1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất thơ trong văn xuôi nguyễn quang thiều

98 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Thơ Trong Văn Xuôi Nguyễn Quang Thiều
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Huy Dũng
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có lẽ, đến thời điểm này, luận văn của Trương Thị Thường Chất thơ của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều [73] biểu hiện qua những ký ức về làng quê êm đềm chương 1, xây dựng những nhân vật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI

NGUYỄN QUANG THIỀU

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Huy Dũng

Nghệ An, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn “Chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang

Thiều”, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS

Phan Huy Dũng người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy giáo, cô giáo trong Ban giám hiệu, Viện Sư phạm Xã hội, Phòng sau đại học và các phòng ban có liên quan của trường Đại học Vinh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và những người thân

đã luôn đồng hành, động viên và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Vinh, tháng 7 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

2.1 Những nghiên cứu chung về sáng tác Nguyễn Quang Thiều và văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 6

2.2 Những nghiên cứu về chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Đối tượng nghiên cứu 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu 12

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

4.1 Mục đích nghiên cứu 13

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc của luận văn 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DẤU ẤN RIÊNG CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 15

1.1 Sơ lược về hành trình văn học của Nguyễn Quang Thiều 15

1.1.1 Vài nét về con người 15

1.1.2 Những thành tựu văn học đã đạt được 16

1.2 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong bức tranh chung của văn xuôi Việt Nam đương đại 17

1.2.1 Một số xu hướng phát triển đáng chú ý của văn xuôi Việt Nam đương đại 17

1.2.2 Nhìn chung về dấu ấn Nguyễn Quang Thiều trong văn xuôi Việt Nam đương đại 23

1.3 Giàu chất thơ - một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều 30

1.3.1 Khái niệm chất thơ trong văn xuôi 30

Trang 5

1.3.2 Những tiền đề tạo nên chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết

Nguyễn Quang Thiều 33

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36

2.1 Những đề tài mang đậm chất thơ 36

2.1.1 Đề tài làng quê 36

2.1.2 Đề tài về sự phôi pha của các giá trị tinh thần truyền thống 39

2.1.3 Đề tài giấc mơ 41

2.2 Những hình tượng đầy chất thơ 44

2.2.1 Hình tượng những người thân 44

2.2.2 Hình tượng thiên nhiên 47

2.2.3 Hình tượng người đang yêu 50

2.3 Cảm hứng lãng mạn 53

2.3.1 Thi vị hóa vẻ đẹp xưa 53

2.3.2 Ưu tiên thể hiện thế giới cảm xúc của con người 56

2.3.3 Thể hiện niềm ưu tư trước thời gian 58

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3 CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUAN THIỀU NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 63

3.1 Biểu tượng hóa các hình ảnh cụ thể theo cách của thơ 63

3.1.1 Về phương thức biểu tượng hóa trong thơ 63

3.1.2 Những hình ảnh nổi bật được xây dựng thành biểu tượng giàu tính thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 65

3.1.3 So sánh các biểu tượng trong văn xuôi và trong thơ Nguyễn Quang Thiều 71

3.2 Kết cấu nhiều khoảng trắng 72

3.2.1 Những chỗ ngừng đầy ẩn ý 72

3.2.2 “Khảm” yếu tố trữ tình vào mạch sự kiện 75

3.2.3 Những đối thoại đa nghĩa, nhiều âm vang 77

3.3 Lời văn giàu hình ảnh, nhịp điệu 79

Trang 6

3.3.1 Dùng hình ảnh trong lời kể 79

3.3.2 Sự đan xen giữa lời kể việc và lời trữ tình, bộc bạch 81

3.3.3 Cách dùng từ ngữ đầy ấn tượng 82

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.1 Trong văn chương đương đại Việt Nam, một số nhà văn không chịu bó mình trong một thể loại nhất định mà luôn tìm kiếm những sự thể nghiệm khác nhau, luôn trăn trở những cách viết mới, cho nên đã xuất hiện những cây bút đa dạng, độc đáo và tài năng Trong số người viết ấy, Nguyễn Quang Thiều là một ví dụ tiêu biểu Có thể khẳng định, Nguyễn Quang Thiều là tác giả đa tài, nổi tiếng với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, hội họa, phê bình văn học, dịch thuật, biên kịch, viết báo,… Ở lĩnh vực nào, ông cũng tạo nên một diện mạo, định vị một cá tính riêng Chính điều này đã thu hút rất nhiều sự chú ý của độc giả và giới phê bình trong nước và có cả độc giả nước ngoài Bởi vậy, tác giả Nguyễn Quang Thiều là đối tượng đáng được khám phá, tìm hiểu và đánh giá toàn diện

1.2 Không chỉ nổi tiếng ở thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều cũng đã gây được tiếng vang rộng rãi Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều đã trở nên gần gũi, quen thuộc và hấp dẫn bạn đọc từ nhiều năm nay Bằng các tác phẩm văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều đã chứng tỏ là cây bút sung sức, ấn tượng, “cây bút truyện ngắn có nghề” (Bùi Việt Thắng), một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo Thành công đó là kết quả của một quá trình sáng tạo không mệt mỏi của nhà văn, góp phần đổi mới thi pháp văn xuôi đương đại Việt Nam Một trong những điều khiến nhiều người đọc thích thú, say mê văn xuôi Nguyễn Quang Thiều là chất thơ thấm đượm trong đó Chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều được phát lộ từ một cảm quan nghệ thuật đầy sự lãng mạn, tư duy giàu hình ảnh, hình tượng, suy ngẫm và tưởng tượng phong phú và mỹ cảm Chất thơ thấm đẫm trong từng trang văn Nguyễn Quang Thiều được chắt lọc và dồn nén từ

sự trải nghiệm đa dạng trên đường đời, từ những ám ảnh trong tiềm thức cùng những suy ngẫm đậm chất thế sự của ông Còn nữa, để tạo nên chất thơ trong văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều mạnh dạn sắp xếp các đơn vị ngôn từ

Trang 8

theo cách riêng trong việc liên kết các cấp độ văn bản có hiệu ứng thẩm mỹ, đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc

1.3 Những năm gần đây, nhiều tác phẩm văn chương của Nguyễn Quang Thiều đã gây được dư luận sôi nổi Dù nhiệt tình ủng hộ hay gay gắt phê phán, nhìn chung, các ý kiến, ở những mức độ khác nhau, đều khẳng định Nguyễn Quang Thiều là một người viết đa năng, bút lực dồi dào, có ý hướng cách tân bút pháp và bước đầu đã thành công Do đó, các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều có thể khảo sát từ nhiều khía cạnh khác nhau, tiếp cận theo các góc nhìn khác nhau, trong đó có vấn đề chất thơ trong văn xuôi của ông Phân tích chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều, người nghiên cứu có cơ hội hiểu thêm sự giao thoa giữa các thể loại,

loại hình sáng tác Từ những lý do trên, chúng tôi chọn Chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học

ca là thứ tôi mê đắm nhất Bởi đó là nơi tôi được sống thật mình nhất, được

tự do nhất, thậm chí… rồ dại nhất! Thi ca là giấc mơ của tôi” [37] Do đó,

ngoài các diễn đàn giới thiệu, trao đổi, hội thảo theo chủ đề, thơ Nguyễn Quang Thiều được nhiều nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm trong những năm gần đây Nhìn các tập thơ theo diễn trình thời gian, Nguyễn Đăng Điệp

nhận ra trong thơ ông thường xuất hiện các hình ảnh nước, lửa, những cánh

đồng và dòng song Từ đó, nhà nghiên cứu khẳng định: “Thực ra, Nguyễn

Quang Thiều đổi mới thơ ca bằng cách làm rất cổ điển Với anh, đổi mới thơ

ca trước hết là đổi mới cảm xúc […], đổi mới cảm xúc là yếu tính đầu tiên

trong nỗ lực làm mới thi ca” [12, tr.256] Cũng theo Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Quang Thiều đổi mới thi ca bằng cách tạo nên những câu thơ giàu

Trang 9

tính biểu tượng, các liên tưởng khác lạ, từ đó đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc: “Mỗi lần đọc Nguyễn Quang Thiều tôi lại nghĩ về những đối

cực Bên cạnh chất lửa nồng nàn của một hơi thở mạnh mẽ là cái dịu dàng của nước làm nên chiều sâu trữ tình trong thơ anh Và phía sau nhịp đập của những dòng thơ đầy lửa kia là tiếng vỗ của dòng sông, tiếng cựa mình trở dạ của những cánh đồng thiêm thiếp đón đợi bình minh” [12, tr.267] Trong bài

Về tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều, Đông La nhận xét: thơ Nguyễn Quang

Thiều là “một hiện tượng phức tạp nhất từ trước tới nay, […] rất khó hiểu […] Thơ anh không bộc bạch, thổ lộ hoặc thủ thỉ mà anh thường dựng lên những bức tranh, ở đó, anh dẫn người đọc vào những không gian kỳ lạ với rất nhiều luồng lạch, ngõ ngách khác nhau” [31] Cốt lõi trong tư duy thơ của Nguyễn Quang Thiều là: “Bao trùm lên toàn bộ tư tưởng thơ là cái khao khát cháy bỏng một sự vận động biến đổi về phía ánh sáng, về phía tốt đẹp […], về hình thức là thơ hiện đại, nhưng về bản chất cũng mang đậm bản

sắc dân tộc […] Anh viết nhiều về cánh đồng, dòng sông, về ruộng lúa, bãi

ngô, về hoa cải, rau khúc, con châu chấu…” [31] Còn theo Chu Văn Sơn,

thơ Nguyễn Quang Thiều có sự “kỳ bí hoá sự sống, linh thiêng hoá cái đẹp

và long trọng hoá phát ngôn […], kể từ ngày mất ngủ ấy đến nay, hồn cốt mới, diện mạo mới, hành trình mới của thơ Thiều chính là tôn giáo, mà cụ thể là khuynh hướng sử thi tôn giáo” [54] Từ các dẫn chứng thơ cụ thể, tác giả đã lý giải cảm xúc tôn giáo mang chiều kích sử thi trong thơ Nguyễn Quang Thiều là: “Hoảng hốt trước hư vô, thực chất là nỗi sợ hãi trước sự huỷ hoại của đời sống, trước nguy cơ biến mất của đời sống Còn đức tin là

xác tín về một hiện thực của tinh thần luôn chuyển động, sinh nở và biến ảo

Đây là hai nỗi niềm gốc rễ, hai nguyên tố căn bản cấu thành điệu tâm hồn

riêng của Thiều” [54] Còn nữa, đọc tuyển thơ Châu thổ, Lê Hồ Quang đưa

ra nhận xét khái quát: “Nguyễn Quang Thiều được xem là một gương mặt nổi trội và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới xu hướng cách tân thi pháp trong thơ Việt đương đại […] Ông đã xây dựng nên một quan niệm thơ thơ rất khác

Trang 10

[…], ông đã tạo nên một không gian thơ đặc trưng” [49, tr.270-271] Cũng theo Lê Hồ Quang, xuyên suốt thơ Nguyễn Quang Thiều là “một ý thức và

tư tưởng sáng tạo hiện đại, song điều Nguyễn Quang Thiều quan tâm có lẽ không phải là việc thực thực hành các kỹ thuật viết tân kỳ mà là vấn đề trình hiện tiếng nói tinh thần chủ thể trong thơ Chủ thể tính mê đắm hằn lên mỗi trang ông viết biến mọi hiện thực của đời sống trở thành hiện thực của nội tâm và xúc cảm nồng nhiệt” [49, tr.289] Như vậy, Lê Hồ Quang [49], Đông

La [31], Nguyễn Đăng Điệp [12] và cả Chu Văn Sơn [54] đều thống nhất

nhận xét Nguyễn Quang Thiều mới lạ trong trình hiện tiếng nói tinh thần,

cảm xúc trong thơ Đó là nỗ lực đổi mới thơ đương đại của Nguyễn Quang

Thiều, và lộ trình thơ của ông, theo Đoàn Ánh Dương [10] là đi về phía

sáng: “Con đường thơ ấy có hai làn song song ngay từ khởi thuỷ: dân tộc và

hiện đại Chỉ có điều, không phải đấy là hai làn ngược chiều Có một nỗ lực đổi mới chung làm thành nền tảng cho cả hai làn đường ấy: những cách tân

về vật liệu và hình thức Ngôn ngữ văn xuôi và chất văn xuôi đổ bộ vào thơ Nguyễn Quang Thiều làm nên cả những điều khả thủ và giới hạn của nó” [10, tr.204] Đây là một đánh giá hợp lý, khách quan về thế giới thơ Nguyễn

Quang Thiều, khác xa với vài ý kiến cho thơ Thiều là thơ dịch xổi, thơ tân

con cóc [19]

Ở lĩnh vực văn xuôi, đến nay đã có nhiều bài bài báo, nhiều công trình khảo cứu về truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thiều Trong các bài viết về truyện ngắn sau 1975, các tác giả như Lê Thị Hường [28], Bùi Việt Thắng [65], Nguyễn Bích Thu [67],… đã bàn đến những khía cạnh cụ thể trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Chẳng hạn, nghiên cứu

cách kết thúc truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông, Lê Thị Hường cho “cách

kết thúc của Nguyễn Quang Thiều tiêu biểu cho kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay và là mô hình kết thúc phổ biến” [28] Luận văn của Tăng Thị

Hoàn bàn về Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn thể loại [25] là

công trình đi sâu tìm hiểu nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn

Trang 11

Quang Thiều Từ những phân tích và lý giải khá thấu đáo, tác giả đã góp phần chứng tỏ “Nguyễn Quang Thiều không chỉ thành công trên lĩnh vực thơ ca mà còn là một cây bút văn xuôi tài hoa, một tác giả của những truyện ngắn có giá trị nghệ thuật và mang ý nghĩa nhân văn” [25, tr.4] Nguyễn Thị

Sen với Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều dưới góc nhìn trần thuật học

[53] đã tiến hành khảo sát nghệ thuật trần thuật qua các truyện ngắn từ các phương diện người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, kết cấu tác phẩm, cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Công trình của Nguyễn Thị Sen đã “đem lại một cái nhìn khái quát về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều […] thấy được những giá trị nội dung và nghệ thuật, những tìm tòi đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều” [53, tr.5]

Về thể loại tản văn, Nguyễn Quang Thiều có Người kể chuyện lúc

nửa đêm và những giấc mộng chứa đựng những suy tư và trăn trở về cái hữu

hạn của kiếp người, chắt lọc những trải nghiệm quý báu trong cuộc đời của nhà văn Theo Nguyễn Đăng Điệp, qua các bài tản văn: “Tác giả đã khắc hoạ một không gian âm tính rõ nét Văn phong của Nguyễn Quang Thiều là

sự giao thoa giữa trường phái văn học hiện đại và hậu hiện đại” [46] Còn Chu Văn Sơn chia sẻ: “Tôi là người đọc văn Nguyễn Quang Thiều rất sớm […] Trong cuốn sách này ta sẽ bắt gặp hàng loạt các sự vật, hiện tượng đối lập nhau cùng tồn tại như bóng tối ánh sáng, sự sống cái chết Dường như Nguyễn Quang Thiều quan tâm nhiều đến phần âm của cuộc sống Nói về nó

là cách anh khơi gợi lên sự phục sinh và cội nguồn của sự sống” [46]

Trong lĩnh vực hội hoạ, tuy chỉ là hoạ sỹ nghiệp dư, Nguyễn Quang Thiều cũng được đánh giá khá cao Nhà văn – họa sĩ A Sáng nhận xét: “Với Nguyễn Quang Thiều, con người của ông hiện lên rất rõ trong những bản hoà sắc của ông Đó là buồn bã và lãng mạn Những bức tranh của ông luôn

mang một sắc thái như thế” [52] Tìm hiểu các bức tranh như Hoa thảo mưa,

Mười cô gái làng Chùa…, tác giả cũng nhận ra: “Ông là nhà thơ nên tranh

Trang 12

của ông cũng đầy chất thơ Mỗi bức tranh hình như ông muốn kể một câu chuyện […] đó là câu chuyện buồn” [52]

Đánh giá về tác giả Nguyễn Quang Thiều, Hoài Khánh đưa ra một ý kiến khá bao quát, cộng gộp nhiều lĩnh vực gồm sáng tạo văn chương và ngoài văn chương: “Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm xúc Trong anh không chỉ có con người bay bổng, ưu tư với những phiền muộn thi ca, mà còn có một nhà báo linh hoạt và nhạy bén” [29]

Như vậy, có thể nói Nguyễn Quang Thiều là một tác giả rất được giới nghiên cứu, phê bình chú ý Loại ý kiến mang cảm hứng khẳng định không chỉ chiếm ưu thế về số lượng mà còn nổi bật ở tính học thuật Rõ ràng, ông

là một khuôn mặt quan trọng của văn học Việt Nam đương đại

2.2 Những nghiên cứu về chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều

Sự xuyên thấm, giao thoa giữa các thể loại là vấn đề quan trọng, đã được nhiều người nghiên cứu trên cả bình diện lý luận lẫn bình diện lịch sử văn học Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu chất thơ trong truyện ngắn và ký của Nguyễn Tuân; chất thơ trong truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,…; chất thơ trong tiểu thuyết Trần Dần, Nguyên Ngọc, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh…; chất hồi ký trong nhiều tiểu thuyết của Tô Hoài; chất thơ trong ca

từ của Văn Cao, Trịnh Công Sơn, v.v Như vậy, biên độ giao thoa giữa các thể loại ngày càng được mở rộng; xu hướng xuyên thể loại bộc lộ ngày càng

đa dạng trong sáng tác của các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn trẻ tài năng Với Nguyễn Quang Thiều, chất thơ có trong hội hoạ, cả trong tạp văn nhưng thấm đẫm nhất là trong truyện ngắn và tiểu thuyết Điều này đã được khẳng định trong một số bài báo, công trình nghiên cứu xuất hiện trong thời gian

gần đây Chẳng hạn, trong bài Một số gương mặt truyện ngắn 1993, Bùi Việt

Trang 13

Thắng đánh giá: “Nguyễn Quang Thiều là cây bút truyện ngắn có hạng hiện

nay […] Mùa hoa cải bên sông, Cái chết của bầy mối, Bầu trời của cha là

những truyện ngắn thấm đẫm chất thơ Bút pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều từ thơ mà ra - tinh tế, bay bổng, giàu chất liên tưởng” [63, tr.175-176] Cũng theo Bùi Việt Thắng, Nguyễn Quang Thiều là “thế hệ thứ ba […] mang vào văn chương và truyện ngắn một sắc thái mới mẻ - tính chất hiện đại trong lối viết bao hàm trong đó nhiều yếu tố vừa hiện thực, vừa trữ tình và kịch” [63, tr.231-232] Những người làm tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, trong lời giới thiệu đầu sách cũng có cách đánh giá tương tự: “Truyện ngắn của anh giàu chất thơ, hơi thở huyền tích, thấm đẫm nhân văn, lại không lạm dụng kỹ thuật nên đi vào tâm hồn người đọc thật tự nhiên, thật đầy đặn” [43, tr.6] Cố nhiên, do giới hạn của một bài báo ngắn, cho nên những đánh giá của các tác giả chưa có sự phân tích và lý giải cụ thể, thấu đáo từ các “vật liệu” giàu chất thơ trong các tác phẩm của Nguyễn

Quang Thiều Tác giả Thiên Sơn, trong bài Hộp đen Nguyễn Quang Thiều, ở

một mức độ nhất định đã dựa vào một vài chứng cứ trong một số truyện ngắn như chi tiết độc đáo và kỳ ảo, cách kết truyện bất ngờ,… để đưa ra nhận định: “Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu kỳ ảo, chiều sâu nhân văn và triết lý Anh thường tạo ra những chi tiết đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết” [56]

Trong bài báo Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau

1975, Đinh Trí Dũng khẳng định: “Chất thơ thấm đẫm trong các truyện ngắn

Nguyễn Quang Thiều ngay từ tiêu đề […], hoà trộn tài tình cái ảo vào cái thực, thể hiện sâu đậm chất cổ tích giữa đời thời thường […], luôn tràn đấy

hy vọng và niềm tin vào những điều tốt đẹp” [9, tr.151] Tác giả chỉ nêu mấy nhận xét khái quát, bởi lẽ, bài báo bàn về chất thơ trong sáng tác của cả một thế hệ nhà văn; bên cạnh Nguyễn Quang Thiều còn là Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương, Quế Hương, Đỗ Bích Thuý Có thể kể

Trang 14

thêm, khi tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn sinh thái, luận văn của Nguyễn Thị Thu Hằng [20] cũng nhấn mạnh Nguyễn Quang Thiều có bút lực dồi dào, truyện ngắn giàu chất thơ; bên cạnh nguồn mạch sinh thái là chất thơ thấm đẫm Có lẽ, đến thời điểm này, luận văn của

Trương Thị Thường Chất thơ của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều [73] biểu hiện qua những ký ức về làng quê êm đềm (chương 1), xây dựng những

nhân vật mang màu sắc cổ tích (chương 2), cái nhìn về chiến tranh (chương

3) là đáng kể nhất Công trình này xem xét chất thơ của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều theo định hướng có tính hệ thống Nhưng trên thực tế, việc nghiên cứu bị nghiêng lệch; chất thơ chỉ khảo sát ở mặt nội dung, do đó, khi không xem xét chỉnh thể thẩm mỹ gồm nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ với nhau thì chất thơ sẽ bị hạn chế về ý nghĩa và thẩm mỹ Thêm nữa, các kết quả của luận văn chủ yếu khảo sát các vấn đề trên như là những khía

cạnh nội dung chứ chưa dựa vào đặc trưng của thơ, chưa bám vào các vật

liệu có tính thơ để làm nổi rõ chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Quang

Thiều Bởi vậy, vấn đề chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều cần tiếp tục có những công trình nghiên cứu toàn diện hơn, thấu đáo hơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất thơ trong các sáng tác văn

xuôi của Nguyễn Quang Thiều

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Dù tên luận văn chỉ định một phạm vi nghiên cứu - khảo sát khá

rộng, nhưng do những bó buộc về thời gian và trình độ bản thân, trong công trình này, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát, đánh giá những biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều và hiệu quả thẩm mỹ mà nó mang lại Tư liệu khảo sát chính là 37 truyện ngắn trong

tập Mùa hoa cải bên sông, Nxb Hội nhà văn, H 2012; tiểu thuyết Cỏ hoang,

Trang 15

Nxb Công an nhân dân, H 1991 Dĩ nhiên, chúng tôi không bỏ qua các tập tản văn của Nguyễn Quang Thiều và sẽ nhắc đến chúng, phân tích chúng trong những trường hợp cần thiết

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, lý giải và làm sáng tỏ chất thơ là để nhận thấy rõ hơn sức hấp dẫn nghệ thuật của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều Thêm nữa, từ các biểu hiện chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều, góp phần làm nổi rõ tính chất giao thoa giữa các thể loại trong bối cảnh sáng tác văn chương đương đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn xác định phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Khái quát về vị trí của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong văn xuôi Việt Nam đương đại

- Phân tích, đánh giá chất thơ của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều ở các phương diện thuộc phạm trù nội dung

- Phân tích, đánh giá chất thơ của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều ở các phương diện thuộc phạm trù hình thức nghệ thuật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Dùng phương pháp hệ thống - cấu trúc để xem xét chất thơ ở từng phương diện cụ thể của sáng tác và ở toàn bộ văn xuôi Nguyễn Quang Thiều với tư cách là một chỉnh thể lớn

- Dùng phương pháp loại hình nhằm xác định đặc điểm của truyện ngắn, tiểu thuyết (hay văn xuôi nói chung) và thơ, tạo cơ sở nhận diện tính thơ có trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều

Trang 16

- Dùng phương pháp so sánh để so sánh Nguyễn Quang Thiều với một

số tác giả cùng thời như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư,… để làm nổi bật nét riêng của đối tượng nghiên cứu mà luận văn đã xác định

- Dùng các thủ pháp phân tích, tổng hợp nhằm nhận diện, đánh giá những biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều (nhất là trong truyện ngắn và tiểu thuyết)

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Tổng quan về dấu ấn riêng của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong văn xuôi Việt Nam đương đại

Chương 2 Chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3 Chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 17

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ DẤU ẤN RIÊNG CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Sơ lược về hành trình văn học của Nguyễn Quang Thiều

1.1.1 Vài nét về con người

Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13/ 2/ 1957, tại làng Chùa, tên khác

là thôn Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội; hiện sống tại quận Hà Đông Ông tốt nghiệp đại học ở Cuba,

từng làm việc tại tuần báo Văn nghệ, Tuần Việt Nam (tuanvietnam.vn, thuộc

báo điện tử vietnamnet.vn), Ủy viên Hội đồng thơ; ngoài ra còn đảm nhiệm các chức vụ Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam (khoá 8), Trưởng ban Sáng tác, Giám đốc Trung tâm Dịch thuật văn học Hội Nhà văn Việt Nam (khoá 8), Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á - Phi Hiện nay, ông còn là Giám đốc Nhà xuất bản Hội nhà văn Nguyễn Quang Thiều còn có các bút danh như Trực Ngôn, Vương Thảo, Hạnh Nguyên, Hoàng Lê,…

Nguyễn Quang Thiều bắt đầu viết từ năm 1983, ngày càng chứng tỏ là cây bút đa năng và sung sức, xuất hiện thường xuyên trên văn đàn, có tên trên nhiều trang báo Không chỉ nổi tiếng về thơ, ông còn bộc lộ tài năng trên nhiều thể loại khác và nhanh chóng nổi lên như một nhà thơ trẻ cách tân hàng đầu trong thế hệ của mình Bên cạnh thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng ghi dấu ấn về văn xuôi, tiểu luận, dịch thuật, hội hoạ, làm báo và góp phần quan trọng quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới Ông còn là người tích cực hoạt động, làm cầu nối giữa các văn nghệ sĩ Việt Nam và các văn nghệ

sĩ cựu binh Mỹ

Nhiều người xác nhận, Nguyễn Quang Thiều là mẫu người đam mê,

đam mê với nhiều loại công việc Ông cũng là người rất có ý thức truyền lửa

đam mê cho thế hệ trẻ Ông từng tâm sự: “Hiện nay, tôi vẫn vừa làm công việc quản lý ở nhà xuất bản, vừa sáng tác văn chương, hội hoạ, viết báo, tham gia các toạ đàm nghệ thuật, về quê trồng cây hay gặp gỡ, giao lưu bạn

Trang 18

bè… Bất kỳ khi nào rời công sở, tôi lại có thể chìm ngay vào thế giới nghệ thuật của mình” [37]

Mới bước qua độ tuổi sáu mươi nhưng Nguyễn Quang Thiều là người

đã thành công trên nhiều lĩnh vực, đã gặt hái được nhiều thành tựu trong hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là những thành tựu văn học

1.1.2 Những thành tựu văn học đã đạt được

Nguyễn Quang Thiều đã công bố 10 tập thơ, 20 tập văn xuôi (truyện

ngắn, tiểu thuyết, tiểu thuyết, tản văn, tiểu luận,…) Về thơ, có các tập như

Ngôi nhà tuổi 17, 1990; Sự mất ngủ của lửa, 1992; Những người đàn bà gánh nước sông, 1995; Thơ Nguyễn Quang Thiều, 1996; Nhịp điệu châu thổ mới, 1997; Cây ánh sáng, 2009; Châu thổ, 2010,… Về văn xuôi, có các tập

như Mùa hoa cải bên sông, 1989; Cái chết của bầy mối, 1991; Kẻ ám sát

cánh đồng, 1995; Người nhìn thấy trăng thật, 2003,… (truyện ngắn); Cỏ hoang, 1991, Vòng nguyệt quế cô đơn (1991), Tiếng gọi tình yêu (1993),

(tiểu thuyết); Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng, 2018,… (tản văn); Có một kẻ rời bỏ thành phố, 2010;… (tiểu luận) Những tác phẩm xuất bản gần nhất của Nguyễn Quang Thiều là Trong ngôi nhà của mẹ, 2016; Mùi ký ức, 2017; Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng, 2018; Cô gái áo xanh - những chuyện kỳ bí của làng, 2018 Một số tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được dịch và xuất bản ở nước ngoài Tập thơ The

Women Carry Water (bản Anh ngữ của cuốn Những người đàn bà gánh nước sông) được University of Massachusetts Press xuất bản năm 1997, và

được The National Translation Association of America trao giải thưởng vào năm 1998 Ngoài ra, nhiều bài thơ của ông đã được dịch và đăng trên rất nhiều tập san văn học trên thế giới Hai tập truyện ngắn đã được dịch và

xuất bản tại Pháp: La Fille Du Fleuve (Cô gái của dòng sông, 1997), và La

Petite Marchande De Vermaicelles (Người đàn bà bán bún, 1998) Kết quả

kiểm kê (chưa đầy đủ) cho chúng ta thấy lao động sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều là rất to lớn, hết sức đa dạng và có hiệu quả cao

Trang 19

Chính vì thế, Nguyễn Quang Thiều đã nhận được rất nhiều giải thưởng cao quý về văn học ở trong nước và ngoài nước

Các giải thưởng dành cho tác giả Nguyễn Quang Thiều gồm: Giải

thưởng của Hội nhà văn Việt Nam 1993 (Giải A cho tập thơ Sự mất ngủ của

lửa); Giải thưởng của Hội dịch giả văn học quốc gia Mỹ 1998; Giải thưởng

Changwon KC International Literary năm 2018 của Hàn Quốc; hơn 20 giải thưởng văn học khác trong và ngoài nước Nhưng có lẽ giải thưởng vinh dự nhất đối với Nguyễn Quang Thiều là sự quan tâm, ngưỡng mộ của bạn đọc

cả nước đối với các tác phẩm của nhà văn cùng hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nguyễn Quang Thiều

1.2 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong bức tranh chung của văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.1 Một số xu hướng phát triển đáng chú ý của văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.1.1 Quan tâm khai thác những tầng vỉa mới của hiện thực đời sống đương đại

Sau hơn ba mươi năm đổi mới, văn xuôi Việt Nam có một bước phát triển ở cả hai mặt nội dung phán ánh và hình thức thể hiện và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Trước hết, khác với cái nhìn một chiều, thiên

về ngợi ca minh hoạ trước đây, các truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại có cái nhìn đa chiều về cuộc sống, về hiện thực nông thôn và người nông dân

Các tác phẩm như Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Khách sạn Cánh Đồng Diều (Mạc Can), Bến không chồng (Dương Hướng),… thể hiện sâu sắc thân phận

và bản chất tiểu nông của người nông dân, những mảng tối sáng đan xen, sự

vô cảm và trả giá, những được mất có khi vô nghĩa trong dòng chảy thời gian, những dự cảm lo âu về con đường đi lên của làng quê Việt Nam,…

Các nhân vật trong Đời khổ (Nguyễn Khải), Người bị ruồng bỏ (Ma Văn Kháng), Luân hồi (Tạ Duy Anh), Nghiệp chướng (Võ Thị Hảo)… không còn

Trang 20

sơ lược, đơn tuyến như trước đây mà được mở rộng, bao quát cả cuộc đời với chiều sâu số phận gắn với những luật đời, nghiệp chướng, những thăng trầm số phận con người, kiếp người giữa phong ba cuộc đời Nhân vật và cốt truyện không chỉ là những cá thể mà có khi là cả một gia đình, một dòng họ, một thời đại đan xen nhiều số phận, nhiều tuyến nhân vật gắn với những nỗi niềm, buồn vui, thăng trầm, được mất, thành bại, sang hèn, vinh nhục,… trải rộng trong không gian, thời gian Điều này có trong các tác phẩm như

Không có vua, Giọt máu (Nguyễn Huy Thiệp), Bước qua lời nguyền (Tạ

Duy Anh), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Mảnh đất lắm người

nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),…

Có thể nói, từ sau đổi mới, văn xuôi, trước hết là truyện ngắn và tiểu thuyết, mạnh dạn phản ánh nhiều vấn đề nóng bỏng của đời sống Không khí của văn xuôi không còn là những tiếng reo ca hân hoan nồng nhiệt mà nỗi băn khoăn day dứt, là tiếng thở dài số phận, là nỗi bất an thời bình, là nỗi

buồn cao cả, là nỗi bơ vơ đông đảo Các nhân vật có nội tâm phức tạp hơn,

có ý thức tự vấn về bản thân, về số phận, về cuộc đời, về quá khứ, hiện tại

và tương lai Đó là trạng thái cô đơn của những người vợ có chồng lâm trận

không trở về (Hai người đàn bà xóm Trại của Nguyễn Quang Thiều); là nỗi day dứt, ám ảnh của một vị tướng lạc lõng giữa đời thường (Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp); là nỗi buồn được mất trong chiến tranh (Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh),… Ngoài ra, những vấn đề về con người tự

nhiên, bản năng, giới tính, tính dục, sinh thái môi trường,… cũng được phản ánh chân thực và kịp thời trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại Văn xuôi, với các thể loại chính là truyện ngắn và tiểu thuyết tiếp tục khai thác đề tài lịch sử theo một tinh thần mới, có những góc nhìn mới Nhân vật và các sự kiện lịch sử được nhìn nhận khách quan, khoa học, công bằng và phù hợp giữa truyền thống và hiện đại Nhân vật lịch sử có cả bóng tối và ánh sáng, mặt xấu và tích cực, có những suy nghĩ và hành động tốt

đẹp khi vận nước chông chênh (Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Bão

Trang 21

táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải,…) Một số tác phẩm còn đề cập đến

vấn đề nền móng văn hoá dân tộc, văn hoá làng xã, sự dung hợp giữa tinh hoa đạo Phật, đạo Nho ngoại nhập và tín ngưỡng của dân tộc từ ngàn xưa

(Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh,…)

1.2.1.2 Chú ý đào sâu vào tính phức tạp của con người cá nhân

Khi tư duy nghệ thuật thực sự đổi mới thì con người xã hội, khuynh

hướng sử thi nhạt dần, nhường chỗ cho khuynh hướng thế sự và đời tư; hiện thực tô hồng được thay thế bằng cảm hứng phản tư; sự hấp dẫn của con

người đoàn thể đồng phục được thay bằng con người cá nhân riêng lẻ, phức

tạp Khi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi, văn xuôi đương đại Việt Nam xuất hiện nhiều tác phẩm mang cảm hứng về con người cá nhân, lấy con người các nhân làm trung tâm để từ đó xác lập các hệ giá trị Trước thập niên chín mươi, truyện ngắn và tiểu thuyết đã bắt đầu quan tâm đến con người cá nhân gắn liền với những nhu cầu của đời sống riêng tư, những băn khoăn trăn trở trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Nhưng từ thập niên chín mươi cho đến gần đây, văn xuôi đã có những khám phá tự giác vào chiều sâu bản thể con người, có những khắc hoạ con người cá nhân từ nhiều phương diện, nhiều tầng nấc Bi kịch cá nhân được các tác phẩm văn xuôi lý giải, một mặt, gắn với áp lực của cộng đồng, của lịch sử; mặt khác, gắn với chiều sâu bản ngã: con người cô đơn, cô độc, lạc loài, tự nhiên, bản

năng, vô thức,… (Một cõi nhân gian bé tí của Nguyễn Khải, Đám cưới

không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Không có vua của Nguyễn Huy

Thiệp, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh của Báo Ninh,

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,…) Càng ngày,

con người cá nhân có thêm sắc thái mới: con người được nhận thức trong tính phức tạp, có nguy cơ nhoè mờ cá tính, cô độc, mất phương hướng, không có khả năng giao cảm Nguy cơ cái tôi cá nhân nhoè mờ, bị biến mất xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, Thuận, Nguyễn Ngọc

Tư, Đoàn Minh Phượng,…

Trang 22

Tính phức tạp của con người cá nhân được các nhà văn khai thác và tái hiện từ nhiều phương diện, nhiều tầng vỉa khác nhau Biểu hiện dễ nhận biết nhất là khai thác con người tự nhiên, bản năng - một biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người không tìm thấy trong văn học trước đổi mới Các nhà văn đã đi sâu khai thác bản chất người, khơi sâu con người bản năng, trong đó có bản năng tính dục, bản năng tính dục và những hoạt động tính giao và xem đó là đối tượng thẩm mỹ đặc thù trong sáng tạo văn

chương Các tác phẩm như Bến không chồng (Dương Hướng), Đám cưới

không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân),… là

những dẫn cứ sinh động Có khi, tính dục được sử dụng như một ẩn dụ biểu

đạt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn (Nháp của Nguyễn Đình Tú, Bóng đè

của Đỗ Hoàng Diệu,…) Cùng với con người bản năng là con người vô thức, tâm linh gắn với những giấc mơ và ám ảnh Nhiều nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại gắn với những bi kịch cá nhân, cô đơn, lạc

lõng giữa cuộc đời, không kiểm soát được những hành vi của mình (Nỗi

buồn chiến tranh, Ngồi, Người sót lại của rừng cười,…) Con người cá nhân

gắn với những năng lực bí ẩn như khả năng giao tiếp âm - dương, luân hồi…

xuất hiện trong các tác phẩm Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến trần gian (Lưu Minh Sơn), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),… Một khía cạnh khác của con người

cá nhân được khám phá trong văn xuôi đương đại là con người cô đơn Đó là những nhân vật bị cô đơn và tự cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, lạc thời, bế tắc trước những biến cố của bản thân, gia đình và xã hội, không thể hoà

nhập hoặc tự tách mình ra (Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp, Tấm ván phóng dao

của Mạc Can,…) Bên cạnh con người cô đơn, truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại còn khai thác con người tự ý thức, con người phản tỉnh Đó là tự

ý thức về cái tôi và hành trình tìm kiếm bản thể Các nhân vật trong Bức

tranh, Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm

Thị Hoài), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Nháp (Nguyễn Đình Tú)… là những cá

Trang 23

nhân tự vấn, phản tỉnh về mình, tìm kiếm chính mình, ý thức về sự tự do cá nhân, có ý thức giải phóng những ham muốn thầm kín, những ẩn ức cá nhân Các nhà văn đã để cho nhân vật ý thức về nữ quyền, giới tính, vẻ đẹp thiên tính và theo đuổi những đam mê, vượt qua những khuôn thước của số đông, chịu trách nhiệm trước sự phân rã trong các mối quan hệ gia đình và xã hội

Những biểu hiện này có thể tìm thấy trong các tác phẩm Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Thời gian của người (Nguyễn Khải), Con gái thuỷ thần (Nguyễn Huy Thiệp), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Trí nhớ suy

tàn (Nguyễn Bình Phương), Kịch câm (Phan Thị Vàng Anh),…

1.2.1.3 Thử nghiệm nhiều kỹ thuật viết mới

Văn xuôi Việt Nam đương đại đã thử nghiệm nhiều kỹ thuật viết mới Một trong những thử nghiệm được nhiều người viết thực hiện là sử dụng kỹ thuật dòng ý thức Nếu như trong văn xuôi trước đây, nhân vật thường hay nói, nói nhiều nhưng tương đối ít suy nghĩ thì các nhân vật tự sự đương đại hướng đến chiều sâu nội tâm, luôn suy tư, trăn trở trong cõi lòng

cá nhân thầm kín Trong nhiều tác phẩm như Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Luân hồi (Tạ Duy Anh), Khách

sạn Cánh Đồng Diều (Mạc Can),…, các nhân vật tự tra vấn, phản vấn, đối

thoại với chính mình, đào sâu bản thể con người cá nhân Qua dòng ý thức tuôn chảy của nhân vật, người đọc hình dung được những suy nghĩ, tâm trạng, hành động, thân phận và bi kịch số phận của cá nhân, của dân tộc Cùng với việc sử dụng kỹ thuật dòng ý thức là đổi mới nghệ thuật trần thuật Cách trần thuật trong các truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại là trần thuật

từ nhiều điểm nhìn, từ nhiều góc độ; theo đó, vai phát ngôn linh hoạt trao cho nhiều người, nhiều đối tượng trong tác phẩm Trong các tác phẩm như

Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Vàng lửa, Giọt máu

(Nguyễn Huy Thiệp), Hồn trinh nữ (Võ Thị Hảo), Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… ta thấy vai

trần thuật là ngôi một, ngôi ba, trần thuật bằng nhập vai, bằng dòng ký ức

Trang 24

nội tâm,… Nghệ thuật trần thuật kéo theo những thử nghiệm kỹ thuật kết cấu tác phẩm tự sự Bên cạnh những lối kết cấu truyền thống, nhiều tác giả thử nghiệm kiểu kết cấu theo quy luật tâm lý Theo đó, cốt truyện không được sắp xếp theo một trình tự nhất định mà hết sức lỏng lẻo, nương theo đời sống nội tâm nhân vật với các trạng thái vô thức, mộng mị, hồi ức, tiềm thức,… tạo nên những khoảng mờ không dễ nhận ra Các thủ pháp lắp ghép, đồng hiện, đảo lộn, chêm xen,… được người viết kết hợp sử dụng góp phần tạo nên tính chất đa thanh, đa giọng điệu về nỗi cô đơn, thân phận con người

cá thể và chiều sâu triết lý các tác phẩm trong văn xuôi đương đại Các tác

phẩm như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai),

Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nháp (Nguyễn Đình Tú),… là những ví dụ

xác thực điều đó

Về phương diện tổ chức ngôn từ, văn xuôi đương đại Việt Nam cũng

có nhiều thử nghiệm theo hướng cách tân rất rõ nét Ngôn từ được người

viết biến thành trò chơi theo hướng lộn trái, đảo ngược, rối loạn, phi logic

Trong các tác phẩm tự sự, từ ngữ được sử dụng một cách tuỳ tiện cùng với việc tổ chức câu văn bất quy tắc tạo ra sự trống rỗng, vô nghĩa để thể hiện những độc thoại nội tâm, những dòng ý thức miên man, hỗn độn của nhân vật Kỹ thuật rối loạn ngôn từ làm nhoè mờ hiện tại và quá khứ, thực và ảo, tiềm thức và vô thức nhằm hỗn loạn các diễn ngôn trần thuật trong tiểu

thuyết như Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo

Ninh),… Nếu như, trong văn xuôi trước đây, ngôn từ được sử dụng theo hướng mỹ hoá thì trong văn xuôi đương đại lại được dùng theo hướng dung tục hoá, phi thẩm mỹ; đó là ngôn từ khẩu ngữ, thông tục, thô nhám, ngoa ngắt, chợ búa Cách sử dụng ngôn từ theo tinh thần dân chủ này rất phù hợp với nội dung phản ánh muôn mặt đời thường và làm nổi rõ cá tính nhân vật

trong kỹ thuật tự sự Các tác phẩm như Không có vua, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Ngồi, Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Bốn mươi chín

Trang 25

cây cơm nguội (Nguyễn Quang Lập), Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh),… xác

tín điều đó

1.2.2 Nhìn chung về dấu ấn Nguyễn Quang Thiều trong văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.2.1 Thời đại hóa vấn đề làng quê trong bối cảnh sống hiện nay

Nói đến làng quê là nói đến không gian nghệ thuật - một phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai thế giới nghệ thuật, qua đó, góp phần tạo nên chỉnh thể tác phẩm văn học Không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra một điểm nhìn, một cách nhìn độc đáo, biểu

hiện mô hình thế giới của tác giả [57] Trong văn học Việt Nam, làng quê là

kiểu không gian nghệ thuật rất đặc trưng Làng quê Việt Nam vừa là đơn vị hành chính cơ sở, vừa là môi trường sinh thái nhân văn - văn hoá; đồng thời,

là nguồn cảm hứng sáng tạo của các nhà văn Đối với Nguyễn Quang Thiều, không gian làng quê và cái làng Chùa cụ thể quê ông trở thành đề tài đầy ám ảnh và nguồn cảm hứng thẩm mỹ mãnh liệt trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của ông Cũng như nhiều nhà văn khác, làng quê trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều là những mảnh ký ức lắng đọng, là những kỷ niệm vui buồn của tuổi thơ ùa về Trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều, ta bắt gặp con sông Đáy, làng Chùa và những người làng Chùa, những món ăn làng Chùa, rồi hình ảnh dòng sông, cánh đồng, ao làng, cổng làng, chùa làng,… gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ của nhà văn Nhưng không như một số tác giả khác, Nguyễn Quang Thiều không chú tâm vào những hồi ức, kỷ niệm tuổi thơ, không chủ ý trần thuật hồi cố những chuyện

quá vãng mà hướng mạch tự sự vào khung cảnh hiện tại để nhìn ra nhiều vấn

đề của làng quê trong xu thế đô thị hoá, thị trường hoá Có khi, Nguyễn Quang Thiều gợi dẫn vài kỷ niệm đầy cảm xúc về con sông Đáy, về làng Chùa nhưng chỉ làm phông nền để ông tâm sự, trăn trở về cái hữu hạn của kiếp người, về sự phục sinh và nguồn cội của cuộc sống Trong nhiều trang văn của ông, hình ảnh con sông Đáy và làng Chùa trở đi trở lại như một ám

Trang 26

ảnh, chứa đựng những suy nghĩ và trăn trở rất riêng của nhà văn Từ những trải nghiệm quý báu được chắt lọc suốt thời thơ ấu ở làng quê cho đến tuổi trưởng thành ngao du khắp chốn, ông suy tư, trăn trở về những thăng trầm, biến đổi của đời người, về cái hữu hạn của kiếp người, về chuyện làm ăn, về những đổi thay của quê hương, về những được mất trong gia đình, làng xóm, trong quan hệ nghĩa tình, trong giao đãi,… ở thôn quê Tất cả những tâm sự

đó, Nguyễn Quang Thiều đều kín đáo trao gửi trong các cảnh vật, sự kiện,

con người quê ông Khi ông gợi nhắc về một mùa hoa cải Mùa hoa cải bên

sông), những bụi hoa tầm xuân (Khúc hát của dòng sông), một cánh đồng cỏ

(Cỏ hoang), một cánh đồng rau khúc (Hương khúc nếp cuối cùng) hay những cánh rừng rau dại (Cỏ hoang),… thì đâu chỉ là hoài niệm về tuổi thơ

gắn với làng quê mà điều ông muốn nhắn gửi là phải bảo vệ vẻ đẹp thiên nhiên muôn đời Khi làng quê trên đường hiện đại hoá, đô thị hoá thì đường làng, ngõ xóm dành cho kín cổng, cao tường, bê tông hoá mọi nơi mọi chỗ, còn đâu cho không gian của hoa cải, tầm xuân, rau khúc, cho cây cối xanh tươi Có thể làng quê hiện nay sạch sẽ hơn, văn minh hơn, có phần đổi mới hơn nhưng cái không gian tự nhiên cùng với những vẻ đẹp thiên nhiên gần gũi với con người lại không được gìn giữ Khi Nguyễn Quang Thiều dành nhiều trang văn để nhớ lại, kể lại các món ăn của làng như bánh đúc riêu cua, ốc xào chuối, cà dầm tương, các món gỏi độc nhất vô nhị, các món bánh, mâm cỗ ngày thường và các ngày lễ tết,…, nhà văn đâu chỉ tự hào khoe với bạn đọc những đặc sản truyền thống quê hương mà ông còn muốn nhắc nhở mọi người phải giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đó Theo ông, khi đời sống khá lên, bên cạnh các món ăn hiện đại, các món ăn truyền thống vẫn còn nhưng cảm hứng, hồn cốt để nấu và ăn các món đó không còn nữa Cái thiếu ấy không phải là thiếu một món ăn mà thiếu một điều gì đó thiêng liêng Đó chính là nghi lễ của lòng tôn kính và biết ơn đối với tiền nhân, ông bà, cha mẹ và ân nhân của mình Điều này đã chạm sâu vào tâm thức người đọc, khơi gợi tâm thức cộng đồng của người đọc; đồng

Trang 27

thời xác tín văn chương Nguyễn Quang Thiều có chiều sâu văn hoá Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều, bên cạnh những tình cảm bạn

bè nồng ấm (Hai người đàn bà xóm trại), tình cảm cha con, vợ chồng gắn bó (Bầu trời của cha), tình yêu trong sáng, thuỷ chung (Tiếng đập cánh của

chim thần),… cũng có không ít tiếng thở dài của nhà văn trước sự xuống cấp

của đạo đức, sự đảo lộn của các quan hệ gia đình, làng xóm, của luân thường đạo lý Khi làng quê chuyển mình theo hướng đô thị hoá, thị trường hoá thì nhiều người ở làng, đặc biệt là những người trẻ có khát vọng làm giàu,

mong muốn đổi đời nhanh Những nhân vật như Ca, Biền, Phi… (Cỏ hoang)

không muốn nghèo đói trên mảnh đất của mình; họ sẵn sàng làm giàu trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, bất chấp tất cả: “Thời này làm gì có đức hạnh Đức hạnh thuộc về những kẻ không đức hạnh nhưng giàu có” Lối sống này,

dĩ nhiên là đáng khinh bỉ, nhưng chúng ta không có quyền ngăn cấm họ làm giàu Một nghịch lý mà Nguyễn Quang Thiều nêu ra là người ta thương xót những kẻ nghèo khó nhưng lại căm thù, ghen ghét những kẻ giàu có hơn mình Còn nữa: “Người làng Chùa chúng ta thật trong sạch và nhân hậu, chúng ta biết cái gì đáng yêu, cái gì đáng ghét Nhưng chúng ta tự mình trói mình trong khuôn mẫu đạo đức cũ mòn Chúng ta chịu để mất tình yêu, chịu

để mất lòng khao khát đích thực của chúng ta còn hơn để mang tiếng là

người đánh mất đạo đức Một thứ đạo đức tồi tệ không kém gì tội ác” Đây

là một vấn đề khá phức tạp ở làng quê trong bối cảnh hiện nay, rất cần một lời giải kịp thời và thoả đáng Một trong những lời giải cho vấn đề trên là bài học về tinh thần đoàn kết, là phải tạo ra sức mạnh tập thể, phải đồng tâm

hiệp sức thì công việc mới thành công (Con chuột lông vàng)

1.2.2.2 Khai thác sức mạnh của ký ức

Chỉ nhìn riêng loại hình văn xuôi, quả thực Nguyễn Quang Thiều cùng với Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Đình Tú… là những gương mặt nổi trội của văn đàn Việt Nam đương đại Giữa những người viết đầy tài năng ấy, Nguyễn Quang

Trang 28

Thiều vẫn tạo được dấu ấn khác biệt trong bút pháp, đó là, các con chữ của ông như đi ra từ những ám ảnh tiềm thức, vang vọng tiếng dội của ký ức

Gần đây, ông có hẳn một tập tản văn là Mùi của ký ức (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí

Minh, 2017) Tác phẩm này dường như xác nhận văn chương của ông khởi phát từ ký ức, là văn chương của ký ức Ông tâm sự: “Suốt trong những năm tháng ấu thơ cho đến khi rời làng đi học xa, […], tôi lớn lên trong hai thế giới: thiên nhiên hoang dã và lề thói phong kiến […] Phần lớn những gì chúng tôi được học cho cuộc đời sau này là từ thiên nhiên hoang dã ấy và từ những người đàn bà như bà nội tôi, mẹ tôi, các cô, các dì, các chị và những người đàn bà trong làng […] Cho dù ở bất cứ nơi chốn nào trên thế gian này

và cả sau này ở bất cứ nơi chốn nào trong cõi hư vô bất tận, những đứa trẻ vẫn mang theo như mang theo máu trong thân xác chúng ký ức về làng quê của chúng, ký ức về những người đàn bà của làng cùng với những món ăn

họ làm ra để nuôi lớn chúng” Chính nỗi ám ảnh của quá khứ, sự sâu đậm của những mảnh ký ức tuổi thơ cùng với sự luân phiên đi về giữa làm thơ và sáng tác văn xuôi đã định hình một cách viết của Nguyễn Quang Thiều: khai thác đến tận cùng sức mạnh của ký ức Có thể khẳng định hầu hết các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều được hình thành từ sự phục hồi của

ký ức, ký ức của cá nhân trong ký ức của cộng đồng Trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, gần như Nguyễn Quang Thiều làm cái công việc lắp ghép, xâu chuỗi lại những mảnh thời gian quá khứ, hồi cố những kỷ niệm của tuổi thơ, nhớ lại từng sự cố, sự kiện của gia đình, người thân, bạn bè, làng quê của ông Thời gian đã làm biến đổi bộ mặt làng quê, làm biến dạng bức tranh nông thôn, làm thay đổi số phận, cuộc sống của con người Với Nguyễn Quang Thiều và mọi người, nhiều thứ bây giờ chỉ là hoài niệm rằng

ngày ấy…, thủa ấy… Không cần tìm vẻ đẹp đâu xa, không chỉ khai thác vẻ

đẹp hiện tại, Nguyễn Quang Thiều đi tìm vẻ đẹp của tình người chân thật, tình bạn gắn bó máu thịt, tình yêu trong sáng, thuỷ chung, son sắt của một thời tuổi trẻ của những người đàn bà làng ông Tuổi già, họ nương tựa vào

Trang 29

nhau, yêu thương nhau vì họ có một thời tuổi trẻ rất đẹp, thật cao thượng

(Hai người đàn bà xóm Trại) Là người cầm bút, nhà văn chỉ có tiếng nói

Tiếng nói của Nguyễn Quang Thiều có nhiều cung bậc, nhiều dư âm nhưng đều bắt nguồn từ những hoài niệm, những mạch nguồn ký ức cá nhân Đó là hình ảnh người lính từ chiến trường trở về quyết định dành phần đời còn lại

để trồng thông phủ kín các đồi trọc thực hiện một lời hứa thiêng liêng với đồng đội; bởi ở những quả đồi trọc này, năm 1972, sau một trận đánh, cả tiểu đội chỉ sót lại một người, đó là ông Nỗi ám ảnh trước sự hy sinh anh dũng của đồng đội, nỗi nhớ thương các bạn chiến đấu đã thôi thúc người

lính thực hiện một nghĩa cử cao đẹp (Lời hứa của thời gian) Đó là câu

chuyện hơn hai mươi năm trước, chàng trai chỉ vì cô gái (hai người ở dưới hầm bí mật mà bọn địch đang vây quanh, quyết bắt bằng được) thích mùi hương tầm xuân, gần sáng mở nắp hầm bí mật để hái một chùm tầm xuân và anh bị địch bắt Sự lựa chọn giữa sự sống và cái chết thật đơn giản, dễ dàng

và dứt khoát (Người với hoa tầm xuân) Đó là những năm tháng tuổi học trò

đói khát quanh năm, thèm từng sợi bún với mắm tôm ở một thị trấn nhỏ Cái đọng lại trong ký ức là sự sẻ chia, lòng thơm thảo của những người lao động

nghèo cho nhau một miếng khi đói (Thị trấn những cây bàng cụt) Đó là câu

chuyện một cô gái mù hằng đêm kể chuyện trăng đêm nay đẹp cho một chàng trai mù ở một bến sông quê, bởi hai người đều thèm ánh sáng, đều

khao khát một ánh trăng đêm (Người nhìn thấy trăng thật) Đó là câu

chuyện buồn của một gia đình nhiều đời bị câm vì một lời nguyền của người

bị hại Trước đây, Chánh Hợi cướp vợ người khác, cướp nhà, cướp ruộng, chuyên gắp lửa bỏ tay người và làm nhục nhiều người nên con cháu nhiều

đời bị câm (Đứa con của hai dòng họ) Đó còn là hương bánh khúc, là

những cánh đồng rau khúc, đồng cỏ ngọt ngào mà tuổi thơ của người viết và

bạn bè cùng lứa nằm lòng như mang theo máu trong thân xác không bao giờ nguôi quên (Hương khúc nếp cuối cùng, Cỏ hoang) Làng quê trong quá

khứ là như vậy đó; tuy chằng chịt nhiều mối quan hệ, nhiều cảnh ngộ, điều

Trang 30

điều oái oăm ngang trái nhưng cũng rất bình dị, chân chất, nhân hậu, vị tha Nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thiều như những mảnh ghép hồi cố lắm đau thương mà không uỷ mị, rất chân thành, không hề tô vẽ; thoạt nhìn có vẻ rời rạc nhưng liên kết lại sẽ cho ta một bức tranh về làng Chùa, về quê hương của nhà văn nói riêng, nông thôn miền Bắc nói chung Tóm lại, Nguyễn Quang Thiều chủ trương khai thác triệt để mạch nguồn ký ức, tạo cảm hứng thẩm mỹ từ việc đào sâu các tầng vỉa của quá khứ để tô đậm vẻ đẹp của cuộc sống hiện tại trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Do đó, có thể khẳng định nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thiều đã làm được điều chiêm nghiệm sâu sắc và khác thường của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Những điều thực sự mới mẻ, thậm chí mới mẻ nhất xuất hiện trong đời sống và cả trong văn học lại thường là đến từ những miền quá khứ không hề được biết tới”

1.2.2.3 Chú trọng vai người kể chuyện giàu ưu tư

Người kể chuyện/người trần thuật là một thuật ngữ của tự sự học Trong một truyện kể, người kể chuyện đồng thời đảm nhiệm hai vai trò: vai trò giới thiệu và dẫn dắt câu chuyện (chức năng trần thuật) và vai trò điều khiển (chức năng kiểm soát) Người kể chuyện xuất hiện khi câu chuyện

được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm, có thể trực tiếp xưng tôi

hoặc xuất hiện gián tiếp qua nhân vật nào đó trong tác phẩm (ngôi thứ nhất

và ngôi thứ ba) Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác

phẩm có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất, xưng tôi Người kể chuyện

được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình Lời trần thuật ở đây còn có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan vật chất, sự việc, con người,…; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác Ngoài việc tác giả trần thuật theo hai dạng thức nói trên, nhân vật còn có vai trò là người kể chuyện Trong truyện ngắn và tiểu thuyết, nhân vật có vị trí rất quan trọng của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng tác

Trang 31

phẩm Chức năng của người kể chuyện là dẫn chuyện, gắn kết các sự kiện, tạo nên quá trình hình thành, phát triển của cốt truyện; qua đó, bộc lộ quan điểm, cách đánh giá của mình về con người, cuộc đời và hiện thực được phản ánh Lời người kể chuyện, có khi tham gia tranh luận, đối thoại cùng nhân vật Lời người kể chuyện gồm lời kể, lời tả, lời bình luận trữ tình

Nếu ở phần lớn các tác phẩm của Tự lực văn đoàn, tác giả gần như đồng nhất với người kể chuyện, và người kể chuyện cũng rất gần gũi với nhân vật chính làm cho văn xuôi gần như chỉ có một giọng thì vai người kể chuyện trong văn xuôi đương đại, trong đó có văn xuôi Nguyễn Quang Thiều đa thanh hơn, phức tạp hơn Trong các truyện ngắn và tiểu thuyết, Nguyễn Quang Thiều đã miêu tả cách nói, lời nói của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ và đã tạo ra các chất giọng khác nhau trong cùng một tác phẩm: giữa giọng người kể chuyện và giọng nhân vật, giữa giọng các nhân vật với nhau; giữa người dẫn chuyện và người kể chuyện/trần thuật, giữa người kể chuyện là tác giả và người kể chuyện là nhân vật ngôi một hoặc ngôi ba,… Sự đa dạng, linh hoạt về vai người kể chuyện trong các tác phẩm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều do sự chi phối của điểm nhìn, của cốt truyện

và nhất quán ở một điểm, đó là chú trọng vai người kể chuyện giàu ưu tư Nhìn chung, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều có cốt truyện đơn giản nhưng ẩn đằng sau là một chuỗi tâm trạng, là nỗi ưu tư khắc khoải của người viết Người đọc dễ nhận ra từ cách triển khai cốt truyện cho đến việc

tổ chức các sự kiện, tình tiết, nhân vật trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của ông thường liên quan chặt chẽ đến diễn biến nội tâm, cuộc sống bên trong Đó là những tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc, những băn khoăn day dứt, những xung đột tâm lý của các nhân vật trước các cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật phải chứng kiến hay phải vượt qua Qua diễn biến nội tâm, nhân vật tự bộc lộ, tự phơi bày bản chất con người thực của mình Do đó, trong nhiều trường hợp, nhân vật của Nguyễn Quang Thiều có những suy nghĩ, ứng xử và hành động bất thường, khác lạ; điều này thường xuất phát từ

Trang 32

những ưu tư, ám ảnh, những giấc mộng,… Đó là nhân vật người cha bắt cả

nhà chỉ sống trong không gian con thuyền và dòng sông, không để gót chân

chạm vào mặt đất đôi bờ, cương quyết đoạn tuyệt với đất liền (Mùa hoa cải bên sông); là cô gái mù, người nhìn thấy trăng thật, bỏ đi khi chàng trai

cùng cảnh ngộ với mình đã nhìn thấy ánh sáng sau ca phẩu thuật (Người

nhìn thấy trăng thật); là nhân vật May, thoát khỏi một gia đình địa ngục, gặp

được một nơi tử tế nhưng lại bỏ đi (Gió dại); là nhân vật Duy có cách sống

tử tế, luôn vì người khác nhưng lại không vị tha trong tình yêu và tự bước

vào vòng tội lỗi, hành động như cỏ hoang (Cỏ hoang),… Nhiều nhân vật của

Nguyễn Quang Thiều luôn tự dày vò, tự truy vấn mình, luôn sống trong ám ảnh Đó là nỗi ám ảnh vì gương mặt xấu xí của nhân vật Ngần khi đón nhận

tình yêu của Thư (Chiếc lông chim màu đỏ); là nhân vật tôi như người mộng

du mỗi khi nhớ lại câu chuyện về con đò có anh Trương Chi xuất hiện trên

sông Đáy do ông Tường và người làng kể lại (Khúc hát của dòng sông); là nỗi thao thức, dày vò của nhân vật Biển trước câu hỏi tại sao người ta lại

vứt con mình đi (Trái tim rắn); là nỗi dằn vặt, khắc khoải bao đêm của Lê

trong những ngày phải làm vợ thằng Ca (Cỏ hoang); là chị Thuỳ sống trong

lo âu và âm thầm sinh con khi chưa kịp làm đám cưới, mà người lính ngoài mặt trận lại không trở về nữa, hằng đêm, chỉ còn bên chị một tiếng gọi mơ

hồ của tình yêu (Tiếng gọi cuối mùa đông),…

1.3 Giàu chất thơ - một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều

1.3.1 Khái niệm chất thơ trong văn xuôi

Muốn xác định khái niệm chất thơ trong văn xuôi, cần phải xuất phát

từ đặc trưng thể loại thơ và văn xuôi, chất thơ và chất văn xuôi Theo Từ

điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc

sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [17, tr.309] Như vậy, đặc trưng cơ bản của thơ là biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có

Trang 33

nhịp điệu Từ những đặc trưng này mà xuất hiện khái niệm chất thơ để chỉ những sáng tác văn học bằng văn vần hoặc văn xuôi giàu xúc cảm, nội dung súc tích cô đọng, lý trí và tình cảm kết hợp nhuần nhuyễn, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu Chất thơ là cốt lõi, là yếu tính của thơ Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn từ dựa trên quy tắc tổ chức ngôn ngữ của văn vần, tức

là tổ chức các chất liệu ngôn ngữ trong hiệp vần và nhịp điệu chặt chẽ, cân đối, tạo nên sức quyến rũ và giàu mỹ cảm Thơ lại khai thác triệt để khả năng biểu cảm của ngôn từ, tạo nên sức liên tưởng, ám gợi, lay động người tiếp nhận, người thưởng thức Còn văn xuôi chỉ tổ chức ngôn ngữ như lời nói thường, như dòng ngôn từ tuôn chảy không ngừng, không bị quy định số lượng câu chữ hay vần điệu, nhịp điệu, phối thanh bằng trắc Thơ là loại hình nghệ thuật ra đời rất sớm còn văn xuôi nghệ thuật ra đời muộn hơn nhiều Khi văn xuôi được tổ chức có tính thẩm mỹ cao, nghĩa là có cấu tứ và hình ảnh giàu chất suy tưởng, khơi gợi bất ngờ, chất triết lý thâm thuý, thơ mộng, chất trữ tình sâu lắng, dư ba thì văn xuôi ấy giàu chất thơ, có tính thơ Cũng có thể, khi dòng mạch trữ tình của thơ có thêm không khí trần thuật, miêu tả tự sự người và việc cùng với ngôn ngữ tự nhiên đời thường ùa vào, trong trường hợp này, thơ lại giàu chất văn xuôi, có tính văn xuôi Do đó, khi nghiên cứu chất thơ trong văn xuôi, dù xét trên phương diện lý luận hay thực tiễn là ta thừa nhận có hiện tượng giao thoa, xuyên thấm giữa các thể loại Tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi chính là xác nhận những đặc tính của thơ được văn xuôi tiếp nhận để gia tăng tính biểu đạt nghệ thuật thẩm mỹ của văn xuôi, thể hiện một kiểu cảm thụ đặc biệt, một kiểu tư duy thẩm mỹ

về thế giới nghệ thuật của nhà văn Mỗi khi, trong tác phẩm văn xuôi, người viết ưu tiên biểu hiện cảm xúc, tình cảm, tâm tình chủ quan theo nguồn mạch trữ tình, miêu tả nghiêng về việc nắm bắt những nét tinh tế trong thế giới tâm hồn, tổ chức chất liệu ngôn từ theo hướng giàu nhạc điệu và có tính

mỹ cảm, lúc đó văn xuôi đã chan chứa chất thơ Cũng như trong thơ, ở văn xuôi, chất thơ có thể biểu hiện ở nhiều cấp độ Trước nhất là cấp độ ngữ âm;

Trang 34

đó là việc tổ chức các đơn vị và khai thác các phẩm chất ngữ âm để tạo nên nhịp điệu, tiết tấu, âm hưởng hài hoà, du dương, có tính biểu trưng rõ rệt Cùng với cấp độ ngữ âm là cấp độ từ ngữ Những từ ngữ giàu tính gợi hình, gợi cảm, giàu hình ảnh, cô đọng, đa nghĩa, có khi mơ hồ về nghĩa nhưng giàu sức ám gợi, liên tưởng, có thể mở ra nhiều chiều không gian, thời gian,

và chiều sâu tình cảm Ở cấp độ ngữ pháp và văn bản, đó là việc tổ chức câu văn và giọng điệu linh hoạt, đa dạng, độc đáo, có khi bất quy tắc, mơ hồ, phi logic về ngữ nghĩa Sự liên kết giữa các cấp độ trong văn bản, sự thống nhất chặt chẽ giữa nội dung và hình thức tạo thành một chỉnh thể thẩm mỹ; trong trường hợp đó, mọi vật liệu trong tác phẩm văn xuôi đều giàu chất thơ

Từ góc nhìn mỹ học, chất thơ là cảm hứng thẩm mỹ nhân văn, gắn với cái đẹp Mà cái đẹp có thể do cái sự vật trong tự nhiên hoặc tình cảm, hành động, cuộc sống,… của con người mang lại Người nghệ sỹ tài ba, mẫn cảm và tinh nhạy sẽ tìm thấy chất thơ trong muôn màu của cuộc sống, trong

hương vị của cuộc đời và trong sự đa dạng của tự nhiên Dưới bóng hoàng

lan (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Vợ chồng A Phủ (Tô

Hoài), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành

Long) và nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của Đỗ Chu, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Quế Hương,… nói lên điều đó

Tóm lại, chất thơ là nghệ thuật của sự sáng tạo trong tính chỉnh thể nội dung và hình thức có tính thẩm mỹ Chất thơ, theo nghĩa khái quát nhất,

là sự sự kết tinh của cái đẹp, là biểu hiện của cái đẹp trong thế giới tự nhiên

và cuộc sống con người; là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là khát vọng của con người hướng tới cái đẹp Chất thơ nói chung, trong văn xuôi nói riêng có một ý nghĩa rất lớn trong việc bồi đắp đời sống tinh thần cho con người Tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều sẽ sáng tỏ điều đó

Trang 35

1.3.2 Những tiền đề tạo nên chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều

1.3.2.1 Sự luân phiên giữa sáng tác thơ và sáng tác văn xuôi

Trong số những cây viết cùng thế hệ, Nguyễn Quang Thiều là người

được nhắc với nhiều danh xưng: nhà thơ, nhà văn, dịch giả, hoạ sỹ, nhà báo,,… Ngoài tài năng, vốn sống phong phú, tâm hồn giàu cảm xúc, sự đam

mê chữ nghĩa, Nguyễn Quang Thiều còn có cách lao động nghệ thuật rất riêng Ông từng tâm sự: “Tôi thường vẽ trên sự dội lại của các bài thơ […] Khi cảm thấy thích vẽ nhưng lại không biết nên vẽ gì thì tôi mang thơ ra đọc lại […], ý tứ của bài thơ, câu thơ nào đó sẽ gợi ra cho tôi những hình ảnh, không gian, nhân vật, màu sắc,… Sau đó tôi vẽ theo những tưởng tượng ấy” [37] Do cách làm việc như thế nên tranh của ông giàu chất thơ [52] Còn

nữa, sau một số bài tản văn trong cuốn Mùi của ký ức là một bài thơ cùng

chủ đề, tồn tại như một kết nối đầy cảm xúc Như vậy, lao động nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều có sự đan xen, di chuyển, kết nối liên tục giữa các địa hạt văn chương và hội hoạ, văn xuôi và thơ, sáng tác và dịch thuật, sáng tác và phê bình, văn chương và báo chí,… nhưng cái trục chính là sự di chuyển liên tục giữa văn xuôi và thơ trên cái bản ngã của một nhà thơ Phép

thống kê một số tác phẩm sau đây là một minh chứng: Sự mất ngủ của lửa, thơ, 1992//Cỏ hoang, tiểu thuyết, 1992; Nhịp điệu châu thổ mới, thơ, 1997//Đứa con của hai dòng họ, tập truyện ngắn, 1997; Châu thổ, thơ, 2010//Mùa hoa cải bên sông, tập truyện ngắn, 2012,…

1.3.2.2 Tư duy biểu tượng của một cá tính sáng tạo

Trong thơ cũng như trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều có nhiều thi ảnh và một hệ thống biểu tượng độc đáo, giàu tính sáng tạo Biểu tượng là thuộc tính của văn hoá, tức là ngoài một hình ảnh, một sự vật đã quen thuộc còn gợi thêm nhiều ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa ước định vốn có của nó Ở các mức độ khác nhau, biểu tượng có giá trị thức nhận và ẩn chứa trong nó một ước muốn, một khát vọng Nếu như trong thơ Nguyễn Quang Thiều, làng Chùa với những thi ảnh mang tính biểu tượng như cánh đồng,

Trang 36

dòng sông, lửa, nước, phụ nữ,… thì trong văn xuôi của ông cũng có một hệ thống biểu tượng như cánh đồng, dòng sông, phụ nữ, đêm trăng,… mang tính khái quát, đa nghĩa, thể hiện các giá trị người, giá trị nhân văn, một bước phát triển của mẫu gốc văn hoá làng, vùng đồng bằng Bắc Bộ Đọc các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thiều, ta nhận thấy các biểu tượng tuy được trình bày đôi khi nhoè mờ và hỗn loạn, có khi miên man, hư

ảo trong những giấc mơ nhưng mỗi biểu tượng đều mang một lượng nghĩa

và biểu đạt có chiều sâu của tư duy nghệ thuật giàu tính sáng tạo

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Nguyễn Quang Thiều bắt đầu viết văn từ năm 1983, là cây bút đa

năng và sung sức, thường xuyên có mặt trên văn đàn, báo chí, sân khấu, hội hoạ,… Ông được đánh giá là nhà thơ có tư tưởng cách tân quyết liệt và nhanh chóng đứng hàng đầu thế hệ mình Bên cạnh thơ, đóng góp của Nguyễn Quang Thiều ở lĩnh vực văn xuôi cũng rất đáng kể Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký, ghi chép,… Điều đặc biệt ở Nguyễn Quang Thiều là các thể loại văn xuôi của ông, trong đó, nổi bật hơn cả là truyện ngắn và tiểu thuyết rất giàu chất thơ Chất thơ nói chung, chất thơ trong văn xuôi nói riêng là đặc trưng cốt yếu của phương thức trữ tình, là vẻ đẹp lãng mạn, là cảm xúc, tình cảm thẩm

mỹ, một yếu tố quan trọng làm nên phong cách văn chương của một tác giả, một khuynh hướng sáng tác hay một thời đại văn học Khi nói chất thơ trong văn xuôi, xét về mặt loại hình là thừa nhận có sự giao thoa, xuyên thấm giữa các thể loại Do đó, việc nghiên cứu chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thiều, một mặt giúp ta nhận diện được cá tính sáng tạo của một người viết cụ thể, mặt khác cho ta cơ hội làm sáng tỏ tính chất xuyên thể loại trong các loại hình nghệ thuật Ở các chương tiếp sau, luận văn tập trung làm nổi bật chất thơ trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều (tiêu biểu là truyện ngắn và tiểu thuyết) trên các phương diện nội dung và hình thức

Trang 38

Chương 2 CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU NHÌN TỪ

PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Những đề tài mang đậm chất thơ

2.1.1 Đề tài làng quê

Có thể khẳng định, hầu hết đề tài trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều (nhất là trong truyện ngắn và tiểu thuyết) đều mang đậm chất thơ Bên cạnh những đề tài mới mẻ giàu Nguyễn Quang Thiều rất có ý thức khai thác

và làm mới đề tài làng quê Làng quê và nông thôn trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều có ý nghĩa như một không gian nghệ thuật, là trường nhìn mở

ra một điểm nhìn, thể hiện một cánh nhìn độc đáo của tác giả Nhìn chung, không gian nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều vừa là yếu tố tạo nên chỉnh thể của tác phẩm vừa mang tính biểu trưng, thể hiện quan niệm thẩm mỹ của nhà văn Bởi vì, không gian nghệ thuật trong tác phẩm là không gian được lựa chọn, sắp xếp, tái tạo theo cá tính sáng tạo của nhà văn

và là một yếu tố chuyển tải tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn Làng quê trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều vừa có nét đặc trưng của làng quê Việt Nam vừa có nét thẩm mỹ rất riêng, vừa là làng quê cụ thể, có địa chỉ định danh vừa là làng quê phiếm chỉ - một không gian nghệ thuật, vừa là làng quê hiện tại vừa là làng quê trong hoài niệm ký ức, hồi cố,… Xuyên suốt nhiều tác phẩm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều là hình ảnh làng quê trong ký ức, là hình ảnh làng Chùa quê ông Làng Chùa chủ yếu trong ký ức và trong hiện tại đã trở thành không gian nghệ thuật đầy ám ảnh và thấm đẫm chất thơ trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Chất thơ ấy lắng đọng

và lan toả qua sự gợi dẫn từ những kỷ niệm tuổi thơ, sự khơi gợi từ miền ký

ức xôn xao, sự đào sâu những ưu tư trong tâm hồn đa cảm của nhà văn về một làng Chùa vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa có nhiều ngọt

Trang 39

ngào sâu lắng nhưng cũng nhiều cay đắng nghiệt ngã Làng Chùa vừa là khởi phát, vừa là điểm tựa trong mạch nguồn cảm hứng sáng tạo của Nguyễn

Quang Thiều Nhiều truyện ngắn của ông như Khúc hát của dòng sông,

Người thổi kèn lá dứa, Gió dại, Người đi chợ Vừng,… đều mang tính chất tự

truyện nên làng Chùa chính là nơi lưu giữ những trầm tích văn hoá, phong tục, lề thói, nếp sống, đời sống,… và cả những hủ tục cũng như những đổi thay theo dòng chảy của thời gian mà nhà văn là người chứng kiến, người trong cuộc Làng Chùa trong ký ức tuổi thơ của nhà văn là nỗi ám ảnh ngọn

gió của đói rét Nỗi ám ảnh đói rét được kể ai oán trong thơ Nghe vọng lại

mùa châu chấu đói/ Xoè cánh bay qua vòm họng người nghèo (Cánh đồng)

thì trong truyện ngắn Người thổi kèn lá dứa cũng làm quặn lòng người đọc:

“Cơm độn khoai lang khô Thức ăn chỉ có một bát cà và một đĩa măng tre luộc chấm tương Và những ngày mưa bão, tôi thường đi nhặt măng gãy rồi bóc bẹ, ngâm trong nước gạo cho bớt đắng” [67, tr 60-61 Đó là bữa cơm của một gia đình làng Chùa hơn ba mươi năm về trước dễ làm mủi lòng người đọc Nhưng cuộc sống đói khát, thiếu thốn không làm người làng

Chùa yếu đuối, tự ti Trong Con chuột lông vàng, nhà văn rất tự tin giới

thiệu sinh quán của mình: “Làng tôi xưa gọi là làng Chùa, tuy bây giờ trong khai sinh, trong lý lịch người ta đều đề là sinh quán Hoàng Dương, nhưng dân làng tôi đi đâu bị khảo cũng xưng là người làng Chùa Gọi là Chùa vì trước kia những ngôi chùa chiếm một phần ba làng Đầu những năm sáu mươi, ở làng có chiến dịch phá chùa Người ta tuyên truyền là phá đi tư tưởng mê tín để xây dựng nông thôn mới, tiếp cận với thời đại khoa học kỹ thuật Ngày phá chùa thực sự là ngày hội của làng” [67, tr 266-267] Phải là người có hiểu biết sâu sắc, có sự gắn bó máu thịt, có một tình cảm cao đẹp

và thiêng liêng mới neo giữ nguyên vẹn trong ký ức của mình hình ảnh nơi chôn nhau cắt rốn như thế Trong dòng chảy ký ức của ông, hình thế và cảnh quan làng Chùa hiện lên như một bài thơ không vần: “Làng tôi nằm kề sông Đáy Làng chia làm hai phần Một bên là nhà cửa với những lối ngõ sâu hun

Trang 40

hút mọc đầy cây duối, cây dâm bụt, và những khu vườn nửa như cây ăn quả lưu niên, nửa như vườn hoang Quang làng được bao bọc bởi đồng lúa và những gò đất cao mọc đầy những bụi tầm xuân, bụi cây gai và dứa dại Còn dọc suốt bờ đầm, bờ ao cỏ mọc um tùm và những cây cỏ hoang quấn đầy dây leo Xuyên qua những bụi cây trên khắp bờ ao, gò đất và những bờ rào

là những con đường mòn nhỏ” [67, tr 267-268] Có thể nói, ký ức về làng quê êm đềm, nên thơ luôn hiện lên trên từng trang viết của nhà văn Đây là

xứ sở của cỏ, của hoa, của cây, của chim,… của tuổi thơ mộng mơ và đầy ắp

tình đời, tình người Trong Chiếc lông chim màu đỏ, qua nhân vật Ngần, ông

kể chuyện khu vườn vải của làng là nơi bầy chim trên đường đi tránh rét, mỗi năm chúng nghỉ lại một đêm rồi sáng mai lại bay đi Con chim chúa của đàn chim đã chọn bãi vải của làng làm nơi yên nghỉ, và: “Dân làng chôn con chim dưới gốc cây to nhất, cao nhất và hương khói như đối với một con người Lạ thay, năm ấy làng được mùa vải chưa từng có Và giống vải của quê Ngần to và hơi chua bổng trở nên ngọt và thơm lạ thường” [67, tr 20-21] Chi tiết con chim chúa có vẻ hư ảo, ma mị nhưng câu chuyện đất lành,

có giống vải đặc sản thơm ngon và sự nhân hậu, tình người làng Chùa quê ông là có thật

Đề tài làng quê trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều không chỉ được tái hiện bằng điểm nhìn không gian mà còn có cả điểm nhìn thời gian Bức tranh làng quê nói chung, những kỷ niệm về một làng Chùa cụ thể chủ yếu được hồi cố từ trong ký ức, trong quá khứ nhưng thường gắn với dòng sông, con thuyền, đồng cỏ, ánh trăng,… và xuất phát từ điểm nhìn hiện tại nên không khép kín mà luôn vận động, biến đổi theo thời gian Trên mỗi trang văn, làng quê dù được tái hiện từ trong ký ức và hoài niệm hay từ điểm nhìn hiện tại của một người từng trải đều hiện lên muôn màu sắc lung linh, huyền

ảo và ngổn ngang bao nỗi niềm suy tư của nhà văn Đó là một trong những yếu tố làm nên chất thơ trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Quang

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Văn nghệ quân đội, (1), 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn xuôi gần đây, diện mạo và vấn đề”, Văn nghệ quân đội , (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi gần đây, diện mạo và vấn đề”, "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Bakhtin. M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki , Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
5. Bakhtin. M (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
6. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
7. Nguyễn Việt Chiến (2016), “Thế hệ nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã khẳng định một thời đại mới của thi ca”, trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu , Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế hệ nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã khẳng định một thời đại mới của thi ca”, trong cuốn "Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2016
8. Đinh Trí Dũng (2016), “Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại”, www.phebinhvanhoc.com.vn, 30/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại”
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2016
9. Đinh Trí Dũng (2016), “Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975”, trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu , Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975”, trong cuốn "Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2016
10. Đoàn Ánh Dương (2014), “Nguyễn Quang Thiều đi về phía sáng”, trong cuốn Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều đi về phía sáng”, trong cuốn "Không gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2014
11. Phan Cự Đệ (chủ biên), (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
12. Nguyễn Đăng Điệp (2003), “Nguyễn Quang Thiều: nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông”, trong cuốn Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội. tr. 253-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều: nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông”, trong cuốn "Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
13. Nguyễn Đăng Điệp (2003), “Thơ, nhìn qua một cuộc tranh luận”, trong cuốn Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội. tr. 328-333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ, nhìn qua một cuộc tranh luận”, trong cuốn "Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
14. Nguyễn Đăng Diệp (2012), “Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều”, www.phebinhvanhoc.com.vn, 08/7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều”, "www.phebinhvanhoc.com.vn
Tác giả: Nguyễn Đăng Diệp
Năm: 2012
15. Hà Minh Đức (chủ biên) (1996), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
16. Văn Giá 92016), “Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt Nam sau 1975: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều”, trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu , Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt Nam sau 1975: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều”, trong cuốn "Thế hệ nhà văn sau 1975, diện mạo và thành tựu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
18. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
19. Trần Mạnh Hảo (2012), “Về trường phái thơ tân… con cóc của Nguyễn Quang Thiều”, Tham luận của Trần Mạnh Hảo gửi Hội thảo thơ Nguyễn Quang Thiều, www.nguyentrongtao.info, 19/6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về trường phái thơ tân… con cóc của Nguyễn Quang Thiều"”", Tham luận của Trần Mạnh Hảo gửi Hội thảo thơ Nguyễn Quang Thiều, "www.nguyentrongtao.info
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Năm: 2012
20. Nguyễn Thị Thu Hằng (2017), Truyện ngắn, tản văn Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn sinh thái , Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học khoa học (Đại học Thái Nguyên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn, tản văn Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn sinh thái
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w