Nguyễn Du và Đỗ Phủ sống ở hai thời đại cách xa nhau cả nghìn năm, nhng độc giả ngàynay vẫn đọc thấy trong thơ của hai đại thi hào những nét t ơng đồng về chủ đề, nội dung, cảm hứng cũng
Trang 1Nguyễn thanh hải
thơ chữ hán nguyễn du và thơ đỗ phủ
qua cái nhìn so sánh
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2007
Trang 2nguyÔn thanh h¶i
Trang 3Mở đầu 1
5 Phơng pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chơng 1 Cuộc đời, thời đại và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
và Đỗ Phủ trong cái nhìn so sánh 71.1 Sơn hà thay đổi - dâu bể trăm năm chính là thời đại của hai ông 71.2 Đờng đời, đờng thơ hay là nhân thế và sự nghiệp của hai thi hào 131.3 Khái quát những tơng đồng và khác biệt về thời đại, cuộc đời, sự
nghiệp hai đại thi hào 20
Chơng 2 Nội dung sáng tác thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ 262.1 Hệ thống đề tài cơ bản trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ 262.2 Giọng điệu chủ thể trữ tình trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ
432.3 Giá trị nhân văn và tinh thần hiện thực chủ nghĩa trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ 492.4 Chân dung chủ thể trữ tình trong thơ hai thi hào 60
Trang 4đồng và dị biệt giữa các nền văn hoá nói chung và văn học nói riêng Văn học
so sánh giúp chúng ta nhìn nhận từng nền văn học, từng thời đại văn học, cáctác gia lớn của từng quốc gia và những đóng góp nhất định trong tiến trìnhchung, phát triển chung của văn học nhân loại Vì thế, tính độc đáo, đặc sắccủa mỗi nền văn học, thời đại văn học, cá tính sáng tạo của các tác gia trởthành một vấn đề lớn cần phải bàn bạc nhiều hơn trong xu thế giao lu, hộinhập toàn cầu
1.2 Việt Nam và Trung Quốc hai quốc gia đợc đánh giá là những nớc
có nền văn hoá giàu bản sắc Trong dòng chảy của lịch sử, đã có những mốiquan hệ gắn bó mật thiết với nhau, có ảnh hởng tiếp xúc qua lại lẫn nhau trênnhiều phơng diện trong đó có văn học Quan hệ văn học Việt - Trung thờitrung đại là sự thâm nhập của nền văn học Trung Hoa vào thế giới của văn họcViệt Qua hàng ngàn năm bắc thuộc, lịch sử đã chứng minh rằng: Hệ thốngvăn tự chữ Hán, lối sống, phong tục, tập quán của c dân nông nghiệp lúa nớc l-
u vực các con sông lớn Trờng Giang, Hoàng Hà và Sông Hồng có những nét
t-ơng đồng Thực tế đã cho thấy, văn hoá, văn học Việt Nam chịu ảnh hởng sâu
đậm của nền văn hoá, văn học Trung Hoa trên nhiều phơng diện nh: Thể loại,ngôn ngữ, đề tài, kết cấu, cảm hứng sáng tác, t tởng thẩm mỹ…
1.3 Nói đến văn học Việt Nam thời trung đại chúng ta không thể khôngnói đến Nguyễn Du (1765 - 1820), đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thếgiới Ông đã để lại một di sản quý báu cho văn học nớc nhà, trong đó có kiệt
tác bất hủ là Truyện Kiều Ngoài ra, Nguyễn Du còn có: Thác lời trai phờng nón, Văn tế sống hai cô gái Trờng Lu, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và ba tập thơ viết bằng chữ Hán đó là: Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm. Ba tập thơ này gắn liền với ba chặng đờng trong đờisáng tác của Nguyễn Du Nhà thơ đã thể hiện một quan niệm sống, một cáchnhìn đầy nhân tình thế thái mang tinh thần nhân đạo cao cả, để lại tiếng vang
Trang 5xa trong lòng hậu thế Vì thế mà khi đánh giá về thơ chữ Hán Nguyễn Du,Mai Quốc Liên cho rằng “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệttác, còn thơ chữ Hán mới đích là “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viênchính thức của Nguyễn Du” [25, 67- 68].
1.4 Kho tàng văn học Trung Hoa đời Đờng (618 - 907) với một khối
l-ợng tác giả và tác phẩm đồ sộ, là đóng góp quan trọng cho nền thi ca TrungHoa Đó là thời đại thi ca của Thôi Hiệu, Lý Bạch, Bạch C Dị, Vơng Duy và
đặc biệt là Đỗ Phủ Tên tuổi và sự nghiệp trớc tác của Đỗ Phủ (712 - 770)chắc chắn rất quen thuộc đối với Nguyễn Du Sinh thời Nguyễn Du rất cảmphục Đỗ Phủ Nguyễn Du từng viết “Thiên cổ văn chơng thiên cổ s” (Nghìnthuở văn chơng, nghìn thuở thầy) Đỗ Phủ đã làm rạng rỡ cho nền văn họcTrung Hoa, đợc mệnh danh là “thi thánh”, bên cạnh “thi tiên” Lý Bạch và “thiphật” Vơng Duy Đỗ Phủ đã để lại 1459 bài thơ phản ánh các chặng đờng củalịch sử dân tộc Trong đó, ông đặc biệt chú ý đến sự loạn lạc của xã hội đời Đ-ờng Ngời Trung Hoa xem thơ ca của Đỗ Phủ là “thi sử” Nhà thơ hiện thực
Đỗ Phủ đã ghi lại một cách trung thành, sinh động nỗi khổ đau của ngời dântrong các cuộc chiến tranh loạn lạc Thơ Đỗ Phủ đã có ảnh hởng sâu rộng đốivới nhiều nhà thơ trung đại Việt Nam nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, NguyễnKhuyến… Nguyễn Du đã từng công nhận ảnh hởng của Đỗ Phủ đối với bảnthân mình Ông đọc thơ Đỗ Phủ cả đời “Bình sinh bội phục vị thờng ly” (Trọn
đời khâm phục, dám đơn sai - Lỗi Dơng Đỗ Thiếu Lăng mộ), đến cả trong đêm
ngủ cũng thờng mơ thấy Đỗ Phủ “Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi” (Hồn
thơ Đỗ Phủ mộng khuya đầy - Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên).
Trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du ta đều thấy phảng phất hơi thơ của ĐỗPhủ
1.5 Văn học không thể thiếu thơ ca Đờng thi là cả một thời đại trong
lịch sử thơ ca Trung Hoa nói riêng và thơ ca nhân loại nói chung Nguyễn Du
và Đỗ Phủ sống ở hai thời đại cách xa nhau cả nghìn năm, nhng độc giả ngàynay vẫn đọc thấy trong thơ của hai đại thi hào những nét t ơng đồng về chủ
đề, nội dung, cảm hứng cũng nh hình thức, thể loại…Vì vậy, chúng tôi mạnhdạn đặt ra vấn đề so sánh thơ chữ Hán của hai nhà thơ, tìm ra những t ơng
đồng và dị biệt trong thơ hai đại thi hào Hy vọng trên cơ sở đó thấy rõ hơn
sự ảnh hởng qua lại lẫn nhau giữa hai nền văn hoá, văn học Việt Nam vàTrung Hoa
2 Lịch sử vấn đề
Trang 6Sự nghiệp sáng tác thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ hết sức vĩ
đại, ảnh hởng đến đời sống văn hoá, văn học trên nhiều bình diện khác nhau
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác thơ chữ Hán củaNguyễn Du:
Đinh Văn Quang, trong luận văn tốt nghiệp cao học khóa 1998 - 1990
đã khảo sát Những thân phận éo le bất hạnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
Lê Thu yến trong công trình Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn
Du (1999), đã khảo sát thơ Nguyễn Du trên một số phơng diện nh: hình tợng
nghệ thuật về con ngời, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngônngữ
Đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du (2000), đã tập hợp bài viết của rất
nhiều tác giả viết về Nguyễn Du trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau nh: cuộc
đời, sự nghiệp, những tâm sự u uẩn trong sáng tác và cả những nét đặc sắc vềnghệ thuật sáng tác
Phan Thị Thơm, đã tìm hiểu Hình tợng tác giả trong thơ chữ Hán Nguyễn Du cho khoá luận tốt nghiệp đại học năm 2001 của mình.
Riêng về Đỗ Phủ có thể điểm qua một cách khái quát nh sau:
Lê Đức Niệm trong Diện mạo thơ Đờng (1995), bên cạnh việc phân tích
về việc phản ánh sự loạn lạc của xã hội đời Đờng, đã có một phần viết về ĐỗPhủ Ông đánh giá rất cao những gì mà nhà thơ đã đóng góp cho nền văn họcTrung Hoa và thế giới trên tất cả mọi lĩnh vực
Đỗ Phủ - nhà thơ thánh với lịch sử hơn 1000 bài thơ của Phan Ngọc
(2001) đã rất dày công nghiên cứu thơ Đỗ Phủ trên rất nhiền lĩnh vực nh: cuộc
đời, sự nghiệp, nội dung và nghệ thuật sáng tác Tác giả cuốn sách xem ĐỗPhủ là thầy thơ, ông gọi trân trọng Đỗ Phủ là đại thi hào Tử Mỹ
Ngoài ra, có một số bài viết về Đỗ Phủ đợc in trong các tạp chí, sáchphê bình, tiểu luận, dới dạng đi sâu phân tích một số bài thơ đợc đa vào giảngdạy trong chơng trình phổ thông
Có so sánh, liên tởng trong khi đọc thơ của hai đại thi hào thì cũng chỉ
là sự so sánh với các tác giả trong nớc nh khoá luận tốt nghiệp đại học của Lê
Thị Thu Trang (2003) Tác giả khoá luận này đã so sánh, khảo sát Cảm hứng hoài cổ trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi và thơ chữ Hán Nguyễn Du Và có so
sánh Nguyễn Du và Đỗ Phủ, chỉ rõ sự tri âm, tri ngộ của Nguyễn Du đối với
bậc thầy của mình qua việc phân tích bài thơ Lỗi Dơng Đỗ Thiếu Lăng mộ của
Trang 7Nguyễn Du Một thi phẩm viết để khóc thơng Đỗ Phủ khi đi qua ngôi mộ nhàthơ trên bớc đờng đi sứ Trung Hoa.
Cho nên, nhìn chung các công trình đó mới chỉ đi vào từng tác giả cụthể hoặc là Nguyễn Du hoặc là Đỗ Phủ, có chăng cũng chỉ là sự so sánh, liêntởng khi bàn về một vấn đề hoặc phân tích một số bài thơ Chúng tôi thấy, cha
có công trình nào thực sự đặt ra vấn đề nghiên cứu so sánh sự nghiệp sáng táccủa hai nhà thơ này Chọn vấn đề nghiên cứu so sánh thơ chữ Hán của Nguyễn
Du và Đỗ Phủ là luận văn mong đóng góp thêm một cách nhìn, một cách đánhgiá mới về sự tiếp xúc, ảnh hởng lẫn nhau giữa hai tác giả, trong khi nhiều vấn
đề của lý luận văn học so sánh đang còn ở bớc đầu
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ khái quát lại các công trình nghiên cứu về thơ chữ HánNguyễn Du và thơ Đỗ Phủ để thấy đợc vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp sángtác của hai ông
Tìm hiểu các điểm tơng đồng và khác biệt giữa cuộc đời, thời đại củahai nhà thơ để thấy đợc mức độ ảnh hởng của các yếu tố trên đối với sự nghiệpsáng tác của hai ông
Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu cách nhìn về cuộc đời, thời đại của hai nhàthơ để chỉ ra sự giống và khác nhau trên phơng diện chủ đề, cảm hứng sángtác Đó là cách nhìn nhận mang tính nhân văn về con ngời của hai nhà thơ
Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu sự ảnh hởng về mặt thi pháp, nhằm chỉ ranhững điểm tơng đồng và khác biệt về hình thức, thể loại trong thơ chữ Háncủa hai nhà thơ Chúng tôi cũng hy vọng những kết quả nghiên cứu này sẽ gópphần vào việc nghiên cứu, học tập và phục vụ cho công tác giảng dạy ở trờngphổ thông
4 Đối tợng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu là cá tính sáng tạo, phong cách sáng táccủa hai thi hào trong cái nhìn so sánh, đối chiếu với nhau Nguồn dữ liệu màchúng tôi dùng là toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du đợc tập hợp lại trong
công trình Nguyễn Du toàn tập - tập1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996 và non
nghìn rỡi bài thơ của Đỗ Phủ đã đợc dịch ra tiếng Việt in rải rác hoặc tậptrung trong một số công trình sau:
1 Thơ Đờng, (tập 1), Nam Trân tuyển thơ, Hoa Bằng Tao Trang
-Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích, Nxb Văn hoá - Viện Văn học, 1962
Trang 82 Thơ Đỗ Phủ, Nhợng Tống dịch, GS Lê Đức Niệm su tầm, giới thiệu,
Nxb, Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1996
3 Đờng Thi tuyển dịch (tập 1), Lê Nguyên Lu, Nxb Thuận Hoá, 1997.
