1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật tiểu thuyết trong hai tác phẩm nỗi buồn chiến tranh (bảo ninh) và phía tây không có gì lạ

89 18 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm cũng chứa đựng những cách tân về kỹ thuật tiểu thuyết cho nên sự đánh giá, khẳng định những giá trị của nó còn khá thận trọng và dè dặt.” Việc nghiên cứu vấn đề thi pháp Nỗi buồ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯU THỊ PHƯƠNG DUNG

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT

TRONG HAI TÁC PHẨM NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH)

VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ (ERICH M REMARQUE)

Ngành: Văn học Việt Nam

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi có sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là TS Hoàng Thị Thập Các số liệu, kết quả trong luận văn

là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2021

Tác giả luận văn

Lưu Thị Phương Dung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn cô giáo: TS Hoàng Thị Thập đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chu đáo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2021

Tác giả luận văn

Lưu Thị Phương Dung

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12

1.1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 12

1.1.1 Văn học so sánh 12

1.1.2 Truyện kể và cấu trúc truyện kể 14

1.1.3 Liên văn bản 16

1.1.4 Nhân vật và vấn đề xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học 18

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của hai nhà văn Bảo Ninh, Erich Maria Remarque 21

1.2.1 Nhà văn Bảo Ninh và tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh 21

1.2.2 Nhà văn Erich Maria Remarque và tác phẩm Phía Tây không có gì lạ 25

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 CẤU TRÚC TRUYỆN KỂ CỦA HAI TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ 32

2.1 Cách mở đầu và kết thúc 32

2.2 Liên kết bề mặt 37

2.3 Liên kết bên trong 42

Tiểu kết chương 2 53

Trang 5

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG NỖI

BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ 54

3.1 Nhân vật nhìn từ nhiều “lăng kính” 55

3.2 Nhân vật qua hành động “nghịch lí” 61

3.3 Nhân vật qua không gian đối lập 68

3.3.1 Nhân vật trong không gian thực tại 69

3.3.2 Nhân vật trong không gian mộng ảo 73

Tiểu kết chương 3 77

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến rất nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, đó là Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 -1918); Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939 -1945) Dân tộc Việt Nam chúng ta cũng trải qua ba cuộc chiến tranh chống đế quốc, ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, thống nhất nước nhà Chiến tranh, bản chất của nó là mất mát, dù ai là người chiến thắng vẫn không tránh khỏi những nỗi đau thương Văn học phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật Văn học thế giới cũng như văn học Việt Nam đã có những tác phẩm viết về chiến tranh với tất cả lòng yêu thương con người, thái độ phản đối chiến tranh mạnh mẽ Các nhà văn E Hemingway, H Barbusse, G Grass, Erich M Remarque đã rất thành công ở đề tài này Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, rất nhiều nhà văn Việt Nam là những người lính Những tác phẩm của họ phản ánh hào khí dân tộc với cảm hứng anh hùng ca và cả nỗi đau mất mát Các nhà văn Việt Nam và các nhà văn thế giới

có những điểm gặp gỡ khi viết về chiến tranh Họ đã cùng chuyển đến nhân loại những suy tư về giá trị của sự sống của con người trong chiến tranh Trong các nhà văn có “sự gặp gỡ” đó, chúng tôi thấy hai nhà văn Bảo Ninh và Erich M Remarque (nhà văn Đức), trong rất nhiều sự khác biệt, họ có những tương đồng

“Bảo Ninh (tên thật là Hoàng Ấu Phương, 1952) là nhà văn đương đại Việt Nam viết về chiến tranh thành công nhất thời hậu chiến Tên tuổi của Bảo Ninh

trở nên nổi tiếng với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh Nỗi buồn chiến tranh của

Bảo Ninh xuất bản năm 1990 đã gây được tiếng vang ở lớn trong và ngoài nước

Ngay trong lần đầu tiên xuất bản, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã được độc

giả đón nhận nồng nhiệt và được trao giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1991)

Ở nước ngoài, Nỗi buồn chiến tranh cũng rất được đề cao, được dịch ra 18 thứ tiếng khác nhau Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã góp phần tạo nên bộ mặt

mới, tạo thêm sự sôi động cho văn học Việt Nam đương đại Tác phẩm này từng tạo ra nhiều luồng tranh luận, những đánh giá khác nhau Tuy nhiên, như mọi tác

phẩm đích thực, tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh vẫn tồn tại đúng giá trị trong lòng

Trang 7

độc giả Nó không chỉ đề cập đến cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc mà còn chuyển tải được vấn đề muôn thuở của nhân loại, đó là khát vọng hòa bình Đằng sau nỗi đau mất mát là khát vọng cháy bỏng về một cuộc sống hòa bình.”

Nhà văn người Đức Erich Maria Remarque (1898 - 1970) được đánh giá là tác giả của những cuốn tiểu thuyết “hay nhất viết về hai cuộc đại chiến thế giới” Cùng với những nhà văn như Ernest Hemingway, Remarque trở thành người phát ngôn cho “một thế hệ bị chiến tranh tàn phá dù họ đã thoát khỏi hòn tên mũi đạn”

Remarque nổi tiếng với tác phẩm Phía Tây không có gì lạ xuất bản vào năm 1929

Cuốn tiểu thuyết ngay lập tức trở thành một hiện tượng Nó được dịch ra 29 thứ tiếng và nhiều nhà phê bình đã không tiếc lời ca tụng nó như là “cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất viết về chiến tranh thế giới thứ nhất”, như là “bản di chúc của tất cả

những người đã ngã xuống trên chiến trường” Có thể xem Phía Tây không có gì

lạ là áng văn chương giàu giá trị nghệ thuật và thấm đẫm tinh thần nhân văn

Remarque viết bằng sự cảm thông và thương yêu lớn lao, với một trái tim nhiệt thành và khao khát một cuộc sống hạnh phúc mà đáng lý ra con người phải được thừa hưởng trọn vẹn Điều này đã làm nên sức sống cho tác phẩm của Remarque cũng như góp phần đưa ông lên hàng những nhà văn phương Tây viết về chiến tranh hay nhất của thế kỷ XX

Như vậy, Erich Maria Remarque và Bảo Ninh đều là những nhà văn nổi

bật, có nhiều đóng góp cho nền văn học hiện đại Với tiểu thuyết Phía Tây không

có gì lạ và Nỗi buồn chiến tranh, Remarque và Bảo Ninh đều rất xuất sắc khi thể

hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa và lý giải mới về đề tài chiến tranh trong hình

thức có nhiều cách tân về kỹ thuật tiểu thuyết

1.2 Tiểu thuyết là thể loại lớn tiêu biểu cho loại hình tự sự, “cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại, nó chưa bao giờ ngừng phát triển Tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết có vai trò quan trọng, là một vấn đề thời sự trong nghiên cứu văn học Việc tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết giúp chúng ta thấy được giá trị thẩm mĩ của tác phẩm, hiểu được phương diện cấu trúc của tác phẩm, hiểu sâu hơn mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể trong tác phẩm tự sự Bên cạnh đó, sự hấp dẫn trong sáng

Trang 8

tạo của nhà văn phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật nên tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết giúp khám phá được phong cách và tài năng của tác giả

1.3 Văn học so sánh là tên gọi một hệ phương pháp luận, không chỉ cho phép người nghiên cứu so sánh các hiện tượng văn học ở các quốc gia khác nhau theo quan hệ giao lưu mà còn có thể so sánh văn học theo quan hệ tương đồng Nghiên cứu văn học từ góc độ văn học so sánh giúp độc giả khám phá giá trị thẩm

mỹ ở góc độ khác biệt, nhiều chiều Một tác phẩm văn học đích thực không chỉ mang tính dân tộc, giai cấp mà còn mang tính nhân loại Văn học so sánh đóng vai trò quan trong trong việc nghiên cứu văn học Nó có chức năng làm rõ cái đặc thù dân tộc và cái quốc tế, từ vấn đề quan hệ văn chương để tìm ra tính chất, quy luật phát triển chung của văn chương, giúp làm sáng tỏ bản chất, con đường phát triển

và các giá trị văn học.Việc khám phá giá trị thẩm mĩ của hai tiểu thuyết từ góc độ

so sánh nhằm khẳng định những đóng góp của mỗi tác giả vào việc cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, vào quá trình hiện đại hóa văn học

1.4 Tuy không hoàn toàn trùng khít thời gian sinh trưởng, sáng tác nhưng Bảo Ninh và Remarque đều là nhà văn hiện đại quan tâm đến đề tài chiến tranh

Đó là cơ sở cho phép nghiên cứu, so sánh nghệ thuật tiểu thuyết trong hai tác

phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ Đặt hai tác phẩm này

trong thể đối sánh để thêm một cách đọc hiệu quả hơn vẫn là chuyện hết sức mới

mẻ, cần thiết

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Nghệ thuật tiểu

thuyết trong hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Phía Tây không có

gì lạ (Erich M Remarque)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

* Ở Việt Nam

bản lần đầu tiên vào năm 1990 với tiêu đề do biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà

Trang 9

văn lựa chọn: Thân phận của tình yêu Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu đề chính của tác giả: Nỗi buồn chiến tranh Cũng trong năm đó, tác phẩm

được giải thưởng của Hội nhà văn và từ đó trở thành một một lựa chọn bị tranh cãi nhiều nhất trong số các giải thưởng của Hội nhà văn trao tặng Nhiều cuộc tọa đàm, nhiều bài viết với những ý kiến khen - chê về tác phẩm đến nay vẫn chưa ngã ngũ

Nỗi buồn chiến tranh đặt trong bối cảnh của văn học Việt Nam sau 1975 mà

bản thân giai đoạn này chưa có sự thống nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá Có nhà nghiên cứu, nhiều độc giả rất tán thành, khen ngợi và ghi nhận sự cống hiến của văn học giai đoạn này khi nó đã có công đem đến một luồng gió mới cho văn học, bước đầu làm thay đổi tư duy nghệ thuật Song, cũng không ít những đánh giá ngược chiều cho đây là bước thụt lùi của nền văn học Việt Nam Hơn thế nữa, tiểu

thuyết Nỗi buồn chiến tranh chứa đựng trong đó những nghịch lý, những cái nhìn

đa chiều về chiến tranh Nó thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa và lý giải mới về

đề tài này Tác phẩm cũng chứa đựng những cách tân về kỹ thuật tiểu thuyết cho nên sự đánh giá, khẳng định những giá trị của nó còn khá thận trọng và dè dặt.”

Việc nghiên cứu vấn đề thi pháp Nỗi buồn chiến tranh ở Việt Nam có khá

nhiều bài viết, bài nghiên cứu bàn luận về: nhân vật, không gian, thời gian, cốt truyện, có thể kể đến các công trình như:

Trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng

dạy, Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (cb), (2005), Nhà xuất bản Giáo dục, có in

hai bài nghiên cứu về vấn đề nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh

Trong bài viết Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975

in trong cuốn Tiểu thuyết đương đại - tiểu luận - phê bình văn học, (2005), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Tác giả Bùi Việt Thắng đã cho rằng: “Cùng với những t phẩm h Nỗi buồn chiến tranh có thời gi n - t m v ức trở nên đậm đặc (với tỉ lệ qu hứ ba - hiện tại một)” v “K ứ như là một chất liệu kiến tạo nên cấu tr t phẩm Nỗi buồn chiến tranh có nhiều tầng lớp (đ tuyến)

Trang 10

nhưng ại m ng ng vẻ gọn nhẹ, linh hoạt Kiểu cấu trúc dựa vào lịch sử tâm hồn tạo điều kiện ho nh văn miêu tả nghệ thuật đời s ng th o hiều s u” [25; 414]

Trên Tạp chí Sông Hương, số 205 (3-2006), Trần Huyền Sâm viết bài khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của Nỗi buồn chiến tranh qua bài Bảo Ninh

và nỗi m ảnh về chiến tranh Theo Trần Huyền Sâm: “Nỗi buồn chiến tr nh đã chứng tỏ một cây bút sắc sảo, có chiều s u (…) Thủ ph p đậm đặc nhất là thủ

ph p độc thoại nội tâm ” [23; 45].

Tác giả Phạm Xuân Thạch với Nỗi buồn chiến tranh viết về thời kì hậu chiến - từ chủ nghĩ nh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp đã chia thế giới nhân

vật trong Nỗi buồn chiến tranh thành ba tuyến chạy song song với cuộc đời nhân

vật Kiên: những người phụ nữ, những người đồng đội, những người thân

Điểm nhìn và thời gian nghệ thuật của Nỗi buồn chiến tranh cũng được tác

giả Trần Quốc Huấn đánh giá trong bài viết Thân phận tình yêu của Bảo Ninh đã cho rằng: “Toàn bộ t phẩm i nhìn ngo i ại, thờ thẫn đăm đắm của một người nh hi đã t n uộ C i nhìn ằng dặ đầy ph n t n nhưng hông hề ơ đãng Điểm nhìn ó gó độ rộng song h tập trung” [12; 85]

* Một số công trình khoa học ở Việt Nam đã nghiên cứu so sánh Nỗi buồn chiến tranh với một số tác phẩm văn học khác, tiêu biểu như sau:

Trong Thi pháp học hiện đại, (2000), Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, ở

phần III, Phê bình truyện, tác giả Đỗ Đức Hiểu có bài viết riêng về Nỗi buồn chiến tranh Tác giả đã đối chiếu mô hình tiểu thuyết của Bảo Ninh với một số tiểu

thuyết Châu âu thế kỉ XX như Đi tìm thời gi n đã mất của Marcel Prourt

Tác giả Nguyễn Thị Mai Liên với bài viết Hình tượng on người - nạn nhân chiến tranh trong hai tiểu thuyết Một nỗi đ u riêng v Nỗi buồn chiến tranh đã so sánh hai tác phẩm trên ở ba phương diện: on người dị dạng nh n hình on người tha hóa về nh n t nh on người khắc khoải về một xứ sở bình yên nhưng hông

tr n hạy thực tại

Trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số tháng 10.2008, tác giả Đinh Thị Huyền

đã so sánh các tiểu thuyết hậu chiến (trong đó có tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh)

Trang 11

và đưa ra một số đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết hậu chiến nói chung: nhân vật tha hóa về nh n t nh nh n vật suy tư hiêm nghiệm s ng với thời gian hai chiều, nhân vật tự nhận thức

Trong bài viết Tìm hiểu trình tự thời gian nghệ thuật củ Ăn m y ĩ vãng v Nỗi buồn chiến tranh - tiếp cận từ lí thuyết thời gian của Genetle đăng trên Tạp

chí Sông Hương, số 225, của Trần Quốc Hội đã nhận định một trong những vấn đề

tạo nên sự thành công của hai tác phẩm trên là do “h i t giả đã xử th o ết

m y ĩ vãng mỗi “b og” một t ắt của sự kiện thì trong Nỗi buồn chiến tranh mỗi “b og” mỗi vòng tròn đồng tâm Hầu như trong Nỗi buồn chiến tranh không có sự kiện h nh động mà chỉ là sự kiện tâm trạng h y nói h h t m trạng về sự kiện” [11; 41]

Trong luận văn Thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

và trong Giã từ vũ Kh ủa Hemingway, Đặng Thị Thạch đã chỉ ra điểm tương

đồng và khác biệt trong cách thiết tạo thế giới nhân vật của hai tác phẩm

Trong luận văn Thân phận on người trong tiểu thuyết Giã từ vu khí của Ernest Hemingway và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Trịnh Thị Huệ đã so

sánh tương đồng ở 2 tác phẩm về con người trong vòng xoáy chiến tranh và con người vùng vẫy trong thân phận

Trong luận văn Chiến tranh qua cái nhìn của Bảo Ninh và Erich Maria Remarque trong Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ, Nguyễn Thị

Thoa đã tìm hiểu một vài ý kiến tiếp nhận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque, chỉ ra điểm mới về kết cấu (kết cấu dòng ý thức, kết cấu tiểu thuyết tự thuật) và cấu trúc hình tượng nghệ thuật (hình tượng nhân vật, hình tượng không gian - thời gian, biểu tượng) trong hai tác phẩm, thể nghiệm cái nhìn về chiến tranh của hai nhà văn thời hậu chiến

* Ở nước ngoài

Không chỉ thay đổi điểm nhìn về cuộc chiến tranh Việt Nam, nhiều học giả quốc tế ở các lĩnh vực khác nhau cũng bày tỏ sự quan tâm và nghiên cứu những vấn đề xoay quanh cuốn tiểu thuyết này

Trang 12

Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh: “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng củ người

Mỹ, Nỗi buồn chiến tr nh đi r từ chiến tranh Việt N m đã đứng ngang hàng với

cu n tiểu thuyết chiến tr nh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh ủa Eri h M ri R m rqu […] Một cu n sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đ u đớn… một thành quả o động tuyệt đẹp”

Tờ báo Anh The Guardian đã đánh giá Nỗi buồn chiến tranh là: "Một cu n tiểu thuyết không thể đặt xu ng Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạ h định chính sách nào của Mỹ ũng ần nên đọc cu n sách này Nó lẽ ra phải được giải

Pu itz r nhưng đã hông được Nó quá hấp dẫn để xứng được thế"

Ông Lai Chen Sun, Giáo sư Đại học California, Hoa Kỳ mới đây đã có một

nghiên cứu tổng hợp ảnh hưởng quốc tế của cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

của nhà văn Bảo Ninh

The Living and the lost của Gustafsson đã lấy Nỗi buồn chiến tranh làm dẫn

chứng như một ví dụ về việc các mất mát và chấn thương được thể hiện trong văn học Việt Nam hậu chiến

The Literature of Trauma: Reading th Sorrow of Lov in B o Ninh’s The Sorrow of War của Ryan Skinnell đã chỉ ra Bảo Ninh thâu nạp các chấn thương

của nam giới và nữ giới, của quân sự và dân sự, của cá nhân và tập thể, của chiến trường và hậu phương, của bản thân cuộc chiến và hậu chiến để viết nên tác phẩm văn học đầy nhân văn

Visit tion of th D : Tr um n Storyt ing in B o Ninh’s Th Sorrow

of War của Andrew Ng đi sâu khám phá các chiến lược tự sự của tiểu thuyết ở

việc giúp truyền tải chấn thương của Kiên, từ đó chỉ ra các thủ pháp thuộc về phong cách học đã được Bảo Ninh sử dụng đề tạo ra những cảm xúc khôn nguôi

về chấn thương

Tại nước ngoài, tuy được độc giả đón nhận nhưng chưa có công trình nào

nghiên cứu từ lí thuyết văn học so sánh Nỗi buồn chiến tranh mà đa phần chỉ là

những tiểu luận, đánh giá, nhận xét về tác phẩm

Trang 13

2.2 Tình hình nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết Ph t y h ng c gì ạ

Ra đời năm (1929), tác phẩm Ph t y hông ó gì ạ cho đến nay vẫn là

một tác phẩm đặc biệt cho những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu

* Ở nước ngoài

Maxwell Geismar trong Writers in Crisis đã đề cập đến vấn đề nhân tính

trong sáng tác của Remarque Theo tác giả, Remarque rất chú ý đến phẩm chất của con người trong chiến tranh để lột tả những cú sốc về mặt tinh thần của bản thân

James Dews ở The language of war lại cho rằng chiến tranh đối với

Remarque là sự khủng hoảng thuộc về ngữ nghĩa Sự khủng hoảng này dựa trên sự mất niềm tin về khả năng hiệu quả của ngôn ngữ để liên hệ và can thiệp vào thế giới thực tại hữu hình hay vô hình Ngôn ngữ trở nên vô nghĩa và thất bại trong việc diễn đạt trước sự hung bạo của chiến tranh

Mukt Shabd Journal trong Realistic Portrayal of War in the Novels of Maria Remarque mô tả hiện thực hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết viết về chiến tranh của Remarque như Phía Tây không có gì lạ Đường về…

Trong B oom’s Mo rn Criti Int rpr t tions, tác giả Bloom đã phân tích

một số đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trong Phía Tây không có gì lạ

Tương tự, bài “Sự tham dự củ nh văn trong hiến tr nh” Vương Trí Nhàn cho rằng, Remarque ở Phía Tây không có gì lạ đã tự nhận mình muốn “viết

về một thế hệ bị chiến tranh giết, tức viết về những người trở thành vật hi sinh, ngay cả khi họ tr nh được những loạt đại b […] hình ảnh on người đ i mặt với chiến tranh hiện ra chủ yếu ở dạng những nạn nhân, những kẻ bị chiến tranh làm

Trang 14

cho biến dạng mọi vui buồn yêu th h bình thường Chẳng qua họ chỉ như một hạt cát trong sa mạc, còn hay mất chả ó nghĩ ý gì hết” [18]

Lương Ngọc Bính trong cuốn Văn họ Đức ch ng phát xít - những vấn đề mĩ học và thi pháp đã nhắc đến Remarque như chủ soái của một khuynh hướng nghệ

thuật: khuynh hướng hiện thực tâm lí Tác giả đã đánh giá cao “tư tưởng phản chiến”

và “giá trị nhân văn” cao đẹp được thể hiện trong sáng tác của nhà văn

Ngoài ra, trong cuốn Almanach những nền văn minh thế giới, (1997), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội và trong Từ điển văn học bộ mới (2004), Nhà xuất bản Thế giới, cũng đã đi sâu tìm hiểu tác giả Remarque và tác phẩm Phía tây không có gì lạ ở phương diện nghiên cứu tác gia tác phẩm

nghiên cứu, học giả tìm hiểu, đánh giá trên nhiều bình diện cả nội dung lẫn nghệ thuật, nhưng những công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc điểm xuyết một vài biểu hiện của hình thức nghệ thuật hoặc một vài khía cạnh nhỏ thuộc nội dung tư tưởng, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết của hai tác phẩm này dưới góc nhìn của văn học so sánh Tác giả luận văn lựa chọn đề tài: “Nghệ thuật tiểu thuyết trong hai tác

phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Phía Tây không có gì lạ (EM

Remarque)”, nhằm góp thêm một cách đọc hiểu hai tác phẩm từ góc độ đối sánh.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đ ch nghiên cứu

1/ Thực hiện đề tài chúng tôi hướng đến:

Nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh

và Phía Tây không có gì lạ từ lý thuyết văn học so sánh Qua đó, góp phần khẳng

định thêm đóng góp của Bảo Ninh và Remarque vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tiến trình phát triển của văn học hiện đại

2/ Củng cố thêm lý thuyết văn học so sánh

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên, chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

1/ Tìm hiểu các vấn đề về nghệ thuật tiểu thuyết và các vấn đề thời đại, cuộc đời, con người, sự nghiệp sáng tác của hai nhà văn Bảo Ninh và nhà văn Erich Maria Remarque

2/ Vận dụng lí thuyết văn học so sánh để khảo cứu cấu trúc truyện kể Nỗi Buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ, chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của kiểu

cấu trúc đó

3/ Vận dụng lí thuyết văn học so sánh để tìm hiểu cách xây dựng nhân vật

trong Nỗi Buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ, chỉ ra hiệu quả nghệ thuật

của các biện pháp đó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật tiểu thuyết trong

hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ từ góc độ đối sánh

theo lý thuyết văn học so sánh Nghệ thuật tiểu thuyết bao gồm rất nhiều phương diện, chúng tôi chủ yếu tập trung vào hai phương diện mà chúng tôi cho là nổi bật,

đó là: nghệ thuật cấu truyện kể và nghệ thuật xây dựng nhân vật

Phạm vi khảo sát: thực hiện Nỗi buồn chiến tranh đề tài, chúng tôi tiến hành

khảo sát tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) trên văn bản của Nhà xuất bản trẻ, tái bản năm 2019 và tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ (Erich Maria Remarque)

trên văn bản của Nhà xuất bản Văn học, tái bản năm 2019, Vũ Hương Giang dịch

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu văn học so sánh: phương pháp này giúp chúng tôi làm nổi sự tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này giúp chúng tôi đánh

giá chính xác và toàn diện từ nhiều góc độ tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ

Trang 16

Phương pháp nghiên cứu xã hội học: phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu mối liên hệ giữa nhà văn và tác phẩm của ông với thời đại

Đồng thời, chúng tôi sử dụng các thao tác nhiên cứu khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

Là luận văn đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết trong

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Phía Tây không có gì lạ (EM.Remarque) từ

góc độ văn học so sánh

Luận văn sẽ cung cấp thêm một cách đọc hiểu về tác phẩm của Bảo Ninh và EM.Rermarque

Góp phần khẳng định thêm tài năng của Bảo Ninh và EM.Rermarque

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo ra, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết của hai nhà văn Bảo Ninh, Erich Maria Remarque không thể không quan tâm đến các vấn đề lý thuyết Cơ sở lý thuyết vững chắc sẽ là công cụ giúp chúng tôi khám phá tác phẩm Trong chương này

chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp như văn học so sánh, cấu trúc truyện kể iên văn bản, nhân vật trong tác phẩm văn học… Đồng thời chúng

tôi cũng trình bày những vấn đề cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp của hai nhà văn để

góp phần cắt nghĩa những giá trị của hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ

1.1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

sách mang tên là Văn học so sánh (Comparative Literature) Ông đã xác lập và mở

đường cho việc nghiên cứu văn học so sánh như một ngành nghiên cứu văn học

Vào năm 1901, ông còn viết một bài luận ngắn với tên gọi Khoa học về văn học so sánh (The Science of Comparative Literature) Bài viết này thực sự xác lập văn

học so sánh như một khoa học bởi việc xây dựng cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho địa hạt này Đến đầu thế kỷ XX thì văn học so sánh mới định hình như một khoa học

Hai nhà nghiên cứu người Mĩ R Wellek và A Warren là một trong những người đầu tiên xây dựng hệ thống lý thuyết về văn học so sánh Theo quan niệm

của hai nhà nghiên cứu R Wellek và A Warren Warren (1949): “văn học so sánh

là việc nghiên cứu các m i tương iên giữa hai hoặc nhiều đ i tượng thuộc phạm

Trang 18

vi văn hương” [37, 40] mới chỉ là quan niệm bước đầu chỉ ra vấn đề cơ bản của

văn học so sánh Mặc dầu khái niệm của hai nhà nghiên cứu trên đã phân biệt giữa văn học so sánh với so sánh văn học như là một thao tác.”

Cùng trong chiều hướng với R Wellek và A Warren Warren, Daniel-Henri

Pageaux (1994) cho rằng: “Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu những

m i quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữ văn học với các ĩnh vực nghệ thuật h y ĩnh vự tư uy h giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những m i quan hệ này có thể gần hay xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn ho khác nhau, cho dù có chung một truyền th ng” [33, 12] Khái niệm của Daniel-

Henri Pageaux đầy đủ hơn so với khái niệm của R Wellek và A Warren Warren

Sau Daniel-Henri Pageaux có nhiều nhà nghiên cứu và lý luận phê bình phương Tây đã đưa ra những khái niệm về văn học so sánh:

Từ sau 1986, văn học nghệ thuật được sự ủng hộ trong bối cảnh đổi mới chung toàn diện xã hội; theo đó, lý luận văn học nước ngoài được du nhập vào Việt Nam Không chỉ vậy, các lý thuyết văn học còn được nghiên cứu và ứng dụng đa dạng trên thực tế văn học nước nhà Trong đó, chúng ta cũng tiếp nhận văn học so sánh như là một bộ môn Rất nhiều nhà nghiên cứu có nhiều công trình đóng góp cho diện mạo nghiên cứu văn học so sánh từ 1986 đến nay Có thể kể đến: Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Dân, Lưu Văn Bổng, Phương Lựu, Trương Đăng Dung, với nhiều công trình đáng chú ý, đóng góp rất lớn cho nghiên cứu văn học so sánh Việt Nam Những tài liệu này vừa mang tính nghiên cứu đồng thời cũng là giáo trình được sử dụng trong môi trường đại học Điều này cho thấy văn học so sánh không chỉ là một trào lưu trong giới nghiên cứu hàn lâm mà đã trở thành một môn học được quan tâm giảng dạy ở bậc đại học Từ các quan niệm của các nhà nghiên cứu kể trên, chúng tôi nghiêng về khái niệm của Nguyễn Văn Dân Theo đó, chúng tôi xác định và phân biệt hai khái niệm so sánh văn học và văn học so sánh để có cơ sở lý thuyết vững chắc thực hiện đề tài

Trước hết là khái niệm so sánh văn học: Trong đời sống, trong sáng tạo nghệ thuật, kể cả trong nghiên cứu văn học, bằng thói quen hoặc từ ý thức thẩm

Trang 19

mỹ, người ta thường dùng thao tác so sánh Nhưng các thao tác ấy, phần nhiều, chỉ nhằm biến khái niệm trừu tượng hiển hiện thành hình ảnh sinh động, thành hình tượng nghệ thuật, khơi gợi trực tiếp ấn tượng, xúc cảm Còn các công trình học thuật, trước thế kỷ XVII - XVIII, chỉ mới dừng lại đối sánh những hiện tượng trong cùng một nền văn học Khi đó, chúng chỉ là thao tác so sánh, ở cấp độ phương pháp, tức so sánh văn học

“Thế nào là văn học so sánh? Văn học so sánh là tên gọi một hệ phương pháp luận, một bộ môn trong khoa nghiên cứu văn chương Nó phải tuân theo những nguyên tắc đặc thù của bộ môn Cụ thể, nó chỉ bao hàm những so sánh liên văn học: nó tiến hành đối sánh các nền văn học dân tộc với nhau Quá trình đối sánh này phải bảo đảm tính khách quan, phi định kiến: nhà nghiên cứu, không vì lòng tự tôn, tự ti dân tộc, mà nhân danh văn học so sánh để hạ thấp các nền văn học dân tộc khác, hoặc mặc cảm về văn học dân tộc mình Thao tác so sánh phải trên cơ sở cùng loại: tác phẩm sánh cùng tác phẩm, tác giả đi bên tác giả… Sự so sánh phải đa diện, với nhiều cấp độ, nhiều hệ thống Tất cả hướng về lợi ích quốc

tế, giải quyết mọi cái riêng qua cái chung Sự giàu có của văn học thế giới phải hội

tụ từ vẻ đẹp phong phú, đặc sắc của từng nền văn học dân tộc Ngược lại, văn học từng dân tộc, cũng nhờ đặt trong hệ thống, mà thấy mình độc đáo, đầy sức sống

Có hai xu hướng trong văn học so sánh: 1/ xu hướng so sánh theo quan hệ giao lưu (ảnh hưởng) và 2/ so sánh văn học theo quan hệ tương đồng So sánh nghệ thuật

tiểu thuyết trong hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) với Phía Tây

1.1.2 Truyện kể và cấu trúc truyện kể

Truyện kể (Sujet) là dẫy sự kiện, tình huống và xung đột (các hành vi, vị thế, bao gồm cả vị thế mâu thuẫn, và trạng thái của các nhân vật) được định hướng một cách nghệ thuật trong thế giới các nhân vật; dựa vào trình tự của chúng, người ta phân biệt các bình diện cốt truyện (fabula, sự phân bố của các yếu tố thuộc dãy nói trên trong đời sống một nhân vật và ý nghĩa của chúng đối với nó) và truyện kể theo đúng nghĩa riêng của nó (sujet, sự phân bố của chính các sự kiện và tình huống nói trên trong tầm nhìn của tác giả và độc giả), nhưng thông thường, dựa vào đó, người

Trang 20

ta phân biệt các yếu tố lặp lại (yếu tố truyền thống), tức là các môtip, và và tổ hợp vững chắc của các môtip (sơ đồ truyện kể).”

Hegel là người đặt nền móng cho lí thuyết truyện kể, khi ông phân tích động lực của hành động như vốn dĩ: “nó là sự thống nhất năng động của các giai đoạn tĩnh tại tương đối (tình huống), sự phá vỡ trạng thái ấy cùng sự tách đôi được nảy sinh (xung đột) và, cuối cùng, sự giải quyết mâu thuẫn căng thẳng đã xuất hiện (sự kiện) mà kết cục là một tình huống mới được xác lập và cả chuỗi lại được lặp lại Việc nghiên cứu thi pháp truyện kể (sujet) một cách hệ thống thường được tính từ thời đại hình thức luận Nga (V Sklopvski, B Tomashevski, Iu Tynhanov, L.S Vygotski) Đặc điểm nổi bật của hệ thống lí thuyết này là, một mặt, qui dẫy

sự kiện về cốt truyện (fibula), mặt khác, đồng nhất truyện kể (sujet) với trần thuật Mối quan hệ giữa các khái niệm nói trên (sujet và fabula) không chỉ là kết quả của

sự đối lập vốn là nguyên tắc riêng thuộc về trường phái khoa học này: đối lập chất liệu hiện thực “sống sít” với thủ pháp biến chất liệu hiện thực sống sít ấy thành sản phẩm của sáng tác nghệ thuật Nó còn phản ánh xu hướng chủ quan hoá của các thể loại tự sự vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, phản ánh sự khác biệt sâu sắc giữa sự kiện theo ý nghĩa truyền thống của từ ấy (được quan sát một cách khách quan) và những yếu tố vận động của thế giới được phản ánh, những yếu tố không được biểu đạt bằng lời, mà chỉ được trình bày với tư cách là những động tác ngôn từ (như trong kịch), hoặc biểu hiện trực tiếp các vận động tâm trạng (như trong trữ tình)” [40]

Khái niệm cấu trúc của truyện bắt đầu từ nhận thức cho rằng, các sự kiện trong thực tế đời sống, tự nó không có sự mở đầu, phát triển và kết thúc nào rõ rệt, không có việc nào thực sự “kết thúc”, bởi mọi sự “kết thúc” cái này có nghĩa là

mở đầu của cái kia! Nói cách khác tự thân thực tế đời sống không có cái gọi là truyện Mọi câu chuyện đều do con người thêu dệt ra, tìm điểm khởi đầu, nối kết các vụ việc thành chuỗi liên hệ, rồi cho nó phát triển và dẫn tới kết thúc

Cấu trúc của một văn bản văn học được xem là một đối tượng có tổ chức một cách chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể bao gồm 2 lớp ngôn ngữ: ngôn ngữ xác

Trang 21

thực và ngôn ngữ tượng trưng (cấu trúc) Một chỉnh thể được tạo nên bởi hệ thống các mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành, chứ không phải là sự tổng cộng các yếu tố Nói cách khác, một chỉnh thể cấu trúc của văn bản văn học giống như một con cá, mà ở đó các bộ phận của nó được đặt trong sự liên kết bởi những mối quan

hệ nhất định nhằm giúp con cá đó bơi được

Theo Trịnh Bá Đĩnh trong Chủ nghĩ ấu tr trong văn học,“khái niệm cấu trúc được các nhà cấu trúc luận đặt trong sự phân biệt rạch ròi với khái niệm kết cấu Kết cấu cũng có thể được xem là cấu trúc, nhưng là cấu trúc theo nghĩa thông thường, cấu trúc thường nghiệm Đó không phải là đối tượng của chủ nghĩa cấu trúc, đối tượng của chủ nghĩa cấu trúc là thứ cấu trúc bề sâu, cấu trúc siêu nghiệm Điều đó lý giải quan điểm chung của các nhà cấu trúc rằng: bên dưới mỗi

sự vật, hiện tượng là một hệ thống với những yếu tố cấu thành và các mối quan hệ giữa chúng Các mối quan hệ này không hề tồn tại một cách rời rạc mà kết thành một hệ thống, hay nói hình tượng hơn: dệt thành một mạng nền tảng.”

Như vậy, xét trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, có thể nói mục tiêu của Cấu trúc luận là khám phá ra hệ thống các mối quan hệ ẩn dưới bề sâu của văn bản văn học - nơi mà các quan hệ cấu trúc kết thành một hệ thống liên kết chặt chẽ Ở đó chỉ bao gồm những mối quan hệ chủ yếu chứ không bao gồm tất cả các mối quan hệ tương tác nội tại (tác giả, hoàn cảnh…) Tác phẩm văn học do đó bị tách biệt khỏi quá trình trí lực của tác giả và các yếu tố ảnh hưởng đến tư tưởng của tác giả

1.1.3 Liên văn bản

Liên văn bản - thuật ngữ do nhà lí luận về chủ nghĩa hậu hiện đại J Kristéva đưa ra năm 1967, trở thành một trong những thuật ngữ cơ bản trong việc phân tích tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại.“Thuật ngữ này được dùng không chỉ như phương tiện phân tích văn bản văn học hoặc miêu tả đặc trưng sự tồn tại của văn học, mà còn để xác định cảm quan về thế giới và về bản thân của con người đương đại, đó là cảm quan hậu hiện đại.”Một trong những luận điểm quan trọng

của J Kristéva (Trong: Văn học hậu hiện đại thế giới Những vấn đề lý thuyết) cho

rằng, lịch sử và xã hội là những thứ có thể “đọc” được như văn bản, đã dẫn tới chỗ

Trang 22

coi văn hóa của nhân loại như một thứ “liên văn bản” mà đến lượt mình, nó đóng vai trò tiền văn bản của bất kì văn bản nào xuất hiện tiếp theo Hệ quả quan trọng của việc đồng nhất ý thức con người với văn bản, đó là việc hòa tan theo kiểu liên văn bản tính chủ thể tự chủ của con người trong những văn bản ý thức, chúng tạo

ra “liên văn bản lớn” truyền thống văn hóa Như vậy, tác giả của mọi loại văn bản nghệ thuật hay các loại văn bản khác “đều biến thành một không gian trống rỗng của dự phóng trò chơi liên văn bản” J Kristéva nhấn mạnh tính chất vô thức của trò chơi này khi bảo vệ định đề về “tính năng sản phi cá nhân” của văn bản, vốn nảy sinh tự thân, không lệ thuộc hoạt động ý trí của cá thể: “chúng ta gọi là liên văn bản cái liên hành vi mang tính văn bản này, xảy ra trong mỗi văn bản riêng biệt Đối với mỗi chủ thể nhận thức thì liên văn bản là khái niệm sẽ trở thành dấu hiệu của cách thức mà văn bản dùng để đọc câu chuyện và hòa hợp với nó” Kết quả là trên thực tế, văn bản được phú cho cái quyền của một tồn tại tự trị, được phú cho cái năng lực “đọc” câu chuyện

Trải qua sự vận động trong quan niệm của những tác giả hậu hiện đại, đến

R Barthes đã cung cấp cho khái niệm liên văn bản một định thức mang tính quy phạm hóa: “Mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó

ở các cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xung quanh Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ Những đoạn của những mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp điệu, những mảnh vụn biệt ngữ xã hội… Tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và đều bị hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ cũng tồn tại ngôn ngữ Với tư cách là điều kiện cần thiết ban đầu cho mọi văn bản, tính liên văn bản không thể bị lược quy vào vấn đề về nguồn gốc hay ảnh hưởng; nó là trường quy tụ những định thức nặc danh, khó xác định nguồn gốc, những trích dẫn vô thức hoặc máy móc, được đưa ra không có ngoặc kép”

“Chủ nghĩa hậu hiện đại xem văn bản được viết ra là giao điểm của vô vàn văn bản Theo thời gian, đó là văn bản của quá khứ, của thực tại và của cả tương

Trang 23

lai Theo không gian, đó là văn bản của từng vùng miền Theo thể loại, đó là văn bản gồm cả truyện, thơ, kịch Theo loại hình, đó là văn bản của văn chương, hội họa, kiến trúc Theo văn hóa, đó là văn bản đa văn hóa của các nền văn hóa trên trái đất Trong mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm - bạn đọc - thời đại, liên văn bản còn là sự chồng chéo của các đối tượng xưa và nay, gần và xa…”

1.1.4 Nhân vật và vấn đề xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học

Thuật ngữ nhân vật xuất hiện từ rất sớm, hai nghìn năm trước đây, với ý nghĩa “cái mặt nạ” của diễn viên Sau đó được đưa vào văn học bằng những thuật ngữ khác nhau: vai, tính cách Tuy nhiên, các thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn thuật ngữ nhân vật.“Nhân vật văn học là thành tố quan trọng của tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng các yếu tố nghệ thuật độc đáo Thông qua nhân vật, bạn đọc có thể thấy được cái mới,

sự sáng tạo, cũng như đóng góp của mỗi nhà văn.”

“Cũng giống các tác phẩm có cốt truyện thuộc dòng văn xuôi tự sự, nhân vật trong tiểu thuyết có một vai trò, vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Đó là hạt nhân của sự sáng tạo, là trọng điểm để nhà văn lý giải tất cả mọi vấn đề của đời sống xã hội Nhân vật tiểu thuyết có thể chỉ là sự hóa thân, là hình bóng, là mộng tưởng của chính tác giả như trong tiểu thuyết lãng mạn; cũng có thể được xây dựng từ những nguyên mẫu của đời kết hợp với những năng lực tổng hợp và sáng tạo của nhà văn như trong tiểu thuyết hiện thực Nhân vật có thể là nạn nhân của bối cảnh xã hội, cũng có thể được coi là chủ nhân lịch sử đủ khả năng làm chủ vận mệnh của mình… Điều quan trọng là nhân vật ấy phải là điểm xuất phát và trung tâm của sự mô tả nghệ thuật.”Về phía tác giả, nhân vật là yếu tố mang theo cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện “quan niệm nghệ thuật về con người” Về phía độc giả, nhân vật, vì vậy, luôn là “chìa khoá” để “giải mã” những vấn đề hiện thực mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm.”

Tiểu thuyết là thể loại có sức bao chứa dung lượng hiện thực rộng lớn, có khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn từ nhiều chiều kích khác nhau Nhân vật tiểu thuyết vì thế cũng được xây dựng theo những cách riêng và có

Trang 24

những đặc điểm riêng nhằm đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức theo chiều rộng và chiều sâu của thể loại này “Trước hết, do có sức bao chứa nội dung hiện thực rộng lớn nên nhân vật tiểu thuyết được đặt trong cấu trúc có rất nhiều nhân vật, nhiều mối quan hệ phức tạp Không chỉ vậy, dung lượng khá lớn cũng tạo điều kiện cho phép người viết tiểu thuyết khai thác nhân vật một cách toàn diện, tỉ mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận Đặc trưng thể loại tiểu thuyết không chỉ thuận lợi cho việc nhà văn mở ra một thế giới đông đúc cho tác phẩm

mà còn tạo điều kiện để nhà văn đi sâu mô tả những “nếm trải” của số phận Nhân vật trong tiểu thuyết thuộc kiểu nhân vật - số phận, nhân vật “nếm trải” Tiểu thuyết phản ánh đến tận cùng số phận con người qua những biến cố và trả giá của

số phận Nằm trong sự lựa chọn của các nhà tiểu thuyết, nhân vật dù xuất hiện quý tộc hay bình dân, giàu sang hay nghèo khó, đều chứa đầy bất ổn Khi thể hiện tính cách, các nhà tiểu thuyết không gò ép nhân vật vào những khuôn khổ chật hẹp với một tiết tấu hành động nhanh mà luôn giữ nhịp độ bình thường như chính bản thân nhịp điệu của cuộc sống hàng ngày Nhờ đó mà hơn hẳn các thể loại khác, nhân vật trong tiểu thuyết sống một quãng đời tương đối dài.với sự mô tả hết sức cụ thể,

tỉ mỉ đến từng chi tiết trong những đoạn đường đời, những bước đi của số phận Thêm vào đó, đề cập đến nhân vật tiểu thuyết, một yếu tố không thể không nhắc đến bởi nó góp phần đắc lực tạo ra những tính cách điển hình sống động: đó là yếu

tố hư cấu nghệ thuật.” “Hư cấu nghệ thuật là cặp mắt để phát hiện những hiện tượng điển hình trong cuộc sống” (A Tônxtôi), là một thao tác không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của nhà tiểu thuyết Kunđêra - một tiểu thuyết gia dày dạn kinh nghiệm cho rằng: “Tiểu thuyết là thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu” Với danh nghĩa là một cấu trúc tự sự tiếp cận hiện thực đời sống, một cách gần gũi, người viết tiểu thuyết có thể sử dụng những nguyên mẫu đời thực cho tác phẩm của mình “Song về nguyên tắc, tiểu thuyết hoàn toàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu, bởi sự chi phối chặt chẽ về mức độ xác thực của đối tượng Trong chiều hướng vận động của cốt truyện, nhân vật được “tung” vào nhiều môi trường, hoàn cảnh khác nhau, tham gia vào nhiều tình huống và từ

Trang 25

đó phát sinh thêm nhiều tính cách, nhiều hành động Nhờ đó, đời sống nhân vật càng thêm phong phú Nội dung của tác phẩm tiểu thuyết là sự pha trộn, chuyển hoá lẫn nhau giữa các màu sắc thẩm mĩ: cái cao cả lẫn cái thấp hèn, cái thiện lẫn cái ác, cái bi lẫn cái hài, cái đẹp lẫn cái xấu Thế nên, nhân vật tiểu thuyết cũng mang tính phức điệu thẩm mĩ, không đơn phiến mà đa nhân cách.”

Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật nhưng chủ yếu là: miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động

Tiểu thuyết theo xu hướng hậu hiện đại đã đặt ra nhiều vấn đề mới về nhân vật và cách xây dựng nhân vật

Được xây dựng dựa trên các đặc tính nghệ thuật chủ yếu của văn học hậu hiện đại như mờ hóa, mảnh vỡ, mã kép, nghịch dị, đa diện, hoán vị, mặt nạ tác giả, tương phản xuyên suốt, thân rễ… Nhân vật trong tiểu thuyết theo xu hướng hậu hiện đại thuộc các kiểu loại cơ bản sau:

- Nhân vật lạ o i ô đơn, chủ yếu gắn với cảm thức lưu vong, thậm chí

ngay trong ngôi nhà của mình và giữa người thân của mình

- Nhân vật nổi loạn, dấn thân, chủ yếu gắn với sự phản ứng về điều kiện và

hoàn cảnh sống, nhưng hơn hết là sự phản ứng với các giá trị truyền thống

- Nhân vật tự nhận thức, thể hiện sự trải nghiệm cuộc đời với những sai

lầm, ngộ nhận; bi kịch tự nhận thức là cái giá phải trả của con người trong quá trình đi tìm cái bản ngã đích thực của mình

- Nhân vật tha hóa, là biến thái xấu của những dục vọng, những tham muốn

không có giới hạn, là dạng người “vật hóa”

- Nhân vật đồng tính, là mẫu người đặc thù trong tiểu thuyết đương đại, gắn

với những thay đổi môi trường sống, quan niệm giới tính ở thời hiện đại, hậu hiện đại, được cổ súy bởi tinh thần “toàn cầu hóa”, mà nước Thái Lan láng giềng là một kiểu mẫu

- Nhân vật điên khùng, là thế giới của những con người bị bỏ rơi, dạng bị

quản lý hồ sơ nhân thân, nhà văn xây dựng loại nhân vật này để bộc lộ quan niệm

về một thế giới không hoàn tất, bất bình đẳng và bất an

Trang 26

- Nhân vật tâm linh, siêu thực, là dạng nhân vật rất phức tạp về cấu trúc,

thường biểu hiện một thể nghiệm có tính quy chiếu riêng của nhà văn về con người và thực tại

“Từ sự nhận diện các kiểu loại nhân vật nêu trên, chúng ta nhận thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết đã có những thay đổi căn bản, qua

những tác động của tư duy nghệ thuật hậu hiện đại: Quan niệm về sự phức hợp giữa thể xác và tinh thần; Sự o động về giá trị ý nghĩ s ng v m người;

“Như vậy, việc xây dựng nhân vật dựa vào những tiêu chí triết - mỹ hậu hiện đại đã hướng các nhà văn vào tập trung phân tích, soi chiếu những góc khuất tăm tối, những “hố thẳm” của chúng, để từ đó góp phần giải mã về con người - một thực thể phức hợp và bí ẩn, một “cấu trúc sống” luôn “vẫy gọi” sự khám phá của người nghệ sĩ Đây là kết quả của tư duy nghệ thuật gắn với cảm quan hậu hiện đại, nhìn thế giới và con người trong những chiều kích mới, với quan niệm thẩm mỹ mới Chính điều này đã làm thay đổi cách hiểu phạm trù nhân vật truyền thống.”

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của hai nhà văn Bảo Ninh, Erich Maria Remarque

1.2.1 Nhà văn Bảo Ninh và tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh

Bảo Ninh sinh trưởng ở Việt Nam nửa sau thế kỉ XX, với nền kinh tế chưa phát triển, đang trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập Bảo Ninh là bút danh của nhà văn Hoàng Ấu Phương Ông sinh ngày 18 tháng 6 năm 1952 tại Diễn Châu, Nghệ An Quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhưng lớn lên ở Hà Nội.“Bảo Ninh sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là một vị giáo sư ngôn ngữ nổi tiếng Việt Nam - GS Hoàng Tuệ Anh vào bộ đội năm 1969, chiến đấu ở mặt trặn B3 - Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24,

sư đoàn 10 Năm 1975 anh giải ngũ Rời quân ngũ với bộ đồ lính bạc phếch trên người, Bảo Ninh lang thang kiếm sống đâu đó với những công việc chẳng lấy gì vui vẻ Từ 1984 - 1986, Bảo Ninh học khóa 2 trường viết văn Nguyễn Du, được Hoàng Ngọc Hiến trực tiếp chỉ bảo, giúp đỡ.”Ngay khi còn theo học dưới mái

trường viết văn Nguyễn Du, bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến

Trang 27

tranh đã được Bảo Ninh hoàn thành một cách xuất xắc và gây sự bất ngờ lớn với

ngay cả người thầy đang dìu dắt anh là Hoàng Ngọc Hiến

Ngay sau khi được công bố, năm 1991, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

được trao thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và tên tuổi của anh lập tức gây sự chú ý của cả văn đàn trong và ngoài nước Tâm sự về thành công bước đầu ấy, Bảo Ninh khiêm tốn: “Thật ra, đấy là sự ghi dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới nên một tác giả mới như tôi vẫn được chú ý, và cuốn Nỗi buồn chiến tranh đã nhận được giải thưởng vào thời kì đặc biệt đó, thời kì văn học có những

thay đổi sâu sắc và đích thực” Không lâu sau, Nỗi buồn chiến tranh lại chịu một

làn sóng dư luận với nhiều ý kiến trái chiều, và nó bị chìm dần vào quên lãng Bảo Ninh như bị bỏ quên ở thế giới văn chương, tên anh chìm lẫn trong hàng trăm tên tuổi khác Đến tháng 5/2011 Bảo Ninh được trao giải Nikkei Asia Prizes với

những đóng góp lớn của tác giả về văn hóa qua thiên tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

nhiều người làm văn nghệ ở nước ta, Bảo Ninh tương đối kiệm lời Anh không xuất hiện trên các kênh thông tin đại chúng, trong các chương trình giao lưu, anh như đang cố dấu mình trước thiên hạ Bảo Ninh không nổi giận bao giờ, ngay cả khi người ta phê phán anh một điều gì đó rất ác ý Anh chỉ nhún vai và ngọ nguậy cái đầu rồi nói một câu gì đó mà chẳng ai nghe thấy.” Nhưng đó là vẻ ngoài ẩn dấu một trái tim nhân hậu, nhạy cảm với cuộc đời như nhà văn Phong Điệp nhận xét: “Bảo Ninh là người đặc biệt Dáng vẻ xù xì, bất cẩn, và tính cách ngại giao tiếp, không hoạt ngôn của anh dễ khiến người khác cảm thấy khó gần Từng có thời gian công tác cùng với anh, nhưng thú thực phải mãi đến lúc anh rời báo, tôi mới thực sự hiểu được Bảo Ninh Bảo Ninh là người lịch lãm, tinh tế, cẩn trọng và sắc sảo Bên cạnh cuốn tiểu thuyết quá nổi tiếng, thì những truyện ngắn, những bài báo ký bút danh khác của Bảo Ninh cũng rất đáng đọc Anh chưa bao giờ viết ra một bài, một chữ nhảm nhí nào Từng câu từng chữ đều được cân nhắc kĩ càng” [39] “Một giọng văn đậm chất trữ tình, một tâm hồn nhân hậu, một cây bút đầy trách nhiệm với cuộc sống, với đất nước, với tư cách là một nhà văn từng đi qua

Trang 28

chiến tranh và viết về chiến tranh một cách chân thực, lãng mạn, xúc động và đầy nhân văn Với những đóng góp không nhỏ đó, Bảo Ninh xứng đáng được vinh danh như một gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam.”

Năm 1991 có ba cuốn tiểu thuyết được trao giải nhất của Hội nhà văn là:

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Trong đó, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng

là những tác phẩm sớm được dư luận khẳng định còn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại có một số phận đặc biệt sóng gió

“Tiểu thuyết là câu chuyện về một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn học Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh

từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu vì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhân Tuy nhiên, trong hơn 10 năm sau đó tác phẩm đã bị cấm, không được in lại, có lẽ do quá nhạy cảm; mặc dù vậy, với làn sóng đổi mới ở Việt Nam, cuốn sách vẫn rất được ưa thích.”

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo,

xuất bản năm 1994 với nhan đề "The Sorrow of War", được ca tụng rộng rãi, và một

số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh Bản dịch này được photo bán rộng rãi cho du khách nước ngoài Đây là một cuốn sách được đọc rộng rãi ở phương Tây, và là một trong số ít sách nói về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuất bản ở đây Một điều đáng khâm phục

là Bảo Ninh đã trình bày quan điểm này mà không hề lên án phía bên kia

Có rất nhiều ý kiến đánh giá xung quanh tác phẩm này Xu hướng thứ nhất thể hiện sự không đồng tình với tác phẩm Có không ít nhà phê bình coi cuốn sách của Bảo Ninh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội” Tiêu biểu có thể kể đến tác giả Đỗ Văn Khang trong bài viết “Nghĩ gì khi

đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu”, đăng trên Báo Văn Nghệ số 43, ra ngày

Trang 29

26/10/1991 Theo tác giả: “Những đổi mới nghệ thuật của Bảo Ninh như: cấu trúc trần thuật kép, tính chất đa thanh, kỹ thuật dòng ý thức chỉ là việc làm thuần túy

để đánh lừa bạn đọc” Ông đã phủ nhận không thương tiếc giá trị của tác phẩm:

“Tác phẩm có cảm hứng chủ đạo là dối bời, bất định, tư tưởng rõ ràng hoang mang, dễ rơi vào phủ định” Những cảnh tàn khốc của chiến tranh trong tác phẩm

bị gọi là “chủ nghĩa tự nhiên trong văn học” Nhân vật trong tác phẩm bị “thiết kế sai, chẳng có ý tưởng nào cả”

Một xu hướng khác nữa là sự cổ vũ động viên nhưng có phần e dè, với câu

hỏi: Liệu rằng cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh có bị dồn nén quá nhiều chất

bi không? Nguyễn Phan Hách trong cuộc thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (trên trang 4, B o Văn nghệ s 37, năm 1991) đã viết: “Lùi ra xa, đứng

cao hơn một chút thì thấy có thể thông cảm được với tác phẩm này Tôi chưa hẳn tán thành hoàn toàn về nội dung, nhưng cái đẹp, cái tuyệt kĩ, văn chương là văn chương của cuốn sách đã át đi được những e ngại khác”

“Một trong những người tiêu biểu cho xu hướng đánh giá cao đóng góp của Bảo Ninh trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại có thể kể đến đó chính là nhà văn Nguyên Ngọc Trong cuộc thảo luận về tiểu thuyết Thân phận

tình yêu (trên trang 5, B o Văn nghệ s 37, năm 1991), ông khẳng định: “Cuốn sách Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, ý

nghĩa và giá trị to lớn và dữ dội của chiến thắng Nó chỉ cho chúng ta biết rằng, chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ với cái giá ghê gớm đến chừng nào Một đặc sắc nữa của cuốn sách này là tác giả viết với tư cách hoàn toàn của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy của cuộc chiến tranh Anh viết về cuộc chiến tranh “của anh” gần như bằng tất cả máu của anh Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới”…”

Ở nước ngoài, tác phẩm được quan tâm và đánh giá cao Tờ báo Anh The Guardian viết: “Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt xuống Bất kỳ nhà chính trị

hay nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần nên đọc cuốn sách này Nó lẽ

Trang 30

ra phải được Pulitzer, nhưng đã không được Nó đã hấp dẫn để xứng đáng được thế” Ông Dennis Mansker, thành viên đội cựu binh vì hòa bình đất nước về hội

cựu binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn A Bad Attitude: A Novel from the Viennam War đã rất xúc động và choáng váng khi đọc cuốn tiểu thuyết này,

ông viết: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc về bi kịch của một người lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tính của mình sau mười năm tham chiến Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai

chọn nghề “binh nghiệp” Cũng trong bài viết này tác giả còn giới thiệu cuốn Nỗi buồn chiến tranh được đưa vào giảng dạy - một trong những tác phẩm bắt buộc

phải đọc và phân tích trong chương trình “Dạy văn học về chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.”

Năm 2005, tác phẩm này được tái bản với nhan đề ban đầu là Thân phận của tình yêu; năm 2006 tái bản với nhan đề đã trở thành nổi tiếng: Nỗi buồn chiến tranh

Có thể nói, thời gian là vị quan tòa công tâm nhất, trải qua một thời gian dài

long đong, cuối cùng Nỗi buồn chiến tranh đã được nhìn nhận đúng với giá trị của nó

1.2.2 Nhà văn Erich M ri Rem rque và tác phẩm Phía Tây không có gì lạ

EM Remarque (1898 - 1970) sinh ở Đức cuối thế kỉ XX, trưởng thành ở thế

kỉ XX trong một xã hội văn minh phương Tây hiện đại phát triển Nước Đức cuối thế kỉ XIX, đầu XX không trải qua chiến tranh, có điều kiện xây dựng kinh tế công nghiệp hiện đại bằng sự tiếp thu khoa học từ các nước phát triển đi trước như Anh, Pháp Xã hội Đức đầu thế kỉ XX rất tiêu biểu cho xã hội phương Tây lúc bấy giờ

Đó là một xã hội phát triển của văn minh vật chất, tinh thần đề cao tự do cá nhân… Cũng như các nước phương Tây ở đầu thế kỉ XX, Đức cũng là một trong những quốc gia có sự phân cực về chính trị và đứng trước nguy cơ Chiến tranh thế giới

Remarque tên thật là Erich Paul Remarque, sinh ngày 22 tháng 06 năm

1898 Ông xuất thân trong một gia đình Công giáo La Mã tại Osnabruck, thuộc tỉnh Westphalia của miền Tây nước Đức Remarque sống trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ nhất Những biến động dữ dội của thời đại đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của ông

Trang 31

Chiến tranh Thế giới thứ nhất lan ra hầu hết các nước Tây Âu và nước Đức không ngoại lệ Năm 18 tuổi, Remarque tham gia vào Đại chiến Thế giới lần thứ nhất và được phân vào sư đoàn quân dự bị Tháng 6 năm 1917, Remarque bị chuyển đến một đơn vị công binh ở Mặt trận phía Tây Cái chết của những đồng đội bị thương nhưng không được nhìn ngó đến đã khiến cho người lính ấy bị đổ

vỡ hoàn toàn Sau đó, Remarque cũng bị thương vì mảnh lựu đạn Như hầu hết những người trẻ tuổi Tây Âu tham gia chiến tranh lúc đó, Remarque rơi vào sự thất vọng Nhà văn đã học một bài học cay đắng khi nhận ra "chủ nghĩa yêu nước"

có thể sẵn sàng bỏ qua bất cứ một cá nhân nào Với Remarque và nhiều chiến binh khác, "trách nhiệm công dân Đức" không còn có ý nghĩa nữa Niềm tin vào chân

lý đẹp đẽ “tự do, bình đẳng, bác ái” không còn trọn vẹn nữa mà thay vào đó là nỗi đau, tổn thương tinh thần

Cuộc đời của Remarque phong phú và thăng trầm Chiến tranh kết thúc, ông giải ngũ và làm nhiều nghề khác nhau: kinh doanh, dạy học, thủ quỹ, viết quảng cáo… Từ 1923, ông làm phóng viên, đi nhiều nước trên thế giới và bắt đầu công việc viết văn Văn phong của ông phóng khoáng, mang tư tưởng tự do, tiến bộ

Năm 1929 Remarque cho ra đời cuốn tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ

Cuốn sách đã gây ra cuộc tranh luận ngay trong lòng nước Đức Vì lý do tư tưởng khác biệt, sách của ông bị chính quyền Đức thiêu rụi năm 1933, khi mà chủ nghĩa phát xít đang lên Remarque bị buộc phải rời khỏi Đức, mở đầu cho quãng đời tha hương của ông

Sau này, chính quyền Đức đã mời Remarque quay trở lại nước Đức nhưng ông đã không bao giờ quay về nữa mặc dù lòng rất nhớ quê hương Remarque đã từng nhập quốc tịch Mỹ năm 1947 nhưng sau đó ông trở về Thụy Sĩ và gắn bó với nơi đây cho đến cuối đời Dù không sống ở Đức, Remarque vẫn là nhà tiểu thuyết hiện đại tiêu biểu của Đức Năm 1962, Remarque đã khẳng định ông là một người theo chủ nghĩa hòa bình và luôn sẵn sàng chiến đấu vì hòa bình Các tác phẩm của ông mang tư tưởng chống phát xít và chế độ quân phiệt, nên nó đã thu hút được sự chú ý của độc giả trên thế giới

Trang 32

Dù“viết về đề tài nào thì xuyên suốt các tác phẩm của Remarque là tính nhân đạo sâu sắc, là tiếng nói chống lại những cuộc chiến tranh phi nghĩa Tác phẩm của ông đã bóc trần bản chất tàn bạo, những cảnh địa ngục mà chiến tranh

đã đưa lại khiến cho người đọc cùng đau xót với nỗi đau của nhà văn Đau xót bao nhiều, họ càng căm phẫn bấy nhiều trước những cuộc chiến tranh ấy Có thể nói, những tiểu thuyết chống chiến tranh của Remarque luôn mang tính thời sự bởi tác phẩm của ông luôn là tiêng nói góp phần đấu tranh vì một thế giới hòa bình.”

Không những vậy, tác phẩm của Remarque ít nhiều mang yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong cách miêu tả “Nó vừa là sự hấp dẫn đối với những người này, lại vừa là sự thất vọng đối với những người khác Tác phẩm của ông là sự thể hiện của tâm trạng và thái độ của cả một thế hệ, một tầng lớp người đã trải qua chiến tranh tàn khốc suy ngẫm về chiến tranh, giải thích về nó với những mặc cảm tội lỗi của một dân tộc Bằng cách kể chuyện điêu luyện và hấp dẫn, với óc quan sát tinh tế và sắc sảo, tiểu thuyết của Remarque đã gây hứng thú cho đông đảo độc giả trên thế giới, nhất là khi ông bày tỏ trong tác phẩm của mình nỗi xúc động đau đớn về thân phận của dân tộc ông, cũng như của nhân loại.””

Phía Tây không có gì lạ được xem là một trong những cuốn tiểu thuyết hay

nhất về Chiến tranh thế giới thứ nhất Ngoài ra, Remarque còn có những tác phẩm

tiểu biểu như: Đường trở về, B người bạn, Khải hoàn môn, Một thời để yêu và một thời để chết, Bóng t i thiên đường

Ph t y hông ó gì ạ xuất bản năm 1929, là một cuốn tiểu thuyết viết về

đề tài chiến tranh “Tác phẩm được viết dưới dạng hồi ức của một người lính Đức,

kể về cuộc sống chiến đấu và những nỗi kinh hoàng mà anh và các đồng đội trải qua trong các chiến hào tại mặt trận phía Tây của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất Đây là một trong số những tác phẩm hay nhất thời kì này.”

Ph t y hông ó gì ạ không chỉ là một cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh

mà nó còn là bản di chúc của những người đã ngã xuống trên chiến trường Câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc thuật lại hay kể lại những gì đã diễn ra trên chiến tuyến mà nó thể hiện sâu sắc sự đấu tranh nội tâm của nhân vật trong tác phẩm

Trang 33

Làm nên đặc sắc trong tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ phải kể đến nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo trong tác phẩm, kiểu nhân vật của thế hệ vứt

đi mà Erich Maria Remarque đã xây dựng thành công trong tác phẩm của mình

Câu chuyện trong tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất Người kể chuyện là nhân vật chính tên Paul - một thanh niên trẻ người Đức Paul và bảy người bạn học cùng lớp được thuyết phục đi lính trong quân đội Đức thời kì Đại chiến I bằng những mĩ từ như: tình yêu tổ quốc, danh dự của nước Đức, tinh thần dân tộc, sự chiến thắng… Những người lính Đức hầu hết còn rất trẻ, đang ngồi ghế nhà trường hoặc vừa rời khỏi trường học, chưa hiểu gì về cuộc sống, thậm chí chưa có người yêu bao giờ Họ đều tin rằng, tham chiến là vì lẽ phải Thầy giáo, gia đình, người thân đều khuyên khích con em họ ra trận, nơi đang diễn ra những trận đánh

ác liệt giữa Đức và liên quân Anh - Pháp.“Cuộc sống chiến đấu gian khổ và tàn khốc của những người lính được miêu tả một cách chân thực qua lời kể của Paul Tính chất tàn khốc thể hiện ở nhiều sự việc Những con người trẻ tuổi trong những chiến hào của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất phải thường xuyên đối mặt với những trận pháo kích cường độ cao, hơi độc dười làn đạn, xe tăng của đối phương

Họ không chỉ chứng kiến những cái chết của đối phương mà còn chứng kiến những cái chết của đồng đội Họ không chỉ chịu sự gian khổ mà họ còn trực tiếp giết chết những chiến binh ở phía bên kia chiến tuyên Điều đau đớn của Paul không chỉ là những khó khăn, cái chết gần kề mà còn là sự day dứt khi đã nhận ra rằng những người lính là “kẻ thù” cũng là con người như mình mà thôi, và anh cảm thấy anh không thể nào coi họ như kẻ thù được Paul và nhiều đồng đội nhận

ra họ bị buộc phải cầm súng ra trận tham chiến vì nước Đức nhưng bản chất chiến tranh hoàn toàn khác Đối diện chiến trường dưới làn bom đạn, họ nhận ra mình

đã sai lầm Cái mà họ cảm nhận một cách sâu sắc, đau đớn đó là những cái chết, những thân xác trẻ tuổi bỏ lại nơi chiến địa Kinh nghiệm về chiến trường ít ỏi nên lính Đức đã hi sinh rất nhiều, hàng ngàn con người phải gục ngã một cách đáng thương xót Và trong suốt cuộc chiến, các chiến binh cảm nhận một cách sâu sắc đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa Nó chỉ phục vụ cho quyền lợi của một thiểu số

Trang 34

người Vì lợi ích của những người đó mà rất nhiều người phải chết một cách vô nghĩa và phi lí Cho nên cuộc sống đối với các chiến binh chỉ còn là nỗi kinh hoàng và mặc cảm tội lỗi trước sự thật đẫm máu Họ nhận ra họ vừa là nạn nhân vừa là kẻ sát nhân Những người lính ấy không còn biết làm gì với cuộc đời mình nữa, mất niềm tin, hi vọng Lòng tin vào những điều tốt đẹp đã bị lừa gạt.”

Nước Đức thất bại nặng nề, nước Đức không còn người để tham chiến cũng như không còn sức lực Paul cùng những người bạn đồng lứa đã hi sinh gần hết Đặc biệt, Paul đã ngã xuống trong một ngày mặt trận hoàn toàn im tiếng súng Anh ngã xuống vì hậu quả của hơi độc với cái chết bình thản Đó là kết cục cuối

cùng khi con người ta đã mất tất cả, không còn gì đề mất nữa Phía Tây không có

gì lạ - nhan đề tác phẩm rất nhẹ nhàng nhưng nội dung lại có sức nặng vô cùng

bởi tác phẩm đã nói lên một sự thật cay đắng về chiến tranh Không có anh hùng, không có vinh quang nào, chỉ có mất mát và nỗi đau thấm thía “Không có gì lạ” nhưng tất cả đã bị hủy diệt hoàn toàn Con người trẻ tuổi đi qua thời đại của mình, kết thúc cuộc đời ngắn ngủi bằng cái chết sau bão táp của chiến tranh vô nghĩa và tàn khốc

“Cùng viết về sự day dứt, cay đắng, mất mát sau chiến tranh,“tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ của Remarque cùng với tiểu thuyết Giã từ vũ h (1929) của nhà

văn Mỹ E Hemingway đã trở thành hai tiểu thuyết hay nhất nói lên sự thảm khốc

của cuộc Đại chiến Thế giới lần Thứ nhất Nếu như Giã từ vũ h của E

Hemingway nói lên sự mất mát đến trống rỗng của F Henry - một quân nhân

người Mỹ tham gia chiến tranh thế giới lần thứ nhất tại Italia, thì Phía Tây không

có gì lạ của Remarque là nỗi kinh hoàng, tuyệt vọng mà Paul và các đồng đội trải

qua trong các chiến hào Vì thế cả hai tác phẩm đã được chuyển thể sang các loại

hình nghệ thuật khác Vào năm 1930, tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ đã được

dựng thành phim bởi đạo diễn Mỹ Lewis Milestone Đây được xem là bộ phim nói đầu tiên trong lịch sử điện ảnh, chấm dứt thời kì phim câm Bộ phim giành giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và cảnh quay xuất sắc nhất cùng năm đó Ngoài

ra phim còn có 2 đề cử không thành công là quay phim xuất sắc nhất và kịch bản

Trang 35

chuyển thể hay nhất Năm 1979, tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình bởi đạo diễn Delbert Mann và nam diễn viên Richard Thomas đóng vai Paul Baumer Một dự án làm phim mới do Daniel Radcliffe đóng vai chính trong phim cũng được khởi quay năm 2012 Năm 2006, nhà hát kịch Nottingham đã diễn 1 vở kịch dựa trên nội dung cuốn tiểu thuyết do Robin Kingsland làm đạo diễn Các hình thức chuyển thể này được đông đảo khán giả không chỉ ở phương Tây đón

nhận Điều đó cho thấy sự hấp dẫn về nội dung của tiểu thuyết Phía Tây không có

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Chúng tôi đã làm rõ một số vấn đề lí thuyết liên quan làm cơ sở khoa học

để triển khai nội dung các chương 2 và 3 Các khái niệm như văn học so sánh, cấu trúc truyện kể, nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học… là những khái niệm đã được định hình Khác với so sánh văn học, văn học

so sánh được xem là phương pháp luận nghiên cứu văn học Với hai hướng: so sánh ảnh hưởng và so sánh tương đồng, văn học so sánh đã giúp nhiều nhà nghiên cứu văn học phát hiện ra những giá trị của các hiện tượng văn học từ góc nhìn mới Truyện kể và cấu trúc truyện kể cũng là những vấn đề quan trọng mà Tự sự học đã bàn luận, thống nhất Nói tới cấu trúc truyện kể là bàn tới mối liên kết toàn diện của một tác phẩm Vấn đề nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là vấn đề cốt tử của một tác phẩm tự sự Dù là tác phầm truyền thống, hiện đại hay hậu hiện đại thì đây vẫn là phương diện giúp nhà văn thể hiện tài năng và điều họ muốn truyền tải đến với độc giả

Nhà văn Bảo Ninh và Erich Maria Remarque sinh ra ở hai quốc gia có văn hóa khác biệt, ở hai thời đại khác nhau Tuy điều kiện xã hội, văn hóa có nhiều khác biệt nhưng hai nhà văn lại có một số điểm gần giống nhau Cả hai đều tham gia quân đội khi bước vào tuổi thanh niên và cả hai đều trực tiếp tham gia chiến tranh Dù bản chất hai cuộc chiến có sự khác biệt, song, Bảo Ninh và Erich Maria Remarque đều có chung trải nghiệm: đó là chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, sự hủy diệt, những cái chết, sự đau đớn của hai bên chiến tuyến Hai người lính ấy sau chiến tranh đều mang nặng tâm tư, sự ám ảnh về nỗi đau chiến tranh

Họ trở thành những nhà văn viết về cùng một đề tài chiến tranh với hai tác phẩm

thuộc loại “hiện tượng văn học”: Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ

Hai tác phẩm không chỉ viết về “bom đạn và mưu mô quân sự” mà còn “viết về trái tim con người” Làm nên sự hấp dẫn của các tác phẩm đó chắc chắn phần

quan trọng là ở nghệ thuật Vấn đề này chúng tôi sẽ làm rõ hơn ở chương 2: Cấu trúc truyện kể trong hai tiểu thuyết kể trên

Trang 37

Chương 2 CẤU TRÚC TRUYỆN KỂ CỦA HAI TIỂU THUYẾT

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ

Cấu trúc truyện kể là một yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu các tác phẩm tự sự Mục tiêu khi nghiên cứu về cấu trúc là khám phá ra hệ thống các mối quan hệ ẩn dưới bề sâu của văn bản văn học Đối với tiểu thuyết hiện đại thì việc nghiện cứu cấu trúc càng có ý nghĩa quan trọng bởi nó góp phần làm rõ sự thay đổi về cách viết của các tác giả

Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ là những tiểu thuyết có cấu

trúc đặc sắc Bảo Ninh và Remarque sáng tạo những tiểu thuyết có cốt truyện có vẻ lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó nắm bắt, khó kể lại so với các tác phẩm truyền thống Khảo sát sơ bộ, chúng tôi thấy, cấu trúc của hai tác phẩm này đều được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn hiện thực Tiểu thuyết hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh sự kiện, các mảnh tâm trạng, không theo trình tự thời gian mà

ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác giả, tạo ra kết cấu liên văn bản Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ chứa: nhật kí, chuyện kể, thư từ… những

hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, đa dạng hóa các phương thức trần thuật, mở rộng trường nhìn Có thể thấy, ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque là những nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận

Trong chương 2, chúng tôi tập trung nghiên cứu cấu trúc truyện kể của Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ qua các phương diện như: cách mở

đầu và kết thúc, liên kết bề mặt và liên kết bên trong

Trang 38

Khảo sát tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có gì lạ, chúng

tôi nhận thấy cách Mở đầu và kết thúc tác phẩm của mỗi nhà văn có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện ý đồ nghệ thuật của họ Truyện kể của hai nhà văn không hoàn toàn thoát ly truyền thống như nhiều nhà văn hiện đại, hậu hiện đại Hai tác phẩm vẫn có mở đầu và kết thúc nhưng có phá cách tạo nên sự gặp gỡ trong cách kể chuyện của Bảo Ninh và Remarque

Nỗi buồn chiến tranh được mở đầu bằng cách kể về thời tiết, khung cảnh

của chuyến đi tìm hài cốt đồng đội: “Mùa khô đầu tiên sau chiến tranh, với miền hậu cứ Cánh Bắc của mặt trận B3 êm ả nhưng muộn màng Tháng 9 và tháng 10, rồi tháng 11 nữa đã trôi qua, vậy mà trên dọc dòng Ya-crông-pôcô làn nước mùa mưa xanh ngát vẫn tràn ắp đôi bờ Thời tiết bấp bênh Ngày nắng Đêm mưa Mưa nhỏ thôi, nhưng mưa Mưa Núi non nhạt nhòa, những nẻo xa mờ mịt” [20; 5]

“Chọn thời điểm chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hòa bình để mở đầu tác phẩm nhưng Bảo Ninh lại không viết về những chiến công vang dội, những bản anh hùng ca hoành tráng mà lại viết về chiến tranh với tất cả đau thương mất mát bằng cách gợi lại hậu quả của chiến tranh qua việc Kiên đi tìm hài cốt đồng đội Sau đoạn mở đầu này là hồi ức của Kiên về trận chiến tàn khốc với những thân thể dập

vỡ, hình ảnh máu tuôn xối xả… Những trận thảm sát, những cái chết của đồng đội được Bảo Ninh tái hiện qua hồi ức của nhân vật Kiên vô cùng sống động, ám ảnh Đây là cách mở đầu trực tiếp Nhà văn không dài dòng, xa xôi mà miêu tả ngay”

hoàn cảnh, tâm sự của nhân vật hòa trộn quá khứ, hiện tại Miêu tả trực tiếp, Bảo Ninh đã gieo vào lòng người đọc những đau thương, mất mát mà chiến tranh để lại Nó ám ảnh và để lại vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn mỗi người

đã đi qua thời chiến như nhân vật Kiên Tuy nhiên, mở đầu ấy không chỉ dẫn dắt người đọc vào một câu chuyện duy nhất của Kiên mà vào nhiều câu chuyện, nhiều

sự kiện, nhiều cuộc đời khác nữa Những câu chuyện có vẻ lan man khiến cho đã

có người nhận xét “nó lộn xộn giống như một bản thảo” Cứ như vậy, người kể chuyện dẫn dắt độc giả đi đến kết thúc

Về hình thức, tác phẩm nào cũng có kết thúc một câu chuyện, người kể chuyện phải tìm cách kết thúc truyện kể của mình Với những tác phầm truyền

Trang 39

thống, kết thúc tác phẩm vấn đề đặt ra sẽ được giải quyết, số phận nhân vật đã rõ

ràng, độc giả sẽ thỏa mãn với cách giải quyết vấn đề của nhà văn Ví dụ, Chiến tranh và hòa bình của L Tolstoi có một kết thúc hết sức rõ ràng Người đọc không cần phải suy nghĩ gì thêm vì mọi vấn đề đã được giải quyết; hoặc S đỏ của Vũ

Trọng Phụng cũng có kết thúc như mọi vấn đề đã hoàn tất, số phận của Xuân đỏ

đã sáng tỏ Đến với dòng văn học hiện đại, chúng ta thường bắt gặp nhiều tác phẩm không có kết thúc trọn vẹn, kết thúc chỉ như sự dừng lại, mở ra những tình

huống buộc người đọc phải suy nghĩ Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo

Ninh cũng đi theo khuynh hướng ấy Mở đầu tác phẩm là những hình ảnh về cảnh rừng và nhân vật xuất hiện một cách tự nhiên mà không có sự giới thiệu nào Sau bao nhiêu sự kiện, câu chuyện có vẻ lan man, nhân vật chính với hồi ức mang nặng ám ảnh thì kết thúc lại là sự bỏ lửng Một kết thúc không hề thỏa mãn người

đọc Kết thúc tác phẩm là sự ra đi thầm lặng của “nh văn phường”: “Khi nhà văn

của phường chúng tôi tự bỏ khu phố này, anh chẳng hề cho ai hay, mà rồi thực ra cũng chẳng ai người ta để ý Anh vẫn thường biến mất, khi một tuần, khi hàng tháng Lần này có thể là hàng năm chăng, thậm chí mãi mãi Chuyện đó chẳng có

gì lạ, cũng chẳng khó gì, bởi nếu biết làm cho mình tự do thì con người ta vẫn nhiều vận hội và vẫn có muôn ngả để sống, như gió trời” [20; 177] Tác giả cũng

“không tiết lộ cho người đọc biết cuộc sống sau này của anh ra sao? Liệu anh có quên được quá khứ để sống nốt cuộc đời còn lại với hiện tại hay không? Và còn nhiều câu hỏi đặt ra nữa của độc giả mà không ai trả lời được Một trong những câu hỏi ám ảnh nhất sau khi đọc dòng cuối cùng của tác phẩm đó là: Tại sao con người lại lao vào chiến tranh để rồi phải chịu quá nhiều mất mát đau đớn đến không chịu nổi như thế? Mở đầu tác phẩm không có phá cách lớn nhưng kết thúc lại tăng lên sự ám ảnh Đó phải chăng là dụng ý của tác giả muốn cho người đọc khắc sâu thêm ám ảnh về nỗi đau chiến tranh mà chưa nhà văn nào dám viết.”

Có thể lý giải cho xu hướng kết thúc mở trong tác phẩm này là vì nhà văn muốn chạy đua với dòng chảy của cuộc sống hiện thực, nói về những cái hôm nay, ngày mai mà chúng ta không thể biết Cuộc sống thì vốn không có kết thúc, nó cứ liên tục trôi đi không biết khi nào dừng Bởi thế mà kiểu kết thúc như vậy đã tạo

Trang 40

một khoảng trống cuối truyện để người đọc cùng suy ngẫm, cùng sáng tạo Cuối tác phẩm tác giả kể về nhân vật Kiên ra đi mà không ai biết Sự ra đi của anh đã để lại khoảng trống cho người đàn bà câm: “Tất cả đều khó hiểu với chị Vì sao anh

bỏ đi và đi đâu, chị không biết Nhưng chị không thể nói, không thể hỏi gì ở ai về anh Chị biết bộc bạch tâm sự bằng sự buồn xỉu làm tăng lên sức nặng của sự câm lặng u ám” [20; 177] “Bao nhiêu câu hỏi đặt ra trong đầu chị nhưng chị không thể nói, không thể hỏi Và chính sự ra đi của Kiên cũng đã gieo vào lòng người đọc biết bao câu hỏi: anh đi đâu? Anh làm gì? Cuộc sống tiếp tục của anh sẽ ra sao? Liệu anh có quay về không? Tất cả đều làm cho người đọc phải suy ngẫm, phải đặt ra cho mình một câu trả lời riêng theo cách nghĩ của mình Với việc sử dụng phương thức này, Bảo Ninh đã trao cho người đọc cái quyền kết thúc tác phẩm Mỗi người sẽ có một cách kết thúc riêng tùy theo sự sáng tạo của họ Cũng chính lối kết cấu mở này đã làm nên những dư âm trong lòng người đọc về cuốn tiểu thuyết này.”

Với tác phẩm Phía Tây không có gì lạ, Remarque chọn mở đầu bằng cách

trực tiếp nói đến những mất mát đau thương mà chiến tranh đem đến cho con người Mở đầu quyển tiểu thuyết, đại đội của Paul ra tiền tuyến thay phiên đơn vị bạn Đúng vào ngày cuối cùng trở về hậu tuyến, họ đã bị pháo binh Anh làm thiệt hại nặng nề Sự khốc liệt và đau thương của chiến trường được thể hiện ở chi tiết

vô cùng tàn nhẫn Phía sau mặt trận năm dặm, binh lính được nghỉ ngơi và ăn uống no đủ Khẩu phần tăng gấp đôi, kể cả thuốc lá vì đại đội hai có một trăm hai mươi người chỉ còn lại tám mươi Remarque đã đảo ngược các thời điểm bằng việc kể về những sự kiện trên chiến trường trước mà không phải là kể về những sự kiện gắn lúc Paul còn là một cậu học sinh trên ghế nhà trường Biện pháp này đã làm nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh

Phía Tây không có gì lạ có một cái kết rõ ràng Đó là cái chết của nhân vật

Paul “Anh ta chết vào tháng 10 năm 1918, trong một ngày khắp mặt trận yên tĩnh

và êm đềm đến nỗi bản báo cáo về tình hình chiến sự hôm đó chỉ gói gọn trong một câu: “Phía Tây không có gì lạ” Anh ta ngã chúi về phía trước và nằm dài

Ngày đăng: 11/11/2021, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Dân (1989), Những vấn đề uận văn họ so s nh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề uận văn họ so s nh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1989
2. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương ph p uận nghiên ứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ph p uận nghiên ứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
3. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật từ tiểu thuyết phương T y hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật từ tiểu thuyết phương T y hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, (Tập 1;2), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
5. Phan Cự Đệ (1984), Mấy vấn đề ủ tiểu thuyết về đề t i hiến tr nh h mạng Văn nghệ qu n đội, (số 9), tr.108-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề ủ tiểu thuyết về đề t i hiến tr nh h mạng Văn nghệ qu n đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1984
6. Hà Minh Đức (chủ biên) (1996), L uận văn học, Nxb Đaị hoc và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: L uận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đaị hoc và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1996
7. Erich Maria Remarque (tái bản năm 2019), Phía Tây không có gì lạ, Nhà xuất bản Văn học, Vũ Hương Giang dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phía Tây không có gì lạ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
8. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn họ từ thuyết hiện đại, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn họ từ thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
9. Đỗ Đức Hiểu (2004), Thi ph p hiện đại, Nxb Hôị nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi ph p hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hôị nhà văn
Năm: 2004
10. Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
11. Trần Quốc Hội (2007), Tìm hiểu trình tự thời gian nghệ thuật củ Ăn m y ĩ vãng và Nỗi buồn chiến tr nh – tiếp ận từ thuyết thời gi n ủ n t , Tạp h Sông Hương, (số 225), tr.16-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu trình tự thời gian nghệ thuật củ Ăn m y ĩ vãng và Nỗi buồn chiến tr nh – tiếp ận từ thuyết thời gi n ủ n t , Tạp h Sông Hương
Tác giả: Trần Quốc Hội
Năm: 2007
12. Trần Quốc Huấn (1991), Th n phận tình yêu ủ Bảo Ninh, Tạp h văn học, (số 3), tr.85-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th n phận tình yêu ủ Bảo Ninh, Tạp h văn học
Tác giả: Trần Quốc Huấn
Năm: 1991
13. Đinh Thi Huyền (2008), Nhân vật ủ tiểu thuyết hậu hiến, Tạp h văn học, (số 10), tr.105-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật ủ tiểu thuyết hậu hiến, Tạp h văn học
Tác giả: Đinh Thi Huyền
Năm: 2008
14. Đỗ Văn Khang (1991), Nghĩ gì hi đọc Thân phận của tình yêu, Báo văn nghệ, (số 43), tr.98-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ gì hi đọc Thân phận của tình yêu, Báo văn nghệ
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1991
15. Iu.M.Lotman (2004), Cấu tr văn bản nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tr văn bản nghệ thuật
Tác giả: Iu.M.Lotman
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Chu Lai (1987), V i suy nghĩ về sự thật trong hiến tr nh Văn nghê qu n đội, (số 4), tr.15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V i suy nghĩ về sự thật trong hiến tr nh Văn nghê qu n đội
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1987
17. Lưu Liên (1987), "Tiểu thuyết - một thể loại năng động, đầy triển vọng", Tạp chí văn học, (số 4), tr.29-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết - một thể loại năng động, đầy triển vọng
Tác giả: Lưu Liên
Năm: 1987
18. Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2007), i o trình văn học Việt Nam hiện đại (tập 2), Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: i o trình văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Long (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
39. Nhà văn Bảo Ninh: Không ai một mình làm nên hạnh phúc, http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-nam/doi-song-van-hoc/2648nha-van-bao-ninh-khong-ai-mot-minh-lam-nen-hanh-phuc.html Link
40. Khái niệm truyện kể, https://languyensp.wordpress.com/2014/10/12/khai-niem-truyen-ke-sujet/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w