Một trong số đó là Hà Minh Đức.Trong một bài viết của mình, ông viết: “Tế Hanh là nhà thơ luôn ở giữa cuộcđời mà suy nghĩ, cảm xúc yêu thương…Tế Hanh là nhà thơ của đời thường.Chất liệu
Trang 3Vinh - 2010
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 THƠ TẾ HANH TRONG BỐI CẢNH THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 8
1.1 Vài nét về tiểu sử 8
1.2 Con đường thơ Tế Hanh 10
1.2.1 Tế Hanh trong phong trào Thơ mới 10
1.2.2 Tế Hanh với những tháng năm “ngày Bắc đêm Nam” 12
1.3 Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tế Hanh 16
1.3.1 Cảm hứng tình yêu 16
1.3.2 Cảm hứng đất nước 23
1.3.3 Cảm hứng suy tư 36
Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TẾ HANH 44
2.1 Giới thuyết khái niệm 44
2.1.1 Cái tôi 44
2.1.2 Cái tôi trữ tình 45
2.2 Các dạng thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh 46
2.2.1 Cái tôi cảm thông, yêu mến chân tình 47
2.2.2 Cái tôi buồn đau, cô đơn 50
2.2.3 Cái tôi công dân - cái tôi hành động 53
Trang 52.3.2 Tạo dựng những không gian đậm chất trữ tình 64
2.3.3 Sử dụng thời gian với nhiều chiều kích 75
Chương 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU THƠ TẾ HANH 84
3.1 Ngôn ngữ thơ Tế Hanh 84
3.1.1 Sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc 84
3.1.2 Vần thơ và nhịp thơ 93
3.2 Giọng điệu thơ Tế Hanh 102
3.2.1 Giới thuyết khái niệm 102
3.2.2 Các sắc thái giọng điệu trong thơ Tế Hanh 103
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều biến
đổi sâu sắc, trong đó có văn học Một trong những thay đổi lớn của nền văn học
nước nhà là sự xuất hiện của phong trào Thơ mới (1932- 1945) Phong trào Thơ
mới phát triển trong một thời gian không dài nhưng đã có những đóng góp
không nhỏ cho nền văn học dân tộc, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt
Nam hiện đại Tế Hanh - một gương mặt xuất hiện muộn của phong trào Thơ
mới, nhưng đúng như nhận xét của Nhất Linh “có rất nhiều hứa hẹn trở nên
một thi sĩ có tài” Trong gần 60 năm sáng tạo, ông đã khẳng định được tài năng
và đóng góp của mình cho thơ ca dân tộc Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ TếHanh, vì vậy, sẽ góp phần hiểu hơn về thơ ca hiện đại Việt Nam
1.2 Thơ Tế Hanh được đông đảo bạn đọc biết đến và từng được đưa
vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông Tuy nhiên,cho đến nay, những công trình nghiên cứu về ông còn khá khiêm tốn Vì lẽ
đó, đi vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng góp thêm một tiếng nóivào quá trình khám phá tài năng, cá tính sáng tạo của Tế Hanh, “đại biểu cuốicùng trong phong trào Thơ mới”
1.3 Nói đến thơ ca là nói đến một thể loại văn học nghệ thuật gắn liền
với thế giới tình cảm, tâm hồn của con người Muốn hiểu được thơ ca nóichung và các sáng tác của nhà thơ nói riêng, phải xuất phát từ việc tìm hiểuthế giới nghệ thuật của nó Chính vì vậy, khi lựa chọn đề tài “Thế giới nghệthuật trong thơ Tế Hanh”, chúng tôi tin rằng mình đã lựa chọn hướng đi đúng
để giải mã thơ của một tác giả lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Sự ra đời của phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca”
và nó đã làm thay đổi diện mạo văn học nước nhà Chính điều đó đã thu hút
Trang 7sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng như bạn đọc yêumến văn chương, tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi về tác giả, tác phẩm
Thơ mới, trong đó có Tế Hanh - người “đại biểu cuối cùng của phong trào
Thơ mới”
Tế Hanh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Namhiện đại Ông có những đóng góp đáng kể, để lại nhiều tập thơ có giá trị chonền văn học nước nhà Chính vì vậy, từ trước đến nay, việc nghiên cứu thơông đã được các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà văn, nhà thơ và bạn đọcchú ý nghiên cứu dưới nhiều cấp độ và nhiều hướng khác nhau Cho đến nay,
đã có nhiều bài trên các sách, báo, tạp chí, trang web… viết về sáng tác củaông Trong nguồn tư liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của đề tài,chúng tôi xin điểm lại một số vấn đề cơ bản
Ngay từ khi mới xuất hiện trong làng Thơ mới, Tế Hanh đã gây được
sự chú ý với nhiều nhà thơ, nhà phê bình tên tuổi Với cái nhìn nhạy cảm, tinh
tế của một nhà phê bình tài hoa, Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam đã
cảm được sự tinh tế trong hồn thơ Tế Hanh Ông viết: “Tôi thấy Tế Hanh làmột người tinh lắm Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinhhoạt chốn quê hương Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, khôngthanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát củahương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ Thơ Tế Hanh đưa ta vào mộtthế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới nhữngtình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật…Nhưng Tế Hanh sở dĩ nhìn đờimột cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết” [78, 140].Sau cách mạng tháng tám, nhiều nhà phê bình, nhà nghiên cứu đã giành chothơ Tế Hanh một sự quan tâm đặc biệt Một trong số đó là Hà Minh Đức.Trong một bài viết của mình, ông viết: “Tế Hanh là nhà thơ luôn ở giữa cuộcđời mà suy nghĩ, cảm xúc yêu thương…Tế Hanh là nhà thơ của đời thường.Chất liệu đời thường gần gũi được Tế Hanh trân trọng khai thác” [37,25]
Trang 8Theo ông, “Tế Hanh không chỉ cảm nhận cuộc sống với lòng chân thực vàcách nhìn bình dị, mà cũng luôn có ý thức phát hiện cái thi vị ở đối tượng
miêu tả Kết hợp cái thật và cái đẹp là một trong những đặc điểm chủ yếu của
thơ Tế Hanh… Anh hướng thơ đến cái đẹp thi vị thanh cao lại vừa đưa thơ vềvới cuộc đời bình dị Tế Hanh không thi vị hoá cuộc sống mà biết phát hiệnchất thi vị đó đây trong đời, trong thơ” [37, 29-30] Thơ Tế Hanh, theo HàMinh Đức là thứ thơ thiên về cảm xúc Ông viết: “Tế Hanh là một tâm hồnthơ giàu cảm xúc Cảm xúc chân tình tha thiết đã đem đến trong thơ Tế Hanhmột bản sắc riêng có sức lôi cuốn hấp dẫn tự bên trong, không ồn ào mà layđộng, dễ đồng cảm, dễ đắm say…; tình cảm đã tạo nên sức mạnh chủ yếutrong thơ Tế Hanh…; tình cảm trong thơ Tế Hanh có nhiều sắc thái, giọng
điệu nhưng có lẽ cái điệu cảm xúc trội hơn cả là điệu buồn” [58, 90-91-92] Cùng cách nhìn ấy, Mã Giang Lân trong bài Tế Hanh - tinh tế - trong trẻo
cũng nhận định “Tiếng vọng cuộc đời trong thơ Tế Hanh trước hết là tiếngvọng của quê hương… Quê hương là nguồn mạch chính xuyên suốt chảy dạtdào trong cả đời thơ ông và cũng là mạch thơ Tế Hanh có những bài thơ haynhất, thành công nhất” [60, 31-32] Và ông cũng phát hiện nét riêng trongphong cách Tế Hanh, đó là “một tâm hồn luôn nhạy cảm với cái đẹp Ôngmuốn miêu tả hiện thực cuộc sống với một lí tưởng đẹp và vì vậy thườngthiên về khai thác cái đẹp trong cuộc sống, trong thiên nhiên” [60, 42] và
“Hơn năm mươi năm sáng tạo với bấy nhiêu tập thơ, Tế Hanh thể hiện cuộchành trình của cái Tôi khá trung thực" [60, 14] Ngoài ra, chúng tôi còn có thể
kể đến ý kiến của tác giả Vũ Tuấn Anh trong công trình nghiên cứu Tế Hanh
tác phẩm chọn lọc với những lời đánh giá: “Nằm trong khí quyển chung của
