... sáng tạo khuynh hƣớng tƣ thơ Chƣơng Thế giới hình tƣợng biểu tƣợng thơ Nguyễn Quang Thiều Chƣơng Phƣơng thức thể giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều CHƢƠNG NGUYỄN QUANG THIỀU - HÀNH TRÌNH SÁNG... điểm bật giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều, từ nhận diện phong cách vị trí nhà thơ văn học đại Việt Nam Luận văn gợi mở thêm cho ngƣời đọc cách nhìn thơ Nguyễn Quang Thiều dòng chảy thơ đổi... nhà thơ đại hay sử dụng” [68] ngày đặc sắc sáng tác Nguyễn Quang Thiều Tác giả Nguyễn Thị Hiền Nguyễn Quang Thiều tiến trình đổi thơ Việt Nam sau 1975 khái quát quan niệm thơ Nguyễn Quang Thiều:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS HỒ THẾ HÀ
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Nguyễn Minh Thành
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 NGUYỄN QUANG THIỀU - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ KHUYNH HƯỚNG TƯ DUY THƠ 8
1.1 NGUYỄN QUANG THIỀU - CUỘC SỐNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO 8
1.1.1 Cuộc sống 8
1.1.2 Hành trình sáng tạo 9
1.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 20
1.2.1 Quan niệm về nhà thơ 20
1.2.2 Quan niệm về thơ ca 22
1.3 CÁC KHUYNH HƯỚNG TƯ DUY TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 24
1.3.1 Khuynh hướng lạ hóa và tự do hóa hình thức 24
1.3.2 Khuynh hướng triết lý, chiêm nghiệm 29
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 34
2.1 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH - TÁC GIẢ 34
2.1.1 Cái tôi trữ tình đời tư, thế sự 34
2.1.2 Cái tôi trữ tình triết lý, chiêm cảm 42
Trang 42.2 HÌNH TƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ NHÂN VẬT 50
2.2.1 Hình tượng nông thôn và con người chân quê, nhân hậu 50
2.2.2 Hình tượng đô thị và con người phân hóa, bất an 56
2.3 THẾ GIỚI BIỂU TƯỢNG ĐẶC TRƯNG 64
2.3.1 Làng Chùa, Dòng sông và Cánh đồng 64
2.3.2 Đất, Lửa và Ngôi mộ 69
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 76
3.1 THỂ THƠ VÀ KẾT CẤU THƠ 76
3.1.1 Thể thơ tự do 76
3.1.2 Kết cấu thơ 82
3.2 NGÔN NGỮ THƠ, GIỌNG ĐIỆU THƠ 91
3.2.1 Ngôn ngữ thơ 91
3.2.2 Giọng điệu thơ 99
3.3 NHỮNG THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC 107
3.3.1 So sánh, đối lập 107
3.3.2 Liên tưởng, lạ hóa 111
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau chiến tranh, văn học trở lại với đề tài đời tư - thế sự, quay về với cái tôi trữ tình ở biên độ rộng hơn, đa dạng và đa quan hệ hơn Nhiệm vụ đặt lên vai thế hệ những nhà thơ trẻ là họ phải tìm tòi, đổi mới để lý giải các quan
hệ đạo đức xã hội phong phú, nhiều chiều, nhiều vẻ trên nền tảng hình thái kinh tế - xã hội mới Nhưng không phải mọi sự đổi mới, cách tân đều mang lại cho văn học những giá trị đích thực Mỗi nhà thơ, mỗi tác phẩm xuất hiện đều chịu sự sàng lọc của thời gian và sự thẩm định của công chúng độc giả Trong số hơn 45 gương mặt thơ được nhận diện từ sau năm 1975, thu hút nhiều nhất sự quan tâm của báo giới và bạn đọc cả nước là hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều
Trong nền thơ ca đương đại Việt Nam, Nguyễn Quang Thiều được xem như một nhà thơ cách tân, làm dấy lên những cuộc tranh luận đa chiều Trình
làng tập thơ Ngôi nhà mười bảy tuổi (1990), đặc biệt là Sự mất ngủ của lửa
(1992), Nguyễn Quang Thiều và “con đẻ tinh thần” của ông ngay lập tức tạo
ra một cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Người khen nhiều
mà người chê cũng không ít Có ý kiến cho rằng đây là một xu hướng cách tân mới mẻ, táo bạo và tích cực; đem lại diện mạo mới cho thơ Việt Nam thời
kỳ hậu chiến; giúp văn học nói chung và thơ Việt Nam nói riêng bước nhanh vào quá trình hiện đại hóa và hội nhập Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây là những vần thơ tắc tị, tối nghĩa, “tây giả cầy”…
Thông thường, việc đọc thơ, thẩm thơ ở độc giả chủ yếu phụ thuộc vào
sở thích, hứng thú, động cơ, tình cảm; thậm chí có một số chủ thể tiếp nhận còn dựa trên nguyên tắc, lập trường, quan điểm giai cấp… Nên ở góc độ cá nhân, họ có quyền đưa ra những nhận định của riêng mình
Trang 6Nhưng để đánh giá một hiện tượng văn học có vị trí và tầm ảnh hưởng như Nguyễn Quang Thiều, chúng ta cần có một cái nhìn khách quan, nhiều chiều để định vị chính xác một chân dung, một phong cách và những đóng góp tích cực của ông trong nền thơ hiện đại Việt Nam
Chính vì thế, việc tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang
Thiều sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn đa diện, sâu sắc và đầy đủ, khách quan
hơn về những điều mà tác giả chiêm nghiệm, lý giải và hiện thực hóa vào trong sáng tác
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng khá đặc biệt Mặc dù có nhiều
ý kiến khen chê xung quanh thi phẩm của ông, nhưng hầu hết chỉ là những bài viết tản mạn, những bài bút chiến trên phương tiện internet và một số tạp chí với nội dung chủ yếu như đó là thơ hay phản thơ, truyền thống hay cách tân, phương Đông hay phương Tây, cổ điển hay hiện đại?
Công trình đầu tiên đề cập đến thơ Nguyễn Quang Thiều là Thơ - phản
thơ của Trần Mạnh Hảo Nhà phê bình đã tiến hành điểm diện một số gương
mặt có xu hướng cách tân thơ ca như: Lê Đạt, Hoàng Hưng, Đặng Đình
Hưng… Riêng về Nguyễn Quang Thiều, trong bài viết Sự mất ngủ của lửa
hay là bệnh ngủ của thơ, tác giả nhận định những cách tân của Nguyễn Quang
Thiều là “thứ thơ tây giả cầy”, “từ cách cảm, cách nghĩ, cách ví von, liên tưởng, cách hành văn, kết cấu… tất cả đều như… tây cả, tịnh không có chút không khí Việt Nam nào” [13, tr.67] Sau khi đưa ra một vài ví dụ để chứng minh, tác giả Trần Mạnh Hảo đã đi đến đúc kết: “Bên cạnh cái non kém lồ lộ của nghệ thuật làm thơ, có ý mà thiếu tứ, có quả mà không nhân, nhiều chữ
mà ít nghĩa, ưa triết mà thiếu lý, muốn siêu mà bỏ thực, muốn cô mà không đọng, muốn tâm mà thiếu huyết…” [13, tr.18]
Trang 7Tác giả Nguyễn Việt Chiến trong công trình Thơ Việt Nam - Tìm tòi và
cách tân (1975-2005) lại có một ý nghĩ khác Theo ông thì sự cách tân này là
cần thiết cho thơ ca Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa và có tác dụng tạo
ra một diện mạo mới cho thơ ca thời kỳ hậu chiến Trong số 45 gương mặt được điểm diện thì Nguyễn Quang Thiều được xem là “xu hướng cách tân đích thực và tích cực” [4, tr.30] Với những vần thơ được biết đến từ những
năm 90 của thế kỷ XX, Nguyễn Quang Thiều đã góp phần làm cho “thơ
đương đại Việt Nam khởi hành sang chặng đường mới” [4, tr.31]
Tác giả Đỗ Lai Thúy khi bàn đến một số gương mặt có xu hướng cách
tân thơ ca trong bài viết Về một xu hướng đổi mới thi pháp thơ hiện nay cũng
đã lưu tâm đến Nguyễn Quang Thiều Theo ông thì đây là sự “đi tiếp những kiếm tìm sau Thơ Mới” [66]
Tác giả Nguyễn Vũ Tiềm trong lúc Đi tìm mật mã của thơ cũng đã thấy
được “mảng hiện thực góc cạnh”, “một mảng hiện thực đặc biệt mà các nhà thơ hiện đại hay sử dụng” [68] đang ngày càng đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
Tác giả Nguyễn Thị Hiền trong Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình
đổi mới thơ Việt Nam sau 1975 đã khái quát quan niệm thơ của Nguyễn
Quang Thiều: “làm thơ để gọi lên nỗi thống khổ của những kiếp người trên thế gian và niềm hy vọng mơ hồ, mong manh về một đời sống hoàn hảo sẽ đến…” [15, tr.38] Công trình đã góp tiếng nói khẳng định tài năng và tên tuổi của Nguyễn Quang Thiều
Trong công trình Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều, tập
