1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới

130 558 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới làm đối tượng nghiên cứu, với mong muốn qua một số tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của ô

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MẾN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT LÊ LỰU

THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MẾN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT LÊ LỰU

THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu … 11

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1: LÊ LỰU VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI .13

1.1 Một vài khái niệm về thế giới nghệ thuật ……… ………13

1.2 Cuộc đời và quá trình sáng tác của Lê Lựu 15

1.3 Quan niệm về nghệ thuật của Lê Lựu 19

1.3.1 Lê Lựu - "Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật" 19

1.3.2 Nhu cầu nhận thức lại thực tại 23

1.3.2.1 Nhận thức lại hiện thực chiến tranh và những hạn chế của đường lối chính sách 25

1.3.2.2 Nhận thức thực trạng bao che ……… .31

1.3.2.3 Nhận thức hiện thực ở nông thôn 36

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI 48

2.1 Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới 48

2.1.1 Đặc điểm nhân vật trong giai đoạn văn học trước và sau 1975 48

2.1.2 Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới 52

2.2 Các kiểu nhân vật 53

2.2.1 Nhân vật bi kịch 53

Trang 4

2.2.1.1 Bi kịch do hoàn cảnh 55

2.2.1.2 Bi kịch trong bản thân mỗi cá nhân 66

2.2.2 Nhân vật tha hóa 71

2.2.3 Nhân vật lưỡng hoá 80

2.2.4 Nhân vật hướng thiện 83

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 89

3.1 Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật 89

3.1.1 Nhân vật được đặc tả ở tính cách và số phận 89

3.1.2 Khai thác quá trình tự ý thức của nhân vật 97

3.1.3 Khám phá nhân vật qua những tình huống xung đột gay cấn, giàu kịch tính 103

3.2 Không gian- thời gian nghệ thuật 107

3.2.1 Không gian nghệ thuật 107

3.2.2 Thời gian nghệ thuật 113

3.3 Giọng điệu trần thuật 117

3.3.1 Giọng giễu nhại, hài hước ……… 117

3.3.2 Giọng triết lý, ngậm ngùi xót xa ……… 119

3.3.3 Giọng phê phán, lên án, tố cáo ……… 121

PHẦN KẾT LUẬN 124 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, tôi đã nhận được sự hỗ trợ tích cực và những điều kiện thuận lợi từ Phòng Đào Tạo Sau Đại Học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội Vì vậy, đầu tiên, cho phép tôi được nói lời cảm ơn chân thành nhất gửi đến quý thầy cô giáo, các cán bộ của Phòng Đào Tạo Sau Đại Học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặc biệt, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến TS Nguyễn Văn Nam Thầy đã không quản thời gian, công sức để tân tâm, tận tình, ân cần chỉ bảo, dẫn dắt cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành

đề tài luận văn của mình

Bên cạnh đó, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những bạn bè đồng nghiệp Họ là những người luôn động viên khích lệ tôi vững bước trên con đường

mà mình đã lựa chọn

Cuối cùng, tôi xin nói lời cảm ơn Cha - Mẹ, người đã sinh ra tôi, nuôi tôi

khôn lớn Người đã hướng dẫn, chỉ cho tôi con đường đi đến thành công

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam trong ba mươi năm, giai đoạn 1945 đến 1975 đã làm tròn

sứ mệnh cao cả của nền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, vì Tổ Quốc, dân tộc, nhân dân Nền văn học sử thi của ba mươi năm ấy là một nền văn học có tính đặc thù, mang vẻ đẹp lãng mạn của những con người sống vì lý tưởng mà những mất mát hy sinh chỉ góp phần làm cho ý chí, tinh thần con người càng thêm rạng rỡ Mặc dù, nền văn học sử thi này vẫn còn tiếp tục quán tính của nó trong nhiều năm thời hậu chiến nhưng yêu cầu đổi mới văn học đã ngày càng mạnh m và trở thành một yêu cầu cấp thiết lúc bấy giờ

Nếu sự kiện cách mạng tháng Tám năm 1945 được coi là cuộc tái sinh màu nhiệm của dân tộc Việt Nam thì mốc lịch sử 1986 có thể coi là sự đổi thay kỳ diệu của hiện thực đời sống chính trị, xã hội và văn hóa Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

V đã cởi trói những quan niệm nghệ thuật không còn phù hợp với thời đại Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn dần được thay thế bởi cảm hứng đời

tư, thế sự Hơn bao giờ hết, các vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, về cái tôi đã trở thành chủ đề nổi bật, là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn

Trước thực tế đầy biến động của lịch sử, những tiểu thuyết của Lê Lựu lần lượt ra đời như những bức tranh sinh động, khắc họa chân thực chủ yếu những tháng ngày đầu đất nước trong thời kỳ đổi mới Chưa bao giờ những vấn đề về chiến tranh và người lính cách mạng, về nông thôn và người nông dân, về cuộc sống bon chen, khốn khó của đô thị thời bao cấp lại được Lê Lựu miêu tả một cách chi tiết đến vậy Bằng tài năng và tâm huyết của mình, Lê Lựu đã phát hiện ra nhiều cái hài hước và nhiều bi kịch liên quan đến những vấn đề nhức nhối của đời sống cộng đồng cũng như cá nhân Có thể nói, Lê Lựu chính là một trong những cây bút đã

Trang 7

góp phần không nh vào sự thay đổi nhanh chóng của văn học Việt Nam lúc bấy giờ

"Đọc văn nghiên cứu văn học là đi sâu vào thế giới nghệ thuật của nhà văn" Nói cách khác, cái đích cuối cùng của đọc văn, nghiên cứu văn học là khám phá cho

được thế giới nghệ thuật của nhà văn

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết

Lê Lựu thời kỳ đổi mới làm đối tượng nghiên cứu, với mong muốn qua một số tiểu

thuyết thời kỳ đổi mới của ông có thể hiểu được một cách thấu đáo hơn phương thức xây dựng tác phẩm, những đặc sắc trong việc miêu tả, nội dung hiện thực được phản ánh và những nét riêng biệt của nhà văn so với các tiểu thuyết gia cùng thời

Từ đó có thể tiếp cận được những vấn đề chung của cả một giai đoạn văn học được coi là sôi nổi, phong phú, nhiều đổi thay mạnh m

tư tưởng con người thời đại Vì vậy, tác phẩm của ông không rơi vào khoảng không

im lặng, không dễ bị lãng quên đi trong xã hội bộn bề, mà có thể nhận thấy, cùng với các cây bút văn xuôi lúc bấy giờ như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… Lê Lựu đã làm cho đời sống văn học nước ta thêm phần sôi động

Lịch sử văn học cho thấy, những nhà văn nào càng được giới phê bình nghiên cứu quan tâm, càng được bạn đọc chú ý Và dù khen hay chê cũng đều khiến cho tác phẩm nổi tiếng hơn, mọi người tìm đọc nó nhiều hơn Lê Lựu cũng là một trường hợp như vậy Ngay từ những sáng tác đầu tay của Lê Lựu, giới phê bình đã ghi nhận: Lê Lựu là một người đang tìm tòi Truyện nào của anh cũng tìm được những nét tính cách mới, những hướng khai thác vấn đề mới Anh có năng lực quan

Trang 8

sát khá nhạy bén, sắc sảo và một bút lực đủ sức cắt rời được những mảnh đời bề bộn tươi nguyên vào trang sách, cái khả năng rất đáng quý ở một cây bút trẻ

Nhưng phải từ Thời xa vắng, sáng tác của Lê Lựu mới thực sự có sức lôi cuốn đối với độc giả cũng như giới nghiên cứu phê bình văn học Và cũng từ Thời

xa vắng trở đi, mỗi tiểu thuyết của Lê Lựu đều tạo được sự quan tâm rộng rãi trong

dư luận Có cuốn nổi tiếng bởi Tự thân nội dung đặc sắc của nó đi vào trong mạch

ngầm tư tưởng tình cảm của nhân vật như Thời xa vắng Có cuốn nổi tiếng bởi những ý kiến khen chê trái ngược như hu n àng u i Có cuốn lại mãi vài năm

sau mới nổi đình nổi đám bởi được chuyển thành phim truyền hình và gắn với nó

là sự kiện nhân vật đi kiện nhà văn như ng đá sông [11-tr.708] Chúng tôi sơ

bộ điểm lại những nghiên cứu về tiểu thuyết Lê Lựu như sau:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu, bài viết, đánh giá chung về Lê Lựu

và tiểu thuyết Lê Lựu như: Tiểu thu ết đầu tiên của m t câ bút tru n ngắn” của Phong Vũ, Hỏi chu n tác giả, tìm hiểu tác phẩm trong báo Văn nghệ tháng 12-

1986, M t đ ng g p vào vi c nhận di n con người hôm nay của Vương Trí Nhàn,

Lê Lựu và ranh giới của Lê Tất Cứ, Khu nh hướng triết ý trong tiểu thu ết-

Những tìm tòi và thể nghi m cả Nguyễn Ngọc Thiện, M t giờ với nhà văn Lê Lựu của Nguyễn Hữu Sơn Thông qua những bài viết dành cho Lê Lựu, ta thấy các

nhà nghiên cứu rất trân trọng những thành công và phát hiện những đóng góp không

nh của ông trong việc đổi mới nền văn học đương đại Bên cạnh đó, họ cũng thẳng thắn đưa ra những nhận xét về nghệ thuật viết văn của tác giả Dư luận khen cũng nhiều và chê cũng có Nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn từng nhận xét: Văn Lê Lựu

có giọng riêng, có duyên riêng, không rành r , không mạch lạc nhưng có một chất nhựa gì đấy ở bên trong Ông khẳng định: Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong tổng số sáu mươi nhà văn ấy [11-tr.663]

Trong bài Nhà văn Lê Lựu: Đi đến tận cùng tính cách nhân vật , tác giả Lê Hồng Lâm chỉ rõ: Quyết liệt- có thể gọi tên cái tính cách đó của nhà văn Lê Lựu trong cuộc sống đời thường cũng như khi ông thể hiện nó trên trang viết (…) Ông

Trang 9

luôn viết hết mình như Ông sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách của nhân vật [10-tr.703]

Tác giả Trần Bảo Hưng ghi nhận Thô mộc hồn nhiên và đầy chất sống- ngay cả khi nghĩ ngợi triết lý cũng rất hồn nhiên, cũng triết lý bật lên trực tiếp từ đời sống Tất cả dường như đã trở thành phong cách, thành cá tính của Lê Lựu [33]

Nhưng người theo dõi sát sao và có những ý kiến độc đáo về Lê Lựu nhiều nhất có l phải kể đến nhà thơ Trần Đăng Khoa Nhận xét chung về những sáng tác của Lê Lựu, anh viết: Lê Lựu biết cuốn hút người đời bằng một thứ văn đọc không nhạt Ngay cả ở những truyện xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đó (…) Nghĩa là đọc anh không bị lỗ trắng Cũng bởi Lê Lựu là nhà văn không chấp nhận sự nhạt nh o tầm thường Ở bất cứ tác phẩm nào dù lớn hay nh Lê Lựu cũng

có một vấn đề gì đấy gửi gắm Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút Kim Lân, Nguyễn Khắc Trường đến Lê Lựu, chúng ta mới lại có được một nhà văn nông thôn thứ thiệt [10-tr.667]

Qua ý kiến đánh giá của các tác giả nói trên, có thể thấy Lê Lựu là nhà văn giàu tâm huyết với nghề Ông luôn viết hết mình như ông sống Đọc Lê Lựu, người đọc bao giờ cũng thu lượm được một cái gì đó Trong văn học Việt nam thời kỳ đổi mới, Lê Lựu đã có một vị trí đáng nể

Thứ hai, là những công trình, những bài viết về từng tiểu thuyết thời kỳ đổi

mới Ngay khi Thời xa vắng ra đời, các nhà nghiên cứu văn học đã nhận thấy trong tác phẩm này có cách nhìn hiện thực mới Giáo sư Phong Lê cho rằng: Thời xa

vắng là sự đón nhận trước cái yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật và nhận thức lại lịch

sử được đề ra với Đại hội V , cuối năm 1986 [12] Tác giả Nguyễn Văn Lưu khẳng định: tác phẩm phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách

nhìn nhận đánh giá lại thực tại"[53-tr.586] Tác giả Nguyễn Hòa nhận thấy Thời xa

vắng là sự đi tìm lại những chân giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên

Viên đại bác khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng

ta không rõ tới Quá khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà có cả vị đắng cay

[47] Nhà thơ Trần Đăng Khoa cảm nhận được Thời xa vắng là sự khái quát lịch sử

Trang 10

bằng số phận bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài [10-tr.674] Tác giả

Hoàng Ngọc Hiến khám phá ra rằng Thời xa vắng đã động đến một vấn đề lớn của

mọi thời đại: trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, sự ra đời của cá nhân là một quá trình đau khổ kéo dài Trong thơ văn Việt nam, có thể kể từ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương rồi đến Hoàng Ngọc Phách, Xuân Diệu, đến lượt Lê Lựu cố nắn nót ghi thêm một trang trần tình về cái lịch sử đau khổ này [8-tr.602-603]

Nói chung những bài viết về tiểu thuyết của Lê Lựu khá nhiều và nhiều nhất

vẫn là Thời xa vắng Đó cũng là điều dễ hiểu bởi đây là cuốn tiểu thuyết thành công nhất của ông Tiếp nối Thời xa vắng, Lê Lựu cho ra đời Đại tá không biết đùa, cuốn

tiểu thuyết mang khuynh hướng triết lý Tác phẩm được Nguyễn Ngọc Thiện đánh giá là một thể nghiệm của Lê Lựu, không còn là mới khi so sánh với các nước khác nhưng đã làm phong phú thêm cách viết tiểu thuyết ở nước ta, rất đáng hoan nghênh Vấn đề đặt ra trong tác phẩm cũng là vấn đề muôn thuở: tình yêu lứa đôi trong những người trẻ tuổi và xung đột về nhận thức, ứng xử giữa hai thế hệ cha-con, già-trẻ xung quanh vấn đề này, kèm theo đó là những hậu quả mang tính xã hội của nó [30-tr.632-640]

Năm 1993 hu n àng u i trình làng cũng tạo được sự chú ý của dư luận,

có điều hầu hết độc giả giới phê bình đều không tìm được tiếng nói chung với nhà

văn Tác giả Trần Bảo Hưng trong bài hu n àng u i- cách nghĩ và tầm nhìn của một nhà văn đã nhận xét hu n àng cu i chứng t một cách nhìn bối rối đến

định kiến, đôi chỗ u uất và cay nghiết Một sự chao đảo trong bối cảnh xã hội đầy những mặt đen tối, u uất của đời sống xã hội hôm qua và hôm nay của không ít tác giả? Một sự quá đà cố ý để câu khách? [48] Dương Trọng Dật cho rằng tác phẩm này thể hiện sự kém bản lĩnh của một phù thủy non tay ấn trước những âm binh mà mình dựng lên [44] Còn tác giả Nguyễn Thị Bình tuy có cảm nhận được trong tác

phẩm có tiếng kêu của nhân tính bị chà đạp nhưng hu n àng u i là một bước lùi so với Thời xa vắng [42-tr.70]

Tiếp tục khơi sâu vào đề tài gia đình, Lê Lựu viết ng đá sông (1994),

Hai nhà (2000) Có nhiều nghiên cứu khen Hai nhà là ngòi bút phân tích tâm lý

Trang 11

của Lê Lựu đạt tới trình độ lão luyện Lê Lựu không còn dự báo mà đi thẳng vào phân tích nguyên nhân tan rã của gia đình được coi là tế bào của xã hội, là pháo đài cuối cùng trong cuộc bắn phá của thói vô cảm, thói đạo đức giả

Nhìn chung, qua các bài viết trên các báo và tạp chí, có thể nhận thấy tiểu thuyết Lê Lựu về cả nội dung và nghệ thuật thời kỳ đổi mới đã được giới nghiên cứu quan tâm, xem xét khá sâu sắc Họ đã chỉ ra những cái hay, cái đẹp cũng như những sai sót, hạn chế của nhà văn thể hiện trên trang viết Tuy nhiên các bài

nghiên cứu hầu như tập trung xoay quanh tác phẩm Thời xa vắng hoặc là viết về

từng tác phẩm cụ thể chứ chưa có một bài báo hay một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách toàn diện về tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới cũng như thế giới

nghệ thuật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của ông Chính vì vậy, qua công trình: Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới, cụ thể là qua năm tác phẩm:

Thời xa vắng, Đại tá không biết đùa, hu n àng u i, ng đá sông, Hai nhà,

chúng tôi mong s có một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn để từ đó không chỉ hiểu được thế giới nghệ thuật mà còn làm rõ được những đặc điểm về tiểu thuyết Lê Lựu, đồng thời còn chỉ ra những đóng gớp của nhà văn cho nền tiểu thuyết hiện đại của Việt Nam

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn tiến hành khảo sát và nghiên cứu thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới nhằm thấy được những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới như: bức tranh về đời sống con người cũng như thế giới nhân vật Đồng thời trong xu hướng vận động chung của nền văn học sau 1975 tìm ra được một vài nét đặc sắc có tính chất riêng biệt của ngòi bút Lê Lựu trong cách thể hiện đời sống và con người

Để làm rõ yêu cầu mà luận văn đặt ra là nghiên cứu tiểu thuyết Lê Lựu thời

kỳ đổi mới, luận văn s tiến hành khảo sát các tiểu thuyết từ sau 1975 Cụ thể như sau:

- Thời xa vắng (1986)

- Đại tá không biết đùa (1989)

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học

4.2 Phương pháp phân tích tác phẩm

4.3 Phương pháp hệ thống

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, ở đề tài này, luận văn được triển khai với ba chương:

Chương 1: Lê Lựu và quan niệm nghệ thuật về cu c s ng và con ngư i

Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu th i kỳ đổi mới

Chương 3: M t s phương diện nghệ thuật

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÊ LỰU VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI 1.1 M t vài hái niệm về thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ có tính chất mở với nội hàm khá rộng Gọi là thế giới vì nó cũng có nét giống với thế giới nói chung như: có sự thống nhất giữa các mặt, có quy luật vận động nội tại Nhưng nếu thế giới nói chung được hiểu là vũ trụ, hoàn cầu, là toàn bộ những gì thuộc về tự nhiên và xã hội đang tồn tại thì thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người

Thế giới nghệ thuật thống nhất trong nó tất cả các thành tố cấu trúc nên tác phẩm và các quy luật cấu trúc làm nên phong cách tác giả Nó vừa phản ánh kinh nghiệm cá nhân, vừa phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật của một thời đại

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật bao gồm nhiều cấp độ:

Trang 14

Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng Thế giới nghệ thuật chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật Chẳng hạn, trong thế giới truyện cổ tích, con người và loài vật, cây cối, thần phật đều có thể nói chung một thứ tiếng người; đôi hài có thể đi một bước bảy dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết, con người chết đi có thể hoá kiếp Trong văn học lãng mạn, quan

hệ nhân vật thường xây dựng trên cơ sở cảm hoá, trong văn học cách mạng, nhân vật thường chia thành hai tuyến địch-ta, người chiến sĩ cách mạng và quần chúng Như thế mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có giống hay không, thật hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó

Với mỗi ngành nghệ thuật thì có những thế giới nghệ thuật đặc thù, nhưng tựu chung lại đều là tổng thể của sự ước lệ nghệ thuật về cả nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp chúng ta hình dung được tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Trong văn học, thế giới nghệ thuật của tác phẩm là thành quả sáng tạo của nhà văn, phản ánh quan niệm về thế giới , một cách cắt nghĩa về thế giới nghệ thuật của nhà văn cũng như tác phẩm Theo Chu Văn Sơn thì Thế giới nghệ thuật của nhà văn chính là một thế giới hình tượng sống động (với tất cả tính phong phú đa dạng và tính hệ thống tinh vi của nó) sinh thành và châu tuần quanh một trục tư tưởng nghệ thuật (xuyên suốt và bao trùm cả một đời văn) được xây cất bằng vật liệu ngôn từ Thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp nhà văn Nó vận động, biến đổi và mang bản sắc riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm Tìm hiểu về một nhà văn và tác phẩm của nhà văn cũng có nghĩa là phải tiếp cận thế giới nghệ thuật của anh ta trên tính thống nhất toàn vẹn

đó Thế giới nghệ thuật của nhà văn bao giờ cũng là một chỉnh thể, có cấu trúc nội

Trang 15

tại riêng, được kiến tạo theo một nguyên tắc thống nhất, theo những quy luật riêng Một thế giới nghệ thuật chân chính bao giờ cũng được tạo dựng trên hệ thống quan niệm riêng của người nghệ sĩ, dù nó có được phát triển tự giác hay không

Với mỗi một giai đoạn, trào lưu, khuynh hướng văn học thì có một thế giới nghệ thuật riêng: thế giới nghệ thuật của thần thoại với quan niệm về các sự vật có thể biến hoá lẫn nhau còn thế giới nghệ thuật của sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa gắn với quan niệm tác động tương hỗ giữa tính cách và môi trường Thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học là rất rộng lớn với nhiều phần khác nhau về nội dung cũng như hình thức xây dựng tác phẩm Đặc biệt, đối với các tiểu thuyết của Lê Lựu thì thế giới nghệ thuật là một tổng thể bao trùm, việc nghiên cứu tất cả

là rất khó khăn Chúng tôi chỉ chọn lựa để nghiên cứu một số yếu tố chủ chốt mà thôi

1.2 Cu c đ i và quá trình sáng tác của Lê Lựu

Cu c đ i nhà văn

Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại một làng ngoại đê sông Hồng, xã Tân Châu, huyện Khoái (nay là Châu Giang, Hưng Yên) Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ Quê ông là một vùng đất nghèo, những vụ lúa thường không đủ nuôi người, người nông dân phải trồng thêm củ đót chống đói ba tháng Câu ngạn ngữ xưa oai oái như phủ Khoái xin tương đủ để hình dung về cái nghèo của cả vùng quê ấy Có l vì thế mà ông có những trang văn chân thực về cảnh nghèo, cảnh đi làm thuê của người nông dân làng Hạ Vị trong

Thời xa vắng

Từ những năm 60, Lê Lựu rời ghế nhà trường bước vào quân đội Tại thời điểm lúc đó phong trào ba nhất (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đang hừng hực khí thế, Lê Lựu từ một cậu bé ở làng xa phủ, xa huyện cũng hoà mình vào không khí thi đua công- nông- binh toàn miền Bắc, làm lính thông tin rồi chuyển sang làm báo, từ những năm 1963-1972 Lê Lựu về làm phóng viên báo Quân khu Ba Sau chiến tranh một vài năm, Lê Lựu về làm việc ở toà soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội trong

Trang 16

nhiều năm Trong đời thường Lê Lựu chân thật, hồn nhiên, có phần lôi thôi lếch thếch luộm thuộm , song về tình cảm thì gần gũi, chân thật, cởi mở Những năm gần đây ông rời toà soạn để về đường Nguyễn Tam Trinh làm giám đốc Trung tâm văn hoá doanh nhân Vị giám đốc vẫn giữ tác phong cởi mở và giản dị đến thân quen

Từ những trang viết đầu tiên, ông luôn thể hiện sự cần mẫn nghiêm túc

Để có vị trí trên văn đàn, Lê Lưụ đã trải qua một quá trình khổ luyện Nhà văn không chấp nhận sự nhạt nh o tầm thường Ở bất cứ tác phẩm nào dù lớn hay nh , ông cũng muốn gửi gắm vào một cái gì đó Ông viết một cách vất vả chật vật không phải vì thiếu cảm xúc, thiếu tài năng mà quan trọng hơn với ông là phải viết "như thế nào?" Chính vì vậy, ông viết chậm, mỗi ngày chỉ

v n vẹn vài trang, có khi chỉ mấy mươi dòng

Có những nhà văn đôi khi chỉ cần một tác phẩm thôi cũng đủ lưu giữ tên

tuổi với đời Hoàng Ngọc Phách với tác phẩm Tố Tâm chẳng hạn Với Lê Lựu,

sáng tác của ông có bề dày hơn Ông cầm bút ngay từ khi còn là một chàng lính trẻ trong hàng ngũ chiến đấu Trước khi trở thành nhà tiểu thuyết, ông đã

là một cây bút truyện ngắn Là một nhà văn – chiến sỹ, trực tiếp đứng trong hàng ngũ của những anh lính cụ Hồ, nếm trải bao nhiêu đắng cay của cuộc chiến tranh, cho nên sáng tác của Lê Lựu thường in đậm dấu ấn chiến tranh và chất chứa bao suy tư trăn trở về tình người, tình đời Lê Lựu sử dụng khá nhiều vốn liếng thực tế trong những năm làm người lính lăn lộn ở Trường Sơn cũng như vốn hiểu biết về sinh hoạt và phong cảnh làng quê yêu dấu Nhiều tình huống trong truyện dường như là kỷ niệm của bản thân người viết Do vậy, tác phẩm của ông để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc bởi nội dung thấm đẫm tính nhân văn cao đẹp và hiện thực cuộc sống gai góc, tươi mới ngồn ngộn chảy trên trang viết

Cuộc sống riêng tư của ông cũng không được bình lặng như mọi người vẫn tưởng và phần nhiều là do hoàn cảnh chi phối Ông lấy vợ lần đầu tiên ở quê, có một đứa con chung, sau nhiều năm thì li dị Người vợ thứ hai là một cô gái thành

Trang 17

phố nhưng cuộc sống cũng không yên ổn hơn Phải chăng như người xưa thường nói: được cái này mất cái kia không ai có thể trọn vẹn được tất cả Ông không may mắn trong hạnh phúc gia đình nhưng lại thành công trong sự nghiệp viết văn của mình Điều này chưa thể khẳng định được nhưng có l chính những éo le trong cuộc sống riêng tư đã cho nhà văn những trang viết có giá trị, đó là một nguồn nội lực mạnh m để có nhà văn Lê Lựu

Quá trình sáng tác của Lê Lựu

Bước vào làng văn Việt Nam, người đọc biết đến Lê Lựu qua những sáng tác

truyện ngắn Tết àng Mụa (Văn nghệ quân đội 2/1964), Những người ại hậu

phương (Văn nghệ quân đội 5/1964), Gan g c Bạch Long Vĩ (Văn nghệ quân đội

7/1965), Những người đi nối mạch cầu (Văn nghệ- 10/1966), ác chiến sĩ tí hon (Văn nghệ- 1967)… đặc biệt Người cầm súng đã đạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn

do báo Văn nghệ tổ chức năm 1967- 1968 Người đọc lúc này mới thực sự chú ý

đến ông Tiếp nối các mạch đã được khởi đầu này, Lê Lựu tiếp tục cho ra Phía

trước mặt trời, Tru n kể từ đêm hôm trước và đến Người về đồng c i thì đã là cây

bút viết văn kì cựu Trần Đăng Khoa đã nhận xét rằng: đến truyện ngắn Người về

đồng c i Lê Lựu đã có mùi tiểu thuyết , người đọc biết đây s là nhà tiểu thuyết có

tài

Quá trình sáng tác của Lê Lựu còn được tiếp nối bởi một loạt các tác phẩm, tuy chưa phải là các tác phẩm thuộc loại xuất sắc nhưng cũng được xếp vào loại

khá của văn học Việt Nam những năm 70 Ngay nhan đề M rừng đã cho người

đọc thấy được phần nào nội dung mà tác phẩm muốn đề cập đến Là một tiểu thuyết chiến tranh, với cái nhìn không đơn giản, Lê Lựu đề cao số phận của lớp người trong chiến tranh giàu nghị lực, ý chí, mỗi người một số phận riêng, bằng những con đường riêng họ đã đến với cuộc chiến tranh bi tráng, gắn bó với nhau keo sơn

Tiếp sau M rừng là tiểu thuyết Ranh giới Hai cuốn tiểu thuyết này đều đã viết về

những con người trong chiến tranh vừa oai hùng vừa bi thảm , vừa giản đơn lại vừa phức tạp

Trang 18

Sau hai cuốn tiểu thuyết đầu tay có vẻ non nớt, người đọc chưa thực sự chú ý

nhiều thì đến năm 1986 Thời xa vắng ra đời đã nhanh chóng chiếm lĩnh số đông bạn

đọc văn học Việc nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Văn nghệ năm 1987 đã

chứng t tài năng của Lê Lựu Chỉ với 400 trang sách, Thời xa vắng đã chứa đựng

một dung lượng hiện thực lớn, đó là cả chặng đường lịch sử từ sau Cách mạng đến đầu những năm 80 của thế kỉ XX Đây là cuốn tiểu thuyết về số phận cuộc đời của nhân vật có tên là Giang Minh Sài- một bi kịch cá nhân nhưng lại chính là bi kịch

của cuộc sống đời thường, của những người lính trở về sau chiến tranh Với Thời xa

vắng, Lê Lựu đã nói lên được những vấn đề của cuộc sống hàng ngày, của những

mối quan hệ gia đình trong xã hội- cái phần mà có l bấy lâu nay chúng ta tạm thời quên đi, gác lại cho việc lớn hơn là cuộc chiến trannh giành độc lập nước nhà

Năm 1990, Lê Lựu cho ra đời tác phẩm Đại tá không biết đùa Cuốn tiểu thuyết này thực sự chưa gây được tiếng vang lớn có thể lấn át Thời xa vắng nhưng

một lần nữa đã khẳng định ngòi bút chững chạc và sắc sảo của ông Năm 1993, Chuyện làng Cuội xuất hiện và được giới phê bình nhận xét là đứa con bất hiếu của ông bố nhân từ Truyện mang ý nghĩa phê phán lớn Câu chuyện viết về công cuộc cải cách ruộng đất với những người cán bộ bị tha hoá, dần dần trở thành kẻ lưu manh, giả dối, lừa lọc mọi người Tuy nhiên, cuốn tiểu thuyết này có l cũng chưa đạt được hiệu quả như nhà văn mong muốn, nó mới chỉ dừng lại ở ý tưởng chất liệu,

bố cục cốt truyện còn nhân vật nhà văn hơi phóng bút, lối viết tự nhiên chủ nghĩa còn in đậm dấu ấn Có l vì thế mà ngay sau đó một năm, Lê Lựu cho ra đời cuốn

tiểu thuyết thứ sáu mang tên: ng đá sông Lại một lần nữa, Lê Lựu đề cập đến

những mâu thuẫn trong gia đình, những phức tạp của đời sống sinh hoạt đời thường,

mà ở khía cạnh nào cũng thấy đau lòng và xót xa Đây cũng là cuốn tiểu thuyết thành công của Lê Lựu

Chiến tranh làm cho cuộc sống khổ cực nhưng lòng người thanh thản, vô tư,

đi chiến trường hy sinh mà lòng vẫn thanh thản Bây giờ thời bình, không bom đạn nhưng ở trong lòng người không có gì là ổn định, tâm con người không biết thế nào

là phải, thế nào là trái Tiếp nối mạch nguồn nội dung đó, năm 2000, tiểu thuyết

Trang 19

Hai nhà ra đời đánh dấu một bước trưởng thành mới trong sự nghiệp sáng tác của

nhà văn

Gần 40 năm cầm bút với hơn 20 tập sách, số lượng tác phẩm của Lê Lựu không phải là ít Lê Lựu khi đùa vẫn thường nhận mình là nhà văn ít học nhưng trong cuộc sống, sự trải nghiệm, tài viết văn cùng khả năng tự học không mệt m i

đã giúp đỡ nhà văn viết nên những trang văn làm rung động trái tim người đọc Năng khiếu bẩm sinh, tình yêu văn chương, sự trăn trở với cuộc sống đã khiến cho những tác phẩm của ông mang dấu ấn riêng, giọng điệu riêng hấp dẫn bạn đọc

1.3 Quan niệm nghệ thuật của Lê Lựu

1.3.1 Lê Lựu - "Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật"

Văn học s không xuất hiện và làm rung động lòng người nếu cuộc sống không kì diệu với muôn ngàn âm thanh trầm bổng Cuộc đời vừa là điểm xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học Bản chất của văn học là sáng tạo, là tưởng tượng nhưng tưởng tượng dù có bay bổng và tinh vi đến đâu thì cũng phải bắt nguồn từ hiện thực, từ những yếu tố làm nên cuộc sống hàng ngày Có bột mới gột nên hồ

không có chất bột từ hiện thực cuộc sống thì cũng không có chất hồ nghệ thuật

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 chịu sự chi phối của hai cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt Suốt những năm tháng ấy, nguyên lý phản ánh hiện thực

đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền văn học L cố nhiên phản ánh là thuộc tính của văn học, nhưng không thể hiểu sự thật trong tác phẩm văn học là sự sao chép đơn giản cuộc sống rồi đòi h i nghệ sĩ luôn luôn phải chính xác trong mô tả hiện thực Trong giai đoạn này khái niệm hiện thực ít nhiều đã bị thu hẹp lại Văn học bám sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng Hiện thực được các nhà văn lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài lớn như công-nông-binh Giá trị của tác phẩm được đánh giá cao theo tiêu chí hiện thực Chủ nghĩa hiện thực được coi là thước đo duy nhất cho sự tiến bộ về nghệ thuật Vì vậy hiện thực trở thành mục đích của sự phát triển nghệ thuật Không

có cách xử lý hiện thực khác nhau giữa các tác giả trong cùng một đề tài

Trang 20

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V với tinh thần đổi mới nhìn thẳng vào sự thật phát huy nhân tố con người thực sự đã thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho văn học Các nhà văn tìm lại được niềm tin và được cỗ vũ bởi không khí cởi

mở, dân chủ như được tiếp thêm luồng sinh khí mới Họ mạnh dạn bày t những suy nghĩ, tâm huyết, mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm riêng, tư tưởng riêng

về hiện thực Nguyễn Minh Châu nhìn lại và chỉ ra chỗ phiến diện của văn học về chiến tranh đồng thời khẳng định s đến lúc con người leo lên trên các sự kiện để đòi quyền sống Ông đề nghị Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ Nguyễn Khải nhận thấy cuộc sống hoá ra ẩn chứa tầng tầng lớp lớp những dòng chảy hỗn tạp, những quan hệ đa chiều, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ ; ngổn ngang bề bộn không đơn giản xuôi chiều và không thể biết hết Chiến tranh náo động ồn ào, mà lại có cái tĩnh lặng của nó Hoà bình mà lại

chứa chất những chứa chất những sóng ngầm gió xoáy ở bên trong (Gặp gỡ cuối

năm) Và năm 1986 Lê Lựu đã trình làng Thời xa vắng như một tiếng nói thuyết

phục về thước đo nhân bản Từ quan hệ quy chiếu này, toàn bộ hiện thực s được điều chỉnh lại, đánh giá lại trong tư duy văn học

Tất nhiên quan niệm về hiện thực trong văn học sau 1975 không phải tự giác, hoàn chỉnh từ đầu Phải sau 1986, văn học mới thực sự tiến tới một cái nhìn sâu sắc hơn, khoa học hơn, đầy đủ hơn về hiện thực Hàng loạt các tác phẩm ra đời từ sau

1986 đã phản ảnh được một hiện thực đa dạng, nhiều chiều và mối quan hệ của nhà văn với hiện thực trở nên tự do hơn Nếu như trước đổi mới, bức tranh hiện thực trong văn học nước ta được tạo ra từ góc nhìn lịch sử dân tộc, ưu tiên diễn tả những biến cố, sự kiện lịch sử nhằm khẳng định một hiện thực tuyệt đối hợp lý thì trong văn học thời kì đổi mới bức tranh đời sống được hiện lên chủ yếu qua góc nhìn khác: góc nhìn thế sự và đời tư Cảm hứng nhân bản trở thành cốt lõi của nguyên tắc phản ánh đời sống, quyết định hệ quy chiếu tác phẩm Nói cách khác, hiện thực trong văn học thời kì đổi mới là hiện thực được phản ánh qua khái niệm cá nhân và mối quan tâm chính yếu của nhà văn là số phận cụ thể của con người, đặt con người vào trung tâm tấn kịch văn học

Trang 21

Không nằm ngoài quy luật trên, ngòi bút Lê Lựu cũng có một sự thay đổi

đáng kể Sáng tác của ông từ sau 1975 , từ Thời xa vắng đến Hai nhà” đã phản

ánh trung thành quá trình chuyển biến này Hiện thực trong sáng tác của Lê Lựu

không giống hiện thực như Chu Lai, Nguyễn Minh Châu (bổ sung vào hiện thực chiến tranh những nỗi đau), như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường (bổ sung vào hiện thực nông thôn những nỗi day dứt, những điều nhức nhối); như Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh ( bổ sung vào bức tranh sinh hoạt đô thị những

hiện thực đáng lo về đạo đức con người); mà là hiện thực của một quá trình chuyển hóa và hòa nhập: từ nông thôn đến thành thị Ở đó nổi cộm lên những

câu chuyện về người anh lính cách mạng, người nông dân và cuộc cải cách ruộng đất… L tất nhiên trong quá trình hòa nhập đó, con người không thể không tránh

kh i những xung đột, những mâu thuẫn trong cách sống, văn hóa sống Và hơn thế

là vấn đề về giá trị đạo đức truyền thống của con người đang bị tha hóa, mài mòn dần trong môi trường xã hội, trong nền kinh tế thị trường

Tác phẩm chính là nơi nhà văn thể hiện quan điểm sáng tác của mình

Và Lê Lựu cũng không phải là một ngoại lệ Trên những trang viết, ông đã thể hiện khéo léo quan điểm nghệ thuật ấy Không phải thông qua bất cứ nhân vật nào trong tác phẩm mà nó được gói gọn trong lời phát biểu của chính tác

giả: “Tôi là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi Toàn bộ những trang viết

của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật Tôi không thể viết được nếu

không bám vào sự thật Tôi chỉ là người kể chuyện, có gì viết nấy” tr.501] Trong một lần “Hỏi chu n tác giả, tìm hiểu tác phẩm , ông tiếp tục

[14-khẳng định với bạn đọc: Tôi nghĩ, văn chương phải đối thoại được với cuộc sống, viết thật lòng không nói dối – nhờ cái thật mà đối thoại được với cuộc đời và người đang sống [38- tr.507]

Như vậy chúng ta nên hiểu "sự thật" đó như thế nào? Cái thật trong

văn học, theo quan niệm của Lê Lựu, nó bắt nguồn từ cái thật trong cuộc sống mà cuộc sống thời bấy giờ có nhiều sự đổi thay to lớn Người đọc thích nhìn thẳng vào sự thật, nói thật và làm thật Qua văn chương, người đọc

Trang 22

muốn hiểu thời đại lúc bấy giờ ra sao, muốn nhận thức đúng thực chất các mối quan hệ xã hội của con người trong một xã hội đầy biến động Ông ý thức rằng, văn học không thể tách rời hiện thực mà phải bám sát hiện thực

Vậy là đã rõ, sự thật” chính là nguyên tắc của Lê Lựu trong việc xây dựng tác phẩm, Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật Đấy

là lời thổ lộ chân thành nhất của người cầm bút Và điều này không phải là lời nói suông mà hầu hết trên tất cả những trang viết, sự thật hiện lên như nó vốn có Nhà phê bình Nhị Ca đã từng góp ý thẳng thắn với Lê Lựu: Cậu đừng viết những gì cậu không thông thuộc, không biết Cậu biết gì về các trận càn quét của địch đâu mà lao vào viết Bây giờ cậu nên viết những gì thân thuộc nhất với mình Những lời góp ý đó đã trở thành bài học và kim chỉ nam cho Lê Lựu trong chặng đường văn chương của mình Sau này, những truyện ngắn, tiểu thuyết của ông, nhân vật đều là những người thân trong gia đình, người làng xóm với bối cảnh làng quê thân thuộc của mình Từ những truyện ngắn đầu tay như Tết làng Mụa (1964), Người cầm súng (1967), rồi sau này là tiểu thuyết Mở rừng (1977), Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1993)… đều xuất phát từ sự chân thật

và cảm nhận từ sâu thẳm lòng mình Trong nhiều lần trò chuyện, nhà văn Lê Lựu đều bảo rằng: Tôi là người không biết bịa chuyện mà chỉ là người chép chuyện

và kể những gì mình từng chứng kiến mà thôi Không một chút màu mè! Không một chút tô v ! Trên hành trình kiếm tìm sự thật ấy, nhà văn đã mạnh dạn phơi bày tất cả những gì đang diễn ra, những gì trước nay bị che dấu, bị lờ đi Con người với biết bao buồn vui sướng khổ, bao nỗi nhọc nhằn cho cơm áo gạo tiền, với những bi kịch, nỗi khổ đau, sự phản bội đều được ông thể hiện một cách sâu sắc, chân thành Có l vì vậy, sự thật về đời sống,

về con người hiện lên rõ nét hơn trong tác phẩm của ông

Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống và hiện thực đời sống cũng chính là chất liệu làm nên sáng tác của nhà văn Truyện ngắn cũng như tiểu thuyết, phản ánh hiện thực dựa trên sự hư cấu và trí tưởng tượng của nhà văn để nói được mô tả được những hiện tượng của đời sống, thậm chí cả những điều ẩn

Trang 23

kín tận sâu bên trong tâm hồn mỗi con người Lê Lựu cũng là một nhà văn và ông hiểu rằng "Thực tế phong phú ngồn ngộn mạnh m đến đâu cũng mới chỉ là quặng quý Nhà văn- người hiểu biết sự vật, hiểu biết thiên nhiên, hiểu biết cuộc đời và nhất là hiểu biết nội tâm con người- phải đem hết cả những nhiên liệu b vào tâm trí mình" (Xuân Diệu) Mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một môi trường sống, hoàn cảnh sống nhất định để tạo thành "chất dính riêng" trong sáng tác của

họ và tạo ra một "vùng thẩm mỹ" văn chương của chính họ Chúng ta đã từng biết đến dòng sông Đông nước Nga nhờ Solokhop hay ở Việt Nam, nhắc tới nhà thơ Hoàng Cầm, ta nghĩ ngay tới một không gian văn hoá vùng Kinh Bắc, với lá diêu bông cùng mối tình nhiều khát khao, mộng mơ mà chẳng bao giờ thành hiện thực Bằng cảm nhận tinh tế của mình các nhà văn đã cho người đọc thấy được sự chân thật trong mỗi tác phẩm của chính họ

Là một người nông dân mặc áo lính, Lê Lựu luôn luôn nghĩ về quê hương, ông chú ý đến tất cả mọi điều liên quan đến người nông dân Nông thôn

và người nông dân là mảng đề tài bất tận mà ông khai phá Cho nên, viết về

đề tài gì đi chăng nữa thì hình ảnh làng quê với những nhân vật "người nhà quê" vẫn hiển hiện trên từng trang viết Theo nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có nhiều người viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn cả [tr.663] Hơn thế nữa, Lê Lựu đi nhiều, biết nhiều, vốn sống của ông căng tràn Bản thân

là một người lính nên ông rất dễ hoà đồng với họ Ông hiểu tâm tư tình cảm của

họ một cách tự nhiên Họ chính là ông mà ông cũng chính là họ Ông đã viết những gì mình biết, mình hiểu một cách sâu sắc và tất cả những điều ấy đều

xuất phát từ quan niệm nghệ thuật "tôn trọng sự thật" của mình

1.3.2 Nhu cầu nhận thức lại thực tại

Nhu cầu "nhận thức lại" là dòng cảm hứng mới trong văn học thời kỳ đổi mới, có quan hệ sâu xa với sự đổi mới quan niệm về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người Suốt ba mươi qua, văn học của ta mang đậm cảm hứng ngợi ca, khẳng định với cái nhìn lý tưởng hoá Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng

Trang 24

nhấn mạnh "nhân tố con người", khuyến khích văn nghệ sỹ tìm tòi sáng tạo, "yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo trong sáng tạo nghệ thuật" và phát triển các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu hiện, văn học chịu sự chi phối sâu sắc của những quy luật thời bình, cơ chế kinh tế thị trường kích thích cá nhân trỗi dậy mạnh

m Nhìn hiện thực qua lăng kính cá nhân, các nhà văn nhận thấy rõ có sự vênh lệch giữa đời sống cá nhân với đời sống cộng đồng cũng như có những phi l‎ý, bất ổn của hoàn cảnh Nhu cầu "nhận thức lại" nảy sinh như một đòi h i tất yếu của khát vọng dân chủ "Nhận thức lại" đã trở thành một khuynh hướng văn học tồn tại như "một đặc điểm riêng của văn xuôi sau 1975" Theo tác giả Nguyễn Văn Lưu, "nhận thức lại thực tại ở đây không phải là phủ nhận, gạt b những thành quả trí tuệ mà chúng

ta đã đạt được Nhận thức lại thực tại ở đây là yêu cầu ở nhà văn một sự khám phá sâu hơn vào những vùng hiện thực mà trước đây do nhu cầu của lịch sử hoặc do sự vận động của thực tại đời sống nên chưa được chú ý đúng mức Những vùng hiện thực đó đến nay trở nên sôi động và cấp thiết đòi h i được nhận thức và phản ánh sâu sắc" [53] Lê Lựu không phải là người khởi đầu cho khuynh hướng văn học này

Trước khi Thời xa vắng ra đời, trên văn đàn đã xuất hiện một số tác phẩm mà ở đó người đọc tinh ý thấy thấp thoáng nhu cầu "nhận thức lại" như Bức tranh, hiếc

thu ền ngoài xa, Người đàn bà trên chu ến tàu tốc hành, Khách quê ra của

Nguyễn Minh Châu, Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con và ,

Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa á rụng trong vườn của Ma Văn Kháng

v v Nhưng có l , phải đến khi Thời xa vắng trình làng văn, nội hàm khái niệm

này mới được ý thức một cách rõ ràng thuyết phục hơn: "Nhu cầu nhận thức lại không phải chỉ để công bằng hơn với quá khứ mà còn là để diễn đạt ý thức cá nhân như một bước phát triển mới của lịch sử cộng đồng"[….] Có thể nói, cùng với sự trở lại của cảm hứng bi kịch thì khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, Lê Lựu thực

sự đóng một vai trò không nh trong việc đổi mới tư duy tiểu thuyết nước ta lúc bấy giờ Nhà văn không những khẳng định được phong cách của mình trên văn đàn mà còn in dấu đậm nét tên tuổi trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 25

cả, hào hùng của người lính ở chiến trường, những trận đánh lớn, những niềm vui lạc quan trong chiến đấu mà ông tập trung khắc hoạ bộ mặt chiến tranh với nhiều tầng bậc khác nhau Cuộc sống được phản ánh trong mỗi tác phẩm của ông thấm thía nỗi buồn của con người thời hậu chiến Con người có thể mất đi một phần hoặc mất tất cả: gia đình, bạn bè, người thân, mất cuộc sống bình thường; mất quyền làm người , mất đi một phần thân thể hay cả chính phần người trong con người mình … khiến cho con người rơi vào chuỗi đau đớn đến tuyệt vọng Sự hòa nhập không dễ dàng với cuộc sống đời thường của người lính- một lớp người anh hùng từng được vinh danh trong cuộc chiến đã khiến họ rơi vào những bi kịch tiếp nối,

không lối thoát Chiến tranh được nhìn nhận từ phía tác động của nó đến số phận và tính cách

Thời xa vắng như cái tên của nó gợi ra một thời quá vãng, ấy là cái thời mà

con người còn khá đơn giản trong cách nhìn nhận, đánh giá và cả trong sự quan tâm lẫn nhau, cái thời con người "không còn là mình", "không được sống thật với chính mình" Bối cảnh của câu chuyện là những năm sau Cách mạng cho đến thời kỳ đổi mới Những vấn đề lớn lao của thời đại, những biến cố của lịch sử dân tộc được cảm nhận qua cuộc đời bi tráng của người anh hùng chiến bại Giang Minh Sài Sài

đã đi qua chiến tranh với tinh thần chiến đấu anh dũng, với vòng nguyệt quế vinh quang trên đầu Sài dường như chỉ biết lao động và cống hiến, quên đi khát vọng

yêu thương chân chính Viết Thời xa vắng, Lê Lựu có đề cập đến chiến tranh tuy

chiến tranh không phải là cái phông nền mà là một phần tất yếu của cuộc sống, một

Trang 26

chi tiết diễn ra trong đời sống con người, chứ không đơn giản là điểm tựa của ý chí , niềm tự hào và hành khúc chiến thắng

Giang Minh Sài coi chiến tranh mảnh đất lý tưởng để chạy trốn kh i cuộc hôn nhân bất hạnh, chạy trốn kh i cuộc sống gia đình gượng gạo, không có tình yêu, để quên đi bi kịch cá nhân của mình, như một hướng giải thoát Điều này hoàn toàn khác với Hai Hùng, Ba Thành, Kiên trong sáng tác của Chu Lai, Bảo Ninh đến với chiến tranh để cảm nhận được những tín điều tốt đẹp, thiêng liêng của cuộc đời thanh tân trẻ tuổi

Đến với chiến tranh để giải thoát kh i cuộc sống bi kịch gia đình không tình yêu nhưng cuối cùng Sài lại rơi vào vòng xoáy gia đình còn khốc liệt hơn giai đoạn trước Ở đây, Lê Lựu còn cho thấy hình ảnh của một lớp người- người lính cách mạng trở về cuộc sống đời thường với biết bao bỡ ngỡ, lạ lẫm, đôi khi lạc lõng, và cuộc sống là những bi kịch tiếp nối Nhà văn luôn đặt họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh, trong cách đối xử với bản thân để khám phá thế giới nội tâm không hề giản đơn, một chiều mà vô cùng đa dạng và phong phú

Cũng viết về chiến tranh, hu n àng u i lại đề cập đến nghịch lý trớ trêu,

nhiều sự thật trái l Lưu Minh Hiếu coi chiến tranh là công cụ để mở rộng đường ranh lợi Sư hi sinh của hai em Mai, Sau; lòng tốt của bác Văn Yến, nỗi niềm của người mẹ thật thà, tội nghiệp đều được trưng dụng tối đa để hắn leo dần lên nấc thang danh vọng Trong chiến tranh, Hiếu là kẻ cơ hội núp sau v boc; sau chiến tranh, bộ mặt của kẻ cơ hội lộ rõ với những thủ đoạn tàn nhẫn ngay cả với người

thân hu n àng u i không ồn ào tiếng bom đạn song bóng dáng của chiến tranh

lại hiện rõ nét bên ngoài vẻ yên tĩnh, bình lặng, tác động sâu sắc đến cuộc đời, số phận nhân vật

Với Núi trong ng đá sông, chiến tranh đã làm biến đổi tất cả cuộc đời

hắn: Cuộc sống sơ tán ở quê ngoại đã đem đến cho Núi một tình yêu đầu đời chóng vánh mà đẹp đ , với những giây phút nồng nàn và cả nỗi đau khổ tuyệt vọng, xấu

hổ, nhục nhã Tình yêu tan vỡ vì quan hệ họ hàng, mẹ chết, hắn trở thành kẻ trộm cắp, vào tù ra tội khiến hắn không thể có một cuộc sống bình yên Gần giống với

Trang 27

Núi, Tuỳ (Đại tá không biết đùa) cũng trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh

Chịu ảnh hưởng của người bố quá nghiêm khắc, Tuỳ đi lính và cuối cùng không có

cơ hội để có thể trở về sống cuộc sống bình yên bên người mình yêu Chiến tranh thực sự đã trở thành hoàn cảnh sống gai góc góp phần tạo nên bi kịch cuộc đời con người

Lê Lựu đã từng phát biểu rằng: Sức mạnh của tác phẩm văn học không nằm

ở khối lượng hiện thực ghi chép mà còn phụ thuộc vào sự chiêm nghiệm, nghiền ngẫm của nhà văn, vào chiều sâu tư tưởng, tình cảm mà anh ta gửi gắm trong đó Khắc hoạ, tái hiện một sự kiện lịch sử xã hội đặc biệt: chiến tranh, nét độc đáo của

Lê Lựu là ở chỗ: ông không viết về chiến tranh và những gì đã qua như một sự ghi chép các sự kiện lịch sử, miêu tả những hành động anh hùng mà chủ yếu đi sâu vào số phận con người trong thời điểm khốc liệt ấy Nhà văn tập trung biểu hiện những khoảnh khắc đời thường, những diễn biến tâm lý của con người để tái hiện lịch sử, tái hiện thời đại

Trong xu thế "nhận thức lại" Lê Lựu chỉ rõ cho mọi người thấy không ít chính sách cải cách mang tính quan liêu và tác hại ghê gớm của nó Đây quả là

một trong những điều mới mẻ và chân thực nhất Chúng ta biết rằng trong công cuộc đổi mới, với những chính sách tiến bộ, đất nước đã đạt được những thành tựu lớn lao Thế nhưng bên cạnh đó cũng gặp không ít những hạn chế, những lầm lẫn đáng tiếc Bạn đọc không kh i xốn xang khi chứng kiến những giông bão do chính

nó gây ra Điều này chúng ta bắt gặp trong hàng loạt tác phẩm thời ấy Ở đó, không còn quan hệ anh em, bè bạn, cha con Để tồn tại, họ phải quay mặt, thậm chí sẵn

sàng phản bội với nhau Trong Lão khổ của Tạ Duy Anh, em bị buộc phải bịa ra chuyện để "tố" anh Trong Mảnh đất ắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc

Trường, con trai- Vũ Đình Phúc- đứng ra tổ chức thanh thiếu niên hô vang khẩu hiệu đả đảo chính người đẻ ra mình- Vũ Đình Đại Khi người cha bị đưa ra đấu tố công khai, con dâu cầm liềm dỉa dói trước mặt cha chồng, còn đứa con trai thể hiện đầy bản lĩnh rằng "mày có biết tao là ai không?" Nằm trong dòng chảy đó, Lê Lựu cũng cho chúng ta thấy một cách đau xót về cuộc cải cách này Ông đã vạch ra, chỉ

Trang 28

rõ cho mọi người thấy những bước đi "chệch choạc" của chính sách ở một "thời xa vắng"

Đến với những trang viết như vậy, người đọc thật sự xúc động bởi vì những điều ấy, trước khi có sự chỉ đạo của Đảng thì hầu như không ai dám h i Nhà văn dường như "cho qua", "lờ đi" hoặc vờ như "không thấy, không biết" Điều đó có thể

là do hạn chế của thời đại, nên các nhà văn chưa có được một thái độ dũng cảm hơn trong phản ánh Giờ đây, với sự động viên khuyến khích "trả lại cho văn học bản chất vốn có của nó", Lê Lựu cũng như các nhà văn trong thời kỳ đổi mới đã mạnh dạn mổ xẻ, đặt lại vấn đề

Nhận thức lại những mặt trái của chính sách cải cách là một trong những vấn

đề khá mới, khá tế nhị và nhạy cảm Cần phải nhìn nhận một cách khoa học, đúng đắn, bởi nếu không thì điều ấy s có tác dụng ngược lại, không những không nói được gì mà còn có tính chất "bôi đen"

Trước khi là một nhà văn, Lê Lựu đã là một chiến sĩ Đứng trong hàng ngũ của những anh lính cụ Hồ, ông hiểu rõ hơn ai hết những chính sách cải cách của Đảng đề ra cho đất nước trong thế vận hội mới Ông không những hiểu ngọn nguồn sâu xa, hiểu một cách cặn k những chính sách đường lối đúng đắn của Đảng mà thông qua tác phẩm, ông chỉ rõ cho mọi người thấy những mặt hạn chế đáng tiếc của chính sách cải cách đó Hơn thế nữa, trên những trang viết, ta thấy ông am hiểu một cách trọn vẹn, thấu đáo chứ không phải hằn học, miệt thị với những sai lầm của quá khứ Đấy chính là "cái tâm" cần có và đáng trân trọng của nghệ sỹ

Trong thế giới nghệ thuật Thời xa vắng, hu n àng u i, Lê Lựu đã chỉ rõ

những hạn chế của chính sách cải cách mang tính quan liêu bao cấp và tác hại của

nó Nhà văn muốn tái hiện một khía cạnh khác của bức tranh đời sống: đó là cảnh nông thôn trong những ngày cải cách ruộng đất Người nông dân Việt nam xưa nay vốn yêu đất, sống chết với đất, giàu nghèo nhờ đất là thế mà giờ đây lại khăng khăng "b ruộng chứ không thể b nghề làm thuê" [70-tr.21] Cung cách làm ăn tuỳ tiện, coi trọng hình thức hơn nội dung, sính thành tích hơn chất lượng sống "bảy giờ kẻng thì tám rưỡi đủ người", "hai giờ đánh kẻng" thì "ba rưỡi hoặc hơn" mới "í ới

Trang 29

gọi nhau" Cánh đồng "vừa lộn xộn, tuỳ tiện, vừa máy móc: chỗ cao thì trồng lúa, chỗ thấp trồng khoai lang, ở dưới dầm lầy thì có mương dẫn nước"[70-tr.308], đất khoán thì tuỳ, ai thích gì trồng nấy rồi "quy ra ngô nộp cho hợp tác.[70-tr.309]" Không những thế, Lê Lựu còn chỉ ra cho chúng ta thấy một khía cạnh đáng buồn về tình trạng dân trí thấp và thiếu hiểu biết Chưa bao giờ "nhân dân lại háo hức đi họp,

đi tố khổ" vì sợ liên quan đến thế Có l "trong cả cuộc đời làm ruộng chân lấm, tay bùn chưa bao giờ người nông dân lại thèm được đi họp, đi tố khổ như lúc này Tố được nhiều, tố mạnh, tố sâu sắc thì đỡ bị liên quan" Cho nên dù hàng tháng trời

"đêm nào cũng đi họp, đi tố, vẫn thấy thèm, vẫn sợ lên thành phần bị đình chỉ Phải

cố gắng để "sản xuất ra kẻ thù", "sản xuất ra tội trạng sao cho đủ năm phần trăm"[70-tr.207]

Nhận thức lại những hạn chế của đường lối chính sách Lê Lựu đã đề cập đến những sai lầm trong công cuộc cải cách ruộng đất Sau này khi phát động sửa

sai, Đảng ta đã thừa nhận: cải cách ruộng đất có nơi, có lúc rơi vào giáo điều, duy ý chí nên đã phạm một số sai lầm đáng tiếc Những lý thuyết giáo điều do những kẻ dốt nát lại lắm tham vọng làm cho méo mó đã tàn phá các quan hệ giữa con người

với con người, gây tổn thương cho uy‎ ‎tín cách mạng Tiểu thuyết hu n àng u i

đã tái hiện một phần nỗi đau có thực ấy, đó là chuyện con người bị "chủ nghĩa thành phần", "chủ nghĩa lý lịch" dồn đuổi Con người đánh mất nhân tính vì khiếp đảm, vì những ấu trĩ, giáo điều Nhân danh quyền lợi giai cấp những kẻ đầu óc chật hẹp đã làm méo mó cả những quan hệ vốn rất thiêng liêng như tình vợ chồng, cha con, anh

em, mẹ con Để được "xuống thành phần, Xuyến vu cho bố cái tội "trời không dung, đất không tha": "Mày làm tao mất trinh tuyết rồi ( ) mày làm hại đời tao rồi mày mới bắt tao phải lấy anh Hiếu là con riêng của vợ mày để mày phi tang trốn tránh tội ác"[74-tr.259] Hay dẫu trí tưởng tượng có phong phú đến đâu, người ta cũng không thể ngờ được ông Kiêm- người cán bộ cách mạng đi hoạt động từ những tháng ngày gian khổ, nhất là người tối hôm trước "còn đứng đầu xã", nhưng chỉ sau một đêm đã biến thành "tên đầu s phản động, cường hào, ác bá", bị cùm chung với "tên chỉ điểm gian ngoan ngày đêm đi lùng sục tìm kiếm Việt Minh" Tất

Trang 30

cả là do những sai lầm trong chính sách "thăm nghèo h i khổ" Sự quy kết, chụp mũ của những con người nhân danh Đảng thi hành nhiệm vụ để rồi gây ra biết bao thiệt hại cho người dân mà vẫn hoàn toàn sống bình yên sau những sai lầm mà mình gây

ra đã khiến cho những người như Kiêm phải chết một cách oan uổng, còn những người còn sống ở lại thì suốt đời "không được đi học đại học và đi làm bất cứ việc

gì ngoài việc làm ruộng ở nông thôn"

Tiếp theo Thời xa vắng và hu n àng u i, tiểu thuyết Hai nhà tái hiện

một cách sinh động đời sống đô thị vào những năm bảy mươi, tám mươi của thế kỷ

XX Tính bất cập, bất ổn đến phi lý của cơ chế quan liêu bao cấp mà nguyên tắc tối cao bình quân là l sống được những kẻ đầy cơ hội, đầy giả dối lợi dụng để kiếm chác, còn những người lương thiện ngu ngơ thì thụ động đợi được cho Mọi thứ đều phải xếp hàng, kể cả mua từ quả cà muối [76-tr.32] Mới nhìn qua tưởng ổn thoả yên bình nhưng nhìn kỹ hoá ra không phải thế Cả nước đi làm công ăn lương

mà chả ai sống bằng lương (…) Còn hàng trăm khoản tiêu pha gấp hàng chục lần tiền lương là do tự xoay xoả Có hàng trăm nghìn cách xoay xở tuỳ thuộc tài hoa và mối quan hệ của mỗi người, tất nhiên không kể đến những người có quyền, có chức, quan chức thời nào cũng sống bằng bổng lộc là chính, họ để ý đến gì tiền lương Thành ra cách kiếm được tiền phổ biến nhất mang tính toàn dân là đi phe Ngay những người trong sạch nhất, những kẻ đần độn nhất không hiểu gì cái từ phe phẩy cũng sẵn sàng tiếp tay cho con phe bằng cách bán lại cho họ những cái được cho, được biếu, được phân phối, được ưu tiên (…) Thành ra nền kinh tế tập trung có kế hoạch do nhà nước chỉ đạo lại đơn điệu, tẻ nhạt, bất lực, không thể sôi động, hấp dẫn bằng nền kinh tế thậm thụt đầu đường, xó chợ [76-tr.32-33] Cuộc sống khó khăn và thiếu thốn trăm bề Trai gái lấy nhau có đăng ký mới mua được một cái màn, một chiếc chiếu và một cái giường đôi Nhưng chỉ có chiếu và màn là được mua ngay sau ba tuần đăng ký Còn giường phải xếp nốt đến tháng thứ bảy mới

có [76-tr.8] Không phải ngẫu nhiên mà ở tác phẩm này, Lê Lựu rất nhiều lần mô tả cảnh hai nhà trí thức Tâm và Địa thức rình tiếng nước máy chảy đêm đêm giống hệt thằng ăn cắp Vì rằng, hạt nước máy ở thành phố thời bấy giờ còn quý hơn hạt

Trang 31

đậu, hạt vừng ở nhà quê Thậm chí có người đánh nhau vỡ đầu, gãy tay , cả đời không nhìn mặt nhau vì tranh cướp, giành giật nhau từng hạt nước [76-tr.56] Cơ chế bao cấp nuôi dưỡng tiếp tâm lý thụ động ỷ lại: cá nhân làm nhưng nhà nước chịu, quản lý theo kiểu đánh trống b dùi thị mọi việc cá nhân riêng tư (đặc biệt là những việc cần giấu giếm) đều giải quyết trong giờ hành chính , chẳng hạn như nhờ vả, móc ngoặc, chơi bời, ngoại hình… Nhà báo Tâm hay giúp đỡ mọi người nhưng sợ vợ nên trong xóm, ngoài phường, bạn bè và họ mạc có ai nhờ vả gì anh phải thấm thúi bảo họ đến cơ quan giải quyết vụng trong giờ làm việc Cũng giống như anh sau này mới biết vợ anh thường đi ngủ với giai trong giờ làm ở cơ quan [76-tr.55].

Bằng những trang viết mang đầy hơi thở cuộc sống, Lê Lựu đã chỉ cho chúng

ta thấy một khí thế bừng bừng của công cuộc cải tạo xã hội, là tinh thần cách mạng nhiệt tình của nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ Nhưng bên cạnh những thành quả đạt được, những khẩu hiệu, thành tích còn có cả sự ấu trĩ, có cả cay đắng và thất bại, có

cả những bất hạnh và ngang trái mà trước kia người ta chưa nói hết ra, chưa đi đến tận cùng Lê Lựu cũng như nhiều tác giả văn xuôi thời kỳ đổi mới như Tạ Duy Anh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Ma Văn Kháng muốn nhìn nhận lại quá khứ bằng tiêu chí nhân bản của ngày hôm nay, để những sai lầm cũ không lặp lại, để con người được đối xử công bằng hơn, được tôn trọng hơn và được sống có tính người hơn Đó cũng là một sự "sòng phẳng" cần thiết, một sự "trung thực" với mình và với người trên trang viết

1.3.2.2 Nhận thức thực trạng bao che

Một trong những hiện thực không nhỏ trong xã hội lúc bấy giờ đó là " sự bao ch và cố tình lờ đi" những tội trạng của nhau Anh m bao ch cho nhau cấp trên phạm lỗi cấp dưới cho qua tập thể phạm lỗi thì cấp trên cũng lờ đi vì

"không thể vì một người mà bỏ đi những người khác" Và điều quan trọng là

không phải nó chỉ tồn tại ở "thời xa vắng" mà nó vẫn đang và s tồn tại bên cạnh chúng ta đến ngày hôm nay

Trang 32

Trong Thời xa vắng, tâm lý bao che được Lê Lựu đề cập đến qua việc chú Hà

giải quyết vụ "Hương- Sài ăn ở với nhau" bị tên kẻ trộm bắt gặp Ông Tính mắng:

"sao không lấy độc trị độc" dẹp đi khi nghe tin sự việc Sài trăng gió? Đặc biệt, khi

kẻ "phát hiện ra vụ việc" định nói, ông vùng dậy chỉ vào mặt: "Tại sao các đồng chí không cho bắt ông này? Tính nào vẫn tật nấy Ông còn nhớ tới đã tha cho ông mấy

vụ rồi không?" Sau đó ông đi đến kết luận khiến ai cũng phải thán phục: "L ra khi thấy chuyện này bùng ra, ta phải dập ngay Một mặt dẹp dư luận, một mặt xem thực

hư ra sao cứ giả thiết là có thật trăm phần trăm, thì các đồng chí cũng phải tìm cách dẹp nó đi Tội thằng Sài đến đâu ta xử nội bộ đến đấy Xử lý thật nghiêm nhưng bằng những lý do khác, ở thời điểm khác Như thế có phải nghiêm khắc mà vẫn giữ được uy tín cán bộ không?"[70-tr.73]

Như vậy, dù sự việc giữa Hương và Sài là "chuyện trăm phần trăm có thật thì cũng phải dẹp, phải cho qua để kh i ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ" Không gay gắt, không phẫn nộ nhưng với sự khéo léo tài tình, Lê Lựu đã mạnh dạn đưa lên trang viết một trong những thực trạng đáng báo động chính là tội bao che, cho qua

để giữ uy tín "cán bộ" ấy Những người cầm cân nảy mực đã lấy sự thật nh đè lên

sự thật lớn Và sự "lờ đi, cho qua" không dừng lại ở đó Tác giả đặt lại vấn đề này một lần nữa qua việc xử lý của chính uỷ Đỗ Mạnh đối với những sai làm của cấp dưới: "Thật là phẫn nộ về việc làm của các anh Nhưng với cương vị một chính uỷ, tôi cũng chỉ phê bình để các anh rút kinh nghiệm Vì rằng, không thể vì một chiến sĩ

mà tôi phải b đi cả bốn cán bộ đại đội, không thể b cái thành tích lao động thứ nhất sáu tháng qua của đại đội Và quan trọng hơn, tôi không thể b quá nửa số cán bộ trung đoàn có quan niệm về công tác tư tưởng con người như kiểu các anh Thành ra cứ phải cho "êm đi"[70-tr.99-100]

Lê Lựu đã dũng cảm chỉ rõ: mô hình kinh tế tập thể đầy tính duy ý chí đã ở vào thời kỳ khủng hoảng, trở thành một ảo tưởng nực cười, nó sản sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm Thói quen che giấu cái kém, cái yếu vì thứ danh dự rất hão huyền một lần nữa được Lê Lựu miêu tả rất chi tiết trong việc gia đình Sài đón khách Ngay từ khi biết tin "có một thiếu uý trợ lý bảo vệ, chi uỷ viên của đơn vị đang ở

Trang 33

huyện uỷ xin giới thiệu xuống xã thẩm tra kết nạp Sài vào Đảng", cả gia đình Sài vừa "tíu tít mừng rỡ" vừa "cuống cuồng chạy ngược chạy xuôi" chuẩn bị Cái ổ của

bà đồ được bốc đi và "thay vào đó là chiếc giường Tây của nhà Tính trải hai lượt tranh rồi mới trải chiếu hoa, cái màn còn nguyên vẹn lần hồ" được căng lên và đi kèm với nó là "chiếc chăn bông ba cân, bọc vải hoa Trung Quốc, cái gối trắng tinh" khiến "cái giường Tây trông sang như giường khách của quan huyện ngày trước" Bàn nước được đặt "bộ xuyến, tách bằng sứ Giang Tây", "một phích nước đá hai lít rưỡi", "cái gạt tàn thuốc lá cũng bằng sứ", "lọ đựng chè bằng sành màu nâu" tất cả đều là đồ "được phân phối, được tặng", "nó giống như dụng cụ của nhà khách trên tỉnh khi nào có khách thật đặc biệt và có lệch mới được đem ra dùng" Thói sĩ diện đẩy con người vào tình trạng thật tội nghiệp: sau khi "quét tước, lau chùi, bày biện mọi thứ rồi mỗi lần quay ra quay vào mỗi người trong nhà đều nhìn vào nó như nhìn vào nhà khác, ở tận đâu xa lạ"[70-tr114-115.]

Tiếp tục khuynh hướng đó, qua hu n àng u i, nhà văn lại khắc hoạ một

cách đậm nét Ông Yến, một cán bộ lão thành cũng đành ngậm đắng nuốt cay "cho qua" dù biết Hiếu là kẻ phản bội, lừa lọc, dối trá biến chất "Nếu phanh phui ra chuyện này để "phanh" việc đề bạt, mọi người s nghĩ về ông thế nào? Cả cuộc đời ông lo toan cho mọi người không hề sai phạm gì, đến lúc sắp về hưu mới "bục" ra chuyện tầy đình liên quan trực tiếp đến uy tín và sự cống hiến của ông và bao nhiêu đồng chí khác Ông còn đủ sức tự phơi mình ra trước công chúng và lịch sử không? [74-tr.508-509] Vì vậy ông buộc phải: "Thôi Bằng cách nào cũng phải "khoanh" chuyện này lại Phải tìm cách theo dõi, khống chế, "dẹp" cho nó "êm đi" Nếu không mọi người hoang mang, không có lợi cho việc bảo vệ uy tín của cán bộ mà

kẻ địch lại khoét sâu vào mâu thuẫn nội bộ của chúng ta [74-tr.509]

Thế đấy, dù có những tội lỗi hay sai phạm gì đi chăng nữa người ta cũng lấy

lý do này, lý do khác để cho êm đi, cho qua Không thể giải quyết triệt để, không thể làm rõ ngọn ngành, không thể làm mất uy tín của cán bộ Đọc những dòng này,

ta mới thấy sự từng trải hiểu đời, sự khéo léo sâu sắc của nhà văn Lê Lựu

Trang 34

Không dừng lại ở đó, nhà văn còn phản ánh một cách toàn diện thời kỳ quá

độ thông qua những việc làm của nhân vật Lưu Minh Hiếu trong tác phẩm hu n

àng u i Với nhân vật Hiếu nhà văn đã mạnh dạn phản ánh một thực trạng

đau lòng ở giai đoạn này Những người cán bộ những người thực hiện việc cải cách dù mang lại kết quả hay không dù sai lầm thì họ vẫn "bình yên vô sự" vẫn

"thăng quan tiến chức"còn người trực tiếp gánh lấy mọi hậu quả thảm hại lại là

bà con nông dân chứ không phải ai khác

Sau khi trúng vào làm thường vụ tỉnh uỷ, Hiếu đã áp dụng mô hình giống như nước bạn ngay tại quê mình Hắn dự định và mơ ước xây một nhà máy chế biến thức ăn gia súc, nhà máy đay, nhà máy dệt, nhà máy đóng hộp thịt lợn, thịt gà, thịt ngỗng xuất khẩu, những con đường xe nối đuôi nhau rồi máy bay trực thăng phun thuốc trừ sâu, ca nô tàu thuỷ bốc dỡ hàng "Những tấm thảm màu xanh tương lai hi vọng cứ là cò bay gãy cả cánh" Thế nhưng những dự định tốt đẹp, những ước mơ

ấy cuối cùng cũng chỉ là ước mơ vì thực tế và khát vọng hoàn toàn khác nhau, cách

xa nhau Kết quả là gần mười năm sau những nhà máy ầm ĩ suốt đêm, từng đàn máy bay phun thuốc sâu, những đường nhựa xe chạy một chiều không hề thấy đâu mà chỉ còn lại những con đường liên thôn liên xã vẫn lầy lội gồ ghề, có chỗ mặt đường chỉ bằng hai bàn chân đặt ngang[74-tr.417] Với chính sách viển vông thiếu thực tế, Hiếu vẫn thăng quan tiến chức còn hậu quả để lại cho bà con nông dân thì vô cùng thảm hại "hàng chục người chết vì kiệt sức, vì tan nạn, hàng trăm người bị đánh tói, cầm tù hàng nghìn ngôi nhà bị phá dỡ [74-tr.417]

Chưa hết, những chính sách của Hiếu còn khiến nhân dân mấy phen lao đao

Vụ đầu tiên là thu mua chuối của bà con nông dân sau khi Hiếu nghe được tin vỉa

hè từ hai người buôn chuối tại một quán nước Hậu quả để lại là đến tận 29 Tết, trừ dập nát hư hao trộm cắp, rơi vãi thất thoát mất gần một phần trăm, số còn lại bán chịu Tính bình quân cũng được hào rưỡi một nải Mua ba đồng bán hào rưỡi, chưa

kể tiền thuê xe, thuê sà lan, công bốc vác và mấy trăm cán bộ các ngành chạy ngược chạy xuôi hàng tuần lễ [74-tr.421] Bi kịch bà con nông dân tiếp tục gánh lấy là gần

10 năm trời chưa thấy ai nói lại cái khoản nợ và không biết đòi ai khi những án bộ

Trang 35

chủ chốt, lúc bấy giờ không còn ai ở huyện[74-tr.421] Tiếp đến là vụ tiêu tiền lẻ, bán con trâu, con bò, cái cát xét, ti vi cũng phải mang quang thúng đi gánh tiền lẻ chứ nhất quyết không chịu tiêu tiền chẵn Nhưng rốt cuộc những đồng lẻ ấy chỉ có thể lưu hành "nội bộ" chứ mang ra ngoài, nhất là những người ở tỉnh khác họ trông thấy mướt mát mồ hôi, khệ nệ khoác từng ba lô, gánh từng bao tải, chở ô tô tiền lẻ

đi mua hàng thì họ lăn ra cười gọi nhau xô đến xem như đi xem thằng hề ở rạp xiếc… Có l trong cái thời xa vắng ấy "Ai mở mồm ra cũng bảo vì người này, vì người kia, vì cả làng, cả tổng mà thực ra chẳng vì ai Không có con người, chỉ có mục đích của đội, sau này là của xã của huyện [74-tr.362] Sai lầm nối tiếp sai lầm

là thế, thậm chí còn làm mấy chục người chết và tàn tật, nợ hàng trăm triệu đồng tiền mua sắm dụng cụ, tiền thuê kỹ thuật, tiền giống và tiếp khách cộng với hàng chục khoản chi phí khác nhưng Hiếu vẫn trúng vào thường vụ huyện uỷ, và sự việc ấy cũng chỉ được "rút kinh nghiệm, ai nhắc đến nó, oán trách nó coi như kẻ xấu, có ý đồ không tốt, tiếp tay cho địch phá hoại đoàn kết của ta" Hoặc "Nói ra nhằm mục đích gì" Giải quyết cái gì? Cái gì đã qua rồi để cho nó qua"[74-tr.363]

Tất cả những sai lầm của cán bộ chỉ được họp để "rút kinh nghiệm" Dù sai sót, lầm lỡ thì cuối cùng "chủ tịch vẫn được điều lên làm trưởng ty công nghiệp Còn bí thư lên làm phó chủ tịch thứ nhất, chuẩn bị thay thế chủ tịch"[74-tr.425]

Có thể nói rằng khi đến với những trang viết của Lê Lựu, ta dễ nhận thấy một điều là vấn đề nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về thời kỳ quá độ

đã được nhà văn xem xét khá toàn diện và phản ánh nó một cách sâu sắc Nhà văn không phủ nhận những thành tựu lớn lao trong công cuộc xây dựng xã hội mới Nhưng điều quan trọng hơn, mới mẻ hơn chính là không làm ngơ, không

b qua những sai sót, những non nớt, yếu kém, ấu trĩ của một "thời xa vắng"

Xuất phát từ quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, tác giả đã nhìn nhận nó với một tinh thần biện chứng năng động Bằng cảm hứng phê phán và một cảm quan hiện thực sắc bén, nhà văn đã nắm bắt được những chi tiết cực kỳ sinh động, góp phần khắc hoạ tấn bi - hài kịch một thời Và điều đáng trân trọng là nhà văn đã phê phán cái ác, cái xấu, cái tiêu cực trên tinh thần nhân văn Dù có

Trang 36

vẻ mỉa mai, dù vạch trần tội ác không nương tay nhưng tất cả đều xuất phát từ

tình yêu thương đối với con người Trong tổng số 5 tiểu thuyết của mình Thời xa

vắng, Chuy n làng Cu i đã thể hiện sinh động và chân thực về quá trình chuyển

biến trong cách nhìn nhận, đánh giá lại thực tại đó

1.3.2.3 Nhận thức hiện thực ở nông thôn

Nhắc đến Lê Lựu, người ta thường liên tưởng ông có nét hao hao giống với

những nhà văn như Kim Lân, Nguyễn Khải và gần hơn với Nguyễn Minh Châu Có

l bởi họ có chung một mối quan tâm về nông thôn Nếu quan sát kĩ cách nhìn vấn

đề, cách nghĩ của Lê Lựu thì có thể thấy sở dĩ ông gặt hái được nhiều thành công trong cách viết và cách thể hiện về đề tài nông thôn một phần quan trọng là ông biết nối liền mối liên hệ chiến tranh, người lính với nông thôn và người nông dân Qua

số phận các nhân vật, nhà văn tái hiện một cách chân thật nhất gương mặt lịch sử và đời sống xã hội Ông đã mở rộng đường biên của sự phản ánh Khám phá cuộc sống

và con người trong mọi trạng thái Khai thác tối đa mọi mối quan hệ ràng buộc đan xen Ông giúp cho chúng ta nhìn sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống nông thôn trước những thay đổi lớn như cách mạng, chiến tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hoá

M t nông thôn nghèo đói

Trước 1975 không phải Lê Lựu không có những trang viết về nông thôn Lê Lựu bước vào nghề văn lúc toàn dân tộc đang dốc sức cho cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước Bằng tất cả sự nhiệt tình của một nhà văn trẻ mặc áo lính, ông viết

Tết àng Mụa (VNQĐ 1964), Gan g c Bạch Long Vĩ (VNQĐ 1965); Người về

đồng c i ….với mong muốn góp thêm một tiếng nói cổ vũ cho chiến thắng Qua

những sáng tác chặng đầu ấy, có thể thấy Lê Lựu quan tâm nhiều đến đề tài nông thôn Những trang viết về hậu phương trong những năm đánh Mỹ của Lê Lựu thường chứa đựng phong vị nông thôn đậm đà, ấm áp Bức tranh hiện thực mang đầy hào khí của những năm tháng hăng say sản xuất và sẵn sàng chiến đấu Cuộc sống qua những trang văn Lê Lựu tuy còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng con người cần cù nhẫn nại, đầy ý chí bao giờ cũng đứng vững và chiến thắng’’

Trang 37

Với quan niệm tiểu thuyết của tôi là tiểu thuyết của tính cách và số phận con người , từ sau 1975, mỗi cuốn tiểu thuyết của ông là một cuộc kiếm tìm, dõi theo số phận và quá trình hình thành nhân cách cá nhân Nhu cầu cắt nghĩa con người s được thực hiện thông qua việc tái hiện bức tranh đời sống- môi trường xã hội có liên quan trực tiếp đến tâm lý- tính cách con người Và Lê Lựu dẫn chúng ta đến với những hiện thực không giống với những hiện thực quen biết như trong các sáng tác văn học thời kỳ trước

Đi lên từ đồng đất, những vùng quê nông thôn Việt Nam dường như chỉ dựa vào sức lao động của con người làm tiềm năng lớn nhất tạo nên sự thay đổi Cái

nghèo vì thế đã trở thành duyên ngầm của mỗi thôn quê Đọc Thời xa vắng của

Lê Lựu, người đọc thấy ở đó một nông thôn chưa thật xa Sự nghèo đói hằn vào nếp nghĩ khiến con người hình thành những cung cách làm ăn không giống ở đâu Không hiểu từ đời nào làng chỉ quen đi làm thuê Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon Những người khoẻ mạnh có nghề trong tay, dường như mục đích cao cả

và sự sung sướng hồi hộp của họ cũng chỉ là kiếm được miếng ăn giữa ngày ba tháng tám, sau đấy vợ chồng con cái lại dắt díu nhau về cày bừa vội vã để lại bồng

bế đi Đến mùa thu hoạch lại về Hết mùa lại đi Cứ thế Khi về lại nhớ cơm thiên

hạ Khi đi lại cồn cào thương nhớ từ gốc cau, bụi chuối Họ không yêu thiết tha đồng ruộng nhưng cũng không đủ sức dứt b những gì quen thuộc từ thuở cha sinh

mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng gọi là quê hương [70-tr.18] Lối làm ăn thụ động ỉ lại ấy vẫn duy trì không hề bị xoá b ngay cả khi làng được giải phóng, nhân dân giành được chính quyền Suốt một thời gian dài, dù các mô hình làm ăn đã thay đổi từ tổ đổi công lên hợp tác thấp, hợp tác cao , từ khoán trắng, khoán đen đến năm ba khâu quản nhưng rút cục người nông dân vẫn khổ sở, đói khát [70-tr.307] Thật đau xót thấy tình cảnh con người vừa hớn hở khi chào đón cuộc đổi mới lại đối mặt với lo âu: Nạn đói hoành hành khắp nơi cái lạnh mới thấu từng khớp xương ông

đồ Khang Từ trưa đến giờ chưa có hạt gì vào miệng, ông cứ siết mãi sợi dải rút bện bằng đay tơ khiến cái bụng lép kẹp thót mãi như dính ệp vào xương sống Phương châm thắt lưng buộc bụng đối với nhà nghèo chẳng có ý nghĩa gì bởi gia đình

Trang 38

phong lưu nhất mới giữ được ngày hai bữa: bữa sáng giong riềng non tèo t o và bữa chiều cháo nấu lẫn với su hào, bắp cải, rau cải và khoai lang [70-tr.305] Đoạn tả

mẹ con Sài bưng nồi cơm của nhà chủ dọn ra, nâng bát cơm chưa kịp ăn đã b chạy, cu Sài đói khát thèm thuồng ngoái lại nhìn bát cơm vừa mới xới ra, nuốt nước miếng Thật xót xa thấm thía Cảnh tượng ấy ta cứ tưởng đã vĩnh viễn qua rồi, chỉ còn lưu dấu ở sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán trước cách mạng như Ngô Tất Tố, Nam Cao… nhưng nay lại xuất hiện một cách dày đặc trong các sáng tác của Lê Lựu Có nhà nghiên cứu đã nhận xét một cách xác đáng: "Phải

là người từng trải qua, từng chứng kiến, từng đau đớn tủi nhục vì một miếng cơm của kẻ ăn người ở, vì số phận của những người nông dân nghèo khổ mới viết được những câu văn ứa lệ như vậy"

Cùng cách xử lý hiện thực như Thời xa vắng, nhưng trong hu n àng u i,

nhà văn muốn tái hiện một khía cạnh khác nhau của cái nghèo ở nông thôn Dân làng Cuội nghèo đến mức dù vay mượn, đổi chác, giật gấu vá vai thế nào chăng nữa thì những người lớn cũng vẫn chỉ có những hạt ngô rang cầm hơi được chia đều thành hai bữa Ở đâu thì không biết, ở làng này có được bát cơm gạo, đĩa xôi vào ngày rằm tháng Bảy đã là một hạnh phúc đột ngột như là nằm mơ mà bắt được

Miêu tả về nông thôn Lê Lựu không chỉ tập trung nói về cảnh nghèo mà ông góp phần lí giải nguyên nhân của sự nghèo đói Dân phủ Khoái Châu xưa vốn

là đất nghèo, nhưng dân quê Lê Lựu còn là đệ nhất đẳng nghèo Quanh năm lụt lội Người nông dân hàng ngày bán lưng cho trời, bán mặt cho đất , cuộc sống quẩn quanh từ đầu làng đến cuối làng nhưng không sao thoát kh i cảnh nghèo đói Những ngày mùa thì yên ổn bình yên, nhưng nếu chỉ gặp một trận mưa bão lụt lội

vỡ đê thì lại càng khốn khổ Đã không ít lần Lê Lựu miêu tả cảnh lụt lội trong các tác phẩm của mình Và có như thế chúng ta mới thấu hiểu được khung cảnh vỡ đê của người dân Trong khi mọi người vừa hồi hộp, lo sợ, háo hức mong chờ, niềm vui và nỗi buồn đan xen nhau thì nước sông đã lên lem lém, nuốt chửng cả cánh bãi xanh non mênh mông lúa lộc và vừng Nhà ai cũng cuống quýt gánh, đội, ôm, vác mọi thứ chạy lên quai đê tiếng kêu ré, tiếng quát tháo, tiếng vồn vã gấp gáp,

Trang 39

tiếng chạy khắp lượt của dân làng như một sự hỗn độn của con người trong trận đại hồng thuỷ tưởng như đang dồn về Và tuy rằng mọi việc cũng qua đi, sau cơn mưa trời lại sáng nhưng dấu ấn để lại là một vùng nước mênh mông mấp mé mái tranh của những nhà cao Những nhà thấp đều đã ngập lưng mái Những vườn chuối tiêu cũng ngập bủm từ bao giờ Đáng buồn hơn khi trong cảnh lụt lội, người chết không

có một nơi để chôn cất cuối cùng Để rồi khi nhìn lại cái quần thể bập bềnh trên các thuyền bè, thúng mủng như những sinh vật biết nói, biết kêu, biết khóc sống vất vưởng, vô lý giữa mênh mông đồng nước không biết đâu là bờ, là bến, đứng nhìn và dường như ai cũng lặng đi trước cái thực rất vô lý thì người ta mới tự h i rằng: Tại sao mình còn sống? Như thế này mà gọi là làng xóm quê hương mình ư? [70]

Có thể thấy ngòi bút mô tả của Lê Lựu đầy xúc động của Lê Lựu đối với người dân vùng nông thôn, chỉ với mấy trang giấy mà ông đã cảm thông đồng cảm

chia sẻ với số phận của họ Chính vì vậy mà Lê Lựu đã cho chúng ta thấy cái nghèo không chỉ làm người ta khổ mà còn tác động rất lớn đến số phận và tính cách con người Nghèo đói khiến con người trở nên hèn hạ hơn bần tiện hơn

Người nông dân làng Hạ Vị trong Thời xa vắng- những người vốn tắt lửa tối đèn có nhau vậy mà vì tranh nhau kiếm việc đã xúc phạm đến cả tình làng nghĩa xóm Và đôi khi chỉ cần bớt xén hay ăn xin, ăn nài nắm xôi, quả chuối, vốc lạc, nắm cháy, củ khoai mang về cho bố hoặc mẹ, vợ hoặc chồng và con cái ở nhà là tất cả như tươi vui, bừng sáng Những mong muốn sao mà nh bé và đáng thương đến vậy [70-tr.23]

Làng Cuội hiện lên trong mắt bạn đọc theo một cách khác Một làng Cuội nghèo nàn, lạc hậu với hội thi nói khoác Con người ta cũng từ sự vật lộn, từ miếng

ăn mà sinh ra lòng đố kị, thù hằn, ghét b nhau Tình làng nghĩa xóm vốn được coi

là văn hoá ngàn đời của nông thôn cũng vì miếng ăn mà mất đi Khi người giàu cất tiếng khóc than vì mất của thì người nghèo lại mẩm bụng mừng thầm mình đã có cái ăn qua ngày Lòng dạ con người cũng từ đây mà bộc lộ Trước nước lụt, trong lúc khốn khổ họ không có được sự cưu mang, đỡ đần nhau, họ sẵn sàng đánh chửi nhau chỉ vì vài hạt đỗ tương ngâm nước, không lấy đi thì s h ng Sự ấu trĩ, tâm lý

Trang 40

ti tiện của người nông dân đã hằn sâu vào suy nghĩ của họ, khiến họ không muốn rời cái gì của mình ra, dù cho nó không dùng được nữa, dù nó có hại cho họ thì nó vẫn là của họ

Nghèo đói còn khiến cho con người không thể phân biệt được phải trái đúng sai Cách mạng về mang đến cho làng Cuội một chút ánh sáng, nhưng chỉ cần

một chút thôi họ đã thoả mãn, không cần biết cách mạng là gì, Việt minh là gì? Họ sẵn sàng chạy theo cái gì có lợi cho mình, mang đến cho mình miếng ăn, để sau này dẫn đến chuyện chỉ vì một vài v hộp mà họ phản lại chính làng xóm, quê hương mình Đó là một thực tế không chỉ tồn tại ở làng Cuội Nhưng cũng dễ hiểu và cảm thông cho họ bởi trong hoàn cảnh đói khát, trong lúc bụng không có gì thì họ đâu cần biết Việt minh là ai, khởi nghĩa cách mạng là gì, họ chỉ cần biết không phải chết đói là sướng rồi Lê Lựu đã khá tinh tế khi đưa ra nhận xét về người nông dân: Thế mới biết là con người cũng dễ thoả mãn Mới tối hôm trước còn rên rẩm, than vãn, ước ao, thèm khát đủ thứ, tối hôm sau được cân thóc đã phởn trí, trông mặt ai cũng tơn tớn sướng [74]

Mọi sự phát triển đều bắt nguồn bằng sự đối kháng của những mâu thuẫn Xã hội nông thôn Việt Nam đang chuyển mình để bước sang một giai đoạn mới với những định hướng hết sức tốt đẹp Song trong quá trình vận động ấy, sự song song tồn tại của hai luồng tư tưởng cũ và mới đã dẫn đến những rối ren, phức tạp Lê Lựu cũng như các nhà văn thời kỳ đổi mới đã hoàn thành sứ mệnh của mình khi họ dũng cảm viết về nông thôn trong những biến cố đã qua của lịch sử: cải cách ruộng đất, công cuộc sửa sai, thời kỳ bao cấp, đưa nông dân vào hợp tác xã, khoán 10 trong sản xuất… Qua những trang viết đầy tình cảm chân thành đó, người đọc thêm hiểu

và cảm thông với những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn

M t nông thôn “đất lề quê thói”

Viết về nông thôn, đã không ít nhà văn tạo dựng cho mình một chỗ đứng vững mà tên tuổi khó ai sánh nổi Tiểu thuyết gắn bó với đề tài nông thôn từ

Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ đê

của Vũ Trọng Phụng, cho đến Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Lê Lựu (2002), Tôi viết Sóng ở đáy sông in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Tác giả: Lê Lựu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
17. Thiếu Mai (2002), Nghĩ về một Thời xa vắng , in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Tác giả: Thiếu Mai
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
18. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), on đường đi vào thế giới ngh thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: on đường đi vào thế giới ngh thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
19. M.Bkhrapchenco (1968), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Nxb Tác phẩm mới Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M.Bkhrapchenco
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới Hà Nội
Năm: 1968
20. Nhiều tác giả (2002), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
21. Nhiều tác giả (1992), Từ điển ngh thuật văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển ngh thuật văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
22. Mai Hải Oanh (2010), Những cách tân ngh thuật trong tiểu thuyết Vi t Nam đương đại giai đoạn 1968-2006, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân ngh thuật trong tiểu thuyết Vi t Nam đương đại giai đoạn 1968-2006
Tác giả: Mai Hải Oanh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2010
23. Hoàng Ngọc Phê (chủ biên)(1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
24. Pospelov (chủ biên)(1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Pospelov (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
25. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
26. Trần Đình Sử (chủ biên), Lý luận văn học (tái bản lần 3), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học (tái bản lần 3)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
27. Trần Đình Sử (chủ biên) (2007), Tự sự học – m t số vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học – m t số vấn đề lý luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
28. Hồng Thái (2002), Tâm sự phim sóng ở đáy sông , in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Tác giả: Hồng Thái
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
29. Ngô Thảo (2001), Về truyện ngắn Lê Lựu , in trong Văn học về người lính, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học về người lính
Tác giả: Ngô Thảo
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2001
30. Nguyễn Ngọc Thiện (2002), Khuynh hướng triết lý trong tiểu thuyết – những tìm tòi và thử nghiệm , in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
31. Lý Hoài Thu (viết chung) (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Lý Hoài Thu (viết chung)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
32. Lý Hoài Thu (2005), Đồng cảm và sáng tạo (phê bình và tiểu luận), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cảm và sáng tạo
Tác giả: Lý Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
33. Đinh Quang Tốn (2002), Lê Lựu Thời xa vắng , in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Tác giả: Đinh Quang Tốn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
34. Hà Xuân Trường (1984), Trên m t chặng đường, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên m t chặng đường
Tác giả: Hà Xuân Trường
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1984
35. Phong Vũ, Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết truyện ngắn , in trong Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin.II. Báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Lựu tạp văn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin. II. Báo

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN