Thông qua kế toán quản trị, các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của công ty được trình bày, diễn giải một cách cụ thể, tỷ mỷ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng chỉ tiêu chi ti
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận’văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học Quy Nhơn, đã tổ chức khóa học và tạo điều kiện rất tốt cho các học viên
chúng tôi trong suất thời gian học tại trường;
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý Thầy giáo, Cô giáo tham giảng dạy lớp thạc sĩ Khoa kinh tế và kế toán khóa 20 đã tận tâm truyền đạt kiến thức cho học viên chúng tôi Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo
và tập thể cán bộ của Công ty cổ phần Lâm sản 19 đã tích cực giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Văn Thị Thái Thu, giảng viên Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hồ Chí Minh, đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập nghiên cứu viết luận văn, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng
góp của Thầy cô
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 4
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỰC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 8
1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 8
1.1.1 Các khái niệm 8
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất 12
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong quản trị DN 13
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 14
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm sản xuất 14
1.2.2 Đặc điểm chi phí sản xuất trong công ty sản xuất 15
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 16
Trang 51.3.1 Phân loại chi phí sản xuất 16
1.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 23
1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 28
1.3.4 Biến động và kiểm soát chi phí 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CP LÂM SẢN 19 39
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 39
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 39
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 40
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý tại công ty 41
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty 44
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 49
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất tại công ty 49
2.2.2 Thực trạng công tác lập dự toán chi phí sản xuất tại công ty 51
2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty 57
2.2.4 Phân tích biến động chi phí và kiểm soát chi phí 62
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 65
2.3.1 Những kết quả đạt được 65
2.3.2 Tồn tại 68
2.3.3 Những nguyên nhân của tồn tại trên 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 75
3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG YÊU CẦU PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 75
Trang 63.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
tại Công ty 75
3.1.2 Những yêu cầu cơ bản để hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty 76
3.2 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 78
3.2.1 Hoàn thiện xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí sản xuất 78
3.2.2 Hoàn thiện về thu thập, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin thực hiện về chi phí sản xuất 82
3.2.3 Hoàn thiện xây dựng phương thức thực hiện những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí sản xuất 87
3.2.4 Hoàn thiện về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 94
3.3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN 19 107
3.3.1 Đối với Nhà nước và cơ quan chức năng 107
3.3.2 Đối với Công ty 108
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
5 CBLS Chế biến lâm sản
6 CPSX Chi phí sản xuất
9 KTTC Kế toán tài chính
10 KTQT Kế toán quản trị
11 KTQTCP Kế toán quản trị chi phí
12 KTQTCPSX Kê toán quản trị chi phí sản xuất
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm bàn gỗ
52
Bảng 2.2: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm bàn gỗ tự nhiên của Công ty cổ phần Lâm sản 19 56
Bảng 2.3: Chi tiết thông tin Tài khoản 154 60
Bảng 2.4: Báo cáo tình hình sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất bàn gỗ tự nhiên 64
Bảng 3.1: Phân loại chi phí theo mức độ hoạt động của chi phí 91
Bảng 3.2: Bảng phân bổ chi phí hỗn hợp cho các hoạt động 93
Bảng 3.3: Bảng kê số lượng sản phẩm tương đương đầu ra công đoạn n 99
Bảng 3.4: Báo cáo chi phí sản xuất tại công đoạn n 101
Bảng 3.5 Báo cáo doanh thu bán bàn gỗ tự nhiên trong tháng 6/2018 của Công ty CP Lâm sản 19 103
Bảng 3.6: Báo cáo kết quả kinh doanh theo bộ phận 105
Bảng 3.7: Báo cáo chi phí sản xuất 106
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ công tác kế toán quản trị chi phí 12
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Lâm sản 19 43
Sơ đồ 2.2: Bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Lâm sản 19 45
Sơ đồ 2.3: Trình tự kế toán theo hình thức nhật ký chung 48
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tài chính và kế toán quản trị theo kiểu kết hợp 79
Sơ đồ 3.2: Phân loại chi phí cho các hoạt động vào các đối tượng chịu chi phí theo mô hình ABC 94
Sơ đồ 3.3 Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Công ty CP Lâm sản 19 104
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chi phí khả biến 19 Hình 1.2 Chi phí bất biến 20 Hình 1.3 Chi phí hỗn hợp 20
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu của các Công ty trong nước và của các Công ty đa quốc gia ngày càng khốc liệt, nhằm mở rộng và nâng cao vị thế của mình và nhằm tối đa hoá lợi nhuận, thì cần phải quản lý và kiểm soát được chi phí thì mới thực hiện được tốt tất cả các mục tiêu của các công ty Vì vậy, đối với các công ty thì bên cạnh hệ thống KTTC là công cụ cần thiết để quản lý công ty, còn phải tổ chức hệ thống KTQT, để hổ trợ cho nhà quản lý trong việc hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với các mục tiêu công ty đặt ra
Giữ vai trò là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng, một bộ phận cấu thành hệ thống các công cụ quản lý, căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin kế toán, hệ thống kế toán được phân định thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung, là một công cụ quản lý không thể thiếu được đối với công tác quản trị nội bộ công ty, đặc biệt là đối với công tác quản lý chi phí, giám sát thực hiện các chức năng quản trị nguồn lực Thông qua kế toán quản trị, các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của công ty được trình bày, diễn giải một cách cụ thể, tỷ mỷ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng chỉ tiêu chi tiết, từng bộ phận trong công ty và là cơ sở cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình điều hành công ty
