đến với thơ như mộtphương pháp tinh thần giúp mình thoát khỏi hiện thực cuộc sống Nhưng Tố

Trang 15

Hữu khác, ông đã sớm giác ngộ cách mạng, sớm nhận ra thơ là vũ khí đấutranh cách mạng, có tác dụng đóng góp vào việc cải tạo xã hội, nâng người talên, cuốn người ta theo, dẫn người ta về phía trước, chứ không phải mang mộtmục đích tự thân - Nhà thơ đã luôn tự nhủ với mình như vậy:

Thi sĩ hỡi, đi tìm chi vớ vẩn Trông hồn già đã chết những yêu mơ

…Hãy cắt đứt những giây đàn ca hát Những sắc tàn nhạt vị của ngày qua Nâng đón lấy màu xanh hương bát ngát Của ngày mai muôn thuở với muôn hoa

(Tháp đổ)

Vì lẽ đó Tố Hữu đã đến với cách mạng và thơ gần như cùng lúc, năm

1936 Tố Hữu tham gia đoàn thanh niên và năm 1937 những bài thơ đầu của

ông trong tập thơ “Từ ấy” xuất hiện Và ngay ở những bài thơ đầu tiên Tố Hữu đã tiếp nhận được ánh sáng của Đảng “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”, được “Mặt trời chân lí chói qua tim”, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, lí

tưởng cộng sản, cũng từ đó chúng chi phối toàn thể tâm hồn, hành độngcuộc đời và thơ ca của nhà thơ Các tập thơ của Tố Hữu gắn bó chặt chẽvới cuộc đời hoạt động cách mạng của bản thân ông và với cuộc đấu tranhcủa cả dân tộc Nói về đề tài và chủ đề trong thơ ông, Chế Lan Viên nhậnxét: “Với Tố Hữu dù nói chuyện lớn hay chuyện nhỏ, chuyện mình haychuyện người thì chẳng qua cũng để làm rõ lí tưởng cộng sản” Bản thân

Tố Hữu đã hơn một lần nói “Phải, một giọng thơ không điêu luyện, khôngđược như Thế Lữ, Xuân Diệu Nhưng tôi khác họ, tôi phải nói to lên nỗiđau khổ của nhân dân tôi, tội ác của chủ nghĩa phát xít và tư tưởng mà tôitin” [22, 76] Nói một cách khác thì Tố Hữu là nhà cách mạng chuyênnghiệp làm thơ và với ông đời thơ, đời cách mạng thống nhất là một, đó làmột con đường thẳng tuyệt đẹp không có chữ “nhưng” cắt làm hai đoạn kể

từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc

Trang 16

Với 82 tuổi đời, 64 tuổi Đảng và 65 năm làm thơ Tố Hữu đã giànhđược những giải thưởng quan trọng và xứng đáng: Giải thưởng văn học của

Hội văn nghệ Việt Nam cho tập thơ Việt Bắc, Giải thưởng văn học Đông Nam Á của Thái Lan (1996) cho tập thơ Một tiếng đờn, giải thưởng Hồ Chí

Minh về văn học nghệ thuật (Đợt 1, 1996) Tất cả những thành công đó củaông là kết quả của sự hun đúc, vun xới từ quê hương, gia đình và lí tưởngcộng sản

1.2.2 Tố Hữu - nhà thơ trữ tình chính trị hàng đầu của nền thơ ca cách mạng

Trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại, nhà thơ

Tố Hữu đã khẳng định cho mình một vị trí quan trọng Ông vừa là nhà thơđầu tiên của giai cấp vô sản - Người văn nghệ binh thứ nhất theo cách nóicủa Nguyễn Đình Thi - vừa là con chim đầu đàn, là lá cờ đầu của nền thơ

ca cách mạng Việt Nam hiện đại Vị trí đó được nhà thơ giữ vững trongsuốt chặng đường đời và chặng đường thơ dài hơn 60 năm của mình

Ngay từ buổi đầu ra mắt thơ ca với tập thơ Từ ấy Tố Hữu đã khẳng

định được chỗ đứng của mình Tập thơ gây nên một chấn động lớn, đemmột luồng ánh sáng tươi mới soi đường và dẫn đường cho nền văn học lúcbấy giờ, nó đã đem lại lòng tin vào đường lối văn học cách mạng cho cả

nhà văn và bạn đọc Với Từ ấy nhà thơ đã giải quyết tấm bi kịch của cái tôi

cá nhân cô đơn trong thơ ca lãng mạn Các nhà lãng mạn thời ấy một mặtthoát ly phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, một mặt cũngkhông chạy theo cái xã hội quyền lực, cái xã hội “kim tiền ô trọc” Họ tựhào, kiêu hãnh với cái tôi cô đơn, đau khổ một cách trong sạch của mình và

cái bi kịch của họ cũng bắt đầu từ đây Từ ấy đưa thi nhân trở về với quần

chúng, đưa “cái tôi” hoà với “cái ta”, cái riêng hoà với cái chung:

Tôi là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ…

(Từ ấy)

Trang 17

Không chỉ thế thi sĩ còn chỉ cho những người đau khổ con đường đấutranh và đưa tới họ niềm tin vào tiền đồ của dân tộc, của nhân loại.

Khóc là nhục Rên, hèn Van, yếu đuối

Và dại khờ là những lũ người câm Trên đường đi như những bóng âm thầm Nhận đau khổ mà gửi vào im lặng.

….

Quyết chiến đấu nào ta liên hiệp lại Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng ! Ngày mai đây tất cả sẽ là chung Tất cả sẽ là vui và ánh sáng!

(Liên hiệp lại)Như vậy, với tiếng thơ tiếp nhận ánh sáng của Đảng, ngay từ khi xuấthiện Tố Hữu đã khẳng định được chỗ đứng của mình, đã trở thành ngọnđuốc dẫn dường cho thi đàn thơ ca cách mạng và vị trí ấy ngày càng đượcđẩy lên một tầm cao mới Ở Tố Hữu lần đầu tiên trong lịch sử nước nhàchúng ta có một kiểu nhà thơ hoàn toàn mới, nhà thơ của giai cấp vô sản,nhà thơ - chiến sĩ Đó là kiểu nhà thơ biết đem đời mình và thơ mình rachiến đấu cho ngọn cờ lí tưởng cao cả, vì độc lập, tự do cho tổ quốc Vì thếtiếng thơ Tố Hữu là tiếng thơ mới - thơ kêu gọi đấu tranh, thơ chiến đấu,hành động, là “Thơ mang cánh lửa, đốt cháy trái tim con người vào ngọnlửa thần của đại nghĩa” (Xuân Diệu):

Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống

Có gì đâu ta cầu khẩn van lơn ?

Có gì đâu ta ôm mãi căm hờn ? Hãy đứng dậy, ta có quyền vui sống!

Hãy đứng dậy! Ta có quyền vui sống!

Cú tan xương, cứ chảy tuỷ, cứ rơi đầu ! Mỗi thây rơi sẽ là một nhịp cầu

Trang 18

Cho ta bước đến cõi đời cao rộng.

(Hãy đứng dậy)Hay:

Đồng bào ơi, anh chị em ơi ! Sống chúng tôi mong được sống làm người

Dù phải chết mà còn trời còn đất

Mà tổ quốc ta hoà bình, thống nhất Chúng tôi không sợ máu chảy đầu rơi Thà chết không chịu khuất phục một lời!

(Thù muôn đời muôn kiếp không tan)

Để tạo nên tiếng thơ mang “cánh lửa” đó Tố Hữu đã chọn cho mình

một lối thể hiện tài năng, không thể lẫn với ai Trong thơ Tố Hữu, lí trí vàtình cảm đều mãnh liệt nhưng hài hoà, lí trí không lấn át tình cảm và tình

cảm không che mờ lí trí Vì thế thơ ông vừa có “Những vần thơ lửa cháy”, lại có “Những vần thơ tươi xanh” mà bạn đọc vô cùng yêu mến Và ngay

trong cùng một bài thơ, ta có thể vừa thổn thức, bâng khuâng trước nhữngcâu thơ da diết:

Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

(Việt Bắc)Lại vừa có thể trào lên cảm xúc mãnh liệt trước những vần thơ hàosảng, kêu gọi và thúc giục hành động song cũng rất đỗi trữ tình:

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

Trang 19

Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

(Việt Bắc) Nói chung thời đại cách mạng đòi hỏi thơ ca là vũ khí tư tưởng sắcbén, là tiếng nói tình cảm trực tiếp hướng tới đông đảo quần chúng Thơphải là tiếng hát của tinh thần thời đại, là bài ca đoàn kết, giục giã đấutranh Và Tố Hữu không chỉ đã đáp ứng được đòi hỏi đó mà “Với Tố Hữuthơ trữ tình chính trị, thơ thời cuộc trữ tình đã đạt được đỉnh cao trong vănhọc trữ tình tiếng Việt” (Đặng Thai Mai) Tức là nhà thơ đã đưa thơ cacách mạng lên đỉnh cao của thơ ca dân tộc, góp phần đổi mới cho nó Đã cóbiết bao nhiêu người cảm động vì thơ ông, và từ thơ ông mà đến với cáchmạng, tiếng thơ ông chính là chỗ dựa tâm hồn cho các thế hệ công chúngbạn đọc, cho cả dân tộc

Tố Hữu đã xác định thơ là biện pháp cách mạng, ông thể hiện mốiquan hệ thống nhất đó trong:

Rằng thơ với Đảng nặng duyên nợ Thuyền bơi có lái qua mưa gió Không lái thuyền trôi lạc bến bờ,

(Chuyện thơ)Ông còn khẳng định “Tôi sẵn sàng tuyên chiến với mọi khuynh hướng

mà tôi cho là lạc đường không cách mạng” Có lẽ vì vậy mà trong nền vănhọc Việt Nam hiếm có tác giả nào mà con đường thơ, sự vận động của hồnthơ giống như Tố Hữu, đó là sự thống nhất như một giữa thơ - lịch sử cáchmạng Thật vậy, với Tố Hữu mỗi chặng đường thơ cũng là một chặngđường lịch sử trong dòng thác cách mạng và thời đại Việt Nam, từ mộtnước nô lệ bị chia cắt thành một nước độc lập, tự do, bình đẳng, hùng mạnhtiến lên chủ nghĩa xã hội (Tâm hồn thơ ông đã đạp nơi cảnh đói nghèo bơ

vơ do xã hội cũ tạo nên, nó rớm máu dưới giày đinh của thực dân, đế quốc

Và nó nghẹt thở nơi đất nước bị chia cắt làm đôi, đau đớn với cỏ cây, rừng

Trang 20

núi Việt Nam thấm đầy chất độc màu da cam của Mĩ Cũng tâm hồn đó,ông bay múa trong ngày tổ quốc giải phóng, trẻ lại cùng đất nước hồi sinh).

Tất cả những điều đó nó thể hiện ngay trên nhan đề mỗi tập thơ, Từ ấy

(1937 - 1946) là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu, cũng là mười năm hoạtđộng sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của chàngtrai Tố Hữu trong giai đoạn lịch sử sôi động với nhiều biến cố to lớn làm

rung chuyển và thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam - Từ Máu lửa đến Xiềng

xích rồi Giải phóng; Bản anh hùng ca Việt Bắc (1947 - 1954) là tập thơ đã

ghi lại đầy đủ những hình ảnh, sự kiện và những bước thăng trầm của cuộckháng chiến chống thực dân Pháp, những âm vang của lịch sử, thời đại;

Tập Gió lộng (1955 - 1961), chặng đường thứ ba của thơ Tố Hữu đã gắn

liền với giai đoạn mới của cách mạng với hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước; Hai tập thơ

Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) đã đáp ứng nhu cầu thời

đại, là những bài ca ra trận, những khẩu hiệu và mệnh lệnh chiến đấu trongthời kì đau thương và hào hùng bậc nhất của lịch sử dân tộc – kháng chiếnchống Mĩ, giải phóng Miền Nam, bảo vệ Miền Bắc, Thống nhất tổ quốc;

Chặng đường cuối của thơ Tố Hữu là Một tiếng đờn (1977 - 1992), Ta với ta

(1992 - 1999) đã phần nào phản ánh được những biến động sâu sắc và tolớn trong đời sống xã hội của đất nước và thế giới sau chiến tranh

Nhìn suốt chặng đường thơ Tố Hữu, ta không thể không một lần nữakhẳng định vai trò to lớn của nhà thơ Tố Hữu trong nền văn học cách mạng

và trong tiến trình văn hiện đại Việt Nam Ta mượn lời của Chế Lan Viênthay cho lời khẳng định và lời kết: “Nói đến Tố Hữu là nói đến vai trò mởđầu và hiện vẫn là người dẫn dầu trong nền thơ hiện thực cách mạng củachúng ta, sự trưởng thành của ông trước cách mạng đã xúc tiến sự hìnhthành của thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau này” [29, 190]

Trang 21

1.2.3 Nhìn chung về hình tượng tác giả trong thơ Tố Hữu

Trong rất nhiều những công trình nghiên cứu về Tố Hữu - một nguồnmạch quan trọng tạo nên khuôn mặt đẹp của thơ ca Việt Nam hiện đại(Phan Cự Đệ), chúng tôi chưa nhìn thấy một công trình nào tập trung khảosát hình tượng tác giả trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm

1975, kể cả Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử Trong công trình nổi

tiếng của mình Trần Đình Sử đã đề cập đến khá nhiều vấn đề liên quan đếnhình tượng tác giả Tố Hữu song ông cũng chỉ dừng lại ở thơ Tố Hữu trước

1975, chưa nói đến hình tượng tác giả độc đáo với sự tự biểu hiện của cáitôi Và, vì Trần Đình Sử chỉ tập trung nghiên cứu Tố Hữu trong thơ giaiđoạn trước 1975 nên trong công trình chưa có cái nhìn đối sánh, chưa chỉ rađược sự thống nhất và biến đổi của hình tượng tác giả trên các phương diênbiểu hiện Vì vậy khi nghiên cứu đề tài này, luận văn của chúng tôi sẽ trên

cơ sở kế thừa thành tựu của những công trình đi trước, tiếp tục khảo sáttoàn bộ sáng tác của Tố Hữu trong cả hai giai đoạn trước và sau năm 1975trong cái nhìn đối sánh, để có thể chỉ ra sự thống nhất và biến đổi của hìnhtượng tác giả trong suốt hành trình thơ trên các phương diện: nội dung tưtưởng, cái nhìn nghệ thuật; sự tự thể hiện và giọng điệu của tác giả

Quả thực khi nói đến Tố Hữu, người ta chỉ thường nghĩ đến một sựnhất quán cao trên con đường thơ Nghĩa là ở cả hai giai đoạn sáng tác, cáitôi tác giả luôn say mê, ca ngợi lí tưởng cách mạng, ca ngợi Đảng, một cáitôi luôn hoà với cái ta chung của cả dân tộc Chính vì thế thơ ông cả trước

và sau 1975 đều mang đậm tính chất trữ tình chính trị, nhạy cảm trướcnhững vấn đề thời sự của đất nước Trước 1975 thì mọi sự kiện, vấn đề củađời sống cách mạng đều là chất liệu là ngọn nguồn cảm hứng sáng tạotrong ông Ta bắt gặp tiếng reo vui của người thanh niên giác ngộ lí tưởng

cách mạng trong Từ ấy, sự giác ngộ đó giúp nhà thơ nhận ra ách áp bức

giai cấp, những bất công xã hội và thân phận những con người lao khổ đểđưa vào trong thơ thể hiện sự cảm thông chia sẻ và quan trọng hơn cả là

Trang 22

khơi dậy ở họ lòng căm hận, ý chí đấu tranh Không chỉ thế, cảm hứng thơcủa Tố Hữu còn hướng vào thể hiện quần chúng kháng chiến, đó là anh vệ

quốc quân hiền lành đã làm nên chiến thắng Việt Bắc vang dội (Cá nước);

Là anh bộ đội vượt lên những gian khổ, thiếu thốn mà vẫn hào hùng trong

tư thế vươn tới trên những núi đèo Tây Bắc hiểm trở (Lên Tây Bắc); Là chị

phụ nữ Bắc Giang dù việc nhà bề bộn vẫn hăng hái tham gia kháng chiến

(Phá đường); Là những bà mẹ nông dân hoà làm một tình thương con với lòng yêu nước (Bà mẹ Việt Bắc, Bà bủ, Bầm ơi) Tố Hữu đã giúp người đọc

nhìn thấy từng bước trưởng thành của người dân kháng chiến trong thời kìchống Pháp… Sau 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất cái tôi Tố

Hữu vẫn vậy, trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng (Một nhành

xuân, Tặng Đảng thân yêu tròn 50 tuổi), vẫn thiết tha quan tâm đến cuộc

đời chung, đến mọi miền tổ quốc (Như Xuân, Nông Cống, Ngọc Lạc, Hà

Trung… đến những biến động to lớn sâu sắc trong đời sống xã hội của đất

nước và trên thế giới (Chào năm 2000).

Tuy nhiên khi khảo sát toàn bộ quá trình sáng tác của tác giả Tố Hữu,chúng tôi có thể khẳng định bên cạnh sự thống nhất cao độ của hình tượngtác giả trong hai giai đoạn sáng tác vẫn có những nét biến đổi trên phươngdiện tư tưởng, cái nhìn, giọng điệu Khi đất nước thống nhất, nhà thơ vẫntiếp tục cảm hứng chính trị, vẫn quan tâm đến vấn đề thời sự của dân tộcnhưng nó không còn là cảm hứng duy nhất trong thơ ông nữa Nhà thơ đãtìm đến cảm hứng thế sự đời tư, trong một giọng thơ có nhiều biến đổi.Như vậy, hình tượng tác giả Tố Hữu trong tiến trình thơ đã có sự kếthừa và biến đổi nhất định Và sự kế thừa, biến đổi này ta sẽ tìm hiểu cụ thểtrên các phương diện biểu hiện của hình tượng tác giả ở những chương sau.Điều chúng tôi muốn kết lại trong phần này là dù thống nhất hay biến đổithì Tố Hữu trước sau vẫn gắn bó với cuộc đời, nhập thế với tinh thần tíchcực - đó chính là sức sống cho thơ ông

Trang 24

Chương 2 HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ TỐ HỮU

THỜI KÌ TRƯỚC NĂM 1975

2.1 Tư tưởng nghệ thuật của Tố Hữu thời kỳ trước năm 1975

2.1.1 Khái niệm tư tưởng nghệ thuật

Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định “Văn học nghệ thuật là một hìnhthái hoạt động tư tưởng Vậy nghiên cứu một nhà văn xét đến cùng lànghiên cứu tư tưởng của ông ta” Chính vì thế rất nhiều các nhà nghiên cứu

đã quan tâm, đề cập đến khái niệm Tư tưởng nghệ thuật.

Trước hết, theo Nguyễn Đăng Mạnh thì đó là “Thứ tư tưởng có tínhtổng hợp cao, có thể bao hàm cả tư tưởng đạo đức, tư tưởng chính trị và nóđược rút ra từ toàn bộ các tác phẩm của nhà văn Nói cách khác, đó là một

tư tưởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bảntoàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo cho sự nghiệp ấy, thế giớinghệ thuật ấy tính thống nhất, tính hệ thống, hay nói đúng hơn là tính chỉnhthể” [45,9] Nguyễn Đăng Mạnh đã rất chăm chú theo dõi khái niệm này,ông cho biết thứ tư tưởng tổng hợp này đã được nhiều nhà nghiên cứu trênthế giới đặt cho những tên gọi khác nhau Chẳng hạn: “Tụ điểm của nhữngtia sáng khác nhau trong đời sống tinh thần của nhà văn” (Philarsaxlơ),

“Năng lực chủ đạo” (Ippôlit Ten), “cơ cấu nội tại của thiên tài” (GoocRơna), “Cấu trúc cơ bản của trí tưởng tượng sáng tạo” (Giăng Rút - Xô),

“tư tưởng cơ bản” (Êmin Phagiê) Các nhà nghiên cứu có một điểm gặp gỡ

là muốn gán cho khái niệm ý nghĩa khái quát, tổng hợp cao

Trong bài báo viết về Puskin, nhà phê bình văn học Nga - Biêlinxkicũng đã đưa ra một cách hiểu về tư tưởng nghệ thuật, ông viết: “Nghệ thuậtkhông chấp nhận người ta đến với nó bằng những tư tưởng triết học trừutượng…, nó chỉ chấp nhận những tư tưởng nghệ thuật, và một tư tưởngnghệ thuật không phải là một tam đoạn luận, một giáo điều hay một quytắc, đó là một say mê mãnh liệt, một nhiệt hứng…, vì thế tư tưởng nghệ

Trang 25

thuật trong thơ không phải là một tư tưởng trừu tượng hay một hình tháichết mà là một sáng tạo sống động” [45, 11] Như vậy tư tưởng nghệ thuật

là một hình thái nhận thức đặc thù của người nghệ sĩ Đó là sự nhận thứcbằng “Toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tínhtổng thể toàn vẹn của nó” (Nguyễn Đăng Mạnh) Hình thái nhận thức nàyđòi hỏi nghệ sĩ phải huy động toàn bộ mọi năng lực tinh thần của mình mànội dung chính bao gồm lí trí và tình cảm, cảm xúc kết hợp hài hoà vớinhau giống như xương cốt và máu thịt, như thể xác với linh hồn con người

Nó thấm nhuần lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn Vì thế cũng có thể gọi làhình thái tư duy - tình cảm thẩm mĩ của người cầm bút Tuy nhiên cách gọinày vẫn chưa thâu tóm được đầy đủ nội dung phong phú, tinh tế và uyểnchuyển của hiện tượng thực tế mà ta đề cập đến

Tư tưởng nghệ thuật cần được hiểu như là một hình thái tinh thần rất

cụ thể, nó nảy sinh do sự cọ xát, va chạm một cách rất cụ thể giữa trí tuệ vàtâm hồn người sáng tác với hiện thực khách quan, được thể hiện ở dạnghình tượng, mặc dầu hình tượng ấy ban đầu còn rất thô sơ nhưng đã được

rõ nét trong tâm hồn, suy nghĩ của nhà văn Như vậy, tư tưởng nghệ thuậtbao gồm cả hai mặt thống nhất giữa chủ thể và khách thể Song xét đếncùng thì chủ thể chiếm ưu thế hay nói đúng hơn chủ thể đóng vai trò quyếtđịnh Bởi vì khách thể được phản ánh trong tác phẩm cũng đã có yếu tố chủthể ở đấy rồi Đó là khách thể đã được chủ thể quan tâm và phát hiện, nghĩa

là một hiện thực được nhà văn chiếm lĩnh không chỉ phải bằng trí tuệ màcòn bằng cả tấm lòng nữa Đây cũng chính là điều M.Bakhitin đã khẳng

định trong Những vấn đề thi pháp Đôttôiepxki: “Tư tưởng trong sáng tác

của ông trở thành đối tượng miêu tả nghệ thuật còn bản thân Đôttôiepxkithì trở trở thành nghệ sĩ vĩ đại của tư tưởng”

Tư tưởng nghệ thuật là tư tưởng trong nghệ thuật Tuy nhiên ta cũngkhông thể cô lập, tách rời tư tưởng trong nghệ thuật với các phương diện tưtưởng khác ngoài nghệ thuật thể hiện trong các hoạt động kinh tế, chính trị,

Trang 26

xã hội, văn hoá, thái độ ứng xử nhân thế, các phát ngôn ngoài vănchương… vì giữa chúng có mối quan hệ khăng khít Nhưng khi ta xét tưtưởng trong nghệ thuật thì tất yếu ta phải quan tâm đến phương thức biểuhiện duy nhất của tư tưởng nghệ thuật - đó chính là hình tượng nghệ thuật.

“Hình tượng nghệ thuật là căn cứ duy nhất để nhà nghiên cứu có thể tómtắt được tư tưởng nghệ thuật của ông ta” [45, 16] Tất cả những tư liệu khácchỉ dùng để tham khảo, soi sáng thêm cho những tìm tòi của các nhànghiên cứu từ chính các hình tượng trong tác phẩm của nhà văn Hìnhtượng tâm huyết của mỗi tác giả có tính phổ biến bao nhiêu thì càng có ýnghĩa tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu Tần số xuất hiện của chúng tỷ

lệ thuận với mức độ day dứt, ám ảnh trong tâm hồn người nghệ sĩ Nhữnghình tượng này là yếu tố nghệ thuật đặc sắc, độc đáo được sáng tác theođúng quy luật của tư duy nghệ thuật Căn cứ vào đó nhà nghiên cứu phánđoán tư duy nghệ thuật của nhà văn, tất nhiên là nhà nghiên cứu phải chú ýđến tính quy luật trong quan hệ nội tại giữa các yếu tố chỉnh thể thế giớihình tượng Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn bao giờ cũng phù hợp với cấutrúc ấy, quy luật ấy

Tư tưởng của con người sẽ luôn có sự sống của nó, vì vậy tư tưởngnghệ thuật sẽ là một quá trình vận động, có thể có sự chuyển đổi trong quátrình sáng tạo của nhà văn Vì thế tư tưởng nghệ thuật sẽ là cái rất riêng củamỗi nhà văn, nó là tài riêng, tình riêng kết hợp, là tư tưởng cá nhân và hìnhtượng độc đáo, thống nhất, hài hoà, là sở trường riêng, là cái tạng riêng củamỗi cây bút Cái chất riêng trong tư tưởng nghệ thuật sẽ quyết định tầm vóccủa các nhà sáng tác Đối với một người nghệ sĩ, trong quá trình sáng tác,yếu tố tài năng (tức năng khiếu) và trí tuệ đóng một vai trò rất quan trọng.Song tư tưởng nghệ thuật mới thật sự là một yếu tố đặc biệt của người nghệ

sĩ ấy, nó có ý nghĩa quyết định, chi phối tất cả các yếu tố khác

Trang 27

2.1.2 Tư tưởng nghệ thuật của Tố Hữu thời kỳ trước 1975

Như trên ta đã nói tư tưởng là một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã làmột nhà thơ, nhà văn lớn trước hết phải là nhà thơ, nhà văn có tư tưởng

Và, với Tố Hữu vừa là một nhà thơ, lại vừa là nhà cách mạng thì tư tưởngnghệ thuật của ông sẽ là gì?

Rất nhiều người, rất nhiều thế hệ gọi Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng.Quả thực, Tố Hữu là một trong những tác gia văn học thực hiện nhất quán

phương châm “Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung

phong”, “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền” của Hồ Chí Minh và Sóng Hồng Tố Hữu không chỉ thực

hiện mà còn thực hiện một cách thành công theo phương châm sáng tác ấy.Ông làm thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lí tưởngcủa Đảng Trong thơ ông dù ở đề tài nào và nội dung có đa dạng đến đâuthì vẫn nhất quán lấy lí tưởng cách mạng, quan điểm chính trị làm hệ quychiếu cách nhìn nhận và xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng, kể

cả đời sống riêng tư của chính nhà thơ Có nghĩa là, ở nhà thơ Tố Hữu tưtưởng nghệ thuật bao trùm là lòng say mê lí tưởng cách mạng

Năm 1938, khi nhà thơ 18 tuổi, ông đã viết bài thơ nổi tiếng Từ ấy mà

sau này nhiều người coi là bản tuyên ngôn bằng thơ của ông Từ đó chođến nay, bằng chính đời mình và thơ mình, Tố Hữu đã sống đúng như niềmtâm niệm đầu đời đó Ở ông là sự thống nhất giữa hai con người chiến sĩ vànhà thơ, cả hai con người đó đều tràn đầy nhiệt huyết, lòng hăng say, chúng

bổ sung cho nhau Hồn thơ ông được lí tưởng chiếu rọi và bừng nở dướiánh sáng của lí tưởng ấy Làm thơ với Tố Hữu là một hoạt động cáchmạng, một phương cách để thể hiện lí tưởng cách mạng, lí tưởng ấy sẽ làngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo:

Thơ ta ơi ! Hãy cất cao tiếng hót

Ca ngợi trăm lần Tổ Quốc chúng ta!

Mùa thu đó, đã bắt đầu trái ngọt

Và bắt đầu nở rộ những vườn hoa

(Mùa thu mới)

Trang 28

Chế Lan Viên đã nhận xét rất đúng: “Tả tình hay tả cảnh, kể chuyệnmình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ,đối với anh chỉ là để nói cho được cái lí tưởng cộng sản ấy thôi” [44, 182].Thật vậy, Tố Hữu quan tâm tới mọi sự kiện lớn của đời sống cách mạng,nhiệm vụ chính trị, những tình cảm chính trị và con người chính trị Ở bất

kì bài thơ nào ông cũng sẽ lồng những nội dung quan trọng đó vào từng câuchữ, từng hình ảnh Ngay cả những bài thơ mà mới thoạt nhìn vào nhan đề

ta thiết tưởng sẽ không liên quan gì:

Nhà anh có một cây hồng Quả son nhún nhảy đèn lồng cành tơ

Ai tri âm, hãy đến tìm Quả hồng như thể trái tim giữa đời Cây hồng đất nước em ơi Càng sương giá lạnh, càng ngời sắc xuân!

(Cây hồng)Đặc biệt, ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dân tộc,hồn thơ Tố Hữu thường vang lên hưởng ứng nhạy bén và dạt dào kết tinh

trong những bài thơ đặc sắc: tổng khởi nghĩa thành công, Tố Hữu có Huế

tháng tám, Vui bất tuyệt…; kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc có Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Việt Bắc…; những năm tháng xây

dựng hoà bình thắng lợi có Bài ca xuân 1961 và sau đó là Nước non ngàn

dặm… Đất nước thắng lợi sau ba mươi năm chiến đấu, Tố Hữu viết Toàn thắng ta về, Bài ca quê hương…; để tưởng nhớ công đức một đời của chủ

Tịch Hồ Chí Minh khi Người qua đời nhà thơ viết Bác ơi, Theo chân

Bác…

Tố Hữu trở thành nhà thơ của lẽ sống lớn, của tình cảm lớn, niềm vuilớn của đời sống cách mạng và con người cách mạng “Thơ Tố Hữu haynhất khi cảm hứng thơ kết hợp được một cách tự nhiên ba chủ đề sau: ngợi

Trang 29

ca lẽ sống cao đẹp của con người cách mạng, diễn tả niềm vui hướng vềtương lai xã hội chủ nghĩa, thể hiện những cảm nghĩ ân tình thuỷ chung”

[44, 183] Ta gặp sự kết hợp này trong thơ Tố Hữu rất nhiều: Việt Bắc,

Quang vinh Tổ quốc chúng ta, Trên Miền Bắc mùa xuân, Ba mươi năm đời

ta có Đảng, Bài ca xuân 61, Toàn thắng ta về, Theo chân Bác, Tiếng hát sang xuân, Hãy nhớ lấy lời tôi, Việt Nam máu và hoa… Đó là những bài

thơ mà ngay từ khi ra đời cho đến nay đã làm đắm say bao thế hệ ngườiđọc với những dòng thơ đan xen cảm xúc

Có ý kiến cho rằng, thơ Tố Hữu luôn nhận được sự đồng cảm, hoannghênh của đông đảo công chúng cách mạng vì thơ ông có lòng say mê lítưởng bao trùm của một tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết cách mạng với tìnhyêu đất nước, con người nồng cháy Ý kiến đó quả không sai, người ta khó

có thể thờ ơ trước những vần thơ:

Vì độc lập, Tự do, núi sông hùng vĩ

Vì thiêng liêng giá trị Con Người

Vì muôn đời hoa lá xanh tươi

Ta quyết thắng Giành mùa xuân đẹp nhất!

(Bài ca xuân 68)

Từ xưa tới nay biết bao nhà thơ đã từng khơi nguồn thơ từ trái tim xúcđộng để đến với người đọc Du Bellay cho rằng “thơ là người thư kí trungthành của những trái tim” Wordsworth cũng xem “thơ là những câuchuyện của những trái tim” [11, 23] Ở Tố Hữu cũng vậy, nhưng có mộtđiểm khác biệt là trái tim ông mang sâu sắc tình cảm với cuộc đời chung,với lí tưởng công sản Có thể nói chính lí tưởng cộng sản, chính thực tiễnđấu tranh vì độc lập dân tộc đã thổi bùng lên ngọn lửa thơ trong tâm hồn

Tố Hữu, và cũng chính lí tưởng đó đã luôn tiếp sức cho nguồn mạch thơ ôngtuôn chảy dạt dào Chắc chắn nếu không có Đảng, không có cách mạng,không có lí tưởng cộng sản thì tất sẽ không có nhà thơ lớn Tố Hữu hôm nay

Trang 30

Hồn thơ ông lớn, đẹp và có sức vang động lòng người là nhờ Tố Hữu đã tiếpnhận được nguồn sinh lực của hồn cách mạng, hồn dân tộc, hồn thời đại.

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Tố Hữu trong thơ thời kì trước năm 1975

2.2.1 Giới thuyết khái niệm cái nhìn nghệ thuật

Bất kì tác giả văn học nào cũng sẽ có một quan niệm nghệ thuật, mộtcái nhìn riêng về cuộc sống, con người Vượt lên mọi hoạt động bản năng,cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người Nó có thể thâmnhập vào sự vật, phát hiện những nét riêng, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mĩcủa sự vật Nó nhìn ngắm bóc tách vấn đề bằng chính sự logíc và trừutượng Do đó, cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật bởi vì

“Đối với nhà văn cũng như nhà hoạ sĩ thì phong cách không phải là vấn đề

kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (Macxen prutxt)

Trong nghệ thuật, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có khả năng lĩnh hội nhữngquá trình của cuộc sống một cách nhạy bén và sâu sắc hơn với những ngườikhác Tức là cảm nhận và nhìn thấy cái mà người khác không thấy được, vàphải biết đáp ứng một cách xúc động, sâu sắc đối với những ấn tượng và sựkiện của cuộc sống M.Khrapchencô từng nhận xét: “Chân lí cuộc sống trongsáng tác nghệ thuật không phải tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cánhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [28, 66]

Có thể nói: cái nhìn mang yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ bởi vìthực tế cho thấy có những người thích nói về vấn đề này mà không thíchnói về vấn đề kia Cho nên trong chi tiết nghệ thuật mà đặc biệt là tronghình tượng nghệ thuật thì nhà văn đã thể hiện cái nhìn của mình Khi tanhận thấy và phân biệt được những vấn đề mà ở mỗi nhà văn quan tâm thìtức là ta đã nhận ra được con người nghệ sĩ của tác giả Vì vậy tìm hiểuhình tượng tác giả đòi hỏi ta phải đi sâu vào tìm hiểu cái nhìn của nhà văn

về thế giới, con người

Nhà thơ - chiến sĩ Tố Hữu cũng sẽ như các tác giả văn học khác đã thểhiện trong sáng tác của mình cái nhìn rất riêng về thế giới, về con người

Trang 31

Cái nhìn đó được toát lên trong hệ thống hình tượng mà nhà thơ miêu tả, ở

lí tưởng mà nhà thơ hướng đến và ở khát vọng mà nhà thơ bày tỏ

2.2.2 Cái nhìn về con người

2.2.2.1 Giới thuyết khái niệm cái nhìn về con người

Con người là đối tượng trung tâm của văn học Vậy nên, dù tác phẩmmiêu tả cuộc sống dưới góc độ nào thì chúng ta đều thấy ẩn hiện trong đóquan niệm về con người của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ không thể miêu

tả về con người nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biệnpháp biểu hiện nhất định Vì thế quan niệm nghệ thuật về con người mangdấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, nó sẽ giúp ta khám phá sự sáng tạo đótrong cảm thụ và biểu hiện của nhà văn

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúccủa tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở các nhân vật.Với văn xuôi và truyện thơ nó tập trung ở nhân vật, trong thơ trữ tình nóthể hiện ở đối tượng trữ tình, nhân vật trữ tình mà tác giả đề cập đến Nhânvật văn học chính là mô hình con người của nhà văn, biểu hiện cách hiểucủa họ về con người của họ theo một quan điểm nhất định Tuy nhiên, kháiniệm quan niệm nghệ thuật về con người bao quát hơn, rộng lớn hơn kháiniệm nhân vật Nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể, cá biệt của quan niệm kia.Quan niệm nghệ thuật về con người còn là sản phẩm của văn hoá tưtưởng Nó cũng là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật trong đóthể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hình thái, ý thức xã hộikhác Tất nhiên trong quan niệm nghệ thuật về con người nó mang dấu ấn sángtạo sâu sắc của cá tính người nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của người nghệ sĩ.Quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn, đặc biệt là những tác giả lớnthường sẽ có sự khác nhau rõ rệt, tuy nhiên trong từng thập kỷ văn học giữachúng lại có điểm chung, đánh dấu trình độ chiếm lĩnh con người của từngthời kỳ Đối với Tố Hữu cũng vậy, ông có quan niệm nghệ thuật về con

Trang 32

người rất riêng nhưng cũng không nằm ngoài quy luật phát triển của vănhọc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.

2.2.2.2 Con người chính trị

Thơ ca vô sản Việt Nam không phải khởi đầu từ Tố Hữu nhưng quảthật phải đợi đến thơ Tố Hữu ta mới có một quan niệm nghệ thuật mới về conngười Như ta đã biết, Tố Hữu là nhà thơ chiến sĩ, thơ ông là thơ trữ tình chínhtrị vì vậy con người trong thơ ấy căn bản sẽ là con người chính trị

Theo Trần Đình Sử “Con người chính trị trong thơ Tố Hữu đánh dấumột bước trưởng thành mới của con người Việt Nam trong thế giới hiệnđại, từ con người yêu nước trung quân sang con người duy tân dân chủ, qua

con người “phi chính trị” trong thơ Mới đến con người chính trị kiểu mới

dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản” [51, 120] Thật vậy, con người yêunước trung đại chỉ có một lòng yêu nước, thương dân, khắc khoải trông cậymong manh vào đức vua, hoàn toàn mịt mù về tương lai và thế giới Conngười duy tân dân chủ đầu thế kỉ hoảng hốt trước hoạ xâm lăng của tư bản

Âu Mĩ, bàng hoàng trước cảnh đất nước tiêu điều, dân trí lạc hậu, nhân dân

li tán, rối rít các hoạt động cải lương, cầu viện nước ngoài Còn con ngườichính trị trong thơ mới thực chất là con người thất bại, tìm nguôi quêntrong trăng gió, trong phong vị cố hương, hoặc chìm đắm trong sầu mộng,tôn giáo… Con người chính trị Việt Nam trong thơ Tố Hữu hoàn toàn khác

- đó là những con người giác ngộ quyền lợi giai cấp, dân tộc, tự giác trêncon đường đấu tranh vì độc lập tự do, vì hạnh phúc của con người, vì lẽsống làm người, vững lòng tin ở tương lai:

Kiêu hãnh chút, bạn đời ơi, tuổi trẻ Say tương lai là tuổi của anh hùng!

Đứng lên đi, xây dựng cuộc đời chung Nắm tay sắt quyết đồng tâm lật đổ

Cả chế độ hung tàn gây thống khổ

Và tị hiềm, và gian dối, điêu vong!

(Ý xuân)

Trang 33

Họ có thể hi sinh cuộc đời riêng vì cuộc đời chung, xông pha sốngchết nhẹ nhàng:

Sống đã vì cách mạng anh em ta Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà

(Trăng trối)

Vì hơn ai hết, con người chính trị trong thơ Tố Hữu hiểu rằng độc lậpdân tộc, lợi ích giai cấp, quyền sống, quyền hạnh phúc của mọi người, củamỗi người cần họ:

Ta vì ta ba chục triệu người Cũng vì ba ngàn triệu trên đời

(Miền Nam)Và:

Chết con ta ? Nhưng sống vạn đời thơ

(Đời thợ)Một sự tự nguyện hi sinh, dâng hiến cao đẹp Dường như con ngườichính trị trong thơ Tố Hữu khi bắt đầu giác ngộ lí tưởng cũng là lúc họ hìnhthành quyết tâm cao độ:

Ta phải thắng bởi vì ta quyết chiến Bởi ta yêu tha thiết đời ta

(Trên đường thiên lí)

Lý do của con người chính trị Việt Nam anh hùng là vậy – là “ta yêu

tha thiết đời ta”, giản dị mà vĩ đại biết bao Có thể nói, với sự phát hiện về

con người chính trị, Tố Hữu đã cho chúng ta thấy tất cả khả năng cách

Trang 34

mạng phong phú, tiềm tàng của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranhgiai cấp và phong trào giải phóng dân tộc hiện đại.

Có những quan niệm cho rằng “thể hiện con người chính trị là thu hẹp

đề tài, xem nhẹ cá tính, làm nghèo nội dung văn học” [53, 120] Nhưng khiquan niệm này đem áp dụng để nói về con người chính trị trong thơ TốHữu sẽ không phù hợp vì nhà thơ quan niệm con người chính trị là nhânvật của thời đại chúng ta Đó là những con người đa dạng từ Bác Hồ, ngườicán bộ, anh bộ đội, đến các mẹ, các cháu, các em, anh công nhân, chị hànghoa… tất cả đều là những con người chính trị Chả thế mà trong tập thơ

Việt Bắc, Tố Hữu có biết bao bài thơ về những người dân xưa kia lầm than,

tủi nhục nay trở thành chủ nhân chân chính của lịch sử Viết về họ tác giảkhông chỉ nói về sứ mệnh lớn lao - gánh cả cuộc kháng chiến trên đôi vainhỏ bé của mình cho đến ngày thắng lợi của họ mà còn cho người đọc cảmnhận về những tâm hồn hiền lành, chất phác, sự hồn hậu trong suy nghĩ,hành động, về tình cảm đồng đội, đồng chí, tình quân dân, gắn bó nghĩatình:

Ơi người anh vệ quốc?

Chắc có lúc lòng anh Nhớ nhà anh nhớ lắm

Ơi người bạn hiền lành Mắt nhìn xa đăm đắm…

Lòng anh và lòng tôi Mang nặng tình cá nước

(Cá nước) Như chúng ta đã biết, trong xã hội có hoàn cảnh chiến tranh tất yếu sẽ

có quy luật là: cuộc đấu tranh giai cấp và giải phóng dân tộc sẽ làm cho cáclợi ích chính trị, xã hội trở thành gần gũi, thân thiết với mỗi người, chínhtrị gắn bó mật thiết với tất cả các lĩnh vực của đời sống, do đó khi thể hiệncon người chính trị sẽ có khả năng khám phá các phương diện quan trọng

Trang 35

nhất của con người trong thời đại Nhà thơ chiến sĩ của chúng ta nắm vữngquy luật này cho nên quan niệm nghệ thuật về con người chính trị của ôngrất mới trên nền thơ ca cách mạng vô sản đương thời Nó đủ sức khẳngđịnh vị trí và sức mạnh thơ ông.

2.2.2.3 Con người chính trị qua các tập thơ

Từ ấy

Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người chính trị trong thơ TốHữu ta thấy, nhà thơ đã không ngừng đổi mới và làm phong phú cho quanniệm, tạo nên những đóng góp lớn trong thơ ca chính trị Việt Nam Điều đóthể hiện cụ thể trong từng tập thơ

Trước hết ta đến với con người chính trị trong tập thơ Từ ấy Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, thơ ca cá nhân chủ nghĩa lan tràn, Từ ấy ra đời, mọi

người nhận ra ngay đó là tiếng nói khẳng định của một lực lượng xã hộimới, của khát vọng tự do công lí từ lâu bị dồn nén, những yêu cầu đổi thay

đã chín muồi Nhưng đáng nói nhất là với Từ ấy, lần đầu tiên trong thơ Việt

Nam có sự xuất hiện quan niệm nghệ thuật về “con người xã hội, về sốđông tạo thành một xã hội hùng hậu” [53, 12]

Họ là số đông “vạn nhà”, “vạn kiếp”, là “bao hồn khổ”, “bao nhiêu

máu oan hồn” Là “những lưng còng xuống luống cày” Họ là “muôn bạn”, “muôn người”, “muôn chiến sĩ”, “vạn gia đình”, “vạn anh hùng”,

“nghìn thế hệ” Họ là “khối người”, “khối đời”, “khối đồng tâm”, là

“nhân loại”, là “đoàn quân nô lệ”, “đoàn chim quyết thắng” (Từ dùng

của Trần Đình Sử) [53, 12] Và số đông ở đây không chỉ là số nhiều Nó là

sự giầu có, phong phú, bất tận, vững bền, vô định Đó là nhân dân

Những con người ấy, không còn là con người của gia đình, không chỉ

là “đồng bào”, “đồng chủng” như trong văn thơ yêu nước đầu thế kỉ, cũngkhông phải là những cá nhân đơn độc đứng trước vũ trụ Đó là con người

của loài, của số đông, là “bạn đời”, “bạn lòng”, là “huynh đệ”, “đồng chí”

những người cùng đoàn thể cách mạng:

Trang 36

Ta hớn hở riết bàn tay huynh đệ Không gì mạnh bằng đoàn dân nô lệ

Mà hờn căm đã bốc lửa ran đầu

Cả loài người đau khổ đã kêu nhau Vùng đứng dậy, nghiến chặt răng chiến đấu

(Xuân đến) Tất cả họ rất hiểu nhau, không đợi nói nên lời, không cần môi giới vì

họ cùng giác ngộ lí tưởng, “chung lòng”, “chung điệu”, “chung tương

lai”, sẽ thực hiện đến cùng lí tưởng cách mạng Và họ được nhà thơ say sưa

ca ngợi, như một tình cảm nhân văn, vì thế trong tập thơ xuất hiện conngười đẹp trong những nét người - đây là điểm mới của Tố Hữu so với thơ

ca cách mạng:

Nhớ bạn đời trai trẻ dậy xuân tươi Trong nét rắn của thân hình vạm vỡ Như những mắt thơ ngây nhìn bỡ ngỡ Dưới hàng mi mở rộng chân trời hồng

Ồ những trái tim trong tựa thuỷ tinh

(Nhớ người)Đặc biệt hơn, với cảm quan nhân đạo Tố Hữu đã đổi mới quan niệm

con người nhiệt huyết chính trị Con người chính trị trong Từ ấy có tình

hữu ái được biểu hiện tinh khiết, nồng nàn như tình yêu nhưng lại khôngmảy may tư lợi riêng tư:

Nơi bao nhiêu âu yếm tuổi thơ ngây Anh đã trút cho lòng em tất cả

(Đi đi, em)Tác giả đã quan niệm tình giai cấp, tình người bị áp bức với nhau làtình yêu đằm thắm, nồng nàn nhất Vì thế, “tình say sưa đoàn kết đấu tranhdựng xây đời mới được nhà thơ miêu tả như đi trẩy hội giải phóng, đầy vui

vẻ, khoái trá” [51, 128]:

Trang 37

Ồ vui quá rộn ràng trên vạn nẻo Bốn phương trời và sau dấu muôn chân Cũng như tôi, tất cả tuổi đang xuân Chen bước nhẹ trong gió đầy ánh sáng

(Hi vọng)Thơ ca cách mạng vô sản của ta có từ rất sớm nhưng rõ ràng phải đến

Tố Hữu quần chúng cách mạng mới được miêu tả thành một hiện tượngthẩm mĩ hào hùng, đẹp đẽ, đầy sức lôi cuốn như vậy Song, có một điềuđáng nói là quan niệm về con người số đông, về quần chúng cách mạngnhưng Tố Hữu đã không để con người số đông che lấp con người cá nhân,tác giả xây dựng con người đoàn quân - con người cá nhân mới Trongđoàn quân đó, các cá nhân chỉ là một bộ phận đơn vị:

Tôi bước giữa một đoàn quân dũng mãnh Tuy rất ít, nhưng tinh thần cách mệnh

Đủ làm cho nó hoá một sư đoàn

(Tranh đấu)

“Quan niệm hiện thực lịch sử lúc ấy về con người chỉ có thể là conngười trong số đông, trong hàng quân Do đó nhà thơ quan niệm con người

chính trị, con người cách mạng là con người “mắt xích”, là “nhịp cầu” đi

tới tương lai, con người trong cuộc chạy tiếp sức” [53, 133], có thể hi sinhbất kì lúc nào:

Cứ tan xương, cứ chảy truỷ, cứ rơi đầu Mỗi thây rơi sẽ là một nhịp cầu

Cho ta bước tới cõi đời cao rộng

(Hãy đứng dậy)

Trong quan niệm nghệ thuật về con người chính trị ở Từ ấy, Tố Hữu

còn rất thành công khi xây dựng được những hình tượng con người tự giác,con người hành động - đó chính là nét mới, sự khác biệt của ông so với

đương thời Hầu hết con người trong Từ ấy đều xuất hiện cùng sự lựa chọn

Trang 38

và rồi tự giác đi đến hành động - lựa chọn chế độ xã hội, cái chết, tương lai

- một vấn đề cơ bản của thời đại cách mạng đang đặt ra cho mọi người.Thật vậy, chẳng ai có thể đứng ngoài sự lựa chọn ấy, từ người kĩ nữ, em bé

mồ côi, ông lão đầy tớ, người tù, người thợ, người chiến sĩ cách mạng và cả

vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, ở Người sự lựa chọn càng dứt khoát, quyếtliệt hơn:

Hồ Chí Minh

…Vì nhân loại Người quyết dâng xương máu

Vì giang sơn Người quyết dứt gia đình!

(Hồ Chí Minh)Con người tự lựa chọn là con người tích cực nhất, đòi hỏi ý chí, lậptrường, tư tưởng, tình cảm, nhiệt huyết Tố Hữu đã thể hiện hết sức nổi bậtsức mạnh, cái đẹp của ý chí dứt khoát, quyết liệt, sự lựa chọn rõ ràng, sựkhẳng định, phủ định vô điều kiện của con người chính trị:

Ta đã đi, là ta quyết đi Đạp bằng trở lực, vượt gian nguy Ngực còn thoi thóp, tim còn đập Còn nghiến răng giương thẳng nghĩa kì!

(Đi)

Như vậy, với Từ ấy Tố Hữu đã thể hiện một quan niệm nghệ thuật về

con người mới hẳn so với thơ ca truyền thống và thơ ca đương thời, từ đónhà thơ đổi mới nhiều phương diện nghệ thuật biểu hiện Ông là người đầutiên thể hiện thành công hình ảnh con người số đông, quần chúng cáchmạng với sự giác ngộ cao và ý chí quyết hi sinh cho sự nghiệp cách mạng

Đó là một sự sáng tạo rất lớn, khẳng định Tố Hữu xứng đáng là người mởđầu cho thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, đưa thơ ca cách mạng cận đạiViệt Nam lên một giai đoạn mới

Trang 39

Việt Bắc

Như trên ta đã nói, Tố Hữu không ngừng đổi mới và làm phong phúquan niệm nghệ thuật về con người Chính vì vậy con người chính trị trong

tập thơ Việt Bắc của ông vừa tiếp nối con người Từ ấy lại vừa mang những

điểm riêng, sự khác biệt

Trước hết họ vẫn là những con người “Dâng tất cả để tôn thờ chủ

nghĩa”, những con người chung số phận, chung ước mơ trong cuộc kháng

chiến toàn dân Nhưng bây giờ họ không là số đông “trăm tay”, “Trăm

đầu”, mà là những con người cụ thể trong cái nhìn gần gũi, đó là chị phụ

nữ con mọn Bắc Giang, em Lượm, bà Bầm, bà Bủ… Và “nếu trong Từ ấy,

con người chính trị chủ yếu được miêu tả trong quan hệ lí tưởng, trên

“trường giao chiến” vì lí tưởng, con người sẵn sàng hi sinh tất cả, sẵn sàng gạt bỏ mọi tình riêng nhỏ nhặt để “Lòng không vướng nợ bén duyên gì”, thì

ở Việt Bắc con người được miêu tả với tất cả tình quê hương bền bỉ đậm

đà, bao gồm tình gia đình, mẹ con, chồng vợ, đất nước” [51, 143] Nhà thơ

đã xây dựng những nhân vật cụ thể với những tình cảm cụ thể - người vợ

Bắc Giang hào hứng theo chồng đi phá đường quan, “mình” nhớ “ta”, bà

Bủ nhớ con, nhớ luôn cả “bộ đội rừng khe”, người lính nhớ thương mẹ già

và nhớ “bao bà cụ”:

Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ Bầm Bầm ơi có rét không Bầm Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt thương Bầm bấy nhiêu

(Bầm ơi)

Khi nói về con người chính trị trong tập thơ Việt Bắc, ta không thể

không nói tới thành công nổi bật của Tố Hữu là đã kết hợp nhuần nhuyễn

tư tưởng chính trị với tâm lí xã hội, tâm lí dân tộc, lứa tuổi của con người

Trang 40

-đây là một nét mới, nét đặc sắc nổi bật Giáo sư Trần Đình Sử đã phân tích,chỉ rõ đặc điểm này như sau: “Nhà thơ Tố Hữu đã miêu tả em Lượm là mộtđồng chí nhỏ:

Chú đồng chí nhỏ

Bỏ thư vào bao…

(Lượm)Nhưng ông không hề “nâng cao” em lên thành một người chiến sĩ như

trong bài Hồn chiến sĩ ở Từ ấy (Em mạnh bạo chống bất công, tàn ác.

Không cầu xin, không cất tiếng kêu ca) Em Lượm vẫn chỉ là một trẻ con,

em đi kháng chiến với tâm hồn trẻ thơ:

Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à

Ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà

Ngay cả khi em nghĩ: Thư đề “thượng khẩn”, “sợ chi hiểm nghèo”, thì vẫn không phải với ý thức “Tan đầu nát óc ta cần chi” mà là tâm lí hăng

hái của một em bé non nớt chưa hề biết chết và hiểm nghèo là gì Qua nơi

nguy hiểm em vẫn “Mồm huyết sáo vang, Như con chim chích, Nhảy trên

đường làng” [53, 146] Sâu sắc và chân thực về mặt tâm lí thật sự là nét

đặc sắc mới, nổi bật của quan niệm con người trong Việt Bắc.

Sự thể hiện con người tâm lí trong Việt Bắc còn gắn liền với quan niệm con người làng quê, dân tộc Trong Từ ấy nhà thơ thiên về thể hiện con người giai cấp, nhân loại, sang Việt Bắc con người của tập thơ căn bản

là con người của đồng ruộng, lớn lên theo cuộc kháng chiến Họ gắn bó vớiđất nước, làng quê, không suy tưởng triết lí xa xôi, không tìm về lịch sử,cội nguồn, cũng không suy tưởng ngày mai Theo phương thức sẵn có, họsuy nghĩ đến những giá trị truyền thống được tư tưởng cách mạng nâng đỡ,như tình yêu nước, yêu nhà, lòng biết ơn, tình chung thuỷ… Chân dung conngười lúc này gắn liền với bóng tre, đèo dốc, đồng lúa, rừng xanh, hoa cỏ,

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtôt
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
3. Lê Bảo (2000), Thơ Việt Nam tác phẩm tác giả lời bình, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tác phẩm tác giả lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Hoàng Hữu Bội (1959), “Cần phải lấy thơ Tố Hữu làm phương châm sống cho cuộc đời”, Báo Văn học, (51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần phải lấy thơ Tố Hữu làm phương châm sống cho cuộc đời”, Báo "Văn học
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Năm: 1959
5. Nguyễn Thị Bình (1992), “Sức mạnh và giới hạn của thơ Tố Hữu”, Để dạy tốt văn 12, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh và giới hạn của thơ Tố Hữu”, "Để dạy tốt văn 12
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1992
6. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000, Nxb Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn Việt Nam
Năm: 2003
7. Huy Cận, Hà Minh Đức (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
8. Nguyễn Văn Dân (2000), Lý luận văn học so sánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
9. Xuân Diệu (1969), Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu - Phê bình giới thiệu thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu - Phê bình giới thiệu thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1969
10. Xuân Diệu (1976), “Tố Hữu với chúng tôi”, Báo Văn nghệ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu với chúng tôi”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1976
11. Hữu Đạt (2001), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Hà Minh Đức (1979), Giới thiệu Tố Hữu - tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Tố Hữu - tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1979
13. Hà Minh Đức (1984), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1984
14. Hà Minh Đức (1994), “Từ ấy đến Một tiếng đờn”, Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ấy đến Một tiếng đờn”, "Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
15. Hà Minh Đức (2004), Tố Hữu cách mạng và thơ, Nxb Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu cách mạng và thơ
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên (1971), Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1971
17. Phan Cự Đệ (chủ biên, 1997), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Trịnh Bá Đĩnh (1997), “60 năm cuộc đời thơ ca của Tố Hữu”, Tạp chí Văn học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm cuộc đời thơ ca của Tố Hữu”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Năm: 1997
19. Nguyễn Văn Hạnh (1963), “Sức mạnh Việt Nam, con người Việt Nam trong thơ Tố Hữu”, Báo Văn nghệ, (262) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh Việt Nam, con người Việt Nam trong thơ Tố Hữu”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1963
20. Nguyễn Văn Hạnh (1985), Thơ Tố Hữu tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí, Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w