hợp hơn 20 bài viết từ Hội thảo cùng tên, do Viện Văn học và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội đã có những tổng kết và đánh giá tương đối đầy
đủ về sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều
Trang 8Tác giả Nguyễn Đăng Điệp nhận thấy ở thơ của Nguyễn Quang Thiều một “sự trăn trở về sự suy kiệt của cõi thế và khả năng tái sinh của nhân loại” [7, tr.6]
Tác giả Vũ Văn Sỹ cũng dành cho thơ Nguyễn Quang Thiều khá nhiều nhận xét tinh tế: “Sức gợi cảm và truyền cảm của thơ Nguyễn Quang Thiều là
ở chi tiết Chính những chi tiết miêu tả này, nhà thơ đã bộc lộ sự thông minh, tài hoa và sắc sảo” [38, tr.339]
Tác giả Đông La tỏ ra rất đồng cảm với Nguyễn Quang Thiều:
“Nguyễn Quang Thiều cũng là một thi sĩ thường không viết những điều hướng người đọc thích thú mà anh viết những điều buộc người ta phải suy nghĩ.” [21, tr.67]
Còn theo tác giả Nguyễn Quyến, “Con đường thi ca của Nguyễn Quang Thiều luôn luôn chứa đầy những khúc ngoặt bi kịch” Nguyễn Quyến đã tiếp cận hầu hết các tập thơ của Nguyễn Quang Thiều và đưa ra nhận xét: “Các bài thơ hầu như “gạt bỏ” hết làn khói mù mờ của cảm giác mà đi thẳng vào những biến đổi nội tâm của con người trước thực tại” [60]
Bạn đọc còn có thể tìm thấy ở công trình này những hướng tiếp cận, hướng tìm tòi mới mẻ, khả thi từ thi giới Nguyễn Quang Thiều của các tác giả khác nữa như Chu Văn Sơn, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Thế Hà, Văn Giá, Nguyễn Mạnh Tiến, Phạm Khải, Trần Quang Quý, Mai Văn Phấn, Nguyễn Đức Tùng, Đoàn Ánh Dương… với những nhận định mới, thuyết phục
Ngoài ra, còn nhiều bài viết trên mạng internet, trong đó đáng chú ý nhất là bài viết của các tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Hàn Vũ Hùng, Phạm Xuân Nguyên, Lê Thiếu Nhơn… Theo đa số các tác giả thì đây là một tư duy thơ mới mẻ, độc đáo, táo bạo; dám dấn thân, dám thử thách và đạt được hiệu quả nghệ thuật đáng trân trọng
Trang 9Về tuyển tập Châu thổ của Nguyễn Quang Thiều, tác giả Nguyễn Thị Loan trong bài viết Nguyễn Quang Thiều: Miền tâm linh ngập tràn “Châu
thổ” đã nhận định “Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là
hành trình đi tìm vẻ đẹp của cuộc sống, là hành trình hướng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần tục đầy mưu mô, dục vọng và tội lỗi, là hành trình hướng về nguồn với ký ức tuổi thơ sáng trong và thánh thiện ” [22] Ngoài
ra, chúng tôi cũng chú ý đến các hướng tìm tòi, giải mã thơ Nguyễn Quang
Thiều từ góc nhìn mẫu gốc như Nguyễn Đăng Điệp với bài Nước, lửa, những
cánh đồng và dòng sông, Hồ Thế Hà với bài Thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn
từ mẫu gốc, Nguyễn Mạnh Tiến với bài Nguyễn Quang Thiều, lửa thức…
Trên đây, chúng tôi đã điểm lại một số bài viết, nhận định khá sâu sắc
và có giá trị về một số phương diện trong thơ Nguyễn Quang Thiều Nhìn chung, hầu hết các tác giả nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều Nhưng quả thật, chưa có một công trình, bài viết nào đi vào khai thác một cách toàn diện và sâu sắc những yếu tố làm nên chỉnh thể nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều Vì thế, với sự gợi mở từ nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những kiến giải riêng với hy vọng góp một cái nhìn đầy đủ, tiếp tục đi sâu hơn trong việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều và khẳng định những đóng góp của ông cho nền văn học Việt
Nam hiện đại, đặc biệt qua tuyển tập thơ Châu thổ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng
tôi đã nghiên cứu nhiều tập thơ đã xuất bản của ông như: Ngôi nhà mười bảy
tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Trường ca - Những người lính của
Trang 10làng (1994), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Châu thổ (tuyển tập, 2010)
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo những bài viết, bài trả lời phỏng vấn của ông được đăng tải trên sách, báo và trên mạng internet để có cơ sở triển
khai nội dung và phục vụ cho những nhận định của mình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thơ Nguyễn Quang Thiều trong tính chỉnh thể giữa nội dung và hình thức, nhưng luận văn chỉ tập trung đi sâu vào những phương diện nổi bật làm thành giá trị riêng Những yếu tố mờ nhạt, ít xuất hiện hoặc không chỉ có ở Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi sẽ điểm qua hoặc kết hợp bình chú để làm rõ những yếu tố chính
Cụ thể, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu từng phương diện của đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều như: hành trình sáng tạo, quan niệm nghệ thuật, các khuynh hướng thơ, các hình ảnh mang tính biểu tượng, ngôn ngữ, giọng điệu và các biện pháp nghệ thuật đặc sắc… Từ đó, chúng tôi hy vọng sẽ có được cái nhìn khái quát, sâu sắc về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp người viết khảo sát một cách có hệ thống những hình ảnh, yếu tố xuất hiện nhiều lần như ám ảnh nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều Các thao tác phân tích, tổng hợp được vận dụng trong quá trình triển khai các chương mục cũng được sử dụng như là các thao tác bổ trợ
4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này giúp người viết khẳng định, lý giải các yếu tố, các phương diện của đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều; đồng thời
Trang 11qua việc đối chiếu, so sánh với các tác giả khác để nhận định rõ hơn bản sắc riêng, phong cách riêng, thi pháp riêng của thơ Nguyễn Quang Thiều
4.3 Ngoài ra, còn vận dụng lý thuyết thi pháp học và phân tâm học
Việc vận dụng này nhằm góp phần nghiên cứu chỉnh thể tác phẩm và nghiên cứu các biểu tượng đặc trưng của thơ Nguyễn Quang Thiều được thuyết phục, thông qua tần suất của các yếu tố nghệ thuật đặc sắc, các cổ mẫu, biểu tượng đặc trưng
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoa học về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều, từ đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà thơ trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Luận văn gợi mở thêm cho người đọc một cách nhìn về thơ Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy thơ đổi mới, cách tân sau năm 1975; đồng thời ghi nhận đóng góp của ông trong quá trình làm phong phú thơ Việt Nam hiện đại và đương đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Nguyễn Quang Thiều - Hành trình sáng tạo và khuynh hướng tư duy thơ
Chương 2 Thế giới hình tượng và biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Chương 3 Phương thức thể hiện thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều
Trang 12CHƯƠNG 1 NGUYỄN QUANG THIỀU - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO
VÀ KHUYNH HƯỚNG TƯ DUY THƠ
1.1 NGUYỄN QUANG THIỀU - CUỘC SỐNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO
1.1.1 Cuộc sống
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tuổi Đinh Dậu, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1957 tại làng Chùa, xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội; hiện sống tại thành phố Hà Đông, Hà Nội Ông học tập và tốt nghiệp Đại học ở Cuba Về nước, Nguyễn Quang Thiều từng làm việc tại Tuần báo Văn Nghệ, Tuần Việt Nam (tuanvietnam.vn) thuộc báo điện tử Vietnamnet.vn Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam Ông hiện là Uỷ viên Hội đồng Thơ và là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khoá VIII, Phó Tổng Thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á - Phi
Bắt đầu viết văn từ năm 1983, Nguyễn Quang Thiều là cây bút đa năng
và sung sức, xuất hiện thường xuyên trên văn đàn, báo chí Ông nhanh chóng nổi lên như một nhà thơ trẻ cách tân hàng đầu thuộc thế hệ mình với những tác phẩm có giọng điệu mới mẻ cũng như sự mở rộng biên độ câu thơ, bài thơ Bên cạnh thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng ghi dấu ấn về văn xuôi, tiểu luận, dịch thuật và góp phần quan trọng vào việc quảng bá văn học Việt Nam
ra thế giới Những hiệu quả nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, thông qua
dư luận tiếp nhận của độc giả, đã cho thấy ông là nhà thơ có nhiều tìm tòi, trăn trở từ chính cuộc sống và khát khao sáng tạo của mình trên vốn sống thực
từ quê hương làng Chùa chôn nhau cắt rốn của ông và rộng hơn từ các vùng
quê, các quốc gia mà ông có dịp tìm hiểu, tiếp xúc và ám ảnh Từ hành trình
cuộc sống - hiện thực thứ nhất - đã tạo thành hành trình nghệ thuật - hiện thực
Trang 13thứ hai - trong thơ ông đa dạng, hấp dẫn, lấp lánh lời giải đáp về những hằng cửu của cuộc sống và con người Tất cả đã làm nên phong cách riêng đặc sắc Nguyễn Quang Thiều Thơ Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng đáng nghiên cứu trong nền thơ hiện đại Việt Nam
Thơ và truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều đã được in thành sách và được giới thiệu trên các tạp chí và báo ở các nước như Mỹ, Pháp, Úc, Ireland, Nhật, Hàn Quốc, Venezuela, Colombia, Na Uy, Thụy Điển, Malaysia, Thái Lan…
Với những thành tựu đa dạng và liên tục như vậy, Nguyễn Quang Thiều đã nhận được những giải thưởng cao quý:
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ Sự mất ngủ
của lửa
- Giải thưởng Final năm 1998 cho tập thơ The Women Carry River
Water của The National Literary Translators Association of America
Riêng lĩnh vực thi ca, có thể khái quát thành tựu thơ Nguyễn Quang Thiều thành những nhóm nội dung chủ yếu sau:
a Hồi ức về tình yêu, tuổi trẻ và chiến tranh
Ngôi nhà mười bảy tuổi là tập thơ đầu tay của Nguyễn Quang Thiều,
gồm hầu hết những bài thơ được sáng tác vào thập niên 80 của thế kỷ XX Như một quy luật tất yếu, sau những vần thơ lửa, văn học bắt đầu trở lại với
Trang 14đề tài thế sự, quay trở về với cái tôi hướng nội, đi sâu hơn vào cuộc sống đời thường với nhu cầu phát huy, thể hiện cảm xúc, tình cảm của những cá thể Đặc biệt là nhu cầu nhìn nhận lại chiến tranh với những diện mạo đích thực của nó Không còn âm hưởng hào hùng của những tiếng kèn xung trận, không còn dựng lên một “dáng đứng Việt Nam tạc vào thể kỷ” (Lê Anh Xuân), văn học giai đoạn này chủ yếu đi sâu vào mặt trái của chiến tranh với tất cả sự khốc liệt vốn có, với những mất mát, đau thương của một dân tộc qua gần một phần ba thế kỷ đạn bom; với sự lạc lõng của những con người từng cầm súng sống chết bên những chiến hào trong cuộc sống đời thường và những ký ức hãi hùng luôn đeo đẳng họ trong từng giấc ngủ
Sinh ra và lớn lên trong cuộc bão lửa thứ hai của dân tộc (kháng chiến chống Mỹ), không trực tiếp cầm súng đứng trên chiến hào, nhưng hít thở và
ám ảnh bầu không khí đẫm mùi thuốc súng và trực tiếp chứng kiến những mất mát, đau thương xung quanh người thân và quê hương mình từ thuở sơ sinh cho đến lúc trưởng thành, nên chiến tranh hiện lên trong sáng tác đầu tay của Nguyễn Quang Thiều với đầy đủ tính chất và chiều kích của nó Đó là một đêm trên sân ga với dòng người sơ tán buồn rầu, u uất trong tiếng đàn nhị và
hoảng hốt, lo sợ qua từng luồng âm thanh đạn bom (Đêm sân ga) Đó là một phố Khâm Thiên bị bom thù cày xéo (Nhớ những em bé Khâm Thiên); là sự
tuyệt vọng đớn đau của những người mẹ mong con rồi khóc con trên từng tấm
đá (Trong chiều nghĩa trang) Đó là sự mòn mỏi chờ chồng của người vợ ở chốn hậu phương tự đánh lừa nỗi đau bằng niềm hạnh phúc (Người hàng xóm
goá chồng đan áo), để rồi gắng gượng vượt lên nỗi đau mà sống còn (Thao thức một dòng sông)…
Song song với những bài thơ viết về chiến tranh, những khúc du ca trữ tình cũng là một phần chính yếu trong tập thơ này và nhiều bài được ông lựa
chọn in lại trong tuyển tập thơ Châu thổ
Trang 15Đó là cái tôi trữ tình công dân lặng lẽ, thẳm sâu, một tình yêu quê
hương thống thiết khi nghe tiếng kêu của con chim cuốc: “Hỡi con chim kêu
suốt cả mùa hè - Kêu buồn rầu dưới những bờ tre - Kêu khắc khoải miên man bên đầm cỏ lác - Tuổi lên mười ta nghe mà nhớ mẹ” Để rồi, những lan tỏa
trong tâm hồn nhà thơ là những gì thân thuộc mà day dứt nhất lại hiện ra
thành những vết loang ký ức: “Hoàng hôn hè sụp tối chân đê - Mẹ đi làm
chiều nào về cũng muộn - Muỗi bay như cát ném ngõ ta chờ - Tuổi hai mươi
ta nghe không ngủ được - Lặng lẽ ra sân đứng ngắm trăng mờ” Và cuối cùng
là ngoái đầu nhìn lại từ trong thẳm sâu ký ức của chính mình để tự buốt tê, day dứt
Ba mươi tuổi ngồi một mình im lặng Tiếng chim kêu dứt thịt dứt da
Chim ơi chim, sao không oà lên khóc Một lần thôi cho vợi bớt đau buồn Nấc chi mãi rách xơ từng lá phổi Kêu chi hoài rút hết một đời chim Bây giờ ta qua tuổi ba mươi Không còn nghe từ bờ tre gầy rạc Không còn nghe từ xác xơ cỏ lác
Ta đi về đường quê cỏ nát Ngực ta gầy, rạc mãi tiếng quê hương
(Nghe tiếng con chim cuốc)
Đó là những kỷ niệm ấu thơ, những ước ao về phút giây bé dại, hồn
nhiên bên người mẹ hiền: “Sao mẹ không gọi về cho con - Những con thuyền
thuở trước - Những con thuyền lần ra cửa biển - Mưa rất dài ướt hết cả dòng sông - Con ốm đau ngồi ho bên cửa - Những con thuyền ốm đau nằm đâu”
Hình ảnh mẹ lại hiện ra với những liên hệ gần gũi, thân quen, gọi về những
Trang 16hình ảnh thú vị, nhưng da diết: “Mẹ ơi mang áo con thả vào bến nước - Cho
những con thuyền bớt rét, bớt ho - Con không áo nhưng con có mẹ - Những con thuyền ngủ trên nước lênh đênh - Những con thuyền sinh ra từ rừng sâu - Mang hình lá đổ về biển cả - Cánh buồm nâu như những bàn tay nhỏ - Vẫy con…vẫy con về với biển” Và rồi, còn lại nỗi buồn hoài niệm trong tâm hồn
nhà thơ lặng lẽ mà xa xót
Chiều nay con ngồi ho bên cửa Bao sợi mưa đứt hết cuối trời Con chờ đợi nỗi niềm già như cát Lặng lẽ suốt đời cởi áo thả vào sông
(Những con thuyền sông Đáy) Đặc biệt, trong những khúc du ca trữ tình này là những bài viết về tình yêu - một đề tài muôn thuở của thi ca
Như bao thi nhân khác, khi vừa mới đặt chân vào con đường thi ca, Nguyễn Quang Thiều cũng viết khá nhiều về tình yêu Nhưng vượt lên những bồng bột của tuổi mới lớn, những đắm say rạo rực khi mới nếm trải lần đầu, tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn có sự hồn nhiên, trong trẻo, ý
nhị, xuyến xao (Đêm gần sáng)
Nhìn chung, mặc dù đã có những chiêm nghiệm ban đầu về cuộc sống
nhưng tập thơ Ngôi nhà mười bảy tuổi chỉ có tác dụng giới thiệu hơn là định
hình một tên tuổi Rất nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng ở tập thơ này, Nguyễn Quang Thiều vẫn còn yêu thích những hình ảnh bóng bẩy và những
câu thơ êm ái, kiểu như: “Bây giờ đang cuối mùa đông - Làng bao cô gái lấy
chồng đi xa - Chút chiều hoe nắng ngõ nhà - Tôi đi, tôi đứng để mà vu vơ - Bây giờ lấm tấm lộc mơ - Lưa thưa lộc khế, lơ thơ lộc đào - Tình tôi có chút lộc nào - Nẩy xanh qua tiếng thét gào bão mưa - Bây giờ cải đã thành dưa - Làng bao cô gái cũng vừa lớn lên - Ra đường gặp tiếng xưng em - Đêm về tôi
Trang 17với ngọn đèn nhìn nhau” Tháng năm xa vợi, còn lại đây trong trong nuối tiếc
tình yêu tuổi thơ không thành hiện thực
Thế rồi ngày tháng qua mau Lại nghe pháo nổ ở sau ngõ mình Chồng em có ở xóm đình
Để tôi tránh lối rập rình đón dâu Bây giờ chưa biếc ngàn dâu Cho con tằm nhả tơ màu nắng sông Thế rồi lại đến cuối đông
Làng bao cô gái lấy chồng… còn tôi
(Bây giờ đang cuối mùa đông) Đây là một tập thơ hay về mặt hình thức nhưng vẫn chưa có một phong cách riêng, một âm hưởng riêng Bước chuyển đổi thi pháp thật sự quan trọng
được đánh dấu bởi sự ra đời của tập thơ thứ hai Sự mất ngủ của lửa (1992) Ở
tập thơ này, Nguyễn Quang Thiều mới có dịp chứng tỏ hết tài năng của mình Tập thơ đạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993
b Nỗi niềm hoài cổ những giá trị văn hoá truyền thống
Hai tập thơ Sự mất ngủ của lửa (1992) và Những người đàn bà gánh
nước sông (1995) là sự truy nguyên và tái hiện giá trị văn hóa trong tiềm thức
và văn hóa chốn làng quê
Việc dùng hình ảnh Những người đàn bà gánh nước sông để đặt tên
cho một tập thơ đã chứng tỏ sự định hình về phương diện nội dung của Nguyễn Quang Thiều trong suốt quá trình sáng tác tập thơ này, đó là hoài niệm về những giá trị văn hóa xa xưa
Tiềm thức văn hóa dân tộc còn được gợi lên qua việc tác giả sử dụng hình ảnh “ngọn lửa thiêng”:
Trang 18Ngọn lửa thiêng triệu triệu năm
Sẽ tự mình thức dậy Nấu một nồi cơm nếp hoa vàng Đơm lặng lẽ vào mo cau cổ tích
(Con bống đen đẻ trứng) Đây là ngọn lửa của truyền thống văn hóa được hun đúc và gìn giữ từ ngàn đời Nó không bao giờ tắt, dẫu ngủ vùi qua một giấc dài nhưng sẽ tự mình thức dậy để lại tiếp tục thắp lên những truyền thống, thắp lên những khát khao, hy vọng và tiếp tục soi sáng, chắp bước cho những ước mơ nguyên
sơ như câu chuyện cổ tích Nó còn là niềm tự hào về truyền thống chống giặc của nhân dân ta suốt mấy ngàn năm dựng nước
Ngoài mô thức văn hóa mang tính chất phổ quát, những nét văn hóa làng quê cũng được tái hiện lại một cách sống động qua lăng kính hiện đại
Đó là văn hóa Việt Nam được nhìn nhận dưới góc độ của một người có ảnh hưởng của phương Tây
Đám tang ở vùng quê, một hoạt động mang đậm dấu ấn truyền thống văn hóa, được tác giả tái hiện lại qua cái nhìn của một đứa trẻ thơ:
Cỗ xe tang trôi mãi vào cơn mê Những con rồng gỗ vảy vàng bay lên trong tiếng kèn, tiếng trống
(Âm nhạc) Vẫn tái hiện được nét phong tục, vẫn đầy đủ những nghi lễ, vật dụng cần thiết nhưng mang âm hưởng nhẹ nhàng, ngây thơ chứ không trang nghiêm, trầm mặc “Những con rồng gỗ vảy vàng” đã không còn nằm im lìm trên chiếc xe tang mà trở nên sống động, linh hoạt cùng “tiếng kèn, tiếng trống” Đây không còn giống một đám tang mà như một đám rước hội làng Tác giả đã cố tình đưa nó thoát khỏi cái không khí u ám, tang thương thường thấy
Trang 19Nguyễn Quang Thiều rất tự hào về mảnh đất làng Chùa của mình, ông thường kể về nó một cách say sưa Mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi phong trào văn hóa đẹp của người dân nơi đây đều được ông trân trọng và cố công lưu giữ Trong mạch chung của truyền thống dân tộc, ông đã tế nhị lồng khung vào đó niềm tự hào về truyền thống quê hương mình, thậm chí còn có
mẹ, là những bài học làm người của ông, là những nét văn hóa đặc sắc của mảnh đất mà ông sinh ra… Đó là đạo đức truyền thống của gia đình cần có sự giữ gìn, chăm chút của các thế hệ con cháu, là bản sắc văn hóa đặc thù cần được bảo vệ của những người từng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này để ngọn đèn ấy tiếp tục cháy sáng và mang lại hơi ấm đặc thù
Song song với niềm tự hào là nỗi niềm đau đáu hoài cổ khi những nét đẹp truyền thống đang dần mất đi Cố níu giữ nhưng ông cũng cảm nhận được
sự tàn phai bởi quá trình đô thị hóa:“Hãy mang tôi về xa nữa - Trong bóng
tối ngấm men chảy ướt cánh đồng - Tôi là con chim sinh đầu hoàng hôn, cuối bình minh chưa biết hót - Cặp mỏ tấy sưng mổ những thì thầm - Tôi bay qua những cánh đồng mùa xuân còn ái ngại - Qua những ngôi sao đã mở mắt nhưng lưỡi thì chưa mọc - Tôi gặp dơi của bình minh, sơn ca của bóng tối - Những ngôi mộ tổ tiên hắt sáng gọi tôi về - Tôi khép đôi cánh xác xơ trước ngày cúng giỗ - Ngắm những dòng sông sáp nến chảy chan hoà - Tổ tiên giơ
Trang 20lên trời xanh chứng minh thư bằng đá - Cổ xưa hoang hoang trên mỗi cánh chuồn chuồn” Ông liên tưởng và nghĩ về tổ tiên trong hoài niệm cụ thể mà
mình từng trải nghiệm
Tổ tiên tôi thức quá lâu, tôi lại ngủ quá lâu Trong trầm vọng kèn hơi những họng người đã rách Bầy lúa nước vừa mang thai vừa than thở
Với lũ cá rô đồng đang khao khát mọc chân Tôi là con chim thay lông muộn và đang tập giọng bằng cặp mỏ mềm còn ứ đầy máu loãng
Trong niềm rời rạc hân hoan của nhịp trống chân trời Đợi bài ca sinh ra từ những hạt cơm vương trong chân cỏ dại
Từ quả trứng buồn vừa bóc vỏ thời gian
Kiếp này tôi là người Kiếp sau phải là vật Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ
Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi
(Bài hát về cố hương)
c Nỗi âu lo và tiếng kêu cứu bảo vệ giá trị truyền thống văn hóa
Cuộc sống thời hậu chiến với bao nhiêu sự thay đổi về cấu trúc và quan
hệ đã làm thay đổi hằng số tính cách và tâm lý của con người Từ đó, kéo theo những thay đổi và phân hóa trong nhận thức và hành động của mỗi chủ thể
Trang 21hiện sinh Bên cạnh những biểu hiện tốt đẹp, hợp quy luật của con người trước cuộc sống mưu sinh và khát vọng sống, lại xuất hiện những rạn vỡ và so
le, bất cập của một bộ phận nhân dân Ở đó, cái xấu và sự lãng quên truyền thống văn hóa quá khứ có nguy cơ xuất hiện và ảnh hưởng đến môi trường
sống Từ những cảm nhận day dứt đó, Nhịp điệu châu thổ mới của Nguyễn
Quang Thiều xuất hiện Đấy được xem là tiếng than khóc cho sự đổ vỡ sâu sắc đời sống văn hóa tâm linh của thời kỳ đô thị hóa Những gì đã từng được ngưỡng vọng và tôn sùng một thời, giờ đang tiến dần đến “bên miệng huyệt sâu” của sự nhạt nhòa, quên lãng :
Tất cả những gì còn lại giờ nghiêm trang trong nghi lễ của mình Tôi ôm chặt cây kèn đứng sau rèm sáng
Xa xăm trên cánh đồng, những nhạc công tóc bạc Thèm được chơi lần cuối cùng bên miệng huyệt sâu
(Hồi tưởng tháng Tư) Trong xã hội tiêu dùng, khi vật chất đang nắm giữ vị thế tối ưu và trở thành nhu cầu tối thượng thì nó nghiễm nhiên trở thành thước đo của mọi thứ,
cả tích cực và tiêu cực Khi ấy, con người dường như thờ ơ với các giá trị văn hóa, thậm chí còn cố tình xâm hại nó vì lợi ích của cá nhân mình “Con rồng
gỗ vảy vàng” hôm nào giờ đang ngập ngụa trong trùng trùng nguy hiểm:
Trong thống thiết, đắm mê, rền vang của trống, kèn và nhị Chiếc quan tài dâng lên mãi, dâng lên đám mây ngũ sắc Lửa nếu reo cùng gió, những lá cờ của bản chất ánh sáng Dâng cao mãi, dâng cao con thuyền rồng trong hải lưu không
gian cuồn cuộn Những hồ nước mắt dâng đầy, những dòng sông nước mắt
giàn giụa, không bờ bến
(Nhịp điệu châu thổ mới)
Trang 22Nguyễn Quang Thiều nhìn thấy từ trong sâu thẳm những tiếng mọt đều đều trong đêm như tiếng thời gian tàn nhẫn cắn nát vào từng tế bào sự sống với hàm răng tàn nhẫn và chiếc lưỡi mềm độc địa đang cứng dần lên Đó là thực tế của sự va chạm của đời sống hiện đại
Những con mọt mang hai hàm răng giả Cắn nát từng miền sách thánh mốc da Những phòng máy lạnh
Làm cứng đông từng khúc lưỡi mềm
(Con bống đen đẻ trứng) Thế giới hiện thực và quan hệ người, hình như đang chuyển động theo chiều hướng riêng với vô vàn hiện hữu đang từng giờ, từng ngày thay đổi Và khi con người nhận ra thì mọi vật và mọi quan hệ đã trở thành những đổ vỡ, không có cứu cánh
Nhận ra cơn mơ của mình đang đi trên con đường đơn độc Nhận ra cuốn sách trên tay bị đánh tráo bằng cuốn sách khác Nhận ra một lớp học thầy và trò từ lâu rồi đã chết
Viên phấn kẹp giữa hai ngón tay thầy giáo già đã phủ đầy rêu Nhận ra dọc dãy ghế treo lên những gương mặt bất động Nhận ra có một người cầm một cây nến trắng
Đi trong thế giới của thì thầm và của mắt ngước lên
(Bài ca những con chim đêm) Những chuẩn mực đạo đức một thời đã thay đổi và được ngụy trang dưới nhiều hình thức, không dễ gì người đời có thể lập tức nhận ra Tín ngưỡng và những phong tục, tập quán tốt đẹp không còn là vùng thiêng nương náu tâm hồn để được an bình và thánh thiện, mà giờ đây, chúng cũng
bị hoài nghi và xa lánh
Trang 23Nguyễn Quang Thiều nhận diện và khai thác trong tính đối lập của những hiện tượng, sự vật để triết lý và nhận diện bản chất vấn đề; từ đó, kêu
gọi con người hãy vì những giá trị hằng cửu tốt đẹp: “Căn phòng mịt mù khói
thuốc - Giống những đám bụi đấu trường - Và tiếng chúng ta gào thét - Bi thương và hèn yếu làm sao” Sự đánh lừa nhau và tự đánh lừa đã làm cho một
bộ phận chủ thể hiện sinh trở thành vô nghĩa, phi lý
Chúng ta rót rượu tràn chén mà không hề biết
(Bức thư đề ngày 25 tháng 12)
Có thể nói, với hành trình châu thổ mới, Nguyễn Quang Thiều đã suy
tư trên vốn sống cá nhân và chất liệu quê hương mình, dân tộc mình; từ đó, ông quay về miền tâm linh, ký ức để đồng hiện, yêu thương và tiếc nuối, mà cũng là để kêu cứu, bảo vệ “nỗi buồn báu vật cố hương tôi”
Hơn ba mươi năm miệt mài với sự nghiệp cầm bút, từ những thử nghiệm ban đầu đến việc chuyển đổi thi pháp và khẳng định được bản thân, Nguyễn Quang Thiều đã gần như gây dựng được một bảo tàng nghệ thuật độc đáo cho riêng mình Một hành trình thơ chưa kết thúc, nhưng đã dự cảm đồng hiện những tín hiệu nghệ thuật mới cho tương lai Đó chính là khát vọng và niềm tin vào những gì tốt đẹp mà thi ca có thể mang lại cho con người và cho chính thi ca
Trang 241.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU
1.2.1 Quan niệm về nhà thơ
Mỗi nhà thơ chân chính, trong quá trình sáng tạo, họ đều hình thành cho mình một quan niệm nghệ thuật sáng rõ, dĩ nhiên là có phá và thay, có phủ định và phát triển cho phù hợp với từng chặng hành trình, từng nhu cầu của chủ thể tiếp nhận và chính nhu cầu của chủ thể sáng tạo cũng như nhu cầu của chính bản thân thi ca Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ luôn có ý thức về thiên chức của nhà thơ và vai trò của thi ca - với tư cách là một hình thái ý thức xã hội và ý thức thẩm mỹ đặc thù Do vậy, ông luôn lập ngôn và lập tứ một cách có ý thức Trong nhiều bài viết và bài trả lời phỏng vấn, ông luôn có những quan niệm cụ thể về nghề, về chức năng của thi sĩ và thi ca một cách linh hoạt
“Năm 1990, tôi xuất bản tập thơ đầu tay Ngôi nhà mười bảy tuổi Khi
tập thơ này in ra, tôi nhận thấy gương mặt tôi chập chờn giữa một số gương mặt của các nhà thơ thế hệ trước Sự ảnh hưởng ai hoặc những ai đó không dễ tránh đối với những nhà thơ trẻ Lúc đó tôi tự hỏi: sao tôi không phải là chính mình? Và tôi bắt đầu viết những gì của chính tôi cho dù TÔI ấy đầy kiếm khuyết và nhiều bóng tối Đó là nguyên nhân dẫn đến những bài thơ trong tập
Sự mất ngủ của lửa xuất bản năm 1992 Năm 1993, tập thơ này được Giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng đồng thời nó cũng bị một số nhà thơ, nhà phê bình “đánh” tơi tả Tôi không có ý kiến gì Tôi im lặng từ đó đến giờ
Vì việc của tôi là viết những gì là chính tôi Đấy là việc của tôi chứ không phải là việc của người khác” [61] Đấy cũng chính là niềm tin và thái độ điềm tĩnh của ông để tự lựa chọn con đường sáng tạo riêng
Nhà thơ chính là người luôn mơ mộng và luôn đổi mới Đó là bản mệnh và khát khao chính đáng của họ, đặc biệt là những nhà thơ có tài Nguyễn Quang Thiều muốn mỗi bài thơ, tập thơ của mình phải thực sự để lại
Trang 25dấu ấn mơ ước và sáng tạo nghệ thuật của chính mình: “Hãy sống, hãy mơ ước và sáng tạo không ngừng nghỉ trong im lặng nếu không có lý do để than thở Khi nhà văn sống đến từng nào thì họ sẽ viết đến từng đó” [61]
Nguyễn Quang Thiều muốn thơ phải có sức ám ảnh, làm lay động lòng người Và đặc biệt là nhà thơ phải giàu vốn sống để tạo ra những liên tưởng
và tưởng tượng bất ngờ Nếu không thì nên chuyển sang các lĩnh vực khác Vì vậy, “Điều quan trọng nhất của thơ là tạo ra sự ám ảnh và điều tệ hại nhất là thiếu trí tưởng tượng” Có khi những ám ảnh và ấn tượng thi ca, đối với ông, chúng xuất phát từ những người thân yêu và quê hương ân nghĩa quanh đời
Đó là người bà bất hạnh, người đánh thức những vô thức tuổi trẻ trong ông,
để giờ nó bật lên thành tiếng nói thi ca, thành tâm thức sáng tạo như ông đã
thú nhận trong Thay lời tựa của tuyển tập Châu thổ: “Những câu chuyện được
bà tôi kể liên miên trên giường bệnh trong suốt bốn năm lại không chỉ kể về
bà tôi mà còn kể về những câu chuyện ám ảnh và trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đời sống tinh thần của người Bà tôi không hề có ý mù mờ hoá quá khứ của mình Ngược lại, bà tôi đã dựng lên một cách sống động nhất lịch sử của mình Hiện thực này, theo tôi, nó giống như hiện thực của một bài thơ
( ) Có một lần tôi đã nói rằng, bà tôi - một nông dân không biết chữ -
là nhà văn đầu tiên và vĩ đại của tuổi thơ tôi ( ) Và qua chính giọng nói ấy của bà tôi, tôi đã lưu giữ trọn vẹn những gì đã qua đời sống này ở làng quê của tôi Một đời sống mà chẳng bao giờ mất đi như ta tưởng Một đời sống làm chúng ta hình dung đầy đủ hơn về vũ trụ Một đời sống đã hoá giải dục vọng của chúng ta Nó đôi lúc mang đến cho tôi một cảm giác nếu tôi chém vào không gian một nhát dao thì ở đó một cái cây trong suốt bị đổ gục, một ngón tay trong suốt bị đứt lìa Và kỳ diệu hơn, là trong thế giới trong suốt, hay trong cõi hư vô làm ta có thể chết vì khiếp sợ lại hiện lên một phong cảnh đầy đủ nhất Phong cảnh ấy, đối với tôi, nó là một cõi Cái cõi ta vừa làm đầy
Trang 26nó vừa không chiếm lấy dù chỉ là một điểm nhỏ nhất, mà chỉ có trí tưởng tượng kỳ diệu mới có thể lờ mờ nhận ra” [34, tr.200]
Nguyễn Quang Thiều luôn xem sự bất hạnh của cá nhân và bất hạnh của cuộc đời là những trường hiện thực để thơ hướng đến và đồng hiện những tiếng nói đồng cảm, sẻ chia Và cao hơn là để thanh lọc nỗi buồn, thanh lọc khát vọng, nhằm tiếp tục ước mơ và hy vọng Vì thế, “Thơ không phải viết về
những bất hạnh cá nhân, mà là những bất trắc của cuộc đời” [62] Cứ thế, thơ
mãi mãi đồng hành tích cực cùng cuộc sống, làm hiện lên những kinh nghiệm
quan hệ sống có ích, như quan niệm của Chế Lan Viên: “Thơ cần có ích - Hãy
bắt đầu từ nơi ấy mà đi”
1.2.2 Quan niệm về thơ ca
Quan niệm về nhà thơ và quan niệm về thơ ca bao giờ cũng biện chứng trong nhau, bởi lẽ thơ ca là kết quả của quá trình tư duy và sáng tạo của nhà thơ Từ việc nhận thức quy luật đó, Nguyễn Quang Thiều đã xác định nhiệm
vụ cụ thể cho từng loại hình và loại thể để thấy đặc trưng của mỗi loại bao giờ cũng chính là khả năng chiếm lĩnh đời sống và thể hiện thành thế giới hình tượng với khả năng kiến trúc ngôn từ mang tính đặc thù riêng: “Tôi viết rất nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch sân khấu, kịch bản phim, tiểu luận, báo chí… Nhưng thơ ca là nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn Một điều tôi muốn nói đến là: có thể những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần của thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới” [62]
Chính sự xác định đặc trưng loại hình, loại thể như vậy mà các nhà thơ, đặc biệt là những nhà thơ lớn đều thao thức, kiếm tìm chất thơ, tư tưởng thơ
từ cuộc sống và từ đặc trưng thể loại để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ Họ phân ra từng đề tài, chủ đề và từng khu vực và đặc biệt là họ chú ý đến đối tượng tiếp nhận của thể loại để
Trang 27hướng những nỗ lực thơ ca của mình vào hiện thực tiếp nhận một cách hiệu
quả: “(…) không phải những nhà thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên hay Xuân
Quỳnh thơ của họ đều hay hơn tất cả những bài thơ của các nhà thơ sau này Các nhà thơ phân ra khu vực, có độc giả ở những khu vực riêng (…) Có thể bây giờ, trong thời đại này để bạn đọc chỉ đọc một nhà thơ là điều khó Kể cả các nhà thơ được giải Nobel cũng có phân chia khu vực bạn đọc của mình, các khuynh hướng đọc của mình” [64]
Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Thiều luôn học hỏi những nhà thơ lớn trong nước và thế giới về tư duy và phong cách để làm giàu cho sáng tạo của
mình Trong Thay lời tựa của Tuyển thơ Châu thổ, Nguyễn Quang Thiều trích
lại ý kiến của Charles Simic (nhà thơ Mỹ, Giải Pulitzer 1990) mà ông tâm huyết: “Mục đích của bài thơ là cố gắng lưu giữ lại cho người đọc cái khoảnh khắc của đời sống mà họ không bao giờ tìm lại được nếu không có thơ” Thế giới thơ Nguyễn Quang Thiều là những khoảnh khắc bất chợt và mới lạ ấy Chúng không phải là những số cộng giản đơn mà tan hòa, chuyển hóa trong nhau để thành chất thơ riêng, thành những gì đồng nghĩa với cá tính sáng tạo, cao hơn, chính là phong cách Ngay cả với những nhà thơ trẻ trong nước, Nguyễn Quang Thiều cũng thấy ở họ những đồng cảm sáng tạo: “Mai Văn Phấn, Trần Tiến Dũng, Đinh Thị Như Thúy, tôi ấn tượng với ba tác giả này,
vì họ thực sự tạo nên một thế giới thi ca mà có những điều cá nhân tôi không làm được” [65]
Nhưng dù gì, nhà thơ phải thực sự có những tố chất căn bản để làm thành giá trị cho thi phẩm của mình Đó là vốn sống trực tiếp hoặc gián tiếp;
kế đến là vốn văn hóa, nền tảng nghệ thuật vững chắc; cuối cùng là khả năng thể hiện ngôn ngữ linh hoạt cộng với thế giới tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của thi nhân Nguyễn Quang Thiều từng phát biểu: “Trong mỗi tác phẩm văn học
có thể thường hiển lộ ba yếu tố mà tôi gọi đó là những sự kiện Thứ nhất:
Trang 28Những sự kiện mang tính xã hội Thứ hai: Những sự kiện mang tính ngôn ngữ Và thứ ba: Những sự kiện của tâm hồn Trong ba yếu tố đó có thể cùng diễn ra trong một tác phẩm văn học Nhưng sự kiện quan trọng nhất làm nên một tác phẩm văn học thực thụ là sự kiện của tâm hồn Thi ca xuất hiện trên đoạn cuối của con đường ấy Nếu chúng ta dừng lại với hiện thực của đời sống cùng với một chút cảm xúc không thôi, chúng ta chỉ bắt gặp một cái gì
đó giống thi ca chứ không phải thi ca (…)
Theo tôi, mỗi bài thơ dù ngắn hay dài thì mục đích cuối cùng của nó phải tạo ra những sự kiện tâm hồn Chỉ như vậy, cuộc cách mạng về Mỹ học trong tác phẩm nghệ thuật mới được thực thi” [63] Đó chính là quan niệm nền tảng mà Nguyễn Quang Thiều xác định và phát huy, phát triển chúng lên thành quan niệm triết mỹ, được thể hiện một cách đa dạng và linh hoạt cho
từng thi phẩm Từ Ngôi nhà tuổi mười bảy đến Nhịp điệu châu thổ mới, Bài
ca những con chim đêm và Cây ánh sáng là kết quả thành tựu của Nguyễn
Quang Thiều từ việc xác định quan niệm nghệ thuật sáng rõ như trên Với ông, “Viết là cuộc đối thoại không bao giờ kết thúc”; và viết, với ông còn là
“bởi khát vọng được giải tỏa Chống lại sự giống người khác” và cả giống lại mình
1.3 CÁC KHUYNH HƯỚNG TƯ DUY TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU
1.3.1 Khuynh hướng lạ hóa và tự do hóa hình thức
Mỗi nhà thơ có hành trình và định phận riêng để đến thành công và thường là lâu dài, gian khổ Tài năng và vốn sống, tâm hồn và vốn văn hóa, tất cả nếu cộng hưởng và được thăng hoa trong những hoàn cảnh thuận lợi nào đó, thì thường có thơ hay Với Nguyễn Quang Thiều, những trạng thái và hoàn cảnh như thế diễn ra thuận lợi, đó là do ông biết phát huy chúng một cách tối đa, thông qua những rung cảm có thật, cộng với hướng đổi mới thi ca
Trang 29mãnh liệt đã làm cho thơ ông luôn hiện đại và có hướng đi riêng Cùng thế hệ với Nguyễn Lương Ngọc, Mai Văn Phấn…, Nguyễn Quang Thiều thực sự tạo
ra hiệu ứng thi ca riêng và luôn đổi mới cho đến ngày nay
Ông xem thơ là nghiệp dĩ và sinh mệnh cuộc sống nên dành cho nó nhiều kỳ vọng nhất Dù vậy, không phải lúc nào ông cũng thành công như mong ước Ông là một hiện tượng thơ ca khá đặc biệt, ngay từ thi phẩm đầu
tiên Sự mất ngủ của lửa ra mắt và được Hội Nhà văn trao giải Theo đó,
những thi phẩm liên tiếp ra mắt bạn đọc đã đưa ông lên vị trí những nhà thơ trẻ tiên phong đổi mới Khen có, chê có - có người cho thơ ông ở hàng tiên phong trong sự đổi mới (số đông); ngược lại, có người cho là “lai căng”, là rất
“non kém về nghệ thuật” (số ít) Nhưng nhìn chung là sự đồng vọng tiếp nhận nồng nhiệt của độc giả
Vậy, bằng cái nhìn khách quan và nghệ thuật, thơ Nguyễn Quang Thiều
có đặc điểm và giá trị gì? Đây là một việc làm không dễ nhưng không phải là không thể, bởi mỗi bài thơ, mỗi thi phẩm đều có tính chỉnh thể tự trị của chúng thông qua ngôn từ, người đọc có thể lần tách ngữ nghĩa đích thực bên trong của chúng, dù phức tạp Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều có lẽ là một hiện tượng đáng quan tâm đối với người đọc, kể cả giới sáng tác và phê bình chuyên nghiệp
Khuynh hướng dễ nhận diện nhất của thơ Nguyễn Quang Thiều, làm nên sự khác biệt của ông, đó là ông thực hành thơ theo khuynh hướng lạ hóa
và tự do hóa hình thức Điều này, trước đó đã có nhiều nhà thơ thể hiện và thành công, nhất là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Bằng Việt… Nhưng ở Nguyễn Quang Thiều, chất hiện đại và ngôn ngữ mang tính chất riêng của ông, phản ánh tình cảm và tâm thức lịch sử, tâm thức văn hóa của riêng ông
Nguyễn Quang Thiều có năng lực sáng tạo dồi dào, nhưng trước hết là
ý thức sáng tạo Ông luôn quan sát cuộc sống ở thì hiện tại đang tiếp diễn với
Trang 30tầm bao quát rộng, từ đó, chọn lọc và đưa chất hiện thực bề bộn vào thơ một cách nghệ thuật để nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống hiện
tại Từ Những người đàn bà gánh nước sông đến Cây ánh sáng, chính là kết
quả của quá trình trải nghiệm ấy Tư tưởng và tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều được sự hỗ trợ tích cực từ vốn văn hóa, trình độ học vấn và cảm xúc chân thành Chỉ khác là ông thể hiện cuộc sống theo khuynh hướng lạ hóa và
tự do hóa hình thức, nhưng không dễ dãi và đơn điệu Ông không viết những điều để người đọc thích thú mà ông viết về những điều buộc người ta phải suy nghĩ Có nghĩa là ông không nhìn cuộc sống một cách êm đềm, bóng bẩy, vui tươi mà viết nhiều những vấn đề gai góc, những bài toán lớn đặt ra trong cuộc sống Thơ ông có xu hướng trình bày, bóc trần hiện thực bằng cái nhìn nhân
ái, nhưng xót xa và đậm tính chất nghi vấn, đối thoại Ở đó, ông dẫn người đọc vào những không gian kỳ lạ với rất nhiều luồng lạch, ngõ ngách và tâm trạng khác nhau Chúng hoàn toàn xa lạ với cách nhìn một chiều, cũ kỹ và bất biến Vì vậy, thơ ông thường tạo ra những hiệu ứng đa chiều, thích nghi cho những người thích truy tìm, khám phá Có phải do chính điều này, mà nhiều người đã nói đến tính khó hiểu của thơ ông chăng?
Cùng với khuynh hướng lạ hóa là khuynh hướng tự do hóa hình thức câu thơ Đây chính là thi pháp đáng chú ý ở thơ Nguyễn Quang Thiều Nhờ thế mà hiện thực được đi vào thơ thoải mái, giúp nhà thơ có dịp so sánh, đối chiếu, hệ thống hóa và chiêm nghiệm một cách cụ thể; từ đó, khái quát và đặt vấn đề, lý giải vấn đề vừa cụ thể vừa đa dạng, vừa quen thuộc nhưng lại vừa
lạ hóa Để hiện thực điều đó, ngôn ngữ thơ ông cũng tăng dần tính ký hiệu biểu đạt, hướng đến sự lạ hóa để không dẫm lên thành tựu của những nhà thơ khác Ví như để nghĩ về chiếc bình gốm - vật dụng quen thuộc của người dân quê, ông có cách nói suy diễn lạ hóa, lại được chứa đựng bằng hình thức tự do hóa câu thơ, gây tò mò trong tiếp nhận của người đọc
Trang 31Rộng mê man, sông Hồng, chảy bên kia giấc mơ
Tôi ra sông, tóc réo vang như lửa, bất tận trên cánh đồng Châu Thổ
Vục tay xuống lòng sông, tôi dâng lên, xoè rộng
Phù xa nhiễu dài – MÁU - chầm chậm và rên rỉ
Vục tay xuống lòng sông, tôi dâng lên, xoè rộng, ban mai túa đầy
mí mắt tôi bờ thứ ba màu mỡ bóng tối chuyển động
Trộn máu vào phù sa, trộn ban mai vào hòang hôn, tôi nặn
chiếc bình gốm Chiếc bình chảy máu, men hoàng hôn chảy, men ban mai chảy,
chảy phù sa
Tôi ra sông lấy lòng tay múc một miền nước lớn
Sông Hồng mê man rộng, chảy bên này giấc mơ
Khổ thơ trên buộc người đọc phải huy động sức tưởng tượng, liên tưởng và suy luận mới mong hiểu được Điều này, trong lĩnh vực nghệ thuật
thi ca, thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra chức năng và ý nghĩa kép: về mặt lý
trí - ảo ẩn, khó nắm bắt, nhưng về mặt tâm lý, lại gây sự tò mò, thích thú cho
người đọc Vì thế, sự lạ hóa làm tăng ấn tượng và sức biểu đạt chính là một quy luật của sáng tạo nghệ thuật; chính nó đã biến những điều bình thường thành thơ, thành những hình tượng mang nghĩa
Lạ hóa và tự do hóa hình thức câu thơ được Nguyễn Quang Thiều thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau: từ ngôn ngữ, hình ảnh, đến ý tưởng Ông luôn
gắn cho sự vật, hiện tượng những đặc tính khác lạ, bất ngờ: “Những chân trời
gập khúc xuống mùa đông” (Cánh đồng), “Những hơi thở được đốt nóng trở
Trang 32lại” (Dưới trăng và một bậc cửa) Nói về những người đàn bà gánh nước
sông, ông có những liên hệ lạ: “Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé
bỏng chơi vơi - Bàn tay kia bấu vào mây trắng” Biện pháp tu từ mà Nguyễn
Quang Thiều thường sử dụng tối đa là nhân hóa: “Chiếc áo cần cù xé ra băng
vết thương mùa màng hổ thẹn” (Hòa âm của những đa bào), “Những cánh buồm khổ đau tự xé tự vá lại mình” (Dòng sông)… Nhìn vào đâu, Nguyễn
Quang Thiều cũng biến chúng thành những thông điệp mới, thông qua những
hình ảnh, hình tượng lạ hóa, bất ngờ: “Những dòng sông tự cào tướp họng” (Con bống đen đẻ trứng), “Ánh đêm đoan trang đang bảo ban những dòng
sông lười chảy” (Bình minh đang lên)…
Sự lạ hóa và tự do hóa hình thức nói trên điểm xuyết trong thơ Nguyễn Quang Thiều, làm thành khuynh hướng mang nét riêng, đa dạng nhưng thống nhất trong thi giới của ông Lạ hóa lồng trong lạ hóa, tự do hóa tạo những lạ hóa mới, làm tăng hiệu ứng thẩm mỹ cho thơ Nhưng không phải ai cũng có cùng mặt bằng tri thức nghệ thuật để tiếp nhận thi ca Nguyễn Quang Thiều
Có thể minh họa bằng một khổ thơ nữa để thấy sự thống nhất, nhưng đa
dạng của thơ Nguyễn Quang Thiều: “Trên mảng tường ẩm mốc - Bầy kiến
lang thang theo tri giác của mình Con đường kiến miên man cơn sốt Những con kiến tí hon với cái đầu vĩ đại - Đi về đâu những điều đúng trong trăng - Đi về đâu những điều sai trong trăng - Và ôi, con dế mèn lãng du - Hãy vì đồng loại mày trong đêm mê dại này mà đừng vuốt râu - Chiếc đàn hình lá cỏ - Bài ca xanh ngập ngụa lối mòn” (Dưới trăng và một bậc cửa)
-Những đối lập bản thể ở đây nói lên điều gì? Sự đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật có gì khác với thế giới con người? Thơ Nguyễn Quang Thiều bao
giờ cũng tác động vào lý tính trước tình cảm của người đọc là vậy
Trang 331.3.2 Khuynh hướng triết lý, chiêm nghiệm
Đây là khuynh hướng phổ quát của bất kỳ nhà thơ nào Bản thân thơ ca, với cấu trúc hàm ngôn, ảo ẩn và những biện pháp tu từ đặc sắc, mới mẻ… đã
là những hình thức mang nghĩa Tính chất “khả giải bất khả giải” từ những biện pháp nói trên đã bao hàm phần nào nội dung của tính triết lý và chiêm nghiệm, tạo thành nội dung tư tưởng trong thơ Nguyễn Quang Thiều có ý thức sâu sắc trong việc lập ngôn, lập tứ và lập nghĩa triết mỹ cho thơ Triết lý trong thơ Nguyễn Quang Thiều nhiều khi là những đối lập nghịch lý nhưng hợp lý
Có một người mù ngày ngày vẫn đi qua thành phố Dừng lại nói cho chúng ta về những con đường
(Hồi tưởng tháng chín)
Có khi là những đối lập bất ngờ không có trong ký ức của người đời, nhưng lại hiện lên những chiêm nghiệm và suy ngẫm về những liên hệ khác
trong cuộc sống: “Chúng ta thường chăm sóc những ngôi mộ - bằng nỗi sợ
hãi và tiếc thương - Nhưng ít người chúng ta nhìn thấy - cỗ xe tang lộng lẫy - Trong tiếng trống tưng bừng - Làm thần chết cũng hết phiền muộn” Vậy mà
tên tuổi người quá cố lại được khắc uy nghiêm trong phiến đá: “Và tên tuổi
chúng ta được khắc - Trên phiến đá lặng im - Lấp lánh và uy nghiêm - Như tên các vị thánh” (Thay lời nguyện cầu)
Chất triết lý trong thi ca của những nhà thơ tài danh thường được cấu trúc bằng những ngôn ngữ và hình ảnh nghịch lý, nhưng là “sự nghịch lý nằm trong tính toàn thể của nó, bao gồm cả hình thức và nội dung, để cuối cùng người đọc nhận ra một nét riêng, một phong cách đặc biệt từ sự hài hòa này” (Hồ Thế Hà) Thơ Nguyễn Quang Thiều thường thể hiện theo lối này nhằm
gợi nên những triết lý, chiêm nghiệm mới mẻ Bản tuyên ngôn của giấc mơ,
Bài ca trong đêm cuối cùng của năm cũ, Nhịp điệu châu thổ mới, Tiếng chó
Trang 34và những ngôi sao, Cây ánh sáng là những bài thơ tiêu biểu cho lối kết cấu
nói trên: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy - Sau
những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng - Chạy theo mẹ và lớn lên - Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến - Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ - Và cá thiêng lại quay mặt khóc - Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi” (Những người đàn bà gánh nước
sông)
Cũng trong kiểu tư duy này, Nguyễn Quang Thiều có những phát hiện thêm về một khía cạnh nỗi đau của một người đàn bà khâu áo cho người chồng đã vắng, qua từng đường kim lặng lẽ, từng ngón tay gỡ sợi chỉ rối bời Một cảm thương day dứt đến nghẹn ngào
Chị ngồi gỡ sợi len dài ram ráp Với một bên đau xót không người Cho một bên đầy lên những sợi len lặng lẽ
Cứ bồng bềnh âm ấm một niềm vui
(Người hàng xóm góa chồng đan áo) Nguyễn Quang Thiều thường tiếp cận thế giới thiên nhiên, con người
và thế giới loài vật thông qua “bản năng sinh tồn” kỳ diệu của từng đối tượng
với những phát hiện mới, biểu đạt mới: “Dưới ánh sáng những vầng mây mùa
đông - Bên những ngôi nhà cao tầng vừa thở dốc vừa chống gối đứng dậy - Bên những quán đang đổ rượu mê man vào một miền khô trụi - Những đám
cỏ vô tình được cứu sống dạt vào nhau - Tôi mang cơn mơ nham nhở của màu xanh - Suốt tuổi thơ không hay cỏ từng ngày bị săn đuổi - Những con dế bật càng xa, xa mãi” (Gọi hồn)
Sự biểu đạt tính triết lý và chiêm nghiệm được Nguyễn Quang Thiều thể hiện với nhiều cấp độ và cấu trúc khác nhau để làm giàu suy tưởng, liên tưởng Tính ký hiệu, tính biểu trưng của ngôn ngữ còn được tác giả sử dụng
Trang 35đa dạng và linh hoạt, tạo ra những kết cấu nhiều tầng, để có thể biểu đạt nhiều
quá trình, nhiều vấn đề phức tạp của đời sống Trong bài thơ Chuyển dịch
màu đen, chỉ hai biểu tượng là “màu đen” và “màu trắng”, tác giả đã biểu đạt
một hiện thực đối lập đặc biệt của đất nước ta, qua đó, nói về số phận những
kẻ vì mưu sinh phải sống tha hương, về những mối quan hệ lớn lao có tính dân tộc và tính thời sự sâu sắc; rộng ra, có tính nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa hiện tại
Trong Nhịp điệu châu thổ mới, khi tượng trưng hóa mọi cảnh vật, mọi
sự việc, Nguyễn Quang Thiều đã dựng lên một thế giới của trí tưởng tượng,
mà ở đó không có ranh giới giữa sự sống và cái chết, tất cả đều là sinh thể, tất
cả đều có linh hồn Về mặt này, về sự phong phú của trí tưởng tượng, có lẽ Nguyễn Quang Thiều được xếp đầu bảng, ông đúng thực là nhà thơ có trí tưởng tượng phong phú và kỳ lạ Qua con mắt của một đứa trẻ, cuộc tiễn đưa cái chết của người bà nội được dựng lên như hành trình về một xứ sở kỳ lạ; ở
đó “Nến được đốt lên sớm hơn mọi thế kỷ”, ở đó có “Vầng dương thổn thức
trên cánh đồng vải liệm thơm tho”, nơi người bà “Thường bay qua cánh đồng mỗi ngày cuối chiều Khâu lặng lẽ những hơi thở rách”, nơi tất cả đều mang
một đời sống mới từ “Ngôi nhà”, “Chiếc giường”, “Dây phơi” đến “Ngọn đèn”…; và cái chết cũng không phải chỉ là cái chết mà là sự gieo cấy một sứ
mệnh mới, một sứ mệnh thiêng liêng: “Thổ ngữ gieo từ bàn tay Người Nông
Dân Già vào tay cậu bé Cậu bé chầm chậm mở vương quốc của mình”; rồi từ
đó là “Tuôn chảy một dòng sông”, là “Mọc lên một quả đồi”, là “Mở ra một
con đường”, rồi “Một cây cầu” được dựng lên mà đứa bé “Như một trụ cầu mọc lên để đỡ lấy một giọng nói”…
Còn trong Nhân chứng của một cái chết, qua biến cố một thị xã ngập
nước, tác giả đã đóng vai một nhân chứng, chứng kiến cái chết, cái kết thúc của những sự mục ruỗng, sự ngưng trệ trước một thử thách khắc nghiệt, của
Trang 36cái khoảng thời gian mà dòng sông chảy như “một dòng nước đục lạnh tanh”,
“Bụi quá nặng làm mái nhà oằn xuống”, khi những câu hỏi “vang lên như
bom” mà vẫn không có câu trả lời, khi những thông điệp của ngôn từ “không người nghe”, khi các thi sĩ, những người cất giữ tâm linh thời đại cô đơn đến
cùng tận: “Họ không bao giờ được cộng vào đám đông và đám đông cũng
không bao giờ cộng được họ”… Nhưng như có một sự thống nhất trong tư
tưởng nghệ thuật, Nguyễn Quang Thiều luôn là con người mạnh mẽ, thơ ông không dẫn người đọc đến ngõ cụt, mà luôn hướng tới một “sự lột vỏ”, tới một
“bình minh đang lên”, và trong sự tan rã, trong sự cuốn trôi cuối cùng, thi sĩ vẫn cho chúng ta thấy trên vòm trời mãi lấp lánh một vì sao “bền bỉ sáng”…
Đúng như ý kiến nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn nhận xét, thơ Nguyễn Quang Thiều phát lộ một tâm thức thời đại “Có điều ông Tuấn đã nói ngược, không phải Nguyễn Quang Thiều chạy trốn ánh sáng, chạy trốn văn minh vật chất, mà ngược lại, ông còn muốn mang cả cánh đồng của quê hương mình, của đất nước mình ra ngoài ánh sáng văn minh hiện đại cho cả thế giới này được biết Nếu ông có về lại cánh đồng cũng chỉ để “giải lao”, để nghỉ lấy sức
mà thôi Bao trùm lên toàn bộ tư tưởng thơ Nguyễn Quang Thiều là cái khao khát cháy bỏng một sự vận động biến đổi về phía ánh sáng, về phía tốt đẹp Ông cũng viết rất nhiều về sự ngưng trệ, tù đọng, ngòi bút ông rất quyết liệt không nương tay, nhưng cũng chỉ để nói lên cái sự khao khát ấy Và đó không chỉ là cái khao khát của riêng ông mà còn chính là cái khao khát của cả thời đại này, mà cả đất nước ta đang từng ngày, từng giờ phấn đấu thực hiện”
*
* * Hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều song hành cùng hành trình cuộc sống để làm nên những tiếp nối thi pháp nghệ thuật Ở đó, chủ thể sáng tạo
Trang 37luôn cảm nhận sâu sắc bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội và hằng
số tâm lý của con người để không ngừng thể nghiệm và đổi mới thi ca Cùng sáng tác, cùng nghĩ về nghề, nghĩ về thơ và nghĩ về sứ mệnh nhà thơ, Nguyễn Quang Thiều đã khái quát thành những quan niệm nghệ thuật hợp quy luật, có khả năng tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật cho thơ ông trong từng chặng hành trình Những khuynh hướng tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều cũng từ đó hình thành, vận động và phát triển, phù hợp với tầm đón đợi của độc giả và phù hợp với chính quy luật thi ca
Trang 38CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ
NGUYỄN QUANG THIỀU
Thi sĩ là người luôn soi vào cái tôi của mình để từ đó nhìn ra tha nhân
Ở đó, “cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức được chính mình,
là chức năng tự nhận thức của chủ thể” [20, tr.14] Cái tôi của nhà thơ có mối
quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ Đó là hành trình
mà các nhà nghiên cứu gọi là “mã hóa những cuộc kiếm tìm” Làm được điều này, nhà thơ phải hiện hữu, phân thân thành nhiều chủ thể và đối tượng để cảm xúc và bộc lộ được các sắc thái tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của nhiều
số phận, qua đó gửi gắm thông điệp về tình yêu và khát vọng của mình Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, hình tượng nhà thơ được phân thân thành nhiều hình tượng cái tôi trữ tình Chúng tôi khái quát thành hai dạng thái nổi bật: cái tôi trữ tình đời tư, thế sự và cái tôi triết lý, chiêm cảm đặt trong hiện thực cuộc sống và thế giới nhân vật chung quanh với những tầng bậc văn hóa, biểu tượng, biểu trưng Qua đó, Nguyễn Quang Thiều đã làm sống lại những cảm thức văn hóa rất riêng trong tình yêu và trong cuộc sống, tạo cho mình một lối
đi khá sâu rộng trên con đường tìm đến những tâm hồn đồng điệu
2.1 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH - TÁC GIẢ
2.1.1 Cái tôi trữ tình đời tư, thế sự
Rimbaud đã tự thú rằng: “Với nhà thơ bài học đầu tiên về con người chính là sự hiểu biết toàn diện thuần nhất về con người của chính mình Anh
ta tìm hiểu tâm hồn mình, khám phá, thử thách và ứng dụng Khi anh ta đã nhận ra rồi, anh ta làm cho hoàn thiện hơn… Nhà thơ phải có tầm nhìn, phải khám phá và biết cách khám phá” [40, tr.16]
Thơ trước hết là ngôi thứ nhất của chính chủ thể sáng tạo Nói cách khác, thơ là phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm những ý nghĩ, cảm xúc chủ
Trang 39quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Khi tâm hồn tràn ngập cảm xúc chân thành, cái tôi đời tư trở thành thiên hướng giãi bày, tự thể hiện Bên cạnh
sự khát khao đi tìm cái đẹp bản thể của cuộc sống, thiên nhiên, trước hết, nhà thơ soi vào chính thế giới nội tâm của mình Đi sâu vào khám phá cái tôi đời
tư của chính nhà thơ, thì cảm xúc và tâm trạng sẽ chân xác hơn với bao buồn vui, khổ đau và hạnh phúc Thế nên, thơ viết về đời thường dễ bắt gặp những tâm hồn đồng điệu
Sau năm 1975, thơ Việt trở về hướng nội, chú ý nhiều đến đời sống riêng tư, nhà thơ có nhu cầu thể hiện mình đến tận cùng bản thể Cái tôi cá nhân được khai thác ở mọi sắc thái, mọi cung bậc và quan hệ “Nhà thơ như là những kẻ tự đi tìm gương mặt bên trong của chính mình với niềm khao khát nhận biết, khám phá thế giới tâm linh vô thức và đầy bí ẩn bên trong ở mỗi con người” [6, tr.23] Các nhà thơ đã công khai tự thể hiện niềm vui, nỗi buồn của chính mình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, Mai Văn Phấn, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Thu Bồn… là những nhà thơ tiêu biểu Với Nguyễn Trọng Tạo,
“cơn sóng tình” lúc nào cũng không thôi chao đảo, dậy sóng, khát khao được
“chia”: “chia cho em một đời tôi - một cay đắng - một niềm vui - một buồn -
tôi còn cái xác không hồn - cái chai không rượu tôi còn vỏ chai” (Chia) Ngay
các nhà thơ nữ, nhu cầu này càng trở nên mãnh liệt Xuân Quỳnh, Lâm Thị
Mỹ Dạ, Đoàn Thị Lam Luyến… đều như thế Lâm Thị Mỹ Dạ muốn được đi
đến tận cùng nỗi đâu: “Em chết trong nỗi buồn Chết như từng hạt sương
-Rơi không thành tiếng” (Em chết trong nỗi buồn) Xuân Quỳnh thì “Em trở về đúng nghĩa trái tim em - Là máu thịt đời thường ai chẳng có - Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa - Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” (Tự hát)
Còn Đoàn Thị Lam Luyến thì dạt dào, nhưng bất hạnh, chỉ còn lại nỗi buồn,
bởi vì: “Ta đã gửi cho anh - Cả con tim dào dạt - Và anh trả cho ta - Nỗi
Trang 40buồn đau tan nát - Ta muốn ôm cả đất - Ta muốn ôm cả trời - Mà sao không yêu trọn - Trái tim một con người?” (Gửi tình yêu)
Với Nguyễn Quang Thiều, ông có ý thức thể hiện mình trong tình yêu với những “kinh nghiệm quan hệ” riêng Cái tôi trữ tình đời tư trong thơ ông thể hiện nhiều trạng thái, cung bậc tình cảm khác nhau Ban đầu, đó là những
run rẩy, thơ ngây của tuổi học trò, nhiều mộng mơ nhưng nhút nhát: “Ta giấu
một tình yêu chưa giới tính - Sau nâu nâu vạt áo học trò - Ta khóc vụng một ngày thưa bóng mẹ - Tiếng gà buồn mổ rỗ mặt hoàng hôn” Nhưng rồi, những
gì đến sẽ đến Không phải ít nhất người con gái đã thổ lộ cùng ông những ưu
tư, khắc khoải đó sao? Và người con trai đã không chỉ một lần buốt nhức, khi:
“Mười ngón tay em buốt đau mười phía - Như những móng chim hoàng anh -
Quắp vào ta như quắp một cành khô” Và cuối cùng, một trạng thái xót xa
khác hiện ra trên gương mặt bỏng rát
Ta khắc khoải hình dung khuôn mặt em mà không sao nhớ nổi Chỉ mang cá thở dồn làm ngực ta tắc nghẹn
Chỉ đuôi cá mềm quẫy tung nước làm bỏng rát mặt ta
(Mười một khúc cảm - VII) Nhưng càng về sau, tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều chín chắn hơn, từng trải hơn, bởi ông đã đi qua “ngôi nhà tuổi mười bảy” hồn nhiên để
mở tâm hồn mình ra đường chân trời rộng lớn với những va đập của cuộc sống và những day dứt của bản thân mình Vì vậy, tình yêu giờ đây có thêm cung bậc mới, trầm tư hơn, gắn với những vui buồn thế sự
Trước trái đất đang nóng lên từng độ
Và trái tim con người cứ lạnh dần đi Thì tôi phải cần em, cần bạn bè cây lá Cần có một quê hương để được trở về mình
(Đổi mùa)