Ở các nước phát triển, kế toán quản trị được vận dụng triệt để, giúp các doanh nghiệp lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Tuy nhiên, tại Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục vụ cho công tác quản lý và ra quyết định hầu như chưa
có Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh
Trang 12nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt pháp luật, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc đối với các công ty trong thời gian gần đây Đối với các công ty, thực hiện tốt công tác quản trị chi phí sản xuất là cơ sở để giám sát các hoạt động, từ đó khắc phục các tồn tại và phát huy những tiềm năng đảm bảo cho công ty luôn tồn tại và có thể đứng vững trong cơ chế thị trường cạnh tranh và nhiều rủi ro như hiện nay
Để làm tốt công việc vậy, đòi hỏi cần tổ chức tốt công tác quản trị chi phí sản xuất một cách kịp thời, chính xác, đúng đối tượng, đúng chế độ và đúng phương pháp
Công ty Cổ phần Lâm sản 19 với chức năng, nhiệm vụ chính sản xuất các mặt hàng về gỗ Sản phẩm gỗ có kết cấu phức tạp, do vậy việc lập dự toán chi phí sản xuất là công việc đòi hỏi tính chất quan trọng, mang lại thông tin thật chính xác cho nhà quản lý Tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19, công tác tổ chức và vận dụng kế toán quản trị vào sản xuất kinh doanh chưa có hiệu quả, còn hạn chế về nhiều mặt Xuất phát từ thực tiễn trên cũng như yêu cầu và tính chất của hoạt động sản xuất, việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 sẽ góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, lợi nhuận của Công ty nói riêng và của ngành sản xuất gỗ nói chung
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí
sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19” cho luận văn thạc sĩ của mình.”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp nghiên cứu áp dụng kế toán quản trị (KTQT) Điển hình là công trình nghiên cứu của Phạm Văn Dược
(1997) với “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán
quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả đã trình bày phương hướng
và giải pháp xây dựng hệ thống KTQT trong các doanh nghiệp ở Việt Nam,
Trang 13tuy nhiên nghiên cứu này còn mang tính chất chung chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp
Đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty mía đường
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” (Lê Thị Minh Huệ, 2017) đã khái quát, hệ
thống hóa và phát triển những lý luận chung về KTQTCP trong công ty sản xuất Tác giả đã có những khảo sát thực tế, phân tích và đánh giá thực trạng công tác KTQTCP trong công ty mía đường Thanh Hóa Công trình đã đề ra được những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất của công ty mía đường
Luận văn “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các công ty
thương mại quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam” (Trần Thế Nữ, 2018) Với mục
tiêu xây dựng được mô hình cung cấp thông tin KTQTCP phù hợp với đặc điểm và quy mô sản xuất kinh doanh của các công ty nhỏ và vừa, công trình nghiên cứu hệ thống hóa được những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí của một số nước trên thế giới Trên cơ sở khảo sát thực trạng tác giả đã nghiên cứu sâu về nội dung kế toán quản trị chi phí trong các công ty nhỏ và vừa
Đề tài “Xây dựng mô hình kế toán quản trị trong các công ty cổ phần
chuyển phát nhanh thuộc tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam” (Ngụy
Thu Huyền, 2017) Tác giả đã trình bày khái quát về kế toán quản trị, đánh
giá thực trạng công tác KTQTCP trong công ty cổ phần chuyển phát nhanh, từ
đó đề ra phương hướng xây dựng và vận dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần chuyển phát nhanh thuộc tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam
“Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho tổng công ty xây dựng công
trình giao thông 8” (Nguyễn La Soa, 2017) Công trình đã hệ thống được
những nội dung cơ bản về kế toán quản trị chi phí Kết quả khảo sát thực
Trang 14trạng công tác kế toán quản trị ở tổng công ty xây dựng giao thông 8 và các đơn vị thành viên mới bắt đầu xây dựng và chưa nhận được sự quan tâm của nhiều nhà quản trị Tác giả đã có những đánh giá về những kết quả đạt được
và những hạn chế của công tác kế toán quản trị chi phí tại tổng công ty từ đó
đề xuất những định hướng và các giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, công trình nghiên cứu mới đi vào nghiên cứu những nội dung của công tác kế toán quản trị chi phí Xây dựng giao thông là một lĩnh vực hoạt động khá phức tạp và khả năng xảy ra thất thoát cao nên rất cần có một mô hình kế toán quản trị chi phí phù hợp và hiệu quả nhằm cung cấp thông tin hữu ích và kịp thời cho các nhà quản trị để ra các quyết định
Cũng với chủ đề về tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí có các công
trình nghiên cứu như: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành sản
phẩm trong công ty thuộc ngành dầu khí Việt Nam” (Nguyễn Đào Tùng,
2016); “Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các công ty sản xuất bánh kẹo
của Việt Nam” (Nguyễn Hoản, 2018); “Nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các công ty vận tải biển Việt Nam” (Đỗ Thị Mai
Thơm, 2017); “Tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hoá trong các
công ty vận tải đường bộ Việt Nam” (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2018) Các công
trình này đã đề cập đến công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí như: lập dự
toán chi phí, phân tích dự toán chi phí, tổ chức kế toán trách nhiệm, tổ chức kế toán quản trị theo chức năng, tổ chức kế toán chi phí và mô hình tổ chức công tác kế toán quản trị Các công trình này đã đề cập sâu về vấn đề tổ chức kế toán quản trị trong các loại hình công ty cụ thể như công ty giống cây trồng, công ty thuộc ngành dầu khí, công ty sản xuất bánh kẹo hay công ty vận tải có đề tài nghiên cứu sâu về mô hình KTQTCP
