1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không

215 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho các nhà quản trị tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam, vấn đề Hoàn thiện tổ chức k

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài :

Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tận dụng mọi cơ hội, huy động và sử dụng tối ưu các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài để đứng vững, chiến thắng trong cạnh tranh và không ngừng phát triển nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận Mọi doanh nghiệp luôn phải tối ưu hoá hoạt động, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở chiến lược, sách lược quản trị doanh nghiệp đúng đắn

Phát triển nền kinh tế thị trường, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế không thể khác của nền kinh tế Việt Nam Việc gia nhập WTO của Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn cho các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi các chủ thể doanh nghiệp Việt Nam phải đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời để tận dụng cơ hội, hạn chế các rủi ro, hướng tới tồn tại và phát triển

Được sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ, Tổng công ty Hàng không Việt Nam được trang bị ngày càng hiện đại và từng bước trưởng thành, phấn đấu trở thành một hãng hàng không có tên tuổi của khu vực Để đạt được điều đó Tổng công ty Hàng không Việt Nam phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý, triệt để tiết kiệm, hợp lý hoá sản xuất kinh doanh, nhằm hạ giá thành, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải Kế toán quản trị đã bước đầu trở thành công

Trang 2

cụ để cung cấp thông tin, giúp các nhà quản trị của Tổng công ty Hàng không Việt Nam thực hiện mục tiêu đề ra một cách chắc chắn

và hiệu quả

ở Việt Nam hiện nay nói chung và tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam nói riêng, kế toán quản trị còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự là công cụ cung cấp thông tin giúp cho nhà quản trị xem xét, phân tích, làm cơ sở ra các quyết định Điều này có ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng và hiệu quả của các quyết định quản trị và là một trong các nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế khi tham gia thị trường thế giới

Nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho các nhà quản trị tại

Tổng công ty Hàng không Việt Nam, vấn đề Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam

thực sự là vấn đề cấp thiết cần đựơc sớm nghiên cứu và đưa vào thực hiện

2 Mục đích nghiên cứu:

- Làm rõ những vấn đề thuộc về lý luận của tổ chức kế toán quản trị chi phí loại hình kinh doanh dịch vụ trong việc phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp

Trang 3

- Nghiên cứu thực trạng của tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải Hàng không tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam.

- Vận dụng lý luận để đưa ra giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị tăng cường năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Hàng không Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề thuộc tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không trong phạm vi Hãng hàng không quốc gia Việt Nam Bao gồm chi phí dịch vụ vận tải phát sinh tại các đơn

vị thành viên phục vụ bay trực tiếp (các chi phí phát sinh trên không, chi phí phục vụ mặt đất); chi phí bán hàng của Văn phòng trong nước và Văn phòng đại diện của Hãng tại nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu:

-Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp lý luận cơ bản của khoa học kinh tế làm phương pháp chủ đạo nghiên cứu

- Sử dụng hệ thống phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, cân đối

5 Những đóng góp của đề tài:

Trang 4

* Về lý luận: Hệ thống hoá và hoàn thiện những vấn đề lý luận

về tổ chức kế toán quản trị chi phí với việc tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp kinh doanh vận tải

* Về thực tiễn: Thông qua việc phân tích thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam, đề tài đưa ra các giải pháp hoàn thiện, phù hợp với thực tế cho việc tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không, nhằm mục đích tăng cường hiệu quả công tác quản trị tại Tổng công

ty Hàng không Việt Nam

6 Tên và kết cấu của luận văn:

- Tên luận văn: “ Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải Hàng không với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam”.

- Kết cấu của luận văn: Gồm 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về tổ chức kế toán quản trị chi phí sản

xuất với việc

tăng cường quản trị doanh nghiệp kinh doanh vận tải

Chương II : Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải

hàng không tại

Tổng công ty Hàng không Việt Nam hiện nay

Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế

toán quản trị

Trang 5

chi phí vận tải hàng không nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp tại

Tổng công ty Hàng không Việt Nam

Trang 6

1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị

Cùng với sự ra đời và phát triển của các phương thức sản xuất khác nhau của xã hội loài người, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các chuyên ngành khoa học, khoa học quản lý cũng phát triển nhanh chóng, trong đó có chuyên ngành về kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra trong hoạt động kinh tế của con người.Cho tới nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm

kế toán quản trị, các quan điểm này khác nhau ở các quốc gia khác nhau, các giai đoạn phát triển khác nhau về nhận thức vai trò kế toán quản trị trong quản trị kinh doanh Có thể tổng kết các quan điểm về kế toán quản trị phát triển qua 04 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Kế toán quản trị là thông tin để kiểm soát và định hướng chi phí sản xuất

- Giai đoạn 2: Kế toán quản trị là thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Giai đoạn 3: Kế toán quản trị là thông tin để giảm tổn thất về các nguồn lực kinh tế sử dụng trong qui trình sản xuất kinh doanh

Trang 7

- Giai đoạn 4: Kế toán quản trị là thông tin để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế tạo ra giá trị.

Tóm lại: Các quan điểm về kế toán quản trị dù có khác nhau qua các giai đoạn, nhưng có điểm chung là thông tin phục vụ quyết định quản lý, đề cao tính hữu ích của thông tin cho công tác quản lý hơn

là thiết lập hệ thống thông tin toàn diện cho yêu cầu quản lý Cho tới nay còn tồn tại hai quan điểm chính về kế toán quản trị:

- Quan điểm thứ nhất:

Kế toán quản trị là việc ghi chép nhằm thu thập, xử lý, truyền đạt các thông tin chi tiết, cụ thể về các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, phục vụ cho quản lý và điều hành doanh nghiệp

Theo quan điểm này kế toán quản trị đồng nghĩa với kế toán chi tiết, có liên hệ mật thiết với kế toán tài chính, đó là việc ghi chép, phản ánh các số liệu chi tiết bao gồm cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị, nhằm cung cấp thông tin chi tiết hơn cho nhà quản trị mà kế toán tài chính chưa cung cấp được

- Quan điểm thứ hai:

Kế toán quản trị là hệ thống đo lường, thu thập, tổng hợp và xử lý các thông tin phục vụ cho công tác quản lý từ việc lập kế hoạch, điều hành, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp

Theo quan điểm này, kế toán quản trị là bộ phận cấu thành nên

hệ thống kế toán, nhưng có phạm vi rất rộng, các thông tin mà nó theo dõi, xử lý không chỉ là thông tin kế toán chi tiết mà còn là

Trang 8

thông tin xây dựng kế hoạch, lập dự toán chi phí, định giá sản phẩm, lựa chọn phương án đầu tư, phân tích kết quả hoạt động của từng bộ phận và của cả doanh ngihệp.

Dù có những ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại, các quan điểm đều thống nhất:

Kế toán quản trị là bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập,

xử lý, truyền đạt các thông tin về tình hình tài sản, tình hình sử dụng các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh phục vụ cho công tác quản trị của doanh nghiệp

Ở Việt Nam, quan điểm về kế toán quản trị được thể hiện tại Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 như sau:

Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh

tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán

Việc áp dụng kế toán quản trị tại Việt Nam được hướng dẫn tại Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Tổ chức kế toán nói chung, kế toán quản trị nói riêng là sự kết hợp các nghiệp vụ kỹ thuật để xây dựng mô hình, thiết kế hệ thống

và vận hành hệ thống kế toán để đáp ứng yêu cầu là thu thập, xử lý

và cung cấp thông tin kế toán Đối với kế toán quản trị, các thông tin kế toán được tổ chức phục vụ cho nhà quản trị các cấp ra các

Trang 9

quyết định, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho quá trình sản xuất kinh doanh.

Để thực hiện được chức năng của kế toán quản trị, công tác tổ chức kế toán quản trị phải bám sát đặc điểm tình hình , lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý của doanh nghiệp

để có thể cung cấp cho nhà quản trị các cấp các thông tin có giá trị

vụ kế toán quản trị và của nhà quản trị nhân lực trong doanh nghiệp

* Tổ chức các phần việc công tác kế toán quản trị:

- Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu, qui trình thu thập, luân chuyển và lưu trữ chứng từ Hệ thống chứng từ ban đầu phải đáp ứng yêu cầu kịp thời, chính xác, trung thực, đầy đủ, phản ánh chính xác thực trạng hoạt động kinh doanh trong mọi thời điểm

- Tổ chức nhận diện và phân loại chi phí theo các tiêu chí phù hợp cho việc xử lý và cung cấp thông tin cho quản trị Việc nhận diện và phân loại chi phí một cách chính xác sẽ tạo cơ sở cho việc

Trang 10

xử lý thông tin đúng hướng, đáp ứng nhu cầu phân tích và sử dụng thông tin cho quản trị doanh nghiệp.

- Tổ chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán quản trị: Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp, do vậy, việc tổ chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán, trình tự ghi chép phải được thiết kế phù hợp với hệ thống tài khoản và sổ kế toán tài chính mà doanh nghiệp đã lựa chọn, để các thông tin có thể tìm kiếm và so sánh được giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

- Tổ chức xử lý thông tin một cách toàn diện trên cả thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin cho tương lai bằng các nghiệp vụ

kỹ thuật cụ thể Công việc cần thiết của kế toán quản trị trong doanh nghiệp là lập dự toán ngân sách, dự toán về doanh thu, về lợi nhuận,

về hàng tồn kho, công nợ và thu thập thông tin thực tế đang diễn

ra trên tất cả lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó so sánh với dự toán ban đầu nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu, giúp cho nhà quản trị ra các quyết định kịp thời đúng đắn để đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị: Đây là sản phẩm của

kế toán quản trị với hệ thống thông tin chân thực, dễ hiểu, dễ sử dụng có thể so sánh được trên nhiều giác độ, giúp nhà quản trị sử dụng cho việc ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn

- Tổ chức phân tích số liệu trên báo cáo kế toán quản trị: Các thông tin trên báo cáo kế toán quản trị phải được phân tích bởi các

Trang 11

chuyên gia có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, nhằm chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng và dự báo sự biến động của các nhân tố tác động đến hệ thống các chỉ tiêu.

1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị

Thông tin kế toán quản trị là một trong các nguồn cung cấp thông tin cho nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành sản xuất Các nhà quản trị điều hành sản xuất kinh doanh thông qua các chức năng quản lý, còn kế toán quản trị sử dụng các phương pháp riêng để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt thông tin trong bối cảnh của các mục tiêu đã được xác định, với các tình huống khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị

1.1.2.1 Cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch

Kế hoạch chi phí sản xuất thường được thể hiện dưới dạng các dự toán Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó

Dự toán là công việc quan trong trong việc lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị

Để xây dựng được kế hoạch một cách sát thực, khoa học, có tính khả thi cao thì các thông tin kế toán quản trị là một nguồn thông tin

vô cùng quan trọng

1.1.2.2 Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện

Trang 12

Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các nguồn lực để đạt tới mục tiêu đã định của doanh nghiệp Trong quá trình điều hành sản xuất, nhà quản trị phải nắm chắc tình hình sử dụng các nguồn lực và có các quyết định điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu với hiệu quả cao, quá trình này thông tin kế toán toán quản trị là kênh vô cùng quan trọng và là nhu cầu không thể thiếu được của các nhà quản trị.

1.1.2.3 Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá là chức năng quan trọng của công tác quản trị Phương pháp được áp dụng thường là phương pháp so sánh, các thông tin thực hiện sản xuất kinh doanh được so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch, số liệu của dự toán, từ đó nhận diện và tìm ra nguyên nhân sự chênh lệch để có giải pháp điều chỉnh

Kế toán quản trị cung cấp thông tin dưới dạng có thể so sánh được, các cấp quản trị có thể dễ dàng kiểm tra, đối chiếu để có các quyết định kịp thời, chính xác nhằm đạt đước mục tiêu đã đề ra

1.1.2.4 Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định

Ra quyết định không phải là chức năng riêng biệt của quản trị, nó

là sự kết hợp của cả quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá

Để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, kế toán quản trị sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp, chọn lọc thông tin cần thiết, rồi trình bầy theo những tiêu thức nhất định, dễ hiểu, tiến hành

Trang 13

các kỹ thuật phân tích trong các tình huống khác nhau và cung cấp cho nhà quản trị

1.1.3 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị:

- Đối tượng của kế toán quản trị:

+ Kế toán quản trị có đối tượng của kế toán nói chung đó là tài sản của doanh nghiệp dưới dạng các số liệu chi tiết theo yêu cầu công tác quản trị Để đáp ứng nhu cầu cho việc ra các quyết định quản lý, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin chi tiết, liên tục, tin cậy về sự vận động của tài sản doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh

+ Kế toán quản trị phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dưới dạng chi tiết nhất, tạo cơ sở dữ liệu cho việc phân tích

sự ảnh hưởng, tác động của các nhân tố trong mối quan hệ tổng thể của các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng cho SXKD

+ Kế toán quản trị phản ánh, mô tả tình trạng hoạt động của doanh nghiệp theo quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực vào SXKD Nó được thiết kế để cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp

và chỉ được sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với đối tượng bên ngoài doanh nghiệp

+ Kế toán quản trị không những được áp dụng trong các doanh nghiệp mà còn được áp dụng trong các tổ chức bộ máy Nhà nước, các đoàn thể…nhằm giúp cho các nhà quản lý có các thông tin hệ

Trang 14

thống, chân thực về các nguồn lực thuộc quyền quản lý, từ đó có cơ

sở ra các quyết định quản lý đúng đắn

- Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị:

+ Mục tiêu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin kinh tế, tài chính của một thực thể kinh tế Những thông tin của kế toán quản trị hướng tới tương lai trong quá trình lập kế hoạch, lập dự toán ngân sách, giám sát các hoạt động của thực thể kinh tế thông qua hệ thống thông tin có thể so sánh được giữa thực tế với dự toán, nhằm hướng hoạt động của doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã được lựa chọn

+ Nhiệm vụ cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin tài chính cho các nhà quản trị Do vậy, các doanh doanh nghiệp cần thiết phải tổ chức được hệ thống kế toán quản trị để thiết lập dự toán ngân sách, chi phí, dự toán tiêu thụ sản phẩm, dự toán doanh thu và kết quả kinh doanh cho từng công đoạn sản xuất, từng thời kỳ hoạt động

1.1.4 Kế toán quản trị với chức năng quản lý:

Quá trình quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện

kế hoạch, ra các quyết định điều chỉnh để hướng tới các mục tiêu xác định Xuyên suốt quá trình này kế toán quản trị cung cấp thông tin cần thiết về thực thể quản lý để phục vụ cho quá trình quản lý

- Giai đoạn lập kế hoạch và dự toán: Kế toán quản trị cung cấp thông tin tin cậy cho các nhà hoạch định kế hoạch bằng hệ thống

Trang 15

thông tin từ các định mức kinh tế, kỹ thuật đặc trưng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và hệ thống các thông tin thu thập được trong quá khứ cùng với các dự báo cho tương lai, từ đó các nhà quản trị có cơ sở để lập kế hoạch, lập dự toán ngân sách và hoạch định các giải pháp để khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp cho hoạt động kinh doanh.

- Giai đoạn tổ chức thực hiện: Trong giai đoạn này, kế toán quản trị giám sát sự vận động của các nguồn lực thông qua hệ thống thông tin có thể so sánh với dự toán, phân tích được sự ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu cần quan tâm, giúp nhà quản trị phát hiện vấn đề và ra các quyết định điều chỉnh

- Kiểm soát việc thực hiện kế hoạch: Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch bằng phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu thực tế với số liệu trên dự toán kế hoạch, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng khâu công việc, giải trình các nguyên nhân gây nên chênh lệch

- Cung cấp các thông tin cho việc ra các quyết định của nhà quản trị: Các thông tin của kế toán quản trị được thiết kế phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh, nhu cầu và trình độ của nhà quản trị dưới dạng hệ thống các chỉ tiêu, báo cáo dễ dàng sử dụng cho việc

ra các quyết định

1.1.5 Phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính:

Trang 16

Kế toán quản trị và kế toán tài chính là bộ phận trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp, chúng có mối quan hệ chặt chẽ khăng khít nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt nhau.

- Giống nhau: Đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế

toán và biểu hiện trách nhiệm của người quản lý Hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính là cơ sở để lập các báo cáo tài chính, cung cấp thông tin cho đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp Đối với kế toán quản trị, hệ thống ghi chép ban đầu làm

cơ sở để xử lý, cung cấp thông tin một cách hệ thống, thiết thực cho nhà quản trị doanh nghiệp

- Khác nhau: Do nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin khác

nhau, nên kế toán tài chính và kế toán quản trị có điểm khác nhau:

Bảng 1.1: Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài

chính

CĂN CỨ PHÂN

BIỆT KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

KẾ TOÁN TÀI CHÍNHĐối tượng phục

vụ

Các nhà quản trị trong doanh nghiệp

Chủ yếu đối tượng ngoài doanh nghiệpĐặc điểm của

thông tin

Hướng về tương lai, linh hoạt, tốc độ, thích hợp

Phản ánh quá khứ, khách quan, chính xácPhạm vi báo cáo Từng bộ phận, từng giai

đoạn

Toàn doanh nghiệp

Trang 17

Hệ thống phương

pháp

Các phương pháp kế toán và các chuyên ngành khác

Các phương pháp tính toán của kế toán

Tính pháp lệnh Không mang tính pháp

lệnh

Mang tính pháp lệnh cao

Kỳ báo cáo Thường xuyên, theo yêu

cầu

Theo định kỳ, quí, năm

1.1.6 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất:

Căn cứ vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán quản trị của nhà quản trị mà kế toán quản trị được thiết lập cho phù hợp từng doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghệp có qui mô khác nhau, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, trình độ quản lý khác nhau sẽ có nội dung và phạm vi kế toán quản trị khác nhau Để nghiên cứu nội dung của kế toán quản trị, ta xem xét trên các phương diện sau:

1.1.6.1 Xét theo phương diện kế toán quản trị là một bộ phận của

kế toán của doanh nghiệp

- Kế toán quản trị chi phí : Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin về tình hình hao phí các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh tại từng thời điểm, từng công đoạn của qui trình sản xuất kinh doanh Phân loại và nhận diện đúng chi phí nhằm thu thập thông tin

về chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh

Trang 18

- Kế toán quản trị doanh thu: Theo yêu cầu của công tác quản trị,

kế toán quản trị doanh thu cung cấp thông tin về doanh thu tiêu thụ trên thị trường và doanh thu tiêu thụ nội bộ, doanh thu theo từng loại hình kinh doanh, từng loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ

- Kế toán quản trị kết quả kinh doanh: Kế toán quản trị kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại hình kinh doanh theo yêu cầu của quản trị, các thông tin phải được cung cấp đồng bộ từ chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, giá vốn hàng hoá tới việc chi tiết doanh thu, tình hình tiêu thụ từng loại sản phẩm, dịch vụ

- Kế toán quản trị hàng tồn kho: Căn cứ vào nội dung kinh tế và vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất hàng hoá, kế toán quản trị hàng tồn kho phân thành nguyên vật liệu chính; nguyên vật liệu phụ; nhiên liệu; phụ tùng thay thế; các vật liệu khác kế toán quản trị hàng tồn kho cung cấp thông tin để đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực thông qua tình hình tồn kho của doanh nghiệp trong từng giai đoạn

- Kế toán quản trị công cụ dụng cụ: Căn cứ vào nội dung kinh tế

và công dụng của công cụ, dụng cụ, kế toán quản trị phân thành công cụ, dụng cụ; bao bì luân chuyển; đồ dùng cho thuê kế toán quản trị cung cấp thông tin về tình hình sử dụng công cụ dụng cụ cho SXKD

- Kế toán quản trị tài sản cố định: Kế toán quản trị cung cấp thông tin một cách có hệ thống về sự hình thành, khai thác sử dụng

Trang 19

tài sản cố định cho SXKD, giúp nhà quản trị có cơ sở ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đầu tư và sử dụng hiệu quả tài sản

cố định

Kế toán quản trị phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện kết hợp với đặc trưng kỹ thuật thành tài sản cố định hữu hình; tài sản cố định vô hình

Kế toán quản trị phân loại tài sản theo quyền sở hữu thành tài sản

cố định tự có và tài sản cố định thuê ngoài

Kế toán quản trị phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng thành tài sản cố định đang dùng và tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý

1.1.6.2 Xét theo phương diện kế toán quản trị cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định kinh doanh

Kế toán quản trị bao gồm:

- Lập kế hoạch và dự toán ngân sách: Lượng hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thành hệ thống các chỉ tiêu kinh tế; lập dự toán chung và dự toán chi tiết cho từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hình kinh doanh

- Thu thập các thông tin về tình hình thực hiện các dự toán thông qua hệ thống báo cáo hoạt động, phân tích thông tin trên báo cáo để tìm ra nhân tổ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu và nêu ý kiến đề xuất cho nhà quản trị

Như vậy, kế toán quản trị bao trùm toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, nó là công cụ hữu hiệu để giúp nhà quản trị các cấp

Trang 20

ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, kịp thời để hướng hoạt động của doanh nghiệp tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động của doanh nghiệp đều có các mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn, để xác định và thực hiện được các mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn, doanh nghiệp đều phải xử lý một lượng thông tin nhất định, cần thiết cho việc xem xét, đánh giá, lượng hóa sự vận động của các nguồn lực mà doanh nghiệp hiện có, cũng như cần phải có để đạt được các mục tiêu đó.

+ Quyết định dài hạn thường là các quyết định cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược đầu tư có liên quan đến việc thay đổi khả năng sản xuất của doanh nghiệp, như quyết định mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư chiều sâu thay đổi công nghệ đòi hỏi phải huy động nguồn lực lớn về tài chính trong thời gian dài, thường là trên một năm Kế toán quản trị phải cung cấp thông tin có tính hệ thống cao, liên quan đến việc phản ánh xu hướng vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp, xu hướng phát triển của công nghệ và các dự báo dài hạn về thị trường, về công nghệ, về sản phẩm giúp nhà quản trị có cơ sở suy xét cho việc ra các quyết định có nên đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ hay không? có nên mua sắm thiết bị máy móc hay là thuê các quyết định này có ảnh hưởng lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn

+ Quyết định ngắn hạn là những quyết định để giải quyết các vấn

đề phát sinh như trục trặc của qui trình công nghệ, tình hình cung

Trang 21

cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, nhiên liệu, thiếu hụt lao động dựa vào các thông tin của kế toán quản trị, căn cứ vào các chỉ tiêu trên dự toán, nhà quản trị các cấp

có cơ sở để ra các quyết định điều chỉnh, để huy động và sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực phù hợp cho việc hoàn thành các chỉ tiêu của kế hoạch đã vạch ra Các quyết định ngắn hạn thường có thời hạn là dưới 1 năm, tháng, quí và có thể là hàng ngày Các thông tin của kế toán quản trị chi phí sản xuất, phục vụ cho các quyết định ngắn hạn phải kịp thời, đầy đủ, tin cậy, dễ hiểu, dễ sử dụng, có thể

so sánh, đối chiếu, phân tích phục vụ cho việc đưa ra quyết định kịp thời, đúng đắn nhằm khắc phục các biến cố, đưa việc sản xuất kinh doanh đạt được mục tiêu kế hoạch

Hoạt động của doanh nghiệp vận tải nói chung, của Tổng công ty Hàng không Việt Nam nói riêng, do đặc điểm hoạt động vận tải cần phải trang bị phương tiện vận tải có giá trị rất lớn, các chi phí sản xuất phát sinh có giá trị lớn, phức tạp, quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ vận tải xảy ra đồng thời thông tin kế toán quản trị phục vụ

ra quyết định quản trị dài hạn, quyết định quản trị ngắn hạn của doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không có phạm vi rất rộng Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả đi sâu vào nội dung tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định ngắn hạn của nhà quản trị các cấp

1.2 Chi phí sản xuất và tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất

Trang 22

1.2.1 Chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ vận tải

Chi phí sản xuất là những hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà người sản xuất hàng hóa đã bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, để bán trên thị trường Chi phí cho sản xuất được bảo toàn và di chuyển vào giá trị của hàng hóa và dịch vụ mới được tạo ra Khác với chi tiêu là khoản chi được sử dụng cho việc thỏa mãn cho nhu cầu của cá nhân hoặc của một tổ chức, sau khi được tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đó hết giá trị

Cũng như các loại hình kinh doanh vận tải khác, kinh doanh dịch

vụ vận tải hàng không cũng là sự kết hợp của các yếu tố đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Dịch vụ vận tải hàng không cung ứng lao vụ, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, bưu kiện của con người, sản phẩm dịch vụ vận tải hàng không không mang hình thái vật chất cụ thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ thường gắn liền với nhau Chi phí sản xuất của dịch vụ vận tải hàng không là toàn bộ sự hao phí về lao động sống

và lao động vật hóa phát sinh phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Các chi phí sản xuất của vận tải hàng không thường đa dạng, phức tạp, phát sinh cả trên không và mặt đất với giá trị rất lớn như chi phí nhiên liệu, khấu hao máy bay, lương cho phi hành đoàn và phục vụ mặt đất các chi phí này phát sinh trên nhiều quốc gia, biểu hiện bằng nhiều đồng tiền khác nhau Việc tổ chức quản trị chi phí vận tải hàng không là việc làm vô cùng cần thiết cho Hẵng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay, nhằm

Trang 23

khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho dịch vụ vận tải hàng không, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Vấn đề được đặt ra là để tăng cường và hoàn thiện công tác quản trị chi phí vận tải hàng không thì hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng

không là việc làm rất cấp thiết nhằm cung cấp thông tin có hệ thống, kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc ra các quyết định quản trị chi phí Do vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả nghiên cứu vấn

đề hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam, nhằm đi sâu vào việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị, cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định ngắn hạn của nhà quản trị các cấp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam hiện nay

1.2.1.1 Chi phí dịch vụ vận tải hàng không

* Chi phí dịch vụ vận tải:

Chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ vận tải là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp vận tải đã bỏ ra để hoàn thành sản phẩm lao vụ, dịch

vụ trong một thời kỳ nhất định

Cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác, chi phí kinh doanh dịch vụ vận tải bao gồm nhiều loại chi phí khác nhau về nội dung,

Trang 24

tính chất, công dụng và vai trò của các loại chi phí trong quá trình sản xuất Do đặc điểm sản phẩm dịch vụ vận tải không có hình thái vật chất, việc sản xuất và tiêu thụ đi cùng với nhau, kết quả của dịch

vụ là hàng hóa hoặc hành khách được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, nên chi phí dịch vụ vận tải cũng có những đặc thù riêng, quá trình sản xuất không diễn ra ở cố định trong nhà xưởng mà nó phát sinh trên đường vận chuyển hàng hóa, hành khách

Cũng như các doanh nghiêp sản xuất vật chất, các khoản chi của doanh nghiệp kinh doanh vận tải không phải được hạch toán toàn bộ vào chi phí dịch vụ vận tải trong kỳ, mà tùy theo nội dung, tính chất

và mục đích của các khoản chi mà kế toán và các nhà quản trị chỉ hạch toán các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ vào giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải trong kỳ Các khoản chi không được tính vào chi phí dịch vụ vận tải như chi phí hoạt động tài chính (cho thuê TSCĐ, mua trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, thanh lý TSCĐ ); các khoản chi cho thi đua khen thưởng, trợ cấp khó khăn; các khoản chi đã được Chính phủ hoặc người gây thiệt hại đền bù

* Chi phí dịch vụ vận tải hàng không:

Chi phí dịch vụ vận tải hàng không là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không đã bỏ ra để tạo ra sản phẩm dịch vụ vận tải hàng không trong một thời kỳ nhất định

Các chi phí cho dịch vụ vận tải hàng không bao gồm chi phí nhiên liệu cho máy bay và cho phương tiện phục vụ mặt đất, chi phí

Trang 25

nhân công, chi phí cho dịch vụ thương mại kỹ thuật, chi phí bay qua bầu trời, chi cho sân bay, chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa bảo dưỡng, chi phí đào tạo

Do đặc điểm của hoạt động vận tải hàng không, nên chi phí vận tải hàng không có những điểm khác biệt so với các loại hình kinh doanh khác:

- Không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

- Máy bay và động cơ là hai bộ phận kỹ thuật được quản lý và sử dụng theo những tiêu chuần khác biệt, các chi phí khấu hao, bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa, thay thế có hệ thống tiêu chuẩn khác nhau theo quy định thống nhất của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO)

- Phạm vi hoạt động của dịch vụ vận tải hàng không rất lớn, hàng ngày hoạt động trên nhiều lãnh thổ quốc gia, phát sinh chi phí tính bằng nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau, giá cả các dịch vụ phục vụ bay khác nhau, văn hóa, tập quán khác nhau của các quốc gia cũng ảnh hưởng đáng kể đến chi phí của dịch vụ vận tải hàng không

- Các hoạt động trung chuyển của các hãng hàng không cho nhau trên nhiều chặng bay, đường bay (theo qui định của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế IATA) cũng góp phần làm cho chi phí dịch vụ vận tải hàng không đa dạng, phức tạp

Đối với Hẵng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay, sản phẩm dịch vụ chủ yếu là vận chuyển hành khách, còn vận chuyển hàng

Trang 26

hóa chỉ là hoạt động kết hợp, nên các chi phí dịch vụ vận tải hàng không chủ yếu là được tính toán và xem xét trên chỉ tiêu hành khách vận chuyển (số lượng hành khách, số hành khách km vận chuyển) Trong khi đó các Hẵng hàng không lớn khai thác sân bay nước ta như Singapore Airlines, Air France, American Airlines khai thác mạnh cả hành khách và hàng hóa, các chi phí của các hãng này được xem xét, đánh giá trên nhiều chỉ tiêu liên quan đến hành khách

và hàng hóa

* Giá thành dịch vụ vận tải hàng không:

Giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoàn thành

Giá thành dịch vụ vận tải là giới hạn bù đắp chi phí vận tải, là căn

cứ để xác định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, là cơ sở để tính giá cả cước vận chuyển Giá thành vận tải là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả khai thác sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp và tính

ưu việt của mô hình tổ chức quản lý mà doanh nghiệp đang áp dụng.Giá thành dịch vụ vận tải hàng không là toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng dịch vụ vận tải

Cũng như các ngành kinh doanh vận tải khác như đường bộ, đường thủy, ngành vận tải hàng không Việt Nam đang hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng lớn cùng với quá trình hội

Trang 27

nhập kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam Muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh, ngành hàng không Việt Nam bắt buộc phải nhanh chóng hợp

lý hóa sản xuất, cơ cấu lại tổ chức, đầu tư chiều sâu nâng cao trình

độ công nghệ và trình độ quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để hạ giá thành sản phẩm

Giá thành dịch vụ vận tải hàng không được chia thành các loại sau:

- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được tính toán trước khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch hay dự toán chi phí

- Giá thành định mức: Là giá thành được tính toán trên cơ sở các định mức chi phí, định mức kinh tế kỹ thuật của ngành

- Giá thành thực tế: Là giá thành được tính toán, tập hợp chi phí cho đối tượng tính giá thành trên cơ sở các chi phí hợp lý, hợp lệ phát sinh thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành một khối lượng công việc dịch vụ vận tải trong kỳ

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành dịch vụ vận tải hàng không

Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thường có các khoản chi phí trích trước và chi phí chờ phân bổ rất lớn (chi phí sửa chữa, bảo dưỡng máy bay; chi phí thay thế khí tài, phụ tùng hao mòn ), việc xác định giá thành chính xác cho từng đối tượng (chuyến bay, đường bay, chặng bay ) để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh doanh

Trang 28

là rất quan trọng Để tăng cường hiệu quả công tác quản trị kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không cần đặc biệt quan tâm đến tính chính xác các chỉ tiêu chi phí và giá thành cho dịch vụ vận tải hàng không.

Chi phí và giá thành có mối quan hệ nhân quả, mật thiết với nhau, là hai mặt khác nhau của một quá trình sản xuất, chi phí càng thấp thì giá thành càng hạ

Chi phí sản xuất và giá thành có những điểm khác nhau về phạm

vi và hình thái biểu hiện:

- Chi phí sản xuất dịch vụ vận tải hàng không không có chi phí

dở dang, chi phí thường phát sinh gắn với sản phẩm dịch vụ hoàn thành trong kỳ Các chi phí sản xuất dịch vụ vận tải hàng không được tính trong phạm vi giới hạn của kỳ kinh doanh nhất định, cho một đối tượng nhất định

- Chi phí sản xuất dịch vụ vận tải hàng không và giá thành có thể khác nhau về lượng, do:

+ Giá thành sản phẩm có thể không bao gồm các chi phí phát sinh trong kỳ này, nhưng đã được hạch toán trích trước cho các đối tượng kỳ trước

+ Giá thành sản phẩm có thể bao gồm các khoản chi phí chưa phát sinh kỳ này mà được lập kế hoạch trích trước cho kỳ sau

+ Giá thành có thể bao gồm chi phí phát sinh ở kỳ kinh doanh trước được tính và phân bổ cho kỳ này

Trang 29

1.2.2 Phân loại chi phí vận tải hàng không

Chi phí vận tải có thể phân chia thành nhiều loại, theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy theo yêu cầu của công tác quản lý để lựa chọn các tiêu thức phân loại khác nhau đáp ứng mục đích, yêu cầu quản trị chi phí Trong các doanh nghiệp vận tải thường có một số tiêu thức phân loại chủ yếu:

1.2.2.1 Phân loại chi phí theo công dụng chi phí

Theo cách phân loại này, chi phí vận tải được sắp xếp theo các khoản mục có công dụng kinh tế khác nhau trong quá trình tham gia hoạt động SXKD Mỗi loại hình vận tải đều có những đặc điểm,

do vậy công dụng của các chi phí tham gia quá trình sản xuất cũng

có nét đặc trưng riêng khác nhau Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế có ý nghĩa to lớn trong việc quản trị chi phí theo từng khoản mục chi phí, kiểm soát được tình hình biến động và nguyên nhân tăng, giảm của các khoản mục chi phí, từ đó có giải pháp điều chỉnh phù hợp

* Doanh nghệp kinh doanh vận tải ô tô:

Các chi phí được phân loại theo công dụng kinh tế bao gồm:

- Tiền lương và các khoản trích theo lương của lái xe, phụ xe

- Nhiên liệu

- Vật liệu, phụ tùng thay thế

- Chi phí vật tư tiêu hao như săm, lốp, ắc qui

- Chi phí khấu hao

- Chi phí sửa chữa lớn

Trang 30

- Chi phí công cụ, dụng cụ

- Chi phí dịch vụ mua ngoài

- Các chi phí khác

* Doanh nghiệp vận tải đường thủy:

Các chi phí được phân chia theo công dụng kinh tế gồm:

- Tiền lương và các khoản trích theo lương của lái chính, phụ lái

và tổ máy

- Nhiên liệu và động lực

- Vật liệu, phụ tùng thay thế

- Chi phí thuê tầu

- Chi phí khấu hao

- Chi phí sửa chữa lớn

- Chi phí công cụ, dụng cụ

- Chi phí dịch vụ mua ngoài

- Các chi phí khác

* Doanh nghiệp vận tải hàng không

Các chi phí phân loại theo công dụng kinh tế gồm

- Chi phí nhiên liệu cho máy bay và phương tiện mặt đất

- Chi phí lương và các khoản trích theo lương của phi hành đoàn

- Chi phí thuê phương tiện

- Chi phí phục vụ bay

- Chi phí bảo hiểm

- Chi phí khấu hao TSCĐ

- Chi phí bảo dưỡng máy bay

Trang 31

- Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi tỷ lệ với thuận với mức độ SXKD của doanh nghiệp Có nghĩa là, khi hoạt động SXKD tăng (hoặc giảm), doanh thu tăng (hoặc giảm) thì chi phí biến đổi cũng tăng (hoặc giảm) một tỷ lệ tương ứng.

Chi phí biến đổi trên đơn vị sản phẩm không thay đổi, tỷ suất chi phí trên doanh thu không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể Trong kinh doanh vận tải, việc tỷ suất thay đổi nhiều hay ít tùy thuộc vào tốc độ tăng doanh thu và tốc độ tăng chi phí biến đổi Chi phí biến đổi có thể chia ra làm hai loại: Chi phí biến đổi tỷ lệ

và chi phí biến đổi cấp bậc

+ Chi phí biến đổi tỷ lệ: Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ trực tiếp đến mức độ hoạt động SXKD

+ Chi phí biến đổi cấp bậc: Là những khoản chi phí không liên quan tỷ lệ trực tiếp đến mức độ hoạt động, khi hoạt động SXKD vượt quá mức độ hoạt động giới hạn bình thường thì chi phí này

Trang 32

biến động tăng vọt (chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, lương bộ phận gián tiếp )

- Chi phí cố định: Là những khoản mục chi phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động SXKD của doanh nghiệp Khi tính chi phí cố định trên đơn vị sản phẩm dịch vụ hoàn thành hoặc tỷ suất chi phí cố định trên doanh thu thì thay đổi Khi mức độ hoạt động SXKD tăng thì chi phí cố định trên đơn vị sản phẩm giảm và ngược lại

Chi phí cố định được chia làm hai loại:

+ Chi phí cố định bắt buộc: Là những khoản chi phí cố định không thể thay đổi một cách nhanh chóng như chi phí khấu hao TSCĐ, lương bộ phận quản lý

+ Chi phí cố định không bắt buộc: Là những khoản chi phí có thể thay đổi nhanh chóng như chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo

Chi phí cố định có thể tăng đột ngột khi doanh nghiệp mở rộng qui

mô đầu tư, mua sắm mới tài sản cố định

Ta có thể biểu diễn mối quan hệ chi phí biến đổi và chi phí cố định với doanh thu qua đồ thị như sau:

Trang 33

Đường Y = b là đường chi phí cố định trong điều kiện doanh nghiệp hoạt động bình thường; đường Y = a + b là đường chi phí

cố định trong điều kiện có sự tăng, giảm đột biến về đầu tư.

Đường Y = ax + b biểu thị quan hệ tỷ lệ giữa chi phí biến đổi

và doanh thu

Đường Y = a + b/x biểu thị tỷ suất chi phí cố định

Về thực tế, các khái niệm về chi phí cố định và chi phí biến đổi cũng chỉ mang tính tương đối Việc phân lọai chi phí biến đổi và chi phí cố định có ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị xem xét ra các quyết định chi phí

Doanh thu

Y = b Y = a + b

Doanh thu

Y = a + b/x

Trang 34

phí cố định, trong một mức độ hoạt động nào đó nó mang tính chất chi phí biến đổi Ví dụ: Chi phí sửa chữa , bảo dưỡng máy bay, mức độ hoạt động 250 giờ bay một tháng máy bay B 787 chi phí sửa chữã bảo dưỡng là 100.000 USD, nếu mức độ hoạt động 330 giờ bay một tháng, chi phí sửa chữa bảo dưỡng là 150.000 USD.Việc phân loại chi phí hỗn hợp thành chi phí biến đổi và chi phí

cố định khá phức tạp và mang tính tương đối, để thực hiện công việc phân loại chi phí hỗn hợp này, người ta thường dùng hai phương pháp cơ bản sau:

+ Phương pháp cực đại, cực tiểu: Theo phương pháp này người ta xây dựng hàm hồi qui Y = a + bx sau đó giải phương trình, tìm giá trị các tham số

Trong đó: Y là giá trị của chi phí hỗn hợp (là biến phụ thuộc)

a là chi phí cố định

b là tỷ lệ chi phí biến đổi

x là biến số độc lập

Để giải phương trình này người ta thực hiện các bước

Bước 1: Xác định mức chênh lệch giữa chi phí ở mức độ cao nhất

Trang 35

Bước 4: Xác định yếu tố định phí bằng cách lấy tổng chi phí ở

mức độ hoạt động cao nhất hoặc thấp nhất trừ đi biến phí ở mức độ tương ứng

+ Phương pháp bình phương nhỏ nhất:

Bình phương nhỏ nhất có nghĩa là tổng các bình phương của các

độ lệch giữa các điểm so với đường hồi qui là nhỏ nhất

Từ phương trình Y = a + bx, quan sát giá trị của n phần tử người

1.2.2.3 Phân loại chi phí vận tải hàng không theo nội dung chi phí

Chi phí vận tải hàng không phân loại theo tiêu thức này có nội dung như sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào quá trình SXKD vận tải hàng không, các loại chi phí này được xác định rõ ràng, cụ thể cho từng đối tượng và được hạch toán cho từng đối tượng chịu phí

Trang 36

- Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí nhân công của người trực tiếp tham gia quá trình hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải hàng không Các chi phí này được hạch toán trực tiếp cho các đối tượng chịu phí.

- Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí, khó có thể xác định chính xác cho các đối tượng chịu phí Các chi phí sản xuất chung bao hàm cả chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp

1.2.2.4 Phân loại chi phí theo quan hệ với đối tượng chịu phí, theo khả năng kiểm soát chi phí

- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu phí

- Chi phí gián tiếp: Là những khoản chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí, việc xác định đối tượng chịu phí gián tiếp rất khó nhận dạng, người ta thường tập hợp chi phí gián tiếp lại rồi phân bổ cho đối tượng chịu phí theo một tiêu thức nhất định nào đó

- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

+ Chi phí kiểm soát đựơc là những khoản chi phí nhà quản trị xác định đựơc chính xác và quyết định được sự phát sinh của nó

+ Chi phí không kiểm soát được là những khoản chi phí mà nhà quản trị không xác định được chính xác và cũng không quyết định được sự phát sinh của nó

Trang 37

1.2.3 Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải

Công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải cần phải thực hiện trên các mảng công việc:

* Tổ chức mô hình, bộ máy kế toán quản trị chi phí:

Mô hình, bộ máy kế toán quản trị chi phí phải được xây dựng, lựa chon cho phù hợp với qui mô, đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, theo hướng bám sát thực tế, phát huy tối đa các nguồn lực hiện có để tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả Tổ chức lựa chọn, đào tạo nhân sự đáp ứng nhu cầu công việc kế toán quản trị chi phí theo mô hình đã lựa chọn.Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong 03 hình thức tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí:

+ Hình thức tách biệt: Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí tách biệt với bộ máy kế toán tài chính của doanh nghiệp

+ Hình thức kết hợp: Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí kết hợp với phần hành kế toán chi phí của kế toán tài chính

+ Hình thức hỗn hợp: Là sự kết hợp của các hình thức tách biệt

và hình thức kết hợp

* Tổ chức các phần việc kế toán quản trị chi phí:

- Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí : Việc xây dựng qui trình thu thập, xử lý, luân chuyển, lưu trữ các thông tin kế toán phải phù hợp với từng điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp

Tổ chức kế toán quản trị chi phí phải thiết kế được hệ thống mẫu

Trang 38

biểu để thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, lập hệ thống báo cáo nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu của nhà quản trị Có thể sử dụng các chứng từ ban đầu, chứng từ thống kê trong doanh nghiệp để thu thập và xử lý, cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phí.

- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán quản trị chi phí: Kế toán quản trị chi phí có thể thiết lập hệ thống tài khoản riêng, qui trình ghi chép phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu của nhà quản trị về cung cấp thông tin Cũng có thể kế toán quản trị chi phí

sử dụng hệ thống tài khoản kế toán tài chính lập chi tiết tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4

- Tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị chi phí: Kế toán quản trị chi phí có thể thiết kế hệ thống sổ kế toán riêng, cũng có thể dựa vào hệ thống sổ của kế toán tài chính, bổ sung một số các chỉ tiêu cho phù hợp yêu cầu của nhà quản trị

- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí: Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí là sản phẩm của công tác kế toán quản trị chi phí để phục vụ cho công tác quản trị Hệ thống báo cáo

kế toán quản trị chi phí gồm:

+ Báo cáo tình hình thực hiện

+ Báo cáo phân tích

Ngoài ra còn các báo cáo khác theo yêu cầu của các cấp quản trị khác nhau trong doanh nghiệp

Trang 39

- Tổ chức phân tích báo cáo kế toán quản trị chi phí: Sau khi có sản phẩm của kế toán quản trị chi phí là hệ thống các báo cáo về tình hình chi phí của doanh nghiêp, kế toán quản trị phải tổ chức phân tích sự vận động, các nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu trong báo cáo, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục để cung cấp thông tin cho nhà quản trị xem xét, ra các quyết định quản lý Trong các nội dung trên, tùy theo đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường không mà các doanh nghiệp tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất cho phù hợp Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không tại Việt Nam, quá trình thực hiện cung cấp dịch

vụ vận tải đường không phát sinh nhiều loại chi phí với giá trị lớn, tính chất phức tạp cao, đòi hỏi phải có sự quan tâm và đầu tư thích đáng cho việc xây dựng và hoàn thiện công tác tổ chức kế toán quản trị cùng với việc nhanh chóng nâng cao trình độ quản lý, trình độ của người làm công tác kế toán quản trị để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng

1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải

1.3.1 Khái niệm về tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải

Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp của các yếu tố sản xuất theo một trình tự nhất định của công nghệ sản xuất, quá trình diễn ra

Trang 40

liên tục, các yếu tố sản xuất vận động chuyển dời và chu chuyển , kết tinh trong sản phẩm mới được tạo ra Vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp là phải kiểm soát được toàn bộ sự vận động của các yếu tố đầu vào một cách liên tục, tại mọi thời điểm của qui trình sản xuất, các thông tin này được hệ thống hóa bằng hệ thống thông tin kế toán quản trị Để đáp ứng được yêu cầu đó, tổ chức kế toán quản trị phải thực hiện công việc thiết kế và vận hành qui trình thu thập thông tin, xử lý và cung cấp thông tin có chất lượng đáp ứng yêu cầu cho nhà quản trị tại mọi thời điểm.

Trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải, quá trình sản xuất không diễn ra ở một nơi như nhà máy, công xưởng mà các chi phí sản xuất chủ yếu diễn ra trên đường cùng với quá trình tiêu thụ sản phẩm dịch vụ vận tải Các phương tiện vận tải thường có giá trị lớn,

đa dạng, có tính năng kỹ thuật khác nhau và định mức chi phí khác nhau tùy thuộc vào tính năng kỹ thuật, tình trạng kỹ thuật và điều kiện hoạt động vận tải như tình trạng đường xá, thời tiết, mật độ giao thông do vậy việc tổ chức kế toán quản trị các doanh nghiệp kinh doanh vận tải là việc làm phức tạp, không có một mô hình khuôn mẫu nào gọi là hoàn hảo để áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải , công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí phải thực hiện được công việc tổ chức mô hình bộ máy kế toán quản trị chi phí, tổ chức lập dự toán chi phí sản xuất, tổ chức hệ

Ngày đăng: 26/04/2016, 12:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:                Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài - Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không
Bảng 1.1 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài (Trang 16)
Sơ đồ 3.1: - Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không
Sơ đồ 3.1 (Trang 107)
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬN TẢI  HÀNG KHÔNG - Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬN TẢI HÀNG KHÔNG (Trang 179)
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG - Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG (Trang 184)
Phụ lục 21: Sơ đồ hạch toán kế toán quản trị chi phí vận tải - Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không
h ụ lục 21: Sơ đồ hạch toán kế toán quản trị chi phí vận tải (Trang 209)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w