1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lý Biên Cương

142 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 710 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, ông còn đặt ranhững vấn đề đáng suy nghĩ về nghệ thuật viết tiểu thuyết đó là đã là ngườicầm bút thì cần phải có một cái nhìn đa chiều về cuộc sống, dám xông thẳngvào hiện t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-ĐẶNG THỊ BÍCH THUỲ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

TIỂU THUYẾT LÝ BIÊN CƯƠNG

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN

NGHỆ AN, 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và giới hạn của đề tài 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 TIỂU THUYẾT LÝ BIÊN CƯƠNG TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 9

1.1 Một cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại 9

1.1.1 Cơ sở xã hội, thẩm mỹ của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 9

1.1.2 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 12

1.1.3 Một số khuynh hướng chủ yếu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 26

1.2 Tiểu thuyết Lý Biên Cương trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 34

1.2.1 Lý Biên Cương và con đường đến với tiểu thuyết 34

1.2.2 Khuynh hướng của tiểu thuyết Lý Biên Cương 37

1.2.3 Nhận diện bước đầu về thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lý Biên Cương 39

Chương 2 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT LÝ BIÊN CƯƠNG 42

2.1 Hiện thực được nhận thức trong tiểu thuyết Lý Biên Cương 42

2.1.1 Hiện thực cuộc sống ở miền cửa sông hẻo lánh 42

2.1.2 “Lối thoát” di tản và kiếp sống phù du của những phận người di tản 48

2.1.3 Hiện thực cuộc sống của những người phụ nữ ở một nơi thiếu vắng đàn ông 56

2.2 Con người trong tiểu thuyết Lý Biên Cương 61

2.2.1 Con người trong Cửa sóng 61

2.2.2 Con người trong Phù du 66

2.2.3 Con người trong Một kiếp đàn ông 71

Trang 3

2.3.1 Cái nhìn về con người 80

2.3.2 Cái nhìn về thế giới 84

Chương 3 PHƯƠNG THỨC TẠO DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT 87

3.1 Nghệ thuật tạo dựng cốt truyện, tình huống và xung đột 87

3.1.1 Nghệ thuật tạo dựng cốt truyện và tình huống 87

3.2.1 Nghệ thuật tạo dựng xung đột 100

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian và thời gian 105

3.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 105

3.2.2 Nghệ thuật tạo dựng không gian và thời gian 117

3.3 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ 121

3.3.1 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu 121

3.3.2 Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ 127

KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết – “cỗ máy cái” của văn học hiện đại, thể loại “khôngđông cứng”, luôn thích nghi với những chuyển động phong phú của đời sống,ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Theo M.Bakhtin:

“Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa địnhhình (…) Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưathể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” Trong văn họcđương đại Việt Nam, mặc dù chưa xuất hiện được những cuốn tiểu thuyết đểđời, gây chấn động dư luận song cũng đã có nhiều cuốn tiểu thuyết đáng đểđọc, trong số đó có tiểu thuyết của Lý Biên Cương (1941 – 2010) Với lối vănphong nhẹ nhàng, điềm đạm, đôn hậu và hào hoa; số phận nhân vật được khaithác đến chiều sâu, đến từng khía cạnh để người đọc cảm nhận, chiêm nghiệm

về cuộc sống, về con người vì thế mà tác phẩm của ông đã để lại nhiều ấntượng sâu sắc cho những ai đã từng đọc tiểu thuyết của ông

1.2 Trong cuộc đời của mỗi nhà văn, mỗi người sẽ lựa chọn cho mìnhmột thể loại văn học nào đó Có người sẽ chỉ gắn bó với một thể loại nhưngcũng có những người thử sức ngòi bút của mình trên nhiều thể loại khác nhau.Thông thường ít có nhà văn sẽ thành công trên các thể loại mà mình đã chọn.Cái cuối cùng đọng lại trong lòng độc giả vẫn chỉ là một thể loại nào đó LýBiên Cương sáng tác bằng khá nhiều thể loại khác nhau (truyện ngắn, thơ,tiểu thuyết,…) và trên thực tế, nhiều người nhận xét rằng truyện ngắn là thểloại ông thành công nhất Riêng về thể loại tiểu thuyết, ông chỉ có ba cuốn là

Cửa sóng, Một kiếp đàn ông và Phù du Song mỗi cuốn đều có sức hấp dẫn

riêng của nó, rất đáng để ta đọc và tìm hiểu, nghiên cứu Đọc tiểu thuyết LýBiên Cương ta sẽ thấy có một thế giới nghệ thuật độc đáo – một thế giới nghệthuật rất đáng được nghiên cứu

1.3 Tiểu thuyết Lý Biên Cương đã đặt ra nhiều vấn đề về hiện thực cuộcsống cũng như về cuộc sống của con người Thế giới và con người trong tiểu

Trang 5

thuyết được Lý Biên Cương nhìn bằng con mắt cảm thông, một cái nhìnkhông quá cay nghiệt, chua chát nhưng lại khiến độc giả càng đọc càng thấythấm thía Hiện thực trong tiểu thuyết là một hiện thực rộng lớn, từ gia đìnhtới xã hội với biết bao nhiêu vấn đề về tình cảm vợ chồng, cha con, anh em;khát vọng hạnh phúc tình yêu đôi lứa; về những mặt được cũng như mất vềnhững chủ trương, chính sách của Nhà nước;… Con người được nhìn nhậntrong mối quan hệ đa chiều, phải đối mặt với bao hệ luỵ từ cuộc sống Vàcuộc sống dù có khó khăn thế nào, Lý Biên Cương vẫn không nguôi có mộtniềm tin mãnh liệt vào con người, vào cuộc sống Bên cạnh đó, ông còn đặt ranhững vấn đề đáng suy nghĩ về nghệ thuật viết tiểu thuyết đó là đã là ngườicầm bút thì cần phải có một cái nhìn đa chiều về cuộc sống, dám xông thẳngvào hiện thực để cho ra đời những tác phẩm có giá trị chứ không nên đứngngoài nhìn bằng con mắt hời hợt để rồi cho ra đời những tác phẩm bằngphẳng, giản đơn.

Lý Biên Cương cũng tự nhận rằng: “Tôi chẳng có gì đặc biệt Lúc đầu hănghái viết đủ thể loại, đăng hầu hết các báo chí, sau chỉ chuyên viết truyện, nhất

là truyện ngắn Tôi yêu truyện ngắn, một thể loại thực sự thử thách những canđảm của ngòi bút Hình như ở đây tôi mới gặp chính tôi Truyện ngắn bừngcháy sức mạnh con người trong chốc lát, trước đó hầu như không nghĩ ra,hoặc sau đó nếu không cướp thời gian để thể hiện thì nó sẽ tuột đi rất nhanh,hối tiếc không nổi”

Trang 6

Trong bài “Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Lý Biên Cương”(www.baoquangninh.com, 18/03/2012), tác giả Hoàng Thị Khuyên bước đầu

đã có những khái quát chung về nghệ thuật tạo dựng điểm nhìn của Lý BiênCương trong các truyện ngắn viết về đất và người vùng mỏ Quảng Ninh.Theo tác giả, Lý Biên Cương đã sử dụng những điểm nhìn bên trong lẫn điểmnhìn bên ngoài “để có thể diễn tả được tất cả các ngõ ngách của đời sống vànội tâm con người vùng than Quảng Ninh, miền đất mà nhà văn từng gắn bómáu thịt, phần lớn trong tác phẩm của mình” Với điểm nhìn bên trong, LýBiên Cương đã sử dụng các thủ pháp kể chuyện ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba

(Than con gái, Đêm ấy vùng than ai thức, Ở nơi hòn than rửa sạch, Người

bán than rong, Đêm mưa, Ngọn đèn…) Người kể chuyện hoà nhập vào với

nhân vật để có thể nói lên những tâm sự thầm kín của mình Ở nhiều tác phẩmkhác, tác giả còn sử dụng hình thức viết thư và nhật kí đã đem lại một cái nhìnbên trong thuần tuý, giúp cho người đọc có thể vào tận ngóc ngách những suy

tư, tình cảm của tâm hồn nhân vật (Như thư của cô con gái gửi cho ông già

Hậu trong truyện ngắn Than; của Quang và Thêm trong Hôm nay của than; của Hạ viết cho Tiên trong truyện ngắn Hồ quang; bức thư của người con gái

và người con trai mà bác sĩ Huân còn giữ trong Người tôi yêu mến; nhật ký của Ngân viết về Mây trong truyện ngắn Mắt và sóng, nhật ký của anh liệt sĩ

hy sinh từ lâu, nay Hiệp và Vân mới tìm thấy cùng bộ hài cốt trong truyện

vừa Câu chuyện ngắn về con đường dài ) Với điểm nhìn bên trong như vậy,

“nhà văn vừa chủ quan hoá được thế giới, vừa giữ được tính khách quan củangười kể chuyện Người kể chuyện trong trường hợp này chỉ nhìn từ mộtphía, một điểm Nghĩa là người kể chuyện không biết hết, bình đẳng đối thoạivới bạn đọc đề bộc lộ những suy tư, trăn trở trước những biến cố trong cuộcđời Điểm nhìn bên trong giúp nhà văn có điều kiện khơi sâu nội tâm nhân vậtvới những hồi ức, kỷ niệm, sự giãi bày tình cảm càng rõ nét hơn” Cùng vớiviệc sử dụng điểm nhìn bên trong, Lý Biên Cương còn sử dụng điểm nhìn bênngoài “nhằm thể hiện được tính khách quan tối đa cho trần thuật Các sự kiện

Trang 7

diễn ra tự nhiên như cuộc đời vốn thế, nó giúp nhà văn bao quát nhiều phươngdiện và góc độ của hiện thực cuộc sống” Ngoài ra, Hoàng Thị Khuyên còncho người đọc thấy Lý Biên Cương đã sử dụng nghệ thuật di chuyển điểmnhìn Đó là sự dịch chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện vào nhân vật và từ

nhân vật này sang nhân vật khác (Bây giờ ta lại nói về nhau, Gắn bó một

vùng lò cháy, Giai điệu thành thị, Hạt mưa bay ngang, Gió hát, Đêm ấy vùng than ai thức, Vợ chồng ông già mù, Hồ quang,…) Bằng việc di chuyển điểm

nhìn như vậy đã làm cho câu chuyện trở nên khách quan hơn, có khả năngbao quát được nhiều vấn đề, đồng thời cho thấy một cái nhìn đa chiều của tácgiả về nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống

Trên trang web: http://www.baoquangninh.com, có bài “Chất thơ trong truyện ngắn Lý Biên Cương” của Phạm Văn Học Theo tác giả bài viết, cái

đọng lại trong tâm trí người đọc khi đọc những truyện ngắn của Lý BiênCương chính là chất thơ lan toả trong mỗi câu chữ Chất thơ trong truyệnngắn Lý Biên Cương được toát lên “từ cách sử dụng ngôn ngữ gợi cảm giàuhình ảnh, giàu nhịp điệu… Chất thơ toát lên ngay từ góc độ nhà văn tiếp cận,khám phá và cảm nhận thiên nhiên, con người Điều đó được thể hiện ngay từ

cách đặt tên truyện ngắn “rất thơ” như: Sâm cầm ơi sâm cầm, Thu cảm, Mười

hai cửa bể, Giai điệu thành thị, Sữa thơm dòng sông Hương, Người ơi người

ở, Bây giờ ta lại nói về nhau, Hạt mưa bay ngang… Những cái tên mới đọc

lên đã thấy du dương, cuốn hút người ta” Để tạo ra chất thơ đó, tác giả sửdụng nhiều phương thức nghệ thuật khác nhau, trước hết tác giả sử dụng hìnhthức kể chuyện ở ngôi thứ nhất, sử dụng lớp ngôn ngữ giàu sức gợi cảm, gợihình: “Câu văn của ông co duỗi linh hoạt, có khi dồn dập như chính cái hối hảcủa đời sống Vùng mỏ, có lúc lại mênh mang buồn nhớ, khi lại êm đềmphẳng lặng như mặt nước Vịnh Hạ Long…”; đồng thời tác giả còn sử dụngbiện pháp điệp từ, điệp cấu trúc câu và sử dụng nhiều câu hỏi như một niềmtrăn trở khôn nguôi cùng với đó là cách kết thúc câu chuyện đầy bất ngờ đãtạo nên những dư vị thơ đậm đà

Trang 8

Trên blogs http://www.tranchieuqn.vnweblogs.com, Trần Chiểu có bàiviết “Vĩnh biệt nhà văn Lý Biên Cương” đã chỉ ra rằng truyện ngắn là thể loạichủ đạo và đã khái quát một cách chung nhất những nét độc đáo ở thể loạitruyện ngắn của Lý Biên Cương Đó là “cái cuối cùng đọng lại, cái mà ngườiđời không thể không nhắc đến ông – đó là truyện ngắn – một phong cách nửahào hoa, nửa dung dị, nhưng tinh tế, sâu lắng và đặc biệt, nó mang đậm sắcthái của một miền đất thợ thuyền nghiệt ngã và mơ mộng không thể trộn lẫn.Khác hẳn nhiều cây bút truyện ngắn cùng thời, bút pháp Lý Biên Cương luônđiềm đạm và đôn hậu Các nhân vật của ông dù đứng ở tuyến nào, hoàn cảnh

u tối nào, vẫn được dành những “khoảng không” để hướng về ánh sáng Lược

bỏ sự “làm duyên” (đôi khi) – Lý Biên Cương vẫn là cây bút truyện ngắn cóđẳng cấp”

Ngoài những bài viết đi sâu tìm hiểu về thể loại truyện ngắn của Lý BiênCương còn nhiều bài viết khác đưa ra những nhận xét, nhìn nhận một cáchchung nhất về các sáng tác của nhà văn Lý Biên Cương

Bài viết “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (www.cand.com,17/02/2009) của tác giả Dương Hướng không chỉ giúp ta hình dung về cuộcđời lắm thăng trầm của Lý Biên Cương mà còn cho độc giả thấy được nỗiniềm của Lý Biên Cương khi gửi gắm những tâm trạng của mình vào trangviết “Giờ nhìn lại sự nghiệp sáng tác của ông, tôi giật mình thấy tất cả nhữngtác phẩm của ông đều có bóng hình ông trong đó Như thể tiểu thuyết và cuộc

đời lặn ngụp vào nhau Đắm say có, hờn ghen có, hận thù có, phản bội có Tôi

đọc Người đàn bà ngang qua đời tôi thấy rõ nỗi lòng đau đớn của ông trút lên

trang viết thật sống động Những chi tiết cứ sởn da gà khi đêm đêm nằm vớingười tình mà mình yêu thương lại cứ phải nghe tiếng gõ cửa bất thường củathằng đàn ông khác mò đến, rình rập Tiếng gõ cửa cứ nhoi nhói vào tim”.Với bài viết này, người đọc mới thấy câu nói “văn là đời” rất đúng với nhàvăn Lý Biên Cương Và trong bài “Lý Biên Cương thăm thẳm đường đời”(duonghuongqn.vnweblogs.com, 01/11/2009), Dương Hướng một lần nữa lại

Trang 9

khẳng định điều này: “Hãy đọc tên các tác phẩm (những đứa con tinh thần)của ông, ta cảm nhận như thể số trời đã định Âm vang của ngôn từ nghĩa ngữ

cứ bám riết vào từng đoạn đường đời thăm thẳm nỗi gian truân của ông Nóvận vào ông, hay ông vận vào nó? Nhưng với ông, nó ám ảnh mãi, nó mêhoặc, nó đeo đuổi suốt cuộc đời ông – cả vinh quang và cay đắng, cả niềm vuinỗi buồn, cả khát khao trống vắng, cả cô đơn và đau đớn Mỗi câu mỗi chữđều gợi lên ý tứ sâu sắc, và những nỗi buồn man mác”

Trong bài viết “Nhà văn Lý Biên Cương – người thức cùng than”(www.baoquangninh.com, 11/05/2008), tác giả bài viết đã cho thấy những ântình mà Lý Biên Cương dành cho vùng đất mỏ Quảng Ninh Hầu như cả cuộcđời viết văn của mình, Lý Biên Cương đã dành rất nhiều tâm huyết để viết vềđất và người xứ mỏ Theo số liệu tác giả bài viết đưa ra thì từ truyện ngắn

Than con gái (1965) đến truyện ngắn Nghe gió hun hút thổi (2007), gồm có

40 truyện ngắn và 6 truyện vừa, với gần 850 trang sách Đọc những trang sáchnày ta có cảm tưởng như đây là một bức tranh lớn, mà mỗi truyện trong đó lànhững gam màu khác nhau, phản ánh cả chặng đường hơn bốn mươi năm quacủa vùng Than Và mặc dù đây chỉ là một phần trong gia tài văn chương củanhà văn nhưng nó cũng đã cho thấy sự sung sức, bền bỉ của một cây bút nặnglòng với vùng Than, cho thấy một lối viết riêng, tạo nên phong cách rất đặctrưng của nhà văn Lý Biên Cương Đó là sự kết hợp rất nhuần nhuyễn giữachất hiện thực với chất lãng mạn bay bổng khi miêu tả cuộc sống Nói đúnghơn, nhà văn luôn tìm tòi, khai thác những nét lấp lánh thi vị của cuộc sống từnhững chi tiết về tính cách, về mối quan hệ giữa con người với con ngườiv.v hết sức dung dị trong đời thường Thêm vào đó là giọng văn nhẹ nhàng,tinh tế, với những chi tiết được chọn lọc đặc sắc nên câu chuyện càng hấpdẫn Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp ngòi bút của mình ở thể loại văn xuôi

mà ở thể loại thơ cũng đã có rất nhiều bài đáng để ta đọc Trong bài viết

“Người tử tế”, (www.thaongochn.vn, 08/06/2012), tác giả bài viết đã cónhững nhận xét vô cùng tinh tế: “Nếu đã biết ông, ta còn biết ông là một nhà

Trang 10

thơ đúng nghĩa Những bài thơ của ông gợi nhiều sự liên tưởng đa thanh, đa

âm Những câu thơ vấn vít, như có, như không, gợi mở về những điều bình dị

mà lại chan chứa yêu thương cháy bỏng”

Nhìn chung, các bài viết về Lý Biên Cương đã đưa ra những nhận xét,những lời bàn luận một cách khái quát về văn phong Lý Biên Cương Và thểloại được nhiều người tập trung chú ý nhất vẫn là thể loại truyện ngắn Từnhững bài viết đó, phần nào giúp người đọc hiểu thêm về phong cách vănxuôi Lý Biên Cương

2.3 Có thể xem luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên đi sâunghiên cứu thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lý Biên Cương

3 Đối tượng và giới hạn của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lý Biên Cương

3.2 Giới hạn của đề tài

Đề tài bao quát toàn bộ tiểu thuyết (gồm ba cuốn: Cửa sóng, Một kiếp

đàn ông, Phù du) của Lý Biên Cương

Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn: Tiểu thuyết

Lý Biên Cương, Nxb Công an nhân dân, 2006.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Qua khảo sát tiểu thuyết Lý Biên Cương (ba tác phẩm: Cửa sóng, Một

kiếp đàn ông, Phù du), luận văn nhằm xác định ở đây có một thế giới nghệ

thuật hấp dẫn và đi sâu phân tích, luận giải cơ cấu thế giới nghệ thuật ấy, tìm

ý nghĩa xã hội, thẩm mĩ của nó

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về tiểu thuyết của Lý Biên Cương trongbối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 11

4.2.2 Khảo sát, phân tích, xác định, tập hợp các hiện tượng tạo thành thếgiới nghệ thuật (con người và hiện thực) được nhận thức, phản ánh trong tiểuthuyết Lý Biên Cương.

4.2.3 Khảo sát, phân tích, xác định cách thức tạo dựng thế giới nghệthuật (bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ,…) của Lý Biên Cương trong ba cuốn

tiểu thuyết: Cửa sóng, Một kiếp đàn ông, Phù du.

Cuối cùng rút ra một số kết luận về thế giới nghệ thuật tiểu thuyết LýBiên Cương, đồng thời đề xuất một số vấn đề về tìm hiểu, nghiên cứu tiểuthuyết Việt Nam đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó

có các phương pháp chủ yếu: phương pháp thống kê – phân loại, phươngpháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh – loại hình, phương pháp cấutrúc – hệ thống…

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình tìm hiểu thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lý BiênCương với một cái nhìn tập trung và hệ thống

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việctìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết của Lý Biên Cương nói riêng, tiểu thuyếtViệt Nam đương đại nói chung

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Tiểu thuyết Lý Biên Cương trong bối cảnh của tiểu thuyết

Việt Nam đương đại

Chương 2 Hiện thực và con người trong tiểu thuyết Lý Biên Cương Chương 3 Phương thức tạo dựng thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của

Lý Biên Cương

Trang 12

Chương 1 TIỂU THUYẾT LÝ BIÊN CƯƠNG TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Một cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1.1 Cơ sở xã hội, thẩm mỹ của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, nước Việt Nam thu về một mối, hòabình lập lại, một cuộc sống mới tàn trề tương lai, hi vọng trong mỗi con ngườiViệt Nam Song hiện thực cuộc sống không phải lúc nào cũng như ta mongđợi, bên cạnh một cuộc sống tự do, dân chủ, hòa bình thì con người cũng phảiđối mặt với bao khó khăn, nghiệt ngã của chính hiện thực đó Cuộc sốngkhông hề giản đơn, xuôi chiều mà trở nên phức tạp, đa chiều theo cơn lốcxoáy của cơ chế thị trường

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng chủ trương

“đổi mới toàn diện” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó văn học nghệ thuật cũng

được đổi mới Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị giành riêng cho Văn nghệ, đã

khẳng định rằng: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cáchmạng tư tưởng văn hóa”, “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của Văn hóa, thể hiệnkhát vọng của con người về chân, thiện, mĩ; có tác dụng bồi dưỡng tình cảm,tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường

đạo đức xã hội” (Trích Nghị quyết của Bộ Chính trị về Văn học, Nghệ thuật

và Văn hóa, Tuần báo Văn nghệ, số 51 – 52, ra ngày 19/12/1987) Ngày 06 –

07/10/1987, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã đến nghe các vănnghệ sĩ tâm tình, trao đổi mọi vấn đề về văn học nghệ thuật và cuộc sống mộtcách cởi mở Đồng chí yêu cầu: “Các nhà văn trong thời kì đổi mới có quyềnnói thẳng, nói thật mọi vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, miễn là anh đứngtrên quyền lợi, lập trường của dân tộc”

Các văn nghệ sĩ như thực sự được “cởi trói”, họ hồ hởi cầm bút, hăng hái

đi vào những mặt trận nóng bỏng, những vùng đen, những mảng khuất của

Trang 13

hiện thực mà trước đó người ta còn e dè, không dám đụng chạm Có thể nói,không khí “đổi mới” như một luồng sinh khí mới tiếp thêm sức mạnh chonhững người cầm bút

Bên cạnh đó, với chính sách mở nền kinh tế của nhà nước thật sự đã làmcho cuộc sống của người dân được khởi sắc Nhân dân được tiếp xúc vớinhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới, có cơ hội mở rộng tầm mắt, vốnhiểu biết của mình Nhưng cũng chính sự du nhập của cuộc sống hiện đại

“không gốc rễ”, của lối sống chạy theo cơ chế thị trường v.v đã đem lại baonhiêu mặt tiêu cực đòi hỏi người ta phải lên tiếng, phải cảnh giới để làm sao

“hòa nhập chứ không hòa tan”, vẫn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc Nhữngbiến động dữ dội trong nền chính trị thế giới, những vấn đề nóng bỏng mànhân loại phải đối diện đều có ảnh hưởng tới trạng thái tâm lí, cách cảm, cáchnghĩ của người Việt Nam, từ đó nảy sinh nhu cầu nhận thức lại các vấn đề củacuộc sống

Sự chuyển biến về hoàn cảnh xã hội, ý thức xã hội đã dẫn đến sự thay đổi

về thị hiếu thẩm mĩ tương ứng với sự thay đổi các thang chuẩn xã hội của cuộcsống Nhiều chuẩn mực cũ đã mất đi tính tuyệt đối và được nhìn nhận lại, trởnên uyển chuyển và linh hoạt hơn Con người mới với tư duy và mĩ cảm mới,với những thị hiếu mới trong một bối cảnh mới của cấu trúc lịch sử xã hội, vănhóa là những tiền đề có tính căn bản cho sự vận động của văn học Việt Nam.Thế giới quan, nhân sinh quan của công chúng văn học sau Đổi mới cóthể được nhìn nhận từ chính những thay đổi trong thế giới quan và nhân sinhquan của lực lượng sáng tác Có thể thấy từ sau Đổi mới, văn học nói chung

và tiểu thuyết nói riêng đã có một đội ngũ tác giả đông đảo, từ những tác giả

đã trưởng thành trước và sau năm 1975 đến những tác giả trẻ tuổi ở các thế hệ7X, 8X, 9X khác nhau Những thế hệ tác giả này thực sự đã có sự chuyểnbiến lớn về thế giới quan, nhân sinh quan để phù hợp với xu thế chung củathời đại được chuyển biến, đổi thay qua các thời kì khác nhau

Trang 14

Văn học bao giờ cũng mẫn cảm với không khí tinh thần và nhu cầu thờiđại Trạng thái tâm lí xã hội đã được các nhà văn thể hiện qua những ý tưởngmới, cách nói mới Sự trăn trở, đổi mới ấy bắt đầu từ ý thức của cá nhân, dầndần chuyển dịch vào ý thức nghệ thuật Thế giới quan, nhân sinh quan chiphối trực tiếp tới phong cách nghệ thuật, hình thành nên tư tưởng nghệ thuậtcủa nhà văn, nhưng thế giới quan là một sản phẩm vừa mang tính cá nhân vừamang tính thời đại, dân tộc Trong văn học 1945 – 1975, cả dân tộc cùng cóchung nhiệm vụ, chung khuôn mặt, tâm hồn, văn chương nghệ thuật đã thểhiện thế giới quan giai cấp, dân tộc một cách thống nhất Khuynh hướng sửthi và cảm hứng lãng mạn là âm hưởng chủ đạo trong các sáng tác văn học.Khuynh hướng này đòi hỏi người cầm bút nhìn con người và cuộc đời khôngchỉ bằng con mắt của cá nhân mình mà chủ yếu là con mắt có tầm bao quátlịch sử, dân tộc và thời đại Với cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, nhiềunhà văn, nhà thơ đã dồn tâm huyết để viết về những con người đại diện chotinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc.

Sau Đổi mới, thế giới quan, nhân sinh quan của các nhà văn đã có một sựvận động mang tính bước ngoặt Thế giới quan dân tộc, thời đại dần dịchchuyển vào thế giới quan của con người cá nhân đặt trong bối cảnh phức tạp,phong phú và toàn nguyên của thế sự đời tư Khuynh hướng thế sự, đời tư lấn

át khuynh hướng sử thi và điều này cũng dễ hiểu vì hoàn cảnh lịch sử, xã hội

đã thay đổi thì thế giới quan của các nhà văn cũng phải thay đổi theo cho phùhợp Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ.Cảm hứng trào lộng gần như vắng bóng trong khoảng thời gian 30 năm vănhọc kháng chiến nay xuất hiện trở lại và trở thành cảm hứng chủ đạo Tiểu

thuyết đánh dấu mốc cho khuynh hướng này là Thời xa vắng của Lê Lựu Đây

là một hiện tượng văn học nổi bật của những năm 86 – 87 Nguyễn MinhChâu tiếp tục đổi mới mình trong các quan niệm về hiện thực, về chiến tranh

(Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam), Bảo Ninh viết về thân phận con người,

về Nỗi buồn chiến tranh Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc

Trang 15

Trường, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng là những bức

tranh hiện thực cuộc sống đời thường với những mảng sáng tối, phức tạp đầydằn vặt, nhức nhối… Từ những năm cuối của thập kỉ 90 thế kỉ XX đến nay,tình hình ở Việt Nam cũng như thế giới có nhiều biến động, giới nhà văn cũngcho ra đời biết bao tác phẩm đề cập tới những vấn đề nóng hổi, gai góc củacuộc sống, đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của conngười Trên văn đàn xuất hiện hàng loạt tác phẩm và nhiều cuốn đã để lại

những tiếng vang lớn như Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Cõi người rung chuông tận

thế, Mười lẻ một đêm, Trong sương hồng hiện ra (Hồ Anh Thái), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… Cá tính sáng tạo của nhà văn với tư cách là chủ

thể thẩm mĩ, có ảnh hưởng rất lớn đối với việc ra đời một tác phẩm văn học

Nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của văn học

Cá tính sáng tạo của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, BảoNinh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh,…không chỉ giúp họ khẳng định mình trên văn đàn mà còn tạo ra một diện mạomới cho văn học, giúp cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại đứng vững hơn,ngày càng phát triển hơn và chứng tỏ được uy thế của mình so với các thể loạikhác, làm cho nền văn học Việt Nam trở nên đa sắc

1.1.2 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Sau khi hòa bình lập lại (1975) đặc biệt là từ sau Đại hội VI (1986) tớinay, văn học Việt Nam không ngừng đổi mới mình để có thể vận động theohướng hòa nhập với tiến trình văn học thế giới Vận động theo hướng này là

xu thế tất yếu, là lẽ tồn tại của văn học nói chung, của tiểu thuyết nói riêng.Quan sát tiến trình vận động của tiểu thuyết từ 1986 tới nay, có thể thấy “Đổimới” và “Hội nhập” là những biểu hiện nổi bật của thể loại tiểu thuyết

Con đường của tiểu thuyết trong hơn 30 năm qua cũng trải qua không ítthăng trầm, nhưng vẫn luôn là sự vận động với những tìm tòi nỗ lực để đổimới Ở chặng đầu thời kì đổi mới (nửa cuối những năm 80 và đầu thập kỉ 90),

Trang 16

tiểu thuyết gặt hái được nhiều thành công, có những tìm tòi, bứt phá mạnhbạo về nghệ thuật, gây được tiếng vang trong công chúng và hiệu ứng xã hộirộng rãi Nhưng tiếp đó, trong khoảng 7, 8 năm, tiểu thuyết Việt Nam lại gầnnhư rơi vào tình trạng trầm lắng mà có người đã cho là khủng hoảng Cuốithập kỉ 90 đến nay, người ta lại chứng kiến sự phục hồi nở rộ của tiểu thuyết,với sự đa dạng về đề tài, khuynh hướng nghệ thuật, bút pháp Tiểu thuyết ViệtNam đương đại đã có sự đổi mới lớn trên cả phương diện nội dung lẫn hìnhthức nghệ thuật.

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại trong giai đoạn tiền Đổi mới (1975 –1985) trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước, trước sự đòi hỏi của bạn đọc,buộc các nhà văn phải thay đổi cách viết cũng như cách nhìn nhận con người

và cuộc sống Nhưng thay đổi như thế nào thì họ chưa biết, chưa có một cáchđịnh hình chắc chắn Họ vẫn viết theo quán tính sử thi của giai đoạn văn học

1945 – 1975, những vấn đề khuất lấp của đời sống chưa được nhìn nhận tuy

nhiên màu sắc sử thi đã nhạt dần như: Miền cháy (1977 – Nguyễn Minh Châu), Đất trắng, tập 1 (1979 – Nguyễn Trọng Oánh), Trong cơn gió lốc (1980 – Khuất Quang Thụy), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983 –

Nguyễn Minh Châu),… Chỉ đến khi bước vào giai đoạn Đổi mới (1986), vănhọc được nhìn nhận lại bằng con mắt cởi mở hơn Và cũng chính vì lẽ đó màvăn học gánh trên vai sứ mệnh nặng nề hơn trên con đường phục vụ cho đờisống tinh thần của con người với biết bao bộn bề, phức tạp

Tư duy tiểu thuyết thay đổi khiến cho phạm vi đề tài, chủ đề được mởrộng hơn Tiểu thuyết không dừng lại ở những vấn đề cơ bản của đời sốngchính trị, xã hội mà đã tìm đến một hiện thực rộng lớn hơn của đời sống nhânsinh thế sự Những mảng đề tài phong phú từ hiện thực chính trị tới cuộc sốngđời tư, từ sinh mệnh lớn lao của cả cộng đồng tới số phận từng cá nhân cùngbao vấn đề bề bộn, phức tạp của đời thường đã đem lại cho tiểu thuyết đươngđại một gương mặt mới mẻ, chân thực, đậm chất nhân văn và thật sự gần gũivới con người Nếu như trước đây, đề tài của văn học nói chung, tiểu thuyết

Trang 17

nói riêng chỉ xoay quanh những vấn đề như đề tài về chiến tranh, người nôngdân,… thì nay phạm vi đề tài không dừng lại ở những giới hạn chật hẹp nữa,các nhà văn đã thoát khỏi “chủ nghĩa đề tài”, tìm đến những “tầng vỉa” sâu xahơn nữa Bên cạnh những chủ đề, đề tài đã sẵn có ta bắt gặp những mảng mới

mẻ hơn như trinh thám, viễn tưởng, kinh dị,… rồi các yếu tố sex, less,…trong các sáng tác về tình yêu, hôn nhân, gia đình ngày càng xuất hiện nhiềuhơn Theo những điều tra xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài “Côngchúng và giao lưu quảng bá văn học thời kỳ đổi mới” do Tôn Thảo Miên làmchủ nhiệm [52] Kết quả điều tra ngẫu nhiên trên 636 đối tượng tại Hà Nội đãcho thấy 65.9% số người được hỏi đã chọn đề tài hôn nhân, tình yêu cho sựđọc của mình Các đề tài tiếp theo cũng minh chứng một sự chuyển dịch trongthị hiếu thẩm mĩ của công chúng: đề tài chiến tranh 37.1%, đề tài nông thôn37%, lịch sử 31.9%, trinh thám 31%… Các tác phẩm hướng tới giá trị tưtưởng cao, mang tầm vóc nhân văn, nhân bản thu hút được 69.1% số đốitượng tham gia khảo sát Tiếp sau đó, các tác phẩm đề cao tính nghệ thuậtcũng thu hút được tới 50.2% công chúng Các chủ đề khác như tâm linh, vôthức thu hút 41.3%, trào phúng 38.8% Rất đáng để ý là trong số những khảosát này, chủ đề tình dục, sex chỉ thu hút được 14.3% Những con số này đãcho thấy sự đa dạng, phong phú trên phương diện đề tài, chủ đề và từ đó cũnggiúp ta nhận thấy được khuynh hướng thẩm mĩ của công chúng hiện đại vàthấy được rằng các tác giả tiểu thuyết cũng đang cố gắng vận hành mình theo

xu thế thời đại chính vì vậy mà bức tranh tiểu thuyết trở nên đa dạng hơn.Văn chương hôm nay hướng tới những vùng khuất lấp của hiện thực, đàosâu vào tâm linh, vô thức, trưng ra những biểu hiện phức tạp, đa bội của đờisống con người Không thể nói rằng văn chương đi vào mặt trái của hiện thực,bởi lẽ với nghệ thuật mang ý niệm hướng tới nhân sinh đích thực thì không cóchủ đề, đề tài nào là mặt trái Ta có thể nói đến câu của Marx ở đây: “không

có gì liên quan đến con người mà lại xa lạ với tôi” Văn chương sau Đổi mới

đã nỗ lực truy cầu điều ấy Thị hiếu của người sáng tác muốn dấn thân đến

Trang 18

những nẻo vùng khác nhau của mĩ cảm, của tư duy cũng như người đọc khaokhát có được những trải nghiệm mới, bổ sung vào thực đơn tinh thần vốn đãđến lúc nghèo nàn và nhạt nhẽo Con người cá nhân trỗi dậy, đòi sống đời

sống bản thể của mình Tác phẩm Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, viết

xong từ trước Đổi mới, là một ẩn dụ về những thay đổi trong đời sống tinhthần của con người Cái khẩn thiết của sự sống, cái chân thực của thế sự là ởchỗ: trong mỗi con người đều có phần ánh sáng và bóng tối, rồng phượng lẫnrắn rết, thiên thần và ác quỷ… Con người bây giờ là một bản thể quy chiếuvới các giá trị phổ quát và đòi sống như một “con người toàn nguyên”

Có thể nói, tiểu thuyết là “công cụ hữu hiệu” của văn học để tái hiện lịch

sử theo nhãn quan người viết và tiểu thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả sốphận con người Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà tiểu thuyết đã khắc hoạkhá đầy đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời người gắnvới những biến động của lịch sử, với những thăng trầm của đời sống xã hội:

Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Dòng sông mía (Đào Thắng), Cõi người

(Từ Nguyên Tĩnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Cõi mê (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên

chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Ba người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa

(Ma Văn Kháng)… Các nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời người,một thân phận trong hành trình của thế kỷ XX gắn với chiều dài lịch sử quabao cuộc “bể dâu” Mỗi tiểu thuyết là một cách khai thác sâu hơn về cõingười, cõi đời để đạt được một tầm sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh

Hơn nữa, không dừng lại ở cuộc sống của những người trong nước màtiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con người Việt Nam ở hải

ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T mất tích (Thuận), Tìm trong nỗi

nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai), Gió từ thời khuất mặt (Lê Minh Hà),

Trang 19

Thảo (Võ Hoàng Hoa), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Quyên (Nguyễn

Văn Thọ) Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thể loại, làm chodiện mạo tiểu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộcđời và con người trong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn

Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam đương đại được viết theo hai xuhướng: tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống và tiểu thuyết viết theo thipháp hiện đại Tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống hấp dẫn người đọctrước hết bằng nội dung chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống của mộtnhân vật mang tính cách giống hay khác với họ Tính thẩm mỹ của tiểu thuyếtbộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyệnmạch lạc, lôi cuốn Về cấu trúc, tiểu thuyết truyền thống dựa trên một cốttruyện, thu hút sự chú ý của người đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc

có hậu, trả độc giả về với “trật tự quen thuộc của đời sống” Bên cạnh việc vẫnbám sát khung thể loại truyền thống thì tiểu thuyết truyền thống đã có sự giatăng một số yếu tố như thay đổi điểm nhìn trần thuật, sử dụng yếu tố huyền ảo,yếu tố trào lộng,… Thuộc xu hướng này có nhiều cây bút thuộc các thế hệ đãsáng tác từ trước 1975, trong đó có các nhà văn lão làng như Tô Hoài, NguyễnKhải, Hồ Phương, Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng; các nhà văn trưởngthành từ thời kì kháng chiến chống Mỹ và sau khi kết thúc chiến tranh như LêLựu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Bảo, Lê VănThảo, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Quang Hà, Lý Biên Cương,…

Những tiểu thuyết viết theo hướng hiện đại rất chú trọng trong việc đổimới hình thức thể loại bằng cách vận dụng những kĩ thuật tự sự hiện đạiphương Tây, trên cơ sở đổi mới quan niệm về tiểu thuyết Khởi đầu của xu

hướng này là Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo

Ninh, xuất hiện ở chặng đầu thời kì Đổi mới Nhưng dường như xu hướng tìmtòi này không được tiếp tục trong khoảng gần 10 năm ở thập kỉ 90, phải đếnvài năm cuối thế kỉ XX mới có lác đác một vài tiểu thuyết thể hiện sự phácách về hình thức thể loại, và sang đầu thế kỉ XXI cho đến nay, chúng ta mới

Trang 20

chứng kiến sự bừng nở thật sự của xu hướng đổi mới cách viết này bởi sự

xuất hiện của hàng loạt tiểu thuyết mới và lạ về cách viết như Thoạt kì thủy,

Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối của Tạ

Duy Anh, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Người sông mê của Châu

Diên… Một số cây bút người Việt định cư ở nước ngoài cũng thể hiện khát

vọng đổi mới tiểu thuyết, trong đó ấn tượng hơn cả là Chinatown, Pari 11

tháng 8, T mất tích của Thuận, Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng.

Những tiểu thuyết kể trên không cuốn nào có được sự kết tinh nghệ thuật cao

và làm chấn động dư luận nhưng rõ ràng đã tạo được sự chú ý, thậm chí phânlập bạn đọc một cách sâu sắc Phần lớn các tác giả kể trên đều là những câybút đang ở độ sung sức và đã có độ chín nhất định trong tư duy nghệ thuật.Với những sáng tác độc đáo về hình thức nghệ thuật, họ góp phần thúc đẩycông cuộc đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và tạo cho mình chỗ đứngvững chắc trong lòng bạn đọc

Như vậy, khát vọng làm mới tiểu thuyết đang ngày càng thu hút nhiềucây bút thuộc các thế hệ khác nhau, đặc biệt là lớp người viết trẻ Cùng với tưduy nhạy bén, người viết trẻ có điều kiện tiếp xúc và vận dụng nhiều hơn kỹthuật viết mới vào tiểu thuyết, tuy không phải trường hợp nào cũng đạt được

sự nhuần nhuyễn và độ chín Nhìn chung, xu hướng cách tân đã góp phầnđáng kể làm thay đổi diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam ở đầu thế kỉ XXI,ngày càng thu hút được sự chú ý của bạn đọc, đồng thời cũng ít nhiều làmthay đổi thị hiếu tiếp nhận của công chúng

M Butor – tiểu thuyết gia nổi tiếng của Pháp thế kỉ XX cho rằng: “Trong

cuộc kiếm tìm và hướng tới sự đổi mới, điều quan trọng là phải thấy được sự

cần thiết phải thay đổi bản thân khái niệm của tiểu thuyết…” Đổi mới tư duy

và nghệ thuật tiểu thuyết được khởi đầu và dẫn dắt từ sự đổi mới quan niệm vềthể loại Trong môi trường văn hóa, văn học được mở rộng giao lưu và hộinhập, nhiều xu hướng tiểu thuyết hiện đại phương Tây và những lý thuyết mới

về tiểu thuyết được giới thiệu ở Việt Nam đã tác động thực sự đến quan niệm

Trang 21

về cách viết của nhiều nhà văn Quan niệm mới về tiểu thuyết ở nước ta hiệnnay chịu ảnh hưởng nhiều từ lý luận của M.Bakhtin và M.Kundera, mặt kháccũng tiếp nhận ảnh hưởng của trào lưu tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thựchuyền ảo và cả những ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trên thế giới.Tính chất động, luôn biến đổi và không dừng lại ở bất kì mô hình nào làmột đặc điểm bao trùm của tiểu thuyết Nhận thức về đặc điểm này của tiểuthuyết đã trở thành một quan niệm chung của hầu hết các cây bút tiểu thuyếtthuộc các thế hệ khác nhau Nhà văn Tô Hoài từng phát biểu: “…thật làkhông thể cho tiểu thuyết một nghĩa cố định Tiểu thuyết lúc nào cũng phát

triển và biến đổi Tiểu thuyết có một khả năng tung hoành không bờ” Những

cây bút theo đuổi sự cách tân tiểu thuyết theo hướng hiện đại đã rất mạnh dạntìm tòi thể nghiệm, sáng tạo nhiều kiểu dạng tiểu thuyết, làm đa dạng hóa bứctranh thể loại tiểu thuyết Việt Nam hôm nay

Hướng đến tính dân chủ là điểm nổi bật trong quan niệm tiểu thuyết củacác cây bút theo xu hướng cách tân hiện đại Tính chất dân chủ thể hiện trướchết ở việc giải phóng tiểu thuyết khỏi nhiệm vụ phản ánh hiện thực một cáchđầy đủ Tiểu thuyết giờ đây không còn là tấm gương soi của thời đại, khôngnhất thiết phải là một hiện thực khả tín như quan niệm của nhà văn NguyễnCông Hoan trước đây: “tiểu thuyết là bịa như thật” Hiện thực trong tiểuthuyết hôm nay chỉ là một khả thể, thậm chí có thể là một hiện thực bất khảtín Ở góc độ chủ thể sáng tạo, tính dân chủ thể hiện ở chỗ: tiểu thuyết khôngchỉ là tiếng nói của dân tộc và thời đại mà quan trọng hơn còn là phát ngônthể hiện tư tưởng, quan niệm riêng của ngưởi nghệ sĩ Nhà văn hoàn toàn cóquyền đề xuất những chuẩn mực giá trị mới, có quyền trình bày những kinhnghiệm cá nhân

Hướng đến tính trò chơi cũng là một quan niệm mới về tiểu thuyết Tiếnggọi của trò chơi là một trong những tiếng gọi mà nhà văn M.Kundera đã lắngnghe được từ những cuốn tiểu thuyết ra đời vào thế kỉ XVIII ở châu Âu Ông

đã rất có lý khi cho rằng: “Ở bên ngoài tiểu thuyết, người ta sống trong thế

Trang 22

giới của những điều khẳng định, mọi người đều tin chắc ở lời nói của mình:một nhà chính trị, một nhà triết học, một người gác cổng,… Trong lãnh địacủa tiểu thuyết, người ta không khẳng định: đây là lãnh địa của trò chơi vàcủa những giả thuyết Sự chiêm nghiệm của tiểu thuyết do vậy, trong bản chấtcủa nó, mang tính nghi vấn, giả thuyết”.

Tính trò chơi đã giải phóng tiểu thuyết khỏi chức năng giáo huấn, bớt đitính chất nghiêm trang và đề cao tính giải trí – một chức năng quan trọng củavăn chương, mà trước đây chưa được chú ý Mặt khác tính trò chơi giúp chonhà văn thỏa sức sáng tạo, anh ta được quyền tự do thể nghiệm những hìnhthức nghệ thuật mới Anh ta có thể tạo ra một thế giới giả tưởng hoàn toànkhông có thật, không đáng tin, nhưng cũng không cần thuyết phục bạn đọcphải tin vào thế giới đó Nhà văn Hồ Anh Thái đã bộc lộ suy nghĩ: “Với tôi,tiểu thuyết là một giấc mơ dài, nó thuộc về thế giới này nhưng lại như ở đâu

đó xa xôi lắm Tôi thường ví von nó là một giấc mơ mà khi tỉnh dậy người tavừa mừng như thoát được cơn ác mộng, lại vừa nuối tiếc vì phải chia tay vớinhững điều đời thực không thể có” Sự bộc bạch này cũng lí giải vì sao trongthế giới nghệ thuật của ông thường đan cài các yếu tố thực và ảo, hữu lí và phi

lí Nhưng cũng cần phải nhận thấy rằng, tính trò chơi ấy vẫn có sự “nguyhiểm” (từ dùng của Phan Thị Vàng Anh), nó có thể thành công nhưng cũng cóthể thất bại Mà trong văn học nghệ thuật, thất bại thường nhiều hơn thànhcông, chính điều đó buộc các chủ thể sáng tạo, bao giờ cũng phải nỗ lực ởmức cao nhất, năng lượng sáng tạo phải luôn dồi dào

Từ trước đến nay, dung lượng của tiểu thuyết vẫn được coi là một trongnhững tiêu chí cơ bản để phân biệt nó với các loại hình văn xuôi như truyệnngắn, truyện vừa Sự thu hẹp về quy mô tác phẩm là đặc điểm dễ nhận rađầu tiên về mặt hình thức Hầu hết các tiểu thuyết theo xu hướng cách tân đềuchỉ có số trang từ khoảng 150 đến 250 trang, một số ít có thể đến 300 trang.Chính vì vậy, “tiểu thuyết ngắn” trở thành một thuật ngữ định danh chonhững cuốn tiểu thuyết “gọn nhẹ” này Thực ra trước đây Nguyễn Khải cũng

Trang 23

đã có những tiểu thuyết ngắn thiên về chính luận – triết luận, như Chủ tịch

huyện, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người… nhưng sang đầu thế kỉ XXI,

xu hướng thu gọn quy mô tác phẩm mới thật sự được nhiều nhà văn lựa chọn,một mặt để phù hợp với văn hóa đọc thời hiện đại, mặt khác nó cũng nằmtrong ý thức làm mới tiểu thuyết Tiểu thuyết đã được giải phóng khỏi chứcnăng phản ánh bức tranh đời sống xã hội, không phụ thuộc vào một cốt truyện

có đầy đủ thành phần Nhà văn quan tâm đến cách kể câu chuyện hơn là nộidung câu chuyện Từ phía người sáng tác, Tạ Duy Anh, tác giả của các tiểuthuyết ngắn đã nhận định: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâuchiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại đượcdồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lý là dễ thấy.Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ởcon người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng

của mình đổ dài xuống lịch sử” Mặt khác sự thu hẹp dung lượng của tiểu

thuyết còn phụ thuộc vào sự tương ứng giữa hình thức nghệ thuật với tinhthần của cái hiện thực mà nó phản ánh Đó là cái hiện thực rời rạc, phân mảnh

mà các tiểu thuyết gia hôm nay tìm thấy nơi ẩn náu phù hợp với các mảnh tự

sự rời rạc tựa như các truyện ngắn riêng rẽ được lắp ghép thành một sinh thểtiểu thuyết Trong đó, mảnh này suy tư, liên tưởng về mảnh kia, đoạn nàychồng chéo lên đoạn kia tạo nên sự pha trộn, xâm nhập của truyện ngắn kịch,tiểu luận triết học, thơ ca, báo chí, nhật ký, huyền thoại vào tiểu thuyết, tạonên cấu trúc phức hợp Ở đây vấn đề “thay đổi dung lượng” cũng liên quanmật thiết với vấn đề xâm nhập của các thể loại khác vào cấu trúc nghệ thuậtcủa tiểu thuyết

Kết cấu phức hợp và sự pha trộn nhiều thể loại là đặc điểm nổi trội củacấu trúc văn bản tiểu thuyết cách tân theo hướng hiện đại Tiểu thuyết giờ đây

có thể dung hợp trong nó nhiều thể loại khác nhau như thơ, kịch, tiểu luận,phóng sự, nhật kí, tự truyện… Khả năng phối kết, thu hút các thể loại kháckhiến cho tiểu thuyết luôn có xu hướng đổi mới cả về khả năng lẫn nhu cầu

Trang 24

khai thác tiềm năng của chính nó Trong Pari 11 tháng 8 của Thuận, ở mỗi

chương được xen vào những mẩu tin báo chí về trận nắng nóng khủng khiếpnăm 2003 ở Pháp, ngoài ra tác giả còn đưa vào ba tiểu luận xã hội của ba tácgiả khác nhau, tất cả những phần này đều tách biệt hẳn với thành phần truyệnchính Tạ Duy Anh cũng là một nhà văn có sự tìm tòi trong việc thể nghiệm

tính liên văn bản Trong Đi tìm nhân vật, tác giả đã trích dẫn nguyên văn lời

tự thú trong cuốn sổ của tiến sĩ N, nhật kí Trần Bân, lá thư của Thảo Miên,

đặc biệt còn đưa bốn truyện cổ tích vào kết cấu tác phẩm Trong Phiên bản,

Nguyễn Đình Tú đã pha trộn cả kinh thánh và lí thuyết tội phạm học,…

Kiểu kết cấu truyện lồng trong truyện cũng thường gặp ở các tiểu thuyết

thuộc xu hướng này Chinatown của Thuận có tiểu thuyết I’m Yellow của nhân vật “tôi”, nhưng “tôi” lại là tác giả của Made in Vietnam do chính Thuận sáng tác trước đó, rồi nhân vật trong Made in Vietnam lại “lẻn vào được hai truyện ngắn” của nhân vật “tôi” Hiện tượng này còn có thể gặp trong Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Blogger của Phong

Điệp nhưng ở hình thức đơn giản hơn Với kiểu kết cấu này, bạn đọc khó màrạch ròi được đâu là câu chuyện nhà văn kể, đâu là câu chuyện được lồng vào.Việc cố tình tạo nên sự nhập nhằng giữa câu chuyện của nhà văn và câu chuyệncủa nhân vật gây khó khăn cho bạn đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm, nhưngmặt khác lại gợi sự tò mò, hứng thú nhất định

Lắp ghép cũng là một thủ pháp được sử dụng khá rộng rãi Dấu hiệu củalắp ghép là sự chuyển đổi đột ngột về nội dung, sự kiện trong những không

gian và thời gian khác nhau Trong Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh đã tạo

dựng một kết cấu thật sự lỏng lẻo khiến ta có cảm giác nhìn thấy cả nhữngđường ghép vô cùng rõ nét; cuốn tiểu thuyết như là tập hợp của những truyệnngắn được móc nối vào nhau mà cái sườn chung là câu chuyện về một chú bé

mồ côi Kết cấu trong Blogger của Phong Điệp cũng khá độc đáo, với ba tuyến

truyện được cắt vụn thành nhiều mảnh nhỏ và sắp xếp xen kẽ nhau Kỹ thuậtcắt dán khiến bạn đọc không cảm thấy nhàm chán khi phải theo dõi cả ba tuyến

Trang 25

truyện, bởi vừa đọc họ vừa phải tự sắp xếp lại các thành phần cốt truyện saocho hợp lí Với sự pha trộn thể loại và lắp ghép trong kết cấu, tiểu thuyết khôngchỉ được lạ hóa mà đường biên thể loại cũng mở ra vô tận Cũng từ đó hiệnthực không hiện lên như một mặt phẳng mà trở nên hỗn độn, đa tầng.

Trong tiểu thuyết hôm nay, như quan niệm của M.Kundera: “Nhân vậtkhông phải là sự mô phỏng một con người sống thật Đó là một con ngườitưởng tượng, một cái tôi thực nghiệm” Một đặc điểm nổi rõ ở nhân vật củatiểu thuyết cách tân theo hướng hiện đại là nó hiện ra như một phức thể, đabội và nhiều mâu thuẫn Nguyễn Bình Phương là một trong những nhà vănthể hiện rõ nhất sự phức tạp trong thế giới tâm linh, trong tiềm thức, vô thứccủa con người Thậm chí tiềm thức và vô thức đôi khi chiếm vai trò chủ đạotrong việc điều khiển hành vi nhân vật và điểu khiển cả dòng chảy của mạch

tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn này

Các nhà văn còn làm “mờ hóa” chính các nhân vật của mình, thậm chí làxóa bỏ nhân vật, biến nhân vật thành những kí hiệu, biểu tượng Khác với tiểuthuyết truyền thống, các chi tiết như tên tuổi, diện mạo, nghề nghiệp không cótác dụng để nhận diện nhân vật, bởi chính các nhà văn đã cố ý xóa bỏ tất cả

đường viền nhân thân đó Nhân vật “em” trong Trí nhớ suy tàn, T trong T.

mất tích là những trường hợp như vậy Cùng với việc làm mờ nhân vật, các

nhà văn còn tạo nên những nhân vật biến mất, những nhân vật vắng mặt

Trong Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, “hắn” là nhân vật xuất hiện ở khắp nơi nhưng chưa bao giờ có mặt bởi hắn “biết tàng hình” Đến Giã biệt bóng

tối “hắn” trở lại trong hình ảnh của quỷ – kẻ luôn ẩn mình trong bóng tối, đe

dọa cuộc sống của con người Bên cạnh đó, trong nhân vật còn có sự phân rã

về tính cách Ở đây không còn những tính cách nổi bật như trong tiểu thuyếttruyền thống mà ở những dòng suy tư đứt nối, những mảnh gép tâm trạng,những ám ảnh vô thức, những mê – tỉnh trong những trạng huống khác nhau.Nhân vật như một thực thể lưỡng trị, đa diện Chính những điều đó đã để lạinhiều nhân vật có sức ám ảnh lớn

Trang 26

Trong văn học Việt Nam đương đại, tiểu thuyết thực sự là một bức tranhnhiều màu sắc và đa dạng về bút pháp Bút pháp tả thực đã xuất hiện từ lâunhưng nó không chỉ được hiểu đơn giản là sự thể hiện một cách trung thành

về hiện thực như trước đây mà từ sau Đổi mới, các nhà tiểu thuyết khôngmuốn dừng lại là người “thư kí” trung thành mà họ cố gắng soi chiếu hiệnthực từ nhiều góc nhìn khác nhau Điều quan trọng là bên cạnh thông tin sựthật, người đọc phải tìm thấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn lượngthông tin thẩm mĩ phong phú Bút pháp tả thực còn được kết hợp với nhiềuthủ pháp nghệ thuật khác vì thế mà trở nên hấp dẫn Điều đó có thể nhìn thấyqua sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Tô Hoài,…

Sử dụng thủ pháp huyền thoại hóa cũng là đặc điểm của nhiều tiểu thuyếtcách tân theo hướng hiện đại Yếu tố huyền thoại được thể hiện ở việc sángtạo những hiện tượng, sự vật kì ảo, siêu nhiên và tập trung nhất ở những nhânvật kì ảo, có năng lực khác thường, các nhân vật bóng ma, quỷ, linh hồn.Huyền thoại hóa có thể bằng cách phát triển và làm mới những mẫu gốc, có

thể là những sáng tạo hoàn toàn mới Trong Cõi người rung chuông tận

thế của Hồ Anh Thái, nhân vật Mai Trừng được xây dựng như là một thiên sứ

có sức mạnh siêu nhiên, trừng phạt cái ác Nhưng lạ ở chỗ, kẻ ác nhìn thấy cô

đã sợ nhưng những người yêu thương cô lại không thể ở gần cô Nhân vật này

đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm: đề cao sức mạnhcủa cái thiện trong việc chống lại các ác và chủ trương hóa giải hận thù Việc

sử dụng bút pháp này không chỉ gia tăng chiều sâu và độ lấp lánh của hìnhtượng mà còn có khả năng tăng cường sức mạnh ám chỉ trong tiểu thuyết, gópphần mở rộng biên độ của các lớp nghĩa trong cấu trúc tác phẩm

Sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật và luân phiên thay đổi điểm nhìncũng là một đặc điểm cách tân nổi rõ trong nghệ thuật tự sự của các tiểuthuyết theo hướng hiện đại ở đầu thế kỉ XXI Khác với tiểu thuyết truyềnthống thường sử dụng điểm nhìn từ một người kể chuyện toàn tri, đáng tincậy, tiểu thuyết theo xu hướng hiện đại thường lựa chọn trần thuật từ điểm

Trang 27

nhìn của người kể chuyện không biết hết, thậm chí không đáng tin cậy, hoặc

điểm nhìn từ những con người dị biệt, khác thường Trong Thiên thần sám

hối là một thai nhi, ở Thoạt kì thủy là một người điên loạn Trong các tiểu

thuyết còn có sự luân phiên liên tục các điểm nhìn, chẳng hạn trong Phiên

bản, việc luân chuyển các điểm nhìn đã cho bạn đọc thấy được những phiên

bản khác nhau của nhân vật Diệu, cả sự tàn bạo, dã man và cả những ước mơ,khát vọng trong sáng, thánh thiện…

Nói đến sự cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết theo xu hướng hiện đạikhông thể bỏ qua phương diện ngôn ngữ và giọng điệu Đó là việc tạo ra ngônngữ đa thanh, mang tính đối thoại và sự kết hợp của nhiều kênh ngôn ngữ Đó

là sự kết hợp của nhiều giọng điệu, với giọng trữ tình, giọng triết lí, giọnghoài nghi, chất vấn, đối thoại… nhưng nổi bật là giọng giễu nhại và giọng vô

âm sắc Giễu nhại đã trở thành giọng điệu phổ biến với những sắc thái khácnhau ở nhiều cây bút tiểu thuyết, như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, NguyễnViệt Hà, Châu Diên Giọng vô âm sắc thực chất là không giọng điệu, nó thểhiện ở lời trần thuật mang màu sắc trung tính, không hề có điểm nhìn bêntrong mà chỉ đơn thuần trình bày sự việc từ bên ngoài, theo kiểu ống kínhmáy quay Chủ trương tẩy trắng giọng điệu, các nhà văn sử dụng những câuvăn ngắn gọn, thường chỉ gồm chủ ngữ và vị ngữ, thậm chí chủ ngữ cũng bịlược bỏ Chính vì vậy, các câu văn chỉ có nội dung thông báo, không hề có lờibình luận thậm chí không hề có sắc thái biểu cảm Có thể gặp giọng điệu nàytrong một số tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và nhất là của Thuận.Với những nỗ lực cách tân nghệ thuật như trên, quan niệm mới về tiểuthuyết đã được hiện thực hóa Thắng được sức ỳ truyền thống, thay đổi tư duytiểu thuyết và cải biến được thị hiếu của công chúng không phải là vấn đề đơngiản và có thể nhanh chóng thành công, nhưng các nhà văn theo xu hướngcách tân vẫn quyết tâm đổi mới và không thể phủ nhận những gì mà họ đãlàm được Cũng phải thấy rằng các nhà văn theo đuổi cách tân còn nặng vềtrình diễn kĩ thuật, thủ pháp, khiến bạn đọc nhiều khi bị đẩy vào mê lộ Sự tìm

Trang 28

tòi về thủ pháp nhiều khi chưa đi liền với sự khám phá mới và sâu sắc về đờisống, chưa dựa trên nền tảng tư tưởng triết học có chiều sâu – đây vẫn là hạnchế bộc lộ ở nhiều cuốn tiểu thuyết theo xu hướng này.

Tiểu thuyết viết theo xu hướng này có thể còn xa lạ, đánh đố, thậm chí

“gây hấn” với độc giả nhưng nó đã mở ra một triển vọng mới cho tiểu thuyết

và cho sự tiếp nhận mới của người đọc hiện đại Tác động của các tiểu thuyếthướng tới sự cách tân triệt để đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề tiếp nhậnvăn học của độc giả đương đại Với người đọc nói chung, các tiểu thuyết viếttheo lối mới, đặc biệt những tác phẩm có sự kết hợp hiệu quả của cách thứcdiễn đạt với nội dung mang tính nhân văn sâu sắc đã tạo ra một “trào lưu văn

hóa đọc” khá sôi nổi trong công chúng (Giàn thiêu – Võ Thị Hảo, Mẫu thượng

ngàn – Nguyễn Xuân Khánh, Mười lẻ một đêm – Hồ Anh Thái, Dưới chín tầng trời – Dương Hướng, Thượng đế thì cười – Nguyễn Khải) Chính điều này sẽ

góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và “tầm đón đợi mới” với thể loại củangười đọc, rút ngắn khoảng cách đẳng cấp của người đọc Tuy nhiên có mộtvấn đề đặt ra ở đây là không phải tiểu thuyết cách tân nào cũng có độc giả.Trên thực tế, đã có không ít tác phẩm “gây sốc” với “tầm đón đợi truyềnthống” của người đọc Do cái mới không dễ được chấp nhận, do một số thểnghiệm còn rơi vào cực đoan, người đọc như lạc vào mê cung của các con chữ.Tiểu thuyết dù viết theo khuynh hướng nào cũng có những thành tựu vàgiới hạn Ở tiểu thuyết cách tân nhìn chung có sự hấp dẫn vì yếu tố lạ và mới,đặc biệt là về kỹ thuật nhưng đọc không dễ Ở tiểu thuyết theo hướng truyền

thống có những tiểu thuyết hay, được độc giả ưa thích như Hồ Quý Ly, Mẫu

thượng ngàn… nhưng cũng không thể không nói đến những cuốn còn

nghiêng về tái hiện hiện thực theo hướng “nệ thực”, ở một góc độ nào đó đã

“bật đèn đỏ”, không tạo điều kiện cho các nhà văn có thể phát huy sức mạnhcủa trí tưởng tượng, của hư cấu nghệ thuật, đem đến cái nhìn nhiều chiều kíchcủa không gian, thời gian về lịch sử và con người Vấn đề của tiểu thuyếtkhông chỉ là kỹ thuật, cái mới, không chỉ là tái hiện hiện thực một cách sinh

Trang 29

động và chân thật Tiểu thuyết vẫn cần những tác phẩm có giá trị tư tưởng vànghệ thuật, phù hợp và đáp ứng tầm đón đợi của người đọc đương đại

1.1.3 Một số khuynh hướng chủ yếu của tiểu thuyết Việt Nam

ở giai đoạn này, do đề cao chủ nghĩa hiện thực mà khuynh hướng hiện thựcđược quan tâm hơn khuynh hướng lãng mạn Đến giai đoạn 1945 – 1975, tiểuthuyết phát triển mạnh mẽ với một đội ngũ sáng tác đông đảo hơn giai đoạntrước Nhưng tiểu thuyết ở giai đoạn này đặt trong hoàn cảnh đặc biệt của dântộc đó là đất nước có chiến tranh, trong hoàn cảnh đó tiểu thuyết đã góp phầnđắc lực trên mặt trận tư tưởng; tiểu thuyết tập trung ca ngợi vẻ đẹp của tổquốc, của con người vì thế khuynh hướng sử thi đã trở thành khuynh hướngchủ đạo Nhưng từ sau 1986 trở đi thì tiểu thuyết không đơn giản tồn tại mộtvài khuynh hướng hay những khuynh hướng đã được mặc định mà trở nên đadạng hơn

Trong nghiên cứu, việc phân chia tiểu thuyết thành các khuynh hướngthường có nhiều tiêu chí khác nhau Có thể căn cứ theo phạm vi, đề tài đượckhai thác, có thể căn cứ theo cảm hứng, chủ đề chính; có thể theo mô hình

Trang 30

trần thuật,… Hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau về việc phân chia cáckhuynh hướng tiểu thuyết.

Trong công trình “Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời

điểm đổi mới đến nay”, Nguyễn Thị Bình căn cứ vào cách thức xử lý chất liệu

hiện thực trong tác phẩm đã phân chia tiểu thuyết thành mấy khuynh hướngphong cách chính: tiểu thuyết theo phong cách “lịch sử hóa”; tiểu thuyết theophong cách “tự thuật”; tiểu thuyết tư liệu – báo chí; tiểu thuyết hiện thực kiểutruyền thống; tiểu thuyết theo phong cách hậu hiện đại

Mai Hải Oanh trong Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt

Nam đương đại chia thành các khuynh hướng: tiểu thuyết tự vấn; tiểu thuyết

dòng ý thức; tiểu thuyết lịch sử; tiểu thuyết sử dụng yếu tố huyền thoại và tiểuthuyết tự thuật

Trong “Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, TháiPhan Vàng Anh dựa vào đặc trưng mĩ học của chủ nghĩa hậu hiện đại, chiatiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI theo bốn khunh hướng chính: tiểu thuyếttân lịch sử – phản tư lịch sử; tiểu thuyết hiện sinh – sự phân rã những mảnhhiện tồn; tiểu thuyết tính dục – sự phì đại của dòng văn chương thân xác vàtiểu thuyết nữ quyền – phụ nữ không phải là “cái khác vắng mặt”

Như vậy, việc phân chia khuynh hướng tiểu thuyết đương đại đang tồntại nhiều ý kiến khác nhau, nhưng suy cho đến cùng thì các tác giả cũng chỉmuốn khái quát diện mạo tiểu thuyết – thể loại trụ cột của một nền văn học.Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ nêu lên một số khuýnh hướngtiểu thuyết chủ yếu: khuynh hướng tiểu thuyết nhận thức lại, khuynh hướngtiểu thuyết tự truyện, khuynh hướng tiểu thuyết hiện thực huyền ảo và khuynhhướng tiểu thuyết dòng ý thức

1.1.3.1 Khuynh hướng nhận thức lại

Khuynh hướng nhận thức lại là một xu thế tất yếu trong tiểu thuyếtđương đại bởi hoàn cảnh lịch sử, xã hội có nhiều biến động mạnh mẽ cùngvới đó là tư duy tiểu thuyết cũng đã thay đổi Tiêu biểu cho khuynh hướng

Trang 31

này là Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu),

Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng

(Dương Hướng), Dòng sông mía (Đào Thắng), Ba người khác (Tô Hoài),…

Khuynh hướng nhận thức lại vẫn tiếp tục tìm đến những đề tài quen thuộcnhư tình yêu, hôn nhân, gia đình, chiến tranh,… song nó đã được nhìn nhậnbằng một con mắt khác theo tinh thần hiện đại

Chẳng hạn, chiến tranh là một đề tài muôn thuở trong văn học Việt Namnói chung, tiểu thuyết nói riêng Nó xuyên suốt trong chiều dài lịch sử củadân tộc Tuy nhiên cái nhìn về chiến tranh ở từng thời kì là khác nhau Tronggiai đoạn văn học 1945 – 1975, bằng cảm hứng sử thi, lãng mạn, các nhà văn

đã nhìn cuộc chiến với vẻ oai hùng, người lính là những anh hùng, nhìn cuộcchiến bằng con mắt màu hồng Đến giai đoạn sau Đổi mới tới nay, bằng cảmhứng thế sự đời tư, chiến tranh được nhìn bằng con mắt đa chiều hơn, chânthực hơn Chiến tranh không chỉ có những chiến thắng oanh liệt hào hùng màđằng sau nó là những mất mát, hi sinh; chiến tranh không thấy đâu là vinh dự,

tự hào mà chỉ thấy những nỗi kinh hoàng, những ám ảnh khủng khiếp Dichứng mà chiến tranh để lại thật là nặng nề, không chỉ với những người ra

trận mà cả những người ở lại nữa Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã

cho ta thấy không khí ác liệt, tang tóc của cuộc chiến, những cái chết đau đớn

ám ảnh với người còn ở lại Kiên không bao giờ quên được cái chết củaQuảng, của Hòa,… Tiếng cười cuồng loạn của Quảng khi thoát khỏi nỗi đauthể xác bằng quả u-ét từ tay Kiên như mãi găm sâu vào kí ức của Kiên Kiênmay mắn sống sót sau cuộc chiến, tưởng rằng anh sẽ trở về với cuộc sốngbình thường nhưng những ám ảnh trong quá khứ không bao giờ buông thaanh Anh nhớ từng người đồng đội, từng cái chết, từng nỗi đau đớn mà họphải trải qua Cuộc sống thời bình không làm anh yên lòng, những gì màchiến tranh để lại với anh là quá lớn khiến anh không thể vượt qua, không thểtrở lại cuộc sống của một người bình thường, không thể ở cạnh người anh yêuthương Chiến tranh đã lấy đi của anh mọi thứ, tình yêu, tuổi trẻ, niềm hi

Trang 32

vọng, chỉ để lại trong anh là một khoảng trống không gì bù đắp, không gì hàngắn lại trái tim đầy thương tổn.

Hay với đề tài lịch sử, các nhà văn cũng đã có cách nhìn nhận khác hơn

Họ tìm đến lịch sử không phải là tái hiện lại nó mà cái đích hướng tới là nhìnnhận lại một số vấn đề lịch sử hay mượn xưa để nói nay Một mặt họ vẫn tuântheo sự thật lịch sử mặt khác đã dùng trí tưởng tượng của mình để hư cấunhằm đem lại cho độc giả cái nhìn toàn diện về một con người, một sự kiện,

một thời đại Tiêu biểu có những tác phẩm: Hồ Qúy Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),…

Như vậy, khuynh hướng nhận thức lại đã mang đến cho độc giả cái nhìnmới mẻ, đa chiều về mọi vấn đề trong cuộc sống

1.1.3.2 Khuynh hướng tự truyện

Văn học Việt Nam từ sau Đổi mới đã có thay đổi đáng kể trong quanniệm về hiện thực và con người, quan niệm về nhà văn trong mối quan hệ vớitác phẩm, với công chúng và với chính mình Đó chính là cơ sở để khuynhhướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại trở nên khá phổ biến

so với văn học giai đoạn 1945 – 1975 Nhà văn lấy chất liệu từ bản thân cuộcđời riêng tư của mình, những chi tiết mang tính tiểu sử của chính nhà vănnhưng đã được hư cấu, bộc lộ cái tôi cá nhân rõ nét Khuynh hướng tự truyệntrong tiểu thuyết giúp người đọc không chỉ giải mã con người tác giả và thờiđại qua những chi tiết gắn với tiểu sử, cuộc đời thật mà qua những trải nghiệmsống và sự tự thú chân thành, thể hiện những suy ngẫm sâu sắc về các giá trị

Trong cuốn Từ điển văn học, Đỗ Đức Hiểu viết: “Tự truyện là một thể loại

văn học rộng mở, có thể bao gồm những kỉ niệm, nhật kí, những truyện ngắn

có nguồn gốc từ cuộc đời tác giả, có thể gọi là tiểu thuyết tự truyện, có thể kể

theo phương thức “dòng tư tưởng” (như Đi tìm thời đã mất của Proust) Lại

Nguyên Ân lại cho rằng: “Tự truyện tương đối gần gũi với tiểu thuyết Tây Âuthế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX có nhân vật kể truyện ở ngôi thứ nhất số ít(“tôi”), có tham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn con người từ “cái nhìn bên

Trang 33

trong” (ví dụ Adolphe/1816/ của nhà văn Pháp B.Constant; Tự thú của một

đứa con của thời đại/1836/ của nhà văn Pháp A.Musset) [3, 336-337].

Khi viết tiểu thuyết tự truyện nhà văn phải chọn vai kể để tái hiện lạitoàn bộ câu chuyện của mình Vai kể xuất hiện ở ngôi thứ nhất và xưng “tôi”.Cái nhìn của “tôi” và của tác giả hòa với nhau làm một Vì hướng về quá khứnên trong tiểu thuyết tự truyện, yếu tố nhận thức lại chiếm giữ vai trò đáng kể

và sự giãn cách giữa các điểm nhìn trần thuật hiện tại và quá khứ chính làmảnh đất cho phép trí tưởng tượng được phát huy tác dụng của nó

Ra đời trong không khí dân chủ, tiểu thuyết tự truyện thời kì Đổi mới

khá đa dạng Có loại đậm chất giễu nhại như Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Ba người khác (Tô Hoài); có loại nói về sự chua chát đời người như

Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn); có loại nói đến những cảm nhận cá

nhân về những điều trải nghiệm trong đó có những đoạn gần với nhật kí như

Chuyện của thiên tài (Nguyễn Thế Hoàng Linh),…

Theo quy ước của Philippe Lejeune, “người kể chuyện trong tự truyệnđồng nhất với nhân vật chính và đồng nhất với tác giả Tuy nhiên, từ đời thựcđến cái tác giả kể lại, được viết ra đã là một khoảng cách, bởi vậy sự đồngnhất tác giả – người kể chuyện – nhân vật chính trong tự truyện ngày nay chỉ

là tương đối” [46] Trong Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, cái tôi tác

giả không lộ diện mà được đại diện bởi nhân vật Toàn Ở Toàn, sự khẳng địnhcái tôi cá nhân giúp anh có thể đứng riêng để nhận thức thế giới, nhận thứcchính mình Từ sự miêu tả khá hài hước về một thời kỳ đã qua, những cuộchọp tổng kết, các báo cáo điển hình lê thê, lủng củng số liệu, giống nhau nhưcùng một khuôn đúc, đến nỗi “chả cần nghe vì biết tỏng là nó viết theo mẫu

có sẵn, nó toàn nói dối cho vừa lòng cấp trên thôi”, những kế hoạch to tát,khẩu hiệu ầm ĩ nhưng chỉ là ảo tưởng, thiếu thực tế như chủ trương trồng lúa

mì và đưa máy cày lên xới đất ở Na Ảng

Đọc Một mình một ngựa, từ một quãng đời của nhân vật có thể cảm nhận

được chân dung một thế hệ, một lớp người được hình thành từ cuộc cách mạng:

Trang 34

nhiệt thành, năng nổ, tuy thiếu tầm nhìn và tri thức cũng như còn nhiều hạn chếnhưng vẫn còn vẻ hồn nhiên, chất phác Xuyên suốt tác phẩm, hình tượng mộtmình một ngựa hàm chứa cái “mặc cảm cô đơn của mỗi đời người” Cũng nhưnhân vật Quyết Định, Toàn mang nỗi cô đơn lạc lõng giữa một môi trườngkhông phù hợp với bản tính mà anh không thể hòa đồng mặc dù vẫn chia sẻ,yêu mến từng người Đi từ cái cá thể đến tính phổ quát, với ý thức tạo dựng thếgiới hình ảnh, Ma Văn Kháng đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình nhữngmàu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự truyện.

Vấn đề tự truyện trong tiểu thuyết là vấn đề có ý nghĩa đối với văn họcđương đại bởi nó gắn với vấn đề cái tôi tác giả – sự khẳng định cái tôi cá nhânmạnh mẽ trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, sự tương tác và dungnạp lẫn nhau giữa các thể loại Cùng với quá trình đổi mới, yếu tố tự truyệnxuất hiện ngày càng nhiều thể hiện nhu cầu được bộc lộ cái tôi, ý thức phảntỉnh và khuynh hướng nhận thức lại thực tại của dòng văn học tự vấn

1.1.3.3 Khuynh hướng hiện thực huyền ảo

Trong tiểu thuyết đương đại, khuynh hướng này được sử dụng khá phổ

biến Ta có thể bắt gặp yếu tố huyền thoại ở Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),

Người sông mê (Châu Diên), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),…

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là:

“Trào lưu văn học quan trọng của châu Mỹ la tinh, xuất hiện vào những năm

60 của thế kỉ XX Các nhà văn của trào lưu này thường mượn truyền thuyếtdân gian cổ xưa để tạo ra các huyền thoại mới về hiện thực châu Mỹ la tinh.Các tác phẩm vừa có những cảnh tượng li kỳ, hư ảo, vừa có những chi tiếthoàn cảnh hiện thực, gây cho người đọc cảm giác về các hiên tượng nghịch

lý Nguyên tắc sáng tác của nhà văn là: Biến hiện thực thành hoang đường màkhông đánh mất tính chân thực Để gây hiệu quả hoang đường các nhà vănthường sử dụng hình tượng biểu trưng, ngụ ý, liên tưởng ám thị, phóng đại,khoa trương, người và hồn bất phân, trật tự thời gian bị xáo trộn, thực và ảo

Trang 35

hòa quyện Lăng kính huyền thoại đã giúp nhà văn vạch trần được hiện thựcđen tối tàn bạo của các chế độ độc tài, phê phán tình trạng khép kín văn hóa,đoạn tuyệt giao lưu” [22, 66-67].

Yếu tố huyền ảo xuất hiện rất sớm trong các sáng tác của văn học dângian, tiếp đó là trong văn học trung đại với những tác phẩm của các nhà nho

như: Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái,… Các

yếu tố huyền ảo tiếp tục xuất hiện trong các truyện ngắn hiện đại giai đoạn

1900 – 1945: Trại Bồ Tùng Linh (Thế Lữ), Bóng người trong sương mù (Nhất Linh), Xác ngọc Lam, Loạn âm, Khoa thi cuối cùng (Nguyễn Tuân),… Đến

giai đoạn văn học 1945 – 1975, do hoàn cảnh lịch sử lúc đó, yếu tố huyềnthoại vắng bóng, mãi đến sau Đổi mới (1986) thì yếu tố này xuất hiện ngàycàng nhiều trong văn học, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Với khuynh hướngnày, các nhà văn đã tạo ra một thế giới tưởng tượng song không hề thoát likhỏi hiện thực, hai yếu tố hiện thực và huyền ảo đan cài vào nhau làm cho tácphẩm trở nên độc đáo, hấp dẫn, bộc lộ được quan điểm sáng tác, tư tưởng củacác nhà văn

Phạm Thị Hoài đã sử dụng rất thành công yếu tố huyền thoại trong tác

phẩm Thiên sứ Đó là sự ra đời kì lạ của cậu bé Hon, nụ cười và đôi môi của

bé, cái con vịt xấu xí trở thành thiên nga trong phút chốc Qua tác phẩm này,tác giả muốn gửi tới người đọc cái nhìn sắc lạnh về một thế giới tràn ngập sựtha hóa Có điều thông điệp ấy không hiện lên qua những lời trữ tình thốngthiết mà hiện lên trong một cấu trúc phân mảnh, hỗn độn và phi lí Thế giớihiện đại không hiện lên như một miền đất hứa và cũng không ngọt ngào như

cổ tích mà chua chát, đầy rẫy nghịch lý Hay trong Thiên thần sám hối, Tạ

Duy Anh đã tái hiện sự bi đát của cuộc đời qua cảm nhận của đứa trẻ chưa kịpchào đời Khi nằm trong bụng mẹ, được nghe những câu chuyện của các bà

hộ lí với người vào viện, giữa các bà mẹ đang chờ đợi những đứa con ra đời

và cả những người đang định bỏ đi giọt máu của mình Đứa bé băn khoănkhông biết mình có nên ra đời hay không bởi cuộc sống quá nhiễu nhương,

Trang 36

phi nhân tính, khi mà sự biến chất không chỉ của một cá thể nào nữa màdường như là số chung vậy Nhưng cuối cùng đứa bé cũng chịu ra đời để sốngchung với xã hội đó.

Đúng như nhận xét của Mai Hải Oanh: “Việc sử dụng yếu tố huyền thoạilàm cho thế giới không diễn ra trên một mặt phẳng mà nhiều chiều, nhiềutuyến, nhiều tầng Sự đan cài, trộn lẫn ảo – thực trong tác phẩm sẽ góp phầntạo nên sự lạ hóa và sức mê hoặc của hình tượng Về phía người đọc, khi tiếpxúc với những huyền thoại đã được nhà văn tái tạo lại, họ có thể thả trí tưởngtượng của mình vào một trò chơi rộng mở và sâu thẳm” [48, 81]

1.1.3.4 Khuynh hướng tiểu thuyết dòng ý thức

Trong tiểu thuyết dòng ý thức thường được xây dựng trên những dòng ýthức đứt nối, những trạng thái mơ hồ, những liên tưởng bất chợt của các nhânvật Điều mà tác giả tập trung nhiều nhất chính là những trạng thái tâm lí, đờisống nội tâm của nhân vật vì vậy mà những yếu tố khách quan không được

quan tâm Ta có thể bắt gặp điều này trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Người sông mê (Châu Diên), Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phương),…

Những tác phẩm viết theo khuynh hướng này, điểm nhìn của nhân vậtthường từ góc độ kí ức đã đem lại một cách lí giải về hành động của nhân vật

dựa vào quá khứ Nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, thường sống

trong quá khứ Anh luôn nhớ về những kí ức xưa Trong miền kí ức đó, hìnhảnh của những người đồng đội dần hiện lên với những cuộc đời, số phận riêngsong đều là nạn nhân của chiến tranh Chiến tranh đã lấy đi của họ tuổi trẻ,tương lai; trả lại là những nỗi đau không thể khỏa lấp, là những cái chết đauđớn ám ảnh tới những người còn ở lại Có thể nói sự trở lại với quá khứ làhình thức tìm lại chính mình một cách chân thật nhất

Thủ pháp dòng ý thức làm cho cốt truyện trở nên lỏng lẻo, khó nắm bắt.Điều đó cho thấy số phận nhân vật không chỉ được thể hiện ở bình diện bềmặt các sự kiện, hiện thực khách quan mà còn được ở nhiều góc độ khác, ở bềsâu tâm hồn nhân vật Sự thật ở phía nội tâm của con người được trình bày, sự

Trang 37

xuất hiện đồng thời về cảm xúc, hồi ức xa – gần, hiện tại – quá khứ tạo nên sựđồng hiện ở bình diện không gian và thời gian Cách xử lý kiểu đồng hiện này

đã mở rộng không gian và thời gian nghệ thuật

Ngôn ngữ tiểu thuyết có sự tương ứng linh hoạt giữa lớp ngôn ngữ củatrường tâm trạng ý thức và ngôn ngữ độc thoại nội tâm Với đặc điểm này,tiểu thuyết viết theo dòng ý thức đã hòa nhập tài tình tiếng nói của ý thức và

vô thức trong nhân vật Ngôn ngữ biểu hiện đời sống nội tâm nhân vật trở nên

giàu chất thơ, mượt mà,… Chẳng hạn như một đoạn trong Nỗi buồn chiến

tranh: “Từ bấy đến giờ, hai mươi mấy năm trời Hồi ấy đất nước vẫn còn ở

mé bờ bên kia của thời đại này Bây giờ thì có thể nói là một đất nước khácrồi Và Kiên, Kiên cũng đã thành một con người khác Chỉ riêng Phương, côgái mắt nâu, long lanh bất tử, kiều mị và điên rồ của anh, thì dẫu bao nhiêuphong trần, dẫu bể dâu cũng chẳng làm thay đổi được nàng Bất chấp nhữngnúi non tội lỗi, bất chấp những tai tiếng xấu xa, những điều kinh khủng, mà

từ nhiều năm nay đời đã gắn vào tên cho nàng, với Kiên, Phương vĩnh viễn ởngoài thời gian, vĩnh viễn trong trắng, vĩnh viễn tuổi thanh xuân”

Khuynh hướng tiểu thuyết dòng ý thức tuy chỉ mới xuất hiện song đã đạtđược nhiều thành công gắn với những tên tuổi như Bảo Ninh, Đoàn MinhPhượng, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Thuận,… đã góp phần làmnên bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại trở nên đa dạng hơn

1.2 Tiểu thuyết Lý Biên Cương trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.2.1 Lý Biên Cương và con đường đến với tiểu thuyết

Nhà văn Lý Biên Cương tên thật là Nguyễn Sỹ Hộ Ông sinh ngày 24tháng 01 năm 1941 và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 22 tháng 03 năm 2010.Quê gốc của Lý Biên Cương ở xã Hồng Phong, huyện Nam Sách, lớn lên ởhuyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; sống và làm việc tại thành phố Hạ Long, tỉnhQuảng Ninh Sau khi đi thanh niên xung phong 12B Tây Bắc về Hà Nội, là

phóng viên báo Tiền Phong (1960) Năm 1961, Tốt nghiệp khoa Báo chí Đại

Trang 38

học Nhân dân, chuyển về khu Đông Bắc, là phóng viên báo Vùng mỏ, sau đổi tên là báo Quảng Ninh (1961 – 1987) Từ 1988 chuyển sang Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, là Phó Chủ tịch Hội, Phó Tổng biên tập báo Hạ Long Liên

tục từ 1995 – 2005 là ủy viên Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam Từ

1997 đến 2006 là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh Nhà văn Lý Biên Cương đã xuất bản gần 40 đầu sách Gồm có các tập

truyện chính: Người tôi yêu mến (Văn học, 1974), Bây giờ ta lại nói về nhau (Văn học, 1976), Tháng Giêng (Lao Động, 1979), Quả trong lòng tay (Tác phẩm mới, 1984), Giai điệu thành thị (Tác phẩm mới, 1987), Câu chuyện

ngắn về con đường dài (Thanh Niên, 1988), Bây giờ trăng khuyết (Văn học,

1990), Thu cảm (Văn học, 1994), Que diêm liều mình thắp sáng (Công an, 1996), Dã quỳ (Hội Nhà văn, 2000), Nẻo trời vô tích tôi qua (Văn học, 2003),

Quả chát giữa hai bờ xôi mật (Văn học, 2006) Thơ có Thi hứng (1991), Riêng thơ (2005) Tiểu thuyết có Phù Du (1991), Một kiếp đàn ông (1991), Cửa sóng Ngoài ra còn có kịch bản phim Sương tan

Về tuyển tập tác giả gồm có: Lý Biên Cương truyện ngắn (Văn học, 1996), Lý Biên Cương, truyện ngắn chọn lọc (Công an, 1997), Tập truyện

vừa chọn lọc (Công an, 2000), Ngọn đèn Đông Bắc biển (Tủ sách vàng Nhà

Xuất bản Kim Đồng, 2004), Lý Biên Cương tuyển tập tiểu thuyết, truyện vừa,

truyện ngắn (Văn học 2003), tập Văn học Việt Nam thế kỷ 20 (Văn học,

2004), Tiểu thuyết Lý Biên Cương (Công an, 2006),…

Trong suốt hành trình sáng tác văn học của mình, thành quả mà Lý BiênCương dành được không chỉ số lượng tác phẩm với những thể loại khác nhau

mà còn thể hiện ở những giải thưởng văn học đạt được để khẳng định vị thếcủa mình trong nền văn học nước nhà Ông đã đạt được những giải thưởngvăn học: Giải chính thức văn học công nhân lần thứ nhất năm 1972, Giải ba

báo Văn nghệ năm 1972, Giải nhì báo Văn nghệ năm 1975 Bốn lần được Giải

thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật ViệtNam (1992, 1994, 1998, 2003) Sáu lần được giải thưởng Văn nghệ Hạ Long

Trang 39

của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (1981, 1986, 1991, 1996, 2001, 2006);

Giải chính thức truyện vừa tạp chí Nhà văn (1998) Giải thưởng cấp Nhà nước

về VHNT năm 2012

Lý Biên Cương vốn dĩ là nhà báo, ông cùng tốp nhà báo trẻ: Đặng Trinh

Nữ, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Sơn Hải, Nguyễn Tử Nên,… được phân công

về tỉnh Quảng Ninh Sự nghiệp báo chí của ông rất thành công, ông giữ nhữngvai trò chủ đạo trong nghành báo chí Quảng Ninh Mặc dù là nhà báo songcon đường đến với tiểu thuyết của Lý Biên Cương, có thể nói là không hềchông gai như nhiều người khác Bởi ông đã được trời phú cho thiên bẩm này

Năm 17 tuổi, ông đã có bài thơ đầu tay Mở cổng Xuân Quang đăng trên báo

Nhân dân Tiếp những năm sau đó cho đến khi từ giã cõi đời ông đã cho đời

hàng loạt tác phẩm ở những thể loại khác nhau: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết,thậm chí có cả kịch bản phim

Nói đến Lý Biên Cương, nhiều người nghĩ ngay đến một nhà văn nổitiếng vùng mỏ Đông Bắc, ông được xem là nhà văn gắn bó máu thịt với vùng

mỏ Quảng Ninh, với những sáng tác mà chỉ nhắc đến thôi, đã làm người đọc

xao xuyến như: Than con gái, Đêm ấy vùng than ai thức, Ở nơi hòn than rửa

sạch, Người bán than rong, Mười hai cửa bể,… Sáng tác nào của nhà văn

cũng đầy ắp cuộc sống, chứa chan tình người, ấm áp thủy chung, nhân ái baodung Tuy nhiên, Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp cương vực ngòi bút trongphạm vi một vùng đất Trong một bức thư gửi đồng nghiệp, ông tự bạch:

“Thật ra trong cuộc đời sáng tác nửa thế kỷ của tôi, không chỉ viết mỗi vềthan Tôi vốn người làm báo, đi đây đi đó, tích lũy và viết về nhiều vùng đất,

nhiều loại người, phần lớn viết thành truyện ngắn Đi Điện Biên, tôi viết

Cháy một triền hoa ban Nậm Lay, đi Lào Cai tôi viết Sa Pa góc khuất, lên

Cao Bằng có Dã quỳ; tới Lạng Sơn ghi Đồng Đăng có phố Kỳ lạ; ra Móng Cái có Sâm cầm ơi sâm cầm; đến Tuyên Quang có Ngược Tuyên; Thái Nguyên có Vườn hoang; Hải Phòng có Mười hai cửa bể; về Hải Dương quê nhà có Trăng khuyết, Thu cảm; vào Nam có: Sữa thơm dòng Hương giang,

Trang 40

Nhớ rét, Cà Mau mưa ” [12] Đó chính là ân tình của nhà văn đối với những

miền đất ông đã đi qua

Có thể nói truyện ngắn là thể loại thành công nhất trong sự nghiệp vănhọc của ông Song vốn là một con người đa tài, Lý Biên Cương không chỉdừng lại ở thể loại truyện ngắn mà ở thể loại tiểu thuyết cũng rất thành công.Mặc dù ở thể loại này, ông viết không nhiều, chỉ có ba cuốn song cũng đã để

lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Trong ba cuốn tiểu thuyết: Cửa

sóng, Phù du, Một kiếp đàn ông, có cuốn Phù du được giải A (1994) của ủy

ban toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Có thể nói rằng: “Đọctiểu thuyết Lý Biên Cương là tiếp cận một áng văn chương hấp dẫn, một cây

bút sắc sảo, dồi dào vốn sống Ngòi bút nhà văn dẫn dắt độc giả vào những

cảnh đời, những số phận thường nhật nhất nhưng khám phá ra những chiềusâu nhân bản rất đáng lưu tâm.” [44]

1.2.2 Khuynh hướng của tiểu thuyết Lý Biên Cương

Đọc tiểu thuyết Lý Biên Cương, chúng tôi nhận ra rằng khuynh hướngtiểu thuyết chủ yếu của ông là khuynh hướng nhận thức lại Với khuynhhướng tiểu thuyết này, Lý Biên Cương không nhìn cuộc sống bằng con mắtlãng mạn mà nhìn cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó Ông nhìn lại nhữngchuyện đã qua trong con mắt dân chủ, trả lại cho nó một cái nhìn khách quan

Trong tiểu thuyết Cửa sóng là sự nhìn lại chủ trương đúng đắn của Nhà

nước đã đem lại một cuộc sống khác hơn cho người dân Đó là việc di dời dân

để nhường đất cho Nhà nước xây dựng nhà máy điện Chủ trương này đãđược thực hiện bởi ở đó có những con người nhiệt huyết với công việc nhưông Chủ tịch thành phố, kĩ sư Vấn và vì thế mà người dân mới tin tưởng đitheo Với tác phẩm này, cách nhìn của nhà văn chỉ thấy những mặt tích cực

của nó Nhưng đến tiểu thuyết Một kiếp đàn ông, Lý Biên Cương đã cho mọi

người thấy được những mặt trái trong một chủ trương còn chưa hoàn chỉnhcủa Nhà nước, đó là chủ trương kêu gọi mọi người đi xây dựng vùng kinh tếmới Thật chất, chủ trương này được thực hiện từ những năm 60 của thế kỉ

Ngày đăng: 29/10/2015, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh, “Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, http://www.vanhoanghean.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Namđương đại”
2. Thái Phan Vàng Anh, “Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, http://www.vannghequandoi.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉXXI”
3. Lại Nguyên Ân, (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Bình (sưu tập và biên soạn, 2006), “Đời sống văn nghệ thời kì đầu đổi mới”, http://www.vietstudies.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sốngvăn nghệ thời kì đầu đổi mới”
5. M.Bakhtin, (1998), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
6. Lê Huy Bắc, (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”Tạp chí" Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Nguyễn Thị Bình, (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án PTS, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật ViệtNam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
8. Nguyễn Thị Bình, (1999), “Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, Tạp chí"Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Bình,(2002), “Về một phương diện nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi sau 1975 – Ngôn ngữ và giọng điệu”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật trần thuật trong vănxuôi sau 1975 – Ngôn ngữ và giọng điệu"”", Tạp chí
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Bình, (2007), “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – Một cái nhìn khái quát”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – Một cái nhìnkhái quát”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
11. Lý Biên Cương, (2006), Tiểu thuyết Lý Biên Cương, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Lý Biên Cương
Tác giả: Lý Biên Cương
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2006
12. Trần Chiểu, (2005), “Lý Biên Cương như tôi biết”, http://www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Biên Cương như tôi biết”
Tác giả: Trần Chiểu
Năm: 2005
13. Trần Chiểu, (2013), “Lý Biên Cương mối tình định mệnh”, http://www.nhavanhcm.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Biên Cương mối tình định mệnh”
Tác giả: Trần Chiểu
Năm: 2013
14. Đặng Anh Đào, (1994), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí "Vănhọc
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
15. Phan Cự Đệ, (2006), Phan Cự Đệ tuyển tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ tuyển tập
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Hà Minh Đức, (2004), Tuyển tập (3 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
17. Minh Đức, (2002), “Thành tựu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới”, Tạp chí Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới”,Tạp chí" Văn học
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2002
18. Nhiều tác giả, (1983), Số phận tiểu thuyết, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận tiểu thuyết
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
19. Nhiều tác giả, (1995), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại mới trong văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
20. Nhiều tác giả, (1997), Việt Nam nửa thế kỉ văn học (1945-1995), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nửa thế kỉ văn học (1945-1995)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb HộiNhà văn
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w