Trong đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí
trong doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam” của Lê Thế Anh - Đại học Đại Nam,
Trang 15(2018) Tác giả chỉ ra rằng Kế toán quản trị chi phí là một công cụ vô cùng quan trọng trong công tác điều hành hoạt động sản xuất và hoạch định chiến lược của các nhà quản trị Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam chưa quan tâm đúng mức Các doanh nghiệp đang rất lúng túng trong việc xây dựng mô hình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin linh hoạt hiệu quả cho các nhà quản trị Điều đó đã làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của các quyết định quản trị, làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi tham gia vào thị trường xây dựng quốc tế Do vậy, các doanh nghiệp xây lắp đang rất cần có một mô hình kế toán quản trị chi phí đơn giản cơ bản để cung cấp được những thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị
Như vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 Chính vì lẽ đó, luận văn đã tập trung nghiên cứu lý luận về chi phí sản xuất ở cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị, phân tích đặc điểm của tổ chức sản xuất và quy trình sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
3 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất trong công ty
Phân tích thực trạng xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong việc xây dựng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 Thông qua việc nghiên cứu thực tế, đánh giá thực trạng về kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 nhằm đề xuất những
Trang 16phương hướng giải pháp để xây dựng, hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất trong công ty
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng về quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19 trong năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau bao gồm:
Các phương pháp nghiên cứu tổng quát bao gồm: Phương pháp tổng hợp và phân tích nghiên cứu tài liệu để khái quát những vấn đề về Chi phí sản xuất dưới góc độ kế toán quản trị
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Thống kê, khảo sát tình hình thực tế về kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19, từ đó phân tích các dữ liệu đã thu thập được để tìm ra câu trả lời cho mục tiêu nghiên cứu
Các dữ liệu thực tế sẽ cần được thu thập gồm: chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo kế toán liên quan đến Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công
ty Cổ phần Lâm sản 19
Các nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn:
Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các tài liệu kế toán, thông tin nội bộ của Công ty Cổ phần Lâm sản 19, các công trình khoa học đã thực hiện trước đó, qua sách, tạp chí kế toán, qua internet
Nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập thông tin dựa trên số liệu đã có sẵn của Công ty Cổ phần Lâm sản 19
Trang 176 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Về cơ sở lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề liên quan đến KTQTCPSX trong việc vận dụng KTQT tại Công ty
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất trong công ty sản xuất
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công
ty Cổ phần Lâm sản 19
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT 1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.1.1 Các khái niệm
Kế toán chi phí (theo viện kế toán viên quản trị của Mỹ - IMA - 1983)
được khái niệm là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự
án, một quá trình hay một sản phẩm…Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” Theo quan điểm này kế toán chi phí vừa có trong kế toán tài chính vừa có
trong kế toán quản trị Đồng ý với quan điểm trên tác giả James R Martin
(1990) cũng đã khẳng định “kế toán chi phí liên quan đến kế toán thuế, kế
toán tài chính, kế toán quản trị, bởi vì kế toán chi phí là bộ phận quan trọng của các loại kế toán trên” Kế toán chi phí có trong kế toán tài chính phục vụ
cho xác định chi phí sản xuất thực tế sản phẩm làm cơ sở tính giá thành sản phẩm sản xuất và giá thành sản phẩm toàn bộ, từ đó có cơ sở tính toán lợi nhuận của đơn vị Kế toán chi phí trong kế toán tài chính được đo lường bằng một khoản phí tổn thực tế phát sinh, được đảm bảo bằng những chứng cứ nhất định chứng minh là những phí tổn thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi đó kế toán chi phí có cả trong kế toán quản trị, là nội dung trọng tâm của kế toán quản trị, để quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hành hoạt động của đơn vị nhà quản trị cần thiết phải quản trị chi phí phát sinh
Nhằm thực hiện được các chức năng quản trị chi phí nhà quản trị cần có
hệ thống ghi chép ban đầu Các chi phí phát sinh trong quá khứ, các chi phí
Trang 19đang phát sinh và các chi phí dự báo sẽ phát sinh trong tương lai, hệ thống ghi chép ban đầu này thuộc về bộ phận KTQTCP của công ty Kế toán chi phí trong kế toán quản trị không đơn thuần như trong KTTC, chi phí được xem như thông tin để đưa ra quyết định, chi phí cũng có thể là phí tổn thực tế phát sinh mà cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một phương án hoặc một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó, những phí tổn mất đi do hy sinh phương án sản xuất kinh doanh… Trong khi kế toán quản trị nhận thức
về chi phí cần xem xét, so sánh theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào các chứng cứ Kế toán chi phí trong kế toán quản trị được gọi là KTQTCP
Kế toán quản trị cung cấp thông tin chủ yếu cho các nhà quản trị để đưa
ra các quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư, quyết định sử dụng các nguồn lực, các quyết định quản trị trong công ty Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị:
Theo liên đoàn quốc tế IFCA định nghĩa “Kế toán quản trị được xem như một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của tổ chức cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của tổ chức Theo quan điểm này, kế toán quản trị đã được khái quát theo các công việc cụ thể mà các nhà quản trị phải thực hiện với mục tiêu thực hiện và nâng cao hiệu quả của các hoạt động
Theo Burns, Quinn, Warren&Oliveira (2013) định nghĩa ngắn gọn “ kế toán quản trị là một bộ phận trong tổ chức nhằm cung cấp thông tin tài chính
và phi tài chính trong quá trình ra quyết định của nhà quản lý” Theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý,
Trang 20dựa vào các thông tin đó các nhà quản lý đưa ra quyết định điều hành các hoạt động trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
Theo Luật kế toán Việt Nam (2015) định nghĩa “Kế toán quản trị là việc
thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Theo
quan điểm này kế toán quản trị được khái quát các bước công việc cụ thể đồng thời là công cụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị nhằm đưa ra các quyết định điều hành nội bộ các hoạt động kinh doanh
Như vậy, mỗi quan điểm đề cập đến một góc độ khác nhau của kế toán quản trị, tuy nhiên các khái niệm đều mang đặc điểm chung: Là bộ phận của
hệ thống kế toán đơn vị cung cấp thông tin định lượng, đối tượng sử dụng là bên trong đơn vị, với mục đích kiểm soát, hoạch định và ra quyết định trong đơn vị
Với đối tượng phản ảnh cụ thể là thông tin về chi phí thì kế toán quản trị chi phí là công cụ cung cấp thông tin chi phí cho quá trình ra quyết định của các cấp quản trị Xuất phát từ quan điểm đó có thể đưa ra khái niệm về kế
toán quản trị chi phí như sau: Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ
thống kế toán quản trị, là quá trình thu thập xử lý, cung cấp các thông tin về chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị phục vụ cho quá trình lập
kế hoạch, kiểm tra, kiểm soát chi phí và ra các quyết định kinh doanh
Công tác kế toán quản trị về bản chất là một bộ phận cấu thành không
thể tách rời của hệ thống kế toán quản trị, vì đều làm nhiệm vụ tổ chức hệ
thống thông tin kinh tế trong công ty Tổ chức kế toán quản trị là một trong hai nhánh chính của tổ chức kế toán trong công ty nhưng nó khác với kế toán tài chính ở chỗ không mang tính pháp lệnh, chính vì vậy tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng công ty (Quy mô và phạm vi hoạt động, môi trường sản xuất kinh doanh, thể chế quản lý tài chính, đặc điểm sản xuất kinh doanh,
Trang 21trình độ quản lý, năng lực và trình độ của đội ngũ kế toán hiện có, tình hình trang bị và ứng dụng trang thiết bị kỹ thuật tính toán trong công ty…) sẽ có cách tổ chức kế toán quản trị nói chung và tổ chức kế toán quản trị chi phí nói riêng sao cho phù hợp
Công tác kế toán quản trị chi phí là một trong những nội dung cơ bản và
quan trọng của tổ chức kế toán quản trị công ty, việc thực hiện tổ chức kế toán quản trị chi phí phải giải quyết được những yêu cầu đặt ra về cung cấp thông tin kế toán, đó là: thông tin được cung cấp phải phù hợp, đồng bộ, kịp thời, linh hoạt, rõ ràng, khách quan, hiệu quả về chi phí và giá thành sản phẩm trong công
ty cho các đối tượng sử dụng thông tin Thông qua việc vận dụng mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị, tổ chức trang bị phương tiện, trang thiết bị để thu thập, xử lý thông tin, tổ chức vận dụng các phương pháp chung của kế toán, phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản trong kế toán quản trị và tổ chức cung cấp thông tin kế toán chi phí phục vụ cho các chức năng quản trị công ty Vì vậy,
có thể hiểu bản chất kế toán quản trị chi phí trong các công ty là hoạt động chủ
quan của công ty trong việc sắp xếp, bố trí nhân sự và vận dụng các phương pháp chung, phương pháp kỹ thuật đặc trưng của kế toán quản trị nhằm thu thập
xử lý và cung cấp thông tin về chi phí cho các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị công ty
Như vậy, xét về mặt bản chất thì công tác kế toán quản trị chi phí là hoạt động của công ty trong việc vận dụng các phương pháp khoa học kết hợp với các phương tiện và con người để thu thập, xử lý và phân tích các thông tin về chi phí trong công ty phục vụ cho công tác quản trị công ty được hiệu quả hơn
Mặt khác, công tác kế toán quản trị chi phí là sự kết hợp giữa đối tượng, phương pháp sử dụng và con người nhằm đạt được các thông tin hữu ích phục
vụ cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh thể hiện qua sơ đồ 1.1
Trang 22Phục vụ:
- Quyết định ngăn hạn
- Quyết định dài hạn
Đạt mục tiêu của công ty
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ công tác kế toán quản trị chi phí
Qua sơ đồ 1.1 cho thấy, với những công cụ của mình, bao gồm các phương pháp cũng như cách thức của kế toán quản trị, các chuyên gia kế toán lựa chọn đối tượng chi phí phù hợp để tác động nhằm kiểm soát chi phí dưới dạng thông tin cung cấp để nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh ngắn hạn cũng như dài hạn với mục tiêu cuối cùng là kiểm soát chi phí ở mức thấp nhất có thể Việc quản trị chi phí tốt có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh, cũng như lợi nhuận của công ty, chính vì lý do này khiến tổ chức kế toán quản trị chi phí trở thành bộ phận không thể thiếu trong các công ty.”
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất
Từ các nội dung đã phân tích ở trên về chi phí, quản trị chi phí và kế toán quản trị có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất như sau:
Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một phần của kế toán quản trị do vậy cũng là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán công ty;
Kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp thông tin hữu ích về chi phí cho nhà quản trị công ty, để có thể nhận biết, đánh giá và quản lý tốt chi phí sản xuất, từ đó có những quyết định, biện pháp đúng đắn tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho công ty
Kế toán quản trị chi phí sản xuất là công cụ quan trọng cung cấp thông tin chi phí kịp thời, phù hợp, cần thiết cho các hoạt động quản trị công
ty do vậy để đạt hiệu quả cao kế toán quản trị chi phí phải có sự phối hợp chặt
Trang 23chẽ với các bộ phận chức năng khác trong công ty
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong quản trị DN
Kế toán quản trị chi phí sản xuất là kế toán theo chức năng quản lý, vì thế vai trò của nó là cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch; tổ chức, điều hành hoạt động; kiểm tra và ra quyết định của nhà quản trị
Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: Việc lập kế hoạch trong một tổ chức liên quan đến hai vấn đề, đó là: xác định mục tiêu của tổ chức và xây dựng những phương thức để đạt được mục tiêu đó Dự toán ngân sách trong kế toán quản trị sẽ là một công cụ để kế toán viên giúp ban quản trị trong quá trình lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch Vì vậy, kế toán quản trị phải trên cơ sở đã ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả từng loại hoạt động, từng sản phẩm, từng ngành hàng
…., lập các bảng dự toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận, dự toán vốn, ….để cung cấp thông tin trong việc phác họa, dự kiến tương lai nhằm phát triển công ty
Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Để đáp ứng thông tin cho tổ chức, điều hành hoạt động của các nhà quản trị, kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau để nhà quản trị có thể xem xét, đề ra quyết định đúng đắn nhất quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra Và như vậy, kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin đầu vào và hệ thống hóa các số liệu chi tiết theo hướng
đã định
Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, kế toán quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, trong đó: so sánh những số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả sự khác biệt và đánh giá việc thực hiện Các báo
Trang 24cáo này có tác dụng như một hệ thống thông tin phản hồi để nhà quản trị biết được kế hoạch đang được thực hiện như thế nào, đồng thời nhận diện các vấn đề hạn chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mục tiêu đã xác định
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra Các quyết định trong một tổ chức có thể có ảnh hưởng ngắn hạn đến tổ chức hoặc có thể là các quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin, và phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm để phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt kịp thời và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó phân tích các phương án được thiết lập để lựa chọn phương án tối ưu nhất cho việc ra quyết định Các thông tin này cũng có thể diễn đạt dưới dạng mô hình
toán học, đồ thị, biểu đồ, … để nhà quản trị có thể xử lý nhanh chóng
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Trang 25Sản xuất sản phẩm hàng loạt nhỏ gồm các công ty mà sản phẩm đã sản xuất theo từng lô với khối lượng không nhiều, danh mục loại sản phẩm sản xuất khá phong phú như: các công ty chế tạo máy móc, thiết bị sản xuất… Sản xuất sản phẩm đơn chiếc: Bao gồm các công ty sản xuất ra từng loại sản phẩm riêng biệt theo từng đơn đặt hàng của khách hàng, những loại sản phẩm của các đơn đặt hàng hoàn toàn không được sản xuất lặp lại hoặc có được sản xuất lặp lại thì cũng chưa rõ sẽ được tiến hành sản xuất trong thời gian nào Trong các sản phẩm công nghiệp sản xuất đơn chiếc, danh mục sản xuất sản xuất ra rất rộng, thiết bị sản xuất thường được sử dụng là loại thiết bị tổng hợp: Công ty đóng tàu, máy bay…
1.2.2 Đặc điểm chi phí sản xuất trong công ty sản xuất
Chi phí sản xuất trong công ty sản xuất thường được các công ty sử dụng 3 chi phí chính:
Chi phí NVLTT: Chi phí NVLTT luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất, nên việc kế toán chính xác và đầy đủ chi phí NVLTT có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định lượng tiêu hao vật chất trong sản xuất Tùy theo mục tiêu kiểm soát chi phí của các DN, việc chi tiết chi phí NVLTT được thực hiện khác nhau
Chi phí NCTT: Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản tiền
lương, phụ cấp, tiền làm thêm, các khoản trích theo lương cho công nhân trực tiếp sản xuất trong kỳ Hình thức trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất theo sản phẩm hoàn thành được phần lớn các DN lựa chọn Đây là hình thức trả lương có nhiều ưu điểm và phản ánh chính xác giá thành của sản phẩm Căn cứ vào bảng tổng hợp tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất trong kỳ theo từng phân xưởng sản xuất, bộ phận hành chính tính các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định
Trang 26Chi phí SXC: Là chi phí phục vụ cho công tác tổ chức quản lý sản xuất
bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng; Chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ dùng chung cho sản xuất; Chi phí về khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) phục vụ cho sản xuất; Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho sản xuất; Chi phí bằng tiền khác cho phân xưởng sản xuất… Các chi phí này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất của đơn vị.”
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất
Thông thường, khi phân loại chi phí người ta thường dựa vào hai tiêu thức quan trọng đó là nội dung kinh tế ban đầu của chi phí và chức năng của chi phí đối với toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Hiện nay, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động;
- Phân loại chi phí sản xuất trong mối quan hệ với mức lợi nhuận xác định từng kỳ;
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Các cách phân loại chi phí khác phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định
1.3.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
Chi phí sản xuất: là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng, bộ phận sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm của công
ty, chi phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản:
Chi phí NVLTT: là toàn bộ các chi phí về nguyên liệu chính, vật liệu phụ,
Trang 27nhiên liệu được sử dụng trực tiếp sản xuất chế tạo sản phẩm, chi phí này thường dễ nhận diện cho từng đối tượng chịu phí
Chi phí NCTT: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, bao gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương được tính vào chi phí của công nhân trực tiếp sản xuất, khoản chi phí này cũng dễ nhận diện cho từng đối tượng chịu phí
Chi phí SXC: là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại phân xưởng, bộ phận sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí NVLTT và NCTT Chi phí SXC là khoản mục chi phí phức tạp bao gồm nhiều yếu tố chi phí có đặc điểm tính chất biến đổi khác nhau, là khoản mục chi phí khó định lượng, khó xây dựng được định mức Do vậy, trong quản lý, khoản mục chi phí SXC cần phải được chú ý kiểm soát chặt chẽ
Chi phí ngoài sản xuất: là những khoản chi phí công ty phải chi ra để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy quản lý công ty, căn cứ vào chức năng hoạt động chi phí ngoài sản xuất được chia thành hai loại:
Chi phí BH: là chi phí lưu thông tiếp thị trong quá trình bán sản phẩm hàng hoá
Chi phí quản lí công ty: là những khoản chi phí liên quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính và phục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn DN
Giống như chi phí SXC các khoản mục chi phí ngoài sản xuất cũng là những khoản mục chi phí có nội dung phức tạp, nhiều yếu tố chi phí có tích chất biến đổi khác nhau do đó trong quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ các khoản mục chi phí này
1.3.1.2 Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác nhận
Trang 28từng kỳ
Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi tức trong từng kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong các công ty sản xuất được chia làm hai loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc
sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi tức trong từng kỳ kế toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi tức trong kỳ kế toán tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và sẽ được kết chuyển để xác định lợi tức ở các kỳ sau khi mà chúng được tiêu thụ,
Vì lý do này, chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí có thể tồn kho
Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các khoản mục chi phí sản phẩm Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lý công ty Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết để xác định lợi tức ngay trong kỳ kế toán mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ còn được gọi là chi phí không tồn kho
1.3.1.3 Phân loại chi phí theo các ứng xử chi phí
Mục đích của các phân loại chi phí này là cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành ba loại: chi phí khả biến, chi
Trang 29phí bất biến và chi phí hỗn hợp
Chi phí khả biến
Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các mức hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi
Nếu ta gọi:
a: Giá trị chi phí khả biến tính theo 1 đơn vị mức độ hoạt động;
x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được;
Ta có tổng giá trị chi phí khả biến (y) sẽ là một hàm số có dạng y = ax
Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theo mức độ hoạt động như sau:
vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại
Nếu ta gọi b là tổng số chi phí bất biến thì đường biểu diễn chi phí bất
Trang 30Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu
tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Nếu ta gọi:
Trang 31tiêu sử dụng cụ thể KTTC không phân chia chi phí theo tiêu thức này nhưng
nó lại rất cần thiết cho KTQT, giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận để có quyết định quản lý phù hợp về số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về giá bán sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể về việc nhận đơn đặt hàng mới với giá thấp hơn giá đang bán…
1.3.1.4 Phân loại chi phí sản xuất theo đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một loại sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ hoặc một hoạt động mà có thể kế toán trực tiếp cho những đối tượng chịu chi phí đó Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp chung sau đó phân bổ cho từng đối tượng bằng những tiêu thức phân bổ nhất định
Tiêu thức phân loại này giúp công ty phân nhóm, quản trị có hiệu quả từng loại chi phí Đặc biệt là với các chi phí gián tiếp, liên quan đến nhiều loại sản phẩm, công việc, dịch vụ cần lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí hợp
lý để hỗ trợ việc tính giá thành, giá bán sản phẩm ngày càng hoàn thiện
1.3.1.5 Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định của nhà quản trị
Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định: Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm soát chi phí đối với nhà quản trị, các chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Chi phí có thể kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị có quyền
quyết định hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí
Chi phí không thể kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị
không có quyền quyết định hoặc không có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ
Trang 32phát sinh chi phí
Việc xem xét một khoản chi phí là kiểm soát được hay không kiểm soát được phải gắn với một cấp quản lý cụ thể trong công ty Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản lý chi phí của từng cấp bậc, bộ phận trong công ty
Mặc dù có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin chi phí trong quản trị kinh doanh, song để đáp ứng yêu cầu thu thập, cung cấp thông tin, trình bày thông tin cũng như đặc điểm và yêu cầu quản trị của từng ngành, từng công ty để vận dụng các cách phân loại chi phí cho phù hợp
1.3.1.6 Phân loại chi phí sản xuất theo yêu cầu của việc lựa chọn phương
án sản xuất kinh doanh
Chi phí phù hợp (với việc ra quyết định) hay chi phí có liên quan tới việc
ra quyết định là những chi phí thay đổi theo các phương án hoạt động khác
nhau Một trong những chi phí phù hợp quan trọng cần xem xét khi lựa chọn các phương án là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là phần lợi nhận tiềm năng bị
từ bỏ khi lựa chọn phương án hoạt động này thay vì một phương án hoạt động khác Chi phí cơ hội là khoản chi phí không được theo dõi trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng đối với việc ra quyết định Khi lựa chọn các phương án hoạt động, ngoài các chi phí được phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, nhà quản lý còn cần phải xem xét chi phí cơ hội của các phương án đó
do các nguồn lực của công ty có thể được sử dụng theo những cách khác nhau
để quyết định lựa chọn phương án có lợi nhuận cao nhất
Chi phí không phù hợp (với việc ra quyết định) hay chi phí không liên quan tới việc ra quyết định là những chi phí không thay đổi theo các phương
án hoạt động Chi phí là một nhân tố vô cùng quan trọng đối với mỗi phương
án hoạt động nên để có được quyết định lựa chọn phương án đúng đắn cần
Trang 33loại bỏ các chi phí không phù hợp đối với các quyết định đó Chi phí chìm là một ví dụ điển hình về chi phí không phù hợp
Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh trong quá khứ và không bị ảnh hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiện tại cũng như tương lai của công ty Chi phí chìm là khoản chi phí có trên sổ sách kế toán nhưng là những chi phí giống nhau ở mọi phương án nên nó là chi phí không phù hợp đối với việc ra quyết định và không cân nhắc đến khi lựa chọn các phương án
1.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất
1.3.2.1 Các căn cứ lập dự toán chi phí sản xuất
Căn cứ vào các bộ phận kế hoạch khác để lập dự toán chi phí sản xuất: Theo phương pháp này yếu tố chi phí vật tư mua ngoài được căn cứ vào kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật; Yếu tố tiền lương căn cứ vào kế hoạch lao động tiền lương (từ đó tính các khoản trích theo lương) trong kỳ để lập; Yếu
tố chi phí khấu hao căn cứ vào kế hoạch khấu hao tài sản cố định; chi phí dịch
vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền căn cứ vào bảng dự toán chi tiền có liên quan trong kỳ kế hoạch của các bộ phận khác trong công ty
Phương pháp này tương đối đơn giản, đảm bảo cho kế hoạch giá thành thống nhất với các kế hoạch khác Tuy nhiên, nếu các bộ phận kế hoạch khác lập không chính xác thì kế hoạch chi phí cũng không chính xác Vì vậy trước khi sử dụng số liệu của các kế hoạch khác phải kiểm tra lại độ chính xác của
số liệu đó
Căn cứ vào dự toán chi phí sản xuất của các phân xưởng để lập dự toán chi phí sản xuất: Trước hết lập dự toán chi phí sản xuất ở phân xưởng sản xuất phụ, phụ trợ, nhằm xác định giá thành dịch vụ của phân xưởng sản xuất phụ phân bổ cho phân xưởng sản xuất chính; Dựa theo qui trình công nghệ, lần lượt lập dự toán chi phí cho các phân xưởng sản xuất chính bao gồm tất cả chi phí trực tiếp phát sinh trong các phân xưởng, dịch vụ và bán thành phẩm
Trang 34của các phân xưởng khác cung cấp; Cuối cùng, tổng hợp dự toán chi phí sản xuất toàn công ty bằng cách: Tổng chi phí luân chuyển nội bộ phải trừ ra và Tổng chi phí của toàn công ty = Tổng chi phí của các phân xưởng - Chi phí luân chuyển nội bộ
Lập dự toán chi phí sản xuất theo phương pháp này có lợi cho việc mở rộng và củng cố chế độ kế toán kinh tế trong nội bộ công ty Đây là phương pháp tốt cần tạo điều kiện để áp dụng rộng rãi
Căn cứ vào kế hoạch giá thành theo khoản mục để dự toán chi phí sản xuất: Theo phương pháp này thực chất là đưa những chi phí đã phân loại theo khoản mục trở về yếu tố chi phí Vì vậy, một mặt phải dựa vào những khoản mục trực tiếp như khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, khoản mục chi phí nhân công trực tiếp, mặt khác phân tích khoản mục chi phí sản xuất chung
để sắp xếp lại thành các yếu tố chi phí Phương pháp này cũng có thể dùng để kiểm tra tính chính xác giữa các phương pháp lập dự toán chi phí sản xuất Các phương pháp đã trình bày trên giúp chúng ta tổng hợp được các yếu tố chi phí sản xuất, tính được toàn bộ chi phí bỏ vào sản xuất trong kỳ kế hoạch của công ty Từ tổng chi phí sản xuất (A) này phải điều chỉnh thành các chỉ tiêu sau đây: Tổng chi phí sản xuất tổng sản lượng (B); Giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoá (C)
1.3.2.2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất
Định mức chi phí là chi phí dự tính để sản xuất ra một sản phẩm hoặc thực hiện một dịch vụ cho khách hàng, là sự kết tinh các khoản chi phí tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm thông qua sản xuất hoặc thử nghiệm Định mức chi phí là cơ sở cho việc lập dự toán sản xuất kinh doanh, giúp các nhà quản
lý kiểm soát hoạt động kinh doanh của công ty
Về phương pháp xác định định mức chi phí, nhìn chung các công ty có thể áp dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp thống kê kinh
Trang 35nghiệm; phương pháp kinh tế kỹ thuật; phương pháp thử nghiệm trực tiếp Bằng việc sử dụng các phương pháp cụ thể, công ty có thể xác định được hai loại định mức chi phí cơ bản là định mức lý tưởng và định mức thực tế Việc xây dựng định mức chi phí chủ yếu trong quá trình sản xuất, kinh doanh được thực hiện như sau:
Đối với định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Về cơ bản định mức chi phí NVLTT được xác định dựa trên định mức về lượng và định mức về giá để sản xuất đơn vị sản phẩm nhất định Trong đó định mức lượng NVL liên quan đến lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất đơn vị sản phẩm bao gồm cả NVL hao hụt cho phép và NVL tính cho sản phẩm hỏng luôn tất yếu xảy ra trong công nghệ sản xuất Định mức giá NVL phải tính cho từng thứ NVL tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm, thường được tính là giá bình quân cho một đơn vị NVL sử dụng
Đối với định mức chi phí nhân công trực tiếp
Tương tự, định mức chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất đơn vị sản phẩm và đơn giá của thời gian lao động đó Thời gian lao động trực tiếp định mức có thể được thực hiện bằng cách sản xuất sản phẩm mẫu tính theo năng suất lao động trung bình thông qua kỹ thuật bấm giờ hoặc chia công việc thành các công đoạn rồi tổng hợp lại Còn đơn giá định mức cho một đơn vị thời gian lao động trực tiếp phải gồm cả tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương theo hợp đồng lao động
Đối với định mức chi phí sản xuất chung
Vì chi phí sản xuất chung thường liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí và bao gồm nhiều loại chi phí nên việc xây dựng định mức chi phí rất khó khăn và không thực sự cần thiết Bản thân chi phí này bao gồm cả định phí và biến phí nên quá trình xây dựng định mức nên được phân tách cho từng loại
Trang 36nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá tình hình thực hiện các dự toán chi phí sau này Trong quá trình định mức cần lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp
lý để phân bổ định mức chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng chịu chi phí Tiêu chuẩn phân bổ hợp lý có thể là khối lượng sản phẩm sản xuất, tổng
số giờ công lao động trực tiếp, tổng số giờ máy hoặc phân bổ theo chi phí trực tiếp Về cơ bản định mức chi phí sản xuất chung cho đơn vị sản phẩm là kết quả phép nhân giữa đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ và đơn vị tiêu chuẩn phân bổ cho đơn vị sản phẩm
Đối với định mức chi phí ngoài sản xuất
Trong các công ty, ngoài chi phí sản xuất còn phát sinh chi phí ngoài sản xuất như chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty Với đặc điểm chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty là loại chi phí hỗn hợp cũng bao gồm nhiều yếu
tố chi phí khác nhau Do đó việc xây dựng định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý công ty được thực hiện tương tự chi phí sản xuất chung Vì vậy định mức chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý công ty cho đơn vị sản phẩm cũng được tính bằng cách lấy đơn giá chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý công ty phân bổ nhân với đơn vị tiêu chuẩn phân bổ cho đơn vị sản phẩm.”
1.3.2.3 Lập dự toán chi phí sản xuất
Trên cơ sở định mức chi phí được xây dựng, DN tiến hành lập dự toán chi phí SX
Dự toán là một kế hoạch chi tiết mô tả việc sử dụng các nguồn lực của một DN, tổ chức trong một kỳ nhất định
Dự toán CPSX là việc xác định các khoản mục chi phí dự kiến phát sinh trong kỳ, nguồn cung cấp nguồn thanh toán nhằm sản xuất SP cần thiết để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ dự kiến và mức dự trữ hàng tồn kho
* Lập dự toán chi phí NVLTT
Là việc xác định chi phí NVL dự kiến phát sinh trong kỳ khối lượng
Trang 37NVL cần mua để đáp ứng nhu cầu SX nguồn vốn thanh toán và lịch thanh toán tiền mua NVL
Trên cơ sở định mức NVL, chính sách dự trữ NVL, và số NVL còn trong kho, chính sách thanh toán DN tiến hành lập bảng dự toán chi phí NVLTT và lịch thanh toán tiền mua NVL
LượngyNVL cần
cho SX dự kiến =
Số lượng.SP cần cho SX.dự kiến x
Định.mức lượng NVLTT Chi phí NVLTT
dự kiến =
Lượng.NVLTT
dự kiến x
Định.mức giá NVLTT Lượng NVLTT
cần mua dự kiến =
Lượng NVLTT cần mua cho sản xuất đầu
kỳ
+
Lượng NVLTT tồn kho cuối
kỳ
-
Lượng NVLTT tồn kho đầu kỳ
* Lập.dự toán chi.phí NCTT
Là việc xác.định nguồn lực lao.động;trực tiếp.cần thiết để đáp.ứng nhu cầu SX dựa trên.định mức thời/gian lao động/trực tiếp và,đơn giá tiền.lương, tiền công phải trả cho.công nhânltrực/tiếp SX
Lượng.thời.gian.LĐ
cần cho SX dự kiến =
Số lượng sản phẩm cần cho SX dự kiến x
Định mức lượng thời gian LĐ
Dự tính chi phí NCTT = Lượng thời gian LĐ
cần cho SX dự kiến x
Định mức đơn giá tiền lương SP
Trang 381.3.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.3.3.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Do được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau nên tồn tại nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về chi phí Nhưng điểm chung nhất là nghiên cứu chi phí gắn với hoạt động của một bộ phận, một tổ chức xác định
Theo giáo trình “ Kế toán tài chính công ty” của Đại học Thương mại “Chi
phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản
nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho chủ
sở hữu”
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (Chuẩn mực chung) đoạn 31:
“Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”
Theo chế độ kế toán Việt Nam: “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền
về toàn bộ các hao phí lao động sống, lao động vật hóa mà công ty đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ”
- Trong đó chi phí lao động sống gồm: Tiền lương, các khoản trích theo lương như: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN);
- Lao động vật hóa gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu, khấu hao tài sản cố định phục vụ;cho quá trình;sản xuấtisảnlphẩm
Như vậy có thể hiểu rằng: “Chi phí sản xuất là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và cung ứng dịch vụ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí NCTT, chi phí sản xuất chung”
Qua nghiên cứu trên cho ta thấy dù đứng dưới góc độ nào nhìn nhận về
Trang 39chi phí đi nữa, thì bản chất của chi phí sản xuất đều có những điểm chung như sau:
Thứ nhất, chi phí sản xuất luôn được xem là sự kết tinh về hao phí sức lao động của con người;
Thứ hai, chi phí sản xuất phát sinh luôn gắn với mục đích và đối tượng nhất định Điều này cho thấy rằng, chi phí sản xuất luôn gắn với không gian, địa điểm, con người qua đó;cho ta biết chi phí sản xuất phát sinh nhằm đạt được mục đích gì;
Thứ ba, chi phí sản xuất được xem xét và ghi nhận trong một khoảng thời gian nhất định Các khoảng thời gian được đặt ra thường là do các yêu cầu quản lý kinh tế của chủ thể quản lý Nó thường gắn với thời kỳ lập các báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty;
Trên góc độ KTQT: “Chi phí có thể là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định cũng có thể là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác Khi đó trong KTQT lại cần chú ý đến việc nhận diện chi phí phục vụ cho việc so sánh, lựa chọn phương án tối ưu trong từng tình huống ra quyết định kinh doanh cụ thể mà ít chú ý hơn vào.việc chứng minh chi phí phát sinh bằng các chứng từ kế toán” (Giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp (2007), Học viện tài chính, NXB Tài chính)
1.3.3.2 Khái niệm giá thành sản xuất
Theo giáo.trình “Kế toán tài.chính” của Đại.học thương.mại thì khái
niệm: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm lao vụ đã hoàn thành trong kỳ”
Những chi phí đưa vào giá thành.sản phẩm phản ánh được giá trị thực
Trang 40của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí, lao động sống Kết quả thu được
là sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí
Tóm lại, quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm hai mặt: hao phí sản xuất và kết quả sản xuất Tất cả những khoản chi phí gồm: chi phí kỳ trướcchuyển sang, chi phí phát sinh trong kỳ và các chi phí trích trước có liên quan tới khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm Trong giá thành sản phẩm bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, phản ánhlượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Như vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất
tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành
Khi nghiên cứu về giá thành nên xem xét và phân biệt được sự khác nhau giữa giá thành và giá gốc của công ty
Tài sản trong công ty được ghi nhận theo giá gốc
Giá thành là toàn bộ chi phí thực tế đã bỏ ra để hoàn thành được sản phẩm (chi phí này là chi phí hợp lý phát sinh ở mức độ bình thường chứ không phải là toàn bộ chi phí hợp lý ở thực tế)
Nên thực chất giá thành là nói đến sản phẩm sản xuất ra nhập kho nhưng
nó cũng chính là giá gốc
Còn giá gốc hiểu với góc độ rộng hơn bao hàm cả giá thành, giá gốc sẽ được tính trong các trường hợp mua ngoài, tự sản xuất, nhận biếu tặng, nhận góp vốn…
Nhưng trong trường hợp xuất ra thì tài sản trong tất cả các trường hợp trên đều được ghi nhận theo giá gốc do đó có thể hiểu rằng nó chính là một và