1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377)

119 616 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 729,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377) Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn trí huân (LV01377)

Trang 1

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lý Hoài Thu

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Lý Hoài Thu, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã quan tâm, động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả

Đặng Thị Hà

Trang 3

Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu của bản thân tôi

Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhưng những nội dung tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Tác giả

Đặng Thị Hà

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 11

1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật 11

1.1.1 Khái niệm nhân vật 11

1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật 12

1.2 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 13

1.2.1 Nhân vật về người lính 16

1.2.1.1 Người lính tham chiến 17

1.2.1.2 Người lính thời kì hậu chiến 25

1.2.2 Nhân vật người phụ nữ 36

1.2.3 Những nhân vật khác 42

Chương 2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 46

2.1 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 46

2.1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật 46

2.1.2 Các dạng thức biểu hiện của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 48

2.1.2.1 Không gian thiên nhiên 48

Trang 5

2.1.2.3 Không gian chiến trận 55

2.2 Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 59

2.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 59

2.2.2 Các dạng thức biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân 61

2.2.2.1 Thời gian lịch sử sự kiện 61

2.2.2.2 Thời gian tâm lí 66

Chương 3 Phương thức tự sự trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân 73 3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 73

3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 74

3.1.2 Nghệ thuật diễn biến nội tâm 77

3.2 Nghệ thuật kết cấu 86

3.2.1 Kết cấu ttheo thời gian tuyến tính 87

3.2.2 Kết cấu tâm lí 89

3.3 Ngôn ngữ 92

3.3.1 Ngôn ngữ người kể truyện 92

3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật 95

3.4 Giọng điệu 98

3.4.1 Giọng hào sảng, trầm hùng 99

3.4.2 Giọng chiêm nghiệm, suy tư 101

PHẦN KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế giới nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của

thi pháp học hiện đại Chính vì vậy, nghiên cứu thế giới nghệ thuật là nghiên cứu văn học ở góc độ thi pháp, tránh được những cách tiếp cận không phù hợp tác phẩm văn học về nội dung và hình thức Bởi vậy, thế giới nghệ thuật không chỉ là chỉnh thể của hình thức cụ thể, trực quan, cảm tính mà là hình thức mang tính quan niệm về thế giới và con người của nhà văn

1.2 Nguyễn Trí Huân xuất hiện sau năm 1975 với tiểu thuyết Năm

1975 họ đã sống như thế và nhanh chóng được bạn đọc chú ý Dẫu sáng tác

không nhiều song với đủ thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, Nguyễn Trí Huân đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học thời kỳ hậu chiến Điểm qua các sáng tác trong sự nghiệp của nhà văn, tiểu thuyết được xem là

thể loại thành công hơn cả với hai tác phẩm Năm 1975 họ đã sống như thế và Chim én bay Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Trí Huân được đánh

dấu bằng hai giải thưởng lớn: giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1985-1989 và

giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1990 với tác phẩm Chim én bay Đồng

thời ông cũng đoạt giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007

Không những thế, các tiểu thuyết của ông ít nhiều còn tạo được sự chú

ý, đánh giá cao của dư luận và giới phê bình, đặc biệt là tác phẩm Chim én bay Đa số các ý kiến đều cho rằng, qua Chim én bay, Nguyễn Trí Huân đã

đặt ra được cách nhìn nhận mới về cuộc chiến tranh vừa qua, đó là “ những năm tháng chiến tranh xưa với tất cả sự khốc liệt của nó (…), lại vừa như được đứng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống hiện nay như: vấn đề đổi mới cách nghĩ, cách sống, vấn đề nhân đạo cũng như việc giải tỏa hận thù, ngăn chặn nọc độc của một cuộc chiến tranh mới…” [12] Nhãn quan chân

thực, đầy tính nhân bản ấy không phải đến Chim én bay mới xuất hiện mà

Trang 7

thực ra nó đã manh nha từ tác phẩm Năm 1975, họ đã sống như thế Tác phẩm

mang khuynh hướng sử thi này một mặt “ đã dự báo những cuộc chiến tranh xảy ra trong tương lai”, mặt khác “ còn dự báo lan rộng của những hiện tượng tiêu cực ở Miền Bắc” [2]

Xuất phát từ những thành tựu đáng ghi nhận của tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân trong dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh, chúng tôi đã

lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân với

mong muốn hướng đến tìm hiểu, phân tích, đánh giá những đóng góp của tác giả vào giai đoạn văn học sau năm 1975 nói riêng và văn học Việt Nam viết

về đề tài chiến tranh nói chung Việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân không chỉ cung cấp cái nhìn bao quát về nội dung, tư tưởng của tác phẩm mà còn cho ta thấy sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người ở sự tái nhận thức về chiến tranh; ở cách phản ánh chân thực về chiến tranh và số phận con người; ở cái nhìn đa diện về con người bên này hay bên kia chiến tuyến Đồng thời, thông qua tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân độc giả có thêm những kiến giải của riêng mình về sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân và dân Miền Nam trong giai đoạn khó khăn nhất từ góc độ lịch sử văn hóa và chiêm nghiệm những bài học có ý nghĩa nhân văn sâu sắc

1.3 Với đề tài này, người viết có cơ hội hiểu thêm về cuộc kháng chiến

hào hùng nhưng cũng đầy đau thương mất mát của dân tộc Bởi lẽ trong tác phẩm, ngoài phần hư cấu còn có cốt lõi lịch sử của nó Truyền thống vốn là cội nguồn, là điểm tựa lịch sử cho mỗi dân tộc Hiểu truyền thống, hiểu quá khứ sẽ giúp ta vững tin trong cuộc sống hôm nay Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài, người viết được củng cố bổ sung những kiến thức lịch

sử văn học và lý luận văn học phục vụ cho công tác giảng dạy

Trang 8

Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Mãi đến những năm 70 của thế kỷ XX, ở Nga xuất hiện khái niệm

thế giới nghệ thuật qua các công trình nghiên cứu văn học Đến nay, nó được

sử dụng rộng rãi như một cách lý giải, tiếp cận tác phẩm trong tính đặc thù, khu biệt và toàn vẹn Vì vậy thế giới nghệ thuật trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học

Từ xưa người Trung Quốc đã gọi tác phẩm thơ là một cõi ý Nhà văn

Seđrin lại nói: “tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ

thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó” Như vậy một tác phẩm toàn

vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật Bêlinxki cũng đã nhận xét:

“mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta

buộc phải sống theo các quy luật của nó” Những nhận xét trên cho thấy mọi

thế giới nghệ thuật là tổng thể có quy luật riêng có tính độc lập nội tại, phân biệt với các thế giới khác và thế giới nghệ thuật cũng có quy luật riêng và ý nghĩa riêng của nó

Ở Việt Nam, khái niệm thế giới nghệ thuật được dùng như một đối tượng xác định: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo nguyên tắc đồng nhất cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật”

(con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn – Nguyễn Đăng Mạnh,

trang 78) Tài liệu trên chứng tỏ các tác giả đã có ý thức khái niệm thế giới nghệ thuật nhưng chưa xây dựng mô hình thế giới nghệ thuật một cách hoàn chỉnh

Trong giáo trình Lý luận văn học (Trần Đình Sử (chủ biên), tập hai ),

thế giới nghệ thuật đã được nhắc đến như là hệ thống hoàn chỉnh không chỉ là đặc trưng cho tác phẩm mà là đặc trưng cho cả nhà văn nói chung Ở đó tác

Trang 9

giả đã nêu rõ: “Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần của con người Thế giới nghệ thuật là thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả…Thế giới nghệ thuật ngôn từ là thế giới hoàn chỉnh và bao gồm những giới hạn nhất định…có không gian, thời gian, tâm lý, đạo đức, xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng” (trang 81) Đồng thời các tác giả cũng nêu rõ vai trò của thế giới nghệ thuật: “cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật”

Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử, Lê Bá Hãn, Nguyễn

Khắc Phi) đã trình bày khá đầy đủ khái niệm thế giới nghệ thuật: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật ( một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật…Khái niệm thế giới nghệ

thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ ”

(trang 301) Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội Đó chính là thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép, lệ thuộc máy móc vào thực tại bên ngoài mà: “là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ

xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một

cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” (trang 302)

Những khái niệm và định nghĩa trên, góp phần làm cụ thể hóa sự phát triển của thế giới nghệ thuật

Trang 10

Thời gian gần đây có khá nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ ngữ văn đề cập đến thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói

chung Tiêu biểu là các đề tài: Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945-1975 của Hoàng Mạnh Hùng, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965-1975 nhìn từ góc độ thể loại của Nguyễn Đức Hạnh, Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai của Nguyễn Đức Hạnh, Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải của Nguyễn Thị Thu Hà, Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Lê Văn Toàn…

2.2 Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu quy mô nào về

nhà văn Nguyễn Trí Huân và tiểu thuyết của ông Tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân thường được giới nghiên cứu, phê bình bàn luận trong các bài viết đăng trên các báo, tạp chí và trong những công trình khoa học, bài viết về văn xuôi thời kỳ hậu chiến, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và người lính

Các bài viết về Nguyễn Trí Huân và tác phẩm của ông có thể chia thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất, bao gồm các bài viết, bài phỏng vấn hay trò truyện của nhà văn xung quanh nghề văn-nghề báo Báo Công An Nhân Dân số ra ngày 22-7-2008 có đăng bài viết “ Nhà văn Nguyễn Trí Huân – Người luôn tự biết

mình” của tác giả Phạm Khải Bài báo thể hiện cảm nhận của người viết về con người Nguyễn Trí Huân trên cương vị là Tổng biên tập tuần báo văn

nghệ, người đã từng 15 năm “ cầm trịch” tờ Văn nghệ quân đội: “Nguyễn Trí

Huân là người có cái nhìn cuộc sống ôn hòa Trong mỗi con người, bên cạnh những mặt chưa hoàn thiện, ông luôn nhìn ra và tìm ra những nét đẹp tiềm ẩn của họ [43] Về sự nghiệp sáng tác, tác giả bài báo cho rằng, so với nhiều nhà văn cùng trang lứa, Nguyễn Trí Huân thuộc diện viết ít, số sách của ông có thể đếm trên đầu ngón tay Lý giải về điều này, trong một lần trả lời phỏng vấn của phóng viên, nhà văn đã thành thực bộc lộ: ông có một “thói quen

Trang 11

xấu” là cứ phải “ bước ra một thời gian dài đi đâu hẳn, thoát ra mọi sự vụ thì mới có thể viết được” [43] Vậy nhưng, sau khi từ chiến trường trở về, học xong khóa I trường viết văn Nguyễn Du, ông liên tục vướng vào công việc của nhà quản lý, nên thời gian dành cho văn chương trở nên eo hẹp dần

Tiếp đó là bài phỏng vấn của tác giả Đức Đan đăng trên báo điện tử Tổ Quốc với nhan đề “Nguyễn Trí Huân: làm báo phải có bản lĩnh” Bài báo ghi

lại cuộc trò chuyện của nhà văn – nhà báo Nguyễn Trí Huân xoay quanh đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp của một người làm báo và sự khác biệt giữa cương vị người cầm bút khi viết văn và khi làm báo Dẫu không đề cập đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trí Huân xong qua cuộc trò chuyện này, nhà văn cũng thể hiện quan điểm của mình về phẩm chất quan trọng của nhà báo nói riêng và người viết nói chung đó là bản lĩnh: “Để có một bài báo hay thì nhà báo, nhà văn phải sống trong sự thật mà mình viết, phải trải Nếu chỉ nghe

kể thôi để lấy tư liệu viết lại thì không thể hay được” [18]

Nhóm thứ hai, tập hợp những bài viết, phê bình, đánh giá về các sáng

tác của nhà văn Nguyễn Trí Huân, trong đó tập trung chủ yếu vào tiểu thuyết

Sau khi đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam 1988 – 1989, tiểu thuyết Chim én bay đã nhận được sự chú ý của đông đảo dư luận cũng như giới nghiên cứu, phê bình Tiêu biểu trong số đó là hai bài viết “ Chim én bay – một cách nhìn về chiến tranh” của tác giả Phạm Hoa đăng trên báo Văn nghệ năm 1989 và “ đồng hiện – một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong tiểu thuyết Chim én bay” của Ngô Vĩnh Bình đăng trên báo Văn Nghệ năm 1990

Tác giả Phạm Hoa cho rằng Nguyễn Trí Huân đã thể hiện nhận thức về hiện thực tán khốc của chiến tranh “ một lối viết bộc lộ tính người”, “ giọng văn chứa đầy trăn trở, nghĩ suy, nặng nề tâm trạng” Trong khi đó, tác giả Ngô Vĩnh Bình lại đi sâu khai thác một thủ pháp nghệ thuật được coi là đắc địa của

Chim én bay đó là thủ pháp đồng hiện: “ đọc Chim én bay người đọc vừa như

Trang 12

thấy lại những năm tháng chiến tranh xưa với tất cả sự khốc liệt của nó (…), lại vừa như được đứng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống hôm nay như: vấn đề đổi mới cách nghĩ, cách sống, vấn đề nhân đạo cũng như việc giải tỏa hận thù, ngăn chặn nọc độc của một cuộc chiến tranh mới…” [12]

Về tiểu thuyết Năm 1975, họ đã sống như thế, tác giả Hoài Anh có bài

viết “Tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân – một cách nhìn chiến tranh xác thiết” đăng trên website http://trieuxuan.info Thông qua việc phân tích các tình huống, chi tiết của cuốn tiểu thuyết, tác giả Triệu Xuân đánh giá cuốn tiểu thuyết đã thể hiện cách nhìn chân thực của nhà văn về một thời điểm của cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước từ đầu tháng 3 đến trước 30 tháng 4 năm 1945: “Không chỉ dự báo các cuộc chiến tranh xảy ra trong tương lai, tiểu thuyết còn dự báo về sự lan rộng của những hiện tượng tiêu cực ở miền Bắc” Bên cạnh đó, bài viết còn tổng kết một số thành tựu nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm như lối kể chuyện chính xác, sinh động; nghệ thuật xây dựng, miêu tả tâm lý nhân vật chân thực

Bên cạnh những bài viết riêng lẻ, tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân thường được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu, những bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các tạp trí chuyên ngành xoay quanh tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh thời kỳ hậu chiến Quy mô nhất là luận ăn thạc sĩ: “Đề tài chiến

tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985” ( Vũ Thị Phương

Nga – do PGS.TS Lý Hoài Thu hướng dẫn, trường ĐH KHXH&NV) Nghiên cứu đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết sau 1975, các bài viết thiên về tìm hiểu một số nét đổi mới của tiểu thuyết giai đoạn này như: “ Tiểu thuyết về

chiến tranh sau năm 1975” đăng trên tạp chí Văn học số 5/1980, “ Tiểu

thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 và những thành tựu bị bỏ lỡ” (TS Nguyễn Phượng), “ Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975”

(PGS.TS Nguyễn Bích Thu) in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – Những

Trang 13

vấn đề nghiên cứu và giảng dạy Bàn về hình ảnh người lính nói riêng và con

người nói chung có một số bài viết như: “ Chân dung tinh thần người lính qua một số tiểu thuyết hậu chiến”, “ Nhân vật của tiểu thuyết hậu chiến” ( Đinh

Thị Huyền) đăng trên website báo Văn nghệ quân đội và Viện văn học; “ Cái

nhìn mới về người lính và sự thay đổi quan niệm về đề tài tiểu thuyết Việt

Nam sau 1975” ( Nguyễn Tiến Đức) đăng trên website báo Văn nghệ quân đội Các bài viết này đề cập đến sự đổi mới quan niệm và cách thể hiện hình

ảnh con người trong tiểu thuyết viết về chiến tranh sau năm 1975 thông qua việc xây dựng hình ảnh những người lính Tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân cũng nằm trong dòng chảy chung của sự vận động, đổi mới của thể loại khi tiếp tục khai thác mảng đề tài chiến tranh cách mạng

Như vậy, nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân chưa nhiều và chưa thực sự tập trung Với đề tài này, người viết hướng đến việc cung cấp cho độc giả cái nhìn toàn diện về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân nói riêng và sự nghiệp sáng tác của ông nói chung, cũng như những đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân trong tiến trình tiểu thuyết sau

1975 thời kì đổi mới Chính bởi vậy, kế thừa thành tựu của người đi trước chúng tôi mạnh dạn nghiện cứu đề tài thế giới nghệ thuật dự trên cứ liệu hai

cuốn tiểu thuyết Chim én bay và Năm 1975, họ đã sống nhƣ thế nhằm mục

đích khám phá tác phẩm trong tình vừa đặc thù khu biệt, vừa toàn vẹn trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thời kỳ đổi mới sau 1986

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Vận dụng những kiến thức lý luận về khái niệm thế giới nghệ thuật,

tiếp cận khám phá thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Chim én bay và Năm

1975, họ đã sống nhƣ thế của Nguyễn Trí Huân, ở một số phương diện nổi

Trang 14

bật Qua đó khẳng định tài năng và đóng góp của Nguyễn Trí Huân vào tiến trình đổi mới thể loại tiểu thuyết viết về chiến tranh

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Dựa vào cơ sở lý thuyết thi pháp học về thế giới nghệ thuật, luận văn của tôi sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống những biểu hiện đặc sắc về nghệ

thuật trong tiểu thuyết Chim én bay và Năm 1975, họ đã sống như thế của

Nguyễn Trí Huân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Triển khai đề tài Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Trí

Huân, luận văn tập trung tìm hiểu hai tiểu thuyết Chim én bay (1988) và Năm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp như:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Trang 15

- Phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kế thừa những ý kiến, những nghiên cứu trước đây, luận văn

sẽ hệ thống hóa, khẳng định tài năng, vị trí và những đóng góp của Nguyễn Trí Huân trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được chia làm ba

chương:

Chương I: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân Chương II: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân

Chương III: Phương thức tự sự trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA NGUYỄN TRÍ HUÂN

1.1.Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Cùng với cốt truyện, kết cấu, xung đột, giọng điệu, ngôn ngữ thì nhân vật là nơi biểu hiện rõ nhất và trọn vẹn nhất cảm hứng nghệ thuật của nhà văn Bởi nhân vật mang linh hồn của tác phẩm, là trọng tâm mọi sự miêu tả nghệ thuật, là nơi tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận giải mã những vấn đề hiện thực hoặc phi hiện thực cốt yếu được đặt ra trong tác phẩm Chức năng cơ bản của nhân vật là khái quát tính cách con người, là người dẫn dắt độc giả vào thế giới khác nhau của đời sống Nhân vật văn học cũng là nơi thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn

về con người Sự tìm tòi những hình thức mới cho các thể loại trước hết là sự tìm tòi đổi mới ở nhân vật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi (chủ biên), nhân vật văn học là “con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha) ( ) có khi sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào cả Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người” [26, tr.235]

Trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức chủ biên, khái niệm về

nhân vật văn học được xác định là: “ Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm

Trang 17

điển hình về tiểu sử, đặc điểm tính cách và cần lưu ý thêm một điều, thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng tính cách con người” [22, tr.102]

Bằng cách này hay cách khác khi định nghĩa về nhân vật văn học của các nhà văn, nhà nghiên cứu lý luận văn học vẫn căn bản gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này: Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, một hiện tượng thẩm mỹ có tính ước lệ, khác quát ở những mức

độ nhất định, thể hiện một quan niệm nào đó về con người được biểu hiện bằng phương tiện văn học Nó có tên hoặc không có tên, là người cụ thể hay được sử dụng như một ẩn dụ, chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Những “dạng thức đặc biệt” của nhân vật phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng cũng như thấm đẫm truyền thống văn hóa, bối cảnh thời đại mà nhân vật được sinh ra Và dù xuất hiện trong tác phẩm dưới dạng thức nào thì nhân vật văn học vẫn là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chỉnh thể của tác phẩm văn học

1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật

Trong nghiên cứu văn học, khái niệm thế giới nhân vật là một phạm trù rất rộng Thế giới nhân vật là tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới ấy mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ chức và sự sống riêng phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sỹ Nằm trong thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học và trong sáng tác nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc

Trang 18

riêng, có quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, không gian, thời gian gắn liền với một quan niệm nghệ thuật nhất định về chúng của tác giả Thế giới nhân vật là sự cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan

hệ, môi trường hoạt động, ý nghĩ, tư tưởng của nhân vật trong cách đối nhân

xử thế, trong giao lưu xã hội với gia đình thế giới nhân vật vì thế bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật Con người trong văn học vì thế vừa giống

con người ngoài thực tại, vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng

Trong thế giới nhân vật, người ta có thể phân chia thành các kiểu loại nhân vật nhỏ hơn ( nhóm nhân vật) căn cứ vào tiêu chí nhất định Trong lịch

sử văn học, mỗi tác giả văn học cũng có thế giới nhân vật riêng, mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật riêng của nó

1.2 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân

Văn học luôn là tấm gương soi chiếu và phản ánh hiện thực Như một quy luật tất yếu, thời đại nào sẽ có nền văn học riêng của nó Hoàn cảnh xã hội thay đổi sẽ cung cấp cho người nghệ sĩ những chất liệu mới, hình thành những tư tưởng xã hội mới, chiều sâu nhận thức và thể hiện qua các hình tượng nhân vật mới Chính vì vậy, đồng thời với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại cũng là cuộc cách mạng lớn lao trong văn hóa, văn nghệ và trong tiểu thuyết Lần đầu tiên trong lịch sử, tiểu thuyết Việt Nam xuất hiện mô hình nhân cách con người Việt Nam mới mẻ, vì trước đó chưa từng có Hiện đại vì với mô hình nhân cách này, tiểu thuyết sử thi Việt Nam

1945 -1975 đã hình thành xu thế chung của dòng tiểu thuyết sử thi hiện đại ở các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới Nằm trong xu thế chung của tiểu thuyết sử thi ở các nước xã hội chủ nghĩa, tiểu thuyết sử thi Việt Nam viết trong từng chặng đường phát triển của nó đã xây dựng thành công cấu trúc nhân cách của các nhân vật đại diện cho con người cách mạng, con người mới

Trang 19

xã hội chủ nghĩa Trong cấu trúc nhân cách này, một sự thống nhất chưa từng

có đã diễn ra, cái riêng hòa nhập với cái chung mà vẫn không đánh mất ý thức

cá nhân của mình, con người cá nhân tự nguyện phục tùng con người xã hội

vì mục đích cách mạng và kháng chiến

Sự chuyển đổi cảm hứng sáng tác từ khuynh hướng sử thi dần sang đời

tư – thế sự và xu hướng phản ánh chân thực, khách quan hiện thực chiến tranh

đã kéo theo nhiều đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học hậu chiến Trong bài viết “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau

1975 qua hệ thống mô típ chủ đề”, Bích Thu khái quát “ Văn xuôi sau 1975

đã chuyến dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Cuộc chiến đã lùi vào

dĩ vãng sau một quãng lùi lịch sử, sau một khoảng cách thời gian, chất sử thi nhạt dần Cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư Thay vì cách nhìn đơn giản rạch ròi thiện ác, bạn thù, cao cả, thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con người Đề tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộc nhường chỗ cho đề tài thế sự và đời tư” [81, tr.25] Trong hàng loạt tiểu thuyết viết sau năm 1975, các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh… đi sâu khám phá cuộc sống hàng ngày, những số phận cá nhân, nhìn thẳng vào những mảnh vỡ của đời sống, những bi kịch nhân sinh và không hề

né tránh cả những mặt tối tăm, góc khuất lấp của cuộc sống thường nhật bằng cái nhìn trung thực và táo bạo Chính bởi thế, vấn đề con người cá nhân trở thành tâm điểm khai thác và nguồn cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ của thế hệ nhà văn sau chiến tranh

Theo thời gian hình ảnh con người công dân, con người cộng đồng dần được thay thế nhường chỗ cho con người bình thường trong cuộc sống Đây đồng thời cũng là thời kỳ đột phá của văn xuôi trong đó tiểu thuyết là một thể loại giữ vai trò quan trọng trong nền văn học, nó bao quát hiện thực ở cả chiều

Trang 20

sâu và bề rộng, do vậy không ít những cây bút tiêu biểu trong văn học đã có

những sáng tạo về giọng điệu và con người “mới” như Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng … Các nhà văn đã nhận

diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng đa dạng trong sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, con người tâm linh Con người xã hội, con người lịch sử, con người với gia đình và với chính mình Con người được soi chiếu

và khám phá ở nhiều tầng bậc, thể hiện tính chất muôn màu muôn vẻ của vũ trụ của thế giới bao quanh con người và ngay trong nội tâm của con người

như Ba lần và một lần của Chu Lai, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh

Phát hiện ra con người phức tạp, con người lưỡng diện, con người không nhất quán với mình, tiểu thuyết thời kì này đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra cái nhìn đa chiều hơn và sâu sắc hơn Và trong thế giới này, con người trần thế hiện lên sinh động với tất cả chất tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức … Đồng thời khắc họa chân dung những con người luôn khao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện Đó là những nét nổi bật mang đậm chất nhân văn khi nhìn nhận con người Việt Nam sau 1975

Là tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nên nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân được xây dựng theo nguyên tắc sử thi Tuy nhiên tiểu thuyết viết về chiến tranh sử thi hôm nay của ông đã xuất hiện tượng “giải sử thi”, bộc lộ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người, ở sự tái hiện nhận thức về chiến tranh và số phận con người Chưa bao giờ trong văn xuôi chiến tranh lại có sự song hành, gắn bó với nhau cái anh hùng và cái

bi kịch, niềm tự hào về những phẩm giá anh hùng, cao cả và nỗi xót đau về những tổn thất, mất mát không thể bù đắp Cũng vẫn là người lính, người mẹ,

Trang 21

người vợ, nghệ sỹ… nhưng bây giờ được soi rọi từ nhiều góc độ khác nhau, được đặt vào nhiều vòng quay của cuộc đời, kể cả những vòng xoáy nghiệt ngã nhất Dẫu âm hưởng hào hùng và sôi sục của sức mạnh và số phận cộng đồng chưa hẳn đã tắt nhưng tiểu thuyết hậu chiến đã “có thêm cuộc hành hương tìm về cội nguồn đặc trưng thể loại: đi tìm những ẩn số của thân phận con người” [86, tr.539] Để cụ thể hóa vấn đề này, bài viết sẽ khảo sát hai

cuốn tiểu thuyết của ông là: Năm 1975, họ đã sống như thế và Chim én bay

1.2.1 Nhân vật về người lính

Văn học nước ta trước 1975 với nguyên tắc điển hình của chủ nghĩa hiện thực đã xây dựng thành công những tấm gương của một thời, đủ sức đại diện cho một phẩm chất, một vẻ đẹp của con người Việt Nam Cũng vì lẽ đó,

mà nhân vật trở thành những hình tượng đông cứng, thiếu đi tính biến ảo, phức tạp như bản thân nó vốn có Đến thời kì đổi mới, hiện thực chiến tranh được thể hiện trong văn học không hề đơn giản, xuôi chiều như trước mà đa dạng, phong phú, nhiều chiều và được soi chiếu từ kinh nghiệm của nhiều cá nhân khác nhau, với những quan niệm nhân bản khá sâu sắc Đây là cơ sở để nhà văn sáng tạo nhân vật theo cách thức mới

Con người trong kháng chiến là con người của tập thể, của cộng đồng, con người thống nhất hoàn toàn với lịch sử - lạc quan, tích cực trưởng thành

và hoàn thiện, không bi kịch… Con người trong cuộc sống hòa bình khi đã có những mầm đâm chồi nảy lộc cho sự thức tỉnh cá nhân khiến con người không thể nhìn nguyên phiến một chiều mà luôn đặt trong thế đa chiều, trong mối quan hệ cá nhân tác động trở lại cộng đồng Đã đến lúc các nhân vật văn học thời kỳ này phải tự phán xét, suy ngẫm về những hành vi của mình, điều này đồng thời đánh dấu những phức tạp của đời sống cá nhân nội tâm con người, những cảm xúc, suy tư, những dằn vặt trăn trở, những mối quan hệ

Trang 22

nhiều chiều, luôn luôn được đặt trong thế tương quan quy chiếu từ điểm nhìn

họ trở về từ máu lửa Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân được soi ngắm từ chiều sâu tư tưởng nên đã không còn là những điển hình đông cứng, mà trở thành những tính cách cá biệt và độc đáo

1.2.1.1 Người lính tham chiến

Đối với người lính, chiến trường là nơi thử thách rất ngặt nghèo, đó cũng là nơi mà phẩm chất của họ hiện lên sáng ngời nhất Trong chiến đấu, sự dũng cảm của người lính được bộc lộ một cách chân thực và sinh động nhất

Có thể nói, “trong dàn hợp xướng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, về cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh, nhân vật người lính, như một giọng sô lô nổi bật lên ở vẻ đẹp tinh thần và thể chất” [44, tr.96] Nguyễn Trí Huân đã phác họa rõ nét bức chân dung chân thực về người lính với đầy đủ

Trang 23

phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Đó là hình ảnh của chính ủy

Mai Phương, chính ủy Thức, tiểu đoàn trưởng Phác, Nhã, Mạc… (Năm 1975,

họ đã sống như thế); là Dũng, Thêm, Cường…(Chim én bay) Trong số những

người lính đó, tác giả không có dụng ý xây dựng một nhân vật điển hình cho thời đại, cho thế hệ mà đặt họ trong một tập thể lớn để thấy được phẩm chất anh hùng, cao thượng và giàu chất lí tưởng ở những con người này

Năm 1975, họ đã sống như thế là tác phẩm nói về những ngày cuối của

cuộc chiến tranh chống Mĩ vĩ đại Tiểu thuyết ra đời ngay sau khi chiến tranh kết thúc không lâu, âm hưởng tiểu thuyết vẫn nóng hổi không khí khẩn trương, gấp gáp của chiến trận Trong tác phẩm là những người lính thực thụ, đúng nghĩa, người lính đi ra từ hậu phương, ra trận và đánh giặc Trong các trận đấu đó nổi bật lên hình ảnh của những con người như Mạc “nói chuyện

dở nhưng đánh nhau húc phải biết”, như Thức “sống lăn lộn, gắn bó máu thịt với từng trận đánh của trung đoàn”, như Nhã với tinh thần chỉ huy tác chiến táo bạo… Mỗi con người một quê hương, một tính cách khác nhau nhưng luôn sát cánh cùng nhau và chia sẻ mọi khó khăn trong lúc bom rơi, đạn nổ nơi chiến trường Hình ảnh người lính trong tiểu thuyết này gần gũi với người

chiến sĩ trên các mặt trận khác nhau của Tổ quốc trong Dấu chân người lính, Mẫn và tôi, Chiến sĩ, Vùng trời … ở giai đoạn trước Họ gặp nhau ở tinh thần

dù trong bất kể tình huống nào cũng phải nằm lại, dù có chết cũng phải bám chặt lấy trận địa như Mạc đã từng nghĩ Trong tác phẩm tác giả dùng ngôi kể thứ ba để kể về chiến tranh một cách hồn nhiên, trong sáng và chân thực của cuộc đời người lính Chiến trường là nơi chúng nó “bắn pháo suốt đêm.”

“Những lần chúng nó ném bom, chỉ biết ngồi trong hầm vòng tay ôm chặt lấy nhau.”, “Giặc dùng thủ đoạn bắn pháo chụp và pháo khoan xen kẽ Cứ một khoan – ba chụp Những quả pháo khoan xoáy sâu vào lòng đất, nổ đánh bụp một tiếng như muốn hất mọi người lên khỏi hầm Vách hầm chuyển động,

Trang 24

giãn nở như một quả bóng Hơi ép từ bốn phía ập vào đầu vào ngực Máu vọt

từ lỗ mũi, từ miệng.”[36, tr.30] Cuộc chiến ấy còn đang quá dữ dội và ác liệt, nhà văn đã không khắc họa một cá nhân cụ thể nào, ông muốn khắc họa cả một tập thể những người lính trận trong một môi trường mà cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trở thành một lẽ bình dị như cơm ăn, nước uống hàng ngày

Và chính điều đó đã là nên một biểu tượng của tinh thần, ý chí anh hùng mạnh mẽ nhất

Trong chiến tranh, có khi chỉ sai lầm nhỏ của một người cũng ảnh hưởng đến sự tồn vong của một tập thể thậm chí là cả cộng đồng, nên con người phải đặt đời công lên trên đời tư, lợi ích cá nhân bắt buộc phải phục tùng cho lợi ích tập thể, lợi ích của dân tộc Nhưng vì biết mình chiến đấu cho

lý tưởng vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân trong đó có

cả gia đình mình, nên người chiến sĩ có niềm tự hào chính đáng Các nhân vật Mạc, Phác, Duật, Thức, Thư, Khâm mỗi người đều có hoàn cảnh riêng của mình: Mạc có người vợ tên Nhuần lăng nhăng với một tay cửa hàng trưởng ở ngoài Bắc, đẻ một đứa con trai Phác có em trai, Duật có anh ruột đi lính ngụy Sư trưởng Khâm cũng có con trai bị bắt lính Thư cả nhà bị bom Mỹ giết chết, còn một đứa em trai công tác ở Tỉnh đội, cuối cùng cũng hy sinh Chính ủy Trung đoàn Thức đã lớn tuổi vẫn chưa có điều kiện lập gia đình, hiện đang yêu Thư tha thiết nhưng vẫn chưa được sự nhận lời của Thư Nhưng tất cả những người đó đều biết đặt nghĩa lớn lên trên tình riêng Chính trị viên tiểu đoàn Mạc có lỗi đã để mất điểm cao 174, sau đó hối hận dày vò, tìm cách bù đắp lại lỗi lầm bằng việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu với bất cứ giá nào, cuối cùng đã hy sinh anh dũng Tiểu đoàn trưởng pháo binh Phác đề xuất biện pháp đưa pháo lên điểm cao bắn thẳng vào cứ điểm địch dù biết rằng mình có thể bắn vào em mình Duật vẫn vững vàng chiến đấu, sau đó anh của Duật bị du kích bắn chết, trong số những người nổ súng

Trang 25

có cả em gái Duật Chính trị viên đội phẫu Thư đưa đội phẫu của mình lên sát gần trận địa Thức rất yêu Thư nhưng không ngăn cản quyết định đó của Thư Những nhân vật Mạc, Thức đều làm tròn nhiệm vụ của người chính trị viên trong quân đội, không những luôn giáo dục động viên chiến sĩ giữ vững tinh thần chiến đấu, giải quyết tư tưởng cho anh em mà còn góp phần vào hoạch định kế hoạch tác chiến và đích thân chỉ huy tác chiến và khắc phục hậu quả

Có thể nói người chính trị viên là linh hồn của quân đội Một trong những điểm ưu việt của quân đội nhân dân là có vai trò của người chính trị viên Trong nhật ký của một sĩ quan ngụy chết trước tổng tiến công mùa xuân 1975 được coi là phụ trương đặt ở đầu tiểu thuyết, tên này cũng phải thừa nhận:

“Chiến tranh bây giờ là sự đọ sức giữa sức mạnh quân sự vừa bao hàm vấn đề chính trị.”

Sự phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và chính trị được thể hiện trong tiểu thuyết qua hai nhân vật Mạc và Nhã Nhã là tiểu đoàn trưởng có nhiệm vụ chỉ huy tác chiến, nhưng lại đi sát với đơn vị, làm cả công việc của chiến sĩ bình thường, kể cả việc bò vào hàng rào, cõng thương binh về Nhã lại luôn xông xáo đi đầu trong chiến đấu “Trận đánh nào trở về, Nhã cũng mang theo một vết thương không nặng thì nhẹ” Khi bị thương phải đi bệnh xá điều trị, “Mạc vẫn không thật an tâm, anh biết tính của Nhã, Nhã chỉ huy tác chiến táo bạo

và đang được sư đoàn chú ý nhưng nếu không có Mạc, Nhã dễ đơn giản và chủ quan” Bởi Nhã với Mạc như hình với bóng, nên khi Nhã hy sinh, Mạc vô cùng đau đớn: “Vắng ông tôi sẽ khó sẽ khổ, nhưng ông cứ yên tâm mà đi Tôi

và những đảng viên còn lại sẽ thực hiện bằng được nghị quyết của đảng ủy, xây dựng tiểu đoàn ta thành một tập thể anh hùng ” Nếu Nhã sống và chết đều rất thanh thản, thì cái chết của Mạc lại rất tức tưởi Thuyền chết máy, lại

bị đại bác của địch bắn, Mạc phải nhảy xuống nước, đạn nổ ngay bên cạnh, nước ộc vào miệng, vào mũi, vào tai Mạc Mạc chết chìm, xác có thể giạt vào

Trang 26

bờ sú hoặc trôi ra biển Những cái chết của Trung, Doanh, Phương cái chết nào cũng giản dị mà hào hùng

Nghĩ đến đây, chúng ta càng thương tiếc những đồng chí đã hy sinh cách giờ thắng lợi chỉ một quãng thời gian ngắn, trong khi trong lòng các anh còn ấp ủ biết bao dự tính sẽ làm gì khi hòa bình trở lại Mạc vẫn có ý định tha thứ cho người vợ lỗi lầm, muốn cải tạo Nhuần bằng cách đưa Nhuần về làm việc ở nông trường trồng chè ở Tây Nguyên do Thức phụ trách Sau chiến tranh, một bộ phận lớn quân đội sẽ chuyển sang làm kinh tế Như lời Tư lệnh trưởng nói: “Những ai nghĩ sau chiến tranh bộ đội có quyền nghỉ ngơi là không đúng Rằng quân số các lực lượng vũ trang sẽ không giảm đi mà còn tăng lên Ông nói đến việc phân bố lại các vùng dân cư, đến các dự kiến xây dựng những thành phố công nghiệp, nông nghiệp Ông cũng không e dè khi nói tới một cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai Mọi người hiểu cách mạng chuyển giai đoạn, nhiệm vụ của họ càng nặng nề hơn”.[36, tr.335]

Nhiệm vụ chiến đấu đòi hỏi người lính một sự quyết tâm rất cao, một tinh thần quyết tử cho Tổ Quốc thì mới tiếp tục chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ được Mặc dù vậy họ vẫn phơi phới lạc quan, họ vẫn hát những bài hành khúc về Bác Hồ, về dất nước trên mỗi chặng đường hành quân đi chiến đấu

Không gian ở đây bị thu hẹp đến cùng cực Chỉ cần chiếm được cao điểm là có thể khống chế toàn bộ trận địa, tiêu diệt được địch nhiều hơn, bớt thương vong cho mình và nắm chắc thắng lợi Pháo bắn thẳng có hiệu quả hơn bắn vồng cầu rất nhiều lần, lực uy hiếp lớn hơn mà còn đỡ tốn thời gian tính phần tử Khoa học quân sự phát huy ưu thế rõ rệt, đòi hỏi mọi người phải ứng xử trên tinh thần khoa học, thực tiễn, chứ không phải chỉ là cảm tính

Thời gian ở đây bị ép sát đến cùng cực Có khi chỉ trong một tích tắc quyết định thắng hay bại, mà nếu bại thì tổn thất không sao lường nổi, không

Trang 27

bao giờ lấy lại được Nếu bắn gục được chiếc xe tăng địch, nếu chiếc thuyền không bị chết máy, thì Mạc và chiến sĩ ta không đến nỗi phải hi sinh

Cái chết ở đây cũng hết sức ngẫu nhiên, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, không có triệu chứng, không có thời gian chuẩn bị “Lúc này, mọi cái chết đều trở nên vô lý Cùng lắm còn ngày mai, ngày mốt và dăm ba trận không đáng kể nữa ”[36] Họ không run sợ khi đứng trước kẻ thù với phương tiện, súng ống hiện đại chúng có thể phá hủy, tiêu diệt đi mọi sự sống nhưng chúng

có một thứ mà không thể phá hủy, không thể tiêu diệt đó chính là lòng dũng cảm của người lính Chính sự dũng cảm là nguồn sức mạnh không gì cố thể khuất phục được, đây cũng chính là lí do khiến kẻ thù dù có mạnh đến đâu cũng bị thất bại

Bên cạnh những hình ảnh đẹp đẽ, sáng ngời của người lính quả cảm trên mặt trận, Nguyễn Trí Huân cũng chú ý miêu tả những chi tiết rất đời thường của người lính, đó chính là những câu chuyện về gia đình, về tình yêu Thức yêu Thư mà không dám thổ lộ, anh băn khoăn khi thấy mình đã là một người có tuổi, không biết Thư có chấp nhận anh không và khi đối diện với người con gái anh yêu thì anh lại không thốt lên được một lời nào Cho dù mỗi lần gặp người con gái ấy anh đều rất quyết tâm nói lên hết tình cảm của mình Còn Mạc, dù anh biết rằng Thức yêu Thư nhưng anh vẫn dành cho Thư một tình cảm đặc biệt Vì vậy, nhiều lần anh cố tình tránh gặp Thư, và anh thấy có lỗi với Thức – người mà anh vô cùng kính trọng và yêu mến Người lính dũng cảm trong chiến đấu không sợ hi sinh, không sợ cái chết, vậy mà đứng trước tình yêu lại thấy run sợ không nói nên lời

Thư, một cô gái tuy không xinh nhưng rất kiên cường, dũng cảm Ở cô toát ra một vẻ đẹp mà khi Thức nhìn thấy cô, anh đã đem lòng yêu cô tha thiết

và cả Mạc, anh cũng dành tình cảm cho cô “Cô thương Thức, cô càng thương Mạc nhiều hơn”, nhưng cô gái này cuối cùng cũng đã nhận ra tình yêu của

Trang 28

mình, nhận ra ai sẽ là người mang đến hạnh phúc cho cô “Nhưng Thư sớm hiểu rằng, sẽ không có người nào yêu thương cô, như Thức từng yêu thương

cô Thức yêu tất cả những gì mà cô có”[36, tr.303] Thư cũng giống như những cô gái bình thường khác luôn khao khát yêu và được yêu “mỗi ngày Thư thấy mình một khác Tình yêu làm cho Thư trẻ lại Mọi vật đối với cô như được mang một màu sắc mới Đôi mắt cô nhìn bớt khô và lạnh hơn Nhiều lần cô ngắm nghía rất lâu một đám cỏ và ngạc nhiên thấy giữa thân cỏ khẳng khiu đang nhú lên một chiếc lá xanh nõn.”[36, tr.303] Cũng chính nhờ những điều này mà các nhân vật trong tiểu thuyết có cuộc sống thường nhật giữa những khoảng lặng hiếm hoi của chiến tranh Những chi tiết đời thường

ấy khiến người ta nhìn thấy một khía cạnh khác của hiện thực chiến tranh, khiến người ta nhận thấy thật rõ cái chân thật và cái đẹp rất con người của những người lính vào sinh ra tử

Trong cách nhìn của Nguyễn Trí Huân, không phải người lính nào cũng cao cả, oai hùng, không phải giờ phút nào cũng anh dũng, gan dạ Và quả thực, ngòi bút của nhà văn không phản bội lại người chiến sỹ bởi bên cạnh

“cái lúc họ vác súng ra mặt trận với một tâm hồn phơi phới”, tác giả còn cho người đọc thấy được “cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc đói rét, những lúc nằm giữa đồng đội chết và bị thương, trong bùn lầy, trong mưa bom, bão đạn” [44, tr.96] Có thể nói, đó là bức chân dung về những người lính không hoàn thiện, hoàn mĩ Không riêng tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân mà trong sáng tác của các nhà văn cùng thời ông như Thái Bá Lợi, người đọc cũng bắt gặp hàng loạt những con người như thế Đó là Mây, một nữ trinh sát can đảm, có tâm

hồn trong trắng và cón có cả những bồng bột lầm lẫn (Hai người trở lại trung đoàn); Vẻ, một sĩ quan, một đại đội phó có tài nhưng bị hạ cấp vì không chấp

hành mệnh lệnh của cấp trên và cuối cùng phải trả giá bằng mạng sống của

chính mình (Thung lũng thử thách); Hải, một đại đội trưởng đặc công xuất sắc

Trang 29

gan dạ lại bắn nhầm tiểu đoàn trưởng của mình để suốt đời ân hận (Bán đảo)…

Ngay trước khi tiểu đoàn 3 vượt sông thất bại, Thiết đã nói với Thăng rằng anh không tin lắm vào đợt vượt sông này Còn với Thăng, một tân binh khi đối mặt với tiếng súng nổ, với đầy rẫy những xác ngụy ngay trước mặt, anh đã sợ sệt mà thú nhận với bản thân mình là đồ hèn nhát Hình ảnh người lính hiện lên trong những thời điểm đó không lấp lánh tinh thần anh hùng, phơi phới lạc quan nhưng đổi lại, đó là lúc họ sống thật với lòng mình nhất Những phút giây run rẩy, do dự trước kẻ thù hay nhụt chí chiến đấu như Mạc, Thăng, Quy… cũng là tâm trạng chung nhiều người lính qua mỗi trận đánh

Có thể nói, để người lính xuất hiện trong thời điểm đó, tính hoàn mĩ của hình tượng người lính đã giảm đi chút ít, song tính chân thực của hình tượng này

có sức thuyết phục hơn

Đến Chim én bay, Nguyễn Trí Huân đã gieo vào lòng người đọc ấn

tượng về đội Chim én với hình ảnh những người lính “trẻ con” như Quy, Dũng, Thêm… dù tuổi đời còn rất nhỏ song dường như ý chí, tinh thần gan

dạ, sẵn sàng đối mặt với gian nguy đã được nuôi dưỡng từ khi còn nằm trên nôi Chỉ với những chiến công nhỏ của đội Chim én, nhà văn đã phác họa rõ nét hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ người lính thời kháng chiến chống Mĩ Chứng kiến cái chết bi thương của người thân trong gia đình, oán thù mỗi ngày một chất nặng thêm khiến các em nhỏ bức bối và liều lĩnh đến quyết liệt trong hành động, dữ dằn đến khác thường trong ý chí Hình ảnh các em nhỏ

trong Chim én bay thực sự ám ảnh sâu sắc người đọc nhiều thế hệ, bởi lẽ “Khi

cả dân tộc phải gồng mình lên để vượt qua cái chết thì sự gồng mình lên của các em nhỏ, hành vi tự bảo vệ ở các em nhỏ, sự rửa hận từ phía các em nhỏ bao giờ cũng mang ý nghĩa bi hùng, bởi nó dị thường, ngặt nghèo, tàn nhẫn

Trang 30

bởi sự trớ trêu của cái hữu hạn của sức lực con người trước cái vô hạn của hoàn cảnh bắt buộc họ phải vượt qua” [33, tr.200]

Bên cạnh việc miêu tả người lính như những hình tượng anh hùng , hoàn mĩ, Nguyễn Trí Huân đã quan tâm đến họ ngay cả trong tình yêu chân thành, dục vọng bản năng, trong những thời điểm yếu hèn, run sợ… Do đó, người lính không còn hiện diện với tư cách là con người của cộng đồng là con người cá nhân, con người công dân, con người xã hội “Một chân dung đầy đặn hơn, nhiều chiều cạnh hơn do vậy mà chân thực hơn của những con người thuộc về phía chiến thắng, trong bao bi kịch và bất hạnh của nó, đó là hướng viết vẫn được tiếp tục trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh” [45]

1.2.1.2 Người lính thời kỳ hậu chiến

Chiến tranh đã lùi xa, những dấu tích của chiến tranh đang dần được xóa bỏ Nó dần biến mất, chỉ còn lại trong kí ức như một thời quá vãng xa xôi Nhưng với những con người từng có mặt trong cuộc chiến đó, chiến tranh vẫn luôn hiện hình, một phần không thể thiếu trong cuộc sống hôm nay Nền hòa bình thời hậu chiến với quá nhiều vấn đề nan giải, quá nhiều bất ổn đã khiến những con người từng kinh qua chiến tranh may mắn sống sót trở về cảm thấy mất thăng bằng, mất niềm tin Nhiều người trở về thân thể còn lành nguyên nhưng tâm hồn mãi mãi mang thương tật

Điểm đặc biệt đầu tiên của nhân vật người lính trong tiểu thuyết hậu chiến là họ không bộc lộ mình trong những sự kiện ác liệt được lấy làm bối cảnh chính của tác phẩm như “kiểu nhân vật hành động” mà chủ yếu xuất hiện trong trạng thái suy tư, chiêm nghiệm, “sống với thời gian hai chiều” Người lính trong tiểu thuyết hậu chiến vừa là con người của thời hiện tại, trực tiếp đối mặt với cuộc sống hàng ngày vừa là con người của quá khứ trong nhu cầu nhận thức lại quá khứ ấy Một mặt, họ ý thức rõ ràng về sự tồn tại của bản

Trang 31

thân khi đã đi qua một thời khói lửa với tư cách của người chiến thắng; mặt khác, cái giá phải trả cho chiến thắng ấy nhiều lúc lại dẫn dụ họ ngoái nhìn về quá khứ Chiến trường xưa với diễn biến của một chiến dịch, một trận càn, những đồng đội thân thiết hay chỉ thoáng biết qua một lần gặp gỡ khiến những cựu binh sống lại trong chiến thắng và mất mát, tình yêu và hận thù, sự đầm ấm của tình người và những cay đắng trước sự yếu hèn, bội phản Nằm

trong dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh, Chim én bay của

Nguyễn Trí Huân kể về một câu chuyện khá đặc biệt Đó là cuộc đấu tranh không kém phần căng thẳng và quyết liệt của các em nhỏ với kẻ thù và những

di họa của cuộc chiến ấy Khai thác những mất mát, những vết thương sâu

thẳm của con người trong và sau cuộc chiến, tiểu thuyết Chim én bay mang

đậm dấu ấn bi kịch – cảm hứng xuất hiện khá đậm đặc trong văn học viết về chiến tranh sau 1975 Cũng giống như Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), Quy đã vượt qua cái chết trong đầy rẫy bom đạn nhưng không một chút thanh thản trong cuộc sống hòa bình Cùng trở về sau chiến tranh nhưng họ luôn cảm thấy mình bị “bắn ra khỏi lề đường” [49, tr.6], “bị mắc kẹt lại trong cõi đời này” [64, tr.87] Tâm trạng của thế hệ người lính này

đã được nhân vật Lực trong truyện ngắn Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu khái

quát rất rõ “Chiến tranh, kháng chiến(…) như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thạt khó gắn liền lại như cũ, nhưng đau hơn là hai nửa cuộc đời tôi cũng không bị cắt lìa hẳn (…) Tôi chỉ làm rối thêm cuộc sống, tôi chỉ quấy rầy những số phận đã an bài”

Tiểu thuyết Chim én bay từ tiêu đề, lời tựa đến kết thúc đều có hình ảnh

chim én bé nhỏ, bình yên nhưng câu chuyện tác giả kể thì hoàn toàn đối lập Quy- cánh chim nhỏ bé của đội chim én có một cuộc đời và số phận không hề bình lặng, thậm chí nghiệt ngã và cay đắng Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết gắn liền với nỗi buồn sâu lắng, nỗi day dứt, khắc khoải trong những

Trang 32

dòng kí ức, tâm trạng và các mối quan hệ của nhân vật từ quá khứ đến hiện tại, từ chiến tranh đến hòa bình

Trong Chim én bay, Quy – một nữ du kích anh hùng, từ thời điểm hiện

tại với một vị trí xã hội đáng nể trọng vẫn khôn nguôi dằn vặt, day dứt ngoái nhìn về quá khứ Ở chị luôn có sự day dứt về số phận những con người hay nói đúng hơn là về số phận gia đình của những tên ác ôn “mình đã giết chết hơn mười năm về trước xem vợ con chúng hiện đang sống ra sao”[33, tr 5] Cái ý nghĩ ấy cứ ám ảnh chị và chị không biết nó xuất hiện từ lúc nào, chỉ biết rằng khi anh giáo trường phổ thông cơ sở của thị trấn “khẩn khoản đề nghị chị tới nói chuyện với các em học sinh về thành tích diệt ác ôn của đội “Chim Én”, của chị trên mảnh đất này hơn mười năm về trước” Chị nhận lời và chị

đã chuẩn bị thật chu đáo cho buổi nói chuyện chiều hôm ấy, “ và suốt đêm hôm ấy, chị đã thức để chuẩn bị cho buổi nói chuyện” chị nhớ lại một thời của bản thân mình, một thời ác liệt của một đứa bé gái mười lăm tuổi, một thời của các đội viên “Chim Én” như Thêm, Dũng, Dũng nhỏ và anh Cường

“Nhiều lúc, người chị như lên cơn sốt khi nhớ lại các trận đánh, những cái chết thảm khốc, và cơn co giật một căn bệnh kinh niên kể từ sau khi bị bắt, thiếu chút nữa lại tái phát”[33, tr.6] Đó là hậu quả của chiến tranh mà chị đang từng ngày phải chịu đựng, đau đớn và nặng nề Nhưng rồi cuối cùng chị vội vã xin hoãn buổi nói chuyện lại, “chị bỗng giật mình nhận ra rằng, biết đâu con cháu của những kẻ chị đã buộc phải giết trước kia lại chẳng đang ngồi nghe chị kể về cái chết khủng khiếp của cha chú chúng”[33, tr.7], chị thấy sợ, chi không biết những câu chuyện của chị sẽ khiến những đứa trẻ đó nghĩ gì, những cái đầu “đang hình thành tính cách công dân kia” sẽ phản ứng

ra sao, khi biết chính chị và những đồng đội của chị đã giết cha chúng và những người thân của chúng

Trang 33

Cũng có thể cái ý nghĩ muốn tìm lại người thân của những tên ác ôn xưa kia đến với chị “trong nhiều đêm nằm trăn trở trên giường, nghe sóng biển và gió thổi ù ù ngoài mái nhà, nỗi nhớ người thân đã chết trong chiến tranh cứ trở đi, trở lại khắc khoải trong đầu chị Liệu những người vợ, người con của những tên ác ôn ấy đang sống ra sao? Những gì đang cản trở họ sống? Họ còn ở những ngôi nhà cũ hay đã bị tịch thu, đã chuyển đi nơi khác?”[33, tr 7] Cái ý muốn ấy khiến chị trăn trở nhiều đêm, nhưng chị không thực hiện nổi và chị tự tìm câu trả lời cho điều ấy Điều đó khiến chị không thể sống thanh thản Không phải là sự phản tỉnh, hối hận, tự vấn lương tâm, bởi vì quá khứ vốn hết sức rạch ròi trong chị và nếu phải làm lại, chị vẫn không thể làm khác “vì đó là sinh mệnh, là sự mất còn của cả quê hương chị”[33, tr.20] Cái khắc khoải khó gọi tên ấy, cùng với hình ảnh chị Năm –

vợ Giám Tuân với tiếng thét “chạy đi” đã cứu chị, cứ day dứt trong chị, khiến chị đã nhiều lần đến nhà Giám Tuân, nhiều lần bênh vực vợ con hắn, mang gạo đến cho mấy mẹ con

Chính Quy cũng không hiểu vì sao chị lại như vậy Nhưng có một điều

dễ hiểu Chị là người nhân hậu và vị tha Chị căm thù Giám Tuân, chính hắn

là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bao bi kịch trong cuộc đời chị, theo quy luật chị hoàn toàn có thể thù ghét vợ con hắn và hoàn toàn có thể không bận tâm đến họ Nhưng lòng trắc ẩn, bao dung của chị vốn không hề lẫn lộn, thậm chí vượt qua hận thù từ ngày cô bé 15 trong chị đứng vững, không dám nổ súng vào Giám Tuân bởi hắn bế trên tay đứa trẻ Chị đã thông cảm sâu sắc với chị Năm – vợ Giám Tuân: một cuộc đời cũng đầy cay đắng và bất hạnh: cô du kích trong sáng nhưng nhu nhược, ghê tởm chồng đến cực độ nhưng vẫn phải sống chung cho đến khi hắn chết, chịu bao tủi cực với thân phận vợ của tên phản bội và nỗi đau đớn của “người mẹ khi biết con mình suốt đời phải mang tiếng là con của tên ác ôn”[33, tr.102 ].Người phụ nữ ấy đau khổ đến mức giả

Trang 34

điên để đối phó với cuộc đời, cuối cùng tự tìm lấy cái chết giải thoát cho mình

dù chi đã từng ý thức sâu sắc: “sống để làm gì? Nhưng chết được cũng khó Còn hai đứa nhỏ lúc nào cũng lăm le báo thù Bởi vậy tôi không chết được” [33, tr.102]

Những số phận như vợ Hai Đích, chị Năm, những đứa trẻ lớn lên trong thù hận và sự khinh ghét của mọi người xung quanh là một khía cạnh nữa của chiến tranh Làm thế nào để phá vỡ định kiến của một tập thể? Làm thế nào

để “ khắc phục những ấn tượng và quan niệm thiếu nhân đạo đối với gia đình ngụy quân, ngụy quyền cũ” Làm sao để “những ai làm tốt nghĩa vụ công dân,

dù xuất thân từ thành phần nào, có quá khứ thế nào đều đáng được khen ngợi” Làm sao để “trẻ em được bình đẳng như nhau, bởi chúng không hề tham dự vào tội ác của cha mẹ chúng và đừng đẩy chúng về phía tội ác mà lẽ

ra chúng nó có thể xa lánh được”[33, tr.152] Đó thực sự là những vấn đề bức thiết được đặt ra sau cuộc chiến Vẫn hi sinh bản thân mình vì người khác, cho đến cuối đời, Quy đã đấu tranh quyết liệt để giành lấy sự bình đẳng cho cuộc sống của những gia đình người thân của những tên phản bội Đến cuối cuộc đời mình, chị vẫn còn kịp làm thêm một việc kỳ diệu: hàn gắn nỗi đau chiến tranh cho con trai kẻ thù bằng chính nỗi đau của mình Quyết định của Thường vụ Đảng ủy thành lập quỹ phúc lợi trợ giúp những người khó khăn bất kể thuộc thành phần nào, đứa trẻ con chị Năm sẽ được đến trường là một

hé mở cho tương lai tươi sáng hơn, cho một ước vọng “ cái ác bị vùi sâu chôn chặt trong cuộc sống hàng ngày, cho một thế hệ cắp sách đến trường, không biết thế nào là tang tóc, chiến tranh”[33, tr.17]

Sự bất thường, phi lí của chiến tranh thể hiện trên nhiều phương diện đời sống Đau đớn nhất là trẻ em cũng buộc phải cầm súng Đất nước bị ngoại xâm, mọi công dân đều có nghĩa vụ giữ nước, nhưng khi trẻ em say mê trận mạc hơn mọi thứ khác thì không còn là chuyện bình thường nữa Chuyện

Trang 35

không bình thường ấy đã diễn ra hàng ngày trên quê hương Quy Bị kẻ thù tước đoạt tuổi thơ, các đội viên đội Chim én “lớn nhất là mười sáu, còn lại chỉ

ở đội tuổi mười ba, mười bốn”[33, tr 77], đã tự nguyện gánh vác công việc diệt ác vô cùng nặng nề, nguy hiểm Chứng kiến việc làm ấy, một kẻ làm ở ti chiêu hồi nhận xét: “Thời này đến trẻ em cũng giết người Thật dễ sợ”[33, tr 47] Khác với cái nhìn của một kẻ chiêu hồi, chúng ta vô cùng trân trọng hành động anh hùng của những công dân nhỏ tuổi ấy Song ta không khỏi nhói lòng trước cái nghiệt ngã của lịch sử Dù bị kẻ thù buộc phái cầm súng nhưng những chấn thương tinh thần trong tâm hồn những đứa trẻ nhạy cảm như cô

bé Quy thật nặng nề, dai dẳng Nó là vết thương không thể xoa dịu, vĩnh viễn chẳng lành, khiến con người hoàn toàn mất đi khả năng sống bình thường, yên ổn

Hiện tại đối với Quy là “căn phòng của chị đêm xuống lại càng thêm vắng vẻ Nhiều đêm chị phải khóa của phòng, đi lang thang trên phố”[33, tr.127] và cái căn bệnh co giật thỉnh thoảng lại hành hạ chị Từng đêm là những giấc mơ quái đản cứ hiện về, thêm vào đó là nỗi ám ảnh về “những cái chết kẻ thù mang đến cho gia đình chị và những cái chết chị gieo cho chúng Chị đã giết những tên ác ôn khét tiếng nhất bởi cách mạng đòi hỏi chị làm như vậy Vậy mà, bây giờ không hiểu sao, chị cứ thấy lòng mình không yên…

Có cái gì đó ngoài lí trí bắt chị phải suy nghĩ, trăn trở Cái gì? Hình như nó ở đâu đó trong con người chị, trong con người hàng ngày chị tiếp xúc Hình như

nó ở trong đất, trong nước…”[33, tr.130] Thực tại trả về cho Quy không gì hơn ngoài những cảm giác nặng nề cùng với những cơn đau hành hạ, cả nỗi xót xa đau đớn tột cùng khi bản năng làm mẹ cũng đã bị cướp mất

Chim én bay là một tiểu thuyết thành công với dòng kí ức đan xen với

hiện tại Gần 200 trang trong cuốn sách, người đọc luôn thấy hiện tại và quá khứ đan xen, đồng hiện trong tâm hồn nhân vật Quy Điều đặc biệt trong cuốn

Trang 36

tiểu thuyết, nhà văn chọn nhân vật là một đứa trẻ - 11 tuổi 11 tuổi nhưng Quy

đã trở thành nạn nhân của chiến tranh Chiến tranh là ký ức kinh hoàng về cái chết của những người thân: cha, anh và chị Cái mùa đông nặng nề, u ám năm

1969 ấy đã đeo bám ký ức của chị suốt đời khi chị chứng kiến cái chết của anh, nỗi bất lực đến đau đớn của cha: “khuôn mặt méo xệch, đôi mắt trống rỗng như hai lỗ thủng lớn” Chiến tranh gắn liền với sự hủy diệt và cái chết Điều đó đã được khắc họa, mô tả rõ ràng, trần trụi trong hàng loạt tác phẩm

viết về chiến tranh sau năm 1975, như Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai Những

ám ảnh, day dứt trong Chim én bay là cái nhìn, tâm trạng của trẻ thơ trước sự

hủy diệt ấy: “Tong cuộc đời mỗi người, có rất nhiều điều đáng ghi xương khắc cốt Đối với chị, đó là những cái chết thảm khốc của những con người ruột thịt” Đó là cái giây phút chiếc khuyên ở ngón tay áp út của anh Dương lóe sáng, là đám bụi bám trên đôi mắt còn mở trừng trừng của chị Hảo, là cảm giác trống vắng không sao bù đắp được khi chị từ khu nghĩa địa trở về sau cái chết của cha

Những đứa trẻ như Quy đã phải lớn nhanh trước tuổi bởi mối thù đè nặng trong tim, trong óc Nghiệt ngã, đau đớn hơn khi những đứa trẻ ấy buộc phải “bức bối và liều lĩnh đến quyết liệt trong hành động, dữ dằn đến khác thường trong ý chí, thuần thục đến kinh ngạc trong việc sử dụng súng đạn” Quy, Thêm, Dũng, Dũng nhỏ…đều ngơ ngác đến tội nghiệp khi bị cuốn vào guồng quay khủng khiếp của chiến tranh, khi phải cầm súng nã đạn vào kẻ thù…ở cái tuổi lẽ ra được cắp sách đến trường, được vui chơi, ca hát… “Bốn năm trời, chị đã bị cuốn vào cuộc sống lẽ ra không nên có ở tuổi thiếu niên của chị Nhưng chiến tranh là vậy Cái không bình thường đã trở nên bình thường Từng có một thời, sự chiếm giết đã trở thành những hoạt động tự nhiên, tất yếu của con người” Cũng từng có một thời, người ta “bình thản

Trang 37

trước cái chết”, “đúng hơn người ta không kịp đau đớn, đã phải gồng lên để đối phó chống trả với những cái chết khác đang nhăm nhe nhằm vào chính bản thân họ”[33, tr 34]

Tác phẩm đặt ra một vấn đề là sự đối lập nghiệt ngã giữa số phận trẻ

em và chiến tranh Đội Chim én gồm những đội viên là những em nhỏ nhưng phải làm nhiệm vụ diệt ác… Tác giả không miêu tả kĩ càng, chỉ kể vài trận đánh của Dũng, Quy…diệt những tên ác ôn, tên phản bội như Sang, Linh cọp, Hai Đích, Giám Tuân…nhưng người đọc vẫn kịp hình dung cuộc chiến đấu nặng nề, căng thẳng và đầy cam go của các em nhỏ với kẻ thù Đặc biệt là Quy Quy từ một cô bé nhạy cảm, nhút nhát, giàu lòng trắc ẩn “không thể nào quen được với máu người”, “không đủ sức làm việc này”… “đã trở nên dày dạn có thể nhìn kẻ thù giãy chết với đôi mắt thật điềm tĩnh” “Hình như họ đã trải qua những gì khủng khiếp nhất, con người trở nên lì lợm, bất chấp tất cả”[33, tr.93]

Gia đình Quy rốt cục chỉ còn trơ trọi mình chị Tổ Chim én của Quy vốn có 3 người: Dũng, Thêm, Quy thì chị lại lần lượt chứng kiến hai cái chết

bi thảm của bạn mình Chiến tranh đã cướp mất của chị những người thân, cướp đi tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng, cướp mất đời con gái khi chị chưa kịp trở thành thiếu nữ và đau đớn dai dẳng hơn, những ngón đòn tra tấn thâm độc của kẻ thù đã cướp mất khả năng làm mẹ của chị “Có thể nói không quá rằng, chiến tranh đã cướp đi tất cả những gì cần thiết nhất cho một đời sống bình thường của chị”[33, tr 20] Quy cũng giống như bao nhân vật bi kịch khác

sau cuộc chiến như Lực trong Cỏ lau, Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh

…nhưng nỗi đau của chị khiến người đọc bị day dứt, ám ảnh hơn, bởi dù ở đâu, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì phụ nữ và trẻ em luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất và ít khả năng tự vệ nhất Chính Quy đã có lần “cảm

Trang 38

thấy đau thắt nơi ngực” Hình như ở đời, có bao nhiêu nỗi khổ, nỗi bất công thì người phụ nữ phải hứng chịu tất cả

Chiến tranh với tất cả những mất mát, đau đớn, dày vò… đã trở thành một quá khứ tàn khốc, bi thảm trong nhân vật Quy để đến hơn mười năm sau,

ở tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, chị phải hứng chịu những hậu quả nặng nề của nó Chiến tranh hiện hình trong những câu mê sảng, co giật “Chị lang thang đi trên những con đường dài hun hút và điều khiến chị sợ hãi là đưới địa ngục, cuộc chiến tranh vẫn chưa chấm dứt Những thắng ác ôn như thằng Giám Tuân, quận phó cảnh sát Thưởng…vẫn còn tác oai, tác quái…”[33, tr.158 -159] Hai tên dân vệ độc ác trong phòng giam của hội đồng xã, những đòn tra tấn dã man của nhà lao Côn Đảo, bộ mặt lạnh lùng, phản bội của Giám Tuân… luôn hiện về trong những con mê sảng khủng khiếp của chị Những giác mơ quái đản ấy hành hạ chị cho đến tận cuối đời

Đối với Quy, “có thể nói không rằng, chiến tranh đã cướp đi tất cả

những gì cần thiết nhất cho một đời sống bình thường của chị Lẽ ra chị có thể hoàn toàn thanh thản trước quá khứ Nhưng không hiểu sao chị lại trăn trở bức xúc muốn tìm lại nhà những thằng ác ôn bị chị giết chết hơn mười năm trước”[33, tr.20] Cuộc sống hiện tại của chị không hoàn toàn nhẹ nhõm khi chị vẫn đau đáu muốn đi tìm câu trả lời về cuộc sống gia đình của những tên

ác ôn chị đã giết hiện nay ra sao Chị sống tựa như để đeo đuổi một trách nhiệm với đời sau cùng nhất, bỏ qua cái bản thân cá nhân chị đang có được: đại biểu Quốc hội, Anh hùng lực lượng vũ trang Vả lại những thứ địa vị đó không đưa lại cho chị một sự thư thả trong tâm hồn, cũng không đưa lại được những khát vọng bình thường của người phụ nữ không được một lần làm vợ, làm mẹ

Thứ khao khát bất thành trong cuộc sống hiện tại là một thú bi kịch trực tiếp nữa của người lính, qua đó cho thấy sự nới rộng biên độ phản ánh của đề

Trang 39

tài chiến tranh trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Tính dân chủ đã được phát huy đưa chúng ta có cơ hội nhìn rõ hơn, chân thực hơn, khách quan hơn về chiến tranh khi kéo số phận của cộng đồng vào trong từng sự “nếm trải” của

số phận cá nhân Tiểu thuyết chiến tranh đã thể hiện một quan niệm không đơn giản xuôi chiều về con người, từ khát vọng khám phá con người ở nhiều thang bậc giá trị, đến những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều kích khác nhau

Chúng ta thấy, suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, luôn bắt gặp chị trong những dằn vặt, day dứt, những do dự, phân vân bắt nguồn từ sự giằng co giữa

ý thức giai cấp và tình người, giữa hành động và suy nghĩ, giữa lí trí và bản năng Như bao người lính chiến đấu vì Tổ quốc, vì lí tưởng, chị không bao giờ hối tiếc vì những việc mình đã làm, “nếu phải sống lại những năm tháng

cũ, chắc chắn chị vẫn sống như thế”, “nhưng không hiểu sao chị cứ thấy lòng mình không yên có một cái gì đó ngoài lí trí bắt chị suy nghĩ, trăn trở”[33, tr.130] Để cuối cùng khi phải đối mặt với con cái kẻ thù,như tấm lòng của người mẹ (trong một thân xác đã bị cướp đi khả năng làm mẹ) đã thực sự hạnh phúc khi được bao bọc, che chở cho chúng

Những trang viết về chiến tranh của Nguyến Trí Huân đã thêm một lần nữa tố cáo tội ác của chiến tranh và khẳng định bản lĩnh, sức mạnh phi thường của con người trong chiến tranh Quy – một cô gái bé nhỏ nhưng đầy nghị lực, can trường, đã dám đối diện với nỗi đau, vượt qua nó để trở về với cuộc sống bình thường, với những khát vọng đau đớn, bình dị Chiến tranh là môi trường hủy diệt ghê gớm nhưng nó không thể tàn phá tâm hồn và những phẩm chất tốt đẹp của con người Quy vẫn là một người phụ nữ nhân hậu, vị tha và khao khát được yêu thương Căm thù Giám Tuân nhưng chị không thể bắn hắn bởi đứa bé hắn bế trên tay Chị đã không thể nào còn được làm mẹ vì đã dành lòng yêu thương đứa con nhỏ vô tôi của kẻ thù Chiến tranh nghiệt ngã

và cay đắng như vậy Nghị lực, tình yêu đã giúp chị vượt qua tất cả để có

Trang 40

ngày được trở về, được “đặt chân xuống con đường tràn ngập bóng râm của những vườn dừa đang cho lứa quả đầu tiên”[33, tr.5], được sống một cuộc sống dù ngắn ngủi, đắng chát dù “khó khăn, đơn độc nhưng vẫn đáng yêu, đáng sống biết bao”[33, tr.158]

Chim én bay là một cuốn tiểu thuyết xúc động và thuyết phục người

đọc Dõi theo kí úc của nhân vật Quy, đồng hành với mọi cảm xúc của nhân vật, người đọc có thể nhận thấy thông điệp của tác giả: “Cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ đã để lại trên quê hương chị những hậu quả tinh thần thật nặng nề - những hậu quả mà chị đinh ninh rằng, thế hệ của chị, thế hệ đã trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc ấy không dễ gì có thể khắc phục hết được”[33, tr.163] Những hậu quả tinh thần ấy vẫn tồn tại, dai dẳng tới tận bây giờ, khi đất nước đã trải qua hơn 30 năm thống nhất Đó là nước mắt màu da cam của những nạn nhân chất độc dioxin, là những người lính bị bỏ quên, là những số phận dở dang, cô độc Giải quyết những tồn tại, những bi kịch ấy là ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân Để cuộc sống này không còn những số phận bất hạnh như Quy, để lời bài hát trẻ thơ vang lên ý nghĩa và trong sáng:

“Em mong sao trên trái đất hoa thơm nở bốn mùa

Em mong sao trên trái đất không còn sự chia lìa

Em mong sao trên trái đất mọi con người Như em đây là chim trắng bay giữa trời

Sống để yêu thương…”

Viết về chiến tranh, Nguyễn Trí Huân không nhằm thể hiện những cảm nhận, những nhận thức thuần túy bằng trực giác để đưa ra những nhận xét, những khái quát vội vã và cảm tính, mà bằng một độ lùi cần thiết của thời gian, ông nhìn chiến tranh như một hiện tượng xã hội tổng thể, từ đó có đủ thời gian, tâm thế để kiểm chứng những hậu quả xã hội của nó Tư duy nhận thức lại về chiến tranh vốn nằm trong quy luật phổ biến và vận hành chặt chẽ

Ngày đăng: 10/09/2015, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w