Thơ mới, thơ Tế Hanh cũng mang nỗi cô đơn của thi nhân, của một cá thểtrước cõi người với rất nhiều ân tình sâu nặng” [7, 11], “Thơ Tế Hanh khôngmạnh về cấu tứ, về trí tuệ Tính trữ tình tự nhiên, đằm thắm và thuần khiếtlàm nên vẻ đẹp của thơ ông” [7, 18]… Cũng bàn về thế giới nghệ thuật thơ Tế
Trang 9Hanh nhưng Mai Hương lại quan tâm nhiều đến giọng điệu Trong bài viết
Giọng điệu thơ Tế Hanh, Mai Hương viết: “Cùng với giọng chủ đạo: tâm tình,
thơ Tế Hanh dần có sự kết hợp bổ sung những giọng điệu khác: hoặc day dứt,trăn trở hoặc trầm tĩnh, suy tư” [58, 279]
Bàn về thơ Tế Hanh còn có thể kể đến một số bài báo trên những trangweb trên mạng Internet Chẳng hạn như ý kiến của nhà phê bình Vương TríNhàn “Tế Hanh có giọng thơ buồn buồn, nó hoà nhịp với cái tâm hồn vốnlặng lẽ chứ không quá nồng nhiệt của dân tộc này Tế Hanh đã bắt nhịp được,
là đại biểu cho dòng thơ đó, vì vậy mà thơ ông dễ đi vào lòng người, dễ chiếmđược cảm tình của người Việt Nam” [70]; hay ý kiến của tác giả Lưu KhánhThơ “Thơ Tế Hanh vọt ra từ đáy giếng tâm tình mát rượi và sâu thẳm của anh,thật tự nhiên, thật hồn nhiên nhưng cũng rất điêu luyện nghệ thuật” [81]…
Nghiên cứu đánh giá thơ Tế Hanh, không ít tác giả đặc biệt chú ý đếnmảng thơ tình bởi nó chiếm một vị trí không nhỏ trong toàn bộ sáng tác củaông Xung quanh vấn đề này, chúng tôi có thể kể đến một số ý kiến tiêu
biểu Chẳng hạn, trở lại với bài viết của Mã Giang Lân: Tế Hanh tinh tế
-trong trẻo: “Tế Hanh viết nhiều về thơ tình Thơ tình Tế Hanh không bộc lộ
sôi nổi, ồn ào Nó sâu lắng, thủ thỉ, tâm tình, một tiếng nói nhỏ nhẹ, buồnbuồn Nhưng là cái tình thực, xúc cảm thực của nhà thơ” [60, 54-55] Gần
với ý kiến trên, tác giả Thanh Quế trong bài viết Có một tình yêu đi suốt thời
gian lại so sánh: “Tôi thường nghĩ rằng, thơ tình của Xuân Diệu sôi nổi, rạo
rực, có cái gì đó quyết liệt chiếm đoạt để hưởng thụ cuộc sống và tình yêu
Đó là tiếng nói của một người đi trong giai đoạn cuối của tình yêu Thơ tìnhcủa Hàn Mặc Tử đau xót, quằn quại, nhưng hình như ông mượn thơ để nóinhững việc đời hơn là nói với người tình những chuyện yêu đương NguyễnBính là nhà thơ của những mối tình trắc trở, dở dang…Còn thơ tình Tế Hanhthì hồn hậu, da diết, thủ thỉ, gần gũi với đời ta Đấy là tiếng nói của một
Trang 10người tình biết trân trọng, thuỷ chung với bạn tình” [58, 434] Cũng cách
nhìn ấy, Trần Hoài Anh trong bài viết Về một nét riêng trong thơ tình Tế
Hanh cũng so sánh: “Thật vậy, đọc thơ của Tế Hanh nói chung và mảng thơ
tình yêu nói riêng, chúng ta khó bắt gặp những cảm xúc nóng bỏng, vồ vập,sôi nổi, nồng cháy, ngây ngất như thơ tình của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử…Nhưng không phải vì thế mà thơ tình của Tế Hanh vắng thiếu sự nồng nànvốn là bản chất của tình yêu mà trái lại chính sự lắng đọng trong cảm xúctạo cho thơ tình Tế Hanh một nét riêng độc đáo Đó chính là sự sâu lắngnhưng không kém phần mênh mông, da diết [58, 436]… Như vậy, có thểthấy, các nhà phê bình đã có sự gặp gỡ khi cho rằng, sự sâu lắng, thủ thỉ, tâmtình… là đặc điểm nổi bật của thơ tình Tế Hanh
Điểm lại lịch sử nghiên cứu, phê bình thơ Tế Hanh, một điều dễ thấy làhầu hết các bài viết đều tập trung làm rõ những đóng góp, thành công của thơ
Tế Hanh, đặc biệt là về mặt nội dung tư tưởng (cảm hứng, đề tài, chủ đề…) và
đã bước đầu quan tâm đến một số phương diện của thi pháp thơ Tế Hanh Tuynhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống,đầy đủ về thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôilựa chọn đề tài này trên cơ sở phân tích tổng hợp thành tựu nghiên cứu thơ TếHanh của những người đi trước, đánh giá và chỉ ra những vấn đề còn mở ngỏtrong việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh với hi vọng đem đếnmột cái nhìn hệ thống, đầy đủ và toàn diện hơn về thế giới nghệ thuật thơ TếHanh, từ đó thấy được những đóng góp của nhà thơ cho phong trào Thơ mớicũng như trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là khám
phá thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh Từ đó, chỉ ra tài năng, cá tính sáng tạo
và những đóng góp của ông cho thơ ca Việt Nam hiện đại
Trang 113.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, đưa ra một cái nhìn khái quát con đường thơ của Tế Hanh
trong bối cảnh thơ Việt Nam hiện đại
Thứ hai, Khảo sát, phân tích một cách hệ thống một số phương diện cơ
bản trong thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh
Thứ ba, trong một chừng mực nhất định, chỉ ra những tương đồng khác
biệt giữa thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh với thế giới nghệ thuật thơ của một
số nhà thơ Việt Nam hiện đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh
trong hai thời kỳ sáng tác của ông, trước và sau Cách mạng tháng Tám
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nói đến thế giới nghệ thuật thơ là nói đến toàn bộ những sáng tạo củanhà thơ được kết tinh trong thế giới hình tượng, mang dấu ấn tài năng, cá tínhsáng tạo của nhà thơ Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn Thạc sĩ, chúngtôi chỉ giới hạn khảo sát một số phương diện cơ bản, như: Cảm hứng chủđạo; Cái tôi trữ tình; Giọng điệu và ngôn ngữ thơ
Về mặt văn bản, chúng tôi chọn cuốn Tế Hanh - Tuyển tập thơ (Nxb
Văn học, Hà Nội, 1997) làm văn bản khảo sát chính Ngoài ra, còn khảo sátthêm một số văn bản khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phân loại; phươngpháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu …
Trang 126 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, toàn diện thế giới
nghệ thuật trong thơ Tế Hanh
Từ đó, làm rõ được những đóng góp riêng, độc đáo của tác giả so vớicác nhà thơ cùng thời
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn được triển khai trong 3 chương:Chương 1 Thơ Tế Hanh trong bối cảnh thơ ca Việt Nam hiện đại.Chương 2 Cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh
Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu thơ Tế Hanh
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1
THƠ TẾ HANH TRONG BỐI CẢNH THƠ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI
1.1 Vài nét về tiểu sử
Tế Hanh tên khai sinh là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1921
ở thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Sinh
ra trong một gia đình nhà nho, ông yêu thơ văn từ nhỏ Thuở nhỏ, Tế Hanhhọc trường làng rồi trường huyện Năm 1936, ông đậu tiểu học, ra Huế họctrường trung học (trường Quốc học) Chính nơi đây, ông bắt đầu gặp gỡ, tiếp
xúc, giao lưu rộng rãi với các tác giả trong phong trào Thơ mới như Huy
Cận, Xuân Diệu và dần dần trở thành một trong những cây bút làm nên mộtthời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam Năm 1939, khi học năm thứ 3
trường trung học, ông viết tập thơ đầu tiên lấy tên là Nghẹn ngào Với tập
thơ này, năm 1940, ông được tặng giải thưởng thơ của Tự lực văn đoàn Một
số bài thơ mới viết trong năm 1940, 1941 cùng với những bài trong tập
Nghẹn ngào tạo thành tập Hoa niên, in năm 1945 Trong thời gian 1942
-1944, ông chuẩn bị cho sự ra đời tập thơ mới, với tên gọi Những số kiếp.
Những bài thơ này phần lớn chưa in, chỉ đăng rải rác trên các tờ báo ở Hà
Nội và Sài Gòn Sau này, tìm được bản thảo, ông lấy tên là Tập thơ tìm lại.
Năm 1943, sau khi đậu tú tài, ông ra Hà Nội học trường Luật nhưng rồi lại
bỏ vào Huế đi dạy học ở trường tư thục cùng các ông Hoài Thanh, NguyễnVăn Bổng…
Tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa ở Huế và bắt đầu sinh hoạttrong tổ chức Văn hoá Cứu quốc do Tố Hữu lãnh đạo Ở đó, ông gặp các nhàthơ Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư…Đầu năm 1946, ông vào Đà Nẵng thamgia Uỷ ban nhân dân thành phố, làm uỷ viên giáo dục và trong ban phụ trách
Trang 14Văn hoá Cứu quốc thành phố Đà Nẵng Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19
-12 - 1946), ông tham gia Ban Tuyên truyền mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.Năm 1947, ông tham gia phụ trách trường trung học bình dân miền NamTrung Bộ do Phạm Văn Đồng lúc đó là đại diện Đảng và Chính phủ thành lập
và hướng dẫn Ngày 01 tháng 11 năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Năm
1948, ông tham gia ban lãnh đạo liên đoàn văn hoá kháng chiến miền NamTrung Bộ và đến năm 1949 tham gia thành lập và lãnh đạo Hội Văn nghệ liênkhu V Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đi nhiều nơi ởliên khu V, vào cả vùng bị chiếm ở cực Nam Trung Bộ, tham gia phụ tráchtạp chí miền Nam và báo Văn nghệ liên khu V Thời gian này, ông cho in hai
tập thơ Hoa mùa thi (1948) và Nhân dân một lòng (1953) Ông được Hội Văn
nghệ liên khu V tặng giải thưởng Phạm Văn Đồng
Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, ông tập kết ra Bắc, về công tác ở HộiVăn nghệ trung ương Từ năm 1957, khi thành lập Hội nhà văn Việt Nam,ông ở trong ban lãnh đạo Hội Từ năm 1963, ông là uỷ viên thường vụ HộiNhà văn Việt Nam và Uỷ viên thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật
Việt Nam Ông lần lượt ở trong các ban phụ trách báo Văn nghệ, tạp chí Tác
phẩm mới và Nhà xuất bản Văn học Từ năm 1968 đến 1978, ông là trưởng
ban đối ngoại Hội nhà văn Việt Nam Sau Đại hội Nhà văn lần thứ 3 (1983),ông là Uỷ viên Ban chấp hành Hội, làm Chủ tịch Hội đồng dịch thuật củahội, và từ năm 1986 là Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và
là Uỷ viên Uỷ ban trung ương Liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam.Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật đợt I năm
1996 Do có tiếp xúc với các tác phẩm và nhà văn nước ngoài, ông đã đónggóp vào việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài và văn học thế giớivào Việt Nam Ông được tặng thưởng nhiều huân, huy chương trong vàngoài nước
Trang 151.2 Con đường thơ Tế Hanh
1.2.1 Tế Hanh trong phong trào Thơ mới
Tế Hanh sinh ra trong một gia đình nhà nho chính thống, bố ông đã từngtham gia phong trào Duy Tân của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu Sau khiphong trào thất bại, ông trở về quê làm nghề bốc thuốc và dạy học Thuở nhỏ,
Tế Hanh thường được nghe kể Kiều, Chính phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc
trong gia đình của mình Được sống trong một vùng sông nước, chài lưới, lạithường được nghe dân buôn chở cá đi đò dọc ban đêm hát những bài dân ca,
hò đối đáp, Tế Hanh được thấm đẫm bởi không khí và âm hưởng của dân ca,
1945) mà bạn bè gửi dự thi hộ, đã được giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn
Năm 1941, khi xây dựng cuốn Thi nhân Việt Nam, tập hợp 46 tác giả nổi bật trong phong trào Thơ mới, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nhận định: “Tôi thấy
Tế Hanh là một người tinh lắm Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc nhưthế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết” [78, 140] Là người nhập cuộc
khá muộn, Tế Hanh bước vào làng thơ khi phong trào Thơ mới đã đi được
một chặng đường dài từ lãng mạn qua tượng trưng, siêu thực Khi mỗi nhà
Thơ mới là một ốc đảo riêng với cái hố cá nhân chủ nghĩa, tách biệt với cuộc
sống cộng đồng và đi vào siêu hình thì Tế Hanh, người đến sau, cũng khôngnằm ngoài quỹ đạo Ông không thoát khỏi mạch cảm xúc buồn, cô đơn củathế hệ Chính Tế Hanh sau này đã bộc bạch chân thành: “Khi những mộng tơvừa nở trong tâm hồn tôi thì cuộc đời như hết thơ mộng…và tôi đã giải quyếtbằng cách không công nhận cuộc đời ấy…nhưng con đường nghệ thuật mà tôi
Trang 16đã đi…là thứ nghệ thuật giúp tôi quên tất cả những cái đó một cách tôi cho làthần diệu” [36, 3]
Tuy nhiên, điểm khác của Tế Hanh so với các nhà thơ lãng mạn cùngthời là buồn, cô đơn mà không bế tắc; có ao ước, mơ màng mà không quêngắn bó với quê hương, cuộc sống Có thể nói, đó là cái buồn trong sáng của
một tâm hồn đáng quý Trong khi các nhà Thơ mới mỗi người tìm cho mình
một lối thoát phi thực tế: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trongtrường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu khôngbền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn tacùng Huy Cận” [78, 47] thì Tế Hanh lại hướng tâm hồn về với những cái thânthuộc nhất của quê hương, gia đình và cuộc sống nơi làng quê vốn làm nghề
chài lưới của ông Thuở Hoa niên, bài thơ “Quê hương” (1939) đã để lại một
ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc với những vần thơ chan chứa tình cảmquê hương của một người con khi nói về phong cảnh cùng những sinh hoạtcủa người dân chài vùng biển:
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã
(Quê hương)
Là người con đã gắn bó, lớn lên cùng quê hương bản xứ, Tế Hanh đãcảm nhận được một cách tinh tế vẻ đẹp của người lao động quê mình Vàbằng tất cả yêu thương, ông đã vẽ lại họ trong một khúc ca trong trẻo, hồnnhiên Có được điều đó là bởi ông đã từng:
“Tôi thâu tê tái trong da thịt Hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn.
(Lời con đường quê).
Có thể thấy, từ một tâm hồn nặng lòng với cuộc sống, giàu tình thương
với con người và quê hương, Tế Hanh đem đến cho Thơ mới những bài thơ
Trang 17hồn nhiên, trong trẻo Ông đã tô thêm màu sắc, bồi đắp thêm những giá trịmới cho thơ lãng mạn vào chặng cuối của nó.
1.2.2 Tế Hanh với những tháng năm “ngày Bắc đêm Nam”
Tuy sớm khẳng định được những nét riêng của “bông hoa nở muộn trong
vườn hoa Thơ mới”, nhưng Tế Hanh cũng không tránh khỏi những tác động
của xã hội những năm 40 của thế kỉ XX, rơi vào chán nản, bi quan
Trong thơ Tế Hanh thời kỳ 1942-1944, đã xuất hiện một mạch thơ khác
không còn chất hồn nhiên, đằm thắm, gắn bó với hiện thực như thuở “Hoa
niên” ngày trước Ở giai đoạn này, thơ Tế Hanh xuất hiện một nỗi buồn nặng
nề, có phần bế tắc trước cuộc sống Có thể thấy điều này qua cách nhìn đờicủa ông:
Tàn tạ tâm hồn, hao gầy thân thể Sông buồn ta trôi về bể cô đơn
Và sau hết ta chỉ còn ngấn lệ Nằm rưng rưng trong mắt của đêm hờn.
(Trăng tàn)
Nhưng thật may! Khi Tế Hanh bắt đầu chớm vào những suy nghĩ có tínhchất hư vô, siêu hình thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, tạo cho ông nhữngbiến đổi sâu sắc, cơ bản Tuy điều đó không phải thực sự dễ dàng và tự đến
Cũng như phần đông các nhà Thơ mới bấy giờ, ông đã phải trải qua một thời
gian tìm đường Lý tưởng, quan niệm về đời sống, về xã hội đã đổi thay,nhưng để có một phương thức nghệ thuật phù hợp phản ánh hiện thực đờisống, tâm trạng của người nghệ sĩ một cách hiệu quả, những nhà thơ như ôngphải có quá trình tìm tòi, thể nghiệm Do không đi quá xa trong ảnh hưởngcủa thơ lãng mạn và siêu thực, con đường thơ Tế Hanh đến với cách mạng cóphần dễ dàng hơn so với Xuân Diệu, Chế Lan Viên … Tế Hanh đã có những
chuyển đổi trong nhận thức làm nên những cách tân rõ rệt Ở hai tập thơ Hoa
Trang 18mùa thi (1949) và đặc biệt là Nhân dân một lòng (1953), cái tôi công dân của
nhà thơ được biểu hiện trực tiếp qua phẩm chất cái tôi hành động Chủ thểnhà thơ hầu như không xuất hiện trong trạng thái tĩnh, trầm tư, trữ tình mànhư một người trong cuộc đang trực tiếp tham gia vào hoạt động kháng chiến
Ở Nhân dân một lòng, tâm thế hướng ngoại, cái nhìn hướng ngoại đã trở
thành những tâm thức chủ yếu Thơ Tế Hanh giai đoạn này đã xuất hiệnnhững nhân vật trữ tình mới, khoẻ khoắn, đặc biệt ở những người chị, người
mẹ, những cán bộ, chiến sĩ thi đua trong phong trào lao động sản xuất và
chiến đấu ở Liên khu IV mà Người đàn bà Ninh Thuận là tiêu biểu Đó là
những chuyển biến trong thơ Tế Hanh, mặc dù những chuyển biến này không
dễ dàng và suôn sẻ, và xét về nghệ thuật nó chưa tạo được ấn tượng rõ rệttrong lòng độc giả Phải đến sau ngày đất nước hoà bình (1954) cho đếnnhững năm 70, thơ Tế Hanh mới đạt độ chín Đất nước bị chia cắt, gia đìnhphân ly, kẻ Nam người Bắc Cũng như nhiều người có hoàn cảnh từ miềnNam tập kết ra miền Bắc, Tế Hanh luôn canh cánh bên lòng nỗi nhớ thươngquê hương, đồng chí, đồng bào Thời kỳ này, Tế Hanh hồ hởi sáng tác Ông
viết khoẻ, viết nhiều Hàng loạt tác phẩm lần lượt được xuất bản: Lòng miền
Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Bài thơ tháng Bảy
(1961), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo nhịp tháng ngày (1974), Giữa
những ngày xuân (1977)… Những sáng tác của ông thực sự là tiếng lòng, là
rung động từ trong cõi miền sâu thẳm của lý trí và tình cảm Trên con đườngthơ, Tế Hanh đã tiến một bước dài mà có lẽ đây là thời kỳ sung sức, chín rộnhất Nếu như trước đây, ông còn bị động thì bây giờ chủ động hơn Chủđộng kết hợp giữa cái chung và cái riêng trong lý tưởng, chủ động trong kếtcấu, nhịp điệu, ngôn ngữ, gieo vần Chủ động mà không giáo điều, xơ cứng vì
nó hoà đồng được với nhịp đập con tim
Trang 19Chủ đề mới, nổi bật trong thời kỳ này, bao trùm nhiều thập niên và tạonên thành công trong thơ Tế Hanh là sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.
Ở đây, ông đã tìm được sự hoà hợp, nhuần nhị của hồn thơ với chất thơ của
đời sống: Chiêm bao, Nhớ con sông quê hương, Vườn xưa, Em chờ anh… là
những bài thơ chứa chan tình cảm nhớ thương, thấm thía đến xót xa của ông
Trong Chiêm bao, sau cái thảng thốt, bàng hoàng là nỗi lòng của nhà thơ:
Chiêm bao bừng tỉnh giấc Biết là em đã xa
Trên tường một tia nắng Biết là đêm đã qua
Và là sự tin tưởng vững vàng được thức tỉnh, soi rọi từ ý chí:
Giấc chiêm bao đêm trước Soi sáng cả ngày sau
Tiếp đó, tập thơ Tiếng sóng (1960) đã đánh dấu một bước chuyển mới
trong thơ Tế Hanh Ở đó, nhà thơ không chỉ viết về mình, viết về người, viết
về những cái “ngoài mình” mà còn viết về cuộc đời, con người với tất cảnhững trìu mến, yêu thương Tế Hanh có cách nhìn mới về hiện thực, phảnánh hiện thực cuộc sống thông qua tâm trạng, cảm xúc sâu lắng của mình Bên cạnh chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước, Tế Hanh còn viết vềnhiều vấn đề mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội, tình hữu nghị quốc tế Đốitượng phản ánh của thơ ông tương đối đa dạng Đó là những người lao độngmiền biển, những em thiếu nhi dũng cảm, những thuỷ thủ chấp nhận hi sinhchứ không để sa vào tay giặc, là những người lao động khác đang xây dựngcuộc sống mới ở miền Bắc Từ một nhà thơ trữ tình chỉ biết tả mình, Tế Hanhchuyển sang tả người, nói về người Như nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: “TếHanh đã làm giàu mình thêm bằng chất tiểu thuyết, chất đời, chất người quacác nhân vật và lối thơ kể chuyện”[84, 113] Với những cảm xúc mới mẻ này,
Trang 20Tế Hanh nhiệt thành sống, lặng lẽ bồi đắp tâm hồn Thơ Tế Hanh do vậy,càng “nhập cuộc” hơn, càng có sự mở rộng hơn về đề tài Cuộc sống và conngười vào thơ ông ngày một sâu hơn, sôi động, khoẻ khoắn hơn Tế Hanh
hoàn thành tiếp các tập thơ Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966),
Đi suốt bài ca (1970), Theo nhịp tháng ngày (1974) …
Đất nước thống nhất (1975), một chặng đường mới của thơ Tế Hanh bắtđầu Nhà thơ hạnh phúc, say sưa nhìn ngắm đất trời giải phóng, đi đến nhiều
vùng khác nhau của miền Nam “trăm nhớ ngàn thương” Tập thơ Giữa những
ngày xuân ra đời trong không khí ấy Âm hưởng xuyên suốt của nó là sự trở
về Ở đây chúng ta bắt gặp khát vọng trở về của người con đã từ lâu mangtrong mình niềm khát khao cháy bỏng:
Tôi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương
(Nhớ con sông quê hương)
Thơ Tế Hanh, vì thế, sống dậy những nỗi niềm Bên cạnh niềm vui hồhời trào lên trong chiến thắng, trong đoàn tụ, là những khoảng lặng của nghĩngợi, tâm tình bằng những thâm trầm trong cảm xúc, giọng điệu:
Chiều nay đứng ngắm tượng chàm Đời thơ nhớ thuở “Điêu tàn” bạn ơi Nghĩ mình xuôi ngược khắp nơi
Mà trông tượng vẫn nụ cười nghìn năm
(Tượng chàm)
Bước vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi đã vào tuổi lục tuần, thơ
Tế Hanh có nhiều thay đổi Những suy nghĩ đằm lại, chiều sâu tư tưởng tăng
lên, tứ thơ chặt, rõ và thơ cũng kiệm lời hơn Đọc những bài Cái nhìn, Bài ca
sự sống, Anh trong đau ốm gặp em, Vĩnh viễn, Nhớ Xuân Diệu, Từ sự sống
Trang 21đến sự sống … có thể cảm nhận được sự chuyển đổi trong phong cách thơ
ông Không có điều kiện đi nhiều, đọc nhiều, quan sát nhiều, ông lắng lại, tìmchất thơ ở bề sâu, ngay cả những việc tưởng chừng nhỏ nhặt Sự nhạy cảm,tinh tế, suy tưởng có điều kiện phát huy Chính vì thế, thơ ông vẫn bắt nhịpđược với nhịp sống hiện tại
Có thể nói, hơn nửa thế kỷ sáng tác, mùa hoa đẹp trong thơ Tế Hanhchủ yếu ở chặng đường thơ sau Cách mạng tháng Tám Theo ông, “Tế Hanh
và Chế Lan Viên sau khi đi với cách mạng thì thơ mới phát triển trọn vẹn vàhay hơn” [58, 491] Tế Hanh là “Chùm quả ngọt nhiều hương vị lại gặt háiđược trong mùa thơ cách mạng” [58, 226] Đến với cách mạng, Tế Hanh làngười công dân có ý thức trách nhiệm, nhà thơ trung hậu và giàu lòng nhân
ái Ông lặng lẽ đi vào chiều sâu của từng mảng đời, từng hiện tượng Nhàthơ Chế Lan Viên cho rằng, "Thơ Tế Hanh không có những mùa gặt hái lớnnhưng năm tháng nào cũng có hoa lành quả ngọt" [Dẫn theo 58, 227] TếHanh với hai mươi tập thơ người lớn và thơ thiếu nhi, mười tập thơ dịch và
lý luận, đã lưu lại cho chúng ta, cho nền văn học Việt Nam một đóng gópđáng kể trong đó có nhiều bài thơ hay, những viên ngọc quý, càng thêm thờigian càng chói sáng
1.3 Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tế Hanh
1.3.1 Cảm hứng tình yêu
Nói đến tình yêu là nói đến tình cảm thiêng liêng, cao quý của con người.Tình yêu không bao giờ thiếu vắng trên cõi nhân gian này Chính vì vậy màbất cứ thi sĩ nào trong đời làm thơ của mình cũng có thơ viết về tình yêu Mỗimột nhà thơ đều có cách nói riêng, có cái tạng riêng với muôn vàn cách thểhiện Tác giả Thanh Quế đã nói: “Tôi thường nghĩ rằng, thơ tình của XuânDiệu sôi sục, rạo rực, có cái gì đó chiếm đoạt để hưởng thụ cuộc sống và tìnhyêu Đó là tiếng nói của một người đi trong giai đoạn cuối của tình yêu Thơ
Trang 22tình của Hàn Mặc Tử đau xót, quằn quại nhưng hình như ông mượn thơ đểnói những việc đời hơn là nói với người tình những chuyện yêu đương.Nguyễn Bính là nhà thơ của những mối tình trắc trở, dở dang Thơ ông gầngũi như ca dao Nhưng hình như cùng với năm tháng, người ta cũng nhớ về
nó như những câu ca dao Còn thơ tình Tế Hanh thì hồn hậu, da diết, thủ thỉ,gần gũi với đời ta Đấy còn là tiếng nói của một người tình biết trân trọng,thuỷ chung với bạn tình" [58, 434] Trong cái chung của thi nhân, thơ tình yêucủa Tế Hanh có những nét riêng dễ nhận Tình yêu trong thơ ông đầy đủ mọisắc thái, cung bậc cảm xúc Có xa cách nhớ nhung, có khao khát đợi chờ; khisâu lắng, thiết tha thể hiện khát vọng tìm kiếm sự hoàn thiện về một tình yêuvĩnh cửu, khi lại như những cơn bão lòng chẳng bao giờ lắng dịu…Và dù ởcung bậc nào thì chúng ta cũng có thể thấy rõ tình yêu nổi lên trong thơ TếHanh là một tình yêu đẹp, chân thành; một tình yêu trong xa cách; một tìnhyêu của những khát vọng tìm kiếm để thấu hiểu bạn tình
Trước hết, tình yêu trong thơ Tế Hanh là một tình yêu đẹp, chân thành.Nhà thơ không khoa trương, cũng không thi vị hoá mà để cho nó tự nhiên nhưchính cảm xúc của con người Lời thơ cứ tự nhiên, giản dị đến thành thực,xuất phát từ đáy lòng, từ trái tim đang rạo rực yêu đương:
Anh yêu em Dẫu có em hay không có em
Em là nỗi vô biên Cho tình anh bất tận.
(Không đề)
Nếu Xuân Diệu có những câu thơ tình sôi nổi, vồ vập và nóng bỏng thì
Tế Hanh lại kết thành những vần thơ sâu lắng không kém phần da diết:
Một lời nói của em thôi Đem bao thay đổi trong đời của anh
Trang 23Không em anh chẳng biết mình Không ngày hôm ấy, đời thành ra sao?
(Không ngày hôm ấy)
Với nhà thơ, tình yêu luôn chân thật, gần gũi, hồn nhiên, tha thiết:
Biển một bên, em một bên
Ta đi trên bãi cát êm đềm Thân buông theo gió, hồn theo mộng Sóng biển vào anh với sóng em.
(Ta đã yêu em)
Sự chân thành đến thật thà của tác giả thực sự đã làm rung động ngườiđọc Tác giả không tô vẽ, không thi vị hoá cuộc đời mà đã nói lên cái thật củacuộc đời bằng cái thật của lòng mình Cái sắc màu tô đẹp cho cuộc đời nàychính là tình yêu Với ông, tình yêu làm giàu cho cuộc đời:
Lần yêu là một lần giàu Thêm hương vĩnh viễn với màu vô biên
(Không đề)
Ngay cả khi đã về già, tình yêu trong thơ ông vẫn giữ được cái hồnnhiên, vẫn khiến ta rung động bởi sự bộc lộ cảm xúc chân thành của nhà thơ:
Yêu em như một bài thơ
Mà nay câu chữ đều mờ trong anh
Trang 24Yêu em như một bức tranh
Mà nay màu đỏ, màu xanh đều tàn Yêu em như một bản đàn
Mà nay điệu bổng, điệu trầm đều im.
(Ngại ngùng)
Và cũng như nhiều người khi yêu, ông không chấp nhận sự nhập nhằng:
Đến tình anh đừng để anh mãi mãi
Sống nghẹn ngào mờ tỏ giữa tình em.
(Ngại ngùng)
Không chỉ viết về tình yêu đẹp, chân thành, Tế Hanh còn viết về tình yêutrong xa cách Sự cách xa làm tăng thêm nỗi nhớ nhung mòn mỏi và lòngkhắc khoải đợi chờ, do vậy, cũng làm cho tình yêu nồng thắm thêm:
Chiều hôm nay đất trời ngơ ngẩn cả Sương xuống đầy mờ toả bóng lung linh Như mời ta kể lể chuyện ân tình
Anh chờ đợi em đâu em chẳng đến Hiếm hoi quá em ơi giờ hứa hẹn Của tình ta cùng với cảnh thiên nhiên
Để cho anh tình tự với người tiên Trong sương bóng thầm thì lời non nước.
(Tình tự)
Trang 25Sự xa cách thường làm cho con người ta uỷ mị, chán chường Nhưng đốivới Tế Hanh, dường như điều đó là rất ít Ly biệt có da diết nhưng vẫn gầngũi, ấm áp Và sự xa cách như ngọn lửa thổi bùng lên niềm tin yêu mãnh liệt:
Em đi trăng sắp độ tròn Mùa thu quá nửa lá giòn khô cây Tiễn em trong cảnh thu này Lòng ta muôn tiếng sao đầy lặng im?
Ta về Giữa khoảng trời đêm Vầng trăng như thể mắt em soi đường.
(Mùa thu tiễn em)
Niềm tin đó càng nhân lên gấp bội ở những người con gái, những người
vợ chờ người yêu, chờ chồng trong kháng chiến Đó là một niềm tin sắt son,bền bỉ theo thời gian, theo năm tháng:
Em chờ anh không nghĩ thời gian Trước vẫn tưởng hai năm rồi gặp mặt Bây giờ đây nước nhà còn chia cắt
Em chờ anh không kể Bắc hay Nam.
(Em chờ anh)
Một điểm khác trong cảm hứng tình yêu trong thơ tình Tế Hanh là sựbiểu hiện tâm trạng và khát vọng tìm kiếm Dường như đọc bất cứ bài thơ tình
nào của Tế Hanh ta cũng bắt gặp điều này, chẳng hạn như Vườn xưa, Em ở
đâu, Ta đã yêu em, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Hà Nội vắng em, Văn xuôi cho
em, Em gần gũi em xa xôi…Khát vọng đó đã hình thành những tứ thơ hay,
độc đáo:
Phố này anh đến tìm em Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây
Trang 26Anh theo các phố đó đây Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em.
trong tâm trí chàng trai Do đó, ta dễ dàng nhận ra cái vắng ở đây phải chăng
là cái vắng hiện thực, chứa đựng cái đầy tâm linh Quả là một sự sáng tạo độcđáo, rất Tế Hanh!
Trong tình yêu, xa mà gần, gần mà xa Dù gần nhau đến mấy thì nhiềulúc những người yêu nhau cũng cảm thấy có khoảng cách Khoảng cách đó làkhoảng cách cho sự tìm kiếm, sự thấu hiểu:
Em gần gũi, em xa xôi Sao em như thể chân trời trước anh Đưa tay tưởng với được tình
Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa
(Em gần gũi, em xa xôi)
Hay:
Em là một biển đầy Anh đứng trên bờ rợn ngợp
Em là một pho sách Anh mới đọc mấy trang đầu.
(Văn xuôi cho em)
Anh luôn phải tìm kiếm em để hiểu được em hơn, để rút ngắn khoảngcách giữa anh và em Tuy nhiên, trong tình yêu, khoảng cách ấy là luôn luôn
có Bởi yêu nhau trọn một đời vẫn chưa hiểu hết về nhau:
Trang 27Anh là con đường, em là dòng sông
Em khó hiểu như một con nước chảy Anh vừa thấy em vừa không thấy Anh nhìn em dợn ngợp nỗi mênh mông.
(Con đường và dòng sông)
Chính vì thế, những người yêu nhau luôn có nhu cầu và khao khát khámphá nửa kia của mình Càng khám phá lại càng nhận ra những điều thú vị ởngười yêu Đó chính là điều hấp dẫn ở tình yêu
Tế Hanh có cách thể hiện cảm xúc tình yêu độc đáo Tác giả đã để tìnhyêu tự nó nói lên cái chân thật của mình và cái làm nền cho nó là sự hỗ trợ
của một thiên nhiên đầy gợi cảm Bài thơ Vườn xưa là một bài khá hay nói về
sự xa cách trong tình yêu Cái hay chính là ở cách cấu tứ của bài thơ - nhưmột trò chơi trốn tìm của đôi lứa và tô điểm cho nó là những hình ảnh thiênnhiên gần gũi, quen thuộc:
Một ngày xuân em trở lại nhà Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thì gọi anh về
Lần sau anh trở lại một ngày hè Nghe mẹ nói em có về giếng giặt Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.
Trong những ngày đất nước chiến tranh, tác giả nói về tình yêu với baonhiêu chăm chút, trân trọng, cảm thông cho những lo toan vất vả Người yêunấu cơm nơi sơ tán không củi, phải đun rơm vất vả nhưng dưới ngòi bút củatác giả vẻ duyên dáng, đảm đang của người yêu lại nổi bật lên:
Trang 28Anh ngẩn ngơ nhìn vết nhọ đen
In trên gò má ửng thêm duyên Đôi môi thắm mọng khi em nếm Canh cá cần gia muối ớt thêm.
(Bữa cơm sơ tán)
Có thể thấy, cảm hứng tình yêu là một trong những nguồn cảm hứng lớn
trong thơ Tế Hanh Thơ tình Tế Hanh không ồn ào mà nhẹ nhàng, thủ thỉnhưng không kém phần da diết, mãnh liệt Đó là cái "tạng" riêng của thơ ông.Chính cái "tạng" này mà thơ ông cứ thế đi vào lòng người đọc một cách giản
dị, tự nhiên
1.3.2 Cảm hứng đất nước
Là một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại, bên cạnh cảmhứng tình yêu, thơ Tế Hanh còn viết nhiều về quê hương đất nước "Đi suốtcuộc đời, tình yêu quê hương đất nước như một cảm hứng lớn bao trùm thơ
Tế Hanh và trên nhiều bình diện, nhiều thời điểm, Tế Hanh đã để lại nhữngbài thơ hay về chủ đề thơ gần gũi này" [37,25] Cảm hứng đất nước trong thơ
Tế Hanh được biểu hiện trên nhiều khía cạnh, mà tiêu biểu là viết về quêhương và thiên nhiên
Mỗi người ai cũng có một miền quê để chào đời, để lớn lên và để thươngnhớ Cái làng quê ấy đối với người Việt Nam là chốn tìm về, là nơi neo đậutâm hồn sau những ngày tháng bon chen, phiêu dạt giữa dòng đời Với cácnhà thơ, làng quê nói riêng, quê hương nói chung còn là nguồn cảm hứng cho
sự sáng tạo nghệ thuật Trong thơ ca Việt Nam xưa nay có nhiều tác giả thànhcông khi viết về làng quê như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, NguyễnBính, Tế Hanh… Mặc dù cùng viết về một chủ đề nhưng mỗi tác giả lại cómột cách viết riêng để làm nổi bật nét đặc sắc của quê hương mình trong cáichung của dân tộc Chính nhà thơ Tế Hanh cũng đã tự khẳng định: “Thơ tôi là
Trang 29tấm lòng với quê hương đất nước Viết về quê hương mình, tôi muốn mởrộng ý nghĩa quê hương của tất cả chúng ta Đồng thời gắn với những tình
cảm cụ thể…” [32, 226- 227] Quả đúng như vậy Qua thơ ông, hai chữ “quê
hương” hiện lên thật bình dị, thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng cũng vô cùng sâu
lắng Tác giả đã giới thiệu về làng quê của mình bằng những câu thơ chânthật, mộc mạc:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo vội vã vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
(Quê hương)
Đọc những vần thơ trên, không ai không cảm thấy nao lòng khi nghĩ vềlàng quê của mình Làng quê của Tế Hanh là một vùng sông nước nằm ven bờ
hạ lưu sông Trà Bồng Con sông đã “tắm mát” đó chính là nơi tạo nên nguồn
cảm hứng để thi nhân sáng tác những bài thơ nổi tiếng về sông nước quê
hương: Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Trở lại con sông quê hương,
Bài thơ mới về con sông xưa…Chính vì vậy mà Hoài Thanh - Hoài Chân đã
không hết lời ca ngợi: “Tế Hanh là một người tinh lắm Tế Hanh đã ghi lạiđược đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương Người nghe thấy
cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên
“cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quênho nhỏ Thơ Tế Hanh đưa ta về với cái thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấymột cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnhvật” [78, 140]
Trang 30Cái “Mảnh hồn làng” trong thơ Tế Hanh đã kết thành hồn quê bình dị và
trong trẻo đến lạ lùng Nó không phải là những hình tượng thơ lớn lao, đầy
âm hưởng anh hùng ca như trong sử thi mà các nhà thơ khác đã không hết lời
ca ngợi, mà nó thật lặng lẽ, khiêm nhường như chính hồn thơ đôn hậu củaông Đó chính là hình ảnh làng quê ở một vùng cù lao sông nước:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
(Quê hương)
Là “con đường quê” đi về quen thuộc, gắn bó của mọi người:
Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng.
… Tôi thâu tê tái trong da thịt Hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn…
(Lời con đường quê)
Đó là hình ảnh cái ga tàu lặng lẽ nơi phố huyện buồn tha thiết khi chứngkiến bao cảnh tiễn biệt nơi sân ga Thực chất là những chuyến tàu xuôi ngượcgợi cho nhà thơ nỗi nhớ nhà và mơ ước những phương trời xa xôi:
Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vướng víu trong hơi máy Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.
(Những ngày nghỉ học)
Đó còn là hình ảnh một ngôi trường làng nhỏ nhoi lặng im sau bốn năm
xa cách Trở lại trường xưa, thi nhân không khỏi chạnh lòng trước cảnh xác
xơ của một nơi đã từng ôm ấp bao kỷ niệm tuổi học trò yêu dấu:
Hơn bốn năm trời trở lại đây
Trang 31Trường ơi! Sao giống tấm thân này?
Mái hư, vách lở, buồn xơ xác Tim héo, hồn đau, tủi đoạ đày.
(Trường xưa)
Cái hồn quê đó đã ăn sâu trong tâm thức của thi nhân để trở thành mộtthứ tâm cảm dạt dào và sâu lắng, tha thiết, ngọt ngào Trong thời gian nhà thơ
xa nhà đi kháng chiến, phải sống xa quê trong tâm trạng “ngày Bắc đêm
Nam” trong hơn hai mươi năm khi đất nước tạm thời bị chia cắt, hồn quê
trong thơ ông đã dệt thành “mảnh vườn xưa” cháy bỏng một khát vọng tìm
về:
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?
(Vườn xưa)
Là hình ảnh một “con sông quê hương” thao thiết chảy với biết bao hồi
ức, nhớ thương:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre.
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè, Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng.
Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi?
Hỡi con sông đã tắm mát cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ.
(Nhớ con sông quê hương)
Trang 32Cái hồn quê trong tâm thức nhà thơ không chỉ là hình ảnh “con sông quê
hương”, là “mảnh vườn xưa” mà còn là “tiếng sóng” xao xác mà dù sống
trong xa cách nghìn trùng ông vẫn mang nó trong lòng Bởi với ông, cái hồnquê sông biển ấy vừa là thực lại vừa là mộng, vừa hiện hữu lại vừa hư vô:
Nơi rất thực và cũng là rất mộng Của đời tôi yêu dấu tự bao giờ Trong giấc ngủ vẫn nghe tiếng sóng Như tiếng lòng giục giã những lời thơ.
(Tiếng sóng)
Cũng như bao người dân Việt Nam, những con dân của nền văn minhnông nghiệp lúa nước, gắn bó suốt đời với đồng ruộng quê hương, sông biển
đã trở thành tâm hồn, máu thịt của Tế Hanh
Tôi nói đến trời mây, tôi nói đến
Những cánh đồng, nhà máy, những hoa chim Nhưng muốn nói nhiều hơn về xứ biển
Như cái gì thầm kín nhất trong tim.
(Tiếng sóng)
Tình yêu quê hương trong Tế Hanh đã trở thành khát vọng Nhà thơ đitheo cách mạng, chấp nhận mọi gian khổ hi sinh, mở rộng lòng mình cũng làthực hiện ước vọng giải phóng quê hương:
Hồn tôi mở trong cánh buồm lộng gió
Đi, ta đi, đến những chân trời xa Tim tôi thả neo trong bến đỗ
Về, ta về trở lại quê nhà.
(Tiếng sóng)
Có thể nói, hồn quê trong thơ Tế Hanh là cái làm nên giá trị của thơ ông
Hồn quê ấy đã ôm ấp trong nó không chỉ có sông biển quê hương, con đường
quê với những ngày nghỉ học, những toa tàu, những vườn xưa lối cũ…mà còn
Trang 33có hình ảnh của người thương ở “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” để rồi cho
mãi đến bây giờ vẫn thấy lòng xao xuyến, ngẩn ngơ:
Câu chuyện ngây thơ tự thuở nào Bây giờ nhớ lại ngỡ chiêm bao
Ơi cô bạn nhỏ đâu rồi nhỉ?
Chỉ thấy trong tôi mía xạc xào…
quê Giống như câu thơ của Chế Lan Viên “Tình yêu làm đất lạ hoá quê
hương”, Tế Hanh luôn có ý thức nuôi dưỡng tình cảm quê hương trên những
miền đất mới Đến nơi nào, ý thơ cũng vụt hiện Thăm nông trường ĐồngGiao, tác giả cảm nhận:
Nông trường ta rộng mênh mông:
Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài.
(Nông trường cà phê)
Đến Mộc Châu, tác giả thấy vui vì cuộc sống mới đang ngày càng sinhsôi, đổi mới:
Thảo nguyên trông ngút tầm con mắt Ngang dọc nhô lên những máy cày Đất mở lòng tươi như ngực trẻ Mầm non hạt mới ấm bàn tay.
(Đến Mộc Châu)
Tới Hà Tây, nhà thơ lại hân hoan với mùa tằm nhộn nhịp:
Trang 34Tơ trắng như mây trắng Trên sườn núi bay quanh
Tơ vàng như ánh nắng Trên mặt nước long lanh.
(Tơ trắng tơ vàng)
Đặc biệt là tình cảm với Hà Nội - quê hương thứ hai của nhà thơ Đó là
sự gắn bó thiết tha và đã trở thành nỗi nhớ trong tâm hồn nhà thơ:
Nhớ về Hà Nội hôm nay Cây me cây sấu có thay lá vàng?
Con chim én đã về Nam Giục anh trở lại cầm bàn tay em.
(Nhớ về Hà Nội hôm nay)
Có thể nói, tình cảm đối với quê hương đất nước của nhà thơ ngày càngthiết tha, sâu lắng Để rồi như một quy luật tất yếu của tình cảm đối với dântộc mà chính ông đã nghiệm sinh:
Anh xa nước nên yêu thêm nước
đã mơ thấy:
Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội Nước Tây Hồ bỗng hoá nước Hồ Tây.
(Bài thơ tình ở Hàng Châu)
Không chỉ với miền Trung ruột thịt, miền Bắc thân thương mà tình cảmcủa Tế Hanh còn dành cho miền Nam bằng cả sự bồi hồi:
Mỗi lần lòng hướng về Nam Anh càng muốn sống, anh càng muốn yêu.
(Nam Bắc, Bắc Nam) Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc
Trang 35Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”
(Nhớ con sông quê hương)
Nỗi nhớ quê Nam và tình cảm gắn bó với quê Bắc của nhà thơ khôngmâu thuẫn nhau, bởi đó đều là tình cảm với quê hương đất nước:
Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông Tình Bắc Nam chung chảy một dòng, Không ghềnh thác nào ngăn cản được.
(Nhớ con sông quê hương)
Trong hoàn cảnh đất nước bị kẻ thù xâm lược, những làng quê tồn tại từbao đời của tác giả bị xoá mất tên làng, xoá đi dáng hình thân thuộc, tình cảmcủa nhà thơ không chỉ dừng lại ở nỗi nhớ quê hương mà nó trở thành niềmcăm giận, xót xa:
Cái giếng đầu làng Cái giếng đầu làng
Êm như kỷ niệm, trong như ngọc Một mảnh lòng tôi ở miền Nam Bọn giặc Mỹ rải đầy thuốc độc.
(Cái giếng đầu làng)
Căm thù giặc bao nhiêu, nhà thơ thương đất nước mình bấy nhiêu.Thương nhất là hình ảnh người mẹ già:
Mẹ già đi sớm về trưa Mắt loà chân yếu ngăn ngừa giặc lên Thức canh mấy chục đêm liền
Lòng già bao bọc lưới thuyền như con.
Trang 36Hoà trong thôn xóm mối tình ấp iu Thằng Tây súng đạn nó nhiều Sao bằng lòng dạ mẹ nghèo chúng ta?
(Bà mẹ canh biển)
Từ hình ảnh một em thiếu niên gan dạ trước sự tra tấn của kẻ thù, tác giảthán phục, ngợi ca phẩm chất anh hùng cách mạng của người dân miền Namnói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung:
Chúng tra tấn, bảo em cộng sản
Em trả lời:
Tôi lớn lên Chịu ơn dân ơn nước chưa đền Tôi không xứng gọi là cộng sản.
Thực ra, trong thơ Việt Nam, thiên nhiên là đề tài không còn mới lạ và
đã có những thành công nổi bật Viết về thiên nhiên, mỗi nhà thơ có một cáchthể hiện riêng trong phong cách của mình “Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệusống động, say đắm với tình yêu đôi lứa Thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tửlạnh và rợn ngợp, ở thơ Anh Thơ, đó là những “bức tranh quê” trong nét tảchân tài tình, Nguyễn Bính mượn phong cảnh thiên nhiên làng quê (con sông,bến đò, con đê, hàng cau…) để diễn tả mối tình người “chân quê” Còn HuyCận nồng nàn trong hương vị của đất đai và cái thẳm sâu của vũ trụ…TếHanh tinh tế rút lấy cái thần, cái hồn của thiên nhiên để bộc lộ cảm xúc đadạng phong phú của trái tim mình Đồng thời ông lại gửi vào thiên nhiên cảcuộc sống tâm hồn mình khiến cho cảnh vật không chỉ có hình sắc mà chứa
Trang 37chất biết bao tiếng nói tự bên trong” [60, 45] Với Tế Hanh, khi nói về thiênnhiên không thể không nói đến những gì quen thuộc ở quê nhà Quê hươngvới cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, trong lành đã đem đến cho nhà thơ nhiềucảm xúc Đó là hình ảnh con đường - nơi in dấu bao kỷ niệm dấu yêu thuở ấuthơ đem đến cho nhà thơ sự thanh thản tâm hồn:
Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng.
Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng, Hương đồng quyến rũ hát lên vang.
… Những buổi mai tươi nắng chói xa, Hồn tôi long lánh ánh dương sa;
Những chiều êm ả tôi thư thái Như kẻ nông dân trở lại nhà.
(Lời con đường quê)
Là hình ảnh vườn cũ trải qua thời gian năm tháng, nhà thơ trở về, cảnhvật vẫn không thay đổi:
Cây ổi, cây xoài vẫn đứng đây Cây lê vẫn ngả ở bên này.
Ngoài kia hàng chuối thân trơn mát Đôi lứa hay ôm áp má đầy…
(Vườn cũ)
Là hình ảnh sông biển luôn đi về trong sáng tác của nhà thơ Nó đã gắn
bó máu thịt trong tâm hồn nhà thơ, đong đầy niềm thương nỗi nhớ:
Tôi nói đến trời mây, tôi nói đến Những cánh đồng, nhà máy, những hoa chim Nhưng muốn nói nhiều hơn về xứ biển
Trang 38Như cái gì thầm kín nhất trong tim.
(Tiếng sóng)
Vẫn là con sông đó nhưng theo thời gian, cảnh vật dường như có đổi thay:
Con sông quê ta từ thuở xưa Thuỷ triều lên xuống theo gió mùa Nồm nam thổi lộng triền sông thấp Nước biển tràn lên đất mặn chua.
(Bài thơ mới về con sông xưa)
Tình cảm gắn bó với quê hương sâu nặng khiến nhà thơ không giấu nổiniềm phấn khởi, tự hào khi chứng kiến sự đổi thay của cảnh vật:
Ba năm trở lại khúc sông quê Cái mới quanh sông trải bộn bề Cây lúa đung đưa, con cá quẫy Dọc ngang mương máng nước đi về.
(Bài thơ mới về con sông xưa)
Là một con người yêu cái đẹp, nhạy cảm với cái đẹp, nhà thơ luôn chắtchiu cái đẹp từ cuộc đời, từ thiên nhiên, nhất là cái đẹp thơ mộng:
Mùa thu đã đi qua còn gửi lại Một ít vàng trong nắng trong cây Một ít buồn trong gió trong mây Một ít vui trên môi người thiếu nữ.
(Bài thơ tình ở Hàng Châu)
Thiên nhiên trong thơ Tế Hanh không chỉ là biển, là sông, mà còn lànắng, là gió, là mùa Trong cái nhìn của nhà thơ, mùa thu trở nên êm đềm,duyên dáng, tươi mới và đầy sức sống:
Mùa thu đã đến nông trường
Se se gió trở, hơi sương dịu trời Nắng vàng mây lững lờ trôi
Trang 39Nét xanh sóng lượn lưng đồi uốn cong.
(Mùa thu ở nông trường)
Viết về thiên nhiên, Tế Hanh rất thành công khi miêu tả ánh trăng Cóthể nói, trăng trong thơ Tế Hanh mang nhiều dáng vẻ đa dạng, biểu hiện nhiềusắc thái cung bậc tình cảm khác nhau Trăng biểu hiện cho sự nhớ thươngtrong tình yêu khi chia xa:
Ta về Giữa khoảng trời đêm Vầng trăng như thể mắt em soi đường.
(Mùa thu tiễn em) Trăng đi còn để long lanh
Biệt li nước mắt trên cành đọng sương.
(Biệt ly)
Trăng khơi gợi nỗi nhớ người yêu của nhà thơ:
Phố này đêm ấy có trăng Cùng đi một quãng nói bằng lặng im.
Tưởng như trăng sáng suốt đời của anh.
Trang 40Trăng ơi! Tôi muốn cùng trăng nói chuyện thâu đêm.
(Trăng rừng)
Trăng ở biển lại trở nên rất nên thơ trong cái nhìn của nhà thơ:
Trăng lên đến ngọn phi lao Bên thềm sóng vỗ dạt dào đêm trăng Trước sân những tấm lưới giăng Long lanh muối đọng kết thành ngọc trai.
Trăng là hoa ngự trời trong ngời ngời
Hoa trăng với lại hồn tôi Phút giây hư thực đất trời trôi qua.
(Hoa nở theo trăng)
Trăng trở thành nhân vật để nhà thơ gửi gắm, bộc lộ cảm xúc trong thơ,làm cho thơ ông trở nên có hồn, tinh tế
Không chỉ có trăng mà hình ảnh cỏ cây, hoa lá, mây trời…cũng luônxuất hiện trong thơ Tế Hanh, tạo cho thơ ông những bức tranh thiên nhiên đầymàu sắc và chứa chan tình cảm sâu lắng Đó là một không gian nhỏ ở sân nhàcũng đủ làm người đọc bâng khuâng:
Góc sân ánh nắng như lưu luyến Dừng lại trên chùm hoa báo mưa.
(Hoa báo mưa)
Đó là một bầu trời với những hình ảnh tinh tế, độc đáo: