Để làm rõ đợc sự tơng đồng và khác biệt đồng thời chỉ ra nguyên nhân dẫn đến điều đó ở chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ, chúng tôi đã s
Trang 1Lời cảm ơn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của ThS Hoàng Minh Đạo cũng nh những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn văn học Việt Nam trung đại khoa Ngữ Văn tr- ờng Đại học Vinh Nhân đây, cho phép chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến cô giáo hớng dẫn cùng tập thể thầy cô trong tổ văn học Việt Nam trung
đại khoa Ngữ văn đã đóng góp những ý kiến quý báu cho việc hoàn thành khóa luận.
Do những điều kiện khách quan và chủ quan, những thiếu sót là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của thầy cô và những ai quan tâm đến đề tài.
Nguyễn Thị Hảo (B)
Trang 2Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Trong số các thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian Việt Nam nh: thầnthoại, truyện cổ tích, truyện cời thì truyền thuyết có số phận khá nghiệt ngã Bởivì nếu nh các thể loại khác ngay từ khi ra đời đã nghiễm nhiên trở thành những thểloại mang tính độc lập thì cho tới nay vấn đề truyền thuyết có phải là một thể loại
độc lập của loại hình tự sự văn học dân gian hay không vẫn còn là vấn đề gâynhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu văn học ở nớc ta Xu hớng chính hiệnnay, ngời ta công nhận truyền thuyết là thể loại độc lập Với đề tài này chúng tôicũng tán đồng với xu hớng trên Để góp phần khẳng định truyền thuyết là một thểloại độc lập trong loại hình tự sự văn học dân gian Việt Nam, chúng tôi đi sâu tìmhiểu Truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và
xứ Nghệ qua cái nhìn đối sánh.
1.2 Chùm truyện dân gian về Lê Lợi hình thành và phát triển từ sự kiện lịch
sử gắn với khởi nghĩa Lam Sơn của dân tộc ta ở thế kỉ XV Chùm truyện này đã
đ-ợc su tầm chỉnh lí, giới thiệu trong hai cuốn sách đều do Nxb Thanh Hoá ấn hànhvào năm 1985 và 2005 với số lợng truyện khá phong phú, đa dạng và đợc lu truyềnphổ biến rộng rãi trong đó có hai vùng tồn tại với số lợng các mẫu truyện kể lớnnhất đó là xứ Thanh và xứ Nghệ Sở dĩ nh vậy bởi vì Thanh Hoá là đất dấy nghiệpcòn Nghệ Tĩnh là “đất đứng chân” Tuy nhiên trên thực tế thì chùm truyền thuyết
về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn ở hai vùng này ngoài những điểm tơng đồng còn
có những điểm khác biệt Mặc dù chùm truyện này là một hiện tợng văn học khá
độc đáo đã và đang đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: Hoàng Tiến Tựu, ĐỗBình Trị, Hoàng Anh Nhân, Kiều Thu Hoạch, nhng vấn đề trên thì cha đợc đặt
ra Vì vậy chúng tôi chọn đề tài Truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ qua cái nhìn đối sánh để tìm hiểu với hi vọng
làm rõ đợc vấn đề trên
1.3 Nếu giải quyết đợc những vấn đề mà đề tài đặt ra thì không những cógiá trị về mặt lý thuyết của một thể loại thuộc loại hình tự sự văn học dân gian màcòn có giá trị thực tiễn vợt ra ngoài phạm vi nghiên cứu của văn học
Trang 3Trớc hết, khi làm rõ đợc vấn đề này sẽ giúp cho việc dạy học một số tácphẩm thuộc chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn đợc dạy trong
chơng trình Ngữ văn THCS và THPT nh: Sự tích Hồ Gơm, có hiệu quả, có những
sự phân tích đánh giá chính xác, thoả đáng đối với những vấn đề đặt ra trong tácphẩm Tránh tình trạng dạy học tác phẩm văn học dân gian không gắn với đặc trngthể loại
Ngoài ra, khi giải quyết đợc những vấn đề đặt ra trong đề tài còn tạo điềukiện cho việc giải quyết những vấn đề ngoài lĩnh vực văn học đó là văn hoá Chính
là việc phân vùng văn hoá - một vấn đề đã và đang đợc nhiều nhà nghiên cứu vềvăn hoá vùng miền trong nớc quan tâm tìm hiểu
2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trên thực tế, chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn tồn tại ở
địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ với số lợng lớn và vô cùng phong phú Nó tồn tạitrên hai địa bàn với những điểm tơng đồng và khác biệt nh thế nào về số lợng, vềnội dung và biện pháp nghệ thuật? Đó là những câu hỏi chính đòi hỏi chúng tôiphải trả lời thấu đáo bằng việc khảo sát, thống kê, phân loại và phân tích một sốtruyện tiêu biểu ở hai vùng để chứng minh
Không chỉ dừng lại ở việc làm rõ sự tơng đồng và khác biệt mà chúng tôicòn tìm ra nguyên nhân dẫn đến điều đó Đồng thời, chúng tôi cũng chỉ ra đâu lànguyên nhân chủ yếu
Cũng qua đề tài này, chúng tôi cũng làm rõ những đặc trng của truyềnthuyết góp phần khẳng định sự tồn tại độc lập của thể loại này trong loại hình tự sựcủa văn học dân gian Việt Nam, vì đây là một trong hai tiêu chí để khẳng định sựtồn tại độc lập của một thể loại
3 Phạm vi nghiên cứu.
Để làm rõ đợc sự tơng đồng và khác biệt đồng thời chỉ ra nguyên nhân dẫn
đến điều đó ở chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn
xứ Thanh và xứ Nghệ, chúng tôi đã sử dụng những nguồn tài liệu sau:
Tập Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, trong đó chúng
tôi tập trung khảo sát phần truyền thuyết - cổ tích, phần giai thoại và một số
truyện thuộc phần thần tích, thần phả
Trang 4Ngoài ra chúng tôi còn dựa vào một số truyện kể về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn đợc đa vào Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam.
Chúng tôi còn dựa vào một số truyện đợc sinh viên trờng đại học s phạmVinh (nay là trờng đại học Vinh) su tầm ghi chép trong những lần điền dã về haihuyện Quỳ Hợp và Thanh Chơng trong hai năm 1984 và 1989 (nguồn truyện này
đã đợc thầy Hoàng Minh Đạo công bố trong bài Truyền thuyết về Lê Lợi trên địa bàn xứ Nghệ.
Gần đây có thêm cuốn truyền thuyết Lam Sơn của Nguyễn Sơn Anh Về cơ
bản những truyện có trong cuốn sách này đã có ở Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, chỉ có thêm một số truyện mới và một số dị bản của cuốn
sách mà Nxb Thanh Hoá ấn hành năm 1985
Vì thế t liệu chính mà chúng tôi dùng vẫn là cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn Bởi nh đã nói ở trên, tài liệu này đã bao hàm nhiều tài
liệu khác Tuy thế, trong quá trình triển khai đề tài chúng tôi có sử dụng cáctruyện mới đợc đa vào cuốn Truyền thuyết Lam Sơn cũng nh có sự đối chiếu các
dị bản
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Để triển khai đề tài này chúng tôi đã áp dụng các phơng pháp: thống kê,phân loại, khảo sát, phân tích và so sánh
Phơng pháp thống kê, khảo sát đợc chúng tôi dùng để tập hợp các truyện kể
về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ đã đợc công
bố Sau đó, dùng phơng pháp phân loại để phân các truyện thành các nhóm dựavào nội dung phản ánh Tiếp đó, dùng phơng pháp so sánh để tìm ra những điểm t-
ơng đồng và khác biệt trong chùm truyện này ở hai địa bàn trên Đồng thời chúngtôi cũng phân tích một số truyện tiêu biểu ở hai địa bàn để làm rõ điều đó
Trong các phơng pháp trên, phơng pháp so sánh đợc chúng tôi áp dụngnhiều nhất trong quá trình triển khai đề tài này
5 Lịch sử vấn đề.
5.1 Việc nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam nói chung.
Trang 5Trong một thời gian dài trớc đây thì việc nghiên cứu về truyền thuyết chathật sự đợc chú ý Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủyếu là vấn đề có hay không có thể loại truyền thuyết trong loại hình tự sự văn họcdân gian Việt Nam đang có nhiều ý kiến khác nhau.
Tuy nhiên, xu hớng hiện nay thì phần lớn ngời ta đã công nhận sự tồn tại
độc lập của thể loại này Do đó , cũng đã có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu,nghiên cứu về thể loại truyền thuyết: Trần Thị An có bài Nghiên cứu truyền thuyết những vấn đền đặt ra và bài Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân gian.
Kiều Thu Hoạch có Truyền thuyết anh hùng thời kì phong kiến và Bùi Quang
Thanh có bài Tìm hiểu kết cấu của dạng truyền thuyết anh hùng Đến năm 2000,
Lê Trờng Phát trong cuốn bài giảng chuyên đề Thi pháp văn học dân gian có một
số bài tơng đối khái quát về thi pháp truyền thuyết
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề củatruyền thuyết nói chung và truyền thuyết anh hùng nói riêng: không gian nghệthuật, thời gian nghệ thuật, nhân vật, nhân vật ngời kể chuyện, kết cấu chuỗichùm
5.2 Việc nghiên cứu truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn.
Truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn với số lợng các mẫu truyện
khá phong phú, đa dạng và đợc lu truyền phổ biến trên địa bàn tơng đối rộng.Chùm truyện là một hiện tợng văn học độc đáo, do đó đã thu hút các nhà nghiêncứu tham gia tìm hiểu ở những mức độ khác nhau
Có một số công trình chỉ điểm qua những truyện này nh là những dẫn chứngkhoa học Đó là cuốn Tục ngữ với truyền thuyết anh hùng của Trần Đức Các,
cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh Ngoài ra
còn có Lòng yêu nớc trong văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân,
bài viết Tìm hiểu kết cấu của dạng truyền thuyết anh hùng của Bùi Quang Thanh,
bài viết Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên Đặc
biệt cuốn giáo trình Thi pháp văn học dân gian của ông Lê Trờng Phát có bài Thi pháp truyền thuyết lịch sử đã lấy một số truyện thuộc chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn làm ví dụ minh hoạ.
Trang 6Bên cạnh đó, đã có một số công trình lấy truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn làm đối tợng trung tâm của việc nghiên cứu nh: Truyền thuyết và
cổ tích Lam Sơn của Phơng Anh, Hình tợng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn trong truyền thuyết của Hoàng Khôi Đặc biêt, năm 1985 sở văn hoá thông tin Thanh
Hoá cho xuất bản cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, phần
hai của cuốn sách có đăng hai bài viết của ông Hoàng Tiến Tựu và ông HoàngAnh Nhân rất đáng chú ý
Trong bài viết Bớc đầu tìm hiểu sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, ông Hoàng Tiến Tựu đã chỉ ra những đặc điểm của chùm truyền thuyết
này nh “Tính chất kết hợp vừa là văn nghệ vừa là lịch sử, hiện thực gắn chặt với
lí tởng "cái có " hoà lẫn với "cái không" - một đặc điểm lớn của sáng tác dân gian về đề tài lịch sử đã đợc thể hiện hết sức nổi bật và độc đáo ở bộ phận sáng tác dân gian này” [36,199] Ông đã chứng minh điều đó qua thời gian, không
gian, nhân vật và mục đích sáng tác, lu truyền Đặc điểm thứ hai là “Số lợng nhiều, quy mô mỗi tác phẩm không lớn” [36,202] Từ đặc điểm ông cũng chỉ ra
phơng pháp nhận thức, thởng thức bộ phận truyện này Đồng thời, ở bài viết này
ông cũng đã làm nổi bật đợc những hình tợng tiêu biểu trong chùm truyện này đólà: Lê Lợi, nghĩa quân và nhân dân anh hùng, hình tợng kẻ thù của Lê Lợi vànghĩa quân Lam Sơn và chỉ ra các thủ pháp, phơng pháp xây dựng các hình tợngnhân vật đó, “Hai khuynh hớng thần thánh hoá và bình thờng hoá đã diễn ra song song và chi phối lẫn nhau trong suốt cả quá trình sáng tác, xây dựng hình tợng Lê Lợi của tác giả dân gian” [36,210] Còn hình tợng kẻ thù của Lê Lợi và
nghĩa quân thì đợc nhân dân khắc hoạ bằng cách “Khi kể chuyện, mỗi lần nhắc
đến chúng nhân dân ta thờng dùng những từ ngữ thể hiện đợc thật rõ sự khinh bỉ
và căm ghét cao độ của mình” [ 36,213].
Ông Hoàng Anh Nhân trong bài Hình tợng Lê Lợi trong truyện kể dân gian
đã chỉ ra “Lê Lợi sống trong sáng tác dân gian có những nét độc đáo, khác với truyện kể dân gian về các anh hùng khác trong lịch sử dân tộc” [36,220] và ông
đã nêu lên những điểm khác đó nh: Lê Lợi là trung tâm của mọi truyện kể dân
Trang 7gian ( trong chùm truyền thuyết này), hình tợng Lê Lợi có nét độc đáo qua xâydựng mô típ riêng về nhân vật anh hùng
Những năm gần đây trong các khoá luận tốt nghiệp, nhiều sinh viên cũng
đã lấy chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn là đối tợng nghiên
cứu nh: Một số đặc điểm thi pháp truyền thuyết qua truyện kể dân gian về Lê Lợi
và khởi nghĩa Lam Sơn của Nguyễn Việt Hùng; Quan niệm nghệ thuật về con
ng-ời trong truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn của Trần Thị Mỹ.
5.3 Việc nghiên cứu truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ.
Nh chúng tôi đã nói ở trên, nếu Thanh Hoá là nơi dấy nghiệp thì Nghệ Tĩnh
là “đất đứng chân” của Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn Cho nên ở hai địa bàn này
tồn tại một số lợng mẫu truyện tơng đối lớn về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chùm truyền thuyết về nhân vật và sự kiệnlịch sử này ở địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ còn rất ít ỏi
ở Nghệ Tĩnh có cuốn Nghệ Tĩnh trong tổ quốc Việt Nam của Trần Thanh
Tâm và Ninh Viết Giao Nh tên gọi của nó, tác giả đã đặt Nghệ Tĩnh trong chỉnhthể tổ quốc Việt Nam để đánh giá Trong công trình này cũng đã in một số mẫutruyện kể về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn nh: Thành Nam ở Tơng Dơng; Trận
Bồ Đằng sấm vang chớp giật; Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay; Bắt Chu Kiệt giết Hoàng Thành Thầy Hoàng Minh Đạo cũng có bài viết Truyền thuyết về Lê Lợi trên địa bàn xứ Nghệ cũng đã nêu ra một số đặc điểm của các mẫu truyện kể về
nhân vật và sự kiện lịch sử ở vùng văn hoá này
ở Thanh Hoá cũng đã có công trình Truyền thuyết Lam Sơn của Nguyễn
Sơn Anh Đặc biệt ở hai bài viết của ông Hoàng Tiến Tựu và Hoàng Anh Nhântrong cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn thì các tác giả
cũng chỉ mới bàn về truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn nói chung
Tuy nhiên, điều ta thấy ở đây là các tác giả đã đi vào tìm hiểu chùm truyềnthuyết này ở hai địa bàn độc lập mà cha có sự so sánh về nó ở hai địa bàn vớinhau Do đó tìm hiểu Truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa
Trang 8bàn xứ Thanh và xứ Nghệ qua cái nhìn đối sánh là vấn đề còn mới mẻ cha đợc
tìm hiểu, nghiên cứu
Tất cả những bài viết, công trình nghiên cứu trên là những gợi ý đáng quý
để chúng tôi triển khai đề tài này
6 Cấu trúc khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận, khoá luận còn
có mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 9Phần nội dung chính
Chơng 1 : Những vấn đề chung
1.1 Về khái niệm truyền thuyết và những đặc điểm tiêu biểu của nó.
1.1.1.Về khái niệm truyền thuyết.
Nh đã trình bày ở trên, nếu nh các thể loại tự sự dân gian khác: thần thoại,
cổ tích, truyện cời ngay từ đầu đã đợc công nhận là một thể loại tồn tại độc lậptrong loại hình tự sự dân gian Việt Nam thì cho tới nay, truyền thuyết vẫn phảichịu một số phận khá nghiệt ngã Bởi cho đến lúc này, vấn đề có nên phân haykhông nên phân truyền thuyết thành một thể loại độc lập vẫn đang tồn tại nhiều ýkiến tranh luận
Có thể thấy việc xác lập khái niệm cho một thể loại đang có nhiều tranh cãikhông phải là một điều dễ dàng Khái niệm truyền thuyết cũng nằm trong tìnhhình đó Có thể nói có bao nhiêu ngời nghiên cứu về truyền thuyết thì có bấynhiêu định nghĩa về thể loại đó Sau đây là một số định nghĩa mà chúng tôi thống
kê đợc
Theo Nguyễn Đổng Chi: “Truyền thuyết chỉ là những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử đợc quần chúng truyền lại song không đảm bảo chính xác Truyền thuyết phần nhiều cha đợc xây dựng thành truyện Nó mới chỉ là các mẫu truyện Hiện nay, truyền thuyết Việt Nam su tầm đợc rất ít, đợm vị cổ tích nhiều hơn thần thoại Vì thế khi su tầm có thể xếp vào cổ tích, xem nh cổ tích”
[7, 12] ở đây tác giả đã nhắc đến khái niệm truyền thuyết, tuy nhiên lại coi nhtruyện cổ tích, xếp vào truyện cổ tích Nguyễn Đổng Chi cha công nhận sự tồn tại
độc lập của truyền thuyết cũng nh đặc trng thi pháp riêng của nó
Cao Huy Đỉnh lại có quan điểm nh sau: “Sau thần thoại lại là sử ca dân gian tiếp tục phản ánh những sự kiện lớn, những vấn đề lớn liên quan tới vân mệnh chung của toàn dân tộc Sử ca dân gian gồm hệ thống truyền kể lời ca, trò diễn, nh thần thoại , nhng trong chừng mực nào đó đã theo sát lịch sử cụ thể của dân tộc, đất nớc trong từng thời kỳ” [12, 22] Ta thấy ở đây cách gọi tên của
tác giả có khác, không gọi là truyền thuyết mà gọi là sử ca dân gian Tuy nhiên, về
Trang 10cơ bản ông đã ghi nhận sự tồn tại độc lập của truyền thuyết trong loại hình tự sựdân gian Việt Nam và cũng chỉ ra đặc trng thi pháp của nó
Thủ tớng Phạm Văn Đồng trong bài báo Nhân ngày giổ tổ Hùng Vơng năm
1969 có viết: “Những truyền thuyết dân gian có cốt lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ
và mộng, chắp đôi cách của sự tởng tợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con ngời a thích” Tác giả không phải là nhà nghiên
cứu truyền thuyết chuyên nghiệp, song nhận định ấy đã nêu bật đợc đặc điểm củatruyền thuyết Đó là tính lịch sử, tính nghệ thuật cũng nh giá trị t tởng thẩm mĩ củatruyền thuyết Bài báo của Thủ tớng đã xác lập vị trí xứng đáng của truyền thuyếttrong nền văn học dân tộc Quan điểm của thủ tớng cũng đã định hớng cho hàngloạt các công trình nghiên cứu truyền thuyết về sau
Trên cơ sở tiếp thu tinh thần bài báo của Thủ tớng Phạm Văn Đồng, nhiềunhà nghiên cứu đã đa ra khái niệm truyền thuyết
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, đa ra khái niệm truyền thuyết
nh sau: “Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hởng quan trọng đối với một thời kỳ, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phơng” [ 29,
37] Có thể thấy, các tác giả đã nêu đợc vị trí, chức năng của thể loại truyềnthuyết
Ông Đỗ Bình Trị, khi bàn về đề tài của truyền thuyết có nêu: “Truyền thuyết là những truyện dân gian về lịch sử” [ 33, 83] ý kiến này đã nhấn mạnh
nội dung phản ánh lịch sử của truyền thuyết
Hoàng Tiến Tựu thì cho rằng: “Truyền thuyết là loại truyện dân gian ra
đời sau thần thoại, có nhiều quan hệ với thần thoại, nhng khác với thần thoại về nhiều phơng diện.
Về nội dung, truyền thuyết vừa phản ánh hiện thực cốt lõi của lịch sử, vừa phản ánh khát vọng, mơ ớc của nhân dân Về phơng pháp phản ánh, mặc dù còn chịu nhiều ảnh hởng của phơng pháp sáng tác thần thoại ( tức là sự tởng tợng li kì theo quan niệm thần linh) nhng nhờ bám sát vào phần cốt lõi của các sự kiện
Trang 11và nhân vật lịch sử nên trong truyền thuyết hai yếu tố hiện thực và lí tởng đợc kết hợp rõ hơn, trong đó yếu tố hiện thực vừa là xuất phát điểm, vừa là thành phần chủ yếu” [ 31, 38].
Trần Đức Các có quan điểm: “Truyền thuyết đợc nhân dân sáng tạo da trên cơ sở hiện thực, có khi vợt ra ngoài hiện thực ít nhiều mang màu sắc tín ng- ỡng” [ 5 ] ý kiến của tác giả đã chỉ ra sự đan xen giữa hiện thực và yếu tố kỳ ảo ở
truyền thuyết
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trớc, Kiều ThuHoạch đã đa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về truyền thuyết: “Truyền thuyết là thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử, hoặc giải thích các phong vật địa phơng theo quan điểm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến là phô trơng phóng đại, đồng thời sử dụng yếu tố kỳ ảo nh cổ tích, thần thoại Nó khác với cổ tích ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không hoàn toàn trong trí tởng tợng và bằng tởng tợng” [ 16, 39] Đây là
một định nghĩa bao trùm hầu hết các phơng diện thi pháp của truyền thuyết nh :vai trò thể loại, đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật, phạm vi phản ánh Chúngtôi chọn định nghĩa này trong quá trình triển khai đề tài
1.1.2 Những đặc điểm tiêu biểu của thể loại truyền thuyết
1.1.2.1 Thời điểm ra đời và quá trình phát triển.
Nếu nh thần thoại ra đời khi xã hội cha có giai cấp thì truyền thuyết ra đờikhi xã hội đã có sự phân chia giai cấp gay gắt Con ngời khi đã bắt đầu chế ngự đ-
ợc thiên nhiên thì của cải vật chất ngày càng d dật Đó là nguyên nhân dẫn đếnchiến tranh giữa các cộng đồng cận kề lãnh thổ Nếu nh kể thù chính của con ngờitrong thần thoại là sức mạnh tự nhiên thì kể thù chính của họ bây giờ là cộng đồngkhác, là đồng loại Khi phần nào chế ngự đợc kể thù Bốn chân, sự quan tâm của
con ngời bấy giờ tập trung mạnh vào trách nhiệm bảo vệ cộng đồng trớc kể thù
Hai chân Một thể loại ra đời nhằm ca ngợi những thủ lĩnh đã có công trong cuộc
bảo vệ bộ tộc bộ lạc, đồng thời qua đó giáo dục con ngời trách nhiệm cộng đồng
đó là truyền thuyết
Trang 12Nh vậy, truyền thuyết xuất hiện sau thần thoại ra đời từ “Bình minh lịch sử dân tộc” Nó ra đời cùng với sự ra đời của các nhà nớc quốc gia ở nớc ta, nhà n-
ớc xuất hiện đầu tiên là nhà nớc Văn Lang trong thời đại các vua Hùng
Về quá trình phát triển ta thấy: truyền thuyết gắn với chiều dài lịch sử dântộc: thời Văn Lang có truyền thuyết về Thánh Gióng, Hùng Vơng, thời Âu Lạc có
truyền thuyết về An Dơng Vơng, thời Bắc thuộc có truyền thuyết về Bà Trng, Bà Triệu Sau đó, khi Việt Nam độc lập tự chủ có truyền thuyết về Lê Lợi , Quang Trung, Nguyễn Huệ.
1.1.2.2 Chức năng.
Chức năng thể loại chính là yêu cầu và hoàn cảnh xã hội để thể loại ra đời.Chính yêu cầu và hoàn cảnh xã hội đã tham gia hình thành những đặc trng thipháp của thể loại
Thể loại truyền thuyết cũng nằm trong tình hình đó Xã hội có giai cấp ra
đời với nhiều yêu cầu đặt ra cần phải giải quyết, đó là việc nhận thức và lý giảilịch sử Truyền thuyết ra đời phần nào đã đáp ứng đợc nhu cầu đó
Với thần thoại, chức năng chủ yếu là nhận thức và lý giải các hiện tợng tựnhiên có ảnh hởng to lớn đến cuộc sống con ngời Thần thoại là ớc mơ chinh phụcsức mạnh của tự nhiên, thần thoại quan tâm đến những vấn đề của vũ trụ nhchuyện ma, gió, bão, lụt, những vấn đề mang tầm nhân loại nh nguồn gốc con ng-
ời Ngợc lại, truyền thuyết có chức năng khác, “Đó là đánh giá các nhân vật lịch
sử, các sự kiện lịch sử, qua đó giáo dục con ngời về trách nhiệm cộng đồng” [ 15,
19 ]
Đối với dân tộc ta, quá trình phát triển của lịch sử bao giờ cũng gắn với haicông cuộc chủ yếu là dựng nớc và giữ nớc, mà nh Bác Hồ đã từng nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nớc, Bác cháu ta phải giữ lấy nớc”.
Công cuộc dựng nớc đợc phản ánh ở các truyền thuyết về vua Hùng Tuynhiên, có công dựng nớc, xây dựng đất nớc ngoài việc giữ lãnh thổ thì quan trọnghơn là xây dựng bản sắc văn hoá riêng, điều đó cũng đã đợc thể hiện ở truyện Sự tích trầu cau, Sự tích bánh chng bánh giày, đó đều là truyền thuyết thời Hùng V-
Trang 13ơng Công cuộc dựng nớc đó, về sau cũng đợc thể hiện một phần trong truyềnthuyết An Dơng Vơng.
Công cuộc giữ nớc đợc phản ánh rất nhiều ở các truyền thuyết về Thánh Gióng, An Dơng Vơng, bà Trng, bà Triệu, Lê Lợi Nó đã trở thành dòng truyền
Nhân vật trong truyền thuyết nói riêng và trong văn học dân gian nói chung
đều là kiểu nhân vật chức năng Tức là “Nhân vật có các đặc điểm, phẩm chất cố
định không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm Sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phản ánh đời sống Nhân vật đồng nhất với vai trò mà nó đóng trong tác phẩm” [29, 228].
Tuy nhiên, nhân vật trong truyền thuyết còn có những đặc điểm riêng của
nó Nếu nh trong thần thoại nhân vật chính là các vị thần thì trong truyền thuyếtnhân vật chính lại là con ngời, nhng đó là con ngời có tầm vóc lịch sử, có phẩmchất anh hùng, đó là những con ngời có thật ở ngoài đời Tuy nhiên, không phảibất cứ một nhân vật anh hùng nào ở ngoài đời sống cũng đợc phản ánh vào trongtruyền thuyết mà truyền thuyết đã có sự lựa chọn để phản ánh Lê Trờng Phát đãcho rằng: “Nhân vật (và sự kiện) của truyền thuyết là những con ngời có thật ngoài đời: những anh hùng có công chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc, những lãnh tụ nông dân khởi nghĩa, những danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá Nh-
ng không phải bất cứ danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá nào cũng trở thành nhân vật trung tâm đợc truyền thuyết miêu tả” [26, 20].
Trang 14Để khắc hoạ những nhân vật ấy thì tác giả dân gian thờng sử dụng thủ phápthần thánh hoá.
Thần thánh là lực lợng phi thờng có tài phép lạ Trong quan niệm của dângian, họ là ngời có khả năng thần kỳ Thần thánh hoá là cách thức xây dựng conngời bằng cách khoác cho họ chiếc áo thần linh, biến con ngời có khả năng nhthần thánh
Thần thánh hoá là một biện pháp miêu tả con ngời phổ biến trong truyềnthuyết bởi “Truyền thuyết là những cốt lõi lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ
đã gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình, cùng thơ và mộng chắp đôi cánh của sức tởng tợng làm nên tác phẩm văn hoá đời đời con ngời a thích” [10 ].
Ngoài ra, truyền thuyết còn sử dụng phổ biến biện pháp bình thờng hoá,lịch sử hoá khi miêu tả con ngời Nhờ biện pháp này mà hình tợng con ngời trongtruyền thuyết trở nên gần gũi với nhân dân
Bình thờng hoá là cách miêu tả con ngời mang những nét bình dị, gần vớicuộc sống của số đông quần chúng lao động nghèo khổ
Nói đến tác phẩm tự sự thì phải nhắc đến một yếu tố không thể thiếu đó làyếu tố cốt truyện
“Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể đợc tổ chức theo yêu cầu t tởng và
nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trong nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [29, 99 ] Đó là
một khái niệm vừa có tính hình thức vừa có tính nội dung Hình thức thể hiện ở bốcục, kết cấu Nội dung thể hiện ở mâu thuẫn xung đột
So với thần thoại thì cốt truyện của truyền thuyết xét về mặt hình thức nóphức tạp, nhiều chi tiết hơn Mà nh Hoàng Tiến Tựu đã nhận xét truyền thuyết về
An Dơng Vơng nh sau: “Có thể nói, các chi tiết, các sự kiện trong truyền thuyết
về An Dơng Vơng, nó đan cài vào nhau giống nh cái mạng nhện xoay quanh các
nhân vật trung tâm” [ 31,89] Sở dĩ nh vậy là vì: truyền thuyết là sản phẩm nghệ
thuật của những con ngời có trình độ t duy đã phát triển cao
Một truyền thuyết tồn tại trên thực tế thờng có kết cấu phổ biến đó là chuỗichùm “Mỗi hạt kể về một sự kiện hoàn chỉnh, xoay quanh một nhân vật, nhiều hạt gắn kết với nhau thành chuỗi nhờ có một nhân vật xuyên suốt đóng vai trò
Trang 15nhân vật trung tâm của cả một sự kiện lịch sử lớn” [ 26, 29] Có thể nói, đây là
đặc trng cơ bản nhất của truyền thuyết để phân biệt nó với thần thoại, cổ tích,truyện cời, truyện ngụ ngôn
Hình tợng nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại trong một thời gian và khônggian nhất định Thời gian và không gian đó đợc gọi là thời gian và không giannghệ thuật Cũng nh không gian nghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn họcnghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian vàcái đợc trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, đợc biết qua thời gian trầnthuật
Thời gian trong truyền thuyết là thời gian mang tính xác định Các truyềnthuyết thờng kể về các sự việc đã xảy ra trong quá khứ và gắn với các giai đoạn,các thời điểm lịch sử xác định Để cho thời gian mang tính xác định thì các truyềnthuyết thờng đợc mở đầu bằng công thức "Vào đời ", hoặc "Năm thứ ".
Có thể nói rằng, thời gian của truyền thuyết là thời gian mang màu sắc lịch
sử Điều quan tâm lớn nhất đối với họ là nhuốm cho truyền thuyết màu sắc lịch sử
để bộc bạch niềm tin và thuyết phục ngời khác tin theo Trong truyền thuyết, tínhchất lịch sử rất quan trọng và tác giả dân gian luôn tìm cách để đảm bảo nó “D- ờng nh chất sử là yếu tố mang tính giá trị, bảo đảm cho những điều đợc kể đáng tin cậy và ngợc lại, tính biểu tợng của thời gian sẽ mở ra biên giới không cùng cho tởng tợng, có khả năng dung chứa những điều bí ẩn” [ 2 ].
Thời gian trong truyền thuyết còn là thời gian đột biến và thời gian vĩnhcửu
Thời gian đột biến nghĩa là thời gian có sự “nhảy vọt, thời gian vận động trong truyền thuyết đợc tính bằng những bớc dài, có khi là mấy năm” [ 2] Đó
cũng là sự lựa chọn tất yếu của truyền thuyết để miêu tả lịch sử trong tính quátrình, trong sự vận động mang tính bề sâu của nó
ở truyền thuyết, còn có thời gian vĩnh cửu, nghĩa là thời gian bất biến,không thay đổi Điều này thể hiện rất rõ trong truyền thuyết về Thánh Gióng.
Nh vậy, thời gian trong truyền thuyết vừa bám vào lịch sử, vừa h cấu ớc lệ,vừa thực vừa h, cho nên nếu nói truyền thuyết không phản ánh lịch sử thì không
Trang 16trọng Đúng hơn, phải thấy truyền thuyết phản ánh lịch sử theo cách riêng củamình Do đó các yếu tố thời gian trong truyền thuyết nên coi là những chi tiếtnghệ thuật hơn là chi tiết lịch sử xác thực, sự sai lệch giữa chúng là điều tất yếu.Xét về mặt quan niệm, thời gian nh là một sản phẩm của ý thức Thời gian trongtruyền thuyết vừa mang tính tuyến tính vừa mang tính chu kỳ.
Không gian nghệ thuật trong truyền thuyết đều là không gian lịch sử, vì thểloại này tác giả dân gian tái hiện vùng nơi đã xảy ra sự kiện lịch sử trọng đại đó làvùng Trung Châu (ở truyền thuyết Thánh Gióng), vùng Cổ Loa (ở truyền thuyết về
An Dơng Vơng), là nơi đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn đã từng đi qua (ở truyền
thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn).
Không gian nghệ thuật trong truyền thuyết nó có tính xác định cụ thể vì nóthờng gắn với địa danh có thực Không gian nghệ thuật xác định cụ thể để tạo raniềm tin đối với ngời nghe, rằng đây là câu chuyện có thật
Nói đến truyện dân gian không thể không nhắc đến vai trò của nhân vật kểchuyện Nh chúng ta đã biết, truyện kể dân gian hình thành từ lời kể của các nghệnhân Vì vậy, ngời kể chuyện, đồng thời cũng là ngời sáng tạo có vai trò hết sứcquan trọng trong việc hình thành những đặc trng thi pháp của từng thể loại truyện
và với mỗi thể loại, ngời kể cũng giữ vai trò khác nhau
Nếu nh ngời kể chuyện thần thoại cũng là tín đồ của những lí giải trongtruyện, hay nói cách khác, ngời kể chuyện thần thoại cũng tin một cách ngây thơvào điều đợc kể ra, thì trong truyền thuyết lại khác Ngời kể luôn luôn cố tạo lòngtin cho ngời nghe, còn bản thân anh ta có tin vào điều đợc kể hay không khôngphải là việc quan trọng Đây là điểm khác nhau rất cơ bản về vai ngời kể chuyện ởthần thoại và truyền thuyết
Nh vậy, truyền thuyết là một thể loại của văn học dân gian có tính đặc thù
1.2 Về địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ.
ở nớc ta, vào thời phong kiến, thờng sử dụng khái niệm xứ để gọi nhữngvùng đất khác nhau: xứ Lạng, xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Huế, xứ Quảng
“Xứ là tên gọi dùng để chỉ khu vực địa lí có chung một số đặc điểm tự
nhiên, hoặc xã hội nào đó” [ 27, 1083] Xứ Thanh và xứ Nghệ cũng có ý nghĩa
này
Trang 17Xứ Thanh là tên gọi dùng để chỉ tỉnh Thanh Hoá Trớc đây có một thời kìdài Thanh Hoá còn đợc gọi là Thanh Hoa do nó trùng với tên tục của một vị vua,nhng sau đó, nó đã đợc trả lại tên gọi ban đầu Đây là mảnh đã sinh ra rất nhiềunhân vật lịch sử lỗi lạc, trong đó có một số vị vua Vì thế mà trong dân gian thờngtruyền nhau câu tục ngữ “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần” Thanh Hoá cũng là nơi
phát xuất nền văn hoá Đông Sơn
Xứ nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ ( bao gồm hai tỉnh Nghệ An
và Hà Tĩnh) Từ thời Hậu Lê, hai vùng này cùng chung một vùng văn hoá, đó làvăn hoá Lam Hồng, có chung biểu tợng là núi Hồng sông Lam - nằm ở ranh giớigiữa Nghệ An và Hà Tĩnh Trung tâm của xứ Nghệ nằm ở hai bên dòng sông Lam
và phủ Đức Quang, phủ Anh Đô khi xa, tức là các huyện Hơng Sơn, Đức Thọ, CanLộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh và các huyện Thanh Chơng,Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lơng, Anh sơn của Nghệ
An ngày nay
Danh xng Nghệ An có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứhai Lúc đó gọi là Nghệ An châu trại, sau đó thì đổi thành trại Nghệ An và Nghệ
An phủ, Nghệ An thừa tuyên Năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng
Đức thứ 21) đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt là xứNghệ), đồng thời với các đơn vị hành chính khác lúc bấy giờ nh: xứ Kinh Bắc, xứSơn Nam, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Thanh Hoá, xứ Lạng Sơn
Năm 1831 thời vua Minh Mệnh, xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh
Năm 1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn là Nghệ Tĩnh
Năm 1991, lại tách ra thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nh ngày nay
Nh vậy, xứ Thanh cũng nh xứ Nghệ ( bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh) là haivùng văn hoá cận kề, có ảnh hởng, tác động qua lại
1.3 Khảo sát, thống kê, phân loại truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ.
Truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trải suốt từ Bình Trị Thiên
ra đến tận Lạng Sơn Không gian mênh mông rộng lớn nh vậy, nhng trong đề tàinày chúng tôi chỉ tập trung khảo sát nó ở xứ Thanh và xứ Nghệ
Trang 18Muốn xác định đợc những truyện kể về Lê Lợi tại địa bàn xứ Thanh và xứNghệ cần dựa vào các căn cứ: đó là những truyện đợc lu truyền trên mảnh đất này
và do ngời dân nơi đây kể lại Nội dung của chúng có nói tới các địa danh, cácnhân vật cùng với các sự kiện, các chứng tích có liên quan tới cuộc khởi nghĩaLam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo diễn ra trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ
Với căn cứ đó, chúng tôi đã khảo sát thống kê đợc ở xứ Thanh có tất cả 121truyện Trong đó, ở cuốn Truyền thuyết Lam Sơn của Nguyễn Sơn Anh đã công
bố có 46 truyện và 75 truyện đợc công bố ở cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn của nhiều tác giả Trong số đó, có một số truyện đều có ở cả
hai cuốn sách về cơ bản là giống nhau, còn có một số truyện thì lại có những dịbản khác nhau Chẳng hạn truyện Tiểu tôn thần Canh Hoạch, ở hai cuốn thì
truyện này có tên giống nhau nhng lại có một số tình tiết khác nhau, hay nh truyện
Dới gốc cây thị, anh em kết nghĩa, truyện Ngời em kết nghĩa của Lê Lợi , với
những truyện đó chúng tôi vẫn khảo sát chúng với t cách là những truyện độc lập,trên cơ sở đó để đối sánh những dị bản
Dựa vào tiêu chí nội dung phản ánh, chùm truyền thuyết về Lê Lợi trên địabàn xứ Thanh có thể chia thành các nhóm sau:
Những truyện kể về các địa danh mà tên gọi của chúng tơng truyền là do LêLợi đặt (gồm 61 truyện) Tiêu biểu nh các truyện: Sự tích núi Mục, Ngôi đền Quốc Mẫu, Giếng hộ quốc, Núi Đá, Làng Bà, Làng Hơng, Làng Sắt, Làng Tiên Nông, Sông Chàng - Sông Nàng, Cầu Ván, Làng Nhân
Những truyện kể về các nhân vật đều là danh tớng của Lê Lợi (gồm 17truyện) nh: Chuyện Lê Văn Linh duổi hổ; Nguyễn Chích và khu căn cứ Hoàng Sơn; Tráng sĩ thành Tây Đô; Ngời anh hùng đánh két; Chuyện Nguyễn Thị Bình
đánh giặc; Lu Trung - Lu Nhân chú - Phạm Công phù Lê Lợi; Tráng sĩ thành Xuân Lôi
Những truyện kể về dấu tích còn lại của Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa LamSơn (gồm 23 truyện) nh: Thung Voi; Hòn đá khao; Hai cây sung khi tơi khi héo; Cánh đồng Ao Voi; Bãi cát rộng vùng đồi Nh Xuân; Hòn đá mài mực; Viên đá
có dấu chân ngời; Bàn tay ông Lê Lợi; Cây lim bến Chủa
Trang 19Những truyện kể về một số trận đánh giặc Minh cùng với mu mẹo của LêLợi cũng nh các mu sĩ của ông và một số ngời khác (gồm 6 truyện) nh: Sông cầu Chày chó lợi đứt đuôi; Ngọn gơm thần ông Lê Lợi
Những truyện kể về sự ra đời của Lê Lợi cùng với gia đình quê hơng và việc
ông đợc thần linh phù hộ thu hút đợc lắm nhân tài (gồm 15 truyện) nh: Mảnh đất dựng nền sáng nghiệp; Chuyện về Mã Phật Hoàng; Chuyện Lê Lợi đợc gơm thần; Nguyễn Trãi đi tìm minh chủ; Gơm thần Lê Lợi ; Thành Hoàng Nam Ngạn
(Tên các truyện cụ thể ở từng nhóm xin xem ở phần phụ lục)
Cũng với căn cứ trên, qua khảo sát chúng tôi đã tập hợp và thống kê đợc 40mẫu truyện kể về Lê Lợi trên địa bàn xứ Nghệ Trong đó ở cuốn Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn của nhiều tác giả có 6 truyện, cuốn Truyền thuyết Lam Sơn của Nguyễn Sơn Anh có 6 truyện và 10 truyện ở cuốn Nghệ Tĩnh trong tổ quốc Việt Nam Của Trần Thanh Tâm và Ninh Viết Giao Trong những
lần điền dã ở huyện Quỳ Hợp và huyện Thanh Chơng tỉnh Nghệ An vào các năm
1984 và 1989, sinh viên khoa Ngữ văn trờng ĐHSP Vinh (nay là trờng Đại họcVinh) còn su tầm đợc 18 truyện (Nguồn truyện này đã đợc công bố trong bài
Truyền thuyết về Lê Lợi trên địa bàn xứ Nghệ của thầy Hoàng Minh Đạo - giảng
viên khoa Ngữ văn trờng Đại học Vinh)
Căn cứ vào tiêu chí nội dung phản ánh, chùm truyền thuyết về Lê Lợi trên
địa bàn xứ Nghệ đã đợc su tầm và công bố có thể chia thành các nhóm:
Những truyện kể về các địa danh (gồm 9 truyện) nh: Làng Cẩm Bào; Sự tích tên làng Đong; Thành Nam ở Tơng Dơng; Làng Cầm Lơng - Hữu Lễ; Làng Vĩnh Lộc
Những truyện kể về các nhân vật đều là các danh tớng của Lê Lợi xuất thân
từ xứ Nghệ (gồm 12 truyện): Dới gốc cây thị anh em kết nghĩa; Bạch Mã đại
V-ơng; Đền thờ Tuyên Nghĩa Hầu; Nguyễn Biên và động Choác; Ngời xây thành Lục Niên; Cơng quốc công Nguyễn Xí
Những truyện kể về một số trận đánh giặc Minh với mu mẹo của Lê Lợi vàcác mu sĩ của ông (gồm 14 truyện): Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật; Hiến kế
Trang 20đốt doanh trại nghi binh; Miền Trà lân trúc chẻ tro bay; Bắt Chu Kiệt, giết Hoàng Thành; Vây thành Diễn Châu, Trơng Hùng đại bại.
(Tên các truyện cụ thể ở từng nhóm xin xem ở phần phụ lục)
Việc phân ra thành các nhóm truyện nh vậy đối với các truyền thuyết về LêLợi ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ chỉ có tính chất tơng đối vì trong nhóm truyện kể
về địa danh có truyện cũng gắn với các nhân vật có công nh truyện Làng An có nói
tới ngời tù trởng Vi Thủ An (dân tộc Thái) Ngợc lại những truyện kể về các nhânvật ít nhiều đều có gắn với các địa danh nh truyện Thần tích Phan Đà có liên quan
tới tên làng Võ Liệt ở huyện Thanh Chơng
Trang 21Chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trên địa bàn xứ
Thanh và xứ Nghệ, nh tên gọi của nó đã tập trung tái hiện những nhân vật và sựkiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa này Các truyện đã tập trung làm rõ vai trò của
vị chỉ huy là Lê Lợi cùng với các tớng sĩ và nhân dân đã làm nên chiến thắng lịch
sử là đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi nớc ta Để làm rõ nguyên nhân đi đếnthắng lợi đó thì truyền thuyết về Lê Lợi trên địa bàn xứ Thanh và xứ Nghệ đã tậptrung phản ánh một số nội dung mà nh chúng tôi đã phân loại thành từng nhóm ởphần trớc
Có thể nói rằng, chùm truyền thuyết về Lê Lợi ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ,
đều tập trung kể về các tớng sĩ của Lê Lợi xuất thân từ địa bàn xứ Thanh và xứNghệ: Nguyễn Vĩnh Lộc, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí Điều đặc biệt khi miêu tảcác tớng lĩnh, tác giả dân gian ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ không hề miêu tả mộtcách chung chung mà mỗi tớng sĩ đợc hiện lên với những nét tiêu biểu không lẫn
đợc giữa tớng sĩ này với các tớng sĩ khác Họ hiện lên với những nét riêng.Nguyễn Xí đợc tái hiện với tài dạy chó đánh giặc, Nguyễn Chích đợc khắc hoạ ởtài nuôi bồ câu đa tin, nhắc đến Lê Văn Linh là nghĩ ngay đến bài văn đuổi hổ của
ông, Trần Soi có tài đánh két qua đó để tập luyện binh sĩ Mỗi ngời đợc nhấnmạnh ở một nét nào đó khiến cho bức tranh nghĩa quân Lam Sơn hội tụ đầy nhântài hào kiệt
Nội dung của truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn ở xứ Thanh
và xứ Nghệ còn kể về các tên đất tên làng mà các tên gọi này tơng truyền là do LêLợi đặt cho hoặc cũng có thể là do nhân dân đặt ra để thể hiện lòng ngỡng mộ ,biết ơn của họ đối với Lê Lợi nói riêng và nghĩa quân Lam Sơn nói chung
Chẳng hạn, truyện Sự tích làng Đong nh tên gọi của nó đã cho ta biết xuất
xứ của làng Đong Làng này, thuộc huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Truyện kể lạirằng: có lần nghĩa quân Lam Sơn hành quân qua vùng này và đóng căn cứ ở đây.Bây giờ, cuộc khởi nghĩa đang diễn ra quyết liệt và nghĩa quân Lam Sơn đang gặprất nhiều khó khăn Một hôm có con voi trận của nghĩa quân đột nhiên bị chết.Nhân dân làng này liền bàn nhau giúp nghĩa quân bằng tiền đồng Số tiền nhândân giúp đỡ nghĩa quân đã đạt tới con số rất lớn, không đếm xuể mà phải đongbằng đấu Do đó, Lê Lợi đã đặt tên cho làng này là làng Đong để ghi nhớ công ơn
Trang 22của dân làng đã giúp đỡ nghĩa quân khi gặp khó khăn Truyện Làng Cẩm Bào
cũng kể về nguồn gốc tên gọi làng Cẩm Bào ở xã Diễn Trờng Chuyện kể rằng: LêLợi trên đờng tìm gặp Nguyễn Vĩnh Lộc thì bị giặc Minh ở thành Diễn Châu pháthiện và truy đuổi Trong lúc chạy loạn vua tôi lạc nhau mỗi ngời một ngã, Lê Lợigặp cha con ngời đi nhủi Ngời cha sau khi dặn dò con mấy điều thì liền đổi áocho vua đồng thời cũng trao nhủi lại Vì thế mà vua đã thoát đợc nạn, còn ngời đinhủi bị cắt đầu Sau khi chôn cất cha xong ngời con đã dẫn Lê Lợi đến gặpNguyễn Vĩnh Lộc và xin gia nhập đội quân Khi thiên hạ đại bình, để nhớ ơn chacon ngời đi nhủi, Lê Lợi đã đặt tên làng là làng Cẩm Bào Có dị bản kể rõ hơn: Saukhi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua Nhớ tới công ơn cứu mạng củacha con ngời đi nhủi dới chân một chiếc cầu ở Nghệ An, vua Lê đã gửi về cho dânlàng nơi đó một chiếc áo bào và cho lập đền thờ ngời đã khuất Vì thế, chiếc cầu từ
đó có tên là cầu Cẩm Bào
Hay là ở xứ Thanh cũng có câu chuyện về tên gọi Cánh đồng Mẫu Hậu.
Đây là tên gọi cánh đồng mà Lê Lợi đặt cho nhằm ghi nhớ công ơn của ngời đàn
bà đã cứu Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn trong lúc đói khát, đó là truyện Cánh
đồng Mẫu Hậu Còn truyện Sự tích núi Dầu kể về tên gọi của ngọn núi này Tên
gọi này cũng do Lê Lợi đặt để tởng nhớ mụ hàng dầu yêu nớc đã cung cấp dầu chonghĩa quân để thắp sáng ngọn đèn chiêu quân
Nói đến một nghĩa quân hùng mạnh, một vị tớng tài ba không thể khôngnhắc đến những chiến công của họ Có những chiến công đã gắn với nghĩa quânngời ta liền nghĩ ngay đến nó nh một phản xạ Do đó, cả truyền thuyết về Lê Lợi ởcả xứ Thanh và xứ Nghệ đều tái hiện rất nhiều chiến công của nghĩa quân để làm
rõ thế mạnh chính nghĩa của họ
ở xứ Nghệ, nghĩa quân Lam Sơn đã lập đợc nhiều chiến công, trong số đó
có hai chiến công đã đợc phản ánh trong hai truyện Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật và Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay khiến nhân dân muôn đời không thể quên
đợc Nó cũng từng đi vào sử sách và đã đợc Nguyễn Trãi nhắc đến ở Bình Ngô đại cáo qua hai câu văn:
“Trận Bồ Dằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”.
Trang 23Có thể nói rằng, đây là hai câu văn bất hủ khi nói về hai chiến thắng này Nó đãbao quát đợc khí thế oai hùng của nghĩa quân Lam Sơn và sự thất bại nặng nề củagiặc Minh Chính vì vậy, nên tác giả dân gian cũng đã lấy ngay hai câu văn này để
đặt tên cho hai truyện kể về hai chiến công lừng lẫy đó của nghĩa quân
Không chỉ dừng lại ở việc tái hiện những chiến thắng oanh liệt bằng đấutranh vũ trang mà truyền thuyết về Lê Lợi ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ đã tập trungtái hiện những thắng lợi có đợc nhờ những mu mẹo nhỏ của nghĩa quân Trongchiến tranh, những thắng lợi có đợc nhờ đấu tranh vũ trang có vai trò quyết định.Tuy nhiên, những thắng lợi có đợc nhờ mu mẹo cũng không kém phần quan trọng,bởi nó giúp cho cuộc khởi nghĩa có những bớc nhảy vọt lớn và hạn chế tổn thất vềngời và của Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, nghĩa quân Lam Sơn cũng
đã nhiều lần giành đợc những thắng lợi nh thế Chẳng hạn, ở xứ Nghệ có truyện
Kết bù nhìn rơm, nghi binh lừa địch, bằng mu mẹo, các tớng sĩ của nghĩa quân
Lam Sơn đã kết những bù nhìn bằng rơm để đánh lừa địch Chính vì thế, giặcMinh đã rất hoảng sợ trớc lực lợng "ảo" của ta cho nên không dám tấn công, tạo
điều kiện cho nghĩa quân có nhiều thời gian cũng cố và xây dựng lực lợng chuẩn
bị cho những trận đánh lớn
Tham gia chống giặc Minh không chỉ có nghĩa quân Lam Sơn mà còn có
đông đảo nhân dân thuộc nhiều lứa tuổi, đủ các giới tính và nghề nghiệp khácnhau do đó họ cũng là chủ nhân của nhiều mu mẹo của nhiều chiến công
Chẳng hạn ở truyện Sông cầu Chày chó lội đứt đuôi đã nói về sự ứng xử rất
thông minh và can đảm sẵn sàng hi sinh của một bác phờng săn Nhng điều đángnói ở đây là mu mẹo của bác phờng săn nghĩ ra hết sức thông minh, mu mẹo đó đã
đợc bao quát trong câu nói của bác phờng săn, đồng thời đó cũng là nhan đề củatruyện Hay nh ở truyện Em gái thành Tây Đô kể về em gái bé còn rất nhỏ tuổi
nhng đã chung tay vào việc giết giặc bằng mu mẹo nhỏ hết sức thông minh.Truyện kể về một vùng, dân bị bắt đi phu phen tạp dịch Dân chúng tìm cách trốn,
ở làng chỉ có vài ba ngời già và trẻ em Một hôm đi càn, giặc Minh đi qua mộtngôi nhà thấy một số rơng hòm nên đã chui vào đó để ăn, hút vừa tránh đợc gióvừa tránh đợc ban chỉ huy đốc thúc Từ xa em trông thấy thanh gơm chống nắp r-
ơng, em đã gạt chân chống tủ rơm xung quanh đốt nên lũ giặc đã bị đốt thành
Trang 24than Nh vậy, một em gái bé cũng đã góp công sức của mình để đánh giặc Khôngchỉ dừng lại ở những bé gái, bác phờng săn mà những bà già cũng đã tham gia vàoviệc giết giặc Chẳng hạn ở truyện Ngôi đền Quốc Mẫu thì bà già hàng nớc đã cứu
giúp Lê Lợi thoát khỏi vòng truy đuổi của giặc Minh Hơn cả thế nữa, ngời đi nhủitrong truyện Làng Cẩm Bào đã sẵn sàng lấy thân mình chịu thay cái chết cho vua
Lê Lợi Có thể nói, tất cả đã làm nên hình ảnh về cuộc chiến tranh nhân dân Quachùm truyền thuyết ta thấy rằng, nhiều lúc những ngời nông dân, những bà già đãhiện lên nh ông Bụt, bà Tiên để cứu giúp vị chủ tớng Lê Lợi thoát khỏi cảnh khốncùng, có nhiều lúc tởng chừng nh sắp phải đối mặt với cái chết Đây là yếu tố tạonên tính cộng đồng trong nội dung phản ánh của truyền thuyết ở đây tính cộng
đồng đợc tạo nên bởi sự tham gia đông đảo của các loại ngời, hạng ngời
Một cuộc chiến tranh đi qua cùng với những chiến công thì bao giờ cũng đểlại những chứng tích của nó Cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhân dân ta
và nghĩa quân Lam Sơn vào thế kỷ XV cũng không nằm ngoài quy luật đó Do đó,
để cho hình ảnh về một nghĩa quân hùng mạnh, một cuộc chiến tranh ác liệt nhngthắng lợi vẻ vang thuộc về ta đợc trọn vẹn thì truyền thuyết về Lê Lợi ở trên địabàn xứ Thanh và xứ Nghệ cũng đã tái hiện chứng tích còn lu lại của Lê Lợi vàcuộc khởi nghĩa Lam Sơn
ở xứ Thanh, những truyện phản ánh nội dung này rất nhiều (gồm 23truyện) Chẳng hạn, truyện Bãi cát rộng vùng đồi Nh Xuân, kể về một bãi cát tự
nhiên ở vùng đồi núi phía tây nam Thanh Hoá Chuyện kể rằng, sở dĩ có bãi cát đó
là do vốc cát tự tay Lê Lợi rang măng đổ ra lớn lên mà thành Còn ở truyện Bàn tay ông Lê Lợi thì nói về tục thờ bàn tay Chuyện kể về những ngày đầu Lê Lợi đi
tập hợp lực lợng, thu hút nhân tài để dấy nghiệp, khi gặp dợc ngời nào đó mình đãtin tởng, hoặc khi đợc ai đó giúp đỡ thì ông thờng in dấu bàn tay mình lên vải khithì bằng chàm, khi thì bằng bùn, khi thì bằng son, có khi bằng cả máu để sau nàydùng làm vật tín nhận ra nhau Hay là ở truyện Hòn Đá Ngồi kể về hòn đá mà Lê
Lợi đã ngồi trên đờng đi vào Trinh Vạn để lo việc chiến đấu Cũng chính nơi đây,
ông nhớ lại những nơi mà mình cũng nh nghĩa quân đã đi qua và dừng chân để dặttên cho các vùng đó Hòn Đá Ngồi là hòn đá khá vuông vắn, nhẵn thín Vì ngồinhiều nên có hai chỗ lõm xuống in hình hai bên hông và chiếc mông ngời ngồi
Trang 25ở xứ Nghệ, cũng có những truyện phản ánh nội dung này (gồm 5 truyện):
Sự tích chiếc áo lụa của Lê Lợi; Ngôi miếu nhỏ bên bờ sông Lam; Bãi tập Lê Lợi; Đền Bạch Mã và sự tích chiếc áo lụa; Núi Cờ núi Kiếm Chẳng hạn ở truyện
Sự tích chiếc áo lụa của Lê Lợi, kể về chiếc áo lụa của Lê Lợi đã để lại cho gia
đình bác nông dân có đứa con mới sinh ra nhng khóc thét suốt ngày Nhờ có chiếc
áo đó mà mỗi lần đứa bé khóc thì vợ chồng ngời nông dân đắp chiếc áo đó lên thì
đứa trẻ nín bặt Điều kì lạ là: “Khi lớn lên, đứa bé ấy rất sáng dạ, học rất giỏi đỗ
đạt cao, đợc bổ làm quan to dới triều Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông” [ 36, 57].
2.2 Về nghệ thuật.
2.2.1 Kết cấu chuỗi chùm.
Điểm tơng đồng dễ nhận thấy ở truyền thuyết kể về Lê Lợi của xứ Thanh và
xứ Nghệ là kết cấu chuỗi chùm Đây cũng là đặc trng thi pháp nổi bật của thể loạitruyền thuyết Kết cấu chuỗi chùm là dạng kết cấu có nhiều mẫu truyện kết thànhmột chuỗi mà nội dung của chúng đều tập trung tái hiện hình tợng ngời anh hùngdân tộc Qua chùm truyện ta thấy nổi bật ngời anh hùng Lê Lợi trên nền cuộc khởinghĩa Lam Sơn Đây cũng là một đặc điểm về thi pháp rất quan trọng để phân biệttruyền thuyết với các thể loại truyện dân gian khác: Thần thoại, truyện cổ tích Vìthế dạng kết cấu này chúng ta còn bắt gặp ở một số truyền thuyết khác: Truyềnthuyết về Thánh Gióng, truyền thuyết về An Dơng Vơng…
Nh đã trình bày ở mục: Khảo sát, thống kê ( ở chơng 1), chùm truyền thuyết
về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn ở xứ Thanh gồm có tất cả 121 mẫu truyện đã
đ-ợc su tầm công bố Cũng tơng tự nh vậy, chùm truyện kể về nhân vật lịch sử này ở
xứ Nghệ gôm có 39 mẫu truyện đã đợc su tầm, giới thiệu (Những số liệu đã đợcthống kê cha phải là tất cả Bời vì có những truyện còn đợc lu giữ trong trí nhớ củangời dân ở hai vùng này mà cha đợc su tầm ghi chép)
Nh vậy, dù ở xứ Thanh hay xứ Nghệ, truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn do nhân dân sáng tác, lu truyền tiêu biểu cho kiểu kết cấu chuỗi chùm
trong thi pháp của một thể loại có đặc trng riêng
2.2.2 Sử dụng biện pháp thần thánh hoá.
Trang 26Để làm nổi bật đợc hình ảnh của ngời anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân LamSơn, truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử này ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ
đều sử dụng cách thức xây dựng nhân vật là thần thánh hoá
Thần thánh là những lực lợng có khả năng phi thờng, có tài, có phép lạ.Trong quan niệm của dân gian, họ là ngời có khả năng làm những việc mà ngời th-ờng không thể nào làm đợc Thần thánh hoá là cách thức xây dựng con ngời bằngcách khoác cho họ chiếc áo thần linh, biến con ngời có khả năng nh thần thánh
Thần thánh hoá là một biện pháp miêu tả con ngời phổ biến trong truyềnthuyết bởi “Truyền thuyết là những cốt lõi lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ
đã gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình, cùng với thơ và mộng chắp đôi cánh của sức tởng tợng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm văn hoá đời
đời con ngời a thích” [ 10] Quả thật vậy, truyền thuyết dựa trên “cốt lõi lịch sử”
song nhân dân đã thêm vào đó những yếu tố mang tính chất h cấu tởng tợng để tạonên những hình tợng nghệ thuật mang đậm dấu ấn chủ quan của ngời nghệ sĩ Trêncơ sở đó, biện pháp thần thánh hoá đợc xem nh là một cách thức độc đáo phản ánhnhững h cấu nghệ thuật của dân gian Đây là cách miêu tả con ngời đầy tính sángtạo
ở truyền thuyết về Thánh Gióng, biện pháp thần thánh hoá đợc sử dụng
t-ơng đối dày đặc Nó đợc sử dụng khi nói về nguồn gốc ra đời, quá trình đánh giặc
và cả ngay sau khi đánh thắng giặc Ân Tất cả đã tạo nên một Thánh Gióng bánthần
Đến truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghiã Lam Sơn, biện pháp thần thánh
hoá vẫn đợc tác giả dân gian sử dụng, tuy có phần ít hơn Nhng theo chúng tôi,yếu tố thần kỳ vẫn có vai trò phụ trợ rất to lớn cho cuộc đời và sự nghiệp của LêLợi Chúng tôi đã khảo sát phần Truyền thuyết - cổ tích ở cuốn Sáng tác dân gian
về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn thì có 13/31 truyện có sử dụng yếu tố thần kỳ
khi miêu tả Lê Lợi (chiếm 42%)
Mặc dù các truyện trong chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn không đợc ngời soạn sách sắp xếp theo trình tự thời gian việc nào xảy ra trớc
thì sắp xếp trớc, việc nào xảy ra sau thì sắp xếp sau, mà lại sắp xếp lộn xộn, nhngkhi chúng ta hệ thống lại thì thấy, ngay từ truyện kể về nguồn gốc ra đời của Lê
Trang 27Lợi đã mang yếu tố thần kỳ Quá trình Lê Lợi trởng thành và xây dựng đại nghiệp
đợc tác giả dân gian kể với số lợng truyện khá lớn Đặc biệt xây dựng Lê Lợi ởquá trình này, tác giả dân gian sử dụng khá nhiều yếu tố thần linh
Ngay nguồn gốc ra đời của ông cũng mang dáng dấp thần thánh Dờng nh ởcon ngời ấy đã mang trong mình những gì đợc coi là biểu tợng của sức mạnh
“Dân làng trong vùng nghiệm thấy ở Du Sơn, sau rừng cây quế có một con hổ
đen rất quen ngời Đến khi Lê Lợi sinh ra ngày mùng sáu tháng tám năm ất Sửu thì không thấy con hổ nữa Ai cũng cho là ông đợc thác sinh từ hổ Vì ông càng
lớn càng khoẻ, đi nh rồng, bớc nh hổ, ăn uống gấp ba ngời thờng” [36, 15] Đặc
biệt khung cảnh khi Lê Lợi sinh ra cũng rất li kì “Lúc ấy, ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi thơm lạ bay khắp xóm” [ 3, 8] Nguồn gốc của ông mang những dấu hiệu phi
thờng Điều đó nh muốn dự báo rằng: con ngời này khi trởng thành, nhất định lập
đại nghiệp Yếu tố thần kì về nguồn gốc của Lê Lợi khiến ngời nghe có cảm giác
ông nh là một vị thần
Khi miêu tả ngoại hình của Lê Lợi, biện pháp thần thánh hoá cũng đợc tácgiả dân gian sử dụng phổ biến ở truyện Gơm thần Lê Lợi có kể: “Ông càng lớn càng khoẻ, đi nh rồng, ăn nh hổ, ăn uống gấp ba ngời thờng” [36, 15] Chuyện Sự tích đền thờ Đon Ban và tên núi Pù Tiên cũng kể: “Ăn xong ngời trán cao, mắt sáng, miệng rộng, nói vui” [36, 64] ở truyện Mảnh đất dựng nền sáng nghiệp
cũng có đoạn: “Lê Lợi dáng vẻ tinh anh, cứng cáp khoẻ mạnh, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, mặt rồng, vai bên tả có bảy nốt ruồi, đi nh rồng, bớc nh hổ, lông lá đầy ngời, tiếng nói vang nh chuông” [3, 9].
Có thể nói, Lê Lợi là ngời có sức khoẻ phi thờng, có dáng dấp của bậc thầnthánh Con ngời này mang tớng mạo của ngời anh hùng Đây là ngời đại diện chosức mạnh thời đại Dự báo sẽ lập nên những chiến tích lừng lẫy
Khi miêu tả ngoại hình của Lê Lợi, có khi tác giả dân gian miêu tả ông vớidáng dấp của những vị thần trong thần thoại: thần Trụ Trời, thần Núi, thần Biển.Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, Lê Lợi còn đợc miêu tả với vẻ đẹp của trí tuệthông thái với trán cao mắt sáng nh ông Bụt, ông tiên trong truyện cổ tích Đây là
Trang 28sản phẩm của sự phát triển cao về t duy nghệ thuật mà đến thời điểm thể loạitruyền thuyết ra đời thì nó đã đợc thể hiện rất rõ.
Biện pháp thần thánh hoá còn đợc tác giả dân gian sử dụng khi nói về buổi
đầu dấy nghiệp của Lê Lợi Đó là việc Lê Lợi đợc thần linh ủng hộ
Trớc hết, thần linh ủng hộ giúp đỡ Lê Lợi bằng việc cho Lê Lợi mợn vũ khí
để giết giặc - đó là chiếc gơm thần Thuận Thiên, nghĩa là thanh gơm thuận lòng
trời Nói khác đi, đại nghiệp của Lê Lợi phù hợp với lòng trời, đáp ứng nguyệnvọng với lòng ngời Tuy vậy, việc Lê Lợi có đợc thanh gơm không phải là điều dễdàng, bởi lỡi gơm ở tận dới đáy biển sâu, chuôi gơm ở trong lòng đất, vỏ gơm lại ởtrên rừng Thanh gơm đợc quy tụ từ ba chiều không gian Các bộ phận của nó đềuqua tay thần linh trớc khi đến với Lê Lợi, khi đó mới trở thành gơm Thuận Thiên.
Thanh gơm là bằng cớ xác thực nhất để đánh dấu Lê Lợi đợc thần linh ủng hộ cholàm đại nghiệp Ông chính là ngời đợc trời thuận cho làm vua Dờng nh ý nghĩacủa thanh gơm không chỉ là vật chuyên chở sự ủng hộ của thần linh tới Lê Lợi màngay cả bản thân nó đã mang một sức mạnh diệu kỳ Nó quy tụ sức mạnh của bốnphơng, của hồn thiêng sông núi, của lòng ngời Bởi thế, thanh gơm này “chỉ núi núi tan, chỉ sông sông cạn, chỉ giặc giặc rụng đầu hoá đá” Nh vậy, thanh gơm là
minh chứng cho sự ủng hộ phù trợ của thần linh đối với sự nghiệp của Lê Lợi Nhờ
nó một phần mà Lê Lợi đã đánh thắng những trận giòn giã và cuối cùng đã đánh
đuổi đợc giặc Minh ra khỏi đất nớc
Bên cạnh thần linh cho Lê Lợi mợn vũ khí thì thần linh còn giúp đỡ Lê Lợibằng việc báo mộng cho các tớng sĩ Đối với các tớng sĩ thì việc tìm ra một vịminh chủ hợp với lí tởng của mình, đồng thời hợp với lòng dân là điều rất quantrọng, vì lúc đó họ có điều kiện dốc hết sức lực và trí lực của mình để thực hiện lítởng
Trong chùm truyền thuyết về Lê Lợi, những ngời tớng sĩ đợc thần linh báomộng tiêu biểu nhất là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn Điều này đợc thể hiện
rõ nhất ở truyện Tìm minh chủ, Trần Nguyên Hãn ngủ trọ ở đền thờ vị thần Hy
Khang Đại Vơng Lý Ông Trọng và đợc báo mộng Sau đó, Nguyễn Trãi và TrầnNguyên Hãn mang lễ đến chùa Tiên Dung hỏi mộng thì đợc trả lời: “Ông Trãi ơi!
Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm thần mà không biết sao” [36, 29] Từ đó,
Trang 29Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đã một lòng đi theo Lê Lợi Tuy nhiên, thời kì
đầu họ gặp rất nhiều khó khăn vì phải qua một thời gian thì họ mới kiểm chứng
đ-ợc lời thần báo mộng Việc báo mộng ở đây cũng đầy dụng ý của tác giả dân gian.Tại sao thần linh không báo mộng cho Lê Lợi mà lại báo mộng cho các mu sĩ của
ông? Bởi khi báo mộng cho những ngời này, sẽ giúp họ tìm đợc minh chủ nhnguyện vọng Hơn nữa, báo mộng cho họ sẽ giúp họ có căn cứ để tin và đi theo LêLợi khi mà họ cha có nhiều điều kiện để hiểu về ông Rõ ràng, thần linh vừa ủng
hộ Lê Lợi vừa dẫn nhân tài đến với ông Nhờ thế, càng ngày Lê Lợi càng có đợc
đội ngũ mu sĩ, tớng sĩ tài giỏi, trung thành nhiệt huyết
Ngoài ra, trong một số trờng hợp cụ thể, mỗi khi Lê lợi gặp cơn bĩ cực, khókhăn khôn cùng thì thần linh lại trực tiếp giúp đỡ ông và nghĩa quân Chẳng hạn,bảy vị tiên trong truyện Bảy con chim thớc xuống trần gian giúp đỡ Lê Lợi đánh
giặc, hay ông khổng lồ trong truyện Cánh đồng Ao Voi đã cứu đàn voi của Lê Lợi
thoát khỏi cơn khát
Truyện Sự tích Hồ Gơm là truyện mang tính chất kết thúc một quá trình
chiến đấu và giành thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn nhng nó đã kể lại một quátrình dài trớc đó Mặc dù câu chuyện lại xảy ra ở hồ Tả Vọng (nay là Hồ HoànKiếm) ở Hà Nội chứ không thuộc về địa bàn xứ Thanh cũng nh xứ Nghệ, là tài sảnchung của quốc gia nhng có thể nói nó vẫn gắn với xứ Thanh và xứ Nghệ Bởi vì,
để có sự kiện cuối cùng này thì đó là kết quả của hàng loạt sự kiện trớc đó mànhững sự kiện này lại gắn với cả xứ Thanh và xứ Nghệ ở truyện này, biện phápthần thánh hoá cũng đợc khai thác triệt để Truyện kể rằng sau mời lăm nămkháng chiến, giặc Minh đã bị quét ra khỏi bờ cõi nớc ta, một hôm vua Lê Thái Tổdạo thuyền trên hồ Tả Vọng thì bỗng nhiên thanh gơm vua đeo bên mình cử độngrồi rơi xuống nớc và có con rùa nổi lên mặt nớc đón gơm Cũng vì thế mà hồ TảVọng đợc đổi thành hồ Hoàn Kiếm Có thể nói rằng, việc rùa thần lấy hai thanhkiếm cũng đã thể hiện đợc t tởng của nhân dân ta là chuộng hoà bình Cầm vũ khí
đứng dậy nh là một hành động của một dân tộc khát vọng hoà bình, còn khi giặc
đã ra khỏi bờ cõi thì nhân dân ta lại mong muốn một cuộc sống ấm no hạnh phúc,không có mùi binh đạo Sự tích Hồ Gơm cùng với các truyện khác đã tạo nên chủ
Trang 30đề lớn trong chùm truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn là chiến tranh
2.2.3 Sử dụng biện pháp hiện thực hoá.
Hiện thực hoá là biện pháp miêu tả con ngời khá phổ biến trong thể loạitruyền thuyết Đây là cách miêu tả con ngời mang những nét nét bình dị đời thờng,gần với cuộc sống các hạng ngời, các tầng lớp ngời trong xã hội
Trong truyền thuyết về Lê Lợi ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ, biện pháp này
đ-ợc sử dụng rất nhiều Cũng xuất phát từ cơ sở này mà Hoàng Anh Nhân từng chorằng: “Lê Lợi cũng nhận gơm thần, cũng chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, chỉ giặc giặc rụng đầu Nhng thanh gơm thần trong tay Lê Lợi cán cũng bằng gỗ, lỡi gơm cũng mài mới sắc, có khác gì đâu một thanh gơm bình thờng Nhất là trong giai đoạn đầu, khó khăn gian khổ chồng chất khó khăn gian khổ Lê Lợi phải trải qua bao nhiêu thử thách nhng cha có một lần hiển linh, lại cũng không có rồng hiện lên giúp ông làm cầu qua sông đánh giặc nh Đinh Bộ Lĩnh, không có cọp đen đứng canh cho ông đánh giặc nh Tống Duy Tân mà Lê Lợi vợt qua những thử thách, những phút hiểm nguy nhất do những ngời dân bình thờng nh
bà hàng nớc, bác thợ săn, ông lão mò cua che chở bằng tấm vạt áo, bằng đánh lửa giặc, nhận làm con trai những hành động đó ở đâu mà chẳng gặp, nhng thông qua những việc làm ấy càng thấy Lê Lợi sống trong lòng dân Lê Lợi có lòng tin ở dân thì nhân dân mới tin vào Lê Lợi Cái lý tởng nh thờng tình,nhng
dễ gì có đợc mối quan hệ tốt đẹp nh vậy giữa ngời anh hùng với nhân lao động, thế thì đơng nhiên yếu tố thần linh bị loại trừ vì không còn ý nghĩa gì đối với cuộc sống thực tại” [36, 229].
Có thể thấy Hoàng Anh Nhân đã xuất phát từ một căn cứ là yếu tố thần kỳtrong truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn không còn nhiều nh trong
các truyền thuyết khác để đi tới kết luận nh trên Song ở một góc độ nào đó ta vẫn
Trang 31thấy tác giả tỏ ra hơi cực đoan khi phủ nhận hoàn toàn vai trò của thần linh đối với
sự nghiệp của Lê Lợi Tuy nhiên, sự cực đoan đó nhằm để nói tới, nhấn manh đếnbiện pháp hiện thực hoá mà tác giả dân gian ở cả xứ Thanh và xứ Nghệ đã sử dụngtrong việc xây dựng hình tợng nhân vật Lê Lợi
Theo chúng tôi, thủ pháp hiện thực hoá là một cách miêu tả Lê Lợi nằmtrong quỹ đạo chung của việc miêu tả nhân vật này ở thể loại truyền thuyết Thủpháp này không phải là thủ pháp chiếm u thế hay có vai trò tuyệt đối khi miêu tả
về Lê Lợi Về cơ bản, biện pháp hiện thực hoá chiếm u thế trong miêu tả nhân dân.Tác giả dân gian đa biện pháp này vào không nhằm tầm thờng hoá vị minh chủcủa nghĩa quân Lam Sơn, cũng không nhằm bày tỏ sự ngang vai bằng vế của họ
đối với Lê Lợi Có chăng, họ đa ra biện pháp này vào việc miêu tả Lê Lợi là đểbày tỏ khát vọng vủa họ về vị vua gần gủi dung dị, xuất phát từ nhân dân mà ra.Dân gian không nhằm mục đích kéo Lê Lợi về với những gì trần tục nhất mà đốivới họ, ông là một lãnh đạo mang dáng dấp thần linh đầy quyền uy
Biện pháp hiện thực hoá đợc sử dụng trong một số trờng hợp sau:
Tả hành động ăn uống của Lê Lợi, “Lê Lợi ngồi trong góc cửa, vén quần lên tận đùi, một chân duỗi dọc; tay xách chiếc đùi lợn, tay kia cầm dao xẻo ăn một cách ngon lành” [36, 25] Hành động ăn uống của Lê Lợi có phần phàm tục
chẳng khác gì ngời thờng Cũng vì chứng kiến cảnh này mà Trần Nguyên Hãn vàNguyễn Trãi “cùng thở dài chê Lê Lợi là phờng tầm thờng, bô suyết” [36, 25].
Biện pháp hiện thực hoá còn đợc sử dụng trong trờng hợp miêu tả công việccủa Lê Lợi “Lê Lợi đang mặc áo cộc, vác bừa, đuổi bò từ ruộng về” [36, 29].
Trong quá trình chiến đấu, có khi Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn cũng đãgặp rất nhiều khó khăn Trong những hoàn cảnh ấy, Lê Lợi cũng phải nhờ đến sựgiúp đỡ của những ngời dân: bà hàng nớc, bác nông dân, bác phờng săn Chẳnghạn trong truyện Ngôi đền Quốc Mẫu kể lại, trong một lần giặc Minh rợt đuổi thì
Lê Lợi phải nhờ đến sự che chở của bà hàng nớc thi mới thoát nạn đợc Hay trongtruyện Sông cầu Chày chó lội đứt đuôi thì nhờ bác phờng săn che chở thì Lê Lợi
mới giữ đợc tính mạng Có thể nói, chó săn là tài sản có giá trị nhất của những
ng-ời làm nghề đi săn ấy thế mà, trong hoàn cảnh vị minh chủ của nghĩa quân LamSơn gặp hoạn nạn thì họ đã sẵn sàng cống hiến của cải quý giá đó Qua đó ta thấy,
Trang 32để làm nên chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn thì một phần không nhỏ là nhờvào sự giúp sức của các hạng ngời, lớp ngời trong xã hội Không chỉ hi sinh tài sản
mà họ còn hi sinh cả tính mạng của mình để cứu Lê Lợi Nh ở truyện Sự tích cầu
Cẩm Bào đã kể về hai cha con ngời đi nhủi Trong hoàn cảnh Lê Lợi gặp hoạn
nạn, dờng nh đã bị truy đuổi đến bớc đờng cùng, thế mà hai cha con ngời đi nhủi
đã xuất hiện nh vị cứu tinh Ngời cha đã đổi áo cho nhà vua và cũng đồng nghĩavới việc chịu thay cái chết cho nhà vua Có thể nói, trong những hoàn cảnh nh thế,nếu không có sự che chở giúp đỡ của ngời dân thì tính mạng của vị minh chủ LamSơn cũng khó lòng mà giữ đợc
2.3.4 Sử dụng biện pháp lý tởng hoá.
Khi xây dựng hình tợng nhân vật Lê Lợi, tác giả dân gian ở xứ Thanh và xứNghệ đều sử dụng biện pháp lí tởng hoá Tức là xây dựng nhân vật Lê Lợi vớinhững nét tính cách mà theo họ là đẹp, là đại diện cho một giai đoạn lịch sử dântộc đợc mọi ngời ủng hộ, tôn vinh
Trớc hết, nhân vật Lê Lợi đợc hiện lên là một vị anh hùng sống có tình, cónghĩa Sau mỗi lần đợc mọi ngời giúp đỡ thì ông luôn chú ý đến việc trả ơn Nhiềulần ông sợ sau này không tìm đợc ngời giúp mình để trả ơn nên đã tìm cách để lại
dấu hiệu riêng rất chu đáo nh để lại dấu bàn chân của mình (truyện Bàn tay ông
Lê Lợi) Viêc trả ơn có khi bằng vật chất, có khi bằng tinh thần nhng chủ yếu vẫn
là tinh thần: thờ cúng, phong tớc hiệu, tởng nhớ đến bằng việc kiêng kị một việcnào đó Điều này cũng rất dễ hiểu vì trong quan niệm của ngời Việt Nam thì họ rấtcoi trọng những giá trị tinh thần Những điều đợc lu truyền trong dân gian dù tốthay xấu cũng đợc lu truyền rất lâu Cũng vì thế mà xuất hiện câu tục ngữ:
“Trăm năm bia đá cũng mòn
Nghìn năm bia miệng vần còn trơ trơ ”.
Có khi việc đền ơn của Lê Lợi bằng tên địa danh: làng Đong, làng Cẩm Bào, làngNhân, làng Tâu làng Tó, cũng có khi Lê Lợi cho lập những ngôi đền để ghi nhớcông ơn của họ nh ngôi đền Quốc Mẫu trong truyện cùng tên, đợc Lê Lợi cho xâydựng để nhớ ơn bà hàng nớc đã cứu thoát mình ra khỏi sự truy đuổi của giặc Minh.Tuy nhiên, sự trả ơn này của Lê Lợi những nguời dân lơng thiện này không hề haybiết trơc nhng họ vẫn làm vô t nhiệt tình vì họ ý thức đợc rằng, giúp Lê Lợi là giúp