1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoài niệm trong tản văn của nguyễn quang thiều

131 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tản văn là một thể loại văn xuôi hiện đại ra đời từ đầu thế kỉ XX và đã xác lập được vị trí quan trọng của mình bên cạnh các thể loại khác như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch… Lịch s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HOÀI NIỆM TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HOÀI NIỆM TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Trí Dũng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Trí Dũng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tiếp theo tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Vinh, phòng sau Đại học các thầy cô giáo trong Khoa Sư phạm Ngữ văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trường THPT Quỳnh Lưu 2 - nơi tôi đang công tác cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát 6

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… 6

4.1 Mục đích nghiên cứu 6

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu……… 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn……… 8

Chương 1 9

TẢN VĂN TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 9

1.1 Tản văn trong đời sống văn học đương đại……… 9

1.1.1 Khái niệm tản văn……… 9

1.1.2 Vị trí của tản văn trong đời sống văn học đương đại 12

1.2 Nguyễn Quang Thiều - con người và văn nghiệp 24

1.2.1 Cuộc đời, con người……… 25

1.2.2.Văn nghiệp ……… 27

1.3 Nhìn chung về tản văn của Nguyễn Quang Thiều 36

1.3.1 Các đề tài chính trong tản văn Nguyễn Quang Thiều 36

1.3.2 Dấu ấn tản văn Nguyễn Quang Thiều 37 1.3.3 Hoài niệm như một cảm hứng xuyên suốt tản văn Nguyễn

Trang 5

Quang Thiều ……… … 40

Chương 2 42

NHỮNG MIỀN HOÀI NIỆM TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 42

2.1 Hoài niệm về “làng Chùa” …… 42

2.1.1 Làng Chùa- không gian thiêng trong tản văn Nguyễn Quang Thiều 42

2.1.2 Những người dân làng Chùa ……… 52

2.2 Hoài niệm về người thân 58

2.2.1 Hoài niệm về bà 58

2.2.2 Hoài nhiệm về mẹ và những người thân yêu khác … 62

2.3 Hoài niệm về mùi vị quê hương 73

2.3.1 Mùi vị của những bữa cơm ở làng quê 73

2.3.2 Mùi vị của những món ăn làng quê 80

Chương 3 86

NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HOÀI NIỆM TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 86

3.1 Trần thuật chủ quan ……… 86

3.1.1 Cái tôi kể chuyện giàu cảm xúc … 86

3.1.2 Xu hướng kéo xa khoảng cách trần thuật 90

3.2.Tổ chức giọng điệu … 93

3.2.1.Giọng trữ tình sâu lắng ………… 95

3.2.2 Giọng bùi ngùi sám hối …… 97

3.2.3 Giọng triết lý, chiêm nghiệm 103

3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật ……… 107

3.3.1 Ngôn ngữ đậm chất thơ ……… 108

Trang 6

3.3.2 Câu văn giàu nhịp điệu ………… 113 KẾT LUẬN……… 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 12

Trang 7

Tản văn là một thể loại văn xuôi hiện đại ra đời từ đầu thế kỉ XX và đã xác lập được vị trí quan trọng của mình bên cạnh các thể loại khác như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch… Lịch sử văn học đã ghi nhận tên tuổi của một số nhà văn từng viết tản văn nổi tiếng như Tản Đà, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Vũ Bằng… Trong những năm gần đây, nhìn vào đời sống văn chương Việt Nam ở góc độ thể loại, có thể thấy tản văn xuất hiện ngày càng nhiều với sự mở rộng

đề tài, cách thức thể hiện Những nguyên nhân ban đầu được ghi nhận là do đời sống ngày càng phức tạp với những góc khuất khó nhận thấy, đời sống báo chí phát triển, cuộc sống bận rộn, xã hội quan tâm đến con nguời cá nhân, người ta

có nhu cầu ghi chép, bộc bạch suy tư, chia sẻ…Những cây bút tản văn tiêu biểu của văn học đương đại có thể kể đến là: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Bích Thúy, Y Phương, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Nhật Ánh…

1.2 Nguyễn Quang Thiều được xem là gương mặt nổi bật của thời kì văn học sau 1975 Ông sáng tác trên nhiều thể loại: thơ, truyện thiếu nhi, truyện ngắn, sách dịch, tiểu luận, tản văn Thành công nổi bật của Nguyễn Quang Thiều là thơ, ông được ghi nhận như một trong những nhà thơ cách tân được độc giả thừa nhận Tản văn là thể loại gần đây được Nguyễn Quang Thiều chú

Trang 8

ý Tản văn của Nguyễn Quang Thiều cũng có những dấu ấn riêng so với các nhà văn khác khi cùng viết ở thể loại này Đến với 46 tản văn trong tập sách Có một

kẻ rời bỏ thành phố và Mùi của ký ức ta sẽ cảm nhận được những kí ức, những chia sẻ, những chiêm nghiệm đầy tình người nhưng cũng lắm day dứt của nhà văn về những giá trị vững bền cũng như những đổi thay, trái ngang trong cuộc sống của con người chúng ta

1.3 Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về tản văn Nguyễn Quang Thiều, nhất là những tiếng vọng từ quá khứ, những khắc khoải về làng quê Vì những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: Hoài niệm trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều Với luận văn này, chúng tôi muốn góp phần khẳng định những đóng góp của Nguyễn Quang thiều đối với nền văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung và với thể loại tản văn nói riêng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu tản văn ở Việt Nam

Tản văn là một thể loại văn học hiện đại xuất hiện từ đầu thế kỉ XX ở nước ta Từ việc tiếp thu thành tựu của nền văn học thế giới, văn học Việt Nam

đã từng bước hoàn thiện thể loại này Tất nhiên, khái niệm tản văn đôi khi còn lẫn lộn với các tên gọi khác như tùy bút, tạp văn, ghi chép, tạp bút… Và càng ngày nó càng được các nhà văn lựa chọn, cùng với đó sự đón nhận của độc giả cũng nồng nhiệt hơn

Trong lĩnh vực nghiên cứu, những công trình nghiên cứu về tản văn đang còn rất ít Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trương Chính, Hoàng Ngọc Hiến, Trần Xuân Đề, Hoàng Trung Thông, … của thời kì trước cũng như hiện nay đã có những góc nhìn khác nhau đối với thể loại này trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam

Trang 9

Đến cuối thế kỉ XX mới có một số công trình nghiên cứu tản văn với tư cách là một thể loại văn học Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại cho rằng tản văn là một tiểu loại của thể loại kí cho nên nó mang trong mình những đặc trưng của thể kí Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học đã xem tản văn như một loại hình ngang hàng với kịch, thiểu thuyết và thơ Nó không bị hòa lẫn với các thể loại khác Và một công trình nghiên cứu có thể coi là có một góc nhìn tương đối đầy đủ về diện mạo của thể loại này từ đề tài, đặc điểm, phương thức thể hiện cho đến vị trí văn học sử là Luận án tiến sĩ Tản văn Việt Nam thế kỉ XX (Từ cái nhìn thể loại) (năm 2008) của Nghiên cứu sinh Lê Trà My được thực hiện tại Đại học Sư Phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn của nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử

2.2 Lịch sử nghiên cứu tản văn Nguyễn Quang Thiều

Nguyễn Quang Thiều là nghệ sĩ có nhiều đóng góp quan trọng trong hành trình cách tân của văn học Việt Nam hiện đại Ông viết nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn… Tuy nhiên, các công trình, bài viết chủ yếu tập trung khai thác, tìm hiểu về thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều

Những tản văn của Nguyễn Quang Thiều từ khi xuất hiện đã ra đời đã khơi gợi được nhiều xúc cảm, tạo được nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc nói chung

và nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình nói riêng Tuy nhiên, phần lớn là các bài viết đều có dung lượng ngắn, thiên về cảm nhận, nhận xét và đánh giá Những bài viết có tính chất nghiên cứu vẫn còn ở mức độ vừa phải và thường chỉ quan tâm đến một phương diện nào đó mà chưa có những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện

Trang 10

Hầu hết các bài viết được đăng rải rác trên các trang báo, tạp chí, từ nguồn internet, hoặc từ trang cá nhân của một số bạn bè văn chương của nhà văn Qua khai thác các nguồn tư liệu sách, báo các bài viết phê bình, bài giới thiệu, bước đầu chúng tôi đã nắm bắt được những đánh giá nhận xét sau đây:

rời bỏ thành phố, tác giả Đặng Thái Hà đã nhận định:“Dường như ai cũng phải

tự soi chiếu lại cách mình sống khi đọc những dòng văn ấy Để biết tự phản tỉnh Để thấy mình đang sống trong một không gian bất ổn và khủng khiếp đến thế nào Một cảm thức về “nỗi sợ đô thị” cứ lớn dần lên qua từng trang viết Nó khiến người ta biết dừng lại để suy tư, biết dũng cảm quay lưng và rời bỏ, khước từ những cám dỗ vật chất; và cuối cùng, tìm về với tâm hồn thanh sạch, với văn hóa ngàn đời, với thiên nhiên tuyệt vời và ngập tràn nhựa sống”

- Bình Nguyên Trang, trong bài Nguyễn Quang Thiều, kẻ rời bỏ thành phố

câu chuyện những món ăn làng Chùa mà Nguyễn Quang Thiều viết thành một cuốn sách Viết về những món ăn mà không chỉ viết về món ăn, dù cho bạn có thể học nấu các món ăn cụ thể đó từ những trang sách Nhưng cao hơn, trong tinh thần Nguyễn Quang Thiều, món ăn là tín hiệu chỉ dẫn cho những người làng như ông trở về cội nguồn của mình Ở đó, lấp lánh một nền văn hóa riêng của một người đã lớn lên từ một cánh đồng, ăn những món ăn dân dã, uống nước từ con sông Đáy và vui buồn cùng những người nông dân một nắng hai sương”

cho rằng: “Tôi gọi tập tản văn Mùi của ký ức của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Trang 11

như một áng khói lam chiều bình yên nơi góc bếp, mà ai đọc cũng sẽ thấy nỗi buồn đọng nơi đáy mắt khi tiếc thương cho một thủa làng quê với bao bữa ăn quê nhà chỉ còn là một thời quá vãng”

Trong những năm gần đây, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu

và tìm hiểu những khía cạnh khác nhau trong tản văn Nguyễn Quang Thiều như: Lê Thu Hà (2013) với đề tài Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Nguyễn Thị Thu Hằng (2017) với đề tài Truyện ngắn, tản văn Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn phê bình sinh thái, Trường Đại học khoa học Thái Nguyên… Nhìn chung, các công trình này cũng đã bước đầu đưa

ra những nhận định về một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tản văn Nguyễn Quang Thiều

Như vậy có thể thấy những tản văn của Nguyễn Quang Thiều đã nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và độc giả Những công trình, bài viết trên đã ghi nhận phần nào những giá trị, những đặc điểm của tản văn Nguyễn Quang Thiều, nói lên phần nào phong cách của nhà văn nhưng chỉ thể hiện ở một phương diện nào đó

Đồng thời, những bài nghiên cứu, phê bình, những ý kiến đánh giá về tản văn Nguyễn Quang Thiều còn chưa mang tính hệ thống, nhất là với vấn đề hoài niệm trong các tản văn Mà Nguyễn Quang Thiều là kẻ luôn khóc thương những ngôi làng, luôn bị quá khứ níu giữ Trên tinh thần kế thừa, chọn lọc ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình đi trước, đề tài mà chúng tôi đang thực hiện hi vọng sẽ cung cấp một cái nhìn hệ thống, toàn diện về chất hoài niệm trong tản văn Nguyễn Quang Thiều - một vấn đề cốt lõi, tạo nên sự hấp dẫn trong tản văn của cây bút tài hoa này

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Hoài niệm trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Với đề tài này, chúng tôi đi sâu khảo sát 46 tản văn trong các tập tiểu luận

và tản văn của Nguyễn Quang Thiều, cụ thể:

- Có một kẻ rời bỏ thành phố (2012), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

- Mùi của ký ức (2017), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, chúng tôi còn chú ý thêm một số tản văn mới của tác giả được đăng tải trên website cá nhân (http://nguyenquangthieu.net/) và trang facebook cá nhân: Nguyễn Quang Thiều Ngoài ra, các tản văn của một số nhà văn Việt Nam đương đại, thơ, truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều cũng được

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi xác định một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Xác định vai trò của thể loại tản văn trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại

- Khảo sát phương diện nội dung của hoài niệm trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

Trang 13

- Khảo sát các phương thức nghệ thuật thể hiện hoài niệm trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

- Bước đầu khẳng định đóng góp của Nguyễn Quang Thiều đối với tản văn Việt Nam đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Thiết lập và sắp xếp các vấn đề một cách logic, khoa học; xem xét, đánh giá trong cấu trúc chỉnh thể của chúng

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu về môi sinh văn hóa- cơ

sở cho thể loại tản văn phát triển; nghiên cứu các tài liệu về văn hóa có liên quan đến tản văn Nguyễn Quang Thiều

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh, đối chiếu tản văn của Nguyễn Quang Thiều với một số nhà văn khác để thấy được nét chung và nét riêng

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích, xem xét từng phương diện của đề tài thể hiện qua hai tác phẩm, từ đó rút ra những đánh giá

và nhận định khái quát

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần xác định rõ vai trò của thể loại tản văn trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại Đây là thể văn phù hợp với nhu cầu giãi bày cái tôi cá nhân, phù hợp với xu thế phát triển của đời sống hiện đại

Chỉ ra được những miền hoài niệm xuất hiện trong kí ức nhà văn Nguyễn Quang Thiều từ làng Chùa dạt dào bên sông Đáy đến những kỉ niệm với người thân và đặc biệt là thế giới phẩm vật của làng Chùa Đồng thời khảo sát rõ

Trang 14

những phương thức nghệ thuật mà nhà văn đã sử dụng để thể hiện cảm hứng hoài niệm

Từ đó một lần nữa góp phần khẳng định vai trò và những đóng góp không nhỏ của Nguyễn Quang Thiều trong sự phát triển của nền văn xuôi đương đại hiện nay

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tản văn trên hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều

Chương 2: Những miền hoài niệm trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hoài niệm trong tản văn Nguyễn Quang Thiều

Trang 15

Chương 1 TẢN VĂN TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA

NGUYỄN QUANG THIỀU

1.1 Tản văn trong đời sống văn học Việt Nam đương đại

1.1.1 Khái niệm tản văn

Trong lý luận văn học Trung Quốc cổ, tản văn vốn được dùng để chỉ một thể văn xuôi tương đối tự do, phân biệt với vận văn (văn vần) và biền văn (câu văn sóng đôi, đăng đối) Xét theo tiêu chí hình thức ấy, tản văn (có lẽ) đã xuất hiện ngay từ thời Tiên Tần, với những tác phẩm danh tiếng như Tả truyện, Chiến quốc sách, Luận ngữ, Mạnh Tử, Nam Hoa kinh … Tuy nhiên, người Trung Quốc ít dùng khái niệm “tản văn”, mà thường dùng khái niệm “tạp văn”

Theo các nhà nghiên cứu, ở Việt Nam thể loại tản văn được khai sinh từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX Nhưng nó không tạo được hứng thú đối với độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình Nó cũng không được gọi tên một cách thống nhất Bởi vậy, có lúc nó trở nên nép mình trong đời sống văn học

Từ những thập niên 90 của thế kỉ XX, tản văn bắt đầu gây sự chú ý nhiều hơn với sự xuất hiện nhiều tác phẩm của nhiều tác giả có tên tuổi Cũng từ đây ý thức thể loại được định hình rõ hơn

Trong thực tế nghiên cứu về văn học, việc phân chia các loại hình sáng tác đôi khi chỉ mang tính tương đối Trong sự dung hợp thể loại, tản văn cũng mang trong bản thân nó những thể loại khác và đôi khi bị nới rộng ranh giới về thể loại Khảo sát tản văn Việt Nam trên diện rộng sẽ thấy hiện tượng: tản văn thường nằm trong các tập tạp văn, tùy bút, nhàn đàm, có khi ở các tập bút kí,

Trang 16

tiểu luận, kí… Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy xuất hiện nhiều quan niệm về tản văn khác nhau:

Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Tản văn: 1 Văn xuôi 2 Loại văn gồm các thể kí và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [45, 857]

Trong Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi không

Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1992 do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên là cuốn duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt: “Nó là một loại hình văn học ngang hàng với thơ, kịch, tiểu thuyết Nhưng mặt khác tản văn lại có nội hàm rộng hơn khái niệm kí, vì nội

Trang 17

dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể văn xuôi khác như hịch, cáo… Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả” [16, 198]

Trong bài Một cách nhìn về tản văn hiện đại - lời giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam, Lê Trà My có viết: “Tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật Đó có thể là những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể” [38]

Có thể thấy sự phân biệt giữa các thể loại văn học hết sức linh hoạt và với thể loại tản văn cũng cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau Đó là điều hoàn toàn bình thường bởi thể loại là sản phẩm của lịch sử, nó được sinh ra, biến đổi hay mất đi thì bản thân thể loại không tự quyết định được, tản văn cũng như vậy

Dù xuất hiện nhiều quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất ở một số điểm: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, linh hoạt; phản ứng một cách kịp thời trước những vấn đề của đời sống; có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả rõ ràng và sắc sảo Các ý kiến về thể loại tản văn đến nay vẫn chưa thực sự ngã ngũ trên một số phương diện Nhưng trong phạm

vi tư liệu có thể và trong tầm hiểu biết nhất định, chúng tôi chỉ khái quát cách

Trang 18

hiểu về tản văn như là cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu chất hoài niệm trong tản văn Nguyễn Quang Thiều

1.1.2 Vị trí của tản văn trong đời sống văn học đương đại

Ở giai đoạn ấy của văn học sử Trung Quốc, một loạt tác giả tạp văn đã xuất hiện: Trần Độc Tú, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Úc Đạt Phu, Đường Thao, Từ Mậu Dung … Tất nhiên, tạp văn gia đáng gọi là “siêu quần bạt tụy” trong số đó, không ai khác, chính là văn hào Lỗ Tấn (1881 - 1936) Cùng thời gian đó ở Việt Nam là sự xuất hiện của một số tác giả: Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Phan Khôi

Căn cứ vào những tên tuổi kể trên, cả ở văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam, ta dễ nhận thấy “trú sở” ban đầu của tạp văn, ấy chính là báo chí, một thành tố văn hóa đặc trưng cho đời sống tinh thần của xã hội kể từ khi bước vào thời hiện đại Tạp văn gắn liền với báo chí, từ báo chí mà ra, và cũng từ báo chí mà tạp văn hình thành những đặc điểm cơ bản của nó (ngắn gọn, linh hoạt,

đa dạng, phản ứng một cách kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo…)

1.1.2.1 Những tiền đề của sự nở rộ thể loại tản văn

Cho đến nay (những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI), tản văn đã có chỗ đứng như một thể loại văn học đặc biệt Nó có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng

và chất lượng, trở thành một thành tố không thể thiếu trong đời sống văn học đương đại hiện nay Trong nghiên cứu này chúng tôi đã ghi nhận những nguyên nhân khiến cho “loại văn tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, có truyền thống lâu đời và có sức sống mạnh mẽ ” [16, 198] thực sự nở rộ

Trang 19

Trước hết, thể loại tản văn được phát triển trong một điều kiện văn hóa-

xã hội mới Với sự hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, với sự phát triển của tư tưởng dân chủ, với sự thay đổi trong cơ sở hạ tầng, với hiện thực đời sống ngổn ngang bề bộn, với sự tôn trọng tiếng nói cá nhân con người…đã tạo nên một mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho tản văn phát triển Trong nhiều yếu tố của môi trường văn hóa đương đại, chúng tôi đặc biệt chú ý đến sự phát triển của công nghệ truyền thông Sự bùng nổ của các phương thức, phương tiện truyền thông đã dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ sinh thái văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XXI Trong những năm qua, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về hệ thống truyền thông Truyền thông đa phương tiện đã tác động một cách sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là sự tham gia của Internet Chính điều này đã tạo ra sự tương tác đa chiều trong cộng đồng xã hội Mỗi một cá nhân có quyền được nói lên tiếng nói của mình trước những vấn đề của đời sống Và thực tế cho thấy, khi cộng đồng lên tiếng thì nhiều vấn đề nổi cộm, cấp thiết được giải quyết theo chiều hướng tích cực Những những thay đổi của đời sống xã hội dưới tác động của truyền thông đã làm thay đổi bộ mặt văn học trong đó có thể loại tản văn

Tiếp đến phải ghi nhận sự phát triển của tản văn là do sự thay đổi trong tư duy, trong quan niệm về con người và cuộc sống của các nghệ sĩ: hiện thực cuộc sống đương đại không ít những phức tạp, trái ngang, nghịch lí Hiện thực

ấy không chỉ là các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với tất cả những bề nổi lẫn bề chìm, với tất cả những ngổn ngang, bề bộn của nó Ngoài việc tạo dựng những tác phẩm nghệ thuật hư cấu thì bây giờ các nhà văn hướng đến xây dựng các tác phẩm phi hư cấu, trong

đó có tản văn Ở đó người chép ghi lại nhưng điều mắt thấy tai nghe, những

Trang 20

chiêm nghiệm, những tự thuật, những phát hiện trong cuộc sống rất nhiều chìm nổi này Chính điều này đã kích thích độc giả - những người muốn biết đến tận cùng những sự thật trong đời sống tìm đến thể loại tản văn Chính yếu tố này đã tạo nên một sắc diện mới cho đời sống văn học

Hơn nữa, chính đặc điểm của thể loại tản văn đã giúp nó đứng vững trong sựu tương giao về thể loại, trong dòng chảy của đời sống văn học rất sôi động

Về dung lượng: Tản văn là thể ngắn gọn, hàm súc, linh hoạt nên nó dễ thích nghi với các hình thức xuất bản, nhất là sự xuất hiện trên báo chí Báo chí chính là một trong những yếu tố để thúc đẩy hiện hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỉ thứ XX Trong thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI, các hình thức in ấn như sách, báo vẫn là những hình thức xuất bản chủ yếu của tản văn, ngoài ra còn phải kể đến kênh phát thanh, truyền hình và mạng internet Chính

sự đa dạng đó làm cho tản văn tiếp cận độc giả một cách dễ dàng hơn Tản văn

tỏ ra thích hợp với các hình thức xuất bản mới, phù hợp nhu cầu tiếp nhận của đại chúng trong nhịp sống thời đại Tản văn thường là những bài văn ngắn, ý tưởng độc đáo, nên có thể đưa lên các trang mạng một cách nhanh chóng Nhiều sáng tác tản văn đã từng được in thành sách (cả những cuốn được in ở thế kỉ trước) nay được số hóa để công bố trên mạng (tác phẩm của Tản Đà, Phan Khôi, Phùng Tất Đắc, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường ) Người đọc có thể đọc mọi nơi mọi lúc, chỉ cần có một chiếc máy tính hoặc điện thoại thông minh Ngược lại, nhiều sáng tác đã từng công bố trên mạng lại được tập hợp in thành tuyển tập Các cuốn tuyển tập tản văn trở thành sách bỏ túi, giúp người đọc thư giãn trong những khoảng thời gian nghỉ ngơi ít ỏi Bên cạnh

đó, nhiều người viết tản văn tự công bố các tác phẩm của mình, có thể dưới dạng lưu trữ (qua blog, website) hoặc chia sẻ (facebook) Ví dụ các trang của

Trang 21

Nguyễn Quang Thiều, Trang Hạ, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Ngọc Tư, Sương Nguyệt Minh Chuyên mục tản văn cũng xuất hiện ở các trang báo truyền thống và báo điện tử Có thể nói do đặc thù là ngắn nên tản văn rất có ưu thế ở hình thức xuất bản này

Tản văn thường có tính thời sự: Trong bối cảnh hiện nay, xã hội Việt Nam thực sự còn rất nhiều vấn đề khiến những ai có lương tri và trách nhiệm phải thực sự trăn trở Do ngắn, linh hoạt nên tản văn có điều kiện phản hồi nhanh các vấn đề thời sự Dõi theo dước đi của tản văn, chúng ta có thể thấy những tản của Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đỗ Việt Hà, Nguyễn Trung Kiên, Chu Văn Sơn, Dương Tường, Cao Huy Thuần, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư được nhiều người đón nhận và cùng chia sẻ Hiếm có thể loại văn học nào có khả năng bám sát đời sống và tạo sự tương tác tức thời, có hiệu ứng cộng cảm cao như tản văn Có lẽ do thoát thai từ báo chí nên tản văn phần nào vẫn giữ tính chất nhật dụng, bám sát diễn biến đời sống hàng ngày Đây là một mảng màu khác của tản văn bởi từ trước đến nay tản văn được cho là thể loại phù hợp với sự ngẫm ngợi, chiêm nghiệm, hoài vọng quá vãng hay cảm hứng với những thú vui thanh nhàn

Tản văn có phương thức biểu hiện đa dạng: So với các các thể loại khác thì tản văn là thể văn rất phóng túng, linh hoạt từ đề tài, kết cấu,giọng điệu, thủ pháp biểu hiện… như cách nhìn nhận của nhà nghiên cứu Trần Đình sử trong bài viết Tản văn Việt Nam hiện đại - một thể loại bị lãng quên:“Cách viết đa dạng, có thể tự sự, trữ tình, bình luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau, tản văn nói được bao nhiêu điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ… Tản văn

dễ đọc Mỗi thiên phát hiện một hiện tượng, nêu một vấn đề, khắc ghi một hình

Trang 22

ảnh, khêu gợi một suy nghĩ… khiến tâm hồn người ta rung động, phong phú, thích thú, biết chú ý đến những vấn đề tinh tế có ý nghĩa ở xung quanh ta Tản văn có thể có nhiều phong cách: nghiêm túc, cười cợt, trữ tình, chính luận, triết lí…” [50] Có thể nói chưa một thể loại nào đạt đến độ ngẫu hứng, phong phú như tản văn

Tản văn bộc lộ trực tiếp cái tôi của tác giả: Đây là đặc điểm nổi bật của tản văn so với các thể loại văn học khác Tất nhiên, khi sáng tạo thì dù ở thể loại nào dấu ấn cá nhân cũng rất đậm nét Ở thơ, cái tôi của thi sĩ thể hiện qua hình tượng nhân vật trữ tình Ở truyện ngắn và tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn thể hiện qua hình tượng nhân vật Còn ở tản văn, nhà văn trực tiếp bộ lộ những những xúc cảm, những góc nhìn của cá nhân và tác giả trở thành một hình tượng nhân vật Chưa bao giờ nhu cầu được phô diễn mình, nhu cầu tạo dựng hình ảnh của mạnh mẽ như hiện nay Con người có điều kiện (một cách dễ dàng) nói lên ý kiến cá nhân của mình về những vấn đề mình quan tâm Được chia sẻ cái tôi, nói lên tiếng nói riêng trở thành một nhu cầu không thể thiếu của phần đông công chúng Người ta có thể viết về một kỉ niệm riêng tư, một sự việc quan sát được từ cuộc sống xung quanh, phẩm bình về một chủ đề yêu thích, thậm chí ghi chép những công việc thường nhật So với các giai đoạn trước, giai đoạn này, cái tôi chủ thể đời thường trở thành một nét nổi bật trong tâm thế sáng tạo tản văn Ở tản văn, những tiếng nói riêng, những ý tưởng độc đáo qua những trải nghiệm thực sự của chủ thể được trình hiện Những cách nhìn độc đáo thể hiện bản lĩnh, những nhận định khác biệt thể hiện sự uyên bác, những triết lí bất ngờ thể hiện tầm tư tưởng ở tản văn chính là sức hấp dẫn của thể loại, đồng thời thể hiện độ mở trong tư duy sáng tạo Điều này thích hợp với tinh thần thời đại dân chủ, chấp nhận nhiều tiếng nói, nhất là những tiếng nói

Trang 23

phản biện, góp phần phá vỡ những chân lí có tính độc tôn Điều này cũng rộng đường cho nhiều cây bút nghiệp dư tham gia sáng tác tản văn cùng các nhà văn chuyên nghiệp

Tản văn mang đậm tính đối thoại: Tản văn có thể khơi gợi những ý kiến phản biện vì nó thường lật xới vấn đề quen thuộc dưới những góc nhìn lạ Hơn nữa, phương tiện truyền thông hiện đại tạo điều kiện phát huy sự tương tác giữa người viết và người đọc Một sáng tác văn học vừa hoàn thành có thể ngay lập tức được công bố, cũng có thể ngay lập tức có phản hồi từ phía bạn đọc Sự phản hồi nhanh ở người đọc là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc đối thoại của tản văn Khả năng kích thích những phản hồi, thậm chí là trái chiều, ở tản văn là rất lớn Chính vì vậy càng ngày tản văn càng có sức hấp dẫn

Bên cạnh đó còn phải kể đến tâm lí tiếp nhận của độc giả Càng ngày người đọc càng khó tính, có sự đòi hỏi cao đối với người cầm bút Riêng đối với thể loại tản văn, họ luôn chờ đợi một điều gì đó mới mẻ, hấp dẫn, chân thật và đặc biệt là được nhìn từ kinh nghiệm cá nhân chứ không phải kinh nghiệm của cộng đồng Khi tiếp nhận, có thể bạn đọc đồng tình hoặc phản biện, có khi bàn luận

mở rộng, kết nối với các vấn đề khác để tác giả và những bạn đọc khác cùng tham gia Sức cuốn hút ở tản văn là cách nêu ý kiến và khơi gợi sự tranh luận Những năm gần đây với sự bùng nổ của công nghệ hiện đại, người đọc có thể hồi đáp ngay với tác giả Họ trực tiếp bày tỏ ý kiến bằng cách viết email (gửi thư điện tử), bình luận (comment ), chia sẻ( share) hoặc các dấu hiệu biểu lộ trạng thái trên các trang mạng xã hội Điều này một lần nữa khẳng định sức hấp dẫn của thể loại tản văn

Như vậy những tiền đề chủ quan và khách quan đã làm cho tản văn khẳn định được chỗ đứng trong đời sống văn học đương đại Để cho người đọc khi

Trang 24

tìm đến với tản văn dù là những trang viết có tính chất triết luận, có tính hoài niệm hay đề cấp đến những vấn đề của thời thế vẫn có những hứng thú thực sự

1.1.2.1 Bức tranh chung của thể loại tản văn trong văn học Việt Nam đương đại

Ở Việt Nam, ngay từ đầu thể kỉ XX trở đi đã có các bậc tiền bối mở đường cho thể loại tản văn như: Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Phan Khôi và sau này có Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng tiếp nối Do có đời sống báo chí sôi dộng, sự bùng nổ của cái tôi cá nhân, sự cổ vũ của tầng lớp trí thức nên tản văn đã xuất hiện Những năm đầu khi mới xuất hiện các nhà văn thường gọi thể loại từng viết này là tùy bút, bút ký Cho đến nay tản văn hiện đại đã có hành trình một thế kỉ Từ một thể loại

bị “ xếp chiếu dưới”, gần như đi ngoài lề đời sống văn học thì đến nay tản văn

đã có bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vị thế không thể thiếu trong đời sống văn học đương đại

Nhìn lại một thế kỉ sinh thành và phát triển, tản văn hiện đại sống trong những môi trường văn hóa- xã hội khác nhau và tất nhiên nó có những diễn biến đặc thù, có đời sống và sức sống riêng tương thích với các môi sinh văn hóa đó Trong bài viết Tản văn Việt Nam - hành trình một thế kỉ Lê Trà My đã chia sự phát triển của tản văn hiện đại Việt Nam thành các giai đoạn:

Giai đoạn tiếp xúc văn hóa phương Tây (từ thập niên thứ hai thế kỉ XX đến năm 1945) Đây là giai đoạn đánh dấu sự hình thành và phát triển của tản văn Đầu thế kỉ XX, phong trào cổ vũ văn xuôi quốc ngữ được đẩy mạnh Viết tản văn là một cách thử nghiệm, tập dượt của các nhà văn, nhà báo Giai đoạn này, đời sống báo chí nước nhà sôi động chưa từng có Đây là điều kiện khơi

mở, nuôi dưỡng cho thể loại tản văn Sự tiếp xúc văn minh phương Tây, mở

Trang 25

rộng nhãn quan văn hóa, tiếp thu tư tưởng dân chủ, đề cao ý thức cá nhân đã thôi thúc những nhu cầu biểu hiện mới của chủ thể sáng tạo Trong lịch sử văn học hiện đại, hiếm có một thể loại nào mà ngay từ giai đoạn đầu hình thành đã

có được những đỉnh cao và có diện mạo phong phú như tản văn

Sau sự mở đường đầy ngoạn mục của Tản Đà, tản văn đã có những thành tựu đáng lưu ý Thứ nhất, tạo được sự đa dạng các khuynh hướng: tả thực, lãng mạn - tượng trưng, học thuật Thứ hai, thu hút được khá đông đảo các cây bút tham gia sáng tác mà nhiều người trong số đó là những nhà văn tên tuổi, có vị trí nổi bật trên văn đàn Các phong cách sáng tác cũng khá đa dạng Tản văn Chế Lan Viên giàu chất suy tưởng, triết lí, đậm màu sắc tượng trưng Tản văn Xuân Diệu tinh tế, nồng nàn, đượm chất thơ Tản văn Phùng Tất Đắc đậm chất phiếm luận Có thể nói, tản văn giai đoạn này trở thành mạch nguồn khơi mở cho đường hướng chính của tản văn những giai đoạn sau

Giai đoạn chiến tranh và hậu chiến (từ năm 1945 đến năm 1986) Đây là giai đoạn tản văn bị phân hóa và rơi vào trạng thái trầm lắng Tính cả tản văn sáng tác trong lòng đô thị miền Nam trước 1975 thì tản văn giai đoạn này chia thành hai khuynh hướng: sử thi hóa và phi sử thi Khuynh hướng sử thi hóa hướng tới sự thống nhất đề tài cách mạng; tư tưởng, mục đích sáng tác hướng tới cái ta cộng đồng, những tình cảm lớn, những suy tưởng về dân tộc, thời đại; phát huy cao độ tính trữ tình tập thể; cảm hứng chủ đạo là lòng tự hào về Tổ quốc, về truyền thống dân tộc, niềm tin vào ngày mai Các nhà văn như Nguyễn Thi, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Trung Thành đều ít nhiều có những tác phẩm viết theo xu hướng này Khuynh hướng phi sử thi phản ánh những tâm tư, tình cảm mang tính cá thể, ít hòa nhập với dàn đồng ca chung, thường đề cập những vấn đề mang tính văn hóa, những sinh hoạt thường

Trang 26

nhật; bày tỏ những ý tưởng độc đáo, những tâm trạng, cảm xúc riêng tư Khuynh hướng phi sử thi chủ yếu xuất hiện trong văn học đô thị miền Nam trước 1975 (các sáng tác của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Sơn Nam, Tạ Tỵ, Vũ Bằng ) và số ít các cây bút miền Bắc (như Nguyễn Tuân) Nhìn đại thể, có vẻ như tản văn giai đoạn này tạm nép mình bên cạnh những thể loại khác, có khi bị cấy ghép vào thể loại khác như kí, truyện

Giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế (từ năm 1986 đến nay) Ở Việt Nam, đây là giai đoạn mở cửa, giao lưu và hội nhập, đặc biệt là giai đoạn đánh dấu bước ngoặt về truyền thông Tản văn hồi sinh mạnh mẽ sau một thời gian dài gần như bị loại khỏi mối quan tâm của cả người sáng tác và người đọc Nó bắt đầu được chú ý và ngày càng có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội Qua thực tế khảo sát chúng tôi nhận thấy từ sau 1986 là thời kì “lên ngôi” của thể loại tản văn Năm 2005, khi cuốn Tản mạn trước đèn của nhà văn Đỗ Chu nhận giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam thì tản văn bước vào thời kì nở rộ với hàng loạt các tác phẩm có chất lượng: Nhân trường hợp chị thỏ bông (Thảo Hảo), Ngẫu hứng sáng, trưa, chiều, tối (Tạ Duy Anh), Ngày mai của những ngày mai và Yêu người ngóng núi (Nguyễn Ngọc Tư), Cuộc đời vui quá, không buồn được (Trần Nhã Thụy), Tivi, xe máy, nhạc chế, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác (Nguyễn Vĩnh Nguyên), Người Quảng đi ăn mỳ Quảng và Sương khói quê nhà (Nguyễn Nhật Ánh), Trên căn gác áp mái (Đỗ Bích Thúy), Ngôi nhà và con người ( Huỳnh Như Phương), Tháng giêng, tháng giêng, một vòng dao quắm ( Y Phương), Con giai phố cổ ( Nguyễn Việt Hà);

Hà Nội thì không có tuyết (Đỗ Phấn)… Trong số đó rất nhiều những cuốn tản văn trở thành cuốn sách bán chạy nhất của năm Ngắn gọn, nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, chạm được nhiều vấn đề thời sự, thâm nhập sâu vào đời sống có lẽ là ưu

Trang 27

điểm chính khiến tản văn thu hút được người đọc thời hiện đại trong cuộc sống hối hả, còn nhiều bận rộn, đôi khi thời gian là vàng Thể loại này khá “dễ tính” thu hút được đông đảo đội ngũ sáng tác Thời đại công nghệ tiên tiến, ai cũng

có thể viết tản văn và tự xuất bản trên mạng cá nhân của mình

Đối với những cây bút chuyên và không chuyên, đã có tên tuổi hay đang trong quá trình xác lập thì việc viết tản văn trở thành một xu hướng trong hành trình sáng tác của họ Vì hầu như tác giả nào cũng ít nhất một lần viết tản văn Hầu như không vắng ai, kể cả những tác giả đã mặc nhiên gắn với truyện ngắn, tiểu thuyết hay thơ Một số bước hẳn vào đường chạy và lập kì tích như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý với tư cách là tác giả của những cuốn tản văn thuộc dạng bất ngờ: Gáy người thì lạnh, Yêu người ngóng núi, Tự nhiên như người Hà Nội, Con giai phố cổ… Một số tạt ngang nhưng cũng gây ấn tượng như Đỗ Bích Thúy với Trên căn gác áp mái, Đến độ hoa vàng; Thụy Anh với 100 gờ-ram hạnh phúc; Việt Linh với Năm phút với ga xép; Cao Huy Thuần với Chuyện trò; Sợi tơ nhện Một số tỏ ra gặp duyên rồi nhất định lựa chọn như Nguyễn Vĩnh Nguyên với Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác; Những đồ vật trò chuyện cùng chúng ta; Với Đà Lạt, ai cũng là lữ khách; Trần Nhã Thụy với Cuộc đời vui quá không buồn được; Triều cường, chân ngắn và rau sạch; Trang Hạ với Đàn bà

ba mươi, Nắm tay và làm tình; Hoàng Hồng-Minh với Lòng người mênh mang… Có tác giả vừa đến và đang muốn dừng lại khá lâu như Đỗ Phấn với Hà Nội thì không có tuyết, Ngồi lê đôi mách với Hà Nội, Nguyễn Ngọc Tiến với Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội Có tác giả đến muộn nhưng lập tức độc sáng như Y Phương với Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm Nguyễn Quang Thiều với hàng loạt tác phẩm: Có một kẻ rời bỏ thành

Trang 28

phố, Mùi của kí ức, Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng…Có tác giả từ bút danh đến tên thật đều sắc sảo và đa sự như Thảo Hảo - Phan Thị Vàng Anh Trường hợp Nguyễn Quang Lập với Ký ức vụn lại là ngoại lệ thú vị khi những bài viết trong đó vốn gây sóng dư luận trước tiên ở môi trường internet Không chỉ có những nhà văn tên tuổi mà nhiều cây bút trẻ cũng chọn tản văn như một thể loại để khằng định tên tuổi của mình như: Hamlet Trương, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Cấn Vân Khánh Tản văn như trở thành một “mảnh đất mới màu mỡ” cho nhiều người thử sức Ngay cả những người không thuộc ngành văn chương như: nhà sử học Cao Huy Thuần, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, họa sỹ Phan Cẩm Thượng, nhạc sỹ Dương Thụ, đạo diễn điện ảnh Việt Linh đều là những cây bút tản văn đem đến cho độc giả nhiều cảm xúc Từ nỗi rung động về vẻ đẹp của thế giới tạo vật, sự xúc động về những giá trị nhân văn, từ nỗi cảm hoài thời thế đến phê phán, giễu nhại, … các phương diện khác nhau của đời sống

Không chỉ tạo ấn tượng bởi những con số về tác phẩm được xuất bản mà tản văn còn ghi dấu ấn bởi những cái vân chữ của từng tác giả (Chữ của nhà thơ

Lê Đạt) Ta có thể nhận thấy không ai át được Nguyễn Việt Hà trong cái giọng điệu hài hước, châm biếm tinh tế Tản văn Nguyễn Việt Hà tái lặp chiêu trò dụng từ điển, dụng các điển phạm văn chương và hiện đại hóa nó qua các so sánh tạt ngang mới mẻ trong cái nhìn hôm nay Một sự nhất quán đến kì tài ở tản văn Nguyễn Việt Hà, từ Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Đàn bà uống rượu đến Con giai phố cổ, là trước sau đều xem đi lật lại muôn vẻ bản sắc của hai giới đàn ông - đàn bà, khởi sinh của mọi sự, trong một đời sống đô thị tưởng chừng rắc rối, phức tạp Dĩ nhiên, thái độ nhất quán đó không chỉ được viết ra từ kinh nghiệm cá nhân mà còn phải được góp nhặt từ vốn tri thức sách

Trang 29

vở nhất định Nguyễn Việt Hà đọc sách để đẻ ra sách, rất khác với một số cây bút trẻ hơn, viết tản văn là để khoe sách mình đọc, tuy hồn nhiên nhưng kém tỉnh táo vì đã không giả định rằng luôn có người đọc thông minh Ở trường hợp Nguyễn Trương Quý, tuy cũng dựa vào tư liệu để khảo cứu nhưng tản văn của anh không sa đà kiến thức mà nghiêng về thông tin mới, bình luận dí dỏm như

ở Xe máy tiếu ngạo hay Còn ai hát về Hà Nội Những cuốn tản văn khác của anh như: Hà Nội là Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon và mới đây nhất, Mỗi góc phố một người đang sống, đuổi theo khám phá Hà Nội, không phải để ném những viên sỏi vào đề tài đã có nhiều cây cao bóng cả, mà để tìm thêm những

dư vị mới Ở tản văn của Nguyễn Quang Thiều người đọc đồng vọng với những tiếng vọng từ quá khứ, những khắc khoải về làng quê, những suy tư day dứt về đời sống…

Ở miền Nam, Nguyễn Ngọc Tư luôn chứng tỏ mình là người gây khó cho độc giả nếu muốn nhớ hết số lượng tản văn của chị Cảnh sắc và đời sống sông nước miền Tây hiển hiện trong từng câu chuyện, từng nhân vật và ngôn ngữ luôn đậm chất Nam bộ Độc giả thấy trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư một thứ chủ nghĩa cảm thương, nó đánh động được nhân tâm Với Phan Thị Vàng Anh, ngược lại, tản văn phần lớn đều viết ra để luận bàn thế sự Duy trì nhãn quan sắc sảo trong phân tích, chất vấn, bình luận muôn mặt đời sống nhân sinh thường ngày khiến tản văn của chị khá gần với tiểu phẩm báo chí và có lúc như

là các phóng sự Người đọc nhớ tản văn Phan Thị Vàng Anh là nhớ những mảng màu sáng tối của đời sống, đôi khi nó lại như những vị thuốc chữa những căn bệnh vừa phi lí, vừa nhếch nhác của xã hội mà ta đang sống

Có thể nói cuối thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI tản văn có sự vượt trội về số lượng sáng tác, đề tài, chủ đề Khó có thể thống kê đầy đủ số

Trang 30

lượng các tác phẩm tản văn xuất hiện trong giai đoạn này Nhiều tuyển tập tản văn ra mắt bạn đọc Nhiều báo, tạp chí có chuyên mục tản văn hoặc đăng nhiều tản văn Trên các báo địa phương cũng có mục riêng dành cho thể loại tản văn Tản văn xuất hiện trên các chuyên mục của báo giấy, báo mạng, trên các trang

cá nhân, trên các chương trình truyền hình, phát thanh Đội ngũ sáng tác tản văn cũng chưa bao giờ đông đảo như hiện nay Họ có thể là nhà văn, họa sĩ, bác

sĩ, nhà khoa học, nhạc sĩ, nghệ sĩ, sinh viên, nhân viên văn phòng, phượt thủ

Về phía “thị trường tiêu thụ” tản văn, có vẻ như bạn đọc hiện nay có xu hướng chọn đọc tản văn nhiều hơn so với các thể loại khác Nhiều người nhận xét rằng

số người đọc tản văn hiện nay còn nhiều hơn tiểu thuyết

Như vậy, đời sống tản văn hôm nay, sau một trăm năm hình thành và tồn tại đã chứng minh sức sống của một thể loại Tản văn là thể loại xuất hiện do nhu cầu lịch sử - là nơi tập luyện văn mới, nhưng sinh mệnh thể loại lại không chấm hết cùng sự kết thúc của vai trò lịch sử Với sự phát triển cả về chất lượng

và số lượng, càng ngày nó càng chứng minh được vai trò không thể thiếu trong đời sống văn học đương đại, ít nhất là ở việc giúp người đọc thấy rõ hiện thực đời sống, lưu giữ các giá trị văn hóa, thúc đẩy tính dân chủ trong xã hội và phát triển ngôn ngữ tiếng Việt Cho đến hôm nay, trong thời đại của truyền thông hiện đại, tản văn trở thành thể loại thu hút đông đảo bạn đọc, phát triển, nở rộ,

đã có những kết tinh Đời sống thể loại tản văn với những bước thăng trầm của

nó một trăm năm qua cho thấy rõ hơn những quy luật phát sinh, phát triển, tồn vong của văn học trong sự tương tác với các yếu tố văn hóa

Cùng với các thể loại khác, tản văn đã góp phần tạo nên sắc diện của nền văn học Việt Nam hiện đại Sự nở rộ của tản văn nên mừng hay lo? Điều đó sẽ được chúng tôi đề cập ở một công trình nghiên cứu khác nhưng ít nhất nó cũng

Trang 31

đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của những người còn mặn

mà với văn hóa đọc hôm nay và đặc biệt nó vẫn góp phần lưu giữ các giá trị tinh thần Việt, văn hóa Việt để người Việt có thể từ làng ra phố, từ dân tộc ra thế giới

1 2 Nguyễn Quang Thiều - con người và văn nghiệp

1.2.1 Cuộc đời, con người

Nguyễn Quang Thiều là một nhà thơ hiện đại của Việt Nam Ngoài lĩnh vực chính thơ ca tạo nên tên tuổi, ông còn là một nhà văn với nhiều tác phẩm thành công ở các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn Ngoài ra ông còn hoạt động trong lĩnh vực báo chí

Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13 tháng 02 năm 1957 tại làng Chùa ven sông bờ Đáy thuộc xã Sơn Công, Huyện Ứng Hòa, Tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc

Hà Nội) Hiện giờ ông sống ở Hà Đông, Hà Nội

Nguyễn Quang Thiều xuất thân trong một gia đình viên chức, thưở thơ

bé sống ở quê Chính những ký ức về làng quê nghèo, nơi có dòng sông Đáy hiền hòa thơ mộng gắn liền với những câu chuyện mang sắc màu huyền thoại, những phong tục tập quán tốt đẹp và cả những hủ tục của người làng quê; những con người nồng hậu, hồn nhiên, chân chất đã trở thành ngồn cảm hứng sáng tạo vô tận, là điểm tựa tinh thần để nhà văn tìm về sau những bươn chải,

va vấp giữa cuộc đời

Năm 1989, sau khi tốt nghiệp đại học ở Cu Ba, ông về nước công tác ở

Bộ Công an Đầu những năm 1990, ông bắt đầu bén duyên với sự nghiệp báo chí Ông gắn bó với tuần báo Văn nghệ một thời gian dài trước khi chuyển sang làm việc tại báo điện tử Vietnamnet.vn Sau đó ông cùng với nhà văn Hữu Ước

Trang 32

sáng lập tờ báo An ninh thế giới cuối tháng Tờ báo ấy đã thu hút đông đảo độc giả trong khoảng 10 năm khi có số lượng bản in khiến nhiều tờ báo mong muốn Nguyễn Quang Thiều cũng là người đồng sáng lập tờ Cảnh sát toàn cầu cũng được đông đảo bạn đọc quan tâm Tiếp sau đó, ông còn tham gia sáng lập

tờ Nghệ thuật mới, một tờ báo ngay từ buổi đầu đã có lượng ấn bản ấn tượng hơn bất kỳ một tờ báo văn học nào khác

Nguyễn Quang Thiều bắt đầu làm thơ vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi mới ngoài 20 tuổi Ông làm thơ và cũng sớm có những thành công Năm 1983 - 1984, ông đạt giải ba cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội, năm 1989, đạt giải thưởng thơ hay Tập thơ Ngôi nhà 17 tuổi xuất bản năm

1990, sau đó một năm được bình chọn là tác phẩm hay nhất của năm Không dừng lại ở đó, Nguyễn Quang Thiều luôn trăn trở ngày đêm trên từng trang viết của mình, từ thẳm sâu réo gọi đã thôi thúc ông cầm bút và tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời năm 1992 Năm 1993 tập thơ này đã được trao giải thưởng Hội nhà văn Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Quang Thiều, nó đánh dấu bước ngoặt đổi mới trong tư duy thơ Sau đó ông còn giành nhiều giải thưởng văn học trong và ngoài nước

Nguyễn Quang Thiều là người nghệ sĩ khá đặc biệt Ông vừa có có tâm hồn Á Đông đa cảm, mơ mộng, nhân hậu vừa có tư duy sắc sảo của người phương Tây Có được điều đó là do ông đã từng có thời gian học tập ở nước ngoài, vốn ngoại ngữ thông thạo giúp ông có cơ hội tiếp xúc với văn hóa, văn học nhiều nước trên thế giới Vốn sống phong phú, học vấn sâu rộng, giao lưu văn hóa nhiều và bản lĩnh của người nghệ sĩ giúp Nguyễn Quang Thiều có nhiều thành công trong hành trình sáng tạo

Trang 33

Nguyễn Quang Thiều là một người nghệ sĩ đa tài, ở ông có sự tổng hòa các lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, kịch, họa Những năm qua trên báo chí đã xuất hiện khoảng hơn 500 bài ký, phóng sự, nghị luận, tản văn của Nguyễn Quang Thiều Ngoài ra ông còn viết nhiều kịch bản phim, vẽ tranh và tiểu thuyết, truyện ngắn…

Từ ngày 10.5.2017, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều còn được bổ nhiệm làm Giám đốc kiêm Tổng biên tập NXB Hội Nhà văn

1.2.2 Văn nghiệp

Nguyễn Quang Thiều có sức sáng tạo bền bỉ: Đến với văn chương, Nguyễn Quang Thiều luôn cho mình những sự thể nghiệm khác nhau Chưa bao giờ anh chịu khuôn mình trong một thể loại nhất định Chính điều này đã tạo nên cho văn chương đương đại một cây bút đa dạng Từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, ở “cuộc chơi” nào Nguyễn Quang Thiều cũng định

vị được cho mình một cá tính sáng tạo riêng

Gần 40 năm đồng hành cùng với văn chương, Nguyễn Quang Thiều đã có được những thành công đáng ghi nhận Đến nay, ông đã xuất bản tổng cộng 10 tập thơ, 21 tập văn xuôi và 3 tập sách dịch Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm thơ

và truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều đã được xuất bản ở Hoa Kỳ, Pháp,

Úc, Na -Uy, Thụy Điển, Nhật Bản Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được các nhà xuất bản ở Mỹ chọn dịch cả thơ và văn xuôi và đã được đăng tải hầu hết các báo, tạp chí uy tín ở nước Mỹ Truyện ngắn được dịch nhiều thứ tiếng, đặc biệt tác phẩm Bầy chim chìa vôi được chọn làm một chuyên đề trong một trường đại học ở Nhật Ở Pháp, hai tập truyện ngắn được dịch, xuất bản: La Fille Du Fleuve (1997), và La Petite Marchande De Vermaicelles (1998)

Trang 34

Bắt đầu viết văn từ năm 1983, Nguyễn Quang Thiều là cây bút đa tài, có sức sáng tạo dồi dào Ông nhanh chóng nổi lên như một nhà thơ trẻ cách tân hàng đầu thế hệ mình Bên cạnh thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng ghi dấu ấn về văn xuôi, tiểu luận, dịch thuật và góp phần quan trọng quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới Và ở bất cứ một lĩnh vực nghệ thuật nào ông cũng gặt hái được những thành công nhất định và tạo được những dấu ấn sâu đậm đối với bạn đọc

Nguyễn Quang Thiều có quan niệm nghệ thuật đúng đắn, sâu sắc: Để tạo được những thành công đó, ngoài sự nỗ lực và quá trình làm việc nghiêm túc, sự say mê và tài năng của bản thân còn bởi nhà văn có quan niệm nghệ thuật đề cao sự sáng tạo trong cách viết Quan niệm nghệ thuật đó không chỉ được nhà văn phát biểu trực tiếp trong những bài trả lời phỏng vấn mà còn được thể hiện qua chính những sáng tác của ông

Trước hết là Nguyễn Quang Thiều luôn đề cao sự sáng tạo Trong một lần trả lời phỏng vấn ông có nói: “Tôi yêu tất cả những gì thuộc về vẻ đẹp sáng tạo Tôi quan niệm sự sáng tạo là chất xúc tác giải phóng mình bởi ở đó có những ý tưởng riêng, cá tính được được chắp cánh bay cao”[54]

Là một nghệ sĩ, Nguyễn Quang Thiều ý thức sâu sắc sứ mệnh của một nhà thơ và chức năng của văn chương Theo ông, sứ mệnh của nhà thơ là “ Thiên chức của nhà thơ là tham gia vào nghi lễ của đất trời, phải mang đến những tiếng kèn mới, những giai điệu mới đầy sức sống” Và những ý tưởng về thơ ca: “Quan điểm thơ ca của tôi là làm sống lại những cái đã chết và làm mới lại những cái đã cũ Tôi không xây dựng lên một thế giới mới mà tôi chỉ làm sống lại tất cả những vẻ đẹp của đời sống này” [55, 31] và “Thơ ca là nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn, "Điều quan trọng nhất của thơ là tạo

ra sự ám ảnh và điều tệ hại nhất là thiếu trí tưởng tượng”

Trang 35

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy những câu trả lời của Nguyễn Quang Thiều về văn chương được làm rõ trên hai phương diện sau: thứ nhất, văn chương có một sứ mệnh cao cả, đòi hỏi sự gắn bó, sự dấn thân hết mình của nghệ sĩ Thứ hai, nhà văn cho rằng, văn chương đòi hỏi gắt gao về tài năng và công phu lao động nghệ thuật, nhất là sự sáng tạo, không bao giờ chấp nhận sự lặp lại Đây là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ, nó cho người đọc thấy được vai trò cũng như nhiệm vụ quan trọng của người nghệ sĩ đó là phải mang đến cái mới cho thi ca nói riêng và cho nghệ thuật nói chung Hơn nữa Nguyễn Quang Thiều đã đặt văn chương trong mối quan hệ gắn bó với cuộc sống với chủ thể sáng tạo, với người đọc

1.2.2.1 Về thơ

Từ những năm 1990, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu có bước thay đổi

về tư duy, thi pháp Trong sự thay đổi đó, Nguyễn Quang Thiều đi tiên phong

và đã khẳng định được giọng thơ riêng biệt của mình

Đến nay ông đã xuất bản 10 tập thơ:

1 Ngôi nhà tuổi 17, 1990

2 Sự mất ngủ của lửa, 1992, tái bản 2016

3 Những người đàn bà gánh nước sông, 1995

4 Những người lính của làng, 1996

5 Thơ Nguyễn Quang Thiều, 1996

6 Nhịp điệu châu thổ mới, 1997

7 Bài ca những con chim đêm, 1999

8 Thơ tuyển cho thiếu nhi, 2004

Trang 36

ca những con chim đêm (Nxb Hội Nhà văn, 1999), Cây ánh sáng (Nxb Hội Nhà văn, 2008), thực sự mở tiếp con đường đã khai phá từ thập niên 90 với tư duy, thi ảnh hoàn toàn khác biệt Đặc biệt với tập thơ Châu thổ ( NXb Hội Nhà văn, 2010), đây như là một sự tổng kết lộ trình thơ hơn 30 năm của người nghệ

sĩ đa tài với tư duy thơ mới mẻ, hiện đại, sâu sắc Tập thơ như một sự quay về của Nguyễn Quang Thiều với cội nguồn, với các trầm tích văn hóa của dân tộc

Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng ta bị cuốn vào không gian nghệ thuật mà ông tạo ra Không gian phố thị, không gian làng quê xâm lấn lẫn nhau Đặc biệt là không gian làng quê thuần khiết đang bị thu hẹp, có lúc là bị vỡ vụn

Trang 37

dưới những tòa nhà chọc trời, dưới những khối bê tông sắt thép câm lặng Để rồi người đọc thấy trăn trở, day dứt bởi những vẻ đẹp trong trẻo, thuần khiết ngày càng mất mát, nhạt nhòa Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều ta cũng sẽ thấy miền tâm linh ngập tràn trong các trang thơ Tuy nhiên, chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là hành trình đi tìm vẻ đẹp của cuộc sống, của con người, là hành trình hướng về nguồn với ký ức tuổi thơ sáng trong, ở đó nhân vật trữ tình tìm kiếm được điểm tựa, xây dựng được niềm tin để mà chống chọi với thế giới trần tục đầy mưu mô, dục vọng và tội lỗi Một điều dẽ nhận thấy nữa là nguồn cội, quê nhà luôn khắc khoải trong thơ Nguyễn Quang Thiều ngay

từ tập thơ đầu tay Ngôi nhà mười bảy tuổi đến tập thơ Châu thổ như tác giả từng giãi bày:

Tôi hát bài hát về cố hương tôi Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó

Nó không tiêu tan

Nó thành con giun đất

Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao

Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ

Bò qua bãi tha ma người làng chết đói Đất đùn lên máu chảy dòng dòng (Bài hát về cố hương)

Khi nhìn nhận hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều, ta thấy nhà thơ không chỉ mang tới cho người yêu thơ những nỗi niềm trăn trở đôi khi là sự trĩu nặng về nhân tình mà hơn hết đó là “hành trang” trong việc tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ hiện đại qua những cách tân thơ đầy sáng tạo Với tài năng của

Trang 38

mình, Nguyễn Quang Thiều đã xác lập được một thế đứng trên thi đàn khi mở

ra biên độ của trí tưởng tượng, tăng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ

Lộ trình thơ Nguyễn Quang Thiều bắt đầu từ tập thơ Sự mất ngủ của lửa cho đến những tập thơ về sau đã định hình một phong cách thơ riêng biệt bằng

tư duy, cảm hứng sáng tạo và nhãn quan thẩm mĩ mới Với lộ trình thơ ca gần 1/3 thế kỉ, nguyễn Quang Thiều khẳng định tài năng, bản lĩnh và sự tài hoa của mình Bởi lựa chọn sự cách tân đã khó, để người khác chấp nhận sự cách tân đó càng khó hơn Chính điều đó mà dòng chảy thơ ca đương đại Việt Nam đã ghi nhận ông với vai trò: một trong những người tiên phong cho sư cách tân của thơ

ca Việt hiện đại

1.2.2.2 Về tiểu thuyết, truyện ngắn

Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ có nhiều đóng góp đối với dòng chảy của thi ca hiện đại tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu nội lực Ở Nguyễn Quang Thiều, có một tầm hồn thơ bay bổng, dạt dào cảm xúc, có một nhà báo linh hoạt, nhạy cảm và ở đó còn có một nhà văn luôn đau đáu với những hạnh phúc, trái ngang của cuộc đời Và chúng ta không thể phủ nhận vị trí đáng kể của văn xuôi trong sự nghiệp sáng tác của ông với các tập tiểu thuyết và truyện ngắn

Các tiểu thuyết và truyện ngắn đã được xuất bản:

1 Vòng nguyệt quế cô đơn, tiểu thuyết, 1991

2 Cỏ hoang, tiểu thuyết, 1992

3 Tiếng gọi tình yêu, tiểu thuyết, 1993

4 Người đàn bà tóc trắng, truyện ngắn, 1994

Trang 39

5 Kẻ ám sát cánh đồng, tiểu thuyết, 1995

6 Đứa con của hai dòng họ, truyện ngắn, 1996

7 Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, 1996

8 Người cha, truyện thiếu nhi, 1997

9 Bí mật hồ cá thần, truyện thiếu nhi, 1997

10.Con quỷ gỗ, truyện thiếu nhi, 2000

11 Bí mật ngọn núi bà già mù, truyện thiếu nhi, 2002

12 Người nhìn thấy trăng thật, truyện ngắn, 2003

13 Mùa hoa cải bên sông, Truyện ngắn, 2013

Mặc dù hành trình sáng tác truyện ngắn không dài nhưng những tác phẩm của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc như nhận định của nhà biên tập trong cuốn Mùa hoa cải bên sông Nguyễn Quang Thiều, NXb Kim Đồng, 2003: “Nguyễn Quang Thiều là một cây bút truyện ngắn tài hoa Anh có lối kể chuyện hư hư thực thực, ẩn hiện, mê hoặc…văn chương và con người anh như một thứ rượu để lâu, uống vào rất dễ say” [62, 4]

Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều và văn xuôi của ông nói chung không thuộc dòng cách tân mà tiếp nối dòng mạch văn xuôi truyền thống Các tác phẩm của ông quan tâm đến bi kịch con người thời hậu chiến; quan tâm đến nông thôn và quá trình đô thị hóa; quan tâm đến số phận và những cung bậc khác nhau của đời sống tinh thần con người Viết về chiến tranh, nhà văn đã không nhìn lên những ánh hào quang của chiến công và sự chiến thắng mà ông cúi xuống để thấy, để cảm nhận và phản ánh những sự thật đau lòng mà chiến tranh gây ra cho con người, bi kịch của những người lính sau chiến tranh, bi

Trang 40

kịch của những người phụ nữ Viết về con người, nhà văn quan tâm đến số phận của cá nhân Nổi bật lên trong đó là những chuyện đời tư, những số phận riêng, những bi kịch của con người, những mâu thuẫn trong đời sống tình cảm con người Nhà văn xoáy sâu vào những sự thật nghiệt ngã, những tình cảnh trớ trêu, phũ phàng của cuộc đời, dù là trong chiến tranh hay trong cuộc sống thường nhật, để từ đó khắc họa nên những số phận khác nhau của con người

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều thường không có độ dày về sự kiện, nhân vật, mà chỉ là một lát cắt, có khi rất nhỏ về cuộc đời Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thiều có khả năng trong việc tạo nên độ sâu của suy nghĩ, sự lắng đọng của cảm xúc Các tác phẩm truyện ngắn của ông thường không có những kịch tính, những cao trào do cốt truyện thường giản dị, được xây dựng từ những chất liệu đời thường nhưng luôn được điểm vào đó những mạch cảm xúc, suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật làm cho câu chuyện trở nên sâu lắng Với thể loại truyện ngắn, cách viết của nhà văn không quá cách tân (như trong thơ) mà thiên về cốt truyện tâm lý, đậm chất chữ tình Yếu tố trữ tình trong văn xuôi của ông đã góp phần tạo nên những trang văn giàu chất thơ đan xen với nội dung phản ánh hiện thực, tạo được ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc đúng như nhận định của Đinh Trí Dũng: “Người đọc cũng khó quên một mùa hoa cải bên sông, một làng Chùa với những bến sông, cổng làng, bờ đê, ruộng lúa trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều” [9]

Tiểu thuyết và truyện ngắn của ông chạm đến được nhiều vấn đề của đời sống, có ý nghĩa nhân văn nên có những tác phẩm đã được chuyển thể thành phim Tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập Chuyện làng Nhô Truyện ngắn Mùa hoa cải ven sông đã được dựng thành phim Lời nguyền của dòng sông do Khải Hưng làm đạo diễn, từng

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
3. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: Lí luận tác gia và tác phẩm (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: Lí luận tác gia và tác phẩm (tập 1)
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
4. Vũ Bằng (2009), Miếng ngon Hà Nội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miếng ngon Hà Nội
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
6. Phan Đăng, "Nguyễn Quang Thiều, từ bao giờ chúng ta cất đi những giấc mơ", nguồn http://antgct.cand.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều, từ bao giờ chúng ta cất đi những giấc mơ
Tác giả: Phan Đăng
7. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Đinh Trí Dũng, "Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975", nguồn http://nhandan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975
Tác giả: Đinh Trí Dũng
10. Hà Minh Đức (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Hà Minh Đức (2001), Những vấn đề lí luận lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận lịch sử văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
14. Đặng Thái Hà, "Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời đổi mới", nguồn http://nhavantphcm.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời đổi mới
Tác giả: Đặng Thái Hà
15. Lê Thu Hà (2013), Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội
Năm: 2013
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
18. Dương Minh Hào, "Hương vị đặc biệt của tản văn Trung Quốc", nguồn http://nhandan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương vị đặc biệt của tản văn Trung Quốc
Tác giả: Dương Minh Hào
20. Hoàng Ngọc Hiến (1998), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
22. Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển văn học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
24. Phan Hoàng, "Nguyễn Quang Thiều mãi mãi là một ẩn số", nguồn http://nhavanthanhphohcm.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều mãi mãi là một ẩn số
Tác giả: Phan Hoàng
25. M.B. Khrapchenkô (1987), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenkô
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1987
26. Thạch Lam (2016), Hà Nội băm sáu phố phường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội băm sáu phố phường
Tác giả: Thạch Lam
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2016
27. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề- Tác giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề- Tác giả
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
29. Hoàng Anh Lê, "Nguyễn Quang Thiều và câu chuyện của thơ Việt Nam hiện đại", nguồn http://vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều và câu chuyện của thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hoàng Anh Lê

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w