1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết y điêng

98 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 133,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh tiểu thuyết của tác giả với các tác giả dân tộc khác để thấy được “dòng riêng giữa nguồn chung” của nhà văn từ đó khẳng định được cá tính sáng tạo độc đáo cũng như những đóng góp

Trang 2

sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Đấu Các số liệu, kết quả nêu trong luậnvăn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiêncứu nào.

Học viên

PHAN ĐÌNH HUY

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1.NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG 9

1.1 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

10 1.1.1 Con người cộng đồng 10

1.1.2 Con người nghệ sĩ 14

1.1.3 Con người bất hạnh 17

1.1.4 Con người tha hóa 20

1.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

23 1.2.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật 23

1.2.2 Miêu tả hành động nhân vật 27

1.2.3 Miêu tả ngôn ngữ nhân vật 29

1.2.4 Miêu tả tâm lý nhân vật 35

Tiểu kết 38

Chương 2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG 40

2.1 Không gian nghệ thuật 40

2.1.1 Không gian thiên nhiên 40

2.1.2 Không gian sinh hoạt 46

2.2 Thời gian nghệ thuật 57

2.2.1 Thời gian lịch sử tuyến tính 58

2.2.2 Thời gian tâm trạng 59

Tiểu kết 64

Chương 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG 66

3.1 Ngôn ngữ 66

3.1.1 Hệ thống từ ngữ và cách diễn đạt giản dị, đậm chất Tây Nguyên 66

Trang 4

3.2.2 Giọng điệu cảm thương, xót xa 85

3.2.3 Giọng điệu căm thù, tố cáo 87

Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 92

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAMKHẢO 96 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 7

Bức tranh hiện thực đó hiện lên sinh động, đậm bản sắc văn hóa và giàu giá trị lịch sử hào hùng của dân tộc Ở đó có những con người anh hùng, dũng mãnh, những con người bé nhỏ bất hạnh và cả những nhân vật phản diện, tiêu cực ” [67].

Như vậy, có thể thấy, sáng tác của Y Điêng đã nhận được sự quan tâmnghiên cứu của một số tác giả nhất định Đó sẽ là những gợi ý rất quý báu đốivới chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu Thế giới nghệ tiểu thuyết Y Điêng trên các

phương diện: nhân vật; không gian, thời gian nghệ thuật; ngôn ngữ, giọng điệunghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu các tác tiểu thuyết tiêu biểu của

Y Điêng gồm:

Chuyện trên bờ Sông Hinh, NXB Văn hóa nghệ thuật Đắk Lắk, 1994.

Ba anh em, NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội, 1996.

Trung đội người Bah Nar, NXB Văn hóa nghệ thuật Đắk Lắk, 2000.

Hờ Giang, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2015.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đối sánh với các tác phẩmkhác của Y Điêng và tác phẩm của một số nhà văn khác cùng viết về đề tài dântộc thiểu số ở miền núi

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình

Vận dụng những đặc điểm về thể loại tiểu thuyết để nghiên cứu nhữngvấn đề có liên quan

4.2 Lý thuyết thi pháp học

Trang 8

Vận dụng lý luận của thi pháp học để nghiên cứu những đặc điểm nổibật về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Y Điêng.

4.3 Phương pháp phân tích, khái quát

Việc phân tích, miêu tả cụ thể kết hợp tổng hợp, khái quát giúp tìm ranhững nét đặc sắc trong tiểu thuyết Y Điêng

4.4 Phương pháp so sánh

So sánh tiểu thuyết Y Điêng với các tác phẩm khác của ông để thấy được

sự vận động của một phong cách So sánh tiểu thuyết của tác giả với các tác giả

dân tộc khác để thấy được “dòng riêng giữa nguồn chung” của nhà văn từ đó

khẳng định được cá tính sáng tạo độc đáo cũng như những đóng góp của tiểuthuyết Y Điêng đối với nền văn học Tây Nguyên và nền văn học hiện đại nướcnhà

5 Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Y Điêng, qua việc khảo

sát, phân tích bốn cuốn tiểu thuyết của Y Điêng, chúng tôi nhằm tìm ra cáckiểu nhân vật cũng như đặc điểm của không gian, thời gian nghệ thuật; ngônngữ và giọng điệu nghệ thuật của tiểu thuyết Y Điêng Từ đó thấy được nétriêng, đặc sắc và vị trí của nhà văn đối với văn xuôi Tây Nguyên và văn xuôihiện đại của dân tộc Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo về tác giả YĐiêng khi việc giảng dạy văn học địa phương đang được áp dụng nhiều trongnhà trường

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung củaLuận văn gồm ba chương:

Chương 1: Nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Y Điêng Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết Y Điêng.

Trang 9

Chương 1 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG

Trong tiểu thuyết, yếu tố đầu tiên mà nhà văn dày công xây dựng đó là

nhân vật- nơi tập “trung hết thảy, giải quyết hết thảy” mọi vấn đề Nhân vật là

phạm trù trung tâm của văn học vì con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của

văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học” [52, 202].

Theo Giáo trình lý luận văn học thì nhân vật văn học được quan niệm rộng hơn: “Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là những sự vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [37, 126].

Theo Trần Đình Sử: “Nhân vật là đối tượng hướng đến của văn học, đồng thời là phương tiện để nhà văn phản ánh và khái quát hiện thực Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu ra là để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống, ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời Xót xa cho nhân vật là xót xa đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời và con người, là tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả đối với con người” [55, 26].

Trong một công trình khác ông viết: “Con người vừa là yếu tố nhận thức chủ yếu trong văn học, vừa là cái đích để sáng tạo văn học hướng tới Các sáng tạo về phương pháp, phong cách, thể loại ngôn ngữ, kết cấu chung qui đều góp phần tạo nên hình tượng nghệ thuật mới mẻ” [57, 223].

Dù có nhiều ý kiến khác nhau về nhân vật văn học nhưng phải khẳng định

Trang 10

rằng nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong cấu trúc, thể hiện tư tưởngtác phẩm và quyết định sự thành công của tác phẩm văn học.

Trong tiểu thuyết Y Điêng, nhân vật hiện lên với đầy đủ các phương diện

từ ngoại hình đến tâm lý, tính cách vừa mang những nét chung của con ngườiTây Nguyên vừa mang những nét khu biệt với các nhà văn khác viết về TâyNguyên nhưng có thể thấy nổi bật lên các kiểu nhân vật: nhân vật cộng đồng;nhân vật nghệ sĩ, nhân vật bất hạnh và nhân vật tha hóa

1.1 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

1.1.1 Con người cộng đồng

Từ ngàn đời nay, người Ê Đê nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nóichung sống một đời gắn bó với núi rừng, nương rẫy và buôn làng Vì cuộcsống mưu sinh và để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, giặc dã liên miên

đã giúp con người thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ chia sẻ những khó khăn, nỗiđau cho nhau cả những niềm vui khi được mùa, hay trong những lễ hội củabuôn làng Vì vậy, người dân Tây Nguyên nói chung và người Ê Đê nói riêng

có lối sống và tinh thần cộng đồng rất cao Tinh thần cộng đồng không chỉ làcách để họ sống mà còn là tình cảm, là chuẩn mực đạo đức làm nên nét vănhóa đặc trưng của người Ê Đê, của Tây Nguyên

Là người con của dân tộc Ê Đê, người con của núi rừng Tây Nguyên, YĐiêng yêu mảnh đất ấy như máu thịt của mình Ông đã dành cả tâm huyết vàđời mình cho mảnh đất và con người nơi đây Từng trang văn của ông lấp lánh

vẻ đẹp của tình người mà trên hết là tinh thần cộng đồng

Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, tác phẩm có quy mô nhất của ông, ta

có thể thấy từ trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày đến khi chiến tranh xảy

ra, đồng bào bị dồn vào ấp chiến lược, con người đều một lòng sát cánh bênnhau Từ những cuộc vui trong lễ hội “ăn năm uống tháng” đến khi trong làng

có người mất cả làng đều chung tay lo liệu mọi việc một cách tự nguyện mà

Trang 11

không đợi ai nhắc bảo.

Hoạt động được người Ê Đê và người Tây Nguyên mong đợi nhất trongnăm là mùa “ăn năm uống tháng” Đây là hoạt động vui chơi mang tính cộngđồng rất cao Tác giả miêu tả cảnh “ăn năm uống tháng” tổ chức ở nhà MaThin nhưng ta cứ ngỡ đây là ngày hội chung của cả buôn làng vì tính cộng

đồng: “Tiếng chiêng trống ăn năm uống tháng của buôn Doan đã nổi lên Các chàng trai cô gái đã sửa soạn cho nhà ông thêm rực rỡ Con trai lo sửa lại sạp nhà, hiên nhà, làm cột đâm trâu Các cô gái lo kiếm củi, giã gạo, hái lá chuối để gói cơm Họ còn sửa soạn đón các trai gái làng khác đến để dự hội.

Đã từ mấy hôm nay, ở nhà ông Ma Thin từ hiên ngoài đến hiên trong, người đi lại không ngớt Kẻ mang lá nhét ché rượu bước lên, người khiêng nồi bung đi múc nước” [19, 195- 196].

Người Ê Đê nổi tiếng là hiếu khách Khách của một nhà cũng là khách, là

niềm vui chung của cả buôn làng: “Cái thói quen của làng hoặc của cả người Mơ- dhur là mến khách Hễ nhà ai có khách lên là người làng dần kéo đến nên chỉ trong một lúc, có thể nói ngồi chưa ấm đít thì người làng đến mỗi lúc một đông” [20, 100] Dù gia đình có khách nghèo hay giàu thế nào cũng có ché

rượu, con gà đãi khách Nếu chủ nhà không có thì đã có buôn làng thay họ tiếpđãi Đây là một nét đẹp tiêu biểu cho tinh thần cộng đồng của người Ê Đê.Tinh thần cộng đồng ấy còn mạnh mẽ hơn khi có một người con của buônlàng mất đi, mọi người đều chung tay đùm bọc bất kể giàu nghèo Viết về sự ra

đi của ma Hơ Linh, Y Điêng đã dành những câu văn đậm tình người:

Cái làng nghèo nhưng một lòng đùm bọc nhau Ma Hơ Linh đã hết thở Những người đến đều nhốn nháo cả Kẻ chạy mượn trống, mượn chiêng để đánh trong đêm cho đỡ buồn tẻ, phá cái lạnh ngắt trên nhà, người lấy gạo cho vào miệng người chết Mí Hơ Linh vừa khóc vừa mở gùi lấy khố áo mặc cho chồng buôn làng cùng một

Trang 12

lòng một tay, kẻ làm việc này, người làm việc nọ, chạy đi khắp nơi

Ai cũng lo cả, từ cuốn sáp ong, dựng gậy ban Người nấu cơm, con trai thui gà để cúng người chết Đó là tục lệ của làng, hễ gia đình nào gặp hiểm nghèo mỗi người có gì giúp nấy cho nhau Con trai lo múc nước, bẻ lá nhét vào ché rượu, con gái lo nấu cơm cho người làng thức thâu đêm ăn Cả buôn làng thức trắng đêm [19, 40- 42].

Hay trong đêm con trai ông chủ bến nước mất:

Nghe tiếng hai ông bà chủ bến nước khóc, những người ở nhà đều chạy đến Người thui gà, kẻ lôi ché rượu ra, người đánh Irống cho người chết Các chàng trai đánh chiêng Cha mẹ và họ hàng lo mặc lại áo mới, khố mới cho người xấu số không ai bảo ai, người nào cũng có việc làm Người khỏe mạnh đi giết bò, kẻ khiêng nước

bỏ lá, chặt củi, ôm tranh khô để thui bò Làng đem bao nhiêu ché rượu đều có người buộc, nhét lá đổ nước vào Làm xong một việc họ lại đánh chiêng trống Tiếng chiêng trống không phải dai dẳng như trong ngày hội ăn năm uống tháng Trong làng có bao nhiêu nhà có bấy nhiêu người đến viếng Kẻ mang theo ché rượu, tô gạo, người con gà hoặc trứng gà, chiếc vòng đồng tặng người chết [19, 153-

Mỗi người giúp một tay các chàng trai đã được phân công rồi, ai cũng muốn đi đâu phải là người đi trước và thứ mình làm phải là thứ tốt, làm sao khi hạ thứ đó xuống các cô gái trong làng

Trang 13

chỉ có khen thôi các cô gái cũng phải hoãn tất cả các công việc hàng ngày Họ đến giúp người bạn mới Cầm rìu, cầm rựa đốn cây chặt tre thì họ không làm được nhưng cắt tranh vác cây nấu nước hoặc chuyển những thứ gì đó thì họ thừa sức [19, 189- 190].

Trong lao động sản xuất, các gia đình, thành viên của buôn làng thườnglàm đổi công cho nhau, đó cũng là cơ sở làm nảy sinh và phát triển cho conngười cộng đồng Ngay cả khi cuốc nương làm rẫy, họ thường chia cặp mộtnam một nữ trên một luống đất để người nam có thể cuốc hộ phần đất của bạn

nữ bên cạnh mình Theo Jacques Dounes: “Do cộng đồng huyết thống, nhiều làng là những thị tộc gia đình Chính từ đó hình thành tính cộng đồng của người Tây Nguyên, biểu hiện bằng tính tương trợ vô tư, bằng việc vần đổi công thường xuyên, việc bình quân trong phân phối” [12, 255] Có lẽ không ở

đâu con người lại mang tính cộng đồng cao như ở Tây Nguyên

Tinh thần cộng đồng biểu hiện cao nhất trong hoàn cảnh chiến tranh Khigiặc Pháp đến, dân làng bị dồn vào ấp chiến lược, buôn làng từ già đến trẻ,không kể trai gái đều đồng lòng, mưu trí đấu tranh chống giặc:

Chính bữa lũ Tây đến là dịp đồng bào: đàn ông, lũ trai thắt lại khố, đàn bà con gái cuốn lại váy để đứng lên đấu tranh trở về buôn

cũ Trẻ con khóc, người mẹ không dỗ mà dùng khuỷu tay thích vào chúng đau, lũ trẻ càng khóc, người này nhắc khuyên người mẹ mỗi lúc một nhiều người nói thêm ồn ào, kẻ đứng người ngồi Đa số người dự họp là phụ nữ có con mọn khi con khóc thì họ đi ra, lúc đầu đứng ở đầu hồi nhà gần đó rồi lần lượt đi thẳng về nhà mình Các ông cũng đứng dậy, chẳng ai nghe [20, 260].

Có thể thấy, để sống được với núi rừng, nương rẫy, với thiên tai, giặc dã,đồng bào Tây Nguyên đã đoàn kết một lòng để bảo vệ mình và bảo vệ buônlàng Chính điều này đã làm nên nét đẹp văn hóa cho người Ê Đê và người Tây

Trang 14

Nguyên đó là tinh thần cộng đồng Vì vậy, con người cộng đồng là một yếu tốtiêu biểu trong việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng.

1.1.2 Con người nghệ sĩ

Trên mảnh đất Việt Nam có lẽ không nơi đâu thiên nhiên ưu đãi và tươiđẹp như mảnh đất Tây Nguyên Phải chăng vẻ đẹp của những đồi thông, nhữngcánh rừng bạt ngàn, những con suối trong xanh mát rượi mà mẹ thiên nhiên đãphú cho người Tây Nguyên một cảm quan và năng khiếu âm nhạc bẩm sinh.Đọc tác phẩm nào của Y Điêng ta cũng bắt gặp những nhân vật giàu chất nghệ

sĩ mà nhất là tình yêu đối với âm nhạc Người Tây Nguyên sống gắn với lời catiếng hát từ trong cuộc sống, lao động, các lễ hội đến trong chiến đấu âm nhạcvẫn theo họ Ngay khi đứa trẻ ra đời, trong lễ thổi tai, đứa trẻ đã được nghenhững giai điệu âm nhạc đầu đời Đó là âm thanh của cồng chiêng- một thứnhạc cụ đã làm thành nét văn hóa đặc trưng Tây Nguyên, được Unesco công

nhận là di sản văn hóa phi vật thể: “Đêm khuya vắng, tiếng chiêng nghe càng

êm dịu như ru khi nhỏ khi to, khi lượn theo ngọn đồi rồi lại bay lên với mảnh trăng hạ tuần.” [19, 201] Tiếng cồng tiếng chiêng đã theo họ trong mọi lễ hội,

từng niềm vui, nỗi buồn của buôn làng đều có cồng chiêng chia sẻ Và đến khi

họ nhắm mắt từ giã cõi đời thì một lần nữa cồng chiêng lại được tấu lên để tiễn

họ về với giàng trời, giàng đất

Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, những nhân vật trong tác phẩm đều

rất thích hát và hay hát Họ hát để tìm con gái cho con trai của họ: “Trong bữa rượu khi hơi men đã thấm vào miệng, bà mẹ nào có con trai cũng phải hát ngỏ lời với mí Hơ Linh” [19, 43] Vì vậy khi đã chọn được con dâu ưng ý, Mí Y Thoa tự hào hát ca ngợi con trai, con dâu Hơ Linh của mình: “Trong những ngày hội khi ăn cơm no, uống rượu say bà cũng có thể hát đôi điều về người con trai của mình, người con dâu của họ” [20, 13- 14].

Trong Hờ Giang, một lần nữa ta bắt gặp chất nghệ sĩ đó: “Gian nhà trong

Trang 15

các bà có hơi men vào là có tiếng hát” [24, 614] Đặc biệt ta không thể quên

giọng hát của mí Y Soa khi hát với mẹ Hơ Giang để hỏi Hơ Giang cho con trai

mình: “Giọng hát rất thanh, nghe nó trong đêm như bò theo từng cái sạp nhà, ngọt ngào như gió xuân về” [24, 614] Tiếng hát không chỉ là phương tiện để đối thoại, hỏi con dâu, con rể mà họ hát còn vì “say nghĩa, say tình”.

Tây Nguyên là vùng đất của nhiều lễ hội Những lời khấn, lời cúng làchuyện thường gặp của các lễ hội nhưng hát trong lễ thì là chuyện rất hiếm Vàchất nghệ sĩ được thể hiện ngay chính trong các lễ hội đậm chất Tây Nguyênnày Trong lễ đâm trâu, trước khi tiến hành đâm trâu, người ta hát ru trâu nhưmột sự tri ân đối với chú trâu đã gắn bó cả một đời với người dân và cầu mong

trâu ra đi thanh thản: “cả cái thiên nhiên vùng đồi cỏ như ngừng mọi sự hoạt động của mình để thưởng thức điệu ru trâu Người ru trâu cất tiếng hát Tiếng hát ru trâu khi cao vút, khi trầm bổng man mác, tròn lẳn và ngọt ngào”

[21, 42- 45]

Có lẽ không ở đâu trong lúc “cay đắng chán chường”, con người vẫn hát

như ở Tây Nguyên Dường như hát là một nhu cầu bản năng, tự nhiên vàphóng khoáng như núi rừng Mí Hơ Linh khi ra rẫy nhớ chồng- hát, ngồi vá áothương con, thương thân phận của mình cũng hát Tiếng hát như tiếng lòng nức

nở cất lên của một kiếp người gặp bao cay đắng, éo le Tiếng hát như một sựgiãi bày, trút bớt những phiền muộn trong lòng

Ngoài tiếng hát, họ còn rất giỏi chơi các loại nhạc cụ Đó cũng là cách để

họ bộc lộ cảm xúc của lòng mình Y Thoa được miêu tả là chàng trai không

những khỏe mạnh, thạo công việc mà còn chơi đàn rất giỏi Tiếng đàn “nỉ non, dìu dặt” nhiều cung bậc khiến người nghe mê mẩn:

Tiếng nhị của anh dìu dặt, nỉ non leo đến tận tai mọi người, mát như mặt đất thấm hạt sương Tiếng nhị đi qua cửa chính, luồn qua cửa sổ bò đến chiếc chiếu của các cô đang nằm tiếng nhị của anh, không phải một cái gì phẳng lặng, có lúc thẳng rõ, lúc lại khúc

Trang 16

khuỷu, vừa nhẹ nhàng nhưng lại vừa thúc giục, mỉa mai đối với ai còn chần chừ Tiếng đàn khi êm ả điệu hát hơ- ri, khi thánh thót bắt chước theo giọng hót của chim trên rừng đơ- lay- gia [19, 99- 100].

Y Thoa không chỉ giỏi chơi đàn nhị mà còn giỏi chơi đàn cóc tang: “Y Thoa lên chòi Trên đó có sẵn một bộ đàn cóc tang bằng gỗ xoan đào Đàn đá khá lâu nên nhẵn bóng, tiếng lại rất thanh, Y Thoa đánh đàn Nghe tiếng cóc tang, tiếng trầm, tiếng thanh, mỗi âm thanh như nói lên một lời Anh đánh theo một điệu dân ca” [19, 122- 123].

Không chỉ có Y Thoa mà Y Ngai- một chàng trai khác của xứ đồi cỏ SôngHinh cũng rất giỏi chơi đàn nhị Tiếng đàn của anh giàu sức lay động lòng

người: “Ôi chao, tiếng nhị nỉ non khắp gian nhà rồi bò ra ngoài cho cả làng nghe” [19, 190].

Trong Ba anh em, nhân vật Y Nguyên được miêu tả ngoài vẻ đẹp ngoại

hình, giỏi võ nghệ, trọng tình nghĩa còn có tài đánh chiêng, vỗ trống không ai

bằng: “Nói về công việc đánh chiêng vỗ trổng thì anh YNguyên có biệt tài khi anh đeo trổng vào người làm cho các cô gái say sưa và nhảy múa càng duyên dáng hơn” [21, 50] Tiếng trống, tiếng chiêng của anh làm các cô gái

say đắm, các cụ già thấy tự hào về người con của dân tộc mình đã giữ được cáihồn của văn hóa buôn làng Tây Nguyên trong từng tiếng chiêng, nhịp trống vìvậy mà mỗi khi thiếu anh, lễ hội của buôn làng như kém vui đi hẳn

Ngoài ra, hát hay thổi kèn còn là cách để người dân Tây Nguyên xua tan

cái mệt nhọc sau một ngày làm lụng vất vả: “Từ con suổi, đường rẫy, cây đổ kiến vàng Những bóng cây mát trên đường rẫy, sau khi đi làm rẫy về cùng bạn

bè ngồi lại thổi kèn đinh tút, đinh năm” [24, 635- 636].

Có lẽ sống giữa đại ngàn Tây Nguyên tươi đẹp đã làm con người nơi đâysống rất nghệ sĩ và phải chăng cũng nhờ chất nghệ sĩ này mà họ vượt qua đượccuộc sống lao động vất vả và sự khắc nghiệt của cái nắng, cái gió nơi này

Trang 17

Phẩm chất này bổ sung và làm nên vẻ đẹp đặc trưng không lẫn vào đâu củangười Tây Nguyên.

1.1.3 Con người bất hạnh

Trong tiểu thuyết của Y Điêng, bên cạnh con người cộng đồng, con ngườinghệ sĩ còn có những con người nhỏ bé, bất hạnh Phải sống dưới chế độ thựcdân, đế quốc, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không thể nào có cuộc sốngtốt đẹp, vì vậy trong tiểu thuyết Y Điêng không thiếu những nhân vật có sốphận nhỏ bé, bất hạnh mà mí con Hơ Linh là nhân vật tiêu biểu

Mí Hơ Linh mất chồng chỉ vì ma Hơ Linh đi hái cà phê lỡ tay làm gãymột cành cà phê bị thằng cai đánh chảy máu mồm đến nỗi phải nhập viện vàchết một cách oan uổng Còn Hơ Linh vì khước từ thẳng thừng tình cảm củachánh tổng Y Sô liền bị hắn vu cho mí con Hơ Linh có ma lai, bị trục xuất khỏibuôn Thu Nhưng đến buôn Doan, mí con Hơ Linh cũng nào có yên Một lầnnữa, Y Sô lại mách Ma Thin- chủ bến nước buôn Doan rằng chính mí con HơLinh có ma lai nên đã ăn chết con trai ông và bị kiện phải đền hai mươi lămcon bò cho ông chủ bến nước nếu không chứng minh được mình không có malai Để chứng minh hai mẹ con trong sạch, mí Hơ Linh đã uống một mạch cạn

cả ché rượu Từ đó, bà mắc bệnh chết đi để lại Hơ Linh thui thủi một mình

Một cô gái đẹp như Hơ Linh đến nỗi “hoa kơ tinh cũng phải thua” [19, 47] lại

hiếu thảo, đảm đang là niềm mơ ước của nhiều chàng trai đáng lẽ ra phải sốnghạnh phúc nhưng dường như bao nhiêu tai họa, mất mát cứ dồn đến với Hơ

Linh Nhân vật Hơ Linh làm chúng ta nhớ đến cô Mị trong Vợ chồng A Phủ

của Tô Hoài Mị là một cô gái trẻ đẹp, giỏi giang, có tài “thổi lá cũng hay như thổi sáo bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị hết núi này đến núi khác” vậy mà vì món nợ của ba mẹ và nỗi sợ hãi trước cường quyền, thần quyền đã biến cô gái trẻ trung, xinh đẹp phải cam chịu cuộc sống “lùi lũi như con rùa trong xó cửa” trong nhà thống lí Pá Tra Hai cảnh ngộ, hai tính cách

Trang 18

nhưng Hơ Linh và Mị dường như có điểm chung: họ đều là nạn nhân củacường quyền và thần quyền.

Không chỉ những người phụ nữ nhỏ bé là nạn nhân của thần quyền vàcường quyền mà ngay cả những thanh niên khỏe khoắn, biết suy nghĩ, có ít cáichữ trong bụng cũng là nạn nhân của bọn tay sai dưới chế độ thực dân Y Thoachỉ vì cứng đầu không chịu làm giấy tờ tùy thân và là người yêu của Hơ Linh-người mà chánh tổng Y Sô thèm khát nên Y Sô đã mượn tay của quan huyện

bắt Y Thoa đi tù dù không có tội gì cả: “Mãi đến lúc này Y Thoa cũng chưa biết mình bị mắc tội lớn gì mà bị giam ở đây” [19, 173] Đến khi Y Thoa mãn

hạn tù, Y Sô còn nhờ quan trên nhốt thêm Y Thoa một thời gian nữa, càng lâucàng tốt Nếu Hơ Linh khiến ta nhớ đến nhân vật Mị thì Y Thoa làm ta nhớ đến

A Phủ trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài Họ đều là những chàng trai khỏe

mạnh, tốt bụng, không sợ cường quyền của hai miền đất khác nhau nhưng cùngchung cảnh ngộ là nạn nhân của bọn chúa đất miền núi nhưng cuối cùng họ đãgiác ngộ cách mạng và giải phóng cho chính mình

Con người nhỏ bé, bất hạnh không chỉ là những cá nhân đơn lẻ mà còn làtập thể của những người cùng số phận, hoàn cảnh Trên đường bị giải lên Buôn

Ma Thuột, Y Thoa đã nhận ra rằng không chỉ có mỗi mình mình cực khổ mà

còn nhiều người còn thê thảm hơn mình nữa: “Lâu nay anh cứ tưởng tượng, anh gầy yếu hơn mọi người Nhưng khi đến nơi đây, anh thấy mọi người chỉ còn đôi mắt động đậy, da bọc xương khô khốc” [19, 179] Anh hiểu ra không

chỉ mình bị bắt bớ vô cớ mà nhiều người kinh cũng có số phận như mình:

“Những người bị giam này đều bị oan cả, còn bao nhiêu chuyện trên bờ Sông Hinh nhỏ bé này ai thấu được” [19, 173], “Đến nhà lao Buôn Ma Thuột, tôi thấy rất nhiều người Ê Đê bị tù, người thì đi tù vì con không chịu đi lính, người bị nghi có ma lai, kẻ thì cãi lại miệng của chánh tổng, cũng có người bị kiện cáo thua lỗ cũng phải đi tù” [19, 289] Quan trọng hơn, anh biết được:

Trang 19

“Người Kinh và người Ê Đê đều nghèo và biết yêu thương lẫn nhau” [19, 179]

không như lời chánh tổng Y Sô bịa đặt rằng người Kinh toàn là xấu xa cả đểchia rẽ người Kinh với người đồng bào

Trong Ba anh em, ta gặp ba chàng trai của ba làng khác nhau, họ đều

nghèo và bị áp bức, bóc lột đến tận thậm tệ Vì vậy, họ rủ nhau đi tìm nơi cócuộc sống tự do, đủ ăn, đủ mặc và không còn bị áp bức nữa, mọi người biếtyêu thương nhau:

Ba anh em chúng tôi, ba làng khác nhau, nhưng ở làng nào cũng bị kẻ xấu áp bức bóc lột đến tận xương tủy Làm nương rẫy không nghỉ nhưng rồi ăn không đủ Dân cả ba làng đau khổ suốt năm tháng Bởi vậy ba anh em chúng tôi rủ nhau, đi tìm thử trên xứ đồng cỏ của ta đây hoặc là một vùng khác xa xăm hơn Ở làng nào, vùng nào biết làm ăn, biết sinh sống, mọi người bình đẳng như nhau, không có người này làm xấu, làm khổ người khác [21, 93- 94].

Rõ ràng, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai của chúng đã lợi dụng sự

mê muội, ít học của đồng bào Ê Đê, mượn tay của thần quyền, cường quyền đểcai trị, bóc lột họ, đẩy họ đến đường cùng, phải sống cuộc sống thê thảm

Qua những mảnh đời, số phận bất hạnh phải chăng Y Điêng đang nói hộnhững ước mơ, giãi bày éo le, uẩn khúc và niềm mong mỏi của những conngười nhỏ bé bình dị quê ông cũng như những người con của Tây Nguyên đầynắng và gió này Tác phẩm đã tái hiện bức tranh hiện thực xã hội miền núi hiệnlên với những xung đột âm thầm mà gay gắt của xã hội cũ, vừa là những xungđột muôn thuở của con người Đó là xung đột giữa con người lương thiện nhỏ

bé với thế lực cường quyền, thần quyền; xung đột giữa khát vọng tình yêu,hạnh phúc với những rào cản của lễ giáo, hủ tục; giữa ước mơ và thực tại phũphàng Nhà văn đã tinh tế phát hiện sự vận động bên trong của đời sống tâmhồn con người nhỏ bé ở vùng đồi cỏ Sông Hinh Mỗi cuộc đời, mỗi một số

Trang 20

phận là một mảnh ghép để làm nên bức tranh hiện thực đương thời Phải sống,gắn bó và yêu thương những con người của quê hương mình nhiều đến nhườngnào mới giúp Y Điêng khắc họa nên những con người để lại nhiều dư âm, cảmxúc trong lòng độc giả đến như thế!

1.1.4 Con người tha hóa

Tác phẩm Y Điêng hầu hết viết về những con người Tây Nguyên với vẻđẹp thuần phác, mộc mạc, thẳng thắn, nguyên thủy như chính núi rừng, nươngrẫy nơi đây Họ sống thật lòng, thật bụng như dòng sông, con suối không biếtghét bỏ, làm hại ai bao giờ Nhưng khi thực dân Pháp đặt chân đến mảnh đấtmàu mỡ này chúng đã dùng đồng tiền và quyền lực biến một số người Ê Đêchất phác, hiền lành thành tay sai đắc lực cho chúng mà tiêu biểu hơn cả lànhân vật Y Sô Hắn là nhân vật phản diện được Y Điêng đầu tư khắc họa kĩ

lưỡng nhất trong các tác phẩm của mình Hắn không phải là nhân vật “đơn phiến” mà mang nhiều tính cách hiện thân tiêu biểu cho lũ tay sai bán nước:

tham lam, háo sắc, bất chấp đạo lý, luật tục nhưng vô cùng khôn khéo Trướckhi thành chánh tổng, Y Sô cũng là chàng trai hiền lành như bao chàng trai Ê

Đê khác của vùng đồi cỏ Sông Hinh nhưng khi bọn Tây đến nâng hắn lên làmchánh tổng thì hắn đã thay đổi hẳn:

Hắn đi đến làng nào trong tổng, gái làng đó phải trốn đi hết cả, đến trời tối om mới dám về nhà và lờ mờ sáng lại lên nương rẫy Mỗi lần hắn đến được chủ làng cột rượu mà không thấy đứa con gái nào đến thả nước thì ông chủ làng đủ nhét kín tai lại mà vẫn cứ nghe hắn mắng nhiếc thậm tệ Từ ngày hắn làm chánh tổng, hắn làm trái hết mọi luật tục tốt đẹp ở vùng đồi cỏ này Không những đối với người lớn, con trai, con gái mà ngay đến cả trẻ thơ đang chạy diều đánh quay kia cũng bị hắn bắt nạt người ta sợ nhất là hắn lên nhà, y đã lên nhà rồi đâu phải về không Phải rượu cột, cơm nấu, gà

Trang 21

thui chứ Nếu nhà nào không có phải đi mượn, nếu nhà nào để hắn

về không thì coi như một cái nợ cho mình vậy [19, 73- 75].

Hắn đã lợi dụng thần quyền và cường quyền gán cho mẹ con Hơ Linh có

ma lai để đẩy họ ra khỏi buôn làng vì Hơ Linh không chịu thỏa mãn tính háosắc của hắn Hắn lợi dụng quyền lực của quan trên để đẩy Y Thoa vào tù chỉ vì

Y Thoa là người yêu của Hơ Linh- người mà hắn ưng cái bụng mà không cóđược Và còn bao nhiêu người dân nghèo khổ của xứ đồi cỏ này cũng là nạnnhân dưới sự cai trị của hắn

Hờ Giang là tác phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi và cũng là tác

phẩm có nhiều nhân vật tha hóa nhất trong các tiểu thuyết của Y Điêng Đó lànhững Ma Sa, Ma Lóa- những kẻ đã từng đi lính cho Pháp, nay về già lại làmtay sai cho đế quốc Mỹ; Y La tên lính Ngụy khét tiếng trong việc trị dân, dồndân vào ấp chiến lược; Y Soa- kẻ bỏ vợ con đi theo biệt kích Mỹ Những nhânvật tha hóa này chủ yếu bị đồng tiền chi phối nên đã chấp nhận đi theo và trởthành tay chân đắc lực cho Pháp, Mỹ Tuy nhiên cũng có nhân vật không đơnthuần chỉ vì tiền mà còn vì cả sự ghen tuông mù quáng Y Soa từ một chàngtrai rất giỏi giang với công việc nương rẫy, có tài đan gùi rất đẹp, rất yêuthương gia đình, vợ con vậy mà bị tên Ma Lóa xúc xiểm, xúi giục rằng con gáicủa anh và Hờ Giang chưa chắc là con của anh nên Y Soa đã rời bỏ buôn làngtheo bọn biệt kích Mỹ Tệ bạc hơn, chính anh nhẫn tâm kéo bọn biệt kích vềbuôn và giết Hờ Giang- người vợ anh từng yêu dấu hôm nào ngay trên mảnhrẫy còn thấm giọt mồ hôi của hai vợ chồng Chính Hờ Giang cũng không ngờchỉ trong một thời gian ngắn mà bọn Mỹ xâm lược lại có thể biến chồng mình

từ một người hiền lành thành một con thú hung dữ đến như vậy: “Y Soa chạy xộc vào, Y Soa mặc bộ quần áo rằn ri, nước da đen lại, mặt mày trông rất hung dữ Hờ Giang nhìn mãi mới nhận ra được Không được bao lâu mà bọn xâm lược Mỹ đã biến con người hiền lành nhanh chóng trở thành một cơn

Trang 22

thú Đôi mắt nó dần căm thù đỏ như mắt trâu điên ngoài rừng ” [24, 856].

Nhân vật phản diện, tha hóa được Y Điêng miêu tả không chỉ là những

cá nhân mà có khi là đám đông của những kẻ cùng bản chất cướp bóc, khát

máu, mất cả tính người Đó là bọn biệt kích Mỹ: “Tên chỉ huy nhếch mép cười, trơng cái miệng của hắn chứa đầy răng vàng đã biến màu đo đỏ hung tợn một số tên lính khác đi lùng xung quanh rẫy Thằng mổ dưa gang, tên hái dưa hấu, bẻ ngô tươi Chúng làm như cái rẫy không có chủ Bọn chúng hầu hết là những tên ăn cắp” [24, 854- 855].

Tuy nhiên, kiểu nhân vật phản diện, tha hóa chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trongtiểu thuyết Y Điêng còn lại là những nhân vật tốt Dù có lúc bị xúi giục, mêmuội nhưng với bản chất lương thiện vốn có của người Tây Nguyên và sự đoànkết, vị tha của buôn làng họ sớm nhận thức và tỉnh ngộ để trở về với phẩm chấttốt đẹp vốn có của mình Như vậy, tác giả xây dựng kiểu nhân vật phản diện,tha hóa để tố cáo tội ác của bọn thực dân gieo rắc khổ đau cho đồng bào TâyNguyên, làm biến chất những người dân lương thiện Quan trọng hơn, qua cácnhân vật này, nhà văn không làm xấu đi hình ảnh con người Ê Đê nói riêng vàTây Nguyên nói chung mà là cách để khẳng định bản chất tốt đẹp, thuần phácvốn có của người Tây Nguyên vì đó chỉ là vài cá nhân nhỏ nhoi như cánh chimlạc bầy giữa đại ngàn của những con người tốt bụng, nghĩa tình

1.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

Nhân vật là nơi tập trung thể hiện quan niệm, tư tưởng của nhà văn về conngười, cuộc đời Vì vậy để khắc họa nhân vật, nhà văn thường tập trung miêu

tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ và tâm lý nhân vật để từ đó khái quátnhững vấn đề mà nhà văn muốn hướng tới

1.2.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật

Để miêu tả nhân vật, thủ pháp mang tính truyền thống và tạo ấn tượngtrước hết đó là ngoại hình nhân vật Do đó không phải ngẫu nhiên các tác phẩm

Trang 23

văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Y Điêng nói riêng, nhân vật thường đượctrau chuốt kĩ về mặt ngoại hình.

Ở đâu và khi nào người phụ nữ cũng luôn là tâm điểm của cuộc sống.Trong các tiểu thuyết của mình, Y Điêng đã dành tất cả tình yêu, sự trân trọng

của mình đối với người phụ nữ Chính ông kể rằng: “Con gái quê ông đẹp lắm, đẹp đến nỗi đi nhiều nơi, ông vẫn thấy không nơi nào hơn, ông vẫn thấy con gái quê ông là nhấn con gái Tây Nguyên khi còn trẻ đều để ngực trần, cái đẹp lồ lộ tự nhiên như trời đất, như núi như đồi như bầu như bí” [28] Phải

chăng vì vậy mà trong tất cả các tiểu thuyết của ông, ta không thấy có ngườiphụ nữ nào xấu cả, họ đẹp từ ngoại hình đến tính cách, tâm hồn

Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, Hơ Linh là người phụ nữ được tác giả

miêu tả kĩ nhất: “Khuôn mặt của Hơ Linh chị trăng cũng phải nghẹn, đôi mắt đón nắng sớm như đóa hoa aring Mỗi lần cô nói, cô cười hai dấu “cua bấm” trên má như dòng nước xoáy tròn trịa rung rinh Cái tròn trịa rung rinh gây sóng sánh trong lòng các chàng trai” [19, 43], “cái mặt Hơ Linh hoa kơ tinh cũng phải thua” [19, 47], “ánh trăng vẫn rọi vào khuôn mặt của Hơ Linh, cặp lông mày của cô như đôi chim én liệng xa, đôi môi mím lại như hoa sắp nở, bộ tóc dài trải xuống như một tấm chăn mát mẻ” [19, 87] Hay miêu tả Hơ Ninh,

cô gái xấu số bị chết trong trận bom của giặc nhưng vẻ đẹp vẫn sóng sánh

trong lòng người đọc: “thân hình nhỏ nhắn, nước da như trái cơ- chin chín vàng sẫm, đôi mắt tròn, cái ngực chim Kơ- Trâu phải ghen, cái lưng kiến vàng nhường cho” [20, 244].

Trong Hờ Giang, nhân vật nữ anh hùng càng được mô tả kĩ lưỡng, tạo ấn

tượng từ nụ cười với “hai hàm răng đều dặn như hoa dăm ké” [24, 586587] đến đôi mắt, làn da “chỉ thấy đôi mắt của em mới còn sắc sảo, nước da màu trái ê mau của em làm cho thân hình em rắn rỏi Đôi môi khô lúc này đã biến đâu rồi, giờ đây là nụ hoa dăm ké” [24, 592], và mái tóc “dài tha thướt như

Trang 24

một lớp mây giăng qua đỉnh núi xanh Con suối chảy từ trên đỉnh núi giang- sin cũng thua, con mắt của nó, con hông sai có đôi mắt tinh nhất làng vẫn còn bỏ sót nhụy hoa trên cành Cái răng của nó, hoa dăm dé không đều bằng Nước da trái ê mau của nó mịn màng và hồng hào” [24, 633- 634].

Chú-Ngoài Hơ Linh, Hơ Giang trong tiểu thuyết của Y Điêng ta còn bắt gặp rấtnhiều những người phụ nữ có ngoại hình đẹp, làm xao xuyến lòng người Đó là

cô Hơ Nhao trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, cô Hơ Yông, Hơ Tang trong

Hờ Giang, nàng Hơ Nhí, Hơ Ban, Hơ Bia Rế trong Ba anh em, Cô Xuân,

H'Guê trong Trung đội ngườiBah Nar Quả thực, Y Điêng đã dành cả tình

yêu của mình cho những cô gái Tây Nguyên nên mới chắt chiu tạc nên nhữngcâu văn gợi cảm như vậy về những người con gái quê mình Nếu như thiênnhiên Tây Nguyên làm nên những thắng cảnh hoang sơ, kì vĩ thì những cô gáiTây Nguyên như những bông hoa aring, kơ tinh làm đẹp cho núi rừng, say đắmlòng người

Bên cạnh những người phụ nữ, ta bắt gặp những chàng trai Tây Nguyênmang vẻ đẹp như bước ra từ những trường ca huyền thoại Nếu như trong tácphẩm của mình Nguyên Ngọc tập trung miêu tả hình dáng nhân vật ở vầng tránrộng, đôi mắt sáng, cánh tay vững chãi và đặc biệt là khuôn ngực vạm vỡ, vócdáng quắc thước để qua đó làm toát lên tính cách mạnh mẽ, cương nghị củanhân vật thì Y Điêng lại chú ý nhiều đến làn da nâu, ngăm đen, rám nắng củanhững con người quanh năm đầu tắt mặt tối với cái nắng, cái gió khắc nghiệt

của Tây Nguyên Đó là những chàng trai như Y Thoa trong Chuyện trên bờ

Sông Hinh: “Y Thoa ở trần, nước da trái ê- nâu của anh bị nắng rám, mồ hôi

nhễ nhại làm cho đen láng đi” [19, 124- 125], Y Nguyên và Y Khăm trong Ba

anh em với “cái làn da rắn chắc của người làm nương rẫy” [21, 63], hay anh

Huyện đội trưởng trong Trung đội người Bah Nar: “Người anh to bề ngang,

khỏe cứng như một khúc gỗ cà te lõi, nhìn phía trước như anh mang cả một

Trang 25

chòi lúa rất nhẹ nhàng Nước da ngăm đen, chắc” [22, 30].

Nếu hình ảnh làn da nâu, đen chắc gợi lên những chàng trai lao động vất

vả thì hình ảnh cánh tay, bắp chân to khỏe cho ta thấy những chàng trai với sứckhỏe hơn người, dũng mãnh như những anh hùng trong sử thi Y Thoa trong

Chuyện trên bờ Sông Hinh được miêu tả: “Bắp thịt của các cánh tay nở

phồng mạnh khỏe” [19, 119]; Y Nguyên, Y Khăm và Y Rin trong Ba anh em:

“Hình dáng của ba người cao thấp như chọn lựa, chiều ngang tròn lẳn khỏe mạnh Chỉ có Y Rin nước da bánh mật Đi đầu trần đội nắng mưa, chân đi không, đạp núi, lội sông Họ ra đi chưa hẹn ngày trở về” [21, 90- 91].

Miêu tả ngoại hình không chỉ giúp người đọc hình dung chân dung cácnhân vật mà qua đó còn góp phần thể hiện tính cách nhân vật Nếu các nhânvật chính diện được Y Điêng miêu tả bằng những câu văn đẹp, gợi cảm thì cácnhân vật phản diện hiện lên với ngoại hình dị dạng, méo mó thậm chí bị vật

hóa để trùng khít với “tâm địa quỷ” của những kẻ tàn bạo, gây bao tội ác cho

nhân dân Đó là những nhân vật như Y Sô trong Chuyện trên bờ Sông Hinh;

Ma Sa, Ma Lóa, Y Soa, Y La trong Hờ Giang.

Trong toàn bộ sáng tác Y Điêng và tiểu thuyết nói riêng, không có nhânvật phản diện, tha hóa nào được khắc họa kĩ lưỡng và tỉ mỉ như Y Sô Chỉ quangoại hình hắn thôi, ta cũng phần nào thấy được bản chất, tâm tính của hắn:

“Hắn cao dong dỏng như một cây tre Mình trần chỉ đóng một cái khố mới còn thơm mùi nước chàm Ánh lửa cũng làm cho nước da của hắn cũng như da của cây tre khô hơi mông mốc Mặt choắt, trán nhỏ hẹp mấy sợi tóc trùm kín lại ” [19, 16], “ cái trán nhỏ hẹp bằng lá lúa ít hiểu biết của mình” [19, 96] Y Điêng đặc biệt chú trọng vào chi tiết “cái trán” để tố cáo cái bản chất ít học

của Y Sô và có lẽ đó là nguyên nhân chính đã gây ra nhiều đau khổ cho buôn

làng Đặc biệt người đọc ám ảnh và ấn tượng với hình ảnh: “cái cười của hắn cũng khác với mọi người, hàm răng bị cưa tận lợi đỏ, khi cười không thấy một

Trang 26

cái răng nào, nhìn cái cười của hắn mà sợ hãi” [19, 70], “mỗi lần hắn nói, từ trong miệng phả ra một mùi rượu chua pha với mùi thối khó chịu” [19, 87].

Ngoại hình đó giúp người đọc phần nào nhận diện bản chất đê tiện, tàn độc vàhèn hạ của Y Sô

Ma Lóa, người từng đi lính cho Pháp, nay lại làm tình báo cho Ngụy được

miêu tả: “Ma Lóa không mặc áo, cái da của ông đỏ như mểnh đứng ăn lá giang” [24, 815] Còn Y La, tên chỉ huy bọn biệt kích được khắc họa khá kĩ từ

ngoại hình dị dạng đến giọng nói đầy mê hoặc để lung lạc những người dân

nhẹ dạ: “Hắn to béo, trên mặt đầy những vết sẹo chằng chịt, hắn đi đến đâu mọi người đều tránh cả Hắn nói chỉ có ồn ào như con phượng hoàng đập cánh Tiếng nói của hắn khi trầm, khi bổng, giọng nói rất dẻo, như những sợi dây mây đã lột vỏ có lúc lời nói của hắn lọt hẳn vào tai của những người nhẹ dạ” [24, 652- 653].

Có thể nói, nếu như các nhân vật chính diện được Y Điêng ngợi ca nhưnhững cánh hoa aring, hoa dăm ké làm đẹp cho đời hay những cây lim, cây cà

te vững chãi làm chỗ dựa cho buôn làng thì điểm chung khi miêu tả các nhânvật phản diện, tha hóa là chúng mang hình hài méo mó, dị dạng của con vật,thậm chí là quỷ dữ Vì trong suy nghĩ của Y Điêng, những kẻ gieo tai vạ, đaukhổ cho bà con, buôn làng mình thì khác nào quỷ dữ

Nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng không chỉ là con người mà còn có cả

lũ quỷ Lũ chim Gơ- rứ trong Ba anh em là hiện thân của cái ác, cái xấu được

tác giả miêu tả rất chi tiết: “Từ con quỷ đầu đàn đến lũ quỷ lính cũng không khác gì mấy Lông lá toàn thân, kẻ đen, con thì mốc nâu cũng hai mắt, mũi

hố phủ, hai tay, hai chân, tay hơi dài và gầy hơn một tí” [21, 148- 149].

Nói đến người Tây Nguyên người ta thường ấn tượng bởi sự thật thà, chấtphác, họ là những con người thâm trầm, sâu lắng, ít nói mà thiên về hành động

Do đó, trong việc khắc họa nhân vật Y Điêng cũng như các nhà văn khác viết

Trang 27

về Tây Nguyên cũng tập trung nhiều hơn cho việc miêu tả hành động nhân vật.

Dù ngoại hình miêu tả chưa nhiều, ít tạo được sự khác biệt, cá tính hóa giữacác nhân vật bởi sự so sánh mang tính chung chung như cách nói của ngườiTây Nguyên nhưng ít nhiều giúp người đọc nhận diện được tính cách của cácnhân vật, đặc biệt là thấy được vẻ đẹp đặc trưng của người Tây Nguyên và bảntính xấu xa, đê hèn của các nhân vật phản diện

1.2.2 Miêu tả hành động nhân vật

Đặc trưng trước hết phải nói đến về con người Tây Nguyên là những conngười ít nói và thiên về hành động Có lẽ cuộc sống giữa núi rừng đại ngàn,quanh năm làm bạn với mảnh rẫy, cánh rừng, con suối lặng thầm nên conngười cũng vậy Họ bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình cũng chủ yếu bằnghành động, nghĩ sao làm vậy Hành động không chỉ là phương châm sống, lốisống mà đã trở thành văn hóa của người Tây Nguyên

Trong sinh hoạt hằng ngày, lúc “ăn năm uống tháng” hay khi buôn làng cóngười mất đi không ai bảo ai, mọi người trong làng đều tự nguyện đến giúpchủ nhà một tay Điều đó đã trở thành lẽ sống, đạo đức, văn hóa Vì vậy, takhông ngạc nhiên khi thấy trai gái làng hồ hởi đến giúp chuẩn bị lễ ăn năm

uống tháng nhà Ma Thin: “Các chàng trai cô gái đã sửa soạn cho nhà ông thêm rực rỡ Con trai lo sửa lại sạp nhà, hiên nhà, cột đâm trâu Các cô gái lo kiếm củi, giã gạo, hái lá chuối để gói cơm Kẻ mang lá nhét ché rượu bước lên, người khiên nồi bung đi múc nước ” [19, 197].

Y Thoa là chàng trai Ê Đê chất phác, thật thà nhưng mang sẵn trong mình

sự cứng cỏi, cương trực của người anh hùng vì vậy mà chánh tổng Y Sô không

ưa anh mới tìm cách đẩy anh vào tù Nhưng chính nhà tù lại là nơi giúp cho YThoa gặp các anh tù chính trị Nguyễn Lợi và Hồ Thu để từ đó mở ra một bướcngoặt mới trong cuộc đời anh Y Thoa đã nhận ra rằng: muốn chiến thắng thằngTây thì phải cứng cỏi, có bản lĩnh hơn cả thép kia và dám đấu tranh để đánh

Trang 28

đuổi bọn thực dân ra khỏi bờ cõi đất nước Đây là mốc son quan trọng đưa YThoa đến với cách mạng sau này.

Hành động được miêu tả kĩ và ấn tượng nhất là cảnh Y Thoa đánh hổ: “Y Thoa liền ngồi xuống ngay con hổ nhảy chụp nhưng qua mất Mất đà con hổ rơi xuống vũng nước bọt nước tung lên trắng xóa Y Thoa biết chàng cọp đã

bị động rồi hắn không thể làm gì hơn Anh sẵn sàng một mình chống lại chàng hổ này Con hổ vừa bước lên bờ thì vừa gặp cú đá của Y Thoa chỉ có rú lên một tiếng nghe rợn cả núi sông” [20, 11].

Hành động đó làm nổi bật bản lĩnh, vẻ đẹp của người anh hùng Y Thoa.Hay lúc Y Rin một mình chiến đấu với đàn chim Gơ- rứ khiến người đọcliên tưởng đến hành động dũng mãnh của những Đam San, Xinh Nhã trong sử

thi: “Anh nhảy ra ngoài hiên nghênh chiến Tay trái cầm khiên, tay phải cầm đao bén lấp loáng như chớp tháng ba Anh đứng hiên ngang giữa hiên Mỗi lần lũ chim lính lao tới, anh múa khiên, khiên xoáy tạo ra một luồng gió như bão tố gạt chúng đi Anh vừa múa khiên vừa lia đao lũ chim rớt xuống đất như mùa phát cỏ tranh” [21, 140- 141].

Người đọc càng không thể nào quên hành động dũng cảm, kiên cường của

nữ cán bộ cách mạng- Hờ Giang khi cô hiên ngang trước mặt bọn biệt kích Mỹvới ánh mắt như ngàn mũi tên bay về phía lũ bán nước, bất chấp cái chết đang

đến gần: “Hờ Giang thì cứ đứng hiên ngang, tay ôm chặt đứa con, đôi môi mím lại và hai con mắt trừng trừng nhìn tên biệt kích” [24, 854].

Có thể nói đối với nhân vật anh hùng, nhất là người anh hùng TâyNguyên thì mọi phẩm chất đều thể hiện qua hành động Nếu người anh hùnghành động để bảo vệ chính nghĩa, buôn làng thì các nhân vật phản diện tha hóa,qua hành động được miêu tả cũng giúp bản chất của chúng lộ diện rõ hơn Ta

có thể thấy bản chất háo sắc, đê hèn của chánh tổng Y Sô khi hắn mò vào nhà

Hơ Linh:

Trang 29

Hắn đi một vòng lắng nghe động lĩnh Y Sô đứng dưới chân cầu thang, cố kiễng chân để ngó vào không lùi lại, một tay vịn cột lên xuống và hai chân Y Sô rất nhẹ, đặt chân lên cầu thang hắn ngồi ngay ở cạnh cửa Y Sô ngồi đó và run mà nhớ lại những câu ca dao trong bản lrường ca khi mộl chàng lrai đến với người yêu của mình, nếu người yêu mình đang ngủ đừng để người đó giật mình

“Không, la không làm như lhế” hai bàn lay của hắn chạm vào người

1.2.3 Miêu tả ngôn ngữ nhân vật

Có thể nói, Y Điêng đã rất thành công khi khắc họa tính cách nhân vậtbằng chính lời nhân vật Ngôn ngữ nhân vật của Y Điêng không chỉ là công cụ,phương tiện của sự miêu tả mà đã trở thành đối tượng miêu tả So với nhiềunhà văn cùng thời, Y Điêng sử dụng ngôn ngữ đối thoại với mật độ dày hơntrong tác phẩm của mình:

Trang 30

cách của nhân vật Qua đối thoại, vẻ đẹp con người Tây Nguyên có dịp bộc lộ

rõ hơn

Vẻ chất phác, thật thà của người Tây Nguyên thể hiện rõ qua đoạn đốithoại của Y Thoa và anh Trần Được khi nói chuyện về tổ chức Việt Minh:

- Việt Minh anh Y Thoa ạ.

- Việt Minh nghe lạ quá.

- Vậy là họ đông người? [20, 59- 60].

Đối với những nhân vật chính diện, ngôn ngữ được miêu tả chuẩn mựcvới giọng điệu ngợi ca Nhất là đối với các nhân vật anh hùng, cùng với hànhđộng, ngôn ngữ là tuyên ngôn về lẽ sống của họ Vì vậy, khi tên chỉ huy bọnbiệt kích Mỹ hỏi Hờ Giang về chuyện tái hợp với Y Soa, cô đã rắn rỏi trả lời:

- Hai người có muốn tái hợp không?

- Ông cũng là người Ê Đê, chắc ông còn nhớ lời người xưa thường nói: “Lấy chồng ở với chồng cho đến chết Người chia rượu cho đến khi rượu lạt, đánh chiêng cho đến khi người ta giật tay mới thôi”.

Vợ chồng chúng tôi cũng bị người ta cướp giật như kẻ đánh chiêng

đó ông ạ! [24, 856].

Câu trả lời cho thấy lòng thủy chung của Hờ Giang nhưng bọn biệt kích

Mỹ đã dùng tiền bạc, những lời xuyên tạc, bịa đặt để chia rẽ vợ chồng cô Hờ

Giang trước họng súng của kẻ thù đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi sẽ không đi đâu, tôi không thể bỏ buôn làng Nếu hôm nay tôi có chết đã có buôn làng làm chứng Tôi có tội, các ông bảo tôi làm Việt Cộng, tôi tin rằng các ông chưa

Trang 31

hiểu Việt Cộng Các ông hiểu thì tôi đoán chắc rằng các ông sẽ làm như tôi Hôm nay đạn từ nòng súng các ông đi ra nhằm vào ai, bây giờ chỉ vào thân thể người Ê Đê chúng mình thôi, đau lắm chứ” [24, 858].

Từng lời nói của Hờ Giang như những giọt mưa rừng giữa mùa hạ thấmvào lòng đất mẹ, xé lòng của những người Ê Đê còn ở lại, làm thức tỉnh chútlương tri còn sót lại của những kẻ ôm bả vinh hoa của đế quốc Mỹ đã chĩa mũisúng về phía đồng bào mình Lời nói của Hờ Giang cũng là tiếng lòng củanhững người Ê Đê, người Tây Nguyên yêu nước bấy giờ

Trong Ba anh em, lời nói của Y Nguyên khi nói chuyện với chim Gơ- rứ

chúa- kẻ đã bắt hết cả làng của Y Rin được coi như tuyên ngôn và cũng là niềm

tự hào về truyền thống bất khuất của người Ê Đê: “Chúng tôi là người chủ của

xứ sở này, có văn hiến, có lịch sử, có truyền thống đấu tranh bất khuất để gìn giữ và xây dựng đất nước này Nếu mà trong cuộc đánh nhau lần này vì lí do nào đó chúng tôi thua trận, đó chỉ là tạm thời Thời đại sau sẽ sinh ra những người tài giỏi hơn chúng tôi, thì họ sẽ đánh bại chúng bay đem lại cho xứ sở này của chúng tôi tốt đẹp hơn” [21, 244].

Nếu ở các nhân vật chính diện, ngôn ngữ đã góp phần làm đẹp thêm tâmhồn, nhân cách của họ thì ở các nhân vật phản diện, Y Điêng đã bóc trần bộmặt xảo trá, bản tính xấu xa qua ngôn ngữ của chúng Trong đó, lời nói củanhân vật Y Sô được Y Điêng khắc họa thành công nhất Ngôn ngữ Y Sô biếnđổi qua từng hoàn cảnh, nhân vật mà hắn tiếp xúc Nếu trước kia khi Pháp còn

là ông chủ của xứ sở này, hắn đã vênh váo, trịch thượng bằng thứ ngôn ngữ của

kẻ nắm quyền sinh quyền sát trong tay, hắn từ chối lời van xin của ma Y Thoa

khi hắn cho người bắt Y Thoa giải lên huyện: “Ông đừng nói nữa Muộn rồi

đó Mấy tháng, mấy năm trước sao không dạy nó Việc đến chân rồi, và lại việc quan trên, tôi không có quyền nhúng vào” [19, 147].

Chính Y Sô là người xúi Ma Thin kiện mí con Hơ Linh nhưng khi Ma

Trang 32

Thin thua kiện, hắn lật lọng nhằm vơ vét tài sản nhà Ma Thin: “Sao đây ông

Ma Thin?”; “Bởi ông đụng đến cái họ lớn này mà Phải không ông Ây Lứ? Hôm trước nhiều người đã nhắc là tùy ông mà” [19, 255], “Bên đó bàn gì mà lâu thế? Đã xếp đủ hai mươi lăm con bò chưa? Thế bao giờ bên ấy cho chúng tôi đến dắt đây?, “Thế còn cái ché ba cổ và bộ chiêng nữa” [19, 260].

Thế nhưng khi thực dân Pháp bị Nhật đảo chính, Y Sô lo sợ cho số phậncủa mình nhỡ khi bọn Nhật hỏi sổ sách và số thóc hắn đã thu của dân giờ ởđâu, hắn không trả lời được Vì vậy, hắn nhờ Y Thoa làm giả sổ sách cho mình

thì lời lẽ ngọt như đường: “Em Y Thoa hả?”; “Em này”; “Em ạ” [20, 67- 68].

Bản chất xu nịnh của Y Sô thể hiện rõ nhất khi hắn nói chuyện với lũ Tây,mặc dù lúc này người Pháp đang bị Nhật lùng bắt không chốn nương thân

nhưng hắn vẫn dạ dạ vâng vâng: “Ông lớn đến sao không báo trước”; “Ông lớn cho phép tôi đánh trống gọi dân làng về”; “Bẩm quan lớn”; “Mời ông lớn lên nhà” [20, 74- 75].

Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, Y Điêng đã khéo léo xây dựng những mànđộc thoại tinh tế để qua đó nhân vật tự bộc lộ tâm trạng, tính cách của mình

Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, Hơ Linh là cô gái sớm chịu nhiều bất

hạnh, nên cô có cách nghĩ và nhạy cảm hơn các cô gái khác Vì quá xinh đẹp,giỏi giang nên cô trở thành đối tượng thèm khát nhất của chánh tổng Y Sô Hắn

đã tìm mọi cách để tiếp cận và chiếm đoạt cô Vì vậy, Hơ Linh đã trằn trọc suốt

đêm khi mẹ cô nhẹ dạ đã nhận mấy hào bạc của Y Sô cho: “Anh Y thoa ơi, sao đêm nay em khó ngủ quá, anh bỏ cây sáo đến ngồi cạnh em đi! Anh Y Thoa

ơi, anh đừng bỏ em, cứu em ra khỏi chốn này” [19, 80].

Hơ Linh càng lo sợ khi Y Sô nhân lúc mẹ con cô đang ngủ hắn đã lên nhà

sờ soạng mình và cô sợ Y Thoa biết chuyện này liệu anh có hiểu và cảm thông

cho cô không: “Anh Y Thoa ơi! Anh có hiểu cho chăng, em không hề dính líu một chút gì Mọi tai họa không phải do em đâu, họ đem tới họ gắn cho em như

Trang 33

vậy đó: Anh cứ ngủ ngon đi đừng có chiêm bao gì về em Trời sáng rồi em sẽ nói cho anh rõ về điều xảy ra trong nhà em Đừng giận em và khi nghe việc này anh đừng có để hai tai, tin thì tin đừng có yếu đuối đó” [19, 91].

Đoạn độc thoại cho thấy đức tính vị tha, chân thành của người con gái Ê

Đê luôn một lòng lo nghĩ cho người mình yêu

Nếu độc thoại nội tâm thường dùng để diễn tả cảm xúc của các nhân vậtchính diện, những người vốn giàu tình cảm, cảm xúc thì ở đây Y Điêng còndùng diễn tả tâm trạng lo lắng của Y Sô- kẻ làm biết bao chuyện ác nên luônphải sống trong tâm lý lo sợ, bất an Y Sô lo lắng khi lộ chuyện hắn sàm sỡ HơLinh và chuyện Cộng sản xuất hiện ở làng mình, hai cái lo cộng vào nhaukhiến hắn không sao yên được:

Cái chuyện thằng Tây nói hôm trước, làng mình có Cộng sản thật rồi Bị lây, chưa có cách gì ngăn lại Hắn gục đầu xuống hai cái đầu gối, hai tay ôm lấy cái trán nhỏ hẹp bằng lá lúa ít hiểu biết của mình Giá như cái đầu này có thể lấy ra được rồi lại gắn lên hẳn là hắn không để dính ở cổ nữa Ngay trong người hắn, trong cái đầu hắn đầy những thứ gì vừa ngứa ngấy vừa đau, đứng, ngồi và ngay cả

ăn uống cũng không yên, không ngon [19, 96].

Trong đám ma con trai ông chủ bến nước, bản chất của Y Sô càng bộc lộ

rõ hơn Nếu là một người bình thường người ta sẽ dành sự xót xa cho ngườiquá cố và chia buồn cùng tang gia nhưng trong đầu Y Sô lúc này lại đầy ắp

những toan tính nhỏ nhen để ám hại mẹ con Hơ Linh: “Y Thoa đi tù rồi, nếu có

về nó cũng không dám làm gì nữa Nhưng còn hai mí con Hơ Linh Không Không được đâu Y Sô ạ Trai gái với người cùng họ cùng làng sẽ cho mình ăn cơm Irong máng lợn, đi bằng bốn chân Khủng khiếp quá Tốt nhất là ta thủ tiêu hai mí con Hơ Linh ” [19, 156].

Nếu những dòng độc thoại của Hơ Linh trong Chuyện trên bờ Sông

Trang 34

Hinh chủ yếu xuất phát từ những suy nghĩ mang tính cá nhân thì trong Hờ Giang, những dòng độc thoại của Hờ Giang xuất phát từ con người cộng đồng

luôn lo nghĩ cho mọi người Hờ Giang lo cho chú Ma Đoan và các anh bộ đội

trong rừng: “Chú và các anh không đi đâu xa, chú sẽ về ngay mà, ta ngồi đợi ở đây Con chim gõ kiến ơi, hôm trước mày đuổi tao đi, chú và các anh của tao đâu rồi Sao mày không nói cho tao biết, bao giờ chú và các anh về?” [24,

Nỗi đau và nỗi lo lớn nhất của cô là đứa con gái duy nhất của mình Vìvậy, khi bị bọn biệt kích Mỹ bắt, cô không lo cho mình mà chỉ nghĩ và thương

cho con gái Hờ Lê của mình: “Tội nghiệp cho con gái đầu lòng của tôi phải mang suốt đời là con gái người cha phản động, nhưng vì cả nước bị đế quốc

Mỹ xâm lược, tôi và nó không thể nào tránh được cái đau thương” [24, 855].

Như vậy, ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, ngôn ngữ trong tiểuthuyết Y Điêng còn là một thứ bột màu vẽ nên tính cách, bản chất nhân vật mộtcách rõ nét

1.2.4 Miêu tả tâm lý nhân vật

Xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết không chỉ đơn thuần cho người đọcthấy được ngoại hình, ngôn ngữ, hành động nhân vật mà quan trọng hơn là hơn

là nói được phần sâu kín trong tâm hồn con người Nói như L.N.Tolstoy: “Mục đích chính của nghệ thuật là phát biểu các sự thật về tâm hồn con người, nói

Trang 35

lên những bí ẩn mà nó không diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được”.

Trong các nhân vật của Y Điêng, Hờ Giang là nhân vật được miêu tả nộitâm rõ nhất nhằm làm nổi bật vẻ đẹp của con người cộng đồng, người anh hùngcủa buôn làng Từ khi còn nhỏ, sau lần gặp chú Ma Đoan và các anh bộ độiđêm về trời đổ mưa Hờ Giang không ngủ được vì lo cho chú Ma Đoan và các

anh bộ đội trong rừng: “Mưa càng to giọt mưa từ cái đuôi mái nhà rơi lộp độp, nghĩ đến chú Ma Đoan và các anh ở ngoài rừng, bụng em se lại Không biết trời tối thế này các chú và các anh có tìm thấy chòi rẫy cũ của buôn này không” [24, 617]; “Cái bụng Hờ Giang thương chú Ma Đoan và các anh đầy

ăm ắp Không biết đêm nay chú và các anh có yên giấc không? Chú ơi! Hai mẹ con cháu không ngủ và cả buôn làng lớn bằng này cũng vậy” [24, 620].

Hờ Giang- người con ưu tú của buôn làng, làm bí thư xã nhưng chínhchồng của mình theo biệt kích nên khi biết được tin này, Hờ Giang nghe nhưsét đánh ngang tai, tâm trạng rối bời, không còn đủ sức để nghĩ và tìm cách nàogiải quyết:

Suốt đêm Hờ Giang không tài nào chợp mắt Nhìn con côi cút chị lại khóc Càng nghĩ về con chị lại càng khóc, từ khi biết tin chồng chị làm biệt kích Mỹ mới có một hôm mà người chị gầy đi nhiều Cái mặt tròn trĩnh của hôm qua nay không còn, nó hốc hác hẳn, chị già đi nhiều Bây giờ chị chỉ mong làm thế nào cho trời mau sáng mà về Huyện ủy gặp anh Ma Đoan, nhờ anh Ma Đoan và các đồng chí trong Huyện ủy giúp đỡ [24, 843].

Trong Trung đội người Bah Nar, Siu Nay và các chiến sĩ cùng đơn vị ai

cũng mang đầy tâm trạng, lưu luyến khi phải rời làng Đê Ka- nơi chứa đựngbao nhiêu kỉ niệm đẹp đẽ và có người con gái mình yêu:

Các chiến sĩ ai ai cũng ngùi ngùi, nhớ những chiếc nhà xinh xắn, các lán trại đứng chui chủi đó cũng là một sợi dây giữ chân anh

Trang 36

em Bịn rịn quá chừng Ai ai cũng muốn rờ rẫm lại sạp nhà, sân trại

và cả con suối nhỏ kia cứ reo không ngừng nghỉ Suốt đêm hôm đó, không chỉ có một mình anh Siu Nay trăn trở khó ngủ, nhiều chiến sĩ cũng vậy Từ nay anh sẽ không thấy hình dáng, không còn nghe tiếng nói, tiếng cười của các cô gái làng Đê Ka, nhất là hình ảnh cô Xuân Không biết sẽ như thế nào khi anh xa rồi Anh chàng nào sẽ đến chòi cao đánh đàn t'rưng? Anh chàng ấy chắc chắn sẽ được nhiều hạnh phúc [22, 94- 95].

Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, Y Điêng rất tinh tế khi miêu tả tâm lý

của người con gái mới lớn lần đầu đứng cạnh người mình yêu: “Sao mà bối rối quá Hơ Linh vẫn đứng im như cây không có gió lần đầu tiên đứng cuốc gần Y Thoa, Hơ Linh thấy chân tay của mình cứng lại Hơ Linh cứ luýnh quýnh hoài” [19, 48- 49].

Nếu lần đầu đứng cạnh người yêu khiến cô bối rối thì lần gặp lại ngườiyêu sau bốn năm xa cách Hơ Linh chỉ biết khóc, nghẹn ngào không nói nên lời:

“Tiếng khóc của Hơ Linh không phải khóc thảm thương, cũng không phải tiếng khóc giận dữ Trong tiếng khóc có tiếng nấc của cái mừng không biết nói, không biết cười như thế nào ” [19, 301].

Không chỉ nhân vật anh hùng, nhân vật chính diện được miêu tả tâm lí màngay cả nhân vật phản diện như Y Sô cũng có đời sống nội tâm đầy bi kịch Y

Sô lo lắng đến mất ăn mất ngủ khi Y Thoa- kẻ bị hắn vô cớ đẩy vào tù sắp mãnhạn về làng:

Sau cái buổi lễ đón trống về nhà, Y Sô có chút ít thay đổi, mọi người thấy y như cái trống bị chùng hẳn hoi Ý tưởng cho Y Thoa

đi tù, vu cho mẹ con Hơ Linh có ma lai và đem bán cho một làng ở

xa xôi, tưởng là ổn cả Cái chuyện y phạm vào tập quán cũng không còn tiếng tăm gì nữa Y Sô ngại nhất với tình hình trời đất gần đây

Trang 37

sẽ bị vợ chồng Hơ Linh và Y Thoa tố cáo, luật dân gian sẽ trừng trị y.

Luật dân gian ác liệt lắm, có chuyện giữa họ hàng với nhau mà trai gái thì thôi, ngoài của cải làng phạt và bắt người phải bò bằng chân cùng tiến về máng heo mà ăn [20, 32- 33].

Hắn càng lo sợ hơn khi ông Tây- cái sợi dây mà hắn bám víu lâu nay đểcai trị dân làng đã không còn nữa khi Nhật hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương:

Y Sô cúi mặt suy nghĩ, cái sợi dây mình níu lâu nay, đã không còn nữa Từ hôm đó, Y Sô ngồi lì trong nhà mình Hết đi ra đi vào lại lên bộ phản nằm nghỉ, nhưng nằm đâu có yên, đôi mắt của y hết ngó trần nhà, lại ngó các cột to, nhìn chiêng treo ché buộc, trống to, thế là nước mắt cứ chảy ra, nhìn Y Sô lúc này như gầy hẳn lại [20,

47]

Y Sô không hiểu điều gì đang xảy ra với ông Tây của hắn:

Từ sáng giờ Y Sô hết nằm rồi ngồi dậy và lo lắng Mọi người thấy ở y hình như có việc gì y chưa làm xong thì phải Y Sô nhớ lại hôm trước thực dân Pháp to lù lù như con voi thế mà đùng một cái ngã gục xuống không có tiếng kêu Phát xít Nhật Y Sô mới thấy hồi đầu năm Chúng nó giống như người mình tóc đen, da vàng nhưng lại mang cái tiếng phát xít Y Sô không tài nào hiểu được [20, 66].

Bằng việc miêu tả nội tâm, Y Điêng đã góp phần vạch trần bản chất thamlam, háo sắc, tráo trở nhưng hèn nhát của Y Sô nhưng ngược lại nó lại tô đậm

vẻ đẹp cho nhân vật anh hùng- những người con tiêu biểu cho buôn làng, conngười Tây Nguyên

3 ĩ

TI • 1 J

Tiểu kết

“Văn học là nhân học” nhận định của Gorky đã nhấn mạnh vai trò của

con người trong tác phẩm văn học Con người là nơi bắt đầu và cũng là đích

Trang 38

đến của nghệ thuật Có lẽ không nơi nào trên mảnh đất với năm mươi tư dântộc anh em này vẻ đẹp và tính cách con người được bộc lộ rõ như mảnh đấtTây Nguyên Phải chăng chính vẻ đẹp thơ mộng của núi sông và cuộc sống laođộng vất vả đã hun đúc nên bản lĩnh, tính cách con người nơi đây? Con ngườitrong tiểu thuyết Y Điêng là con người cộng đồng, con người với những sốphận nhỏ bé, bất hạnh nhưng giàu chất nghệ sĩ Tuy vậy, bên cạnh những conngười với bản tính tốt đẹp ấy còn có những con người bị tha hóa đi ngược lạitruyền thống, luật tục tốt đẹp của người Tây Nguyên Nhưng tựu trung trongtiểu thuyết Y Điêng là bức tranh toàn cảnh về con người Tây Nguyên vớinhững nhân vật đẹp cả về ngoại hình lẫn tính cách như những bông hoa kơtinh, hoa aring, như những cây lim, cây trắc đẹp đẽ, vững chãi giữa đại ngànTây Nguyên.

Trong tiểu thuyết Y Điêng có thể chưa có những nhân vật, tính cách điểnhình để trở thành tâm điểm, nhiều nhân vật còn giống nhau về cách miêu tảngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động nhưng Y Điêng đã cho người đọcthấy được vẻ đẹp từ ngoại hình đến tâm hồn của con người Tây Nguyên Dù cónhững nhân vật phản diện, tha hóa nhưng không vì thế mà người đọc có ấntượng xấu về con người Tây Nguyên mà ngược lại chính tỉ lệ ít ỏi của kiểunhân vật này như một sự khẳng định không bàn cãi về con người của xứ sở đất

đỏ bazan- đó là những con người sống vì mọi người, chất phác, nghĩa tìnhnồng thắm như màu đất đỏ không phai, giàu chất nghệ sĩ như bát rượu cầnsóng sánh làm say đắm lòng người tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của con người nơiđây

Trang 39

TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG2.1 Không gian nghệ thuật

Theo Trần Đình Sử, “Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới độc lập

có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian” [56, 87].

“Mỗi tác giả có một không gian nghệ thuật riêng Tác giả dùng không gian như một thử nghiệm để phát hiện tính cách Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của tác phẩm, tác phẩm nào cũng có không gian thời gian”

[56, 62- 64]

Trong tiểu thuyết Y Điêng ta bắt gặp các kiểu không gian: không gianthiên nhiên, không gian sinh hoạt Đây là hai không gian chính tồn tại cùng cácnhân vật, qua đó giúp nhà văn thể hiện được quan niệm về con người và cuộcsống nơi mảnh đất Tây Nguyên

2.1.1 Không gian thiên nhiên

Nhắc đến Tây Nguyên người ta liền nhớ ngay đến vẻ đẹp của những

cánh rừng “bạt ngàn cao su, bạt ngàn cà phê”, những rừng thông u tịch hay những dòng suối trong xanh, mát lành nhưng cũng đầy khắc nghiệt bởi “cái nắng, cái gió” làm nên đặc trưng không lẫn vào đâu của xứ sở “cao nguyên huyền thoại, cao nguyên cỏ dại” này.

2.1.1.1 Không gian thiên nhiên khắc nghiệt

Nhạc sĩ Nguyễn Cường- người viết nhiều ca khúc hay nhất về Tây

Nguyên đã từng viết về cái nắng, cái gió của xứ sở này “Gió thế đấy, nắng thế

Trang 40

dội xuống nắng hừng hực như một lò lửa cát Sông Ba như ai rang mà nóng cháy da chân” [20, 54] Có lẽ chính cái nắng này đã nhuộm cho các chàng trai,

cô gái Tây Nguyên làn da rám nắng và đây cũng là làn da đặc trưng của conngười vùng cao nguyên đồng cỏ

Nếu khi đọc thơ Xuân Quỳnh người ta cứ nhớ mãi hình ảnh “Ngọn gió lào cát trắng của đời tôi Tôi của cát của gió Lào khắc nghiệt” của mảnh đất

miền Trung thì đọc tiểu thuyết Y Điêng ta bắt gặp cái gió “Xi ăng”- thứ giódường như chỉ được sinh ra ở xứ cao nguyên cỏ dại này:

Gió thở càng lạnh và khô, không khốc Người địa phương gọi

là “Gió Xi ăng” Gió thổi vun vút Gió thổi như người cắm đầu chạy, như con hổ giật mình cố chạy bán sống bán chết Gió thả ra những hơi thở dài Nó lượn sát bờ suối hò lên đồi tranh làm cho cỏ tranh hết đứng lại nằm xuống, từng đợt sóng nối tiếp nhau nhảy múa Đột ngột, nó quay về làng dìu dịu, vào các khe hở của phên nhà nghe như ai thổi sáo vi vu, như ai đánh đàn môi và rồi lại ào lên mái nhà reo ầm ầm, nâng tấm tranh lên soàn soạt [19, 5- 6].

Có khi gió và nắng hùa cùng với nhau để thiêu đốt buôn làng: “gió và nắng quyện vào nhau, nóng hừng hực Chỉ trong mấy ngày cỏ cây xơ xác, nước không còn trông thấy Buôn làng như cái trống căng để gần lửa.” [19, 6]

Thiên nhiên khắc nghiệt không chỉ có nắng, gió mà còn có cả thú dữ đedọa cuộc sống con người:

Hết mùa nắng lại đến mùa gió Từ các rặng núi chung quanh vùng đồi cỏ này, ngay từ lúc mặt trời chưa mọc đã thở ra một thứ gió kì lạ, khô cằn Mùa gió về thì mưa cũng bắt đầu vài đợt nhưng

Ngày đăng: 16/08/2021, 11:27

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w