1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi nguyễn quang lập luận văn thạc sỹ ngữ văn

161 495 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 840 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những kinh nghiệmmang tính cá nhân với cái nhìn tinh nhạy, thẳng thắn, không né tránh trước cuộcđời Nguyễn Quang Lập đã phát hiện ra những vấn đề gai góc, thô nháp nhưngmang tính bả

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Sau năm 1975 tình hình đất nước có những thay đổi lớn lao Bước ra từhai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm để chuyển sang thời kì hậu chiến, mọi mặt củađời sống xã hội đều có sự biến chuyển phức tạp, nhất là trong lĩnh vực tinh thần.Bên cạnh niềm vui chiến thắng, niềm hạnh phúc vô biên đất nước được hoà bình,thống nhất thì những lo lắng, khủng hoảng, bất an cũng là trạng thái tinh thần cóthực của xã hội trước những khó khăn, tổn thất nặng nề mà chiến tranh để lại Mặtkhác, cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp của nhà nước đã tỏ ra lỗi thời trước tìnhhình mới, rồi chính sách cấm vận của Mĩ với Việt Nam, chiến tranh ở biên giới TâyNam chưa thực sự chấm dứt tất cả tạo nên một hiện thực ngổn ngang, bộn bề,phức tạp mà mỗi cá nhân khi phải đối diện với nó đều không khỏi cảm thấy lúngtúng, vụng về, ngơ ngác, bất ổn giống như tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Trọng

Tạo: “Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi Câu trả lời thật không dễ dàng chi” (Tản mạn thời tôi sống)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã khẳng định đường lối lãnh đạosáng suốt của Đảng trước tình hình mới Phương châm đổi mới toàn diện đất nướctrên tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới vì con người trên tinh thầnnhân văn, nhân bản của đại hội Đảng không chỉ là tư tưởng chính trị mà còn là hạtnhân cốt lõi tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống xã hội trong đó có văn họctrên mọi phương diện từ đề tài, chủ đề, quan niệm, cảm hứng đến hình thức nghệthuật Cũng từ đây ý thức cá nhân được giải phóng, ý thức cá tính được đề caotrong văn chương Đó là cơ sở cho sự xuất hiện trở lại và nở rộ của tiếng cười (yếu

tố hầu như vắng bóng trong nền văn học cách mạng, văn học “sử thi” 1945-1975trước đó) Có thể nói, cảm hứng trào lộng đã tạo thành một dòng chảy mạnh mẽtrong văn học Việt Nam sau 1975 với những sắc thái, những cung bậc, những giaiđiệu khác nhau

Trang 2

1.2 Là một nhà văn đã từng có thời gian tham gia quân đội và có một sốsáng tác thời kỳ này nhưng Nguyễn Quang Lập chỉ thực sự bước chân vào làng văntrong không khí dân chủ, đổi mới của toàn xã hội nói chung và trong văn chươngnói riêng Vì vậy, nhà văn có các điều kiện cần và đủ để “thoả sức khai vỡ” mảnghiện thực đầy bộn bề, ngổn ngang của đời sống xã hội Bằng những kinh nghiệmmang tính cá nhân với cái nhìn tinh nhạy, thẳng thắn, không né tránh trước cuộcđời Nguyễn Quang Lập đã phát hiện ra những vấn đề gai góc, thô nháp nhưngmang tính bản chất của cuộc sống đời thường với tính muôn mặt, đa chiều của nó.

Đó là cơ sở cho sự xuất hiện của tiếng cười lúc hóm hỉnh, tếu táo, lúc cợt nhả, mỉamai, lúc lại chua chát, đầy dằn vặt ẩn chứa tinh thần nhân văn, nhân bản của nhàvăn đối với con người, cuộc đời

Theo dõi tiến trình văn xuôi Nguyễn Quang Lập từ những tập truyện ngắn

đầu tay như Một giờ trước lúc rạng sáng (1986), Tiếng gọi phía mặt trời lặn (1989) đến ấn phẩm gần đây nhất là Kí ức vụn (2009), Bạn văn (2011) và Chuyện đời vớ vẩn (2011) chúng tôi nhận thấy tiếng cười xuất hiện ngày càng nhiều, càng

trở nên đậm nét và thực sự đã trở thành một khuynh hướng sáng tác, một dòng cảmhứng nổi bật, rất đáng chú ý

Chọn đề tài: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Nguyễn Quang Lập,

chúng tôi hi vọng góp phần tìm hiểu và minh định một phương diện cảm hứng quantrọng trong bức tranh đa sắc độ của nhà văn được dư luận đánh giá là cũng “lắm tài

và nhiều tật” này

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Vài năm gần đây, cư dân mạng biết đến Nguyễn Quang Lập như một trongnhững blogger hot nhất Việt Nam với giọng văn vừa lịch lãm, trải đời, vừa phóngtúng, bông phèng, bỗ bã Ngót 30 năm cầm bút ở nhiều lĩnh vực: thơ, văn xuôi,kịch bản phim, kịch bản điện ảnh nhà văn đã “đứng” được trong lòng công chúngkhá vững vàng với một giọng điệu riêng, độc đáo không dễ lẫn với bất kì ai, nhất làtrong mảng văn xuôi

Trang 3

Ngay từ những truyện ngắn đầu tay Nguyễn Quang Lập đã được dư luậnquan tâm chú ý Xung quanh tác phẩm của nhà văn có rất nhiều những ý kiến,những nhận xét, những đánh giá khá thú vị của bạn đọc, bạn văn, cũng như các nhànghiên cứu, phê bình Theo định hướng nghiên cứu của đề tài chúng tôi có thể điểmlược những ý kiến đánh giá sau đây.

Quan tâm và sớm phát hiện tài năng văn chương của Nguyễn Quang Lập,đặc biệt là khả năng hài hước, trào lộng của nhà văn đầu tiên phải kể đến nhữngngười bạn thân, bạn văn của ông Với nhà thơ Thanh Thảo, ấn tượng sâu sắc nhấtlại là: “Nguyễn Quang lập là nhà văn rất có duyên trong văn và hài hước trongđời” Ngay khi đọc tác phẩm đầu tiên của Lập, Thanh Thảo đã bị hấp dẫn bởi “Khi

đọc tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập thì tôi vừa đọc

vừa cười,vì nó hài hước không chịu được, vui không chịu được, mặc dù ai cũngbiết thủ pháp hài hước là nhiều khi phải “nói quá lên một chút” Cái hài của Lập rất

có duyên, nó “phối kết hợp” giữa cái hài dân gian với cái hài của một nhà văn đủsức nắm vững và “đánh đu với con chữ” để cho ra những đoạn văn khiến độc giả

“cười muốn chết” [28] Rồi đến khi đọc những bài viết của Lập trên blog – sau này

một số được tập hợp lại và in thành Kí ức vụn- nhà thơ thực sự bị thuyết phục bởi

“cái hài hước rất riêng của anh đã được phát huy “tới bến”, điều khiến một sốngười quen thân của anh phiền lòng khi anh viết về họ mà không theo giọng “hùngca” hay “hoan ca” mà là “hài ca” Rõ ràng ngay từ đầu Thanh Thảo đã nhận ra sựxuất hiện khá đậm nét của tiếng cười và cảm hứng trào lộng trong văn xuôi NguyễnQuang Lập

Khi đọc Ký ức vụn, nhà văn Bảo Ninh lại cảm thấy “bất thường” với cách

viết của Nguyễn Quang Lập: “viết lách nhẹ như không, như chơi mà cuốn ngay lậptức”, cái cách viết khiến người đọc không thể dừng lại để rồi lại bị ám ảnh mãi

không thôi Và Bảo Ninh nhận xét: “Ký ức vụn, nếu là trong một mâm nhậu vài ba

thằng đọc to lên với nhau chắc phải phát sặc lên vì cười, và cả tức nữa, đến muốnđập chén chửi vang Nhưng một mình nằm đọc thì chẳng thấy buồn cười Chẳngthấy tục Chẳng thấy bỗ bã Đây là một tác phẩm sâu nặng buồn vui Buồn nhiều

Trang 4

hơn vui Những mảnh ký ức khía vào tim người đọc Càng khía sâu bởi cách tôi không biết gọi sao cho đúng cách viết ấy: thảo khấu, cười cợt, báng bổ, làmloạn, trêu ngươi?- khiến chữ nghĩa tương phản với nội dung Đấy là cách viết của

viết-sự “trên tài” Một tác phẩm bi kịch đời người mà chữ nghĩa lại gây cười thì trên tàihơn hẳn những nỗi buồn cao sang nhưng thô thiển, ầm ĩ và lồ lộ ra trên các trangsách tràn ngập những tính từ bi ai” [28] Có thể thấy, Bảo Ninh đã không chỉ nhận

ra chất hài hước, cười cợt trong cách viết của Nguyễn Quang Lập mà điều quantrọng hơn là nỗi đau đời, là chiều sâu của sự suy tư, trải nghiệm trước những “buồnvui một thuở”

Còn với Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đặc biệt ấn tượng về mảng văn xuôi

viết về đề tài chiến tranh của Nguyễn Quang Lập Từ những truyện ngắn Cây sến lửa, Đò ơi, Tiếng gọi phía mặt trời lặn đến tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng.

Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập là “người thuốc thang cho vếtthương chiến tranh”, Quang Lập “viết về chiến tranh không để ca ngợi chiến công,

mà để bày tỏ lo lắng về vết thương” Cái cách mà Lập sử dụng là “dùng giọng hàihước dân dã để chế ngự bớt nỗi đau đớn” Như vậy, có thể thấy, ít nhiều HoàngPhủ Ngọc Tường đã nhận ra cái “tạng riêng” của văn xuôi Nguyễn Quang Lập đặcbiệt là giọng hài hước mang đậm sắc thái dân gian [67]

Không chỉ giành được sự quan tâm của những người bạn văn, bạn thân, văn

xuôi Nguyễn Quang Lập đặc biệt là Kí ức vụn,Bạn văn và Chuyện đời vớ vẩn còn

thu hút sự chú ý của rất nhiều công chúng bạn đọc, giới nghiên cứu, phê bình Hầuhết các ý kiến đều thống nhất ở sự hài hước, hóm hỉnh, mang đậm tính khẩu văn,thậm chí rất tục, bậy trong văn Nguyễn Quang Lập Tiêu biểu là các ý kiến:

Theo Lê Thiếu Nhơn: “Sau tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng, đúng 20 năm sau, Nguyễn Quang Lập mới trở lại văn đàn bằng tập tản văn Ký ức vụn Vẫn

là một Nguyễn Quang Lập giễu nhại, hóm hỉnh nhưng đã ngoặc sang ngã rẽ khẩuvăn”[48] Trong một bài viết khác, Lê Thiếu Nhơn lại nhận xét: “Thỉnh thoảng vẫn

có người dùng khẩu văn vào các bài viết nho nhỏ, nhưng không ai dùng khẩu vănmột cách dày đặc như Nguyễn Quang Lập Nhất là tiếng địa phương vùng Bình Trị

Trang 5

Thiên được anh sử dụng rất đắc địa Đi kèm với những chi tiết phúng dụ, bao giờNguyễn Quang Lập cũng kéo thêm câu cửa miệng “Ua chầu chầu” [56]

Trong bài viết của mình trên báo Người lao động, Tiểu Quyên lại cho rằng

“20 năm trước, tác giả của tập truyện ngắn Tiếng gọi phía mặt trời lặn khiến người

đọc chùng lòng 20 năm sau, vẫn là những góc đời buồn, nhưng Nguyễn Quang

Lập đã thả vào Kí ức vụn những nụ cười hài hước nhưng đầy ưu tư, suy ngẫm” và

người viết cũng đã nhận ra giọng văn Nguyễn Quang Lập “khác hơn, dí dỏm hơn,

và ngôn ngữ cũng tự do, phóng khoáng hơn”

Tác giả Minh Thương cũng nhận xét khi đọc Kí ức vụn: “Nguyễn Quang Lập

là người có tài trong cách kể chuyện sử dụng khẩu ngôn linh hoạt và dân dã”, “anhcũng khéo kết hợp sử dụng lối kể chuyện dân gian trong tiếu lâm, sự hóm hỉnh vàtrào lộng, tính thông tấn trong các bài viết” [28]

Trong bài viết Một vài cảm nhận về Ký ức vụn của Nguyễn Quang Lập

(2010), nhà nghiên cứu Phạm Tuấn Vũ đã đề cập một cách tương đối đầy đủ nhữngvấn đề đáng chú ý của ấn phẩm từ phương diện thể loại đến nội dung, từ quan niệm

“đậm màu sắc dân gian hiện đại của tác giả về con người và cuộc đời” đến tài năngkhắc họa nhân vật và thủ pháp “nhại” được sử dụng một cách thường xuyên Đặcbiệt trong bài viết này, nhà nghiên cứu Phạm Tuấn Vũ đã đề cập đến hình tượng tácgiả với những nét mới so với văn xuôi truyền thống của nước ta “ Đó là hình tượngmột con người chân thực giãi bày tư tưởng tình cảm, kể cả những điều mà theochuẩn mực hiện thời là tục, là khiếm nhã Hình tượng ấy ít được xây dựng bằngnhững ước lệ nghệ thuật phổ biến” [68, 73]

Với Kim Sen thì “Văn Ký ức vụn rất tục, giống giọng người ta thường nói

khi ngồi chén chú chén anh”, vì vậy đọc nó khiến “nhiều người cười nghiêng ngả vìcái tục, cái thanh được hòa vào làm một” Không dừng lại ở đó, Kim Sen còn nhận

ra được đằng sau “tiếng cười buông lơi” Ký ức vụn còn làm “cuộc sống hiện lên

hơn cả những cảm xúc thông thường – buồn vui, chua xót hay tiếc nuối” Và vì thế,chân dung của các nhân vật dù nổi tiếng hoặc ít nổi tiếng, dù có thật hay hư cấu,

Trang 6

phiếm chỉ đều được hiện lên “rất người”, “đầy công bằng với những thói hư, tật xấu

và sự đáng yêu không phân biệt chỗ đứng trong đời” [61]

Trong khóa luận tốt nghiệp đại học Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập (2010), tác giả Nguyễn Thị Nga cũng đi sâu nghiên cứu và đưa ra kết

luận rất có ý nghĩa: “Tạp văn Nguyễn Quang Lập vô cùng phong phú, đa dạng hầunhư đề cập đến mọi con người ông đã gặp, có thanh, có tục, có chuyện vui, chuyệnbuồn nhưng truyện nào ông cũng nói một cách sòng phẳng, trắng phớ chứ khôngphải úp úp mở hay làm dáng một cách điệu đà”, “sức hấp dẫn đặc biệt của tạp vănNguyễn Quang Lập tỏa ra từ nghệ thuật ngôn từ đặc sắc”, và trong các lớp từ, biệnpháp tu từ mà tác giả sử dụng “lớp từ địa phương, lớp từ thông tục, từ láy, từ xưng

hô là một biểu hiện nổi trội trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nguyễn Quang Lập”[40, 45]

Trong lời giới thiệu cuốn Bạn văn, Phạm Xuân Nguyên với tư cách là một

bạn đọc, bạn văn, bạn của tác giả đã đưa ra lời cảnh báo đối với những người đọchoặc thích sự nghiêm trang, nghiêm túc, nghiêm trọng, hoặc vốn quen thần tượngcác nhà văn, nhà thơ, hoặc vốn tin vào những chi tiết trong văn là hoàn toàn có thựctrong đời, hoặc vốn thích và ái mộ Nguyễn Quang Lập khi đọc cuốn sách này đềuphải cân nhắc, e ngại, dè chừng, đắn đo Bởi vì, hơn ai hết Phạm Xuân Nguyênnhận ra được tính mới mẻ, độc đáo, phá vỡ khuôn mẫu truyền thống trong lối viết,lối dựng chân dung, lối tự trào của tác giả Đó chính là thành công và cũng là điểmcốt yếu làm nên sức hấp dẫn của cuốn sách với Phạm Xuân Nguyên nói riêng vàbạn đọc nói chung

Nhận xét về Bạn văn Vũ Quỳnh Trang cũng cho rằng: “Với lối viết hí hoạ,

hài hước, trào lộng mặc dù hấp dẫn song cuốn sách của Nguyễn Quang Lập chưahẳn đã thuận mắt với những bạn đọc vốn thích đọc văn chương một cách nghiêmtrang” [66] Ý kiến của Vũ Quỳnh Trang cũng thừa nhận tính trào lộng và cách viếtchân dung độc đáo, phá vỡ chuẩn mực thông thường, thậm chí “nghịch nhĩ” củaNguyễn Quang Lập

Trang 7

Mới đây nhất khi tác phẩm Chuyện đời vớ vẩn của nhà văn được công bố,

cuốn sách tiếp tục nhận được sự quan tâm của đông đảo công chúng bạn đọc Đa sốcác ý kiến đều thừa nhận tính hài hước, trào lộng, cách kể chuyện có duyên và khảnăng khắc hoạ chân dung chân thực, sống động của Nguyễn Quang Lập

Mặc dù sự thống kê của chúng tôi về những bài viết, những ý kiến, đánh giáxung quanh tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Lập là chưa đầy đủ, nhưng cóthể nhận thấy, các bài viết đều đề cập đến ngôn ngữ, giọng văn, cách nhìn conngười, cuộc đời, cách xây dựng chân dung nhân vật rất “thật”, rất hài hước và rấtđáng chú ý trong tác phẩm của ông Tuy nhiên, các bài viết chủ yếu dừng lại ởnhững cảm nhận, những nhận xét mang tính riêng lẻ mà chưa đi sâu nghiên cứumột cách hệ thống, nhất là ở phương diện cảm hứng trào lộng và sự chi phối của nóđến các phương tiện nghệ thuật thể hiện Vì vậy, luận văn của chúng tôi đã lựachọn hướng tiếp cận còn bỏ ngỏ này

3 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI VĂN BẢNKHẢO SÁT

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cảm hứng trào lộng được thể hiệntrong văn xuôi Nguyễn Quang Lập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Nguyễn Quang Lập, luận

văn của chúng tôi tập trung tìm hiểu những biểu hiện riêng, độc đáo của cảm hứngtrào lộng trong văn xuôi của tác giả này trong bức tranh chung của cảm hứng tràolộng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Đặc biệt, luận văn đi sâu nghiên cứu, tìmhiểu cái nhìn trào lộng trong văn xuôi của ông được thể hiện trong cái nhìn về conngười, về thế sự và sự chi phối của nó tới các phương tiện nghệ thuật thể hiện: từnghệ thuật xây dựng tình huống, tính cách hài đến cách sử dụng ngôn ngữ, giọngđiệu trần thuật và hệ thống thể loại

Trang 8

Chuyện đời vớ vẩn (2011).

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụngcác phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp so sánh văn học

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu của người đi trước; vớiphương pháp làm việc khoa học, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ đưa ra được mộthướng tiếp cận, một cách kiến giải về văn xuôi Nguyễn Quang Lập trên phươngdiện cảm hứng trào lộng và sự chi phối của nó đến nghệ thuật trào lộng trong vănxuôi của ông

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn của chúng tôi gồm có ba phần: Mở đầu, Nội dung chính và Kếtluận Phần nội dung chính được triển khai theo ba chương sau:

Chương 1: Khái niệm cảm hứng trào lộng và sự trỗi dậy của cảm hứng trào

lộng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Chương 2: Tiếng cười trào lộng trong văn xuôi Nguyễn Quang Lập

Chương 3: Nghệ thuật trào lộng trong văn xuôi Nguyễn Quang Lập

Trang 9

Chương 1

KHÁI NIỆM CẢM HỨNG TRÀO LỘNG

VÀ SỰ TRỖI DẬY CỦA CẢM HỨNG TRÀO LỘNG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

1.1 Khái niệm “cảm hứng trào lộng”

Là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng, xúccảm của người nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả trong tác phẩm, tuy nhiên kháiniệm “cảm hứng trào lộng” hầu như chưa được định nghĩa, chưa được lý giải một

cách trực tiếp Khảo sát một số công trình Từ điển văn học, Từ điển thuật ngữ văn học, 150 thuật ngữ văn học, chúng tôi nhận thấy đa số các từ điển đều mới chỉ

dừng lại ở việc đưa ra các khái niệm cảm hứng, cảm hứng chủ đạo, hay trào lộng làgì

Đề cập đến thuật ngữ cảm hứng, Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm cảm hứng chủ đạo Theo các tác giả, khái niệm này được hiểu là: “Trạng thái

tình cảm mãnh liệt, đắm say xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tưtưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của nhữngngười tiếp nhận tác phẩm” Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng: “cảm hứng chủđạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại chotác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định” Họ cũng đưa ra cách phânloại cảm hứng chủ đạo (gọi tắt là cảm hứng) theo nghiên cứu của văn học hiện đạithành: bi kịch, chính kịch, anh hùng, cảm thương, lãng mạn, trữ tình, trào lộng,châm biếm [13, 44-45]

Cùng hướng này, Henri Bénac trong cuốn Dẫn giải ý tưởng văn chương đã

giải thích khái niệm cảm hứng: “Về nguồn gốc từ, đó là sự tiếp nhận một hơi thởcủa thần linh làm nảy sinh hứng khởi sáng tạo Nói rộng ra, cảm hứng có thể lànăng khiếu của nhà văn, khiến nhà văn phát minh ra cái mà không một kỹ thuật vănchương nào, chỉ có mình nó, có thể khám phá ra được (những từ đồng nghĩa theocác thời đại: Hứng khởi, mê say, điên loạn, cuồng say, quỷ ám, thi hứng, cao

Trang 10

hứng )” [5, 442] Đồng thời, khi đề cập đến mối quan hệ cảm hứng và nghệ thuật

Henri Bénac cũng đã dẫn ra ý kiến của F Le Lionnaire, Oulipo trong cuốn Văn học tiềm năng: “Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng được xây dựng bắt đầu từ một cảm

hứng nào đó (ít ra đấy cũng là điều mà tác giả thường để lộ ra cho chúng ta biết),cảm hứng ấy bắt buộc phải thích ứng một cách vừa phải với một chuỗi ràng buộc

và những thủ tục” [5, 445]

Có thể thấy, dù phát biểu cách này hay cách khác, các nhà nghiên cứu đềukhẳng định cảm hứng là trạng thái cảm xúc mãnh liệt, là điều kiện không thể thiếucủa việc sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đích thực mà nhờ đó người nghệ sĩ

có thể khẳng định “nghệ thuật riêng của mình”

Về khái niệm “trào lộng”, Henri Bénac đã diễn giải một cách cụ thể, rõ rànghơn Theo tác giả, trào lộng bắt nguồn từ tiếng La Tinh burla, “đùa bỡn”, “chỉ làmột hình thức đặc biệt của lối diễn đạt có trong tất cả các nghệ thuật có ngay từthời cổ đại trong văn học”, “trào lộng về căn bản là nói bằng những lời lẽ thô tục và

cổ lỗ về những chuyện nghiêm túc”, vì thế từ này cũng để chỉ thể loại trái ngược

“thể loại nói bằng những lời đẹp đẽ, chau chuốt về những sự vật thô thiển, tầmthường” [5, 110]

Cũng theo tác giả, trong khi hài hước giữ sự tiếp xúc với con người, thì tràolộng linh hoạt hơn, “trước hết dựa trên nguyên tắc giả trang nên làm sai lệch, bópméo bản chất người (về điểm này trào lộng đối lập với chủ nghĩa hiện thực) Nhưngmặt khác trào lộng đòi hỏi một sự hư cấu tổ chức mang tính thẩm mĩ cao của hìnhảnh, của động tác và của nhịp điệu, làm cho nó trở thành thích hợp với thơ ca, vớicâu chuyện được kể hay với điện ảnh”, “trào lộng cũng khác gây cười ở sự kì cục,

lố bịch, trò này đòi hỏi sự lố lăng do khác lạ, do giả mạo bắt chước tự nhiên” [5,111] Vì thế, những thủ pháp gây cười của trào lộng dựa trên: giả trang qua từ ngữ(chuyển đổi), giả trang qua miêu tả (hình thái, cử chỉ, động tác), những thủ pháptổng quát hơn thuộc về phạm vi của bông lơn và đặc biệt của tính hài trong sử dụng

từ ngữ, của châm biếm hay nói nhại, giễu cợt Mục đích của trào lộng do vậy, cũng

Trang 11

mở rộng hơn, không chỉ để mua vui, chế nhạo bằng nhại tiếng mà còn châm biếm

xã hội, và làm con người thay đổi bản chất bằng cách điệu hóa

Có thể thấy, ở một phương diện nào đó trào lộng rất gần với khái niệm tràophúng Tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau về mức độ, mục tiêu Nếu tràophúng sử dụng các yếu tố của tiếng cười (mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoatrương, hài hước ) để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực,xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội, nghĩa là nó mang tính công kích bút chiến mộtcách mạnh mẽ những khiếm khuyết, những thói hư, tật xấu thì trào lộng uyểnchuyển, mềm mại và linh hoạt hơn trong mức độ và mục tiêu sử dụng tiếng cười.Khởi nguồn trào lộng là một trò vui nó cung cấp cho một trong nhiều yếu tố củabông lơn, một yếu tố làm cho người ta vui vẻ Trong quá trình phát triển, mục đíchcủa trào lộng được mở rộng hơn, có khi dùng để mua vui, cười đùa, có khi dùng đểchế nhạo, châm biếm hoặc làm thay đổi bản chất người bằng cách điệu hóa

Trên cơ sở những tiền đề giới thuyết nêu trên, luận văn của chúng tôi sửdụng khái niệm “cảm hứng trào lộng” với ý nghĩa là một yếu tố, một phương diệnquan trọng của bản thân nội dung tác phẩm nghệ thuật Khái niệm này gắn liền vớicách nhìn đời sống mang tính dân chủ, cởi mở của cá nhân người nghệ sĩ và quanniệm đa chiều về cuộc sống ấy Khởi nguyên từ cái hài – một phạm trù mĩ học

“phản ánh hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếngcười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn, sự không tươngxứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội” [13, 42] Cảmhứng trào lộng thể hiện sự quan tâm đặc biệt, niềm hứng thú đặc biệt của nhà văntrong việc phát hiện tính mâu thuẫn, sự không tương xứng, lệch pha, lệch chuẩncủa thực tại xã hội, của con người để làm bật lên tiếng cười với nhiều sắc thái,nhiều cung bậc phong phú, đa dạng: cười thiện cảm, cười khinh bỉ, cười chua chát,chán nản, cười nghiêm khắc, cười vui, cười đùa Và như vậy, hệ quả tất yếu củacảm hứng trào lộng là tiếng cười và đối tượng mà nó hướng tới là con người hoặcnhững gì liên quan đến con người bởi “cười là đặc tính của con người” (Rabơle).Tuy nhiên, tiếng cười chỉ bộc lộ khi chủ thể phát hiện ra đối tượng gây cười; tiếng

Trang 12

cười nổ ra như là dấu hiệu của sự thân mật, “suồng sã” với đối tượng TheoM.Bakhtin: “Tiếng cười xóa bỏ nỗi sợ hãi và thái độ tôn kính trước khách thể,trước thế giới, biến nó thành đối tượng của sự tiếp xúc thân mật và bằng cách đó,chuẩn bị cho việc nghiên cứu nó một cách hoàn toàn tự do” [3, 50] Do đó, cảmhứng trào lộng chỉ thực sự xuất hiện và phát triển khi tư duy văn học mang đậmtinh thần dân chủ, tự do của một ý thức cá nhân hoàn toàn được giải phóng.

Với ý nghĩa đó luận văn của chúng tôi tập trung tìm hiểu Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Nguyễn Quang Lập theo hướng khám phá tiếng cười với

những biểu hiện phong phú, đa dạng trong văn xuôi của ông, hệ quả tất yếu củacách nhìn, cách tiếp cận con người và đời sống theo một góc độ riêng, một lăngkính riêng với những thủ pháp gây cười tinh quái, tài tình của văn “Bọ Lập”

1.2 Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam trước 1975

Dễ nhận thấy cảm hứng trào lộng đã tạo thành một dòng chảy tương đốimạnh mẽ và xuyên suốt văn học Việt Nam từ xưa đến nay nhất là trong mảng vănxuôi Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử mà cảm hứng này cónhững biểu hiện không giống nhau, với những mức độ, mục đích khác nhau

1.2.1 Cảm hứng trào lộng trong truyện dân gian

Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được hình thành, tồntại, phát triển nhờ tập thể và gắn bó mật thiết với các sinh hoạt khác nhau trong đờisống cộng đồng, văn học dân gian không chỉ là kho tri thức vô cùng phong phú vềđời sống của các dân tộc Việt Nam mà còn là nơi gửi gắm, chia sẻ tâm tư, tình cảm,ước mơ, khát vọng, niềm tin về con người, cuộc sống, về lao động sản xuất củanhân dân lao động Nói cách khác, văn học dân gian bộc lộ một cách đầy đủ, trọnvẹn nhất vẻ đẹp tâm hồn quần chúng: giàu tình yêu thương, luôn vui vẻ, lạc quantrước mọi hoàn cảnh, căm ghét những thói hư, tật xấu Như một hệ quả tất yếu,cảm hứng trào lộng xuất hiện và phát triển một cách mạnh mẽ trong văn học dângian đặc biệt là trong truyện dân gian bởi với nhân dân lao động, tiếng cười làphương tiện, là cứu cánh để giúp họ đối diện, vượt lên và chiến thắng hoàn cảnh

Trang 13

sống vốn dĩ còn lắm gian truân, nhọc nhằn, vất vả, đầy rẫy những bất công, ngangtrái.

Trong hệ thống thể loại phong phú của truyện dân gian, cảm hứng trào lộngđược thể hiện tập trung và rõ nét nhất trong truyện cười (còn gọi là truyện tiếulâm) Lẽ dĩ nhiên, ở các thể loại khác của văn xuôi dân gian không phải không có

sự xuất hiện tiếng cười Tuy nhiên ở những thể loại này tiếng cười chỉ xuất hiện vớivai trò điểm xuyết làm cho truyện thêm đậm đà, chứ không chiếm vị trí trung tâm,không phải là mục đích chính của thể loại Nhìn chung, tiếng cười trong truyện dângian được sản sinh một cách trực tiếp ngay trong đời sống lao động sản xuất vàsinh hoạt hằng ngày nên nó vừa mang tính bộc phát, hồn nhiên, đậm hơi thở củacuộc sống – hệ quả của tâm lý thích đùa cợt, châm chọc, thích trào lộng của nhândân – vừa có tính chiến đấu, đả kích mạnh mẽ những thói tật xấu xa, những nghịch

lý, bất công, ngang trái trong xã hội đương thời Ở phương diện này tiếng cười có ýnghĩa xã hội sâu sắc

Được sản sinh từ cảm hứng trào lộng, tiếng cười trong các truyện tiếu lâmdân gian mang nhiều sắc độ khác nhau Có lúc tiếng cười hài hước được sử dụng đểtạo nên giọng bông lơn, cười cợt, trêu chọc nhau qua đó phản ánh bản chất lạcquan, yêu đời, ham sống trong cái nhìn và hành động của nhân dân trên mọi lĩnh

vực khác nhau của đời sống xã hội có thể thấy qua truyện Tay ải tay ai Có lúc

tiếng cười lại mang ý nghĩa khôi hài, mua vui kèm theo một cái nhìn thông cảm,thậm chí một niềm thiện cảm với những ngây thơ, sai lầm, thiếu sót của con người

Truyện Cháy là một ví dụ cụ thể Rõ ràng trong câu chuyện không ai có lỗi cả: ông

bố thì cẩn thận, em bé thì thật thà, người khách có đủ lý do để lo lắng Tiếng cười

bật ra do sự mâu thuẫn: Ông nói gà, bà nói vịt Em bé thì nói về mảnh giấy, ông

khách lại đang nghĩ về người bạn vắng mặt Tiếng cười vì thế, thể hiện cái nhìnthông cảm, đầy thiện cảm trước sự ngây thơ, thực thà của em bé

Tuy nhiên, trong văn học dân gian nói chung và trong truyện dân gian nóiriêng, các tác phẩm sử dụng tiếng cười như một phương tiện để đấu tranh xã hộithường chiếm dung lượng lớn Không phải là tiếng cười khôi hài, châm chọc mà là

Trang 14

tiếng cười trào phúng, đả kích giai cấp thống trị, đả kích những mặt tiêu cực, nhữngthói tật xấu xa trong đời sống xã hội Ở phương diện này, tiếng cười là vũ khí đắclực và hiệu quả để tống tiễn những thứ lạc hậu, độc ác, xấu xa, giả dối xuống mồmột cách vui vẻ, do đó, giúp cho sự toàn thắng của những gì tiên tiến, tốt đẹp, trungthực

Mang ý nghĩa đấu tranh xã hội, cảm hứng trào lộng được thể hiện tập trung ởcác truyện cười phê phán, đả kích Tiếng cười có khi nhằm vào những thói tật,những biểu hiện xấu ngay trong chính nội bộ nhân dân Đối tượng bị cười cũng rấtphong phú, đa dạng Đó có khi là tính lười biếng, ỷ lại, tính tham ăn, thói vô tích

sự, hoặc tính khoe khoang, khoác lác, thói nịnh bợ, giấu dốt của một bộ phận nhân

dân lao động như trong một loạt các truyện cười: Con vịt hai chân, Lợn cưới áo mới, Con rắn vuông, Nhưng nó phải bằng hai mày, Tam đại con gà Tất nhiên

trong loại tác phẩm này tiếng cười thường vừa mang ý nghĩa châm biếm, vừa có ýnghĩa giáo dục thấm thía, sâu sắc, ít mang thái độ phủ định, tố cáo một cách cayđộc như trong các tác phẩm hướng vào đối tượng là tầng lớp phong kiến thống trị -

kẻ thù của nhân dân lao động Các tác phẩm thuộc chủ đề này đặc biệt phát triểntrong thời kỳ suy vong của giai cấp phong kiến (khoảng thế kỷ thứ XVI trở đi nhất

là thời Lê mạt và thời Nguyễn), bởi vì khi ấy, giai cấp này tiêu biểu cho cái lỗi thời,cái phản động, cái xấu xa Đó là đối tượng chủ yếu của tiếng cười trào lộng dângian Đáng chú ý là hệ thống các truyện cười được lưu truyền một cách rộng rãi

như truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai Tú Xuất với nội dung

chống phong kiến sâu sắc, nó thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng đốivới kẻ thù giai cấp của nhân dân

Rõ ràng đã xuất hiện và tồn tại một dòng chảy mạnh mẽ của cảm hứng tràolộng trong truyện dân gian, nó không chỉ thể hiện đời sống tâm hồn phong phú củanhân dân mà còn góp phần thể hiện trí tuệ dân gian trong việc sử dụng các thủpháp, biện pháp gây cười Đó có thể là việc sử dụng một lời nói, một cử chỉ, mộttình huống đáng cười hay những yếu tố bất ngờ gây xúc cảm mạnh mẽ cho ngườiđọc Có lúc yếu tố tục được sử dụng khá đậm đặc trong các truyện cười không chỉ

Trang 15

với vai trò là phương tiện nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc – đưanhững cái tầm thường, tục tĩu vào những cái nghiêm trang, đạo mạo, những chuẩnmực “khuôn vàng thước ngọc” của lễ giáo phong kiến để thể hiện tinh thần phảnphong mạnh mẽ Dù sử dụng biện pháp nghệ thuật gì, với mục đích nào, xét đếncùng tiếng cười trong văn học dân gian nói chung và trong truyện dân gian nóiriêng cũng góp phần thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp,lành mạnh, luôn vui vẻ, lạc quan.

1.2.2 Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn X – XIX

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (còn gọi là văn học trungđại) là nền văn học tồn tại và phát triển trong lòng xã hội phong kiến Dưới sự tácđộng mạnh mẽ của truyền thống dân tộc, tinh thần thời đại và những ảnh hưởng từnước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc), văn học giai đoạn này đã đạt được nhữngthành tựu rực rỡ cả về mặt nội dung và nghệ thuật Theo dõi diễn trình của văn họctrung đại Việt Nam dễ dàng nhận thấy có sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ củacảm hứng trào lộng, đặc biệt là từ sau thế kỉ XVIII – khi chế độ phong kiến ViệtNam đi từ khủng hoảng đến suy thoái, những giá trị, những chuẩn mực đạo đức bị

đổ vỡ, đảo lộn Đó là mảnh đất để tiếng cười xuất hiện và phát triển

Nếu văn học dân gian là tiếng nói hồn nhiên, tự nhiên của tâm hồn ngườibình dân xưa thì văn học trung đại chủ yếu được dùng để tải đạo, để bày tỏ khátvọng, hùng tâm tráng chí của vua, quan, tăng lữ hay các nho sĩ (Văn dĩ tải đạo, thi

dĩ ngôn chí) nhằm mục đích giáo huấn Vì thế, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với tưtưởng “trung quân ái quốc” và chủ nghĩa nhân đạo luôn là những nội dung lớn,xuyên suốt qúa trình tồn tại, phát triển của văn học trung đại Việt Nam Tuy nhiên,bên cạnh đó, trong văn học vẫn tồn tại những nội dung, những dòng cảm hứngkhác Từ cuối đời Trần (thế kỷ XIV), cảm hứng thế sự đã được biểu hiện khá đậmnét Văn học hướng vào đời sống hiện thực để phơi bày thực trạng xã hội, để phảnánh thế thái nhân tình, phản ánh cuộc sống đau khổ của nhân dân Đặc biệt tronghai thế kỷ XVIII, XIX, khi hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động bởi nội chiếnphong kiến, bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa và cuộc xâm lăng của thực

Trang 16

dân Pháp, cảm hứng thế sự càng phát triển mạnh mẽ trong văn học Nhiều tác giảhướng ngòi bút của mình vào hiện thực xã hội để ghi lại “những điều trông thấy”.

Từ đó mà các tác giả đã phát hiện ra vô số những mặt, những hiện tượng, nhữngtình huống mang bản chất hài Đó là “sự mâu thuẫn, sự không tương xứng màngười ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội thẩm mĩ” hay đó là “sự trốngrỗng, sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh hoang tự cho rằng

có nội dung và ý nghĩa thực sự” (Séc-nư-sép-xki) [13, 42] - những hiện tượng phổbiến của thực tế đời sống xã hội vốn có khả năng tạo ra tiếng cười với những sắc độkhác nhau Đó cũng chính là đối tượng của cảm hứng trào lộng trong sáng tác củavăn học thời kỳ này Trong thơ có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: NguyễnBỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương Ởvăn xuôi có thể thấy trong sáng tác của Nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác,Ngô Gia văn phái

Mặc dù không phải là nội dung lớn và xuyên suốt của văn học trung đạinhưng cảm hứng trào lộng của văn học giai đoạn này được biểu hiện khá phongphú, đa dạng và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc

Nếu trong thơ, tiếng cười trào lộng được biểu hiện khá phong phú, đa dạngtrong sáng tác của các tác giả mà ở họ ý thức cá nhân, cá tính phát triển tương đốimạnh mẽ Đó là tiếng cười chua xót, mỉa mai, chế giễu của Trạng Trình NguyễnBỉnh Khiêm trước sự băng hoại đạo đức, sự “đổi trắng thay đen” của lòng ngườibởi sức mạnh của đồng tiền Là tiếng cười phê phán, đả kích mạnh mẽ giống nhưmột cái tát thẳng thừng, không hề nể nang, sợ hãi vào mặt bọn phong kiến thống trịtrong thơ Hồ Xuân Hương Rồi tiếng cười lúc hóm hỉnh, nhẹ nhàng, lúc mỉa maiđầy phẫn uất trong thơ Nguyễn Công Trứ, tiếng cười trào phúng thâm trầm mà sâusắc trong thơ cụ Tam Nguyên hay tiếng cười sắc nhọn, cay độc, bốp chát khi tốcáo, đả kích hoặc hài hước, dí dỏm, nhân hậu khi tự trào trong thơ Tú Xương Thìđến văn xuôi, chủ yếu là trong các thể loại văn xuôi tự sự như truyện truyền kỳ, ký,tuỳ bút, tiểu thuyết chương hồi tiếng cười trào lộng thường mang ý nghĩa phêphán, tố cáo xã hội (các thể loại văn chính luận như hịch, chiếu, biểu không có sự

Trang 17

xuất hiện của nội dung cảm hứng này) Có thể kể đến một loạt các tác phẩm tiêu

biểu như: Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô Gia văn phái)

Dù không được biểu hiện tập trung với mức độ đậm đặc giống như trong thơ

nhưng ở bộ phận văn xuôi, cảm hứng trào lộng cũng rất đáng chú ý ỞTruyền kỳ mạn lục thông qua các cốt truyện cổ và các truyền thuyết lịch sử, dã sử được lưu

truyền trong dân gian Nguyễn Dữ không chỉ phản ánh khát vọng phá bỏ bất công,ngang trái, vươn lên kiếm tìm hạnh phúc mà còn thể hiện cảm hứng phê phánnhững tệ nạn xã hội, những suy thoái đạo đức của con người bằng tiếng cười mỉamai, chế giễu Tác phẩm vì thế mang đậm yếu tố hiện thực và chất nhân văn sâu

sắc Trong Thượng kinh kí sự và Vũ trung tuỳ bút, bằng lối văn ghi chép sự việc

vừa cụ thể, chân thực, vừa sinh động, hấp dẫn các tác giả đã phản ánh được đờisống xa hoa, trụy lạc của vua chúa, sự nhũng nhiễu, bạo ngược của bọn quan lạithời Lê - Trịnh mà ẩn đằng sau đó qua cách miêu tả, cách sử dụng ngôn ngữ, lờibình luận của người viết người đọc vẫn nhận ra thái độ phê phán, nụ cười châmbiếm, giễu nhại của các tác giả trước những thói tật, những hư danh phù phiếm

chốn quan trường Đặc biệt ở Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái, tác

phẩm không chỉ tái hiện được một cách chân thực, sống động một giai đoạn lịch sửquan trọng với những biến cố, những sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lớn lao, nhất làcuộc khởi nghĩa của phong trào nông dân Tây Sơn mà còn cho ta thấy được bútpháp nghệ thuật phong phú với những sắc điệu thẩm mĩ đa dạng Tính chất tràophúng, khôi hài có khi châm biếm sâu cay được các tác giả rất dụng công khi xâydựng chân dung bọn vua chúa, quan lại của triều đình Lê - Trịnh Tiếng cười vì vậyđược bật lên từ những chi tiết, những cử chỉ, những hành động trái khoáy, ngượcđời, lố bịch của nhân vật hay từ cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, cách miêu tả, sosánh của các tác giả, qua đó người đọc cảm nhận được đầy đủ thái độ đánh giá của

họ Chẳng hạn đây là đoạn văn miêu tả cảnh lên ngôi của chúa Trịnh Tông sau loạnkiêu binh: “Trong lúc gấp vội không có kỷ sập, phải dùng tạm chiếc mâm vẫn bày

cỗ lộc làm ghế, đặt thế tử ngồi lên, rồi tám người kề vai vào khiêng Chốc chốc họ

Trang 18

lại nâng bỗng chiếc mâm lên đầu mà đội, đầu mỏi lại hạ xuống vai, rồi vai mỏi lạinâng lên đầu Cứ thế lên lên xuống xuống giống y như người ta giỡn quả cầu hoặcrước pho tượng phật Mỗi lần thế tử được nhô lên cao, quân lính lại vỗ tay reo hòvang lên một chập Những kẻ buôn bán ở các phường phố đều tranh nhau kéo đếnxem chúa, sân phủ đông như họp chợ” [37, 253].

Rõ ràng mọi sự tôn nghiêm, trang trọng của việc lên ngôi đã bị bóc trần trongdáng vẻ lố bịch nhất của tiếng cười trào lộng Người đọc dễ dàng nhận ra thái độcười nhạo, phê phán không giấu giếm của người viết đối với chúa Trịnh Tông Việchắn được bọn kiêu binh lập lên ngôi chúa chỉ giống như một tấn hề chèo, một tròmúa rối nực cười góp vui cho thiên hạ và bản thân hắn cũng trở thành con rối,thằng hề, thành “pho tượng phật” vô dụng mà thôi Người đọc buồn cười bởi chitiết chiếc mâm vẫn bày cỗ lộc được thay thế cho ngai vàng uy quyền, sang trọng,càng buồn cười hơn ở ý nghĩa ẩn đằng sau đó - Trịnh Tông cũng là một thứ cỗ lộc

“thủ gà, má lợn” mà người ta vẫn bày cúng trên mâm, và những so sánh, ví von đầy

ý vị của các tác giả Tất cả làm nên bút pháp trào lộng, giễu nhại tài tình, sâu sắccủa văn phái Ngô Gia

Như vậy có thể khẳng định rằng, dù không phải nội dung lớn và xuyên suốtcủa văn học trung đại Việt Nam nhưng cảm hứng thế sự, cảm hứng trào lộng cũng

đã xuất hiện và phát triển một cách mạnh mẽ trong văn học giai đoạn này, đặc biệt

là ở hai thế kỷ XVIII, XIX Nó góp phần làm nên bức tranh đa sắc của văn học dântộc với những cá tính sáng tạo độc đáo trong thơ cũng như trong văn xuôi

1.2.3 Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn đầu XX 1975

-Bước sang thế kỷ XX, dưới tác động của chính sách cai trị và bóc lột củathực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến chuyển và xáo trộn mạnh mẽ trênmọi phương diện từ chính trị, kinh tế, kết cấu xã hội đến đời sống và tâm trạng củacon người Hàng hoá, tiền bạc phá vỡ các quan hệ luân thường Kinh tế tư bản chủnghĩa ở thành thị làm cho con người trở thành những cá nhân, cá thể riêng biệt, tìnhnghĩa lép vế trước lợi nhuận Xã hội trở thành phức tạp, cuộc sống trở nên rộn rịp,

Trang 19

gấp rút, thay đổi nhiều hình, nhiều vẻ Cùng với sự xuất hiện của con người cánhân, ý thức cá nhân, thị hiếu văn học cũng thay đổi Văn học không còn gắn với

sử, với triết, văn học cũng thoát khỏi sự ràng buộc của đạo lý để nói về những conngười thực, về cuộc sống bình thường Nói cách khác văn học Việt Nam buộc phảihiện đại hoá Đó là quá trình “xoá bỏ quan niệm xã hội luân thường với con ngườiđạo đức và chức năng, hình thành quan niệm xã hội, quan niệm con người, quanniệm cuộc sống chi phối việc thay đổi đề tài văn học cuộc sống trong văn họccũng dần dần phức tạp, đa dạng, nhiều màu sắc như cuộc sống thực” [50, 25]

Trong điều kiện xã hội mới, cảm hứng trào lộng trong văn học càng cóđiều kiện phát triển mạnh mẽ bởi cười đùa, vui vẻ là một nhu cầu tất yếu của cuộcsống Mặt khác, biểu thị thái độ phản kháng, phủ định những cái chướng tai, gaimắt, những cái xấu xa, phi lý, phi nghĩa cũng là một nhu cầu không thể thiếu củacon người

Những năm đầu thế kỷ XX, văn học trào phúng đã phát triển thành mộtdòng với sự tiếp nối không dứt (chủ yếu là trong thơ ca) mà những người khởixướng chính là Nguyễn Khuyến, Tú Xương đến thơ trào phúng của Nguyễn Thiện

Kế, Kép Trà, Phan Điện và ở giai đoạn sau là sự kế tục, phát triển của Tú Mỡ, ĐồPhồn

Những năm 1930 – 1945 là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấphết sức gay gắt Trong văn học, cũng là cuộc đấu tranh, đồng thời là sự tác độngqua lại giữa các bộ phận văn học: văn học cách mạng, văn học hiện thực, văn họclãng mạn tiến bộ và văn học lãng mạn tiêu cực, bảo thủ Sự phân hoá phức tạpthành nhiều khuynh hướng, nhiều thành phần của văn học thời kỳ này một mặt tạonên sự đa dạng, phong phú của đời sống văn học, mặt khác nó đáp ứng được yêucầu phản ánh bức tranh cuộc sống bộn bề, phức tạp với những biểu hiện muôn mặt,

đa chiều

Nổi lên như một khuynh hướng chủ đạo trong văn học, cùng với khuynhhướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh xãhội trong thời kỳ lịch sử đầy sôi động mà còn phản ánh quá trình vận động của các

Trang 20

hệ tư tưởng, những tác động qua lại của các hình thái ý thức trong kiến trúc thượngtầng Ở bộ phận văn học này, cảm hứng trào lộng, phê phán những ung nhọt thốitha của xã hội, những trò lố lăng, đồi bại của đời sống thực dân nửa phongkiến được phát triển một cách mạnh mẽ nhất là ở văn xuôi, đặc biệt là trong sángtác của các nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất

Tố, Nam Cao Các tác giả đã rất nhạy bén trong việc phát hiện ra những bất công,phi lý, những mâu thuẫn hài hước trong các sự vật, hiện tượng, những tình huốngtrái khoáy, ngược đời để làm bật lên tiếng cười trào lộng vừa sảng khoái, vừa sâusắc

Trước hết, đáng chú ý ở thời kỳ này là những truyện ngắn trào phúng củaNguyễn Công Hoan Có thể nói, nhà văn đã vạch cho mình một con đường riêngtrong văn học: nhìn thẳng vào hiện thực, bằng tiếng cười trào phúng phơi ra nhữngmặt trái của xã hội đầy bất công, thối nát, kẻ giàu thì sống sa hoa, phè phỡn, vô đạođức, còn người nghèo thì bị ức hiếp, bị chà đạp, đói khổ cùng cực Có thể kể đến

những truyện ngắn đặc sắc như: Răng con chó của nhà tư bản, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ; báo hiếu: trả nghĩa cha, Mất cái ví, Tinh thần thể dục, Thịt người chết, Đồng hào có ma Tiếng cười trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thường

giòn giã, sảng khoái, ném thẳng vào mặt kẻ thù, nó vừa có cái hóm hỉnh, thôngminh, sắc sảo của một trí thức tiểu tư sản, vừa có cái khoẻ khoắn, lạc quan, giàutính chiến đấu của truyện cười dân gian Việt Nam và truyền thống trào phúng củavăn học dân tộc

Với Vũ Trọng Phụng, hướng vào việc “tả chân” và tố cáo xã hội, nhà văn

đã thể hiện sự táo bạo, xông xáo trong việc lật mặt trái bẩn thỉu, dơ dáy của cái xãhội thuộc địa đen tối, thối nát thời đó Ngòi bút trào phúng cay độc của ông đã tunghoành thoải mái để đả kích trực diện vào toàn bộ xã hội mục ruỗng, nhố nhăng Từnhững sinh hoạt trụy lạc đến thói giả dối, bịp bợm, từ những phong trào thể thao,

âu hoá, văn minh rởm đến sự băng hoại, suy đồi về đạo đức tất cả đều trở thànhđối tượng của lăng kính trào lộng, giễu nhại Có thể thấy, tiếng cười trào phúng của

Vũ Trọng Phụng được kết tinh và thể hiện tập trung nhất trong tỉểu thuyết Số đỏ.

Trang 21

Cả tác phẩm là một tràng cười dài với những cung bậc khác nhau thể hiện thái độphê phán, tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của nhà văn đối với xã hộiđương thời Tác phẩm còn cho thấy ngòi bút trào phúng đặc sắc của nhà văn mà ít

ai đạt được

Ở Ngô Tất Tố, chúng ta bắt gặp nghệ thuật châm biếm sắc sảo vừa giàu tínhchiến đấu, vừa đậm đà màu sắc dân tộc Nhà văn không chỉ hướng ngòi bút vào phêphán sự mục nát của chế độ khoa cử phong kiến - trường thi như một sân khấutuồng, các quan giám khảo thì giống hệt phường chèo còn những ông tiến sĩ vinhquy bái tổ thì chẳng khác gì những tiến sĩ giấy trong ngày tết trung thu, mà còn đảkích trực diện vào bè lũ thực dân, bọn quan lại, địa chủ, tư sản, nghị viên và các tổ

chức bịp bợm của chúng Qua các tác phẩm như: Lều chõng, Việc làng hay một loạt tiểu phẩm như: Ông Thống Sứ với trận mưa hôm nọ, Bãi nước bọt trên mặt ông tuần phủ, Cái ăn trong ngày nước ngập Ngô Tất Tố đã “chiến đấu”, đã đánh

địch bằng nghệ thuật trào phúng sâu sắc, phong cách nghệ thuật trào phúng, châmbiếm của nhà văn là “sự kết hợp hài hoà cái thâm thuý của một nhà nho trí thức vớicái vui, hồn hậu, lạc quan, tính chiến đấu mạnh khoẻ của văn học dân gian” [50,400]

Trong tác phẩm của Nam Cao, người đọc lại bắt gặp nụ cười mỉa mai, đau

xót Đọc các truyện: Trẻ con không được ăn thịt chó, Quên điều độ, Một chuyện Xuvơnia, Một bữa no người đọc cảm nhận thấm thía nỗi đau đớn, xót xa, cười ra

nước mắt của nhà văn trước sự tha hoá, biến chất của con người bởi cái đói vàmiếng ăn Vì vậy, mỗi tác phẩm của Nam Cao giống như một hồi chuông báo động,kêu cứu đối với nhân tính, lương tri của con người

Từ 1945 – 1975 trong điều kiện cả đất nước bước vào cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, sự kiện đó đã tác độngmạnh mẽ, sâu sắc đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc trong đó

có văn học nghệ thuật Nếu ở giai đoạn trước văn học phân hoá phức tạp thànhnhiều khuynh hướng, nhiều thành phần, vừa đấu tranh với nhau lại vừa bổ sung chonhau thì đến giai đoạn này văn học thống nhất chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng,

Trang 22

chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chungcủa đất nước Nói cách khác, khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của văn học giaiđoạn này là tư tưởng cách mạng, văn học trước hết phải là một thứ vũ khí phục vụ

sự nghiệp cách mạng, nhà thơ, nhà văn cũng đồng thời là chiến sĩ trên “mặt trậnvăn hóa nghệ thuật” theo tinh thần của chủ tịch Hồ Chí Minh:

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong

(Cảm tưởng đọc thiên gia thi)Trong hoàn cảnh đó, văn học không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân

mà tất yếu phải là tiếng nói chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc.Vì thế, vănhọc 1945 – 1975 là nền văn học mang đậm chất sử thi Cũng chính khuynh hướng

sử thi đòi hỏi người cầm bút không chỉ nhìn con người và cuộc đời bằng con mắtcủa cá nhân mà chủ yếu bằng con mắt có tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời

đại, là “con mắt Bạch Đằng – con mắt Đống Đa” theo cách nói của Chế Lan Viên.

Với cái nhìn sử thi mang tính chiêm bái, ngưỡng mộ, tôn vinh về những vấn đềtrang nghiêm, cao cả của dân tộc, của thời đại nên nhìn chung điểm nhìn của cáctác giả đều mang tính thống nhất, không có sự mâu thuẫn, vênh lệch Vì vậy, trongvăn học 1945 – 1975 hầu như không thấy sự xuất hiện và thể hiện của cảm hứngtrào lộng, của cái hài, bởi lẽ cái hài là sự lệch chuẩn gây cười, sự mâu thuẫn, khôngtương xứng Cái hài chỉ xuất hiện bởi cách nhìn khác nhau, cách đánh giá khônggiống nhau về đời sống của kinh nghiệm cá nhân, còn kinh nghiệm cộng đồng,điểm nhìn sử thi không có chỗ cho cái hài Nói cách khác, dù ở giai đoạn trước cảmhứng trào lộng đã phát triển và tạo thành một dòng chảy mạnh mẽ thì đến giai đoạn

1945 – 1975 do những điều kiện đặc biệt của đất nước, dân tộc, của thời đại nênvăn học lại vận động và phát triển trong trạng thái “trang nghiêm”, “mực thước”,thiếu vắng bóng dáng tiếng cười Nhưng trạng thái đó chỉ mang tính chất tạm thời

để đến giai đoạn sau, khi đất nước trở lại hoà bình, thống nhất, đời sống bước vàoquỹ đạo bình thường của nó, ý thức cá nhân được giải phóng, cá tính sáng tạo được

đề cao thì tiếng cười lại nở rộ và trỗi dậy mạnh mẽ hơn

Trang 23

1.3 Sự trỗi dậy của cảm hứng trào lộng và sự hình thành “loại hình” văn xuôi trào lộng trong văn học Việt Nam sau 1975

1.3.1 Sự trỗi dậy mạnh mẽ của cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Ngày 30-4-1975 cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống đế quốc Mĩ kết thúcthắng lợi, lịch sử dân tộc mở ra kỉ nguyên mới: Kỉ nguyên độc lập - tự do và thốngnhất đất nước Tuy nhiên hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài bamươi năm khiến đất nước rơi vào tình trạng hết sức khó khăn Nghị quyết của Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ: đổi mới là “nhu cầu bức thiết”, là

“vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc Từ năm 1986, đất nước bước vàocông cuộc đổi mới một cách mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc Văn học cũng khôngnằm ngoài sự vận động đó Nhìn chung văn học Việt Nam từ sau năm 1975, đặcbiệt là từ sau năm 1986 đã vận động theo khuynh hướng dân chủ hóa, mang tínhnhân bản, nhân văn sâu sắc Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề;phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp Văn học giai đoạn này cũng đề cao cá tínhsáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thựcđời sống, đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, thểhiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh

Sự quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phứctạp, bộn bề của cuộc sống đời thường khiến cho nội dung cảm hứng của văn họcgiai đoạn này có sự thay đổi quan trọng Cùng với cảm hứng sử thi (vẫn tiếp tụcvận động theo quán tính của văn học giai đoạn trước trong khoảng mười năm sauhòa bình), cảm hứng về cái bi, sự trỗi dậy của cảm hứng trào lộng đã làm thay đổicăn bản diện mạo văn xuôi thời kỳ đổi mới Người đọc không thể không nhận ra sự

“phục sinh” của tiếng cười - được sinh ra từ cảm hứng trào lộng, sinh ra từ cái

“hài” – như một đặc điểm nổi bật của sáng tác văn xuôi nước ta sau 1975 Điều này

là hoàn toàn tự nhiên dù đã có một thời gian dài (ba mươi năm) cái hài hầu nhưvắng bóng và không được nhận thức trong văn học Tiếng cười luôn đem lại hiệuquả thẩm mĩ và thỏa mãn lòng yêu cái đẹp của con người Sức sống của nó là bất

Trang 24

diệt Vì thế, người đọc dễ dàng nhận ra có sự trỗi dậy và tiếp nối một cách liên tục,mạnh mẽ của cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 và hìnhthành nên một “loại hình” văn xuôi mới - văn xuôi trào lộng Nó lan truyền từ cáccây bút đã có vị trí đáng kể, đã được khẳng định chắc chắn trên văn đàn đến nhữngcây bút mới xuất hiện, từ lớp “già” đến lớp trẻ Có thể kể ra các gương mặt tiêubiểu như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái, Đoàn Lê

Đi sâu khảo sát, nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy được sự đa dạng, nhiều màu

vẻ về đặc điểm cũng như tính chất của tiếng cười trào lộng trong sáng tác của cáctác giả này Chính điều đó góp phần làm nên sức hấp dẫn cũng như nhiều giá trịnhân văn mới của văn học trong công cuộc đổi mới

1.3.2 Đặc điểm, tính chất của tiếng cười trào lộng trong sáng tác của một số tác giả tiêu biểu

Sự phục sinh của cảm hứng trào lộng không chỉ đáp ứng nhu cầu đổi mới,

tự cởi trói của văn học và góp phần làm cho diện mạo của văn học Việt Nam sau1975có những chuyển biến mạnh mẽ nhất là sự hình thành loại hình văn xuôi tràolộng mà còn là điểm tựa, là điều kiện cần thiết để thức tỉnh ý thức cá nhân, cá tínhsáng tạo của người cầm bút, giúp họ có bản lĩnh, có dũng khí hơn trong cách nhìnnhận, miêu tả, đánh giá sự vật, hiện tượng, con người trong đời sống xã hội Từ đó

mà các giá trị của đời sống được nhận thức lại, đánh giá lại theo những chuẩn mựcriêng của kinh nghiệm cá nhân và bộc lộ những vênh lệch, sự không tương hợp sovới những chuẩn mực cũ từ kinh nghiệm cộng đồng Tiếng cười trào lộng, vì thếcàng có điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ Sự biểu hiện của nó trong sáng táccủa các tác giả cũng trở nên đa sắc thái, nhiều màu vẻ và sâu sắc hơn Các nhà vănhướng ngòi bút vào mọi vấn đề của đời sống xã hội kể cả những vấn đề lâu nayđược chôn sâu cất kĩ hoặc được tránh né vì ngại va chạm để vạch trần những phi lý,bất cập, những sai lầm, lệch lạc của nó và làm bật lên tiếng cười với những sắc tháithẩm mĩ đa dạng, tinh tế Qua đó các tác giả giúp cho người đọc nhận chân các giátrị thật - giả, tốt - xấu, cao cả - thấp hèn của đời sống xã hội trong thời đại mới

Trang 25

Cũng cần phải nói thêm rằng từ sau công cuộc đổi mới của Đảng, đời sốngvật chất của toàn xã hội đã thay đổi vô cùng nhanh chóng theo chiều hướng tốt đẹphơn Tuy thế chuyển từ chế độ bao cấp sang cơ chế thị trường, bậc thang của nhiềugiá trị bị thay đổi, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ ràng, đặc biệt đồng tiền đãbộc lộ vai trò ma quái và “sức mạnh vạn năng” của nó Đồng tiền len lỏi vào mọingõ ngách, mọi mối quan hệ thiêng liêng nhất trong đời sống xã hội để xâu xé vàlàm biến dạng, chúng Đó là mặt trái của cơ chế thị trường và cũng là mảng hiệnthực bộn bề, phức tạp để tiếng cười xuất hiện và phát triển trong văn học nhất làvăn xuôi.

Nhìn trên đại thể có thể thấy tiếng cười trào tiếu, giễu nhại đã thực sự trởthành tiếng nói nghệ thuật của văn xuôi thời kỳ đổi mới Nó thể hiện sự chiếm lĩnhcác giá trị đời sống một cách dân chủ, cởi mở của các nhà văn Tiêu biểu như trongsáng tác của: Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,

Hồ Anh Thái…Tuy nhiên, xuất hiện và phát triển trong môi trường đời sống thịdân Việt Nam cuối thế kỷ XX với sự bất cập, xuống cấp của cơ chế quản lý xã hội,

sự suy thoái của các giá trị đạo đức, tinh thần do tác động tiêu cực của cơ chế thịtrường và hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, vì thế, tiếng cười trào lộng trongvăn xuôi thời kỳ này chủ yếu mang âm hưởng phê phán, châm biếm, đả kích mạnh

mẽ Dường như các tác giả muốn thông qua tiếng cười để “cảnh tỉnh nhân loại vàbáo hiệu trước những tai họa” (Nguyễn Minh Châu) Đó cũng chính là giá trị sâusắc của tiếng cười

Đi sâu vào sáng tác của các nhà văn dễ nhận ra sự đa dạng và khác biệttrong các cung bậc trào lộng Ở Nguyễn Khải là nụ cười giễu cợt vừa thâm thuý,vừa tinh quái của một trí thức lịch lãm, trải đời, luôn tỉnh táo trước mọi biến độngdâu bể của thế thái nhân tình Không ngẫu nhiên mà trong sáng tác của ông hầu hếtđều là kiểu nhân vật tư tưởng thích suy nghĩ, ham tranh luận, ưa đối thoại để xácđịnh lại những giá trị thực của đời sống theo quan điểm cá nhân Nhà văn không áp

đặt mà tạo không khí cởi mở, “đùa giỡn tí chút” để đánh thức trí tuệ của người đọc Thượng đế thì cười là ví dụ điển hình.

Trang 26

Đến với các tác phẩm của Hồ Anh Thái như: Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm , Đức Phật, nàng Savitri, và Tôi, SBC là săn bắt chuột người đọc lại có cảm giác mỗi tác phẩm của ông đều là một tiếng nói, một

cách nhìn đời, nhìn người nhằm cảnh tỉnh “cõi người” hôm nay trước nguy cơ nhântính bị băng hoại những nền tảng đạo đức, những giá trị văn hoá truyền thống bịphá huỷ Do đó, vừa tưng tửng, vừa cười cợt, báng bổ là giọng điệu chủ đạo mà tabắt gặp trong sáng tác của nhà văn Ngôn ngữ trong văn ông cũng vì thế mà mangtính giễu nhại với sự tổng hoà nhiều sắc độ: lúc suồng sã, thân mật, lúc bặm trợn,chao chát, cợt nhả, lúc lại hoài niệm, triết lý Điều đó làm nên cái duyên, cái riêngcủa nhà văn

Trong văn Nguyễn Huy Thiệp người đọc lại bắt gặp sự hợp lưu giữa mạchnguồn dân gian và tinh thần hiện đại Truyện ngắn của ông phơi bày đến tận cùngmột hiện thực đang ly tán, phân rã, mất đi tính bản nguyên thống nhất, vẹn toàn,một xã hội phi lý, đầy bất cập với cơ chế thị trường thực dụng tha hoá bản chấtngười khiến con người trở nên cô đơn, lạc lõng, không còn mối dây ràng buộc vớitruyền thống Tiếng cười trào lộng trong văn Nguyễn Huy Thiệp vì thế, thườngmang âm hưởng giễu nhại sâu cay Dường như qua đó nhà văn muốn hướng đếnviệc xoá bỏ khoảng cách sử thi nhằm mục đích giải thiêng để đối thoại với độc giả,

để nhận thức lại các giá trị đời sống Một loạt các tác phẩm như:Tướng về hưu, Không có vua, Những người thợ xẻ, Vàng lửa, Kiếm sắc thể hiện rất rõ điều đó.

Đọc Phạm Thị Hoài chúng ta nhận thấy chua chát, mỉa mai, hài hước lại nổilên như là âm hưởng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn Qua cái nhìn mang tínhgiễu nhại của bà dường như mọi chuyện trong cõi nhân sinh từ chuyện yêu đương,

ma chay, cưới hỏi, chuyện dạy học, thơ phú, quan trường đều trở nên vô nghĩa,thiếu nghiêm túc Thậm chí con người cũng bị mô hình hoá, số hoá trở thành những

“người không mặt”, bị bào mòn cá tính, cạn kiệt khả năng yêu thương Thiên sứ, Man Nương, Kiêm ái, Tiệm may Sài Gòn là những tác phẩm tiêu biểu cho tiếng

cười giễu nhại trong văn chương Phạm Thị Hoài, thể hiện cá tính sáng tạo của nhàvăn

Trang 27

Là một thuộc tính của hiện thực khách quan, vì thế cái hài trở thành đốitượng được nhận thức, được phản ánh trong sáng tác của rất nhiều nhà văn thời kỳđổi mới Không chỉ có Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ AnhThái mà còn rất nhiều nhà văn khác cũng thể hiện cảm hứng đặc biệt đối với phạmtrù này như: Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Quang Thân,Nguyễn Minh Châu Chính điều đó góp phần tạo nên diện mạo mới đầy thú vị và

ấn tượng của văn xuôi Việt Nam sau 1975 nhất là sự hình thành loại hình văn xuôitrào lộng

1.3.3 Nguyên nhân và ý nghĩa của sự trỗi dậy tiếng cười trào lộng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Như vậy, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, cảm hứng trào lộng

đã được trỗi dậy một cách mạnh mẽ, góp phần thay đổi đặc điểm, diện mạo của vănxuôi Việt Nam sau 1975, hình thành nên một “loại hình” văn xuôi mới - “loại hình”văn xuôi trào lộng Có thể lý giải hiện tượng này bằng những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Yêu cầu đổi mới trên tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật,

nói đúng sự thật trong văn học nói riêng và trong mọi phương diện của xã hội nóichung được khởi xướng từ Đại hội lần thứ VI của Đảng tạo điều kiện để các nhàvăn đi sâu khám phá và phản ánh chân thực, không né tránh mọi phương diện củađời sống hiện thực, đặc biệt là sự tiếp cận đời sống ở phương diện đời tư, đờithường gắn liền với những số phận cá nhân - những con người nếm trải - điều màvăn học 1945-1975 hầu như ít đề cập đến Chính điều này khiến cho các cây bút cóthể khai thác và phát hiện được mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp, gai góc chứa đựngnhững mâu thuẫn, những xung đột của hiện thực đời sống mà bản thân nó đã hàmchứa cái hài – cơ sở để sản sinh tiếng cười trào lộng trong văn học

Thứ hai: Chuyển từ điểm nhìn sử thi mang tính cộng đồng thống nhất sang

điểm nhìn cá nhân với những trải nghiệm riêng, những cá tính sáng tạo riêng khiếncho mọi đánh giá, mọi phát hiện, mọi nhận xét của các nhà văn trước cuộc đời vàcon người thường có sự vênh lệch, không đồng nhất, không tương xứng, thậm chí

Trang 28

là trái chiều, là xung đột Đây cũng là nguyên nhân cơ bản cho sự trỗi dậy mạnh mẽcủa cảm hứng trào lộng trong văn học Việt Nam sau 1975.

Thứ ba: Sự “phục sinh” và nở rộ của cảm hứng trào lộng trong văn chương

sau 1975 là một quy luật tất yếu Bởi lẽ cười là nhu cầu không thể thiếu của conngười Tiếng cười không chỉ thỏa mãn tâm hồn lạc quan, yêu đời, lòng yêu cái đẹpcủa họ mà còn đem lại hiệu quả thẩm mĩ, những giá trị nhân văn, nhân sinh sâu sắc.Hơn thế tiếng cười được sản sinh từ cảm hứng trào lộng, từ cái hài mà cái hài - với

tư cách là một phạm trù mĩ học - vừa là thuộc tính vừa là giá trị Là thuộc tính bởi

nó phản ánh mặt khách quan, vốn có của đối tượng Sự vật, hiện tượng nào trongquá trình vận động phát triển cũng đều tất yếu trải qua giai đoạn đánh mất tính hàihòa, cân đối, rơi vào tình trạng “mâu thuẫn”, “không tương xứng” Là giá trị nóchịu sự đánh giá của chủ thể thụ cảm, nó mang tình cảm thẩm mĩ của bản thân nghệ

sĩ Vì thế sự trỗi dậy của cảm hứng trào lộng trong văn học Việt Nam sau 1975 thểhiện tầm quan trọng và mang ý nghĩa sâu sắc

Đầu tiên sự xuất hiện của dòng cảm hứng này làm thay đổi về cơ bản diệnmạo của văn xuôi nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Nó hình thành nênmột “loại hình” văn xuôi mới – văn xuôi trào lộng – đáp ứng được yêu cầu đổi mới

về văn học trong một giai đoạn xã hội mới của một bộ phận khá lớn độc giả

Thứ đến, cảm hứng trào lộng khiến cho cách nhìn, cánh đánh giá, minhđịnh những giá trị của hiện thực đời sống, của con người mang tính dân chủ, kháchquan và chân thực hơn Mối quan hệ nhà văn - độc giả vì vậy, mà trở nên cởi mở,gần gũi Nhà văn không phải là người phán truyền chân lý nhân danh cộng đồng,dân tộc mà chỉ đưa ra cách tiếp cận, cách kiến giải hiện thực riêng bằng chính kinhnghiệm, trải nghiệm của cá nhân mình để đối thoại, thậm chí “đối chứng” vớingười đọc

Tiếp nữa, sự xuất hiện của cảm hứng này cũng giúp cho khả năng khái quátbức tranh đời sống của văn học sâu sắc và chân thực hơn Không còn là thứ hiệnthực một chiều, hiện thực thuần nhất của khuynh hướng sử thi trong văn học giaiđoạn trước mà là một hiện thực gai góc, phức tạp, còn nhiều bí ẩn, nhất là hiện thực

Trang 29

của đời sống nội tâm con người với nhiều ẩn ức, vô thức, tâm linh đầy rẫy nhữngxung đột, những giằng xé Đó mới thực sự là mảnh đất cần được khai vỡ của văn

học như cách nói của Chế Lan Viên: “Đi tìm sự vật ở cái bề chưa thấy, ở cái bề sâu, bề sau, ở cái bề xa” hay lời tâm sự của Nguyễn Khải: “Tôi yêu mến cái hôm

nay, cái ngổn ngang, bề bộn, bóng tối lẫn ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫynhững xung đột, những bất ngờ Đó là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thỏa sứckhai vỡ”

Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng, sự trỗi dậy của cảm hứng trào lộng như mộtkhuynh hướng đổi mới quan trọng trong cách nhìn đời sống sẽ dẫn tới những cáchtân đáng kể về hình thức của văn xuôi nghệ thuật: từ ngôn ngữ, giọng điệu đến bútpháp, thể loại Chính điều đó góp phần làm cho văn xuôi Việt Nam ngày càng hấpdẫn và nhận được sự quan tâm của công chúng độc giả

1.4 Nguyễn Quang Lập – một cây bút văn xuôi trào lộng xuất sắc của văn học Việt Nam sau 1975

1.4.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp tác giả

1.4.1.1 Khái quát về cuộc đời, con người

Sinh ngày 30/04/1956 – “ngày của độc lập, quang vinh Đó là ngày đẹpnhất cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng” (lời của chính tác giả trong một tác phẩm) tạivùng quê Ba Đồn, Quảng Trạch, Quảng Bình, Nguyễn Quang Lập là một trong số

ít những nhà văn Việt Nam gây được tiếng vang không nhỏ, thậm chí là một cơn

“sốt”, “sốc” đối với cộng đồng văn học, nhất là cư dân mạng trong vài năm trở lạiđây Là nhà văn, nhà viết kịch, nhà biên kịch của điện ảnh Việt Nam, NguyễnQuang Lập còn có các bút danh Hồng Nhật, Hồng Đức, Quang Quang Cũng nhưphần lớn các nhà văn Việt Nam khác, Nguyễn Quang Lập có thời gian tham giaquân đội, trong binh chủng bộ đội tên lửa, một số tác phẩm đầu tay của ông đượcviết trong thời kỳ này

Nguyễn Quang Lập khởi nghiệp cầm bút bằng thơ Năm cuối phổ thôngtrung học, ông từng đoạt giải khá cao trong cuộc thi thơ do hội văn nghệ Bình TrịThiên tổ chức (Cuộc thi không có giải nhất, Nguyễn Quang Lập được đồng giải

Trang 30

ba) Khi trở thành sinh viên khoa vô tuyến điện trường Đại học Bách Khoa, ôngvẫn tiếp tục mê đắm thi ca Sau khi đi bộ đội (từ 1980 đến đầu 1985) rồi chuyểnvào công tác ngành văn hoá thông tin, Nguyễn Quang Lập quyết định bỏ thơ.

Truyện ngắn đầu tiên – Người lính hay nói trạng xuất hiện trên tạp chí Sông Hương

(1986), lập tức giúp tên tuổi Nguyễn Quang Lập nổi lên và đồng thời cũng giúpông nhận rõ văn xuôi mới là sở trường của mình

Nguyễn Quang Lập từng đảm nhiệm cương vị phó chủ tịch hội văn nghệBình Trị Thiên nhưng được ba tháng thì tách tỉnh, ông về phụ trách tạp chí CửaViệt và đồng thời trúng cử đại biểu hội đồng nhân dân thị xã Đông Hà Thời giannày không dài nhưng cũng đủ để “ông hội đồng” Nguyễn Quang Lập gây xúc độngrưng rưng cho các đại biểu bằng bài phát biểu sục sôi nhiệt huyết kéo dài hơn bamươi phút trước hội đồng nhân dân về giá trị máu xương đã đổ ở thành cổ QuảngTrị khiến nhiều người còn nhớ và truyền tụng giai thoại này

Trong ấn tượng của những người từng gặp, những người bạn thân, bạn văncủa ông, Nguyễn Quang Lập là người hoạt ngôn, bỗ bã, hay uống rượu, thích nóitrạng, “rất có duyên trong văn và hài hước trong đời” (Thanh Thảo) Trong một lầntrả lời phỏng vấn do Ngô Bá Nha thực hiện, Quang Lập cũng tự nhận xét về mình:

“Tôi sống bộc tuệch, ruột để ngoài da, tính lại nóng nên không ít người ghét Tôikhá cực đoan cả trong lối sống và trong văn chương, vì thế thành công cũng khá mà

đổ bể cũng nhiều” [38] Nói là nói vậy nhưng Nguyễn Quang Lập luôn được mọingười quý mến, ông có rất nhiều bạn thân, bạn văn yêu thích và kết bạn với ôngcũng chính bởi cá tính bộc trực, thẳng thắn, thích tếu táo, trào lộng của ông Trong

Ký ức vụn, Bạn văn, những người được ông nhắc đến, kể đến hầu hết đều là những

người ít nhiều nổi tiếng, thậm chí rất nổi tiếng trong văn chương, điện ảnh, sânkhấu như: Phùng Quán, Trần Dần, Bùi Giáng, Phạm Ngọc Tiến, Phạm XuânNguyên, Ngô Thanh Vân, Mai Hoa, Hồng Ánh, Xuân Diệu, Nguyễn Minh Châu

Những năm 1986 – 1988, Nguyễn Quang Lập sống ở Huế trong một gianphòng nhỏ chỉ vừa đủ kê một cái giường ngủ Cùng thời gian này, ông gặp và xâydựng gia đình với cô gái cùng quê hương Ba Đồn, Nguyễn Thị Hồng, vừa đi xuất

Trang 31

khẩu lao động ở Liên Xô về Theo lời kể của Ngô Minh, bạn thân của Lập, lúc nàyLập nghèo “trên răng dưới ca-tút”, Hồng đi Tây có được ít hàng Liên Xô mang về,hai người phải mang ra chợ Đông Ba bán sạch mới đủ tiền tổ chức đám cưới Bởithế ba đứa con đều có tên tục là Bi, Líp, May-ơ, những phụ tùng xe đạp Vì có bi,líp, may-ơ, mới có đám cưới, mới sinh ra chúng.

Năm 1996, Nguyễn Quang Lập đưa vợ và ba con ra Hà Nội sinh sống Vợanh mở một cái quán nhỏ ở tầng trệt khu Linh Đàm để buôn bán như một chỗ dựacho chồng theo đuổi nghiệp văn chương chữ nghĩa Loay hoay làm báo một thờigian, Nguyễn Quang Lập chuyển sang viết kịch bản sân khấu, điện ảnh để mưusinh và được dư luận nức nở khen ngợi

Năm 1999 ông bị tai nạn giao thông khiến chân phải đi tập tễnh, nhưng bạn

bè đến thăm ông vẫn tếu táo: đi kiểu như mình đến hề Xuân Hinh cũng không học

được Trong tản văn Một ngày rảnh rỗi thậm chí ông còn hài hước: “Què quặt thì bị

thiệt thòi nhiều thứ, nhưng thiệt thòi vĩ đại nhất là bỗng mất đi một khối lượng các

bộ giò xinh tươi Tiếc lắm thay!”

Năm 2004, ông bị tai biến, phải nằm ở nhà và thành lập công ty chuyên viếtkịch bản (Công ty sản xuất kịch bản đầu tiên ở Việt Nam)

Năm 2007, nằm nhà buồn, ông bắt đầu tiếp xúc và làm quen với blog (Thực

tế mà nói, ông đã từng tạo một blog trên yahoo từ năm 2004 với Truyện tình toàn chữ T rồi bỏ hoang luôn) Ông làm chủ blog có tên là Quê choa mà mọi người gọi

vui là chiếu rượu với nickname Bọ Lập và trở thành một trong những blogger hotnhất Việt Nam Với châm ngôn: “một ngày không nói tục thấy nhạt mồm”, chiếurượu Quê choa của ông với những entry ngắn, có đủ bi hài về những mảnh đờivùng quê Ba Đồn, những văn nghệ sĩ thân thiết một thời rất cuốn hút bạn đọc, sau

này được Đoàn Tử Huyến, bạn thân của Bọ tập hợp in thành tập Ký ức vụn bán rất chạy Sau đó là sự ra đời của Bạn văn và Chuyện đời vớ vẩn.

Hiện tại nhà văn đang cùng gia đình sống tại thành phố Hồ Chí Minh Ôngtrở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam, hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, hội điệnảnh Việt Nam và hội nhà báo Việt Nam

Trang 32

1.4.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Tác phẩm của Nguyễn Quang Lập trải dài trong nhiều mảng bao gồm: vănhọc, báo chí, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh ở mảng nào nhà văn cũng gặthái được khá nhiều thành công Trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, có thể kể

đến các tác phẩm: Một giờ trước lúc rạng sáng (tập truyện ngắn - 1986), Kỷ niệm thời trai trẻ (Thơ - 1988), Những mảnh đời đen trắng (Tiểu thuyết – 1989), Tiếng gọi phía mặt trời lặn (tập truyện ngắn – 1989), 18 truyện ngắn Nguyễn Quang Lập

& Đời cát (1997), Ký ức vụn (Tạp văn – 2009) và mới đây là Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (2010), Bạn văn (2011) và Chuyện đời vớ vẩn

(2011) Ngoài ra có thể kể thêm những bài tản văn, tạp văn, những truyệnngắn được ông cho đăng tải trên blog Quê choa đã thu hút được sự quan tâm, chú

ý của rất nhiều công chúng bạn đọc

Nguyễn Quang Lập cũng là tác giả của khá nhiều kịch bản sân khấu: Mùa

hạ cay đắng (đã nhận được khá nhiều giải thưởng lớn), Trên mảnh đất đời người hay vở Những linh hồn sống được nhà hát kịch Hà Nội công diễn khắp ba

miền Bắc - Trung – Nam vào tháng 10-2005

Sang lĩnh vực kịch bản điện ảnh, Nguyễn Quang Lập cũng đã thu được

thành công rực rỡ Kịch bản phim Đời cát của ông đoạt giải vàng liên hoan phim

Châu Á – Thái Bình Dương, giải Bông sen vàng liên hoan phim Việt Nam lần thứ

13, và nhiều giải thưởng khác Kịch bản phim Thung lũng hoang vắng đoạt giải

Fipresci, Bông sen bạc liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 Năm 2005 ông giành

được giải nhì kịch bản phim truyện lịch sử Lý Thường Kiệt nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, kịch bản phim Không có Eva đang chờ được xét duyệt

và một số kịch bản khác

Sau những thành công về kịch bản phim, Nguyễn Quang Lập đã thành lậpcông ty Scripts năm 2008, một công ty chuyên sản xuất kịch bản và là công tychuyên về kịch bản đầu tiên ở Việt Nam

Trang 33

Dù rất thành công ở lĩnh vực kịch bản sân khấu và điện ảnh, nhưng NguyễnQuang Lập luôn nói: “Văn là vợ tôi, còn sân khấu, điện ảnh chỉ là người tình Thực

tế thế nào thì tôi nói thế ấy Nói vậy không phải tôi không yêu sân khấu hay điệnảnh nhưng nó không phải là nghiệp chướng của tôi như văn” [28] Nhắc lại để thấychuyện văn chương chữ nghĩa mới là sở trường, là tâm huyết của đời văn NguyễnQuang Lập Ông khẳng định: “Văn chương nó là máu thịt, là con đường duy nhất

để khẳng định tôi là ai với mọi người”, và khi được hỏi: “Nếu nhà văn được phépước một điều như trong truyện cổ tích, anh sẽ ước điều gì?”, Nguyễn Quang Lập đãtrả lời thật giản dị: “Ước gì mình được viết cái mình muốn viết, được in cái mìnhmuốn in” [28] Đó thực sự là điều ước của một con người có cái tâm thành thật,thành thật trong đời và thành thật trong văn

1.4.2 Mối quan hệ giữa quan niệm sáng tạo và tiếng cười trào lộng trong văn Nguyễn Quang Lập

Nguyễn Quang Lập là nhà văn luôn ý thức một cách nghiêm túc về nghề và

về hoạt động lao động sáng tạo nghệ thuật Dù sáng tác trải dài trong nhiều lĩnh vực

từ văn học, báo chí, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh nhưng trong bất cứ lĩnhvực nào ông cũng luôn trăn trở, tâm huyết với ngòi bút của mình Điều ông luôntâm niệm khi cầm bút là thành thật với cuộc đời và thành thật với chính mình

Không ngẫu nhiên mà yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, viết thật, nói thật,không né tránh sự thật trở thành yêu cầu bức thiết với Nguyễn Quang Lập và cảnền văn học Việt Nam nói chung, nhất là từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng(1986) Đó cũng chính là phương châm, là tinh thần đổi mới của văn học nước tahiện nay Trưởng thành khi đất nước đã được độc lập, tự do, từng có thời gian kinhqua quân ngũ và bước chân vào văn đàn chủ yếu trong không khí cởi mở, dân chủ,nên hơn ai hết Nguyễn Quang Lập càng ý thức được trách nhiệm của mình trongsáng tạo nghệ thuật Nhà văn tâm sự trong lần trả lời phỏng vấn của Talawas(2008): “Tôi bây giờ mệt mỏi lắm rồi, xin không làm chiến sĩ nữa, tôi làm văn, thếthôi Văn là văn, không có sắt thép, xi măng gì sất, từ nay tôi nguyện làm thứ văn

đó Hay dở còn nhờ trời chứ tôi tuyệt không làm thứ văn khác, cả thứ văn mà hội

Trang 34

đồng lý luận phê bình ghét cay ghét đắng và cả thứ văn mà họ quan tâm khích lệ tôiđều không thiết” [28] Vì thế, ông rất tâm đắc với ý của cụ Nguyễn Du trong

Truyện Kiều, văn chương để mua vui.

Nói vậy không có nghĩa văn chương với Nguyễn Quang Lập chỉ là công cụgiải trí, mua vui đơn thuần mà ẩn đằng sau tiếng cười, điệu cười trong tác phẩm củaông bao giờ cũng là những suy tư, triết lý, những trăn trở trước con người, cuộc

đời Khi trả lời về sự thành công của kịch bản phim Đời cát và Thung lũng hoang vắng ông đã nói: “Tôi luôn xác định rõ đối tượng của mình là khán giả từ 25 tuổi

trở lên và những người có văn hoá cao Họ xem phim của tôi để nghiền ngẫm và

suy tưởng chứ không phải giải trí thuần tuý Đời cát và Thung lũng hoang vắng sở

dĩ thành công vì tôi xác định đúng đối tượng phục vụ và mục đích làm phim là đểcống hiến cho nghệ thuật chứ không thuần tuý là câu khách” [28]

Có thể thấy, Nguyễn Quang Lập đã có những quan niệm về sáng tạo nghệthuật rất rõ ràng, cụ thể và đúng đắn Nó thể hiện lương tâm, trách nhiệm của ngườicầm bút đối với nghề và đối với độc giả Đồng thời, quan niệm này cũng chi phốitoàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn Với cái nhìn thẳng thắn, không né tránhtrước cuộc đời, trước hiện thực gai góc, phức tạp của đời sống cộng với khả nănghài hước “thiên bẩm” và quan niệm sáng tạo đúng đắn, Nguyễn Quang Lập đãkhiến người đọc ngạc nhiên, trầm trồ trước những câu chuyện “bịa như thật”, “thậtnhư bịa” của mình Đọc văn ông, người đọc dễ dàng nhận thấy chất u-mua, tràolộng không chỉ làm nên “cái duyên” của con người mà còn của văn chương Bọ

Lập Ngay từ truyện ngắn đầu tay với nhan đề Người lính hay nói trạng dường như

đã dự báo một Nguyễn Quang Lập với dòng cảm hứng riêng trong văn chương:cảm hứng trào lộng Ta bắt gặp trong tác phẩm của ông bức tranh cuộc sống đadạng với tiếng cười đa sắc: vừa bông phèng, tếu táo, vừa hóm hỉnh, giễu cợt, lúccợt nhả, vui đùa, lúc lại mỉa mai, chế giễu bởi với nhà văn “dưới gầm trời nàykhông ai là thánh cả, bởi trước khi hoá thánh, tất cả đều là người” Ông tỏ ra cực kỳtinh nhạy trong việc nắm bắt những chi tiết, tình tiết, tính cách, trạng huống hàihước khiến người đọc phải bật cười Ngay cả những tính cách, những con người

Trang 35

tưởng đã quá quen thuộc với mọi người – vì họ là người của công chúng – QuangLập cũng có cách “khen” riêng, cách viết riêng, cách tiếp cận qua một góc nhìn,một lăng kính riêng khiến người đọc ngỡ ngàng, thán phục và không khỏi buồncười Ông cho rằng: “Nhà văn là người có tài lạ hoá những cái tưởng là nhàmchán” Quả thật, Nguyễn Quang Lập đã chứng tỏ, và khẳng định được tài năng đócủa mình với công chúng.

1.4.3 Vị trí của mảng văn xuôi trào lộng trong đời văn Nguyễn Quang Lập

Như đã viết ở trên, dù sáng tác ở nhiều lĩnh vực nhưng văn chương mới là

“nghiệp chướng”, là “người tình chung thuỷ” của Nguyễn Quang Lập Tuy khởinghiệp bằng thơ nhưng tài năng của nhà văn chỉ thực sự được khẳng định và toảsáng trong văn xuôi Ở bộ phận sáng tác này, dễ dàng nhận thấy mảng văn xuôi tràolộng có vị trí vô cùng quan trọng bởi nó làm nên cái “tạng” riêng của nhà văn, nógiúp khẳng định Quang Lập là ai với người đọc

Khảo sát văn xuôi Nguyễn Quang Lập, chúng tôi nhận thấy cảm hứng tràolộng đã tạo thành một dòng chảy mạnh mẽ, xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm củanhà văn Hơn thế, dòng cảm hứng này ngày càng trở nên đậm đặc và đặc biệt nở rộ

trong các sáng tác ở giai đoạn sau, nhất là ở Ký ức vụn, Bạn văn, Chuyện đời vớ vẩn Rất có thể, như nhà văn đã từng tâm sự, lúc đầu người ta đọc ông vì tò mò

nhưng sau đó người ta đọc vì biết ông là ai, vì bởi “cái duyên” riêng của ông trongvăn chương Không thể phủ định rằng cái duyên đó được tạo nên từ sự hóm hỉnh,hài hước, thông minh, sắc sảo nhưng cũng rất dân dã, đời thường, đậm chất phươngngữ, khẩu ngữ Quảng Bình của nhà văn

Trong truyện ngắn đầu tay Người lính hay nói trạng, mượn lời của nhân vật

Phạm, Nguyễn Quang Lập đã phát biểu: “Đời có nhiều chuyện để khóc nhưng córất ít chuyện để cười Kẻ nào tìm được nhiều chuyện đáng cười để cho mọi ngườiphấn chấn, vui vẻ mà quên hết những nhọc nhằn, kẻ đó thực có ích cho đời” Phảichăng đó cũng chính là quan niệm, là tuyên ngôn của nhà văn về vai trò của cái hài,của tiếng cười trong văn chương đối với cuộc sống của con người Và vì thế, cảm

Trang 36

hứng trào lộng đã trở thành cảm hứng chủ đạo và xuyên suốt trong văn xuôi củaông Nói cách khác, mảng văn xuôi trào lộng thực sự trở thành bộ phận sáng tácquan trọng nhất của đời văn Bọ Lập

Do vậy, tìm hiểu văn chương Nguyễn Quang Lập không thể bỏ qua mảngsáng tác quan trọng này đặc biệt là cảm hứng trào lộng, một trong những phươngdiện nội dung có ý nghĩa nhất trong sáng tác của nhà văn

Tiểu kết

Cảm hứng trào lộng là một nhân tố quan trọng của bản thân nội dung tácphẩm nghệ thuật gắn liền với cách nhìn đời sống mang tính dân chủ của cá nhânnghệ sĩ Cảm hứng này xuất phát từ cái hài, nó thể hiện sự quan tâm đặc biệt củanhà văn trong việc phát hiện sự mâu thuẫn, lệch chuẩn của thực tại xã hội, của conngười để làm bật lên tiếng cười với nhiều sắc thái, nhiều cung bậc phong phú, đadạng

Với ý nghĩa đó, cảm hứng trào lộng đã xuất hiện và tạo thành một dòngchảy mạnh mẽ xuyên suốt văn học Việt Nam từ xưa đến nay, từ văn học dân gianđến văn học viết, đặc biệt trong không khí dân chủ cởi mở từ sau Đại hội VI củaĐảng (1986), cảm hứng này càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn và phát triển phong phú,

đa dạng hơn Sự xuất hiện, phát triển của cảm hứng này trong văn học là quy luậttất yếu, vừa thỏa mãn nhu cầu mang tính tự nhiên vừa đáp ứng nhu cầu thẩm mĩcủa con người cũng như yêu cầu đấu tranh xã hội của văn học trong từng thời kỳlịch sử

Nguyễn Quang Lập là một cây bút đa tài Ông sáng tác và thử sức trênnhiều lĩnh vực, từ thơ – văn xuôi, sân khấu, điện ảnh…đến kinh doanh sản xuấtkịch bản, phim và cũng gặt hái được không ít thành công vang dội nhưng văn xuôimới là sở trường của ông, là mảng sáng tác gắn bó máu thịt với nhà văn, giúpkhẳng định ông là ai với người đọc Ở bộ phận sáng tác này, văn xuôi trào lộng lạichiếm vị trí quan trọng nhất, góp phần làm nên giọng điệu riêng, phong cách riêngcủa nhà văn Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu mảng văn xuôi trào lộng củaNguyễn Quang Lập là thực sự cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc

Trang 37

Chương 2

TIẾNG CƯỜI TRÀO LỘNG TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG LẬP

2.1 Tiếng cười trào lộng về thế sự và con người

Gắn bó mật thiết với quan niệm đa chiều về cuộc sống và con người - mộtquan niệm ít mang tính lý tưởng hơn nhưng chân thực và sâu sắc hơn, cảm hứngtrào lộng trong văn xuôi sau 1975 thể hiện một tư duy văn học mang đậm tinh thần

tự do, dân chủ của ý thức cá nhân Chính điều đó đã giúp cho các nhà văn sáng tạonên một “hiện thực mới” mà trong văn học trước đó hầu như chưa có Đó là hiệnthực được nhìn qua lăng kính trào lộng nên nó chứa đựng những yếu tố hài hước,gây cười Với Nguyễn Quang Lập cũng vậy Cái nhìn từ góc độ thế sự, đời tư thẳngthắn, thân mật, suồng sã làm cho hiện thực đời sống được hiện lên trong văn xuôicủa ông chân thực, sinh động và không kém phần hóm hỉnh, hài hước từ những thóitật trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đến những vấn nạn trong đời sống xã hộiđương đại, từ những con người của phần nhếch nhác đời thường đến chân dung

“bạn văn” - những người nổi tiếng - trong các giai thoại trào tiếu tất cả tạo nênmột thế giới riêng trong sáng tạo của Bọ Lập

2.1.1 Tiếng cười trào lộng về thế sự và những sự thật đằng sau tiếng cười

2.1.1.1 Từ những thói tật hàng ngày

Có một lần, khi viết bài cho báo Tiền Phong, Nguyễn Quang Lập có nhắcđến chuyện nhà văn Ngọc Giao kể Nam Cao ăn trộm gà đãi bạn Chi tiết này bị congái nhà văn Nam Cao phản đối, Nguyễn Quang Lập đã viết thư trả lời trong đó cócâu: “Dưới gầm trời này, không ai là thánh cả bởi vì, trước khi hóa thánh, tất cả đều

là người”, và ông tâm sự thêm “Viết về cái nghèo, cái tật hay thậm chí thói xấu của

ai đó chỉ để làm cho chân dung người đó thật hơn, điều đó rất cần và rất quý, chỉ sợcái tâm thiếu lành mạnh, nhân danh sự thật để chơi xỏ, bêu xấu” Rõ ràng câu nóihàm chứa quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người cũng như bản lĩnh sángtạo, lương tâm trách nhiệm của người cầm bút Điều đó lý giải vì sao mà như nhiều

Trang 38

người nhận xét và chính nhà văn cũng thừa nhận là “Tôi viết về cái xấu dễ dànghơn cái tốt nhiều”, không phải vì cuộc đời không còn cái tốt, không còn những conngười tốt để viết mà điều quan trọng là chính những cái xấu, những thói tật trongcuộc sống sinh hoạt hằng ngày làm cho các nhân vật trong tác phẩm của nhà văntrở nên đời hơn, chân thật và gần gũi hơn như chính sự tồn tại vốn có của nó.

Với quan niệm như vậy, việc tìm đến bút pháp trào lộng, giễu nhại củaNguyễn Quang Lập trở thành một nhu cầu tất yếu Nó không chỉ nhằm mục đíchgiải thiêng mà điều quan trọng nó thể hiện cách tiếp cận các giá trị đời sống mộtcách dân chủ, đa nguyên, đa trị, phi quy phạm để cân bằng lại trạng thái thuần nhất,đơn trị, quy phạm ở giai đoạn văn học trước Nhìn trên đại thể, thế giới nhân vậttrong văn xuôi Nguyễn Quang Lập dù là phóng tác, hư cấu hay có thật, dù là nhữngcon người bình thường, giản dị hay những nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng thậm chí rấtnổi tiếng đều hiện lên trong đời sống sinh hoạt hàng ngày với những thói tật, nhữnghoạt động, tính cách bình thường hoặc tầm thường Nhà văn không làm cái việc “tôtượng đúc chuông” hay tụng ca theo cách thông thường mà để cho nhân vật hiệnlên với tất cả sự xù xì, thô ráp, hài hước, nực cười trong cuộc sống thường nhật,qua đó người đọc tự đánh giá, nhận xét và nhận ra những giá trị thực

Quả thật, đi sâu vào thế giới nhân vật của nhà văn Nguyễn Quang Lập,người đọc không khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên và bật cười Đó là thế giới của nhữngcon người, những số phận, những mảnh đời được “xúc” lên từ chính vỉa quặngphong phú của đời sống, không sàng lọc, chắt gạn nên nó tươi rói, đậm hơi thở sựsống, ngồn ngộn chất sống Ở họ là sự hội tụ của những cử chỉ, hành vi, lời nói xấu

- tốt, bình thường - bất thường, hay - dở góp phần tạo nên tiếng cười vui vẻ, hài

hước, giễu cợt Đó có thể là chị Lẹ trong Ngày xửa ngày xưa - một người phụ nữ

ngoa ngoắt, táo tợn đến mức “khi nổi xung lên chị sẵn sàng dí “vật hy sinh” của

mình vào mặt bất cứ ai” Là vị thủ trưởng binh trạm trong Bốn mươi chín cây cơm nguội như một cái loa phóng thanh suốt ngày “nói rành mạch và khảng khái cách

mạng thế giới diễn ra mấy giai đoạn, giai đoạn nào thì nhảy vọt, giai đoạn nào thì

bỏ qua”, từng “ăn nằm với một nữ dũng sĩ diệt Mĩ”, lại kiểm điểm gay gắt một nữ

Trang 39

chiến sĩ của mình là “làm cách mạng nhưng chưa triệt để” khi cô dám “chớm yêu”.Thậm chí vị thủ trưởng này còn “cạo” anh chàng thủ kho bốn ngày hai đêm vì tội

“bôi nhọ lãnh đạo” khi anh dám tiết lộ thông tin thủ trưởng “hủ hóa” đến nỗi mộtnăm sau anh ta như người câm, chỉ thỉnh thoảng bật ra một tiếng cười gằn Chândung vị thủ trưởng binh trạm quả là một nét vẽ khá điển hình cho vô số những tínhcách, những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống đời thường đã được “tôson”, “trát phấn” bởi địa vị, uy quyền

Ngay cả khi viết về đề tài chiến tranh - mảng đề tài truyền thống mà các nhàvăn hay sử dụng bút pháp sử thi để ngợi ca, tôn vinh những người anh hùng với hàoquang chiến thắng, thì Nguyễn Quang Lập lại có một cách tiếp cận khác, một cáchnhìn khác Không phải truyện của ông không có những anh hùng, những con ngườisẵn sàng ngã xuống hy sinh vì tự do, độc lập dân tộc nhưng ông dành sự quan tâmnhiều hơn đến những mảnh đời riêng, những số phận cá nhân mà ở họ (từ Đại úy,Chủ tịch thị trấn, Bí thư huyện ủy, Phó chủ tịch huyện, Trưởng phòng thông tin vănhóa, Bí thư huyện đoàn, Trưởng công an huyện đến những người dân bìnhthường như ông chủ quán thịt chó ) là sự hỗn dung giữa cái tốt – cái xấu, thiện –

ác, thiên thần - ác quỷ, bóng tối và ánh sáng

Trong tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng người đọc dễ dàng bắt gặp vô

số những nét phác họa rất thần tình, tài hoa và hài hước của nhà văn mà đọc mộtlần ta không thể nào quên Người đọc ấn tượng với ông Chủ tịch thị trấn có cái tênrất kêu Lê Đức Huy lại trở thành “biểu tượng có một không hai” về sự hèn nhát đếnmức thảm hại trong chiến tranh: “Cứ một trận bom, bất kể xa gần, là ông vắt chânlên cổ chạy bán sống bán chết”, với ông danh dự, chức tước hết thảy đều vô nghĩatrước mạng sống của mình Ông tuyên bố: “đấm c vào cái chủ tịch, ông chết có lấycái chủ tịch mà cứu sống ông được không hả” Vì vậy, ông sẵn sàng “ném tất cảchức vụ, uy tín, Đảng, Đoàn vào sọt rác để cao chạy xa bay” ngay trong nhữngngày đầu tiên của cuộc chiến Ta cũng không thể nào quên chân dung đại úy Thìnvới sự bảo thủ, ấu trĩ, dốt nát, không thức thời Ông giống như một cỗ máy đượclên sẵn dây cót luôn rao giảng cho mọi người những bài học về đạo đức, về chủ

Trang 40

nghĩa xã hội, về cách mạng, về tư tưởng phản cách mạng của bọn thị dân tiểu tưsản mà bản thân mình lại không hiểu gì Hơn thế, sự hài hước càng tăng lên khinếp sinh hoạt, những tư tưởng, suy nghĩ của cá nhân mình, ông cũng bắt vợ, con vànhững người dân thị trấn thực hiện theo, bởi theo ông đó là những “chuẩn mựcvàng”.

Còn rất nhiều những chân dung, những “mảnh đời đen trắng” được hiện lêntrong cuộc sống bộn bề, phức tạp của thị trấn Linh Giang Một Trưởng công anhuyện mở miệng là phải “báo cáo” theo bài bản đã được định sẵn nhưng làm việclại thiếu nguyên tắc Một tưởng phòng trung tâm văn hóa - Bỉ - với quan niệm sống

“ngu si hưởng thái bình”, việc gì xảy ra cũng “án binh bất động”, “gặp ai anh cũng

tỏ ra khúm núm, ngoan ngoãn Anh “dạ” đều, “dạ” rền rĩ từ cán bộ có chức vụ caonhất đến nhân viên loại xoàng nhất cơ quan” Một ông chủ quán thịt chó,cu Le, vớimột mơ ước đời thường, giản dị: “Tôi muốn quê hương tôi khét tiếng về mặt thịtchó”

Và còn biết bao những mảnh đời, những cá tính, dù chỉ xuất hiện thấpthoáng cũng gợi nhiều suy tư cho người đọc về sự “muôn hình vạn trạng” của cuộcsống đời thường Bác cả Rí làm nghề đánh ống lươn với sở thích “bịa đặt”, “nóikhống” “có một tột lên mười” Rồi hình tượng bí thư huyện ủy Thanh, đứng đầu cảhuyện về sự hiểu biết cũng như địa vị, nhưng khi đương chức ông ngậm miệngkhông nói, chỉ đến khi bị ép về hưu mới nói “say sưa” với cái bóng của mình

Có thể thấy Nguyễn Quang Lập viết về chiến tranh nhưng không phải để tốcáo chiến tranh hay ngợi ca những chiến công mà nhà văn muốn nhìn thẳng vào sựthật cuộc sống của từng cá nhân để giãi bày những lo lắng của mình về nỗi đau, sự

cô đơn, mất mát hay những thói tật, những trạng thái “dị dạng”, méo mó về nhâncách của con người bằng giọng điệu hài hước, dân dã để vừa chế ngự bớt nỗi đau,vừa làm cho nhân vật trở nên chân thực, gần gũi hơn trong cự ly tiếp xúc thân mật,suồng sã

Khi viết Kí ức vụn rồi Bạn văn và Chuyện đời vớ vẩn (lúc đầu được post lên

mạng sau mới in thành sách) bút pháp trào lộng, giễu nhại càng được Nguyễn

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w