Với việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, trong một trường hợp nhà thơ cụ thể, ở hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều, với lối thơ đầy ẩn ý, ma mị, thách thức
Trang 1-
NGUY
–
Trang 2
-
–
-2015)
Trang 3
và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc công
bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Sinh viên Nguyễn Thị Lệ Giang
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa Ngữ văn - Trư ng Đại
học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi được
nghiên cứu, bồi dưỡng tri thức trong suốt quá trình học tập ở
giảng đư ng đại học, giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gởi l i cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Nguyễn
Quang Huy đã tận tâm hướng dẫn tôi những tri thức, phương
pháp nghiên cứu khoa học hữu ích trong suốt quá trình nghiên
cứu
Xin cảm ơn gia đình đã luôn bên cạnh, ủng hộ, cảm ơn bạn
bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt th i gian qua
Chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Lệ Giang
Trang 51 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại 6
4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 7
4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 7
4.4 Sử dụng lí thuyết phân tâm học 7
5 Cấu trúc đề tài 7
CHƯƠNG 1: CHÂU THỔ TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TƯ DUY THƠ HIỆN ĐẠI VÀ VẬN DỤNG LÍ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO NGHIÊN CỨU 8
1.1 Châu thổ trong tương quan với tư duy thơ hiện đại Việt Nam 8
1.1.1 Nguyễn Quang Thiều và quan niệm nghệ thuật 8
1.1.2 Những khuynh hướng tư duy thơ trong Châu thổ 11
1.2 Vấn đề vận dụng Phân tâm học vào nghiên cứu Châu thổ 14
1.2.1 Giới hạn những vấn đề lí thuyết Phân tâm học liên quan 14
1.2.2 Những khả giải từ lí thuyết Phân tâm học như một phương pháp nghiên cứu Châu thổ 24
CHƯƠNG 2: CHÂU THỔ VÀ NHỮNG ÁM ẢNH VĂN HÓA CỘI NGUỒN 27
2.1 Không gian bên ngoài 27
2.1.1 Ảnh tượng thiên nhiên làng chùa 27
Trang 62.2.1 Những ám ảnh không gian tâm linh 39
2.2.2 Những ám ảnh không gian tính nữ 46
CHƯƠNG 3: CHÂU THỔ NHÌN TỪ CẤU TRÚC HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 51
3.1 Những cấu trúc hướng nội và hướng ngoại 51
3.1.1 Những cấu trúc hướng nội 51
3.1.2 Những cấu trúc hướng ngoại 55
3.2 Những phức cảm và huyễn tưởng 57
3.2.1 Những phức cảm 57
3.2.2 Những huyễn tưởng 59
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sau 1975, một thế hệ nhà thơ mới đã trưởng thành và có nhiều đóng góp tiếp nối vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam Đặc biệt từ sau 1986, công cuộc đổi mới đất nước diễn ra toàn diện hơn, Việt Nam hội nhập sâu sắc hơn với thế giới, các nhà thơ cũng được hòa mình vào bầu trời sáng tạo thơ ca tạo nên một diện mạo mới, khác và lạ hơn với những thành tựu nhất định Ở
đó, nói theo Nguyễn Đăng Điệp các nhà thơ không còn phải bó mình trong một kiểu nghĩ, họ đi vào những cuộc phiêu lưu bất tận, ở đó tiếng nói cộng đồng đã nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân để rồi cũng lúc hiện diện nhiều loại hình giá trị Thơ giai đoạn này cũng đạt được những thành tựu chưa thể gọi là thành công rực rỡ nhưng rất đáng ghi nhận với những gương mặt tiêu biểu như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Mai Văn Phấn, Trần Tiến Dũng, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hoàng Minh.v.v
Trong số những cây bút xuất hiện sau 1975, Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng nổi bật với những cách tân mạnh mẽ, táo bạo với một tứ thơ lạ, độc đáo với nhiều chiều dư luận Thơ ông đi sâu vào những vùng không gian nội tâm của riêng mình, thể hiện liên tưởng lạ, là nội lực tiềm ẩn dồi dào với những khoảnh khắc, sự hòa quyện của âm thanh, ánh sáng, màu sắc và là thơ của những ma mị đầy cuốn hút dẫn dụ nhiều độc giả và nhà nghiên cứu tham gia giải mã, khám phá với những bài viết, những nhận định.Tuy nhiên, ở những bài viết đó hầu như là những nhận định ban đầu mà chưa đi sâu vào khía cạnh cụ thể
Lí thuyết Phân tâm học đã hiện diện ở Việt Nam từ những năm 40 của thế kỉ XX, đến nay đã được vận dụng vào nghiên cứu văn học, văn hóa, tộc người và đã chứng minh tính hiệu quả của nó trên những phương diện nhất
Trang 8định Với việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, trong một trường hợp nhà thơ cụ thể, ở hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều, với lối thơ đầy ẩn ý, ma mị, thách thức, và để giải mã là chuyện không
dễ dàng thì dưới lý thuyết phân tâm học, hẳn sẽ có những khám phá mới trong ngôn từ, trong ý thơ của tác giả
Mặt khác, khi đi nghiên cứu vào một đối tượng cụ thể của nền văn học Việt Nam hiện đại sau 1975, chúng tôi hi vọng đây là cơ hội tập dượt việc nghiên cứu, trình bày một công trình khoa học, là bước khởi đầu để bồi dưỡng thêm lượng kiến thức hạn hẹp của bản thân và cũng là để bổ sung kiến thức vào việc giảng dạy sau này Quan trọng hơn, khi đi sâu vào nghiên cứu đề tài, người viết sẽ có nhìn nhận đúng đắn về hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều
và để định vị chính xác một chân dung, một phong cách và những đóng góp tích cực của Nguyễn Quang Thiều trong nền thơ hiện đại Việt Nam để rồi chúng ta có cái nhìn đa diện, sâu sắc, đầy đủ và khách quan hơn về những ý tưởng, những kiến giải cũng như những ẩn ngữ trong sáng tác của nhà thơ
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Như đã nói ở trên, ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, thơ Nguyễn Quang Thiều đã trở thành hiện tượng tạo nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ,
là cây bút hiện đại với lối cách tân táo bạo, đã tạo cho mình sự thu hút, chú ý
và đã được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu, đánh giá Tuy nhiên, sẽ khó
có thể dẫn ra cùng một lúc, dù chỉ là tóm lược về các công trình vì vậy một cách sơ lược, chúng tôi xin mô tả một số nghiên cứu ban đầu xung quanh hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều như sau:
Hội thảo của viện văn học về tập thơ Châu Thổ của Nguyễn Quang
Thiều đã ấn hành công trình Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều,
công trình tập hợp hai mươi bài viết từ hội thảo với cái nhìn đa diện về một
Trang 9hiện tượng thơ và cũng đã có những tổng kết, đánh giá tương đối đầy đủ về sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Đổi mới thơ Việt Nam đương
đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều đã thấy được sự cách tân trong
thơ Nguyễn Quang Thiều, thấy được sự khác lạ về cách tổ chức cấu trúc văn bản, biểu tượng và tất cả những điều đó đều xuất phát từ những cơn mơ hoang
tưởng của Nguyễn Quang Thiều: “Nguyễn Quang Thiều không phải là người
toàn tâm toàn ý đi theo lối “thơ dòng chữ” như Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường, Đặng Đình Hưng thơ anh cũng không lảng bảng khói sương Kinh Bắc như Hoàng Cầm Những người đẹp trong thơ Hoàng Cầm kiêu sa, tình
tứ Còn những người đàn bà trong thơ Thiều thường đẹp đẽ trong tủi nhục, bần hàn Nguyễn Quang Thiều cũng không bứt hẳn ra ngoại vi như nhóm mở miệng sau này Thơ anh nằm giữa trung tâm và ngoại vi là một độc hành ngược gió Rồi từ sự độc hành ấy khai mở một trường thơ ảnh hường đến nhiều người Trường thơ ấy hiện đại nhưng được xây cất trên một quan điểm thẩm mĩ nhất quán của Nguyễn Quang Thiều: bất an mà không tuyệt vọng, bóng tối không thể chế ngự ánh sáng” [6, tr.23 - 24]
Cũng bàn về sự đổi mới cách tân trong thơ hiện đại dưới hiện tượng
Nguyễn Quang Thiều, tác giả Khánh Phương trong bài viết Nguyễn Quang
Thiều và hành trình tới một quan niệm thẩm mĩ mới hay trong bài viết Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều và lộ trình cách tân tác giả Mai Văn Phấn
cũng thấy được những chuyển biến, cách tân và thi pháp thơ Nguyễn Quang
Thiều, ông đã nhận định như sau: “Lộ trình thơ Nguyễn Quang Thiều khởi đi
từ tập thơ sự mất ngủ của lửa đến những tập thơ về sau đã định hình một phong cách riêng biệt Ông đã khẳng định tài năng, bản lĩnh thi sĩ và sự dũng cảm của mình bằng khả năng thiên bẩm, bằng kiến thức phong phú Phổ thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không giới hạn không gian hẹp, hay vùng
Trang 10miền nhân rộng, giàu sức khái quát và tính biểu tượng cao, có thể nhìn từ nhiều góc độ, nhiều hệ quy chiếu thẩm mĩ… Ông là một trong những thi sĩ tiên phong trong dòng chảy thơ ca cách tân đương đại trong nước”[6, tr.285]
Đặc biệt hơn tác giả Nguyễn Việt Chiến trong Thơ Nguyễn Quang Thiều
trong dòng chảy thi ca cách tân sau 1975 đã thấy được sự khác biệt của hiện
tượng Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy phức tạp của thơ văn đương đại:
“Thơ của anh như một bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, ý
tưởng và suy ngẫm trên cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tưởng lạ lẫm”[6,
tr.249]
Xoay quanh vấn đề thi pháp, biểu tượng những khía cạnh tiềm ẩn từ lớp
ngôn từ trong tập thơ Châu Thổ của Nguyễn Quang Thiều có một số tác giả với những bài viết như: tác giả Nguyễn Chí Hoan với Cú pháp tạo dựng cổ
tích trong thơ, tác giả Đặng Huy Giang với Dấu ấn thơ Nguyễn Quang Thiều, Chất thơ từ Châu Thổ của Nguyễn Thanh Tâm, đặc biệt nói về thi pháp thơ
Nguyễn Quang Thiều phải kể đến tác giả Đỗ Quyên với bài viết một số vấn đề
thi pháp thơ Nguyễn Quang Thiều, trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra
những cách tân về mặt thể loại về tứ thơ, ngôn ngữ, nhịp điệu cũng như giọng
điệu thơ, tác giả đã nhận định: “Với thơ Nguyễn Quang Thiều, thi pháp bằng
ngôn ngữ; ngôn ngữ làm thi pháp Và đó là đường thơ Trên lề của “con đường hữu thể” đó, thi sĩ chất chứa khá đủ đầy nhưng ẩn hiện các yếu tố khác của thi pháp…”[6, tr.134]
Ngoài những bài viết xoay quanh vấn đề cách tân, thi pháp trong thơ Nguyễn Quang Thiều, cũng đã có những nhận định, kiến giải về hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều với bút pháp tượng trưng với những hình tượng nghệ thuật, đặc biệt dùng lí thuyết phân tâm học, từ cội rễ văn hóa tín ngưỡng
để soi chiếu hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều
Trang 11Thơ Nguyễn Quang Thiều từ khi ra đời, đã nhận không ít lời khen chê,
có người cho rằng thơ ông là lai căng, tây giả cầy… tuy nhiên, nếu đọc và tiếp nhận thơ Nguyễn Quang Thiều một cách thấu đáo, sẽ nghiệm ra một hồn thơ nặng nghĩa tình quê hương, một nỗi ám ảnh Làng Chùa không ngớt của tác giả, và là hồn thơ của văn hóa, tâm linh dân tộc Bàn về thơ Nguyễn Quang
Thiều nhìn từ văn hóa, tác giả Thiên Sơn với bài Viết Cảm nhận thơ Nguyễn
Quang Thiều, tác giả Văn Giá với Căn rễ văn hóa và một lối thơ trình hiện đã
thấy được cội nguồn văn hóa từ trong thơ Nguyễn Quang Thiều và khẳng định “nhà thơ như một chủ thể văn hóa cất lời” Tác giả Đặng Vũ Hoàng
trong hình tượng phụ nữa và trẻ em trong thơ cũng đã nhận thấy được sự kỳ
công chạm trỗ những biểu tượng, hình tượng của Nguyễn Quang Thiều, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ lam lũ, chịu thương, chịu khó mang cả nét đẹp phụ nữ Việt Nam, là một hệ hình văn hóa thiên về tính nữ
Dưới lí thuyết Phân tâm học, bài viết Thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn từ
mẫu gốc của tác giả Hồ Thế Hà cũng đã chỉ ra những hình tượng mẫu gốc ám
gợi nhất trong thơ Nguyễn Quang Thiều đó là Làng Chùa nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả
Vận dụng Phân tâm học theo trường phái G Bachelard, Nguyễn Mạnh
Tiến với bài viết Nguyễn Quang Thiều, lửa thức cũng đã chỉ ra những mơ
mộng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều, đặc biệt là “lửa”, tác giả
cũng nhận định:“ mơ trong lửa, ngọn lửa thức, ngọn lửa của sự mất ngủ,
nên Nguyễn Quang Thiều mới xây dựng nên một thế giới thi ca Trong đó, sự mất ngủ là điều kiện để mơ mộng trỗi dậy; và lửa làm thành chất liệu căn nền cho thơ ” [6, tr.38]
Ở công trình Vọng từ con chữ, tác giả Nguyễn Đăng Điệp với bài viết
Nguyễn Quang Thiều: nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông cũng đã
Trang 12thấy được chất thơ thấm đầy chất tượng trưng và ẩn chứa nhiều lớp trầm tích văn hóa khác nhau
Ở hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều trên mạng internet cũng có một
số bài viết như sau: tác giả Đặng Thị Hảo Tâm với bài viết Hình ảnh người nữ
trong thơ Nguyễn Quang Thiều dưới ánh sáng của lí thuyết trường nghĩa, tác
giả Bùi Công Thuấn với bài viết Thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đã trình bày
góc nhìn chủ quan của mình xoay quanh hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều
Trên đây là tập hợp một số công trình, bài viết mà chúng tôi thu thập được về hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều, đây cũng là sự cổ vũ để chúng tôi mạnh dạn tìm tòi, khám phá để tìm hiểu Thơ Nguyễn Quang Thiều từ cái nhìn của lí thuyết Phân tâm học, trên một vài phương diện tiêu biểu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đi tìm hiểu đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu, khảo sát tập thơ Châu
Thổ của tác giả Nguyễn Quang Thiều, thơ tuyển lần thứ nhất của nhà xuất bản
hội nhà văn, in năm 2000
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài này chúng tôi sử dụng lí thuyết Phân tâm học để đi sâu khai phá
lớp ngôn từ, ẩn ngữ trong tập thơ Châu Thổ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát, thống kê, phân loại những hình ảnh, yếu tố xuất hiện nhiều lần để từ đó có cái nhìn tổng quan về
những ám ảnh nghệ thuật trong tập thơ Châu Thổ
Trang 134.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Khi sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ khẳng định, lí giải được các yếu tố, các phương diện của tập thơ đồng thời khẳng định được phong cách riêng của tác giả khi đi so sánh, đối chiếu với các tác giả khác
4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Đây là một phương pháp phổ biến và quan trọng trong hầu hết các công trình Chúng tôi sử dụng phương pháp này xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu, phân tích từng khía cạnh cụ thể sau đó tổng hợp nhìn nhận vấn đề một cách bao quát nhất
4.4 Sử dụng lí thuyết phân tâm học
Sử dụng lí thuyết phân tâm học, như một giả thiết để tìm hiểu các biểu tượng, các phức cảm tâm lí, các cổ mẫu…
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, chúng tôi triển khai
đề tài theo ba chương:
Chương 1: Châu Thổ trong tương quan với tư duy thơ hiện đại và vận
dụng lí thuyết phân tâm học vào nghiên cứu
Chương 2: Châu Thổ và những ám ảnh văn hóa cội nguồn
Chương 3: Châu Thổ nhìn từ cấu trúc hình tượng nghệ thuật
Trang 14CHƯƠNG 1: CHÂU THỔ TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TƯ DUY THƠ
HIỆN ĐẠI VÀ VẬN DỤNG LÍ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO NGHIÊN CỨU
1.1 Châu thổ trong tương quan với tư duy thơ hiện đại Việt Nam
1.1.1 Nguyễn Quang Thiều và quan niệm nghệ thuật
Thời kỳ đổi mới với nhiều biến động của đời sống xã hội đã dẫn đến sự đổi thay trong quan niệm nghệ thuật Với cảm hứng và tư duy nghệ thuật mới, thơ có điều kiện đi sâu và khai thác nhiều khía cạnh của đời sống Nguyễn Quang Thiều là nhà tiên phong khởi đầu một dòng chảy mới trong thơ, tuy nhiên đã hơn hai mươi năm trôi qua nhưng dường như thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn là một dấu hỏi lơ lửng trong làng văn như nhà văn Đông La từng
nhận định “Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều có lẽ là một hiện tượng
phức tạp nhất từ trước tới nay” [19]
Có lẽ đúng khi nói thơ Nguyễn Quang Thiều phức tạp và khó hiểu, ông
đã khẳng định được bản lĩnh của mình trên mặt trận thơ văn với những quan niệm nghệ thuật riêng
Đến với nghệ thuật và đặc biệt là thơ ca, Nguyễn Quang Thiều coi trọng dấu ấn cá nhân, sự sáng tạo và cá tính của bản thân, từ 1990, khi xuất bản tập
thơ đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990) cho đến tập thơ Sự mất ngủ của lửa (1992) đạt giải hội văn học Việt Nam 1993 đến Châu thổ (2010) Nguyễn
Quang Thiều đã thể hiện sự thay đổi trong cách nhìn và cảm quan thẩm mĩ của mình Với Nguyễn Quang Thiều phong cách cá nhân là điều ông rất coi
trọng như ông từng khẳng định “Năm 1990, tôi xuất bản tập thơ đầu tay, khi
tập thơ này in ra, tôi thấy gương mặt tôi chập chờn giữa một số gương mặt của các nhà thơ thế hệ trước Sự ảnh hưởng ai hoặc những ai đó không dễ tránh đối với các những nhà thơ trẻ Lúc đó tôi tự hỏi, sao tôi không phải là chính mình?Và tôi bắt đầu viết những gì cuả chính tôi cho dù tôi ấy đầy
Trang 15khiếm khuyết và nhiều bóng tối Đó là nguyên nhân dẫn đến sự mất ngủ của lửa xuất bản 1992 ở NXB Lao Động Năm 1993 tập thơ này đoạt giải thưởng của hội nhà văn nhưng đồng thời nó cũng bị một số nhà thơ, nhà phê bình đánh tơi tả Tôi không có ý kiến gì, tôi im lặng từ đó đến giờ Vì việc của tôi
là viết những gì là chính tôi Đấy là việc của chính tôi chứ không phải là việc của người khác” [49] Cái tôi vượt thoát mọi luồng dư luận để gìn giữ bản
lĩnh cá nhân đã được Nguyễn Quang Thiều thể hiện, dần đưa thơ ông đến gần
độc giả hơn và thể hiện sự độc đáo riêng biệt ở tập thơ Châu Thổ, không còn
lai vãng bóng dáng những câu thơ đậm chất ngâm ngợi ngọt lịm trữ tình và những ẩn dụ thi vị, ông cũng đã vượt qua được cách nói mòn sáo trong thơ để tạo nên một ngôn ngữ mới Đó là thành quả của những cách tân táo bạo và quyết liệt, là sự lựa chọn giọng điệu cá nhân trong phong cách nghệ thuật của riêng ông
Mỗi một tác giả, khi cho ra đời đứa con tinh thần của mình đều mong muốn dung hòa được tính thẩm mỹ và nhu cầu xã hội Đây là điều hết sức quan trọng làm nên thành công của tác phẩm, tuy nhiên các nhà văn, nhà thơ thường ít đạt được cả hai, mà lại phân thành hai luồng và chủ yếu hướng đến công chúng tiếp nhận rộng rãi, là những nhà văn tiên phong, có một định hướng sáng tạo mang tính dấn thân, có ý thức tạo lập tác phẩm nghệ thuật như
là một phương tiện dẫn truyền mối quan hệ giữa văn chương và xã hội, tác phẩm nghệ thuật mang thông điệp hay đặt mục tiêu thúc đẩy sự thay đổi xã hội Nhà văn, thường sáng tạo nghệ thuật ngay chính thực tế cuộc sống mà họ nghiệm sinh, giữa cái nôi văn hóa quê cha đất tổ với cộng đồng người thân thuộc, sự sáng tạo phải là một sản phẩm mà ở đó văn chương và nhà văn cất lên tiếng nói của mình với tất cả tình yêu con người, tự do và công lý và văn chương đúng là câu chuyện của cá nhân nhưng là cá nhân trong mối quan hệ phức tạp với cuộc đời Là nhà thơ hiện đại tiên phong thuộc số ít các nhà thơ
Trang 16đang trên con đường dung hòa tính thẩm mỹ trong văn học, Nguyễn Quang Thiều cũng mang trong mình nỗi canh cánh nhân sinh trong thơ ca, với ông thiên chức của thi ca đó chính là sự giải phóng những bế tắc của đời sống con
người, giúp con người khám phá những bí ẩn của đời sống “Thơ không phải
là những bất hạnh cá nhân mà là những bất trắc của cuộc đời” [49]
Nguyễn Quang Thiều dù luôn ý thức sáng tạo hiện đại, song điều mà ông quan tâm trước hết đó chính là tiếng nói tinh thần Đến với thơ ông, người đọc cũng bắt gặp một quan niệm mà ở đó tâm hồn đóng vai trò là chủ thể cất tiếng
“Trong tác phẩm văn học có thể thường hiển lộ ba yếu tố mà tôi gọi đó là những sự kiện Thứ nhất: Những sự kiện mang tính xã hội Thứ hai: Những sự kiện mang tính ngôn ngữ Và thứ ba: những sự kiện của tâm hồn Trong ba yếu tố đó có thể cùng diễn ra trong một tác phẩm văn học Nhưng sự kiện quan trọng nhất làm nên một tác phẩm văn học thực thụ là sự kiện của tâm hồn Thi ca xuất hiện trên đoạn cuối của con đường ấy Nếu chúng ta dừng lại với hiện thực của đời sống cùng với một chút cảm xúc không thôi, chúng
ta chỉ bắt gặp một cái gì đó giống thi ca chứ không phải là thi ca Theo tôi, mỗi bài thơ dù ngắn hay dài thì mục đích cuối cùng của nó phải tạo ra những
sự kiện của tâm hồn Chỉ như vậy cuộc cách mạng về mỹ học trong tác phẩm nghệ thuật mới được thực thi” [49]
Với Nguyễn Quang Thiều cái đẹp luôn gắn với sự linh thiêng, đây là quan điểm thẩm mỹ rõ nhất qua từng tập thơ, cuộc sống hiện lên trong thơ ông tất cả đều ẩn dưới vẻ đẹp linh thiêng, từ Làng Chùa nơi ông gắn bó, yêu thương, đến Bà nội, gia đình những người bạn thân thương, cuộc sống thường nhật lam lũ trong cái nhìn của Nguyễn Quang Thiều cũng vậy Đều lạ lẫm và
bí ẩn
Trong quan niệm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều, việc đổi mới thơ ca
cần: “Điều quan trọng nhất là tạo ra sự ám ảnh và điều tệ hại nhất là thiếu trí
Trang 17tưởng tượng” [47, tr.35] Trí tưởng tượng và giấc mơ trong thơ Nguyễn
Quang Thiều đã đem đến cho người đọc một thế giới riêng biệt nhưng và đầy
ám ảnh về hiện thực cuộc sống
Nguyễn Quang Thiều luôn muốn làm mới và luôn luôn đổi mới, với ông
việc quan trọng là phải “Làm mới lại những gì đã cũ và làm sống lại những gì
đã chết” [45] Cái mới làm cho cá nhân nhà thơ được mở rộng, được giàu có
và được hưởng thụ “Với cá nhân tôi, khi tôi viết nghĩa là tôi đang hồi tưởng
về một đời sống tôi đã sống Tôi đang tự mang đến cho mình một nền tự do, một trí tưởng tượng và một giấc mơ” [44] Đây là quan niệm thể hiện mạch
cảm xúc chính của Nguyễn Quang Thiều, là bài ca về giấc mơ, là những ám ảnh, biểu tượng là khúc ca mới trong nền thi ca đương đại
Nguyễn Quang Thiều luôn sáng tác thơ ca với niềm say mê tột cùng và không bao giờ thỏa mãn khi những đứa con tinh thần của mình được chào đời Ông viết bởi sự hối thúc, trăn trở với cuộc đời Ông miệt mài trong cuộc hành trình sáng tạo đến cái mới, đổi mới từ cảm hứng sáng tác qua mỗi tập thơ, và
khi đến với Châu Thổ nhà thơ đã định hình được rõ nét những quan điểm
nghệ thuật sáng tạo của mình
1.1.2 Những khuynh hướng tư duy thơ trong Châu thổ
Tiếp nối dòng chảy của lịch sử văn học, thơ Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể từ sự manh nha của phong trào thơ Mới, sau đó đổi mới tiên phong trong thơ những năm 60 ở miền Nam và sự phổ biến xuất hiện những nhà thơ tiêu biểu có sự bứt phá trong phong cách để thơ tiến gần với thế giới hơn như Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Phan Huyền Thư trong số đó có Nguyễn Quang Thiều bắt lấy những xúc cảm tinh thần đã phản ánh tất cả các mặt phong phú của đời sống và mở ra nhiều chiều kích Tư duy nghệ thuật thơ từ hướng ngoại bắt đầu chú ý đến hướng nội, thơ không còn những kiểu dàn trải
Trang 18của dòng tâm tình mà bắt đầu đi vào những khúc gấp của tâm trạng, mạch thơ xoay chiều theo tư duy phức hợp của con người
Xuất phát từ tư duy đổi mới văn học nghệ thuật, Nguyễn Quang Thiều nổi bật lên và mang tới cho thơ đương đại một luồng sinh khí mới, với tư duy
nghệ thuật mới thể hiện rõ nét qua tập thơ Châu Thổ
Ta bắt gặp trong thế giới thơ Nguyễn Quang Thiều sự đắm mình trong bóng tối, với tiếng chiêng trống, tiếng kêu hét rùng rợn, những màu sắc chập chờn, ma quái, cái đói khát, cái chết, sự phi lí, ngay cả những sự vật thông thường như cơn mưa, ngôi nhà, dãy phố, công viên, khu vườn cũng hiện lên bằng vẻ kỳ dị, nghịch đảo so với những gì vốn được hình dung Trong thế giới ấy, sống và chết, còn và mất, hiện hữu với không hiện hữu, có và không, tất cả đều tồn tại, luân chuyển bằng dạng thức riêng và được định hình trong một hệ giá trị mới, là hình ảnh những thân phận lầm lũi trong thế giới nham nhở, hỗn tạp đầy ám ảnh với sự đa dạng của nhiều thanh âm, là những hình ảnh mà nhà thơ thể hiện đôi khi lại rời xa nhau trong những kết dính mờ nhạt Tất cả làm nên lối tư duy rất đặc biệt mà Nguyễn Quang Thiều thể hiện trong
Châu Thổ
Nguyễn Quang Thiều viết và sáng tạo những hình ảnh và ý thơ từ những liên tưởng không tương đồng, lạ lẫm và nghịch dị Ông đặt ngang ý niệm với một hình ảnh cụ thể mà không cần phải có bất cứ sự tương đồng nào về màu
sắc, hình khối, hương vị: “Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng
rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả” [32, tr.34]
Có thể thấy toàn bộ thi giới trong Châu thổ bị lấn át bởi giấc mơ hơn là
cái có thực đẩy con người vào trạng thái mơ mộng, xa xăm ám ảnh Đúng như
trong nhận xét của tác giả Khánh Phương “Thế giới thơ Nguyễn Quang Thiều
có thể được nhìn nhận giống như cuộc dấy loạn của những gì thuộc về tiềm thức, thuộc về thứ hiện thực xa xăm của đời sống, những mối đe dọa, nguy cơ
Trang 19tăm tối mà dường như lâu lắm con người sống trong tự tin vào bản thân không hề nhận ra” [6, tr.251] Cảm hứng thơ Nguyễn Quang Thiều còn là lối
tư duy gắn liền với những thi liệu dị biệt, lánh xa cái đẹp mĩ miều về thị giác
mà có khuynh hướng ưa chuộng sự cằn cỗi, kỳ dị, cảm hứng về sự chân chất,
bình dị, chân quê đậm chất Việt Nam:“Những móng chân xương xẩu, móng
dài và đen tõe ra như móng chân gà mái/ Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy/ Những người đàn bà xuống gánh nước sông”[32, tr.115]
Đến với thơ Nguyễn Quang Thiều, cảm nhận sự ma mị của bóng tối tràn khắp, nhà thơ hay nói đến cái chết, đến thế giới bên kia, tới cỗ xe tang nhưng giữa màn đêm bao phủ bởi cảm giác rợn ngợp, vẫn bắt gặp niềm hi vọng, ông
luôn hướng về ánh sáng giữa bóng tối u uất:“Chúng ta thường chăm sóc
những ngôi mô/ Bằng nỗi sợ hãi và tiếc thương/ Nhưng ít ai chúng ta nhìn thấy/ Cỗ xe tang lộng lẫy/ Trong tiếng trống tưng bừng/ Làm thần chết cũng hết phiền muộn/ Họ đã nhìn thấy vẻ đẹp dịu kỳ/ Trong những gì luôn đe dọa người khác” [32, tr.310]
Cách tân nghệ thuật là sự đổi mới không ngừng của nhiều thế hệ thi sĩ trên hành trình sáng tạo thơ ca Trong mạch nguồn văn học dân tộc những hướng thể nghiệm và cách tân của thơ sau 1975 vẫn chưa thỏa đáng Dấn thân trên con đường mạo hiểm và cũng nhiều cay đắng, Nguyễn Quang Thiều sáng tạo thơ ca bằng niềm đam mê của một hồn thơ luôn hướng về vẻ đẹp cuộc sống và tâm hồn con người Cách tân nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện sự kiên định trong sáng tác của ông Với tài năng và bản lĩnh
đó, ông đang khẳng định vị trí của mình trên hành trình cách tân thơ Việt
Trang 201.2 Vấn đề vận dụng Phân tâm học vào nghiên cứu Châu thổ
1.2.1 Giới hạn những vấn đề lí thuyết Phân tâm học liên quan
Trong phần này, chúng tôi không có tham vọng và cũng không thể nêu ra
và diễn giải những cống hiến về mặt lí thuyết các thuật ngữ công cụ và nội hàm của Phân tâm học Chúng tôi chỉ giới hạn một số thuật ngữ, mà theo chúng tôi nghĩ, là có thể coi như những giả thiết để tìm một cách soi chiếu thế giới thơ Nguyễn Quang Thiều trong tập “Châu thổ” Do đó, các thuật ngữ liên quan, theo chúng tôi là: vô thức, giấc mơ, tâm lí hướng nội và hướng ngoại, Phức cảm, ảnh tượng nghệ thuật, các cổ mẫu, tính nam và tính nữ
Vô thức: Vào đầu thế kỷ XX, Freud người mở đầu cho Phân tâm học, đã
đặt nền móng cho học thuyết của mình trên một nền tảng mang tên là vô thức Khi tìm hiểu cái phần vô thức của con người, Freud đã dần dà bước sang lĩnh vực nghệ thuật Vậy, vô thức là gì? Nó có ảnh hưởng như thế nào đến sáng tác của nhà văn? Chúng tôi sẽ khái quát lại một cách ngắn gọn nhất, theo học thuyết vô thức của Freud để làm rõ những câu hỏi này
Vô thức (Unconscious): Freud cho rằng vô thức đã trở thành một hệ tư
tưởng Trong cuốn luận giải những giấc mơ, Freud đã chỉ ra “Vô thức chính là
tâm thần” [41, tr.134] Hay nói rõ hơn “Vô thức là toàn thể những hiện tượng tâm thần mà ý thức không thể đạt đến một cách tạm thời hay vĩnh viễn” [41,
tr.135] Từ đó Freud gọi cái vô thức có tính thời gian đó là “tiền thức”
(préconscient) Trong khi tiền thức chỉ định những nội dung tiềm tàng trong chốc lát, thì danh từ vô thức được dành cho những biểu hiện (représentations), nghĩa là những ý tưởng, những hình ảnh hay dấu vết của trí nhớ, thường xuyên ở ngoài tầm của ý thức
Erich From trong cuốn Ngôn ngữ bị lãng quên cũng đã có những kiến giải về vô thức như sau: “Suy nghĩ và cảm nhận của chúng ta chịu ảnh hưởng
của hành vi của chúng ta”, điều này giải thích ít nhiều cái khái niệm vô thức
Trang 21trừu tượng của Freud, ông cho rằng “Ý thức của con người là hoạt động của
tâm linh con người khi con người sống trong hiện thực, cũng tức là sống trong trạng thái hành động Vô thức là kinh nghiệm tâm lý khi con người cắt đứt với mọi giao tiếp với thế giới bên ngoài Trong trạng thái đó, không còn
có hành động nữa, mà chỉ có thể nghiệm tự thân (“tự ngã thể nghiện”) Vô thức là kinh nghiệm, có liên quan với phương thức sinh hoạt đặc thù, cũng tức
là có liên quan tới phương thức phi hành vi ” [10, tr4] Freud nói:“Nhà thơ làm như đứa trẻ đang chơi, ông tự tạo cho mình một thế giới tưởng tượng mà ông cho là có thật, nghĩa là ông vừa phú cho thế giới một lượng cảm xúc to lớn vừa phân biệt nó rõ ràng với thực tế”, điều này cho ta thấy việc sáng tác
văn chương, một mặt là tiền thức/ ý thức, mặt khác là vô thức Nhà văn cũng sống và trải nghiệm với những dấu vết, kỷ niệm, điều đó ám ảnh trong suốt hoạt động sống và sáng tác Như thế, tự thân tác phẩm, ít nhiều chịu ảnh hưởng của những dấu vết còn trong tâm thức tác giả Vì vậy, đi tìm hiểu và khai phá tác phẩm, sẽ dễ thấy được cái tầng vô thức ẩn sau tác phẩm đó, điều này tạo nên cái tôi sáng tác riêng biệt của mỗi nhà văn, nhà thơ
Giấc mơ: Freud nói “Việc giải thích những giấc mơ là con đường vương giả đưa tới sự hiểu biết vô thức” [41, tr.34], điều này có nghĩa là giấc mơ là
biện pháp chủ yếu để tìm hiểu tiềm thức con người, giấc mơ có ý nghĩa và quan trọng với con người và việc giải thích giấc mơ sẽ được dùng để tiết lộ ý
nghĩa của chứng loạn tâm thần “ iấc mơ hay sự mơ mộng là hoạt động tâm
thần, không phụ thuộc vào ý chí, diễn ra trong giấc ngủ Khi mơ diễn ra trạng thái thức, đó là một hư cấu của trí tưởng tượng trong khi tìm cách thoát khỏi thực tại: khi ấy người ta nói về trạng thái mơ màng, mơ mộng” [2, tr.715]
Cũng theo Freud: “Giấc mơ có một cái nghĩa, và nghĩa đó là một chủ tâm,
một ước muốn bị kìm nén Nhưng phương pháp để hiểu một giấc mơ rất phức tạp, vì giấc mơ biến đổi những yếu tố vô thức hoặc bị kìm nén một cách tinh
Trang 22tế” Và theo Freud việc giải thích một giấc mơ tức là việc phát hiện những
biểu tượng và ý nghĩa của biểu tượng trong giấc mơ đó Vi dụ, biểu tượng về tình dục, các đồ vật như cây cối, dù đi mưa, dao, súng v.v biểu tượng cho bộ phận sinh dục người đàn ông; Hầm, chai, hang, hộp, tráp v.v là biểu tượng cho bộ phận sinh dục của đàn bà Ngoài ra giấc mơ theo Freud còn là sự cô đặc nhiều sự kiện trong một sự kiện duy nhất và để hiểu một giấc mơ cũng như hiểu một ngôn ngữ đặc biệt, hoặc hiểu một câu đố
Giấc mơ, có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm lý và sự mơ mộng là yếu tố không thể thiếu của nghệ sĩ trong việc sáng tác các tác phẩm
nghệ thuật trong đó có văn chương Freud cũng từng cho rằng “tác phẩm văn
học trước hết là một giấc mơ” Giấc mơ cùng với vô thức, xây dựng những
hình tượng mà chính nhà văn trong ý thức của mình không hề hay biết, vậy nên, giấc mơ đã xác lập lại những kỷ niệm, hiện diện trong tác phẩm, giải thích những ẩn ức của nhà văn
Phức cảm (mặc cảm): Mỗi nhà văn, đều mang trong mình sự tồn tại của
vô thức/ ý thức Trong đó, như Jung nói:“vô thức là nơi cư ngụ của phức
cảm” [29, tr.63] lí thuyết về phức cảm được Jung tiếp nhận từ Freud và một
số nhà tâm lý học khác đã giúp ông có những thành công ban đầu đối với việc hiểu biết vô thức và cấu trúc của nó Sau khi thừa nhận các phức cảm tồn tại trong vô thức, Jung quan tâm đến việc khảo sát chúng kỹ hơn và có thêm
những nhận định mới, Jung cho rằng:“bản ngã là một trong nhiều phức cảm”
[29, tr.74], tuy nhiên, phần lớn bản ngã của những người bình thường đều có thể hóa giải các ảnh hưởng của phức cảm ở một mức độ nào đó
Thông thường, các phức cảm có tính cá nhân và thuộc về tiểu sử của cá nhân họ, nhưng vẫn có những phức cảm gia đình và xã hội Trong gia đình, luôn có những phức cảm giữa các thành viên, giữa mẹ và con gái, cha và con trai và đặc biệt nhiều hơn cả là phức cảm giữa mẹ và con trai và gia giống
Trang 23phức cảm Oedipe Từ đó, Jung cho rằng: “vô thức được định hình một cách
quan trọng bởi những liên hệ gần gũi trong môi trường gia đình” [29, tr.77]
Những phức cảm người cha, người mẹ luôn chi phối những gì diễn ra trong
vô thức cá nhân và chúng là những tác nhân lớn hình thành nên các phức cảm trong các tác phẩm nghệ thuật
Jung cũng cho rằng: “Hình ảnh xác định bản chất của tâm thần” [29,
tr.80] Điều này có nghĩa là hình ảnh có quan hệ với phức cảm và thậm chí nó chi phối sự xuất hiện của phức cảm và hình ảnh kết hợp với cổ mẫu sẽ tạo ra một phức cảm toàn diện Những phức cảm là những gì còn sót lại trong tâm thần sau khi nó đã hấp thu kinh nghiệm và tái cấu trúc những đối tượng bên trong, và những hình ảnh phức cảm có khả năng kiến tạo những bản năng của con người
Những phức cảm cũng có ít nhiều được tạo dựng từ những giấc mơ, những giấc mơ biểu hiện những hình ảnh, hình thức, sự lặp lại của chủ đề cho chúng ta một bức tranh về các phức cảm Jung định nghĩa về phức cảm với
những khía cạnh quan trọng “hình ảnh – tính cố kết nội tâm, tính tổng thể và
tính tự trị” [29, tr.81], Jung cũng cho rằng “một phức cảm có sự bền vững về tâm thần của nó, nó có tính ổn định và kéo dài trong thời gian Tồn tại trong không gian của riêng mình mà không có sự can thiệp của ý thức và thách thức của bản ngã ý thức, một phức cảm có xu hướng không biến đổi nhiều Chúng
ta có thể quan sát thấy điều này trong sự lặp lại của những hình thức tương
tự nhau của phản ứng và giải tỏa cảm xúc, những lỗi lầm giống nhau, những lựa chọn không may giống nhau lặp đi lặp lại trong đời sống của một người”
Trang 24Nói chung, Jung coi các phức cảm được tạo ra bởi những “sang chấn” mà trước sang chấn, phần cổ mẫu tồn tại như một hình ảnh và một lực thúc đẩy nhưng không có những phẩm chất gây ra lo âu hay quấy rối như phức cảm
Tóm lại,“các phức cảm là những đối tượng của thế giới bên trong,
chính chúng là nơi niềm vui hay nỗi buồn của đời sống cá nhân của một người dựa vào” [29, tr.92]
Tâm lý hướng nội và hướng ngoại: Nếu như Freud cho libido chỉ là bản
năng tính dục thì trái lại, Jung cho nó là một sức sống phổ biến, không phải chỉ biểu hiện ở sinh thực, mà còn ở sinh trưởng cũng như nhiều hoạt động khác Ông còn chia ra hai loại hình libido Đó là loại tâm lý hướng nội và hướng ngoại Theo Jung, biểu hiện của một tác phẩm mà tác giả mang tâm thế như là người cầm lái, làm chủ tác phẩm thì tác phẩm đó được viết theo kiểu
tâm lý hướng nội “Có những tác phẩm, cả thơ và văn xuôi, xuất hiện hoàn
toàn là do tác giả muốn dùng chúng để đạt tới một tác động nào đấy Trong trường hợp sau này tác giả đã có sự nhào nặn chất liệu trong đầu óc, thêm chổ này, bớt chổ kia, nhấn thêm sắc thái này, giảm bớt sắc thái khác, cân nhắc kỹ hiệu quả có thể đạt được và thường xuyên tuân theo những quy luật của hình thức và phong cách đẹp Tác giả dồn hết công lực vào công việc và rất thoải mái, tự do khi lựa chọn cách thức thể hiện Chất liệu tác phẩm đối với ông – chỉ là chất liệu, nó buộc phải tuân theo ý chí nghệ thuật của ông; ông muốn lựa chọn cái đó, chứ không phải cái nào khác Trong trạng thái hoạt động như vậy, người nghệ sĩ không hoàn toàn đồng nhất với quá trình sáng tạo, bất luận ông chủ động cầm lái hay quá trình sáng tạo nắm lấy ông như một thứ công cụ khiến ông không còn hay biết gì về chuyện này Bản thân ông chính là sự sáng tạo của mình, quyện chặt với nó, ngụp vào trong nó với tất cả những ý đồ và sự khéo léo của mình ” [34, tr.56] Còn ở kiểu tâm lý
hướng ngoại, tác phẩm lại xuất hiện tự mang trong mình hình thức, gạt bỏ cả
Trang 25ý định của tác giả, tác phẩm làm chủ cả ý thức của tác giả, tác phẩm tự bộc lộ cái bản chất căn cốt trong lòng tác giả muốn truyền tải và rõ ràng như Jung
nói “Dù là miễn cưỡng nhưng ông phải thừa nhận rằng trong toàn bộ chuyện
này giọng nói của chính ông đã vang lên thông qua ông, cái bản chất căn cốt của ông đã tự bộc lộ ra và cao giọng nói về những điều mà ông không bao giờ dám nói ra Ông chỉ còn biết tuân phục và vâng theo cái xung lực dường như xa lạ đó vì cảm thấy tác phẩm đứng cao hơn ông và vì thế có một áp lực
mà ông không thể cưỡng nổi Ông không được đồng nhất với quá trình sáng tạo hình tượng; ông ý thức rõ là mình đứng thấp hơn tác phẩm của mình, hay điều lớn hơn, đứng bên cạnh nó – như một thân phận phụ thuộc bị rơi vào vùng xoáy của lực hút” [34, tr.57] Như vậy, có thể thấy rằng đặc trưng của
kiểu hướng nội là sự khẳng định của chủ thể với những ý định và mục đích có suy tính của nó chống lại những lực kéo của đối tượng, kiểu hướng ngoại thì ngược lại, được đặc trưng bởi sự khuất phục của chủ thể trước những yêu cầu của đối tượng theo Jung, loại hình hướng nội thường yêu thích sự yên tĩnh,
ưa cô độc, hay suy tư và tưởng tượng, sống thu hẹp mang tính phòng ngự Trái lại loại hình hướng ngoại thích hoạt động, giao du, sống vui vẻ, dễ thích nghi với hoàn cảnh Tuy nhiên, không có người nào thuần túy hướng nội hay hướng ngoại, chẳng qua là tùy vào từng tình huống nhất định, sẽ thiên vào hướng nào mà thôi Carl Gustave Jung còn chia ra bốn loại cơ năng tâm lí: cảm giác, Trực giác, tình cảm và tư duy Kết hợp với hai loại định hướng nói trên, sẽ có tám loại trạng huống tâm lí: cảm giác hướng nội, cảm giác hướng ngoại, trực giác hướng nội, trực giác hướng ngoại, tình cảm hướng nội, tình cảm hướng ngoại, tư duy hướng nội, tư duy hướng ngoại Cơ năng tâm lí không nằm trong phạm trù vô thức, nhưng nó chịu ảnh hưởng của khuynh hướng libido
Trang 26Ảnh tượng nghệ thuật: Mỗi ngành khoa học liên quan, đều có sự quan
tâm nhất định đến thuật ngữ “ảnh tượng”, chính vì thế, ảnh tượng cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Trong tâm lý học, ảnh tượng nói chung thường được quan niệm theo hai
tư thế:
Chủ quan: Ảnh tượng là dấu hiệu hay biểu tượng, nhờ đó ý thức có thể đạt đến một đối tượng hữu hình vắng mặt nghĩa là không hiện hữu trong hiện tại Chẳng hạn ảnh tượng của nhà, của dòng sông ta thường nghĩ ra khi xa nhà, xa quê
Khách quan: Chính sự vật được nhận biết như là ảnh tượng nghĩa là ảnh tượng đồng hóa với sự vật trong ý thức tri giác Chẳng hạn; ta nhận biết một khối vuông nhờ ảnh tượng của nó chứ không thể nhận biết chính khối vuông
ấy
Về phương diện vật lý và sinh vật học, ảnh tượng là sự in lại mặt ngoài của một đối vật hữu hình, như một tấm ảnh chụp, ảnh tượng ở võng mô con mắt
Với tri thức thông thường, ảnh tượng đồng nghĩa với ẩn dụ nghĩa là những hình ảnh có chức vụ hoán chuyển ý nghĩa tự nhiên (nghĩa đen) của một
từ ngữ qua một nghĩa khác căn cứ vào sự tương tự thích hợp, ví dụ: ảnh tượng mùa xuân với ẩn dụ tuổi xuân, ảnh tượng con rùa với biểu tượng chậm chạp Theo André Lalande, trong danh từ triết học ảnh tượng có thể hiểu theo
ba nghĩa:
Ảnh tượng là sự tái hiện tâm linh hay những gì đã được thị quan tri giác (có hay không có tổ hợp mới mẻ của những yếu tố tạo nên ảnh tượng ấy) ví dụ: các ảnh tượng dùng trong việc giáo dục
Ảnh tượng là biểu tượng tâm linh về một cảm giác hay đúng hơn, về một tri giác đã được cảm nhận từ trước Biểu tượng tâm linh này thường yếu kém
Trang 27và mờ nhạt hơn chính cảm giác hay tri giác có trước Theo nghĩa này ảnh tượng chỉ là dư vang, chỉ là bóng ma của cảm giác hay tri giác còn sót lại trong tâm linh.
Trong phân tâm học, G Bachelard khá nổi tiếng với sự thành công trong
lĩnh vực phân tâm học vật chất, ông cho rằng:“Thơ ca chính là sự mơ mộng
xoay quanh vật chất nguyên thủy, những yếu tố làm nên thế giới: lửa, nước, đất, không khí Những yếu tố cơ bản này tồn tại trong vô thức tập thể với tư cách là những siêu mẫu (archétype) chi phối các hoạt động sáng tạo thi ca và làm nên đặc trưng nghệ thuật của mỗi nhà thơ” [34, tr.17 - 18] Phân tâm học
vật chất của Bachelard cũng đưa ta với nguồn gốc cấu thành ảnh tượng thi ca,
ông nói:“tất cả những kẻ mộng mơ đều xuất phát từ những hình ảnh để đi đến
tư tưởng” [34, tr.18 - 19] Với ông, điều hình thành nên ảnh tượng nghệ thuật
là việc về với kinh nghiệm nguyên thủy khi tiếp xúc với thế giới vật chất bên ngoài ngày từ thời thơ ấu, những cuộc tiếp xúc thân mật, gần gũi và thường xuyên đó đã tạo ra trong ta những rung động những cảm giác, những ý nghĩ rồi những rung động, cảm nghĩ này sẽ trở thành những ảnh tượng, những lược
đồ, những khuôn mẫu tưởng tượng ăn sâu vào tâm thức con người Ngoài ra
G Bachelard còn luôn chú trọng đến sự soi sáng của một ý - thức thức - tỉnh
ở bên ngoài những khoảng tối của sự mộng mơ Phân tâm học vật chất là một phân tâm học khách quan có khả năng tách đối tượng ra khỏi những ràng buộc cảm tính và tình cảm, để tạo thành một vũ trụ biểu tượng
Nói tóm lại, thi ca là hệ thống những ẩn dụ, biểu tượng trùng lặp Mỗi nhà thơ sẽ tạo ra những ảnh tượng khác nhau trong thi giới của mình đó là tổng hợp của những hình ảnh biểu trưng Và nhiệm vụ của chúng ta – bạn đọc
là phát hiện ra nó
Các cổ mẫu: (Archetype) là thuật ngữ được C.G.Jung (1875 – 1961), nhà
tâm lý học phân tích lừng danh người Thụy Sỹ xác lập năm 1912 Về ngữ từ
Trang 28nguyên, archétype là từ ghép của: 1/ ache là khởi đầu, nguyên lý, cơ sở và 2/ type (typos) là dấu ấn, hình ảnh, mô hình, tiêu chuẩn, quy phạm
Mẫu gốc trong các tài liệu tiếng Việt được dịch là nguyên tượng, siêu mẫu, cổ mẫu hình tượng hoặc ý niệm đầu tiên Theo quan điểm của Jung
“Các mẫu gốc là sự ngưng kết của vô thức tập thể, tức là một số nội dung
kinh nghiệm nguyên thủy hoặc những mô thức tâm lý xuất phát từ sự tồn tại
tự thân của nhân loại để cảm nhận và nắm bắt thế giới bên ngoài Nó trở thành các nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu vào vô thức, như những ký tích, đến nỗi chúng trở thành một cấu trúc tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hay được thừa kế Chúng được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác mà ung gọi là di Truyền văn hóa Nội dung của mẫu gốc được tái hiện trong các vô thức trong các nghi lễ, thần thoại tượng trưng, tín ngưỡng
cổ xưa, những hành vi tâm lí cả trong sáng tác nghệ thuật đến ngày nay Sức tác động nghệ thuật theo ung là ở chỗ “thời sự hóa” các chiều sâu vô thức
ấy, tạo ra sự giao tiếp với các mẫu gốc vĩnh cửu mang tính nhân loại” [31,
tr.497] Như vậy, mẫu gốc giúp hình thành quan niệm thẩm mỹ của con người, xuất hiện như những nội dung điển hình và trở thành biểu tượng vĩnh cửu
Trong cuộc sống, có bao nhiêu loại tình cảm điển hình, thì có bấy nhiêu loại cổ mẫu, tuy nhiên chúng tôi chỉ đưa ra các loại loại cổ mẫu sau, có thể
được xem để giải quyết, phân tích tập thơ Châu thổ đó là những mẫu gốc đất,
lửa và nước, và tính nam tính nữ
Ở Việt Nam, đất nước và lửa là những mẫu gốc văn hóa gắn bó với tâm
thức của người Việt.“Đất cứng cáp, đục thô, ổn định, rộng rãi, ngập tràn cây
cối, nuôi sống muôn loài, Đất như người mẹ có sức sản sinh và tái sinh bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm mà bao dung” [31, tr.498] Đất là nơi nương
náu, nơi tìm về nguồn cội, nơi bám rễ và vun trồng của người dân Còn nước
Trang 29“nước mềm mại, trong trẻo, tinh khiết, luôn chuyển động, biến hóa và xuyên thấm, là nguồn gốc của vũ trụ” [31, tr.498], nước là biểu tượng đặc biệt đối
với nền văn hóa Việt, nước là mầm sống, là phương tiện thanh tẩy, là sự tái sinh, là sự trôi chảy của dòng đời Đất và nước mang trong lòng những hình thái khác nhau như núi non, sông ngòi, biển, hồ đi vào thơ ca với vẻ đẹp của quê hương, văn hóa ngàn đời, là mẫu gốc gợi sự thầm lặng, yên bình Với mẫu gốc lửa, từ xưa, lửa vẫn được xem là một trong ngũ hành của người phương Đông Ngọn lửa hiện hữu trong cuộc sống, trong sinh hoạt, trong lao động sản xuất, là người bạn không thể thiếu của cuộc sống con người Việt Lửa là biểu tượng của nhiệt huyết, ánh sáng, niềm tin, lửa – bếp lửa gợi sự ấm
áp, trở về, gợi về những kỷ niệm bên ngọn đèn dầu leo lét nhưng lửa cũng là biểu tượng của sự cuồng nộ, sức mạnh Những mẫu gốc này chi phối, tạo nên
nét độc đáo, ám gợi mạnh mẽ trong tập thơ Châu thổ của Nguyễn Quang
Thiều
Để minh định và phân tích tập thơ Châu thổ, cần phải hiểu rõ một loại cổ mẫu nữa, đó là Anima và Animus
Anima được hiểu là ý tưởng nữ tính trong lòng nam giới, trong vô thức
của mỗi người đàn ông đều có một yếu tố nữ tính như Jung từng nói: “Tất cả
mọi người đàn ông đều chứa trong mình một hình ảnh phụ nữ vĩnh cửu một dấu tích hoặc “mẫu gốc” của tất cả những kinh nghiệm về người phụ nữ, một thứ trầm tích, có thể nói như vậy, của tất cả những ấn tượng đã tạo nên từ phụ nữ - nói một cách ngắn gọn, một hệ thống thích nghi âm thầm được thừa hưởng” [17, tr.14]
Animus là ý tưởng người nam trong lòng nữ giới, là yếu tố nam tính vô
thức trong nhân cách của bản thân người nữ
Trang 301.2.2 Những khả giải tư c như ô t phươ
Nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ của tiếng nói đổi mới
tư duy nghệ thuật hiện đại Việt Nam, nhà thơ của phong cách sáng tác đầy ẩn
ý, ma mị, biểu tượng chập chờn trên từng câu chữ, thiết nghĩ cần thiết phải sử dụng một phương pháp đọc mới để tìm ra những ám ảnh, biểu tượng và thấy được bản năng vô thức trong các sáng tác của ông, và lí thuyết phân tâm học,
có thể là sự lựa chọn tốt để giải quyết việc phân tích thơ Nguyễn Quang
Thiều, cụ thể là tập thơ Châu thổ
Thứ nhất: Có thể bắt gặp trong toàn tập thơ Châu thổ, có rất nhiều hình
ảnh lặp đi lặp lại, con đường, cánh đồng, dòng sông, những người phụ nữ làng Chùa Phải chăng đó là sự ám ảnh bởi những hình tượng từ trong hiện thực – nhưng là hình tượng đã trở thành hữu thức và vô thức, có cả vô thức tập thể
để rồi trở thành thi giới lung linh, huyền ảo, làm thành bản mệnh thơ và bản mệnh người, đồng nghĩa với phong cách sáng tác cá nhân Với Nguyễn Quang Thiều, thiết nghĩ dưới lí thuyết phân tâm học, đầu tiên là sự vận dụng cổ mẫu hay mẫu gốc sẽ cảm nhận và hóa thân đến cả những cựa quậy trong suy nghĩ của tác giả để thấy được hình hài những con chữ chập chờn, hư ảo thông qua những hình tượng nổi trội của vô thức và hữu thức sáng tạo
Trang 31Thứ hai: Bachelard thường nói:“mộng mơ sinh hạ những bài thơ”
tưởng mơ mộng luôn cụ thể, biết săn tìm đối tượng, chiếm dụng lấy, rồi từ đấy tiến triển thành ảnh tượng từ mơ Mơ mộng nghệ thuật là giấc mơ có ý thức Giấc mơ tỉnh Khác với giấc mơ (rêve) của người nằm mơ, vắng mặt lí trí, chỉ thuần túy cõi miền âm u bản năng vô thức Giấc mơ do đó có thể cung cấp những chất liệu cho bài thơ chứ không thể nào là chính bài thơ Mơ mộng nghệ thuật mới là chính bài thơ Trong thi giới Nguyễn Quang Thiều, những
mơ mộng hiện hữu với tần suất dày đặc, Làng Chùa hiện lên trong tâm thức nhà thơ cùng với những mơ mộng, mơ mộng vê lửa, sự khao khát tìm về đất
mẹ, sự hồi tưởng quá khứ…, phân tâm học cung cấp những dữ kiện để giải minh ý nghĩa thơ Thiều, đề phân tích những mộng tưởng, giấc mơ trong chính hiện thực hiện lên trên từng trang giấy, con chữ
Thứ ba: Như đã nói, Nguyễn Quang Thiều đi nhiều, viết nhiều nhưng trong ông, cái văn hóa và tâm thức làng luôn hiện diện đau đáu làm nên bản
mệnh thơ ông Đọc Châu thổ trên học thuyết phân tâm sẽ một phần nào tìm ra
được hồn cốt thơ Thiều trên nền văn hóa Việt, để minh định cho những hiểu nhầm hay vô ý khi nói thơ Thiều Lai căng, tây giả cầy Có “tây” nhưng là tây với những đổi mới táo bạo để hòa vào dòng thơ hiện đại và mong muốn hòa nhập với thế giới
Tóm lại, để đọc một văn bản hiện đại, không phải là điều dễ dàng nếu không cần đến sự trợ giúp của các ngành khoa học nhân văn liên quan, cụ thể
là phân tâm học Bản chất của thơ hiện đại là đi vào cõi nội tâm sâu thẳm, để hiểu rõ căn cốt cần một học thuyết phân tích tâm lí chiều sâu để giải mã tầng sâu kín của văn bản
Có thể nói việc áp dụng phân tâm học như một phương pháp nghiên cứu
Châu thổ không phải là điều dễ dàng và cũng sẽ rất khó khăn để nói được cụ
thể những khả giải từ vấn đề nghiên cứu dựa trên nó Vì thế chúng tôi thiết
Trang 32nghĩ, công trình nhỏ này sẽ thực sự hữu ích để bạn đọc một phần lí giải được
sự cần thiết của việc đọc văn bản trên nhiều cách đọc, dưới nhiều lí thuyết hiện đại là việc cần thiết Hơn thế nữa, qua công trình bạn đọc cũng sẽ nhìn
nhận thơ Nguyễn Quang Thiều với tập thơ Châu thổ trên một phương diện
hoàn toàn mới
Trang 33CHƯƠNG 2: CHÂU THỔ VÀ NHỮNG ÁM ẢNH VĂN HÓA CỘI
NGUỒN
2.1 Không gian bên ngoài
2.1.1 Ảnh tượng thiên nhiên làng chùa
Làng Chùa – là nơi Nguyễn Quang Thiều bám víu và nương tựa để gọi
về những kí ức của quê hương Làng Chùa hiện lên với những ám ảnh, những hình tượng đa phân trong thi giới của ông Đó là cánh đồng, là khu vườn, dòng sông Đáy dạt dào trong tâm thức, trong tâm hồn ông Tất cả tạo nên những thi ảnh hay những ảnh tượng thiên nhiên gắn chặt trong tâm thức ông,
là những mẫu gốc văn hóa làm nên hồn thơ Nguyễn Quang Thiều
Với Nguyễn Quang Thiều, sông Đáy như một biểu tượng của nguồn
chảy sáng tạo, đánh thức mọi suy tưởng trong thơ ông Dòng sông ấy là nỗi đau đáu, là hoài niệm trong tâm thức thi ca với nỗi nhớ thương và tình yêu:
“Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được
thấy/ Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ dàn dụa nước mưa sông” [32, tr.43] Tâm thức người Việt tự
ngàn xưa luôn mang nặng ân nghĩa với sông Họ coi sông như mẹ của châu thổ trù phú đem đến cho họ những mùa vàng no ấm Trong những câu thơ trên, cảm giác dịu dàng về sông được dung hợp với hình ảnh thiêng liêng của
mẹ Hiện lên đời sống uyên nguyên, tinh khiết:“Tôi cựa mình như búp non
mở lá/ Ý nghĩ mỉm cười trong vắt ban mai” [32, tr.36].
Sông Đáy là thi ảnh đa biểu tượng và giàu sắc thái tình cảm, con sông là hình bóng của những người thân giăng níu, của cảnh vật thiên nhiên rất thực, vừa gần gũi nhưng lại vừa huyền ảo, lạ lẫm Dòng sông là nỗi ám gợi da diết nhất chảy trong tâm thức làng Chùa mà Nguyễn Quang Thiều đã tắm mát suốt
tuổi thơ, tắm cả trong những giấc mơ mộng mị: “Sông Đáy chảy vào đời tôi/
Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi
Trang 34mặt vào lưng áo người đẫm mồ hôi mát một mảnh sương đêm/ Năm tháng sống xa quê tôi như người bước hụt/ Cơn mơ vang tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc/ Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn/ Tỏa mát cơn đau tôi là tóc mẹ bến mòn đứng đợi/ Một cây khô cuối vụ khô gầy/ Suốt đời buồn trong tiếng lá reo” [32, tr.34]
Con sông là miền tâm tưởng, là cơn mơ “Cơn mơ vang lên tiếng cá quẫy
tuột câu như một tiếng nấc/ Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn”, ở
đây cơn mơ, tiếng cá quẫy tuột câu, tiếng nấc, tôi, cuối nguồn là những hình ảnh cách biệt, xa nhau nhưng cùng trượt theo một từ trường cảm xúc mạnh, nhất quán, tạo nên một miền không gian với sức liên tưởng mạnh mẽ, là những ám ảnh từ tâm thức bộc phát, những liên tưởng rất tượng trưng tạo nên những thi ảnh và âm thanh rất kỳ lạ
Nếu như Hoàng Cầm, gởi gắm cả tình yêu của mình về xứ kinh bắc đẹp
lỗng lẫy thơ mộng qua dòng sông Đuống “Em ơi buồn làm chi/ nh đưa em
về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lì/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp loáng/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì ” Thì Nguyễn
Quang Thiều gởi gắm tình yêu Làng Chùa bằng những hình ảnh rất thực bên
dòng sông đáy “Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như
móng chân gà mái/ Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy/ Những người đàn bà gánh nước sông/ Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng
áo mềm và ướt/ một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi/ Bàn tay kia bám vào mây trắng” [32, tr.115]; từ con sông, những người đàn bà
nhếch nhác, lam lũ hiện lên trong tâm thức nhà thơ như một sự ám ảnh, thương cảm Chính ở đây, con sông với những thi ảnh đẹp nhất gắn bó nhà thơ với cuộc đời, đặc biệt nỗi ám ảnh nhân sinh sâu sắc Trở về với quê hương, bên dòng sông tắm mát tuổi thơ Dòng sông như khúc ruột của làng, sông tưới tắm ruộng đồng, sông nuôi dưỡng linh hồn người Nước sông mềm
Trang 35dịu, nhẹ nhàng Nước khởi thủy là nước ối trong lòng mẹ chảy vào tâm thức Thiều Sông còn là nơi hò hẹn, là nơi tình yêu đầu đời khẽ rung lên với những
dư chấn nhẹ nhàng “Ta chạy đến phía hai bờ, quỳ xuống trước sông/ Sông ở
giữa đôi ta – một chân trời chuyển động/ Những vầng mây xỉn vì gió/ Những cánh buồm khổ đau tự xé và tự vá lại mình” Vậy mà ngày trở lại dòng sông
như quặn thắt trong mắt người xa xứ, em đã sang ngang “Em đã mang đôi
môi màu dâu chín sang đò một ngày sông vắng nước/ Tôi chỉ gặp những bẹ ngô trắng trên bãi/ Tôi nhớ áo em tuột rơi trên bến kín một trăng xưa” [32,
tr.34,35] Người con gái yêu thương đã sang ngang, Người mẹ suốt đời tảo
tần, nơi nương níu hồn thơ ông cũng đã khác “Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/
Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quỳ xuống vốc cát ấp vào mặt/ Tôi khóc/ Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng” [32, tr.35]
Hình ảnh dòng sông cũng mang những dòng đời nghiệt ngã vẫn miệt mài trôi chảy trước những khát vọng nhỏ nhoi của số phận con người Sông Đáy
đã trở thành sợi dây tình cảm thiêng liêng neo giữ và thanh lọc tâm hồn nhà
thơ, là nơi tìm về sau bao gian nan “Cha ơi, cha đưa con về đâu/ Cha đưa con
về sông Đáy” [32,tr.128] Kỷ niệm tuổi thơ đã giữ lại bên nhà thơ dòng sông
quê hương, những con người và tình yêu Có lẽ vì chính “K niệm là một
trong những yếu tố của đời sống nội tâm và là một thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc” [2, tr.804] Vậy nên nhà thơ đã sống và viết hết mình với bản năng vô
thức bên những hoài niệm xứ mẹ, là nỗi niềm đau đáu về dòng sông quê hương ở nơi đó gởi lại tình yêu quê tha thiết và chân thành
Không chỉ có dòng sông, Nguyễn Quang Thiều còn thả thơ trên những
cánh đồng ký ức tuổi thơ, những ảnh tượng thiên nhiên ấy, không chỉ đẹp mà
còn rộng lớn vĩnh hằng, vẻ đẹp của nó là vẻ đẹp của sự tuyệt đối Cũng giống
như Baudelaire, nhà thơ nhìn thấy phố phường chật chội, nhốn nháo: Họ chạy
trong thành phố; Những ngõ sâu hốc hác, những lề đường ê chề, những công
Trang 36viên mắc bệnh trong không gian văn minh kỷ trị ấy, con người luôn mang
cảm giác bị đồn đuổi, con đường duy nhất để thoát khỏi sự bủa vây ấy, với Nguyễn Quang Thiều là trốn lo âu về lại cánh đồng Mơ về những cánh đồng quê hương, rồi tự do bay trong một thế giới thiêng liêng đang vẫy gọi mình:
“Tôi bay qua những cánh đồng mùa xuân còn ái ngại/ Qua những ngôi sao
đã mở mắt nhưng lưỡi thì chưa mọc/ Tôi gặp dơi của bình minh, sơn ca của bóng tối/ Những ngôi mộ tổ tiên hắt sáng gọi tôi về” [32, tr.94]
Không gian những cánh đồng rộng mở hơn, tâm tưởng về cái đồng như
ám gợi da diết hơn, nhà thơ gọi cánh đồng là: “Cánh đồng rộng lớn mờ
sương”, “Cánh đồng mùa xuân”, “Cánh đồng ngoại ô”, “Cánh đồng bị thương”, “Cánh đồng thiêm thiêm sau từng đêm sinh nở” Tất cả những
hình ảnh đó là dấu ấn về cuộc sống sâu đậm về cuộc sống trong tâm trí nhà
thơ Đối với Nguyễn Quang Thiều, cánh đồng còn là nơi “Cầm giữ linh hồn” của nhà thơ: “Có một ngày không gieo hạt/ trốn lo âu về lại cánh đồng”
Không chỉ hiện lên là vẻ đẹp giản dị gần gũi thân thương mà nhà thơ muốn gởi gắm, mà cánh đồng còn là biểu tượng thiêng liêng mang đậm màu tâm linh Không chỉ là nơi trở về, nơi gắn bó với những kỷ niệm tuổi thơ, nơi có
những mối tình khờ dại mà còn là cánh đồng ẩn dấu những điều thiêng: “Tôi
bay qua những ánh đồng mùa xuân còn ái ngại/ Qua những ngôi sao đã mở mắt nhưng lưỡi thì chưa mọc/ Tôi gặp dơi của bình minh, sơn ca của bóng tối/ Những ngôi mộ tổ tiên hắt sáng gọi tôi về” [32, tr.94]
Nếu như ở những nhà thơ khác, thế giới biểu tượng thường được dựa trên sự đa nghĩa của từ, thì Nguyễn Quang Thiều xây dựng biểu tượng trên cơ
sở những ẩn ngữ, các huyền tích văn hóa Người Việt sống với tự nhiên, ăn uống sinh hoạt cùng với tự nhiên cây cỏ, cánh đồng là biểu trưng của nền văn hóa lúa nước rực rỡ trong tâm thức bao người dân Việt Hình tượng cánh đồng xuất hiện nhiều trong thi ca, đặc biệt là trong thơ của những thi sĩ đồng
Trang 37quê Ngoài Nguyễn Quang Thiều, chúng ta còn bắt gặp hình ảnh cánh đồng như những vần thơ trong ca dao, trong nhớ đồng của Tố Hữu, trong thăm lúa của Nguyễn Hữu Trung, thơ Nguyễn Bính Những câu thơ vang lên, mang
vẻ đẹp chân chất, chịu thương chịu khó của bao lớp người Việt của phong tục Việt Nam Với Nguyễn Quang Thiều những cánh đồng là nơi trở về bình an, những cánh đồng thiêm thiếp vươn mình trong ánh bình minh tất cả đều cất lên những khúc nhạc hoài vọng sâu lắng
Cánh đồng, như một biểu tượng ám gợi trong thơ Nguyễn Quang Thiều, tuy nhiên nó lại ít đứng đơn lẻ, một mình, hoặc song hành cùng dòng sông, hoặc hiện hữu hình bóng con người Tất cả như hài hòa tạo nên cảm giác về lại với quê, với cánh đồng thơm hương lúa Hình tượng cánh đồng trong thơ Nguyễn Quang Thiều mang những biểu trưng khác nhau, lúc thì hiện lên hình ảnh quê hương thân thương, hoài niệm về làng Chùa, lúc lại là hiện thân của con người Dường như hình ảnh cánh đồng đã trở thành một phần trong lăng kính nghệ thuật của nhà thơ, để khi soi chiếu vào và cảm nhận cuộc sống mới thấy được sự bình yên của cuộc sống được tìm thấy nơi đồng nội và sự đau
khổ của cảnh tha phương như Jung từng nói: “Tha phương là đau khổ”
Nguyễn Quang Thiều có lẽ cũng vậy, người xa quê nhưng hồn luôn hướng về quê hương, nhớ thương từng cánh đồng, ngọn cỏ dòng sông Là thế giới hiện thực hiển minh và trầm tích làm thành văn hóa, phong tục trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Ngoài cánh đồng, dòng sông, biểu tượng ám gợi đưa hồn thơ tác giả về
với làng quê, trong Thơ Thiều ta còn bắt gặp hàng loạt h nh ảnh th giới t
nhiên nh b với cỏ cây, loài vật và cả những loài sâu bọ côn trùng Đó là
những con ốc sên, đàn kiến, châu chấu, con chó, cánh chim, cánh bướm, đám mây, con bò, con cá, những cái cây
Trang 38Cây là một trong những biểu tượng phong phú và phổ biến nhất trong
đời sống văn hóa nhân loại: “Là biểu tượng của sự sống trong tiến hóa liên
tục, trong sự vươn lên về phía trời, cây gợi nhớ toàn bộ hàm nghĩa biểu trưng của chiều thẳng đứng”, “Cây cũng làm giao tiếp ba cấp bậc của vũ trụ: dưới đất, nơi rễ của nó cắm sâu và giấu mình; mặt đất, nơi thân cây với những cành đầu tiên mọc ra và không gian trên cao, nơi những cành bên trên và ngọn cây hút ánh sáng mặt trời Những loài bò sát uốn mình dưới gốc rễ của
nó, chim muông bay nhảy trong bộ cánh của nó; nó liên lạc với thế giới âm ti
và thiên gian Nó tập hợp tất cả các nguyên tố vào thân thể nó qua rễ, không khí nuôi dưỡng lá nó, lửa tóe ra từ sự cọ sát của nó” [12, tr.141] Cái cây
trong thơ Nguyễn Quang Thiều là một ám ảnh vĩnh viễn, là thánh địa của tình thương, cái thiện và cái đẹp, trí tuệ và sáng tạo Cây soi sáng, cây dẫn lối, cây làm chứng, cây chở che, cây mang những giấc mơ, cây cho thi nhân và con trẻ
mượn hình hài, cây phục sinh mãnh liệt trước tiếng chim đêm bi tráng: “Một
người đàn ông yếu h n trong đời lần đầu tỉnh giấc giữa đêm khuya/ Một cửa
sổ nhìn về phía trời xa, một ngôi sao sáng/ Chợt nhận ra cái cây còi cọc trên ban công lần đầu trổ hoa lóng lánh/ Và hương thơm tỏa ta rì rầm một khúc nguyện cầu/ n ủi những giấc mơ đầy thở than và đầy mộng mị/ Và cứu vớt những đời sống hận thù, bạc nhược, vô sinh” [32, tr.200] Cây trong thơ
Nguyễn Quang Thiều như kho báu cất giữ những ký ức, những thói quen, những tầng văn hóa cổ xưa để cưu mang, bảo tồn nhân tính và cái đẹp Không
phải ngẫu nhiên nhà thơ tự coi mình là cái cây: “Tôi đứng như một thân cây
tối sẫm” Hình ảnh đó là biểu tượng, hình tượng của thi ca mà Nguyễn Quang
Thiều đang xây dựng theo chính bản năng yêu thương và hướng về Châu thổ
Loài vật trong thơ Nguyễn Quang Thiều như sự hiện thân của chính con người và là sự đối trọng giữa thiên nhiên hoang sơ, hồn nhiên ngây dại với nền văn minh công nghiệp trong nhịp điệu đời sống thị trường và nhân tính