4 Đỗ Phủ - nhà thơ thánh với lịch sử hơn 1000 bài thơ, Phan Ngọc,
Nxb Văn hoá Thông tin - Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2001
5 Thơ Đỗ Phủ, Kiều Văn tuyển và giới thiệu, Nxb Thanh Niên, 2004.
5 Phơng pháp nghiên cứu
So sánh thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ là một đề tài liên quan
đến nhiều vấn đề nh thời đại, lịch sử, văn hoá, thể loại, nội dung t tởng… Vìvậy, để đề tài không chỉ bó hẹp trong các tập thơ chữ Hán của hai tác giả màcòn liên quan đến các công trình nghiên cứu khác Để hoàn thành nhiệm vụ
đặt ra chúng tôi áp dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phơng pháp thống kê, tổng hợp nhằm tổng hợp các ý kiến của cácnhà nghiên cứu trong các bài viết, các công trình nghiên cứu, các sách chuyênkhảo đã có thể làm t liệu nghiên cứu đề tài
5.2 Phơng pháp so sánh, đối chiếu để thấy sự tơng đồng và khác biệtgiữa hai nhà thơ
5.3 Phơng pháp phân tích văn học, phơng pháp loại hình, phơng phápkhái quát hoá và một số phơng pháp khác
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi
Trang 9Chơng 1
Cuộc đời, thời đại và sự nghiệp sáng tác
của Nguyễn Du và Đỗ Phủ trong cái nhìn so sánh
1.1 Sơn hà thay đổi - dâu bể trăm năm hay chính là thời đại của hai ông
Xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷXIX là giai đoạn khủng hoảng và bùng nổ dữ dội những mâu thuẫn chất chứabấy lâu trong lòng xã hội phong kiến Chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 -1672) đã phá hoại nghiêm trọng sự thống nhất đất nớc Thế kỷ XVIII, nộichiến đã chấm dứt nhng nền nông nghiệp lại bị đình đốn, nạn đói tràn lan.Vua chúa, quan lại, hoàng thân quốc thích lo ăn chơi, hởng thụ, sống xa hoatrên mồ hôi nớc mắt của ngời dân lao động cùng cực Thế kỷ XVIII là một thế
kỷ đầy đau thơng, oan nghiệt đối với vận mệnh con ngời nhng cũng là thời kỳhào hùng quật khởi của các cuộc khởi nghĩa nông dân đánh vào bọn quan lại,
địa chủ và toàn bộ triều đình phong kiến thối nát, nhằm thoát ra khỏi cuộcsống lầm than, cơ cực Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị vànhân dân lao động đã bị đẩy lên đến đỉnh điểm, không thể điều hoà nổi, chứng
tỏ bản chất phản động, thối nát của xã hội phong kiến, kinh tế trì trệ nạn đóitràn lan, nông dân bần cùng, xóm làng phiêu tán Vấn đề bức thiết đặt ra ngaylúc này là cơm áo và ruộng đất cho dân cày Nguyễn Du sinh ra đã phải chứngkiến cảnh triều đình dành dật, thay bậc, đổi ngôi quanh chiếc ngai vàng thốinát và đẫm máu Đó là một phen “sẩy đàn tan nghé”, cục diện sụp đổ mộtcách thảm hại không gì cứu vãn nổi Ông đã ý thức rất rõ về thân phận củamình
“Một phen thay đổi sơn hà,Mảnh thân chiếu lá biết là về đâu.”
Chiêu hồn thập loại chúng sinh
Cũng không khác gì Nguyễn Du, Đỗ Phủ sinh ra lúc triều đại nhà Đờngchuyển dần từ thịnh sang suy Đời Đờng (713 - 741) đứng trớc hai nguy cơ:Triều chính đổ đốn và các cuộc chiến tranh xâm lợc, các cuộc nội chiến nhloạn An Lộc Sơn - Sử T Minh (loạn An Sử), loạn quân Thổ phồn Vua chúa lo
mở rộng đất đai, gây chiến tranh khai biên với dị tộc Năm 712 Huyền Tônglên ngôi, đất nớc hoà bình thịnh trị nh thời Khai nguyên thiên bảo nhng chẳng
đợc bao lâu thì Huyền Tông trở nên hoang dâm vô độ, say mê Dơng Quý Phi
Trang 10và giao mọi việc cho Dơng Quốc Trung (anh trai Dơng Quý Phi) cai quản,giao chính sự cho bọn quyền thần tham nhũng, giao biên giới cho tớng tá thíchchiến tranh để vơ vét của cải Vì thế mà ở biên giới thế lực của các tiết độ sứngày càng lớn mạnh Còn ở địa phơng, địa chủ lại tăng cờng chiếm đoạt ruộng
đất gây nên sự tan rã của chế độ quân điền Nhân dân khổ cực vì tô thuế, binhdịch cho nên mâu thuẫn giai cấp giữa toàn thể nhân dân lao động và nhà nớcphong kiến ngày càng trở nên sâu sắc không thể điều hoà nổi
Với ngời dân lao động Việt Nam cũng nh Trung Quốc thì đây là một cơhội lớn để “tháo cũi sổ lồng”, giải phóng bản thân và t tởng bị kìm kẹp, đứnglên vạch mặt bọn quan lại bịt bợm, vua chúa tàn ác Thể hiện khao khát đợcgiải phóng mình cũng nh khao khát về hạnh phúc cá nhân, từ đó mà vơn lên
để tự khẳng định mình Nhng Nguyễn Du vẫn không thấy thời đại này khôngkhác gì thời đại Khuất Nguyên
Hồn nhợc quy lai đã vô thác,Long xà quỷ vực biến nhân gian
Ngũ nguyệt quan cạnh độ
(Hồn có trở về không chốn ở,Cõi ngời đầy ắp quỷ ma chờ.)
Đỗ Phủ lại thấy Huyền Tông là ông vua thiếu đức, đã bị Dơng QuốcTrung lợi dụng để che đậy cho An Lộc Sơn hoành hành, khiến cuộc sống dântình không lấy gì làm yên ổn:
Vầng nhật nguyệt giờ đây bị tối,Ngoài đồng toàn chim gọi thú kêu
Ngời quân tử mãi lo nghèo,
Kẻ thơng dân chạy cách nào đợc yên
Ngày Trùng Cửu gửi Sầm Tham
Đứng trớc cảnh đó, Nguyễn Du cũng nh Đỗ Phủ luôn đồng cảm và xótthơng cho mình, xót thơng cảm cảnh cho những số phận bị đày đoạ, hắt hủi,bênh vực những kẻ thấp cổ bé họng, chịu nhiều áp bức bất công dới chế độphong kiến
Tháng 11 năm Thiên Bảo thứ 14 (755) là một ngày đẫm máu nhất tronglịch sử Trung Hoa mở đầu cho loạn An Lộc Sơn và Sử T Minh với chiêu bàikhởi nghĩa giết Dơng Quốc Trung chống lại nhà Đờng nhng thực tế là muốn c-
ớp ngai vàng Huyền Tông cùng triều đình bỏ chạy sang Tứ Xuyên nhng đếnMã Ngôi (Thiểm Tây), thì theo yêu cầu của quân sĩ, Huyền Tông cho giết D-
Trang 11ơng Quốc Trung và Dơng Quý Phi để lại loạn An Lộc Sơn kéo dài chín nămlàm nhân dân Trung Hoa chết 36 triệu ngời (70%) và Dơng Quý Phi là kẻ gâynên tai hoạ này.
An Lộc Sơn chiếm đợc Trờng An nhng cũng từ đó nội bộ lại xảy ranhững vụ chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi Nhà Đờng đã tập hợplại lực lợng, mợn viện binh của tộc Hồi Ngột đánh chiếm lại Trờng An nhng
đến năm 759 thì Lạc Dơng lại rơi vào tay quân phiến loạn Năm 762, dới sựgiúp đỡ của quân Hồi Ngột, nhà Đờng thu phục lại đợc giang sơn, quân phiếnloạn tan rã, nhiều tớng lĩnh phải đầu hàng Cuộc chiến tranh đi qua đã để lạihậu quả nặng nề, nhiều vùng dân c hoang vắng, không có bóng ngời, đánh dấubớc chuyển từ thịnh sang suy của nhà Đờng Từ đó về sau vua làm bù nhìn,giao triều chính cho bọn hoạn quan lũng loạn, tự ý phế lập, khống chế các vuaquan Còn ở địa phơng thì thế lực của các tiết độ sứ ngày càng lớn mạnh và trởthành các cát cứ độc lập, không chịu sự quản lý của chính quyền trung ơng
Loạn An Lộc Sơn vừa dứt thì quân Thổ Phồn lại nổi lên Quân ThổPhồn vốn là tiền thân của Tây Tạng trở thành quốc gia thống nhất, hùng mạnhvào thế kỷ thứ VII, đã nhiều lần đánh bại nhà Đờng Năm 763, sau khi chiếm
đợc một vùng đất rộng lớn của Trung Quốc, Thổ Phồn đem 20 vạn quân đi
c-ớp phá Trờng An 15 ngày
Đời Đờng lắm cay đắng nhng cũng có nhiều ngời tài Nhiều ngời tài mà
đành để cho đất nớc loạn lạc Dân phải chết cho những kẻ biết việc mà bó tay.Chiến tranh xảy ra liên miên, chiến tranh khai biên cha dứt thì nội chiến lạixảy ra, dân tình phải khổ quanh năm vì quan lại, gian thơng:
Năm ngoái gạo đắt nộp quân hết,Năm nay gạo hạ nhà nông thiệt
Quan sang rợu thịt chán quá rồi,Dân đành nhà không, khung cửi ngơi
Bài hành năm muộn
Mạnh Tử nói: “Cớp đợc đất thì ngời chết đầy đất, cớp đợc thành thì xácchất đầy thành” Đời Đờng cực thịnh nhng cũng cực suy Loạn An Lộc Sơn cótác dụng làm rạn vỡ cơ cấu chế độ phong kiến, mở đờng cho sự phát triển tiền
t bản chủ nghĩa nên lịch sử Trung Hoa đời Đờng là những trang đẫm máu vànớc mắt Đỗ Phủ thấy đời ngời thì ai cũng quý nh nhau Dơng Quý Phi thíchvải, thế là vải từ Giao Chỉ đợc đa về Tràng An mà còn phải tơi nguyên thì thật
là vô lý Bao nhiêu ngời đã chết gục trên đờng để đổi lấy vị ngon trên môi
Trang 12ng-ời đẹp Tại sao phải phí đng-ời ngng-ời này để thoả mãn sở thích ngng-ời khác một cáchvô nghĩa lý Rồi các cuộc chiến tranh chiếm đoạt ngôi báu giữa các tập đoànthống trị xảy ra liên miên nên nhân dân không những khổ vì chiến tranh màcòn khổ về việc bị các tập đoàn thống trị phong kiến bóc lột để phục vụ chiếntranh nên mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt Đỗ Phủ
phản ánh điều đó trong chùm thơ Tam lại, Tam biệt Từ vơng phi, mệnh phụ
đến các cung tần, mỹ nữ, quốc sắc thiên lơng nh: Hằng Nga, Chiêu Quân,Trác Văn Quân, Dơng Quý Phi, Khơng Thi… đều chịu cảnh ấy
Trong sự loạn lạc của xã hội thì văn học nghệ thuật lại có nhiều cơ hội
để phát triển Văn học là nhân học “Vật cùng tắc minh”, con ngời khổ qua thìkêu lên tiếng nói đòi quyền sống
Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX bớc vào một giai đoạn phát triểnmới rực rỡ, phong phú và đạt đến đỉnh cao với tên tuổi và sự nghiệp củaNguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát…Vốn là một công tử quý tộc nhngNguyễn Du cũng phải nếm mùi ngục tù, trốn tránh lao lung Bão táp thời đại
đã dặt ra nhiều vấn đề bức thiết của đời sống nh mâu thuẫn giai cấp, mâuthuẫn dân tộc, vận mệnh của con ngời khi đứng trớc lịch sử Là một nhà vănlàm chứng cho nỗi đau khổ của nhân dân, sống gần gũi với nhân dân nênNguyễn Du rất cảm thông với họ mà viết nên những bài thơ bất hủ Thời kỳloạn lạc đặt nhà thơ trớc những thử thách khắc nghiệt Vốn đa sầu, đa cảm,nhà thơ thấy cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay Đó là nguồn cảm hứng vô tận vàyêu cầu thi nhân đi sâu vào đời sống hiện thực Vì thế thơ Đờng là sự kế thừa
và phát triển đến đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc hơn mời thế kỷ (Từ Kinh Thi, Sở Từ) Sinh ra trong một gia đình quý tộc nhng lại đợc chứng kiến sự sụp
đổ đau lòng của luân thờng đạo lý phong kiến, khuôn vàng thớc ngọc bị xáotrộn, bị phá bỏ nên nhà thơ đâm ra u uẩn Đỗ Phủ đã nhiều lần lên án cái gi-ờng ngủ của ông vua, ông thấy số phận của đất nớc đợc quyết định trên cái gi-ờng của ông vua và cái giờng đó có sức mạnh hơn trăm ngàn quân chiến Khicái giờng phát huy sức mạnh thì nó sễ để lại hậu quả vô cùng nặng nề Tơng
tự, Quận Huy phải kéo móc sắt đi khắp các chợ và sẽ cắt lỡi ai hát câu rằng:
Trăm quan có mắt nh mờ,
Để cho Huy quận vào sờ chính cung
Đó cũng là một thế kỷ đàng điếm giữa Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ,
đàng điếm từ cung vua, phủ chúa, quan lại cho tới thằng lính, đã làm cho cả xã
Trang 13hội xáo trộn, tan rã trong sự thối tha, bẩn thỉu Quan lại triều đình ngang nhiên
đi cớp của giữa ban ngày, hãm hiếp đàn bà, con gái ngay trên đờng phố giữabuổi tra, còn quân lính thì cứ gọi chúa ra mà mắng nh tát nớc vào mặt
Xã hội phong kiến Việt Nam xuống dốc và quay lại thù địch với nhândân không cách nào cứu vãn nổi Mọi trật tự xã hội bị đảo điên, thân phận conngời bị chà đạp đến mức tàn bạo Cuộc đời đối với Nguyễn Du thật là đángbuồn Cuộc đời từ nay sẽ là trung tâm của suy nghĩ, day dứt, xuất phát từnhững tâm sự, nghiền ngẫm về cuộc đời Năm 1786, chúa Trịnh ra lệnh “phátchẩn’’ lấy của ngời giàu chia cho dân nghèo, ngời ăn xin kéo đến thành đàn,thành lũ, xác ngời chết đói và trẻ con ngấp ngoải nằm đầy đờng, ngời ta cònnấu cả thịt chuột, thịt ngời để bán nh Phạm Đình Hổ đã ghi nhận Trong khi
đó triều đình lại cho ngời đi thu vét lúa gạo ở các tứ trấn và các tỉnh Thanh Nghệ trở vào Đông Hải chuẩn bị đánh Đàng trong Kinh thành Thăng Longcuối năm Đinh Mùi (1787) hết sức thê lơng và nặng nề Cảnh bắt bớ, đánh
-đập, khóc lóc, van xin diễn ra khắp nơi Triều đình “Rớc voi về dày mả tổ” thì
ra sức ăn chơi phè phỡn và trả thù những kẻ chống đối Tây Sơn
Thời đại Nguyễn Du cũng là thời đại giằng co quyết liệt của nhiều xuthế chính trị khác nhau Hệ thống giáo lý phong kiến có cơ hồ bị bung ra, bịxáo trộn tận gốc rễ và gây ra những khủng hoảng về tinh thần Thế lực phản
động tìm mọi cách phục thù, đòi lập lại tự do, công lý của trật tự “Bảo hoàng”
và sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của con ngời Nguyễn Du nhìn thấy sự thahoá trong tính cách, sự tan vỡ của những gì tốt đẹp nhất bởi mọi giá trị đang
biến đổi theo quá trình đi xuống nhất là tài năng và sắc đẹp trong Long Thành cầm giả ca hay là số mệnh nghiệp chớng kỳ oan trong Độc Tiểu Thanh ký:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,(Cổ kim mối hận trời khôn hỏi,)
Đứng trớc cuộc đời tang thơng, dâu bể, Nguyễn Du và Đỗ Phủ đã phản
ánh hiện thực đen tối của xã hội phong kiến đơng thời vào trong thơ ca Đó làchuyện các cuộc chiến tranh, nội chiến, khởi nghĩa nông dân gây cho nhândân sự chia ly và chết chóc Xã hội trở nên suy vi, tang thơng do chính sách trịdân của ông vua thối nát Dân đói lấy cám thay cơm, rau dại thay canh và ôngvua thì đổ lỗi cho mất mùa Đó là những bức tranh hiện thực bằng thơ màNguyễn Du và Đỗ Phủ đã ghi lại Thơ Đỗ Phủ đã đợc mệnh danh là “thi sử”,thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng là “thi sử” của nớc nhà Có đợc đặc điểm ấy là
do hai thi hào đã sinh ra ở hai thời đại khác nhau, xa cách nhau về thời gian
Trang 14nhng lại giống nhau ở bản chất giai cấp và chế độ xã hội Họ đều chứng kiếncảnh hoang tàn, mục nát của chế độ và thấm sâu nỗi đau khổ của dân tình Suyngời mà ngẫm vào ta Họ thấy mình cũng oan khuất không khác gì nhân dânnên họ đã đứng về phía nhân dân mà tuyên bố thơ ca là phục vụ quần chúnglao khổ để nói lên tiếng nói cùng khổ của nhân dân trong chiến tranh loạn lạc
và hoàn cảnh cuộc sống lầm than
1.2 Đờng đời, đờng thơ hay là thân thế và sự nghiệp của hai thi hào
Nguyễn Du sinh ngày 6/1/1766, mất ngày 16/9/1820, tự Tố Nh, hiệu làThanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, xã Xuân Tiên, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnhtrong một gia đình quý tộc lâu đời Cha là quận công Nguyễn Nghiễm, mộtmệnh quan, một sử gia, một nhà thơ Ông tự là Hy T, hiệu là Nghi Hiên, biệthiệu là Hồng C ẩn sĩ Mẹ là Trần Thị Tần con gái một ngời làm chức câu kê(kế toán) Quê bà ở làng Hoa Thiều, Huyện Đông Ngàn, Xứ Kinh Bắc Ngờidân Tiên Điền còn truyền nhau câu hát:
Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,Sông Rum hết nớc, họ này hết quan
Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, mời tuổi mồ côi cha, mờihai tuổi mồ côi mẹ, mời chín tuổi(1783) thi hơng đậu Tam trờng Nguyễn Du
đợc cha đem cho một ông quan họ Hà ở Thái Nguyên nhận làm con nuôi (ôngnày không có con trai) Khi cha nuôi mất, Nguyễn Du nối chức cha nuôi là võquan Thái Nguyên hùng hậu, hiệu Chánh thủ hiệu Thuở nhỏ ông đã nhiều lầntheo mẹ về quê Những câu ca, điệu hát dân gian Kinh Bắc đã thấm sâu vànuôi dỡng tâm hồn nghệ thuật của Nguyễn Du cho nên ông đã học đợc tiếngnói của quần chúng nhân dân và cảm thông với nỗi khổ đau của họ
Thôn ca sơ học tang oa ngữ,Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Thanh minh ngẫu hứng
(Ca thôn mới học câu canh cửi,Khóc nội nghe khơi chuyện chiến chinh.)Nhng ông lại lớn lên trong thời buổi nhiễu nhơng hỗn loạn Nơi nơiloạn lạc, tang thơng, chốn chốn điêu tàn, thống khổ
Sinh thời, ông học thuộc lòng những thi tập của Khuất Nguyên, Đỗ Phủ,
Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Tô Đông Pha… Nguyễn Du thấy suy nghĩ củamình rất giống suy nghĩ của những nhà thơ ấy Ông say mê thơ Khuất Nguyên
Trang 15vì nó vừa bi phẫn vừa uất ức, trong thơ có máu và nớc mắt, có sự u t và nỗi cô
đơn, có thân phận con ngời và vận mệnh dân tộc Thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch
C Dị… thì xót xa nh muốn xát vào lòng, là những tâm sự thầm kín không biếtbày tỏ cùng ai
Năm 1786 Vua Lê Chiêu Thống chạy sang cầu cứu nhà Thanh, ba anh
em Nguyễn Du chạy theo nhng không kịp Nguyễn Du về sống ở quê vợ xãHải An, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam (Thái Bình), sống ở nhà ngời anh
vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn Ông ra làm quan với Tây Sơn và mu tính việc “phụcquốc” nhng không thành Đây là khoảng thời gian mời năm gió bụi trong đờiNguyễn Du Sau khi ngời vợ họ Đoàn mất, ông về Hà Tĩnh, sống ẩn dật bảynăm lấy thú săn bắn, câu cá, xớng hoạ làm vui Tự đặt biệt hiệu là Hồng sơnhiệp lộ (ngời đi săn ở núi Hồng) và Nam hải điếu đồ (ngời đi câu ở biển Nam).Năm 1796 ông định vào Gia Định, giúp Nguyễn ánh nhng dự định cha thànhthì bị Tây Sơn bắt giam ba tháng sau đó mới đợc tha Ông lại trở về sống ởTiên Điền Nhng cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Tiên Điền lúc này đã bị Tây Sơnphá sạch Sinh ra trong một gia đình tể tớng quý tộc lâu đời nên hành độngcủa Nguyễn Du là hành động của một nhà nho trung quân không thờ hai chủnên ông mang tâm trạng cô trung:
Ngã hữu thốn tâm vò dữ ngữ,Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm
Mi trung mạn hứng
Tâm sự biết cùng ai giải tỏ,Non Hồng sâu thẳm nớc sông Lam
Và đó cũng là tâm sự của nhiều nhà thơ lúc bấy giờ đối với xã hộiphong kiến suy tàn, loạn lạc Đó cũng là tấn bi kịch sâu sắc bao trùm lên toàn
bộ đời sống xã hội Nguyễn Du đã đem căn bệnh của thời đại ra làm căn bệnhcủa chính mình Những mâu thuẫn xã hội không đợc giải quyết đó đã tích tụthành nỗi u uẩn trong tâm hồn Nguyễn Du Ông bắt đầu sáng tác từ năm haimơi mốt tuổi đến năm bốn mơi chín tuổi (trớc lúc chết năm năm) Thơ chữHán chính là tâm hồn ông, con ngời ông - đau buồn, u t thời mẫn thế
Theo Đại nam chính biên liệt truyện thì thời gian Nguyễn Du ra là quan
cho nhà Nguyễn là thời gian bất đắc chí Giữ chức Tri huyện Phù Dung rồi
đ-ợc thăng chức Tri phủ Thờng Tín, chức Đông các đại học sĩ, Tớc Du đức hầu
Đến năm 1809 ông đợc bổ làm Cai bạ ở Quảng Bình Đây là khoảng thời gian
Trang 16Nguyễn Du viết ra những bài thơ não ruột nhất, nghe nh tiếng thở dài đang lo
âu, trằn trọc vào lúc nửa đêm Ông chứng kiến nhiều cảnh chết đói xảy ra liênmiên ở đằng ngoài nhất là ở vùng Nghệ Tĩnh, Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam d-
ới thời Lê - Mạc Thơ ông vẽ lại y nguyên cái thân phận nghèo khó, túng quẫnsuốt mấy chục năm trời
Cuộc đời Đỗ Phủ cũng là một cuộc đời chịu lắm bất công, nhiều oantrái Ông sinh ngày 1/1/712 tại huyện Củng, tỉnh Hà Nam Cha là Đỗ Nhàn,một viên quan huyện Mẹ là ngời họ Thôi, ở Thanh Hà, con gái Thôi Dung, làmột dòng họ lớn có quan hệ với Đờng Thái Tông Ông nội của Đỗ Phủ là ĐỗThẩm Ngôn (648 - 704), một trong bốn nhà văn lớn nhất đầu đời Đờng “Vănchơng tứ hữu” - bên cạnh Lý Kiền, Thôi Dung, Tô Vĩ Đạo Truyền thống gia
đình nội, ngoại đã đào tạo Đỗ Phủ thành một con ngời trung quân, tìm côngdanh bằng con đờng văn chơng thi cử, tôn thờ đạo nho để làm quan Ông suốt
đời ôm mộng “chỉnh lý càn khôn”, giúp vua vợt Nghiêu, Thuấn Thuở nhỏ, ĐỗPhủ sống với cô Bùi, làm thơ từ năm sáu tuổi, chín tuổi đã học viết đại tự Sứchọc “Đọc bay vạn quyển sách, đi hết vạn dặm đờng”, mời bốn tuổi bắt đầugiao du với các danh sĩ Thuở nhỏ, ông đã rất nghịch ngợm, biết viết nhiều bàithơ tự sự theo bút pháp T Mã Thiên, kể về những cuộc giao chiến, đời sốngnơi biên ải và đã sớm làm bá chủ thi đàn Hoa Hạ Năm ba mơi tuổi ông lấy vợ
họ Dơng, con gái Dơng Phi làm T Nông Thiếu Khanh, ở Đông Đô, bà là ngời
đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Đỗ Phủ Năm ba mơi mốt tuổi, hai ngời thânyêu nhất của ông là cha và cô Bùi qua đời
Đỗ Phủ hai lần lên Tràng An đi thi vào năm 736, 747 nhng đều không
đỗ Vì khí phách cao ngạo, thích phá khuôn khổ, xem nhẹ tài năng của KhuấtNguyên, Tống Ngọc, cho mình là ngang hàng với Dơng Cố, Ban Hùng Ôngviết văn theo lối Dơng Hùng, hóc hiểm làm quan trờng không chấm nổi.Chính Lý Lâm Phủ cũng phải ghi vào bên cạnh bài thi hai chữ “áp quyển”,(Bài thi áp đảo mọi bài thi từ trớc tới giờ) Nhng mặt khác, Lý Lâm Phủ
“Miệng nam mô bụng bồ dao găm” đã đánh trợt tất cả để chứng minh mình lànhân tài, rằng ngời tài trong thiên hạ đã hết, mặc cho các nhà thơ sống langthang phiêu dạt Hắn nói với Huyền Tông là “Dã vô di hiền” (trong thiên hạkhông còn ngời tài nữa, anh hùng trong thiên hạ đã vào tay áo nhà vua) nên
Đỗ Phủ đã phải sống mời năm phiêu bạt ở Trờng An Năm 751, Huyền Tông
cử hành ba cuộc lễ tế trời, tổ tiên và Thái Thợng Huyền nguyên Hoàng đế
Trang 17(Lão tử) Đỗ Phủ dâng “tam lệ đại phú” Vua ra lệnh ghi tên ông vào “Tậpgiám viện” để bổ nhiệm chức quan, nhng Lý Lâm Phủ vẫn để cho ngày thánghững hờ trôi qua, mãi đến tháng 10 năm 755, Đỗ Phủ mới đợc bổ đi Hà Tâygiữ chức huyện uý (thu thuế) nhng ông từ chối và sau đó lại đợc bổ làm chứcHữu vệ suất phủ kinh tào tham quân (giữ kho vũ khí) Ngày 16/5/757 Đỗ Phủ
đợc bổ làm chức Tả thập di, ở gần can gián nhà vua, góp phần chấn hng sự tồnvong của đất nớc Trong thời gian làm quan bốn năm, ông không những không
đợc thăng chức mà lại bị mắng nhiếc, giam cầm, may mà không chết Đỗ Phủthờng chỉ ra những thiếu sót của nhà vua mà không tán tụng nên không đợcvua u ái lắm
Tháng 6 năm 758, Đỗ Phủ đợc cử làm T công tham quân ở Hoa Châu(lo về tế tự, dạy học, trông coi các trờng học), ông đã đổi một chức quan to mànhận lấy một chức thấp hèn để góp phần vào việc cai trị đất nớc Nhà thơ dân
đen đã tích luỹ kiến thức lịch sử, văn hoá, kinh tế, chính trị suốt cả cuộc đời để
lo lắng cho số phận của ngời dân cho nên đến năm 761, ông từ quan ớc mơ cảcuộc đời tan vỡ, đi thi từ năm hai mơi ba tuổi, bốn mơi ba tuổi đợc bổ làmquan sau mời năm chờ đợi Sau đó ba năm, bốn mơi lăm tuổi mới nhận đợc
đồng lơng đầu tiên thì lại phải rút lui Cuộc sống từ nay sẽ là đói rét, bệnh tật
và kéo theo cái chết của cả gia đình Ông không trốn quan để đi ẩn mà để làmngời dân, trở thành dân đen Gia đình ông sẽ lo cày, cuốc, làm nơng Cuộcsống thôn dã của dân nghèo sẽ cu mang Đỗ Phủ
Nguyễn Du cũng không khác gì Đỗ Phủ Ông đỗ không cao, chỉ kếchân ông bố nuôi họ Hà giữ một chức quan nhỏ Cuộc sống mời năm gió bụi ởquê vợ Thái Bình, ăn nhờ ở đậu, nay đầu sông, mai cuốc bể, ốm đau liên miên,nghèo không tiền mua thuốc Ông cha đến mức nh Đỗ Phủ là trời rét vác maivào núi đào củ hoàng tinh ăn cho đỡ đói nhng cũng không kém phần giantruân Cho nên dù thuộc tầng lớp trí thức thống trị nhng ông lại có những tìnhcảm nồng thắm với dân nghèo Năm 1813, ông đợc thăng chức Cần chánh
điện học sĩ, làm chánh sứ phái bộ đi tuế của cống nớc ta sang Trung Quốc
Đất nớc Trung Hoa bao la cổ kính, Nguyễn Du gặp những di tích của quá khứ,những pho lịch sử bi thảm của mấy nghìn năm phong kiến sống lại với nhà thơqua từng di tích ấy Đó cũng chính là hiện thực và lịch sử của đất nớc Việt
Nam lúc bấy giờ Tiếng khóc theo thời đại trong bài Thăng Long cũng là tiếng
khóc cho cuộc đời chìm nổi, dâu bể, biến hoá Ngôi nhà đồ sộ năm xa nay
Trang 18thành đờng cái, cung điện ngày xa nay là một dải mới xây, cô gái ngày xa naythành bà già, con bồng, cháu bế, bạn bè thời trẻ nay tan tác, kẻ mất, ngời còn.
Đó âu cũng là chuyện bãi bể nơng dâu nhng nhuốm màu hoài cổ
Thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Du là nơi chứa đựng, tập trung mọi nỗi đau khổcủa dân đen Nguyễn Du mời năm lu lạc ở Thái Bình, bảy năm ở Hà Tĩnh thì
Đỗ Phủ cũng không hề yên ổn Ông đã phải lênh đênh trôi dạt nhiều nơi nh:Tràng An, Đồng Cốc, Thành Đô, T Châu, Lăng Châu, Quỳ Châu, Giang Lang,Công An, Động Đình, Đàm Châu, Hành Châu và kiếm sống bằng cách bánthuốc, đổi thơ lấy gạo cho các quan lại Thời kỳ ông làm quan cho Nghiêm Vũtrên đất Thục là lần đầu tiên tiếng nói của mình có ngời nghe thì cũng chỉ đợcmột năm rồi ông lại phải quay về với cuộc sống ruộng vờn và chết trên mộtcon thuyền rách nát ở bến sông Tơng vào mùa đông năm 770 Cuộc đời ĐỗPhủ rất giống cuộc đời Nguyễn Du, đó là hai cuộc đời đầy éo le bất hạnh, long
đong, lận đận trên con đờng hoan lộ Hai lần đi thi đều bị đánh trợt, rồi lạilang thang, phiêu dạt khắp nơi, đói rét, cực khổ, có lúc phải đi xin ăn, rồi chếttrong cảnh tha phơng cầu thực
Nếu tâm sự của Nguyễn Du trớc sau vẫn là tâm sự của một ngời bất đắcchí, bế tắc, cô đơn ngày càng sâu sắc và tột đỉnh rồi đi đến chỗ thất chí, tìmliều thuốc xoa dịu vết thơng lòng trong Nho, Phật, Đạo giáo, thể hiện trong
các bài nh: Sơn thôn, Mộ xuân mạn hứng, Đạo ý…thì cho đến cuối đời ĐỗPhủ vẫn nuôi chí hớng xây dựng một nền thơ ca mới, kéo nó trở lại với thời
thịnh trị Trong bài thơ cuối đời: Gió thổi mạnh trong thuyền ôm gối bộc lộ nỗi lòng, ông đã thể hiện nó nh một tâm sự, một lời di chúc để lại cho ngời đời
sau Đây là điểm khác biệt lớn trong cuộc đời và sự nghiệp thi ca của hai đạithi hào Đỗ Phủ càng đến cuối đời càng tỏ ra tha thiết với đời bao nhiêu thì
Nguyễn Du lại thấy thẹn thùng, bi quan, chán nản bởi cuộc sống ăn nhờ ở đậu,
làm ông nuôi chí “phục quốc” mà không thành Ông thấy cuộc đời nh mộtcanh bạc, trăm năm là chớp mắt mà mở mắt là giấc chiêm bao với bao nhiêumệt mỏi chán chờng nên ông đặt nỗi đau của mình vào nỗi đau chung với sốphận của các văn nhân tài tử trong thiên hạ: “Phong vận kỳ oan ngã tự c-
,”(Phong vận niềm oan khách khó từ - Độc Tiểu Thanh ký).
Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mệnh lên nối ngô, cử ông làm Chánh
sứ sang cầu phong (xin nhà Thanh phong Vơng cho vua mới Minh Mệnh)
nh-ng cha kịp lên đờnh-ng thì lâm bệnh qua đời tại Kinh (Huế), vào nh-ngày 16 thánh-ng 9
Trang 19năm 1820 Hoàn cảnh cuối đời của Nguyễn Du rất giống Đỗ Phủ, suốt ngàybếp không khói lửa ngồi nhìn hoa cúc vàng ngoài sân cho qua bữa Khi ốmnặng ông không chịu uống thuốc, bảo ngời nhà sờ tay, chân thì họ nói lạnh cảrồi và ông đã ra đi không trăng trối điều gì.
Điểm chung trong thơ Nguyễn Du và Đỗ Phủ là đã khắc họa một cách
đầy đủ và sắc nét cuộc đời và thời đại của hai ông Cái vĩ đại trong thơ của haithi hào là tình yêu mến nhân dân, đồng tình với nhân dân Chu Lân đánh giá
Đỗ Phủ là: “Đỗ Phủ đọc hết các sách, làm thơ giỏi, mênh mông, bát ngát, đủcả muôn hình vạn trạng” Đỗ Phủ và Nguyễn Du đã từng sống với nhân dânqua cảnh đói nghèo, loạn lạc Cuộc sống đó giúp nhà thơ thấy rõ bộ mặt củagiai cấp thống trị và thấm thía nỗi đau khổ của nhân dân Vì lòng yêu n ớc th-
ơng dân nên thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Đỗ Phủ đã phản ánh một cáchsắc nét những áp bức bất công cũng nh những khổ cực mà ngời dân phải gánhchịu, phải rên xiết dới ách thống trị tàn nhẫn Từ đó mà làm nổi bật mâu thuẫntrong lòng xã hội phong kiến Giai cấp quý tộc sống xa hoa hởng lạc, ở lầuson gác tía, mặc áo gấm, lụa là, lãng phí, đồi bại để lại cho dân tình nỗi đaukhổ liên miên Có thể nói Đỗ Phủ và Nguyễn Du là hai cuộc đời trong hai thời
đại giống nhau, đầy máu và nớc mắt đau thơng
1.3 Khái quát những tơng đồng và khác biệt về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp hai đại thi hào
Đỗ Phủ là nhà thơ vĩ đại, sự nghiệp thơ ca của Đỗ Phủ đến nay vẫn cònnguyên giá trị Năm 1962, hội đồng hoà bình thế giới kỷ niệm Đỗ Phủ với tcách là đại thi hào của nhân loại tiến bộ Hồ Chí Minh trong di chúc để lạicũng đã nhắc đến: “Đỗ Phủ là ngời làm thơ rất nổi tiếng đời Đờng” Thơ ônglay động lòng ngời, trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử nhng nó vẫn réorắt nh cây đàn muôn điệu, có âm hởng vang xa trong lòng hậu thế Là nhà thơcủa dân tộc Trung Hoa, nhng Đỗ Phủ không hề xa lạ đối với văn nhân ViệtNam Nguyễn Trãi dành rất nhiều sự u ái, đồng cảm với nỗi cô trung của ông:
Sầu nặng Thiếu Lăng biên đã bạc
Thuật hứng 5
Và ông buồn cho nỗi cô trung của Đỗ Phủ:
Tử Mỹ cô trung đờng nhật nguyệt
Mạn hứng
Trang 20Là một ngời làm thơ, phục vụ cho cuộc chiến đấu chống giặc ngoạixâm, Nguyễn Trãi luôn đề cao lòng yêu nớc của Đỗ Phủ:
Đỗ Phủ vị bắc nào quên,Quảng Ninh còn trọ ở miền Liên Đông
Gửi bạn
Đó là tâm sự của hai nhà thơ có tấm lòng cô trung với nớc nhng lại ởhai thời đại, hai hoàn cảnh khác nhau Còn Nguyễn Du là ngời khâm phục vàhiểu Đỗ Phủ hơn ai hết Trong lần đi sứ Trung Quốc qua ngôi mộ giả của ĐỗPhủ ở Lỗi Dơng (nhân dân Lỗi Dơng đắp để tởng niệm Đỗ Phủ), Nguyễn Du
đã xúc động viết bài Lỗi Dơng Đỗ Thiếu Lăng mộ và trong nhiều bài thơ khác
ta cũng thấy phảng phất hơi thơ của Đỗ Phủ Sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Ducòn có Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn…đều chịu
ảnh hởng của thơ Đỗ Phủ Nguyễn Khuyến là ngời tiếp thu tích cực tinhthần nho giáo trong thơ Đỗ Phủ để chống lại xã hội phong kiến thực dânthối nát dới triều Nguyễn Ông có nhiều bài thơ giống với thơ Đỗ Phủ nh :
Quai mễ thanh liêm đã vỡ rồi với Xuân dạ hỷ vũ, Ký đồng niên ngô cử nhân
và Thu hứng …
Trên thế giới không có một nền văn hoá nào lại tồn tại cô lập, khôngchịu sự tác động của môi trờng, hoàn cảnh xã hội Văn học là một bộ phận vănhoá, thế tất cũng nằm trong bối cảnh đó Con ngời muốn sống thì cần phải cóvăn hoá và văn học, cần phải thúc đẩy sự giao lu hội nhập, để học tập lẫnnhau, cho nên, việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để xây dựng một nềnvăn học dân tộc là nhu cầu bức thiết
Văn hoá, văn học Hán của ngời Trung Hoa đã trải qua hàng ngàn nămlịch sử Việt Nam là một trong những nớc tiếp nhận cái hay, cái đẹp của vănhọc Hán để xây dựng nền văn học dân tộc nhng đồng thời cũng chống lại sự
đồng hoá Văn học Việt Nam viết bằng chữ Hán đợc hình thành trong quátrình dựng nớc và giữ nớc Từ đời Hán, phong kiến Trung Quốc đã dạy chữHán cho ngời Việt Nam nhng ngời Việt Nam lại ra sức chống lại sự đồng hoácủa ngời phơng Bắc Mãi đến khi đất nớc có nền độc lập thì cha ông ta mới sửdụng chữ Hán vào việc ghi chép văn bản, chiếu, chỉ và từ đó mới trở thành chữviết cung đình Rồi chữ Nôm ra đời tạo thêm điều kiện sáng tác cho các nhànho Từ Nguyễn Trãi về sau các nhà thơ, nhà văn đều sáng tác bằng cả hai thứchữ Hán và Nôm Họ đã đứng trên tinh thần dân tộc để tiếp thu tinh hoa văn
Trang 21học chữ Hán, thể hiện lòng yêu nớc, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc vàsáng tạo ra nền văn học dân tộc.
Thơ Đờng Trung Quốc là đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc Vănhoá đời Đờng nh vờn hoa, trăm hoa đua nở, có ảnh hởng đến các nớc xungquanh, trong đó có Việt Nam Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc có điềukiện gần gũi về địa lý, sự tơng đồng trong sinh hoạt, tâm lý nên ngời ViệtNam dễ tiếp nhận sự ảnh hởng của nền văn hoá, văn học Hán Mặt khác ViệtNam và Trung Quốc là hai nớc có mối quan hệ văn hoá lâu đời Nền văn họcviết bằng chữ Hán của ngời Việt Nam chịu ảnh hởng của nền văn học chữ Háncủa Trung Quốc ở Trung Quốc, các thể thơ đến đời Đờng thì đã hình thànhniêm, luật, vừa súc tích, vừa chặt chẽ, cô đọng mà có sức sống mãnh liệt, cácnhà thơ trung đại Việt Nam coi thơ Đờng là mẫu mực và sử dụng nó một cáchsáng tạo Họ tiếp thu cái thần và cái tứ nhng lại mang tính sáng tạo, mợn cáchtả cảnh Trung Quốc về tả cảnh Việt Nam với một tâm hồn bay bổng, ngangtàng nh muốn ôm cả vũ trụ vào lòng mình
Nguyễn Du là nhà thơ chịu ảnh hởng sâu đậm của thơ Đờng Ông tiếpthu trên tinh thần “Tiên thiên hạ chi u, nhi u, Hậu thiên hạ chi lạc, nhi lạc” của
Đỗ Phủ Tất cả những gì tinh tuý nhất của văn học chữ Hán Trung Quốc từKinh Thi, Khuất Nguyên đến Đờng Thi đều đi vào thơ Nguyễn Du qua cáchdùng điển, dùng thể, cách tả tình, tả cảnh, không gian, thời gian, ngôn ngữ…tạo nên những tác phẩm mang tính dân tộc đậm đà Khi đi sứ sang TrungQuốc, nhìn dòng sông Mịch La chảy mãi vào hồ Động Đình, ông đã thắp h-
ơng tởng niệm và nhỏ lệ thơng xót Khuất Nguyên trong bài Tơng Đàm điếu Tam L đại phu Với tấm lòng nhân ái bao la, Nguyễn Du đã khóc cho hai thi
hào lỗi lạc bậc nhất Trung Hoa là Khuất Nguyên và Đỗ Phủ, hai ông đã gópphần đa thơ chữ Hán Trung Quốc lên đỉnh cao vời vợi Thơ chữ Hán củaNguyễn Du không những uyên bác mà còn thể hiện lòng u ái đối với các bậctiền bối vĩ đại bậc nhất
Nguyễn Du và Đỗ Phủ sống ở hai thời đại xa nhau, cho nên cuộc đời và
sự nghiệp sáng tác của hai ông, bên cạnh những nét tơng đồng, thể hiện cái
“Đồng thanh tơng ứng, đồng khí tơng cầu”, “Đồng bệnh tơng liên” ra, còn cónhững nét khác nhau rất cơ bản Việt Nam và Trung Quốc là hai xứ sở với hainền văn hoá giàu bản sắc khác nhau Trung Hoa là xứ sở của những điều vĩ
đại, là cái nôi của nền văn hoá phơng Đông Mặc dù văn hoá, văn học Việt
Trang 22Nam chịu ảnh hởng, chi phối của nền văn hoá, văn học Trung Hoa nhng lốisống, phong tục, tập quán thì lại khác nhau, từ đó dẫn đến những điểm khácnhau trong cách cảm, cách nghĩ về con ngời, về thiên nhiên và vũ trụ Thời đạiNguyễn Du không có chiến tranh khai biên, cát cứ nhng lại xảy ra các cuộcnội chiến liên miên, tranh giành quyền lợi lẫn nhau giữa hai tập đoàn Trịnh -Nguyễn Đất nớc bị chia cắt làm hai miền Đàng trong và Đàng ngoài nên tâm
sự của Nguyễn Du là tâm sự u uẩn, bế tắc Nếu thơ Đỗ Phủ ghi lại một cáchtrung thực hiện thực xã hội đời Đờng chuyển dần từ thịnh sang suy, bọn quanlại dâm ô, ăn chơi xa đoạ, trụy lạc, chiến tranh liên tiếp xảy ra, dồn hết nỗi
khổ đau lên ngời lao động bần cùng thì thơ Nguyễn Du lại chất chứa một tâm
sự u uẩn, ngấm ngầm sầu hận Trong Thanh hiên thi tập là giọng thơ ai oán, não ruột, xót xa Trong Nam trung tạp ngâm, lời thơ phẫn uất, bất đắc chí, còn Bắc Hành tạp lục thì bớt phần não ruột nhng lại thêm phần chua cay Vì thế
mà đánh giá về thơ chữ Hán Nguyễn Du, Xuân Diệu đã khẳng định: “Mộtbuổi chiều thu rất dài và tê tái, cũng không phải là một chiều tà nắng…Mộtthứ chiều thu “Mây nh pha sữa cả trời nhoà”, không thấy mặt trời ở đâu, chỉmột ánh sáng bàng bạc nh bị ai làm cho tê đi và cứ thế mà kéo dài mãi cho
đến khi trời tối” [25, 46- 47] Thời đại mà Nguyễn Du sống là thời đại nh đang
tê đi một cách xa xăm, không có màu của máu đỏ, của niềm vui Mâu thuẫn
đó không đợc giải quyết và tích tụ lại thành một nỗi niềm riêng Từ đó,Nguyễn Du đâm ra chán nản buồn sầu và bất lực muốn đi ở ẩn, lánh xa ô trọc
để giữ lấy phần thanh cao nhng vẫn không thể nào quên đợc mọi chuyện ở
đời
Đỗ Phủ lại sống cuộc đời dân dã, đem nỗi khổ đau của gia đình mình đặtvào nỗi khổ đau chung của toàn thể nhân dân lao động bần cùng để mà chiêmnghiệm, nếm trải đủ mùi đắng cay nên thơ ông đã nói lên tiếng nói của nhândân lao khổ, bần cùng Đó là cảnh đói cơm, rách áo, biệt ly vì chiến chinh, laodịch, thuế khoá… Ông không bi quan nh Nguyễn Du mà ông vẫn hi vọng và
đặt niềm tin vào giai cấp thống trị, ớc mơ xây dựng một xã hội vợt Nghiêu,Thuấn nên thơ ông có rất nhiều bài sáng tác là để bày tỏ t tởng này
Giúp vua vợt Nghiêu, Thuấn,Lại làm cho phong tục thuận hoà
Phụng tặng Vi Tả thừa trợng nhị thập nhị vận
Trang 23Ông vẫn đặt niềm tin vào một xã hội tốt đẹp, con ngời có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc Còn Nguyễn Du lại sống và hành động bởi quan niệm:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự c
Độc Tiểu Thanh ký
(Cổ kim mối hận trời khôn hỏi,Phong vận niềm oan khách khó trừ.)Nên ông thấy xã hội này đời sau, tất cả đều là:
Hậu thế nhân nhân giai thợng quan,
Đại địa xứ xứ giai mịch la
Phản chiêu hồn
(Hậu thế đều là bọn thợng quan,Mặt đất đâu cũng dòng mịch la.)Mang trong mình t tởng “trung thần bất sự nhị quân” (Tôi trung thầnkhông thờ hai vua) nên Nguyễn Du mu đồ “phục quốc”, nhng ông bất lực, đểrồi lại tìm đến triết lý Lão Trang nh là sự quên nguôi tạm bợ Từ đó, ông bắt
đầu hoài nghi về số mệnh của con ngời và văn chơng Ông không tìm thấy ýnghĩa của cuộc đời và cảm thấy mình đang sống một cuộc sống thừa nên tâmtrạng của ông nhuốm màu bi quan, cô độc, mới hơn ba mơi tuổi mà mái đầucủa ông đã bạc trắng Thơ ông trở nên buồn thơng, réo rắt, nhớ về nhà Lê nhnhớ về một dĩ vãng đã qua, đã xa, khó lòng thấy lại Hành động chống TâySơn của ông cũng không thiết thực, mặc dù Tây Sơn đã giết cả thân thích, phátan gia sản nhà ông Cho nên, cuộc đời của ông rất đáng thơng và cũng rất
đáng buồn Trong Nguyễn Du có sự điều hoà của ba hệ t tởng Nho, Phật, Đạogiáo và ông tin vào thế giới bên kia Ông thấy đời thực đang đe doạ ông bởimột sự màu nhiệm bí hiểm nào đó Ông sợ mình phải trở lại thân phận cô hồnnay đây mai đó, lu lạc vạn kiếp trên cõi đời này Đó là thứ triết lý về một chủnghĩa định mệnh, bi quan Lập trờng đó còn quanh co, phức tạp, thiếu ánhsáng của một hệ t tởng tiên tiến dẫn đờng Đó cũng là tâm lý chung của cáctác gia thời trung đại, còn quanh quẩn với sự ràng buộc của thành phần xuấtthân, con đờng học vấn và văn chơng cử tử
Trang 24Chơng 2
Nội dung sáng tác thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ
2.1 Hệ thống đề tài cơ bản trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ
Đề tài là các phơng diện hiện thực đời sống đợc miêu tả trực tiếp trongtác phẩm Khi đi vào tác phẩm văn học, các hiện tợng đời sống đó lại đợc liênkết với nhau theo những mối liên hệ nhất định Đề tài là một phơng diện thuộcphạm trù nội dung của tác phẩm văn học Là đối tợng đã đợc nhận thức và lựachọn, gắn liền với một dụng ý, một thế giới quan, lập trờng t tởng cũng nhquan điểm thẩm mỹ nhất định của nhà văn Đề tài cũng là nguyên tố để cấuthành tác phẩm, thể cách chỉ là công cụ, thủ đoạn để biểu đạt đề tài Đề tàitrong thơ Nguyễn Du và Đỗ Phủ, bao hàm một phạm vi bao la rộng lớn Từ sựsuy vi của thế vận, sự biến thiên của núi sông cho đến những sự vật, hiện tợng
bé nhỏ nh: con sâu, con kiến, ngọn cỏ, nhành hoa… Nói chung là tất cả nhữnggì có trong vũ trụ vô hình và hữu hình đều đợc hai ông đem vào trong trờng tricảm của bản thân
Không có đề tài nào tầm thờng mà chỉ có nhà thơ tầm thờng Những vậttầm thờng nhất cũng là đề tài của thơ ca Nhà thơ nhìn đồ vật ở khía cạnh kỷniệm nên bất cứ cái gì cũng trở thành đề tài cho sáng tác của họ Đó có thể làmột vật nhỏ bé tầm thờng, có khi là một mảnh cuộc đời nhng đều đợc nêu lên,
để khẳng định một quan niệm sống, có ca ngợi, đau xót, tiếc thơng, có nhớmong, kinh ngạc, đùa bỡn, có khuyên răn, bàn luận, có tự hỏi và tự trả lời Tấtcả đợc đặt trong những mối quan hệ xã hội rộng lớn để xây dựng tính thốngnhất giữa khoảnh khắc với muôn đời, giữa vô sinh và hữu sinh, giữa cá nhân
và loài ngời, nối thời gian và không gian, nối hiện tại và quá khứ, bằng mộtnhãn kiến xoá bỏ mọi sự khác biệt, từ đó mà các sự vật trở nên có linh hồn,nhỏ thành lớn, quen thành lạ, sự im lặng bổng cất lên tiếng nói hùng hồn Từ
đó mà nêu lên đợc tính thống nhất của các mặt mà giác quan cho là đối lập.Nhìn chung trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Đỗ Phủ có các loại đề tàisau:
2.1.1 Hoài cổ và vịnh sử
Đề tài hoài cổ có mặt và ẩn hiện hầu khắp các tập thơ chữ Hán củaNguyễn Du Ông đau xót vì những giá trị tinh thần cũ đã bị đổi thay, đảo lộn
Trang 25trong những bài nh: Vị Hoàng doanh, Ninh Công thành, Pháo đài Ông nhớ
tiếc các sự kiện lịch sử và các triều đại lịch sử, cùng hình bóng Thăng Long dĩ
vãng Nỗi nhớ tiếc đó đợc thể hiện trong các bài: Điếu La Thành ca giả, Long Thành cầm giả ca, Ngô gia đệ cựu ca cơ, Thăng Long, Ngẫu hứng, Mộng đắc thái liên Đỗ Phủ cũng viết rất nhiều những bài thơ gián tiếp bộc lộ nỗi buồn
đau, lo lắng của thi nhân cho sự suy vi của thời thế Ông ca ngợi và luyến tiếcnhững nhân vật nổi danh trong quá khứ nh: Tống Ngọc, Minh Phi, Dĩu Tín,Gia Cát… Đề tài hoài cổ vịnh sử tạo nên những chùm thơ nổi tiếng nh: Vịnh hoài cổ tích, Vũ Hầu miếu Các thi hào đã thể hiện nỗi đau của ngời trí thức
đối với cố đô thân yêu, với một thái độ ngỡng vọng về một thời đã qua, về mộtqua khứ tơi sáng, một đi không trở lại Nhà thơ đứng ở thực tại mà đau đớn,xót xa hớng về quá khứ, mong tìm lại một thời đã xa
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc,Hình thế không lu bách chiến danh
Vị Hoàng doanh
(Vơng triều khó vững nghìn đời,Còn chăng trăm trận để ngời ngày sau.)Nguyễn Du viết về cuộc đời dâu bể, về những gì đã trôi qua không thể
kéo lại đợc, kẻ tài tình bị vùi dập, rẻ rúng Có thể kể đến: Độc Tiểu Thanh ký, Tơng Đàm điếu Tam L đại phu, Đỗ Hoài hữu cảm Văn Thừa tớng, Lỗi Dơng
Đỗ Thiếu Lăng mộ, Âu Dơng Văn Trung công mộ Đó là mồ mả của các bậc
Đế Vơng, Khanh Tớng, Công hầu, Ca sĩ… dọc đờng đứt gánh Ông nh nghe
đợc tiếng bi thơng của thân phận làm ngời Tất cả những gì còn lại giờ đây chỉ
là nấm mồ làm bạn với sơng giá, tuyết lạnh, ma nguồn và gió hắt hiu Ông xótthơng cho những ngời có tài và có tình Đó là những nhà thơ, nhà văn kiệt xuấtnh: Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, những anh hùng hào kiệt thất thế, những ngời phụnữ có sắc đẹp mà lại chịu số phận bi thảm Ông mợn các di tích, nhân vậtTrung Quốc để phát biểu về cuộc sống ngày nay mà ông nhìn thấy Ông muốnnói về một hiện thực trên đất nớc Việt Nam mà không muốn mợn di tích, nhânvật Việt Nam Ông viết về các nhân vật phản diện quá khứ nh: Tần Cối, TrầnThuỷ Hoàng…để ngấm ngầm nói về những con ngời đang sống, đang tác oai,tác quái trên đất nớc ông lúc bấy giờ:
Đời nay lắm kẻ ăn nhiều thịt,
Gà lợn trong nhà không kịp chết
Trang 26Thời buổi thanh bình không chiến tranh,Khoác miệng huênh hoang: Liêm Pha, Lý Mục coi thờng hết.
Liêm Pha bi Trên đờng đi sứ, Đỗ Phủ cũng làm nhiều bài thơ vịnh cảnh nh: Xích Cốc, Giếng Muối, Hàn Giáp, Chùa Pháp Kinh, Trấn Long Môn, Thạch Khám, Tích Thảo Lĩnh, Nê Công Sơn, Đài Phợng Hoàng… Nếu Nguyễn Du vịnhcảnh để hồi tởng quá khứ với những suy nghĩ chung chung về thế sự thì ĐỗPhủ lại nhìn vào thực tế cuộc sống trớc mắt, chú ý đến đời sống khổ cực củanhân dân lao động, cung cấp cho sử học, dân tộc học nhiều tài liệu đáng tincậy, chứ không phải là những triết lý suông Ông đa cái khổ, cái xấu vào thơ
mà thơ vẫn trác tuyệt Đó chính là cái vĩ đại của Đỗ Phủ Ông thấy cung điện,thành quách tráng lệ xa nay đều hoang phế, điêu tàn, chìm theo muôn thuởtrong cung Ngọc Hoa Vua chúa chạy theo thuyết trờng sinh với những điềuvô nghĩa, xa rời cuộc sống thực tế Các bà phi xinh đẹp lại bị chôn cất cùngcác hình nộm tô vẽ mặt mày Trên đờng đi sứ, Nguyễn Du đã ghé thăm những
di tích lịch sử Thăm mộ Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Tôn Nguyên, ÂuDơng Tu, Giả Nghị, mộ những trung thần, nghĩa sĩ yêu nớc nh: Cù Thức Trĩ,Nhạc Phi, Văn Thiên Tờng, Hàn Tín, Khê Thiện, Lạn Tơng Nh, Liêm Pha hay
là mộ của những ngời phụ nữ danh tiếng nh: Dơng Quý Phi, Nga Hoàng, NữAnh, đến mộ của những tên gian hùng nh: Tô Tần, Tần Cối và những kẻ xâmlợc Việt Nam nh: Mã Viện, Minh Thành Tổ, Hoàng Sào Khác với thơ vịnh sửmang mục đích giáo huấn về đạo đức khô khan và đạo mạo thì thơ Nguyễn Duviết về lịch sử mà vẫn tràn đầy cảm xúc, thể hiện cách nhìn từ những thểnghiệm trong cuộc sống, mang tinh thần nhân đạo bao la, cao cả Nguyễn Du
đề cập đến nhiều loại ngời, những bài hay nhất là những bài viết về những conngời tài hoa mà bạc mệnh Nguyễn Du có sáu bài thơ viết về Khuất Nguyên
Khuất Nguyên trong Phản chiêu hồn là điển hình của một con ngời u tú, tài
hoa mà lại có số phận đau đớn Viết về Đỗ Phủ thì ông vừa ca ngợi vừa xót
th-ơng Ông bày tỏ lòng kính trọng vô cùng trớc vong linh Đỗ Phủ
Khác với Nguyễn Du, Đỗ Phủ thờng hay mợn thiên nhiên để mô tả cácvấn đề xã hội Miêu tả thiên nhiên bát ngát mênh mông là để làm nổi bật nhữngcon ngời sống âm thầm, chịu đựng bao nỗi khổ đau nên thiên nhiên mang đợm
vẻ muộn sầu Thiên nhiên đầy rẫy những âm thanh của khói lửa, loạn ly và in
đậm dấu chân của ngời lu vong trong các bài: Dạ vọng, Đăng Nhạc Dơng lâu,
Trang 27Xuân vọng, Xuân hạ hỷ vũ, Bạc Mộ… Có cái gì đó nh dày vò, khắc khoải vàcăm hờn Trời đất nhuốm màu ảm đạm của khói lửa chiến tranh.
Những bài thơ viết về Hoài cổ - Vịnh sử trong thơ hai thi hào cho tathấy mối quan tâm của nhà thơ đối với lịch sử cũng nh nỗi niềm nuối tiếc vềnhững giá trị đã tàn phai, đã đi vào quá vãng xa xa Mặt khác, điều đó còn thểhiện quan điểm lịch sử cũng nh ý thức về sự thống nhất giữa lịch sử và hiện tạicủa nhà thơ Mặc dù viết về lịch sử nhng ta vẫn thấy trong đó bóng dáng thời
đại của chính hai nhà thơ
2.1.2 Đề tài chiến tranh loạn lạc
Đề tài chiến tranh trong thơ Đỗ Phủ là những bài thơ biên tái, kể về cáccuộc chiến tranh khai biên, gây chiến với dị tộc, đời sống nơi biên ải đoạ đày
Ông lấy nỗi đau khổ của quần chúng lao động làm đề tài, đó là một sự thay
đổi lớn trong cuộc đời của ông Ông đã thực sự hoà mình vào quần chúng lao
khổ Bài Ra khỏi biên giới lần trớc, ông viết để chống lại việc Kha Th Hàn
xâm lợc Thổ Phồn, mở rộng biên giới:
Đất quân vơng bốn bề rộng thế,
Mở biên cơng thêm để lam chi
Công ơn cha mẹ khôn ghi,Lặng yên, vác giáo ra đi nghẹn ngào
Lòng dạ tham lam của con ngời là vô hạn nên cái khổ của nhân dâncũng vô cùng Đó là đói rét, chiến tranh, roi vọt, mất chồng, mất con…
Trên đờng này gặp ngời quen biết,Gửi th về nhắn hết gia đình
Than ôi! Cảnh vậy cũng đành,Muốn chia cay đắng đã thành uổng công
Cho nên thơ Đỗ Phủ có thể nói không ngoa là là nớc mắt chúng sinh
Chiến tranh đã gây nên bao nỗi đau sinh, ly, tử, biệt Bài Binh xa hành là sự tố
cáo chiến tranh khai biên phi nghĩa:
Mời lăm tuổi ra đi cửa ải,Ngoài bốn mơi sang tới đồn điền;
Bạc đầu về lại thú biên!
Lúc đi, ông Lý dứng bên bịt đầu!
Ngoài hiên, máu đỏ ngầu nh bể!
Nhà vua còn cha nghỉ khai biên,
Trang 28Chồng chất mãi nào ai nhặt hộ?
…
Ma mới phiền! Ma cũ kêu oan!
Những khi trời tối, ma tàn,Tiếng ma ti tỉ khóc than canh dài!
Chiến tranh trong xã hội phong kiến là biểu hiện của mâu thuẫn giai cấp
bị đẩy đến tột độ Đỗ Phủ miêu tả chiến tranh với nhiều hạng ngời nh: tớng tá,con cái quý tộc, nông dân, bà già, ông già, quả phụ, phụ nữ, trẻ em… Có cảnh
đoàn tụ, có cảnh Li biệt của đôi vợ chồng mới cới:
Rẽ ngôi em bén duyên chàng,Chiếu em cha ấm cái giờng nhà trai
Cới chiều hôm, vắng sớm mai,Duyên đâu lật đật cho ngời xót xa!
Ngửa trông chim chóc bao con,
…Con to con nhỏ cũng còn bay đôi
Dở dang ngắm cái kiếp ngời,Cùng chàng thôi sẻ suốt đời nhớ mong!
Có cảnh Li biệt của kẻ không nhà:
Xót nỗi mẹ đau ốm,Vùi xác năm năm rồi
Sinh tôi chẳng đợc gì,Suốt đời hận cả đôi
Ngời không nhà mà biệt,Sao đợc gọi là ngời
Có cảnh Ly biệt lúc lão già:
Vợ già khóc lăn bên đờng cái,Quần áo đơn dầu dãi chiều đông
Còn thơng nhau nỗi lạnh lùng,Nào hay sống chết thôi hòng gặp nhau!
Ông đi vào thế giới loạn lạc của những cô hồn chết trận:
Khóc trận nhiều ma mới,Nghêu ngao một lão già
Trớc tuyết Nếu chùm thơ Tam biệt phản ánh cảnh biệt ly thì chùm thơ Tam lại lại
là cảnh quan lại bắt ngời, có cả ngời già và trẻ em:
Lệnh trên bảo: mặc dầu là thế,
Trang 29Cứ chọn ngay bọn trẻ đa vào.
Trẻ kia thấp bé làm sao!
Thành trì biết có cách nào giữ không?
Cậu nào béo còn trông mẹ tiễn,Mấy cậu gầy, đi đến lẻ loi
Trời chiều mây bạc vẫn trôi,Tiếng khóc dội mãi tận nơi núi dài
Viên lại Tân An
Mỗi gia đình có một ngời tòng quân là đủ Trong một nhà mà cha mẹ,anh, em, ông, cháu, con dâu đều thảm khốc bởi không còn một tráng đinh,nay còn bắt cả ngời già:
Trèo tờng ông lão trốn rồi!
Bà lão ra cửa xem ai tới nhà
Viên lại quát sao mà hung dữ,
Bà cụ than cực khổ làm sao
Sáng nay tôi bớc ra đi, Chỉ còn ông lão quay về tiễn chân
Viên lại huyện Thạch Hào
Đúng là cơ nghiệp nhà họ Đờng suy sụp đến mức không thể cứu vãn nổi.Nguyễn Du không viết về chiến tranh một cách trực tiếp nh Đỗ Phủ, bởithời đại mà Nguyễn Du sống không có các cuộc chiến tranh khai biên, phinghĩa nh đời Đờng mà chỉ là những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữahai tập đoàn Trịnh - Nguyễn và các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi dậy chống
su thuế, đòi quyền lợi cá nhân, đánh đổ chính quyền thối nát Trịnh - Nguyễn ởcả Đàng trong và Đàng ngoài và các cuộc chiến tranh chống bọn Xiêm La,Mãn Thanh Cho nên thơ chữ Hán của Nguyễn Du không có các bài réo rắtnão ruột nh thơ Đỗ Phủ Bởi chiến tranh trên đất nớc Việt Nam lúc này là cáccuộc chiến tranh chính nghĩa, đòi tự do, cơm áo và hoà bình Nguyễn Du rấtthông cảm với khát vọng ngàn đời đó của nhân dân Ông có dịp gần gũi vớinhân dân để viết nên những kiệt tác bất hủ Sáng tác của ông nhằm phản ánh
và phê phán hiện thực đen tối của xã hội phong kiến đơng thời, đó là các cuộcchiến tranh, nội chiến, các cuộc khởi nghĩa nông dân Tính chất phi nghĩa củacác cuộc chém giết tàn khốc, nhằm phục vụ tham vọng tranh bá đế vơng củacác tập đoàn, các thủ lĩnh phong kiến:
Núi lở, đá tan, thành vẫn vững,
Trang 30Tần tranh, Hán cớp việc thành không.
Pháo đài
Nói chuyện nhà Tần, nhà Hán tranh nhau nhng thực chất là Nguyễn Dunói về cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn Nội chiến phong kiến Trịnh - Nguyễn,
Lê - Mạc đem lại cho nhân dân sự chết chóc, chia ly đợc thể hiện qua rất
nhiều bài thơ trong tập Bắc Hành tạp lục Đó là một tai hoạ, một hiện thực tàn
khốc Phản ánh và lên án chiến tranh là một nguyện vọng tha thiết và cấp báchcủa nhân dân về một thời đại đấu tranh quyết liệt và dữ dội Thơ Nguyễn Dutuy không có bài nào phản ánh chiến tranh một cách trực diện và gay gắt nh
Đỗ Phủ Dù rất nhẹ nhàng nhng cũng không kém phần tinh tuý, ghi lại cảnhtang thơng và sự suy vi của chế độ, thể hiện t tởng chiến đấu một cách rõ ràng
và dứt khoát
Đề tài chiến tranh trong thơ Đỗ Phủ lại diễn ra muôn hình vạn trạng Đó
là chiến tranh khai biên, gây chiến với các dị tộc:
Về nhà, đầu bạc lên biên gấp,Biên thuỳ máu đỏ chảy thành sông
Vua mở bờ cõi cha thoả lòng,Biết không ông, Sơn Đông hai trăm châu nhà Hán đó
Binh xa hành
Ông đã thấy hết sự vô nghĩa của các cuộc chiến tranh mở đất, chiếntranh chỉ là cớp của bốn phơng đa về nuôi béo bọn tớng tá ăn không rồi làmphản:
Vị chủ tớng chức càng cao lớn,Càng kiêu căng, muốn lấn nhà vua
Mình ngoài biên, phải làm ngơ,
Mở mồm: Đờng cái đó mồ chôn anh
Và ngời lính trong chiến tranh chỉ còn một cách là “đào ngũ”, để khỏi
trở thành kẻ phản quốc Rồi đến cảnh chạy giặc của cả gia đình trong Bài hành đi Bành Nha:
Nhớ ngày xa bắt đầu trốn giặc,
Đờng gian nan về bắc chạy mau
Bành nha đờng ấy đêm thâu,Trăng soi Bạch Thuỷ rủ nhau đi liền
Cháu gái dại đói la cắn bố,
Trang 31Bụng sợ lo sói hổ nó nghe.
Ôm con, áp ngực miệng che
Con bé dãy giụa kêu se cả lòng
Còn con trai xem chừng hiểu chuyện,Mận chát lè ngấu nghiến ăn luôn
Sấm ma dai dẳng nửa tuần,Dìu nhau, luống cuống, toàn thân dầm dề
Bằng ngòi bút hiện thực Đỗ Phủ đã miêu tả một cách sinh động và chânthực hình ảnh những con ngời đau khổ trong các cuộc chiến tranh, đồng thờicũng thể hiện nguyện vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp, không có chiếntranh:
Vua lên ngôi tin nào vừa nhận,
Đời ta giờ lận đận long đong
Thuấn, Nghiêu ngàn thủa non sông,Cảnh tanh hôi mắt lại trông bời bời!
Chiến tranh là một điều không ai muốn, và dù không muốn thì nó vẫnxảy ra, hậu quả để lại là rất nặng nề, dồn hết lên đầu những ngời dân vô tội vớibiết bao cảnh chia ly, chết chóc, tang thơng Phản đối chiến tranh và viết vềchiến tranh một cách hiện thực và sắc sảo nh Nguyễn Du và Đỗ Phủ quả làthiên tài Đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo cao cả, bao la trong thiphẩm của hai nhà thơ
2.1.3 Cuộc sống dân tình - hiện thực xã hội đơng thời
Viết về cuộc sống dân tình và hiện thực xã hội đơng thời, Nguyễn Du
và Đỗ Phủ đã đề cập đến nhiều vấn đề nh: chiến tranh, tô thuế , đả kích bọnthống trị bóc lột Nhân dân đau khổ vì chiến tranh, lao dịch, tô thuế, thiên tai,hạn hán, thiếu cơm, thiếu bạn, bị đoạ đày, hắt hủi trên bớc đờng đời Nhà thơtập trung miêu tả số phận ngời nông dân trong nhiều mối quan hệ với xã hộinhng cái cực khổ nhất vẫn là tô thuế, đó không phải là tô thuế bình thờng mà
đó là “thuế máu”
Nguyễn Du đã phơi bày bức tranh cùng khổ của những ngời bị áp bức.Nhân vật của ông là: Ông già mù hát rong, Ngời gánh củi, Ngời kỹ nữ, Mẹcon ngời đàn bà ăn xin… Đó là những con ngời có số phận éo le, bất hạnh và
đặc biệt là những ngời có tài nh: Kỹ nữ, Nhà thơ, Vơng phi, đến cả những ngờihành khất Tâm sự của Nguyễn Du suốt cả cuộc đời là một tâm trạng u uất,
Trang 32nặng lòng với đời nên mới hơn ba mơi tuổi mà đầu đã bạc Ông thao thức bănkhoăn về những nếp nhăn đau khổ trên khuôn mặt ngời ca nữ, một quyển sáchcháy nham nhở, cái dáng lam lũ của anh gánh củi, cái sùi bọt mép của ông già
mù hát rong, mớ cám trong giỏ của mẹ con ngời đàn bà bất hạnh, nên thơ ông
có lúc rạo rực, bồn chồn, lúc ngậm ngùi, cay đắng, lúc xót xa, luyến tiếc, lúcsục sôi, mạnh mẽ của một tâm hồn bát ngát, mênh mông Đúng nh Mộng Liên
Đờng nói: “Nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốtcả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”
Đỗ Phủ đã sử dụng hiện thực đời Đờng từ thịnh sang suy Số phận củacon ngời lại đợc rút ra từ thực tế cuộc sống loạn ly, tang tóc sau những trậngiao phong khói lửa, chuyển mọi mối quan hệ gia đình, anh em, bạn bè…thành thơ, chuyển sự việc tầm thờng thành thi ca Một xáo động rất khẽ củatâm hồn cũng là đề tài cho một bài thơ hay Thơ ông không ca ngợi cuộc sốnggiàu sang, nhàn hạ của điện các, mỹ nhân mà ông đa vào thơ cái xấu, cái khổrồi biến nó thành cái đẹp của nghệ thuật, bằng tâm hồn cao đẹp của mình màkhông hề gợng gạo Đỗ Phủ là nhà thơ đầu tiên của loài ngời phán xét mọiviệc theo góc độ “dạ dày” của ngời lao động, lấy thời sự làm đối tợng của thi
ca là trách nhiệm và lẽ sống của Đỗ Phủ Ông có một loạt bài thơ lấy thời sự
làm đầu đề nh: Cửu Lu Hoa, Gửi ông Ba muơi lăm Cao làm thiêm s, Nhìn quân đội An Tây đến Quan Trung chờ lệnh…Và ông luôn đặt ra câu hỏi: Làmthế nào để nuôi đợc quân mà không bắt dân phải nộp thêm tô? Nên thay đổiluật động viên thế nào để có đợc những lực lợng mới mà không làm nông thônmất nhân lực? Cần tổ chức việc hậu cần cho quân đội nh thế nào?
Khác với Đỗ Phủ, Nguyễn Du đem nớc mắt mình hoà chung vào nớcmắt của những tài tử, giai nhân trong thiên hạ, vận nỗi oan của mình vào nỗioan của nàng Tiểu Thanh, lòng xót xa khi nghe lại tiếng đàn của ngời ca nữ
đất Long Thành, cất lên tiếng kêu đau đớn, mong cho hồn Khuất Nguyên
đừng về nữa Đó phải chăng là những tâm hồn đồng điệu đang tìm đến vớinhau, xoá nhoà mọi ranh giới đẳng cấp Có khi, Nguyễn Du mợn cảnh thiênnhiên để gửi gắm tâm sự về những cảnh ngộ đau lòng của kiếp ngời Ông luôn
đặt ra cho mình và cho mọi ngời câu hỏi: Kiếp ngời sẽ sống ra sao? Xã hội sẽ
đi đâu về đâu? Ông viết về những con ngời dới đáy xã hội Trung Hoa cũngchính là viết về những con ngời đang sống tác oai, tác quái trên đất nớc ông
Đó là những bài thơ hay và xúc động nhất Những cảnh ngộ đó đập vào mắt
Trang 33nhà thơ hết sức đau đớn và nhức nhối nên bút pháp không chung chung vàtrừu tợng mà rất cụ thể, chi tiết, gắn với tấm lòng yêu thơng con ngời và cuộcsống vô hạn của nhà thơ.
Đỗ Phủ lấy cuộc sống hàng ngày làm đối tợng cho sự thể hiện của thơ
ca Xem thần tiên, mỹ nữ, vua chúa, cung điện, chiến công chỉ là trò lừa bịpnên ông mạt sát sự thối nát, hoang dâm, ăn chơi xa xỉ của quan lại triều đình
Bài Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên làm bài thơ năm trăm chữ bày tỏ nỗi lòng là bài thơ hay nhất, là bản tuyên ngôn của nền thi ca mới Ông đã đứng
về phía dân đen mà đau xót cho số phận của họ Ông ớc mơ đa đất nớc trở lạithời kỳ thái bình, sung túc:
Vì dân nghèo quanh năm đau xót,Than thở hoài nóng ruột cháy gan
Bạn bè cời bảo ta gàn,Lời ca sang sảng ngâm càng hăng say
Đó là lời tuyên ngôn của nền thi ca vì nhân dân lao động, bởi cuộc sốngcủa nhân dân lúc bấy giờ là:
Cửa son rợu thịt thối ôi,Mặc xơng chết rét nằm phơi ngoài đờng
Cảnh sớng khổ tấc gang trời vực,Lòng xót xa, nói thực đau lòng
Trong đau khổ ông vẫn kìm chế đợc cảm xúc để bày tỏ lý tởng trớc thực
tế xã hội, thể nghiệm bản thân để vợt lên chính mình Sống cho những suynghĩ lớn nhất của mọi thời đại
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Đỗ Phủ mang giá trị hiện thực, tố cáoxã hội Vấn đề mà Nguyễn Du và Đỗ Phủ đề cập trong thơ không chỉ là nỗi
đau của một kiếp ngời, một thời đại mà của cả loài ngời Nguyễn Du thấy cái
ác, cái nham hiểm, cái bẩn thỉu đang rình rập và giăng đầy khắp trong thiên la
địa võng Đất nớc Trung Hoa rộng lớn, thánh địa của Nho giáo cũng chẳngcòn gì để an ủi cõi lòng, đông, tây, nam, bắc không còn nơi nơng tựa Đó làbiểu hiện của t tởng nhân đạo bao la, lòng yêu thơng con ngời vô hạn, đồngcảm xót thơng với những thân phận éo le, bất hạnh, kịch liệt phê phán cái xấu,cái ác, đề đạt những nguyện vọng về vật chất, hạnh phúc và lẽ công bằng
Không tố cáo một cách gián tiếp nh Nguyễn Du Đỗ Phủ quan tâm và
đau khổ cho số phận ngời dân, đến cả việc nắng ma trong đời sống nông
Trang 34nghiệp Ông có bảy bài thơ viết về nắng và bảy bài thơ viết về ma, thể hiện nỗivui, buồn cùng với nhân dân, với thực tế cuộc sống của nhà nông Ông nhìncon ngời ở tinh thần dũng cảm lao động, vợt qua những trở lực của thiên
nhiên, là chàng trai Quỳ Châu tài giỏi trong Bài hành ngời tài giỏi nhất, là công việc, dung nhan, hôn nhân của cô gái Quỳ Châu trong Bài hành vác củi.
Viết về cái vui cũng nh cái khổ, thái độ của ông là đồng tình, ủng hộ và đứng
về phía nhân dân ông tuyên bố mình là nhà thơ “Vì nhân dân đau khổ quanhnăm” bởi chính cuộc đời của ông là một bằng chứng cho sự đói nghèo, cùngquẫn Viết về đề tài cuộc sống dân tình, hiện thực xã hội đơng thời, Nguyễn
Du và Đỗ Phủ đã tập trung phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân trong cảnhchiến tranh, đói rét, loạn lạc, cũng nh sự đàn áp, bóc lột dã man của xã hội đ-
ơng thời Qua đó, tố cáo bản chất của giai cấp phong kiến đã ngự trị hàngngàn năm, đè đầu, cỡi cổ ngời dân lao động Vua quan tham ô, xa hoa, dâmdật, thoả sức vơ vét cho đầy lòng tham để đời sống dân tình điêu linh, tangtóc
2.1.4 Đề tài sinh hoạt cá nhân - đời t của bản thân nhà thơ
Đó là chuyện đói cơm, rách áo của chính bản thân mình và gia đình ĐỗPhủ đợc mệnh danh là Khổng Khâu trong thơ (Khổng Khâu là thánh nhân củangời Hán) Đỗ Phủ là thánh nhân của mọi ngời Đạo của ông là: con ngời sinh
ra phải có cơm ăn áo mặc, con cái phải đợc học hành Vì ông là thánh nhânnên cuộc đời ông là cuộc đời chứa đựng mọi đau khổ của nhân dân lao động
Đó là đói nghèo, bệnh tật, ở tù, lu lạc, vợ con nheo nhóc, chết đói, chết rét nên
địa vị của ông là địa vị của một nhà thơ dân đen và tâm hồn của ông chỉ đẹp
khi ông viết ra những bài thơ vợt ra khỏi quyền lợi ích kỷ của giai cấp mình.
Tấm lòng đó của Đỗ Phủ rất giống Nguyễn Du bởi hoàn cảnh của Nguyễn Durất giống với hoàn cảnh của Đỗ Phủ
Nếu hoàn cảnh của Đỗ Phủ là:
Cuốc dài ơi cán ngơi gỗ trắng,
Ta gửi ngời tính mạng của ta
Hoàng tinh tuyết núi dày ghê,
áo ngắn kéo mãi chẳng hề kín chân
Ta cùng ngơi về không chân bớc,Nhìn trai rên, gái khóc, tờng trơ:
Hát bài hai, hát ngẩn ngơ,
Trang 35Láng giềng ái ngại nhìn ta mặt rầu?
Bảy bài thơ làm ở huyện Đồng Cốc, năm Càn Nguyên, bài 2
Thì hãy xem hoàn cảnh của Nguyễn Du: “Thập Khẩu hài nhi thái sắc
đồng” (Con thơ, mời đứa, héo hon gầy - Ngẫu hứng 4) hoặc “Thập khẩu đề cơ hoành lĩnh bắc” (Gào rã non Hồng mời miệng đói - Ngẫu đề) Cho nên khi đi
qua mộ Đỗ Phủ Nguyễn Du đã rơi nớc mắt:
Dĩ đại tơng liên không sái lệ
(Chẳng sống chung thời tuôn lệ nhớ.)Bản thân Nguyễn Du cũng bi đẩy vào vực xoáy của cuộc đời bèo dạt,rác rởi, đầy bất công, ngang trái, phải ngụp lặn trong cảnh đói rét, thiếu thốn,
khổ cực Trong bài Tạp ngâm 2 ông viết:
Táo đầu chung nhật vô yên hoả,Song ngoại hoàng hoa tú khả xan
(Bếp lạnh thâu ngày không khói lửa,Hoa vàng đẹp lạ muốn cầm ăn.)Cuộc đời Đỗ Phủ mặc dù khổ cực, đói rét nhng ông không hề chán đời
Đời ông càng khổ thì ông lại càng yêu mến nhân dân hơn Vì vậy mà PhạmTrọng Yêm đánh giá: “Đỗ Phủ là ngời lo cái lo trớc trớc thiên hạ” Ông luôn
đứng về phía dân đen để nói lên nỗi đau khổ của họ Ông xem cả một dân tộc
đều lu lạc nh nhau, cái khổ của mình là cái khổ chung bởi giai cấp thống trị cóvô số lý do để bỏ qua nỗi đau khổ của nhân dân lao động Con ngời vì nhândân đau khổ quanh năm thì còn sợ gì quyền lực, tù tội đa cái khổ, cái xấu vàothơ là biệt tài của Đỗ Phủ:
Ta đã rơi vào nơi gió bụi,
Về đến nhà, tóc đổi hoa râm
Mái tranh mới cách một năm,
Vợ con quần áo vá chằm trăm nơi
Cất tranh thêu để may quá vội,
…
Đờng thêu nhăn chắp nối sai rồi!
Thiên ngô, Phợng núi nực cời,Lộn xuôi, lộn ngợc trên ngời các con
Lên bắc
Mặc dù nghèo khổ nhng Nguyễn Du và Đỗ Phủ đều sống và hành độngtheo đạo đức của một nhà nho trung quân, nhằm chứng minh một thái độ sống,
Trang 36dựa trên một bề dày văn hoá đáng đợc thán phục Đặt khí phách lên hàng đầu,càng nghèo càng phải tìm cách để sống Sống để cung cấp cho ngời đời sau bứctranh chân thực của dân đen đã bị giai cấp thống trị xuyên tạc.
Cuộc đời đối với Nguyễn Du là sự ám ảnh của nghèo đói, túng quẫn Sựnghèo đói đang hoành hành huỷ diệt ông và tất cả mọi ngời:
Tam xuân tích bệnh bần vô dợc,Táp tải phù sinh hoạn hữu thân
Mạn hứng 1
(Ba năm bệnh cũ nghèo không thuốc,
Ba chục xuân buồn, khổ có thấu!)Hình ảnh cuộc đời là sự phóng chiếu hình ảnh cá nhân nhà thơ Họ phảinếm đủ mọi khổ đau cả về vật chất lẫn tinh thần nên thơ họ là cảm xúc, tâm sựtrớc lẽ sống của con ngời và cuộc đời nên có cái gì bi đát và đầy phẫn uất đốivới cuộc đời Nguyễn Du là con ngời t tởng nên ông tiếp nhận tất cả mọi nỗi
đắng cay ở đời với thái độ lặng lẽ, chịu đựng để rồi nâng nó lên thành triết lý,quẩn quanh mà không hiểu nguyên nhân của nỗi đau khổ Đời càng khổ thì
ông càng bế tắc và cô đơn, để rồi chìm sâu vào cái mớ bong bóng vô hình củanỗi đau muôn thuở
Buồn bã về cuộc đời mình không làm tròn bổn phận của ngời cha trớccảnh gia đình đói rét:
Vợ già gửi đất ngời ta,Một nhà mời miệng tuyết ma cách rời!
Lòng nào nỡ bỏ rơi cho dứt,Thôi về nhà đói khát có nhau
Vào nhà, vang dội tiếng gào,Ngờ đâu chết đói đúng vào con ta!
Ôi! lòng ta sao mà đau khổ,Xóm giềng đến than thở với ta
Ta sinh làm bố thế mà,Nuôi con chẳng đợc nói ra cực lòng
Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên làm bài thơ năm trăm chữ bày tỏ nỗi lòng
Bài thơ rất trác tuyệt nhng cũng là tiếng kêu xé lòng của nhà thơ tronghoàn cảnh lao lung Thằng con út của ông chết vì đói, ông đã phải làm nhiều
Trang 37nghề để kiếm sống nh: bán thuốc chữa bệnh, đổi thơ lấy gạo nhng cũngkhông sao cứu vãn đợc cuộc sống gia đình Nhờ bạn bè giúp đỡ, cuối cùng
ông cũng dựng đợc một ngôi nhà bên suối Quán Hoa (Tớc Hoa) Đó là ớc mơcả đời của Đỗ Phủ Cuộc sống của một ngời dân có nhà đợc sống cùng vợ contrên mảnh đất của mình, làm nơi đi lại, giao du với bạn bè nhng cha đợc baolâu thì một trận bão mùa thu đã làm ngôi nhà tốc mái, ớc mơ cả đời tan vỡ.Ngôi nhà đợc đánh giá là “bất tử trong lịch sử Trung Hoa” cùng bay theo giócuốn
Mời năm lu lạc quê vợ Thái Bình, ăn nhờ ở đậu, bảy năm sống ở HàTĩnh Hoàn cảnh của Nguyễn Du cũng hết sức thê lơng Đau ốm không tiềnuống thuốc, suốt mời tuần nằm đợi chết:
Bệnh sầu, sầu bệnh cứ liên miên,Sông Quế nằm co mấy tháng liền
Lên cửa bắt hồn, thần chẳng nể,Leo giờng gặm sách chuột không kiêng
Ngoạ bệnh
Ông càng khổ bao nhiêu thì thơ ông càng não nề, réo rắt bấy nhiêu.Cuộc đời thật là bi đát và phẫn uất nh một tiếng thở dài não nuột, mới ngoài bamơi tuổi mà tóc ông đã bạc trắng cả rồi Ông đã mất hết niềm tin, buồn bã, cô
độc đi giữa cuộc đời Hoàn cảnh cuối đời của ông rất giống Đỗ Phủ Gần cuối
đời Đỗ Phủ mắc rất nhiều căn bệnh khác nhau rồi chết trên một con thuyềnrách nát còn Nguyễn Du thì không chịu uống thuốc cho đến khi lạnh hết cảngời Họ đã ra đi, trốn chạy khỏi cuộc đời nhng sự nghiệp thơ ca của họ thìkhông hề quay lng với cuộc sống mà luôn nhìn thẳng vào đời với tấm lòng u
ái, trân trọng bởi đó còn là tiếng nói chống áp bức, đòi cơm áo hoà bình Tínhbất tử trong thơ Nguyễn Du và Đỗ Phủ là giản dị Những con ngời có cảm xúc
và nỗi lòng giống nhau thì bất chấp thời gian, văn hoá, giai cấp, dân tộc họ
đều tìm đến với nhau Trờng hợp Nguyễn Du - Đỗ Phủ đó còn là bí quyết bất
tử của nghệ thuật - phát hiện ra tâm hồn của mình ở ngời khác
2.2 Giọng điệu chủ thể trữ tình trong thơ Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ
Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học Nó đòi hỏingời viết phải có “giọng” và “điệu”, phải có “khẩu khí” cá nhân, bộc lộ mộttiếng nói giữa văn đàn Giọng điệu nhìn chung dựa trên một sắc thái, phong
Trang 38cách chủ đạo, thể hiện đợc thái độ, tình cảm, lập trờng, t tởng, đạo đức củanhà văn khi miêu tả các hiện tợng đời sống.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Đỗ Phủ mang tinh thần phản khángmạnh mẽ, chống lại những áp bức, bất công đồng thời, thể hiện lòng cảmthông đối với những con ngời thất thế Thế nhng ta cũng cảm nhận đợc hơi thơcủa Đỗ Phủ thì trầm uất, còn hơi thơ của Nguyễn Du thì lại trầm buồn Thơ
Đỗ Phủ ảm đạm, thê lơng, rầu rầu, mờ mờ, tức tối cho cả đất nớc chìm đắmtrong khói lửa của chiến tranh Nét chung trong giọng thơ của hai nhà thơ là
buồn rầu, sâu lắng Những bài nh: Giải buồn, Không ngủ, Về muộn, Chiều tối là những thi phẩm tiêu biểu cho giọng thơ của Nguyễn Du Đó là cảm
xúc của nhà thơ trớc hiện thực, là nỗi buồn của nhà thơ gắn với nỗi buồn đaucủa dân tộc:
Tâm sự biết cùng ai giải tỏ, Non hồng sâu thẳm nớc sông Lam
Mi trung mạn hứng Cùng tâm sự đó với Nguyễn Du, trong bài Đài Phợng Hoàng, Đỗ Phủ
Lời thơ thâm trầm mà nghẹn ngào, uất ức trớc cuộc đời loạn lạc, giantruân Chim Phợng Hoàng là thể hiện niềm mơ ớc thái bình nhng ớc mơ đó có
thể không bao giờ đợc thực hiện Đỗ Phủ có chùm Bảy bài thơ làm ở huyện
Đồng Cốc, năm Càn Nguyên Bài một ông viết về mình, bài hai viết về cuộc
sống gia đình, bài ba, bài bốn là nỗi nhớ các em trai, gái, bài sáu biểu lộ sự bấtlực trớc thời cuộc, bài bảy là sự bực tức về triều đình thối nát Bảy bài thơ là
Trang 39bảy câu hỏi lớn mà không có tiếng trả lời Tất cả đều kết thúc với những câubuồn rầu:
I Hát lên này một bài ca,Gió buồn mi hãy vì ta thổi dồn!
II Hát bài hai, hát ngẩn ngơ
Láng giềng ái ngại nhìn ta mặt rầu
III Ba bài hát giọng buồn thêm
Các em có biết đâu tìm xơng anh?
IV Hát lên bài hát thứ t,Vì ta chú vợn kêu la ban ngày!
V Bài thứ năm, tiếng hát dài,Muốn về quê gọi hồn hoài, hồn bay!
VI Bài sáu này hát chậm lờiSuối hang nhớ kéo xuân tơi trở vềVII Bài bảy này hát buồn tênh,Ngẩng nhìn trời rộng, ngày xanh bay vèo
Đó là những bài thơ đau đớn nhất trong đời Đỗ Phủ Còn Nguyễn Du
trong bài Phản chiêu hồn cũng có kém gì đâu:
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,Giảo tớc nhân nhục cam nh di
(Không lộ vuốt nanh cùng nọc độc,
Mà xé thịt ngời nhai ngọt xớt.)
Là nhà thơ đứng về phía quần chúng nhân dan lao động, thấy bọn thốngtri chà đạp lên cả đạo lý thánh hiền nên lời thơ ông đầy căm phẫn, uất ức:
Hậu thế nhân nhân giai thợng quan,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
(Hậu thế đều là bọn thợng quan,Mặt đất đâu cũng dòng Mịch La.)Thơ Nguyễn Du mang cảm hứng bi thiết về sự mong manh của đời ngời
và số phận nên thơ ông là tiếng nói sâu thẳm của cõi lòng mình, ông đi đếnkhái quát cuộc đời từ khía cạnh bãi bể nơng dâu:
Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ
Hành lạc từ 2
(Kim cổ hiền ngu, đất một khối.)
Trang 40Đi từ việc phanh phui tâm hồn mình sang phanh phui tâm hồn ngờikhác là một bớc “đốn ngộ” của nhà thơ Đỗ Phủ Thơ ông chậm rãi, khẽ khàng
nh nỗi băn khoăn, lo lắng cho cuộc đời chung của kiếp sống dân đen, pha lẫn
trong đó một nỗi suy t nhân sinh sâu lắng Tám bài Thu hứng tả cảnh hùng
hồn, tơi đẹp nhng giọng thơ lại trầm uất, xót đau cho các triều đại thịnh, suynối tiếp nhau, bộc lộ ra trong ý và lời:
Lác đác rừng phong hạt móc sa,Ngàn non hiu hắt khí thu loà
Lng trời sóng gợn, lòng sông thẳm,Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,Con thuyền buộc chặt mối tình nhà
Lạnh lùng kẻ giục tay đao thớc,Thành quạnh dồn chân bóng ác tà
Thu hứng 1
Thành Quỳ Châu bơ vơ trong bóng xế,
Ta ngắm nhìn bắc đẩu nhớ kinh sao!
Nghe vợn kêu ba tiếng lệ tuôn trào,Ngời đi sứ tám tháng đâu vắng bặt
Nhớ tờng vẽ, hơng trầm không yên giấc,Trên lầu canh tiếng kèn thảm kêu vang
viết thơ theo lối hiện thực, thờng mang vẻ ảo não, bi ai, chẳng hạn bài Trăng trên sông:
Trăng sông sáng dới nớc,Lầu cao nghĩ nát lòng
Chân trời làm khách miết,Già, khăn lệ ròng ròng
Đó là bài thơ lên tiếng bảo vệ sắc đẹp và quyền lợi cho ngời phụ nữ.Còn Nguyễn Du thì nhìn trăng mà thấy sơng móc lạnh đầy sân: