Như vậy, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thờ
Trang 1Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI XUÂN HỒI
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn Thạc sỹ kỹ thuật “Hoàn thiện công tác
kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco” do
tôi tự hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS TS Bùi Xuân Hồi
Các số liệu và kết quả hoàn toàn đúng với thực tế
Để hoàn thành luận văn này, tôi chỉ sử dụng những tài liệu được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo và không sao chép hay sử dụng bất kỳ tài liệu nào khác Nếu phát hiện có sự sao chép, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2016
Người thực hiện
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, sơ đồ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 5
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 6
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 6
1.1.1 Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 6
1.1.2 Khái niệm kế toán quản trị 7
1.1.3 Bản chất kế toán quản trị chi phí 8
1.1.4 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 10
1.2 Nội dung của kế toán quản trị chi phí 11
1.2.1 Phân loại chi phí 11
1.2.2 Xác định đối tượng tập hợp chi phí 17
1.2.3 Xác định phương pháp tập hợp chi phí 18
1.2.4 Xác định giá thành sản phẩm 23
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí 30
1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp: 30
1.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường doanh nghiệp: 30
1.4 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu cho luân văn 31
1.4.1 Các phương pháp thu thập dữ liệu 31
1.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 34
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TẠI CÔNG TY HÓA CHẤT MỎ THÁI BÌNH - MICCO 35
2.1 Tổng quan về Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35
2.1.2 Quy trình công nghệ sản xuất 35
2.1.3 Mô hình tổ chức quản lý 38
2.2 Giới thiệu chung về bộ máy và công tác kế toán 41
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán 41
2.2.2 Tổ chức công tác kế toán 44
2.3 Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco 45
2.3.1 Công tác phân loại chi phí sản xuất kinh doanh 45
2.3.2 Công tác xác định đối tượng tập hợp chi phí 47
2.3.3 Công tác tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh 48
2.3.4 Công tác xác định giá thành sản phẩm 59
2.3.5 Tổng hợp các kết quả phân tích 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY HÓA CHẤT MỎ THÁI BÌNH - MICCO 68
3.1 Các định hướng phát triển Công ty 68
3.2 Các mục tiêu của kế toán quản trị chi phí Công ty 69
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco 69
3.3.1 Xây dựng báo cáo hoạt động SXKD theo mối quan hệ với quy mô 70
3.3.2 Xác định lại mục đích sử dụng của một số tài sản 755
3.3.3 Xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ 822
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
Trang 5BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Công ty Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco
Trang 6DA NH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố 58
Bảng 2.2: Báo cáo giá thành sản phẩm 60
Bảng 2.3: Bảng so sánh phân bổ khấu hao theo sản lượng sản xuất 61
Bảng 3.1: Báo cáo kết quả SXKD của Công ty năm 2015 theo chức năng của chi phí 71
Bảng 3.2: Mẫu báo cáo kết quả SXKD theo mối quan hệ với quy mô 72
Bảng 3.3: Báo cáo kết quả SXKD của Công ty năm 2015 theo mối quan hệ với quy mô 74
Bảng 3.4: Bảng Trích khấu hao TSCĐ năm 2015 76
Bảng 3.5: Bảng Trích khấu hao TSCĐ tập hợp vào chi phí SXC 78
Bảng 3.6: Bảng trích khấu hao TSCĐ bổ sung tập hợp vào chi phí QLDN 79
Bảng 3.7: Báo cáo giá thành sản phẩm sau khi điều chỉnh khấu hao TSCĐ 80
Bảng 3.8: Báo cáo kết quả hoạt động SXKD sau điều chỉnh 81
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khối quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 37
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức của Công ty 41
Sơ đồ 2.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 43
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ quy trình công tác kế toán 44
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các phương pháp sản xuất, nên cách thức quản lý truyền thống của các nhà sản xuất đã thay đổi, trong đó có các phương thức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho các phương án kinh doanh Mặt khác, xu hướng khu vực hóa và quốc tế hóa đã tạo ra khuynh hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các hãng và các tập đoàn Điều đó làm tăng thêm nhu cầu về cung cấp, xử lý thông tin do kế toán cung cấp Mà một phần lớn các thông tin chi tiết cụ thể từ việc lập kế hoạch hoạt động, kiểm soát các hoạt động và kết quả của nó giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định phù hợp là do kế toán quản trị cung cấp
Ngày nay kế toán quản trị đang thực sự trở thành một bộ phận của hệ thống kế toán và hệ thống thông tin quản trị kinh doanh Tại Việt Nam, KTQT đã có những điều kiện hình thành và phát triển:
- Nền kinh tế nước ta thực chất đang ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường Giai đoạn kinh tế hàng hóa là điều kiện thuận lợi cho KTQT hình thành và phát triển
- Nhờ sự phát triển của khoa học quản trị nói chung nên kế toán quản trị cũng có những bước phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới Do
đó việc sử dụng KTQT như một công cụ kiểm tra, kiểm soát, thu nhận, xử lý
và cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch và ra quyết định là một tất yếu
- Hiện nay, công cuộc cải cách và sửa đổi chế độ kế toán cùng với việc hội nhập với kế toán các nước có nền kinh tế phát triển trong và ngoài khu vực đang dần được thực hiện Vì vậy, việc vận dụng và thực hiện KTQT ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật và xu thế thời đại
Trang 8Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp chưa được tổ chức thực hiện theo đúng vị trí và vai trò của nó Những nguyên nhân có thể là:
- Trong tư duy và nhận thức của các nhà quản lý, các chuyên gia kế toán, KTQT chưa thực sự được coi là một môn khoa học Mặc dù KTQT đã
có đối tượng nghiên cứu, nội dung và phương pháp luận riêng đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận Tuy nhiên phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý
và cán bộ kế toán lại được đào tạo trong thời kỳ bao cấp, nên chưa lắm vững kiến thức kinh tế thị trường, các quy luật riêng có cùng những phương thức, cách thức, cơ chế quản lý nền kinh tế đó
- Hệ thống kế toán đã được cải cách một cách căn bản song Chính phủ chưa ban hành và tạo dựng một môi trường pháp lý về KTQT như ban hành các văn bản hướng dẫn cho các doanh nghiệp, mở lớp đào tạo, phổ biến kiến thức về KTQT Hơn nữa hệ thống kế toán hiện nay mang tính hỗn hợp giữa
Kế toán tài chính và KTQT, chưa có sự hướng dẫn vận dụng và tổ chức thực hiện KTQT ở các doanh nghiệp
- Hiện nay các doanh nghiệp chưa nhận thức thực sự đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của KTQT trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định kinh tế
Từ những nhận định cơ bản trên đây cho thấy KTQT vẫn chưa có vị thế xứng đáng với vị trí và vai trò của nó trong quản trị doanh nghiệp KTQT mới chỉ tồn tại dưới dạng định nghĩa, khái niệm trong lý luận chứ chưa được vận dụng và tổ chức thực hiện ở các doanh nghiệp với tư cách là công cụ quản lý kinh tế và cung cấp thông tin kinh tế Vì vậy trong phạm vi đề án này em chỉ xin nghiên cứu một phần rất nhỏ của KTQT là kế toán quản trị chi phí
Trang 91 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kế toán là một lĩnh vực quan trọng của quản lý, hệ thống kế toán của doanh nghiệp cần có hai bộ phận chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của hai nhóm đối tượng bên trong và bên ngoài, đó là kế toán quản trị và kế toán tài chính Trong nền kinh tế thị trường với môi trường cạnh tranh đã làm nổi bật vai trò của kế toán quản trị và hình thành nên những nhận thức khác nhau về cách thức vận dụng mô hình tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp, trong đó có kế toán quản trị chi phí
Tổng Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin là một đơn vị hoạt động trong ngành Vật liệu nổ công nghiệp, đây là một ngành kinh doanh có điều kiện và là một ngành quan trọng với nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như ngành khai thác, vật liệu xây dựng, làm đường Tổng Công ty chuyên sản xuất và bán thuốc nổ, làm dịch vụ nổ mìn cho các đơn vị có nhu cầu trên cả nước Trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tổng Công ty luôn đạt được mức độ tăng trưởng cao hàng năm, song những năm gần đây Tổng Công
ty luôn gặp phải những cạnh tranh gay gắt của đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Công ty GAET Trong quá trình cạnh tranh đó đòi hỏi Tổng Công ty phải có những hoạt động đầu tư, nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ để nắm bắt cơ hội và nâng cao khả năng cạnh tranh, đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh Vì vậy, để thực hiện các mục tiêu đó, một trong các công việc Tổng Công ty phải làm là tổ chức tốt kế toán quản trị chi phí, nó sẽ giúp cho nhà quản trị quản lý hoạt động hiệu quả hơn nghĩa là đưa ra các quyết định về hoạch định, thực hiện và kiểm soát chi phí một cách linh hoạt và phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và thị trường
Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco là đơn vị đơn vị mới được thành lập đầu năm 2014 trực thuộc Tổng Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ -
Trang 10Vinacomin Công ty có nhiệm vụ sản xuất Amon Nitrat – là nguyên liệu chính
để sản xuất thuốc nổ công nghiệp Do Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình là đơn
vị duy nhất của Tổng Công ty sản xuất nguyên liệu Amon Nitrat cho toàn Tổng Công ty nên hoạt động của Công ty có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đến kết quả hoạt động SXKD của toàn Tổng Công ty
Do mới được thành lập nên hệ thống kế toán của Công ty mới chỉ chú trọng đến Công tác kế toán tài chính mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến
kế toán quản trị và đặc biệt là kế toán quản trị chi chí – một yếu tố cực kỳ quan trọng với Công ty mà có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của toàn Tổng Công ty
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức kế toán quản trị nói chung và tổ chức kế toán quản trị chi phí nói riêng đối với Công ty Hóa chất
mỏ Thái Bình - Micco, em đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện
công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sẽ vận dụng những lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí, đồng thời phân tích rõ thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí ở Công
ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco nhằm đề xuất phương hướng, giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị chi phí của Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco trong năm 2015
Trang 114 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp chung: dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sử và các nguyên lý cơ bản của triết học
- Phương pháp cụ thể: luận văn sử dụng phương pháp thống kê tổng hợp, phân tích, so sánh, diễn giải và hệ thống hoá khái quát những vấn đề lý luận
về kế toán quản trị chi phí
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Nghiên cứu, hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về kế toán quản trị chi phí
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình – Micco
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị và phương hướng góp phần hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí cho Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán quản trị chi phí trong
doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản
trị chi phí tại Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình - Micco
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí
1.1 1 Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trên nhiều lĩnh vực sản xuất hay thương mại đều là quá trình biến các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra nhằm cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thu được lợi nhuận Doanh nghiệp sản xuất là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội
Bất kỳ hoạt động sản xuất nào cũng cần phải có ba yếu tố cơ bản và trong quá trình sản xuất ba yếu tố này sẽ dần bị tiêu hao đi, đó là: đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu ), tư liệu lao động (máy móc thiết bị, nhà xưởng ) và sức lao động (con người) Sự kết hợp và tiêu hao của ba yếu tố
cơ bản trên chính là bản chất của quá trình sản xuất và cũng chính là các chi phí sản xuất cần bỏ ra
Như vậy, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).1
Dưới góc độ doanh nghiệp, chi phí kinh doanh là toàn bộ chi phí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để thực hiện các hoạt động của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1 Nguyễn Văn Công (2006), Lý thuyết và thực hành Kế toán tài chính Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc
Trang 13
1.1.2 Khái niệm kế toán quản trị
Trên thế giới, kế toán quản trị là một lĩnh vực đã được chú ý nghiên cứu
và phát triển từ lâu Một số nước đã thành lập Hiệp hội các nhà kế toán quản trị, thành lập viện Kế toán quản trị và xuất bản tạp chí riêng Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của chúng Để xác định được hiệu quả sản xuất các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, những doanh nghiệp
đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày
Nghiên cứu sự phát triển của kế toán quản trị cho thấy, kế toán quản trị hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp Môi trường cạnh tranh bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng, phát triển thị trường, giảm chi phí để nâng cao lợi nhuận Kế toán quản trị là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và hiệu quả
Ở Việt Nam, kế toán quản trị là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, phần lớn các doanh nhân còn xa lạ với kế toán quản trị Trong các doanh nghiệp, việc sử dụng các thông tin do kế toán cung cấp cho quản trị doanh nghiệp còn hạn chế Kế toán quản trị ở nước ta hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong quản trị doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm và nhiều góc độ khác nhau để tiếp cận khái niệm
kế toán quản trị Nhưng theo Luật kế toán của Việt Nam số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân
Trang 14tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” 2
1.1.3 Bản chất kế toán quản trị chi phí
Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tin khác nhau về các hoạt động của doanh nghiệp, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp Đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan Thuế, Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên trong doanh nghiệp là các nhà quản lý các cấp trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau Các đối tượng bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức Các nhà quản lý bên trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá kết quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức
Do đó, hệ thống kế toán doanh nghiệp cần có hai bộ phận chuyên môn
để đáp ứng nhu cầu thông tin cho hai nhóm đối tượng này, đó chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể bên ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức
Kế toán quản trị đưa ra tất cả thông tin kinh tế đã được đo lường, xử lý
để cung cấp cho nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp để điều hành, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đưa ra quyết định lựa chọn các phương án kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế cao nhất và
Trang 15tối ưu nhất Còn Kế toán tài chính phản ánh sự biến động hiện tại về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các giai đoạn hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy thông tin chi phí giữ vai trò quan trọng trong
hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp
Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc
kế toán để cung cấp thông tin về giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên các báo cáo kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận
kế toán chi phí có chức năng định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt các thông tin về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ nhằm phục vụ cho các quyết định quản trị sản xuất, định hướng kinh doanh, phục vụ tốt hơn quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả
Như vậy kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán
và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức
Do đó có thể hiểu kế toán quản trị chi phí chính là một bộ phận chuyên môn của hệ thống kế toán quản trị, có nhiệm vụ cung cấp thông tin về chi phí cho nhà quản lý các cấp trong mỗi tổ chức nhằm thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động để xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động, ra các quyết định và thực hiện các chức năng quản
lý doanh nghiệp
Trang 161.1.4 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả
kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp, các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị mình Để thực hiện vai trò của mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra,
kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể như: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản lý hàng tồn kho, quản lý chi phí
Kế toán quản trị chi phí còn được coi là công cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch thông qua việc phân tích chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trang 17Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận , kế toán
quản trị chi phí sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động
Có thể nói, kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị
trường
1.2 Nội dung của kế toán quản trị chi phí
Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí là phương tiện để Ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí nói riêng và hoạt động của doanh nghiệp nói chung Chính vì vậy, kế toán quản trị chi phí phải biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra
Nhiệm vụ cụ thể của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp bao gồm:
1.2 1 Phân loại chi phí :
Do chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nên công việc đầu tiên của kế toán quản trị chi phí chính là việc phân loại các loại chi phí trong
Trang 18doanh nghiệp Phân loại chi phí là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí
Trong Kế toán tài chính, chi phí được định nghĩa như là một khoản hao phí bỏ ra để thu được một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một khoản thu về Trong KTQT, chi phí được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, do đó có rất nhiều tiêu thức, tùy theo nhu cầu thông tin cần cho việc ra quyết định Vì vậy trong KTQT cần nghiên
cứu kỹ cách phân loại chi phí
1.2.1 1 Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí:
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành 05 khoản mục chi phí:
a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí của những loại nguyên
liệu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định tách biệt, rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm Nguyên vật liệu trực tiếp dễ nhận diện trong sản phẩm vì nó tượng trưng cho đặc tính dễ thấy nhất của sản phẩm
Ví dụ: Gỗ tấm để làm tủ, Số mét vải để may áo
b Chi phí lao động trực tiếp: Là chi phí tiền lương và các khoản trích
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng
và chất lượng sản phẩm tạo ra Thông thường những lao động này trực tiếp xử
lý nguyên vật liệu trực tiếp bằng tay hoặc thông qua việc sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc máy móc thiết bị
Trang 19Chi phí lao động trực tiếp giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là
có thể xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm
c Ch i phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết khác để sản xuất
sản phẩm ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp Chi phí sản xuất chung chủ yếu bao gồm các loại chi phí như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp: Là những yếu tố vật chất không tạo nên thành phần chính của sản phẩm, nếu có thì chúng cũng không phải là chi phí nguyên vật liệu quan trọng như keo dán mica của tủ mica, đinh, ốc, vít hay nhiên liệu sử dụng cho quá trình sản xuất như than, điện
- Chi phí lao động gián tiếp: Là các chi phí tiền lương của tất cả các lao động gián tiếp bào gồm: đốc công, nhân viên kỹ thuật phân xưởng; thợ sửa chữa, bào trì máy móc dùng trong quá trình sản xuất sản phẩm
- Chi phí của thời gian ngừng sản xuất: phản ánh chi phí thanh toán cho lao động trực tiếp về những khoảng thời gian ngừng sản xuất vì máy hỏng, cung cấp nguyên vật liệu không kịp thời, mất điện hay vì lý do nào khác ngoài
ý muốn chủ quan của người lao động
- Chi phí phụ trội: Phản ánh chi phí thanh toán cho người lao động trực tiếp về khoảng thời gian làm thêm giờ, thêm ca trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp thời gian ngừng sản xuất
- Chi phí phúc lợi lao động: Gồm các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ tính cho lao động gián tiếp
- Chi phí phân xưởng khác: Gồm các chi phí cần thiết để vận hành phân xưởng như chi phí thuê nhà, khấu hao máy móc, thiết bị, chi phí điện nước, chi phí động lực, bảo hiểm chống cháy
Trang 20d Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hóa và để đảm bảo cho việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng
Chi phí bán hàng gồm những khoản chi phí như chi phí tiếp thị, chi phí khuyến mãi, quảng cáo, vận chuyển bốc dỡ, lương nhân viên bán hàng, tiền hoa hồng bán hàng công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ phục vụ bán hàng
e Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm những khoản chi phí liên
quan đến việc tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm những khoản chi phí như: lương
cán bộ quản lý và nhân viên văn phòng, chi công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ, chi phí văn phòng phẩm
1.2.1 2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với quy mô
Theo cách phân loại này, chi phí được phân thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp:
a Biến phí (chi phí biến đổi): Biến phí là những khoản mục chi phí có
quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động
- Đặc điểm:
+ Tổng các biến phí thay đổi khi sản lượng thay đổi
+ Biến phí đơn vị giữ nguyên không đổi khi sản lượng thay đổi
- Biến phí thường gồm các khoản chi phí như:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí bao bì đóng gói
Trang 21+ Giá vốn của hàng hóa mua vào để bán
+ Hoa hồng bán hàng
- Phân loại: Xét về tính chất tác động, biến phí chia làm 2 loại:
+ Biến phí tỷ lệ: Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức độ hoạt động, như chi phí lao động trực tiếp
+ Biến phí cấp bậc: Là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức
độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng Biến phí loại này không đổi khi mức
độ hoạt động thay đổi ít Biến phí cấp bậc gồm những khoản chi phí như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì
b Định phí (chi phí cố định): Định phí là những khoản chi phí không
biến đổi cùng với sự thay đổi của mức độ hoạt động
+ Chi phí khấu hao nhà xưởng
+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị sử dụng trong nhà xưởng + Lương nhân viên phân xưởng
+ Chi phí bảo hiểm chống trộm và chống cháy của phân xưởng
Trang 22c Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố
biến phí và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí
Chi phí hỗn hợp là khó kiểm soát, để lập kế hoạch kiểm soát chi phí hỗn hợp cần phải tách chi phí hỗn hợp thành hai bộ phận: định phí và biến phí
1.2.1 3 Phân loại chi phí theo theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí Toàn bộ chi phí được phân thành 5 yếu
tố sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên,
vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, nhiên liệu, động lực sử dụng vào sản xuất kinh doanh
- Yếu tố chi phí nhân công: gồm tổng số tiền lương, phụ cấp lương phải
trả cho người lao động cùng với số trích cho các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho người lao động tính vào chi phí
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ
mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh
Trang 23- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: gồm các chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ
1.2.2 Xác định đối tượng tập hợp chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm
Giới hạn (hoặc phạm vi) để tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi phát sinh chi phí (phân xưởng sản xuất, bộ phận chức năng ) hoặc đối tượng gánh chịu chi phí (sản phẩm, công việc hoặc lao vụ do doanh nghiệp đang sản xuất, công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng )
Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
là xác định nơi các chi phí đã phát sinh và các đối tượng gánh chịu chi phí Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí, trước hết phải căn cứ vào mục đích sử dụng, sau đó là căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí
Xác định đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với yêu cầu quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến việc tập hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí là khâu đầu tiên rất quan trọng trong toàn bộ tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, phải dựa vào và cân nhắc hàng loạt các nhân tố sau:
- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
- Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Đặc điểm của sản phẩm
Trang 24- Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội
bộ của doanh nghiệp
- Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành
- Khả năng, trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng
Xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tập hợp chi phí sản xuất một cách kịp thời, chính xác theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định là cơ sở, tiền đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát quá trình chi phí, tăng cường trách nhiệm vật chất đối với các bộ phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp
1.2.3 Xác định phương pháp tập hợp chi phí
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng
để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định
Nội dung cơ bản của phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó
Tùy thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chi phí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:
1.2.3.1 Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại
Trang 25chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng đó
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán… theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, chỉ
có như vậy mới đảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ
1.2.3.2 Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó
Theo phương pháp này, trước tiên căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toán tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan
Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
H = C / T
Trong đó: H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng T: Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng cụ thể:
Trang 26C¡ = H x T¡
Trong đó: C¡: Phần chi phí phân bổ cho đối tượng ¡
T¡: Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng ¡
Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ được lựa chọn tùy vào từng trường hợp cụ thể Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn
Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân
bổ theo từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí cần phân bổ
1.2.3.3 Kế toán tập hợp chi phí
a/ Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng để sản xuất sản phẩm phần lớn là chi phí trực tiếp nên được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan căn cứ vào chứng từ xuất kho vật liệu và báo cáo sử dụng vật liệu ở nơi sản xuất Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau thì phải áp dụng phương pháp phân bổ chi phí cho các đối tượng và phải xác định được tiêu thức phân bổ hợp lý
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu, kế toán sử dụng tài khoản 621 - chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
b/ Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Trang 27Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm: Tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất
Với chi phí nhân công trực tiếp, nếu tiền công đã trả theo sản phẩm hoặc tiền công thời gian có quan hệ với từng đối tượng cụ thể thì hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí đó Còn nếu tiền lương công nhân sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng thì ta tiến hành phân bổ
Để kế toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 – chi phí nhân công trực tiếp
c/ Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Chi phí sản xuất chung gồm: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí khác bằng tiền
Trong trường hợp mỗi đơn vị, mỗi bộ phận sản xuất chỉ tiến hành sản xuất một loại sản phẩm, một loại công việc hay lao vụ nhất định, chi phí sản xuất chung của mỗi bộ phận, đơn vị đó là chi phí trực tiếp và được kết chuyển trực tiếp cho sản phẩm, công việc hay lao vụ đó
Nếu đơn vị có nhiều sản phẩm, công việc hay lao vụ, chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ cho các đối tượng liên quan theo tiêu chuẩn phân bổ nhất định Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung có thể là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp…
Trang 28Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung
- Chi phí khấu hao tài sản cố định
- Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền
Để tập hợp chi phí bán hàng, kế toán sử dụng tài khoản 641 – Chi phí bán hàng
e/ Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí có liên quan chung đến hoạt động của toàn doanh nghiệp không thể tách riêng ra được cho bất kỳ hoạt động nào Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các khoản chi phí sau:
- Chi phí nhân viên quản lý: tiền lương, phụ cấp và các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
- Chi phí vật liệu quản lý
Trang 29Để tập hợp chi phí quản lý doanh nghiệp, kế toán sử dụng tài khoản
642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp
1.2.4 Xác định giá thành sản phẩm
1.2.4.1 Đối tượng tính giá thành:
Đối tượng tính giá thành có thể là các loại thành phầm, nhóm thành phẩm, hoặc công việc, lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất và thực hiện cần tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị
Căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất
- Đặc điểm quy trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất sản phẩm (giản đơn hay phức tạp)
- Điều kiện và trình độ kế toán
- Các yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Dựa vào những căn cứ trên thì đối tượng tính giá thành có thể là: thành phẩm, bán thành phẩm, chi tiết, bộ phận sản xuất, đơn đặt hàng hay từng hạng mục công trình
Trang 30Việc xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức lập bảng tính giá thành sản phẩm giúp cho việc quản lý, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán để xác định được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Yêu cầu công tác quản lý kinh tế ở từng doanh nghiệp
Dựa vào các căn cứ trên, kỳ tính giá thành có thể là: tháng, quý, năm hay kết thúc chu kỳ sản phẩm
- Trường hợp sản xuất nhiều mặt hàng, kế hoạch sản xuất ổn định, chu
kỳ sản xuất ngắn, liên tục có sản phẩm hoàn thành nhập kho thì kỳ tính giá thành là theo tháng
- Trường hợp sản xuất theo đơn chiếc hay hàng loạt, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thành là chu kỳ sản xuất sản phẩm
1.2.4.3 P hương pháp tính giá thành sản phẩm sản xuất:
Giá thành sản phẩm sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và báo cáo hàng tồn kho cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong xác định giá bán sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ và các tài liệu liên quan để tính toán
Trang 31tổng giá thành sản xuất và giá thành đơn vị sản xuất thực tế của sản phẩm, lao
vụ đã hoàn thành theo từng đối tượng tính giá thành và từng khoản mục chi phí
Các căn cứ để lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất;
- Quy trình công nghệ sản xuất;
- Đặc điểm sản phẩm;
- Yêu cầu quản lý sản xuất và giá thành;
- Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Tùy thuộc vào điều kiện tổ chức, yêu cầu quản lý và trình độ sản xuất
mà doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp tính giá thành khác nhau:
a/ Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp tính trực tiếp)
Phương pháp này thích hợp với những sản phẩm, công việc có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ, liên tục (như sản phẩm điện, nước, than, bánh kẹo…)
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành là hàng tháng (quý) phù hợp với kỳ báo cáo
Trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ và trị giá của sản phẩm dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm hoàn thành được tính theo từng khoản mục chi phí
Ưu điểm: dễ hạch toán do số lượng mặt hàng ít, việc hạch toán thường
được tiến hành vào cuối tháng trùng với kì báo cáo nên dễ dàng đối chiếu, theo dõi
Trang 32Nhược điểm: chỉ áp dụng được cho doanh nghiệp sản xuất số lượng mặt
hàng ít, khối lượng lớn, doanh nghiệp sản xuất độc quyền một loại sản phẩm, chu kì sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang (phế liệu thu hồi) ít hoặc không đáng
kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng, hải sản các doanh nghiệp sản xuất động lực
Để phục vụ cho việc tính giá thành, kế toán doanh nghiệp lập bảng tính giá thành theo từng loại sản phẩm, dịch vụ
b/ Phương pháp tính giá thành theo hệ số:
Áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất Do vậy, để xác định giá thành cho từng loại sản phẩm chính cần phải quy đổi các sản phẩm chính khác nhau về một loại sản phẩm duy nhất, gọi là sản phẩm tiêu chuẩn theo hệ số quy đổi được xây dựng sẵn Sản phẩm có hệ số 1 được chọn làm sản phẩm tiêu chuẩn
Tổng giá thành
sản xuất
sản phẩm =
Chi phí sản xuất kinh doanh dở
dang đầu kỳ +
Chi phí sản xuất trong
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ
Trang 33Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp là phân xưởng hay quy trình công nghệ Đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính hoàn thành
Nếu trong quá trình sản xuất có sản phẩm dở dang thì cũng cần quy đổi
về sản phẩm tiêu chuẩn để xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Ưu điểm: tính được nhiều loại sản phẩm trong cùng một quy trình Nhược điểm: vấn đề lựa chọn sản phẩm nào là sản phẩm chính Các
- Xác định giá thành của từng loại sản phẩm:
Tổng giá thành sản xuất
Số lượng sản phẩm tiêu chuẩn của từng loại x
Giá thành đơn vị sản phẩm tiêu chuẩn
c/ Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ:
Thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng) v.v để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại
Trang 34Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại
Đối tượng tập hợp chi phí là nhóm sản phẩm cùng loại, đối tượng tập hợp giá thành là từng quy cách sản phẩm trong nhóm
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép phát hiện một cách nhanh chóng
những khoản chênh lệch về chi phí phát sinh thực tế so với định mức của từng khoản mục, theo từng nơi phát sinh chi phí cũng như đối tượng chịu chi phí, các nguyên nhân dẫn đến những thay đổi này v.v nên giúp cho nhà quản lý có những căn cứ đề ra những quyết định hữu ích, kịp thời nhằm tiết kiệm chi phí, ngăn chặn được những hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí đúng mục đích,
có hiệu quả nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm
Nhược điểm: Theo phương pháp này thì ngay từ đầu mỗi tháng kế toán
phải tính giá thành định mức các loại sản phẩm trên cơ sở các định mức chi phí tiên tiến hiện hành làm cơ sở cho việc tính giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm sau này Khi tính giá thành định mức các loại sản phẩm, kế toán phải tính riêng từng khoản mục chi phí cấu tạo nên giá thành sản phẩm theo những cách thức khác nhau Do đó sử dụng phương pháp này rất phức tạp
d/ Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Áp dụng trong điều kiện doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của người mua Đặc điểm phương pháp này là tính giá theo từng đơn đặt hàng, nên việc tổ chức kế toán chi phí phải chi tiết hóa theo từng đơn đặt hàng
Theo phương pháp này thì đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng cũng là đối tượng tính giá thành Giá thành cho từng đơn đặt hàng là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh kể từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến lúc hoàn thành, hay giao hàng cho khách hàng Những đơn đặt hàng chưa hoàn thành
Trang 35vào thời điểm cuối kỳ thì toàn bộ các chi phí sản xuất đã tập hợp theo đơn đặt hàng đó được coi là giá trị của những sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển sang
kỳ sau
Ưu điểm: linh hoạt, không phân biệt phân xưởng thực hiện, chỉ quan
tâm đến các đơn đặt hàng Có thể tính được chi phí sản xuất cho từng đơn đặt hàng, từ đó xác định giá bán và tính được lợi nhuận trên từng đơn đặt hàng
Nhược điểm:
- Rời rạc, chưa thống nhất nếu phân bổ ở các phân xưởng khác
- Nếu nhận đươc nhiều đơn đặt hàng sản xuất gây khó khăn trong việc sản xuất và phân bổ
- Sẽ gặp khó khăn nếu có đơn vị yêu cầu báo giá trước
e/ Phương pháp tính giá thành phân bước:
Áp dụng trong doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, quy trình sản xuất bao gồm nhiều công đoạn nối tiếp nhau theo trình tự, mỗi công đoạn chế biến một loại bán thành phẩm Bán thành phẩm của công đoạn trước là đối tượng của công đoạn sau Đặc điểm của loại hình sản xuất này là luôn có sản phẩm dở dang và sản phẩm dở dang
có thể ở tất cả các công đoạn
Đối tượng tập hợp chi phí là các giai đoạn chế biến của quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành bán thành phẩm của từng công đoạn trung gian
và thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng
Ưu điểm: các công đoạn diễn ra chặt chẽ, có kế hoạch sản xuất ổn định Nhược điểm: tính toán phức tạp, nhiều công đoạn
Trang 361.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí
1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
* Hệ thống văn bản pháp luật: là hành lang pháp lý để doanh nghiệp
triển khai thực công tác kế toán nói chung và công tác kế toán quản trị chi phí nói riêng
* Sự phát triển của khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ càng
phát triển thì việc tổ chức thực hiện công việc càng chặt chẽ, hợp lý và thông suốt hơn
1.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường doanh nghiệp:
* Đặc điểm mô hình tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
Nếu một công ty có quy mô lớn sẽ có nguồn lực đảm bảo, hệ thống
thông tin nội bộ tốt sẽ tạo điều kiện cho sự phổ biến việc thực hiện kế toán quản trị chi phí dễ dàng và nhanh chóng
Tuy nhiên các doanh nghiệp có quy mô lớn, mô hình tổ chức quản lý phức tạp thì chi phí sẽ phát sinh ở nhiều khâu với nhiều hình thức phức tạp hơn Vì vậy để thực thực công tác kế toán quản trị chi phí sẽ mất nhiều thời gian và công sức hơn
* Đặc điểm quy trình công nghệ
Mỗi một quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm khác nhau thì sẽ có các đối tượng tập hợp chi phí khác nhau Đối với quy trình sản xuất sản phẩm giản đơn thì việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sẽ đơn giản hơn Đối với các quy trình công nghệ phức tạp, quá trình sản xuất trải qua nhiều công đoạn thì việc xác định được đối tượng tập hợp chi phí sẽ khó khăn hơn và có thể sẽ xác định sai đối tượng tập hợp chi phí làm ảnh hưởng đến toàn bộ công tác kế toán quản trị chi phí của doanh nghiệp
Trang 37* Quan điểm của nhà quản lý
Mỗi nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có các quan điểm, mức độ quan tâm khác nhau đến công tác kế toán quản trị nói chung và công tác kế toán quản trị chi phí nói riêng Nếu nhà quản lý càng quan tâm, họ sẽ càng chỉ đạo và tổ chức công việc đó một cách hợp lý hơn, thường xuyên kiểm tra, giám sát giúp cho công tác kế toán quản trị được thực hiện ngày cảng tốt hơn
* Trình độ của cán bộ kế toán
Để thực hiện bất kỳ một công việc gì thì trình độ, khả năng của người thực hiện công việc đó luôn ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc Đối với công tác kế toán quản trị chi phí cũng vậy, trình
độ của người cán bộ kế toán thực hiện công tác kế toán quản trị chi phí có vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán quản trị chi phí
1.4 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu cho luận văn
Để thực hiện luận văn này, em sẽ tiến hành thu thập các số liệu, dữ liệu, thông tin về công tác kế toán quản trị chi phí của Công ty Hóa chất mỏ Thái Bình trong năm 2015
1.4.1 Các p hương pháp thu thập dữ liệu
1.4.1.1 Thu thập số liệu từ các báo cáo, sổ sách, chứng từ kế toán, các văn bản giấy tờ của Công ty
Để lấy được số liệu kế toán tổng quát nhất về Công ty, đầu tiên là việc thu thập các số liệu từ các báo cáo quyết toán tài chính, các sổ tổng hợp, sổ chi tiết kế toán
1.4.1.2 Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn là phương pháp trực tiếp hỏi các cán bộ làm công tác kế toán quản trị chi phí và mội số người khác có liên quan để nắm rõ phương pháp và cách thức thực hiện công việc của họ
Trang 381.4.1.3 Quan sát
Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành
vi ứng xử của con người Có thể dùng phương pháp này kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập
Có hai phương pháp quan sát là quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp:
- Quan sát trực tiếp: là quan sát khi sự kiện đang diễn ra
- Quan sát gián tiếp: là quan sát kết quả hay tác động của hành vi, chứ không trực tiếp quan sát hành vi
1.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
1.4.2.1 P hương pháp thống kê mô tả
Thống kê là một hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục
vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định Có 2 phương pháp thống kê là thống kê mô tả và thống kê suy luận
- Thống kê mô tả bao gồm các phương pháp liên quan đến việc thu thập
số liệu, tổng hợp, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu Các phương pháp được sử dụng để tổng kết dữ liệu: lập bảng số liệu tóm tắt, đồ thị, thống kê tóm tắt mô tả dữ liệu
1.4.2.2 P hương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêu chuẩn để so sánh thường là: chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các ký kinh doanh đã qua
Trang 39Điều kiện để so sánh là: các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán
Phương pháp so sánh có 2 hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu
kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của
số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng
1.4.2.3 P hương pháp phân tích chi tiết
- Phân tích chi tiết theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu (chi tiết theo nội dung)
- Phân tích chi tiết theo thời gian (năm, quý, tháng, tuần)
- Phân tích chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh (phân xưởng,
tổ đội, trong sản xuất và ngoài sản xuất)
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Kế toán quản trị chi phí là bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý Chương này của luận văn đã phân tích những nội dung chủ yếu của kế toán quản trị chi phí, bào gồm phân loại chi phí, xác định đối tượng tập hợp chi phí, xác định phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm phù hợp cho việc ra các quyết định kinh doanh và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày tổ chức
mô hình kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí cần tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị để có thể phát huy tốt nhất vai trò của kế toán quản trị chi phí Đây là
cơ sở lý luận cho việc phản ánh thực trạng về kế toán quản trị chi phí và tìm
ra những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Hóa chất
mỏ Thái Bình - Micco