Thế giới nhân vật ấy thể hiện một cái nhìn, sự chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, qua đó cho thấy một xu hướng “tìm kiếm” nhân vật mới mẻ của Nguyễn Trí trong nền
Trang 1_
TRẦN THỊ HUỆ
NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN TRÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2018
Trang 2_
TRẦN THỊ HUỆ
NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN TRÍ
Chuyên ngành:Lí luận văn học
Mã số: 8.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS BIỆN THỊ QUỲNH NGA
NGHỆ AN - 2018
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TRÍ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 9
1.1 Sự xuất hiện của Nguyễn Trí trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 9
1.1.1 Nhìn chung về văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 9
1.1.2 Nguyễn Trí - một hiện tượng của văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 14
1.2 Con đường đến với văn chương và những thành công bước đầu của Nguyễn Trí 17
1.2.1 Con đường đến với văn chương của Nguyễn Trí 17
1.2.2 Những thành công bước đầu của Nguyễn Trí 19
1.3 Cái nhìn về con người và xu hướng tìm kiếm nhân vật của Nguyễn Trí trong văn xuôi 21
1.3.1 Cái nhìn về con người của Nguyễn Trí trong văn xuôi 21
1.3.2 Xu hướng tìm kiếm nhân vật của Nguyễn Trí trong văn xuôi 24
Chương 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN TRÍ 27
2.1 Tiêu chí phân loại các kiểu nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí 27
2.2 Các kiểu nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí 30
Trang 4Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI
NGUYỄN TRÍ 57
3.1 Khắc họa nét riêng trong tiểu sử, ngoại hình và tô đậm cá tính nhân vật 57 3.1.1 Khắc họa nét riêng trong tiểu sử, ngoại hình 57
3.1.2 Tô đậm cá tính nhân vật 61
3.2 Tạo dựng tình huống thử thách nhân vật 62
3.2.1 Đặt nhân vật vào những bối cảnh khắc nghiệt 62
3.2.2 Xoáy sâu vào những tình huống gay cấn 66
3.3 Trần thuật bằng ngôn ngữ mang đậm hơi thở đời sống hiện đại và màu sắc Nam Bộ 69
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại kịch tính 69
3.3.2 Ngôn ngữ trần thuật tự nhiên, trần trụi, đậm màu sắc Nam Bộ 74
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Trí được xem là một hiện tượng độc đáo, mới lạ trên văn
đàn Việt Nam đầu thế kỷ XXI Ông được biết đến nhiều qua giải thưởng về
văn xuôi năm 2013 của Hội Nhà văn Việt Nam dành cho tập truyện ngắn Bãi
vàng, đá quý, trầm hương Ngoài tập truyện được vinh danh, Nguyễn Trí còn
có nhiều sáng tác đã được xuất bản và đăng tải trên báo chí gây chú ý đối với độc giả Văn xuôi Nguyễn Trí thấm đẫm chiều sâu nhân văn với cách kể mang màu sắc Nam Bộ rất riêng, đưa lại hơi thở mới cho đời sống văn xuôi Việt đương đại
1.2 Nhân vật là đối tượng trung tâm được nhà văn miêu tả trong tác
phẩm bằng các phương tiện văn học Nhân vật giữ một vai trò quan trọng trong việc chuyển tải tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Qua việc khám phá các phương thức nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, chúng ta có thể giải
mã những quan niệm riêng của nhà văn về con người và thế giới Tìm hiểu văn xuôi Nguyễn Trí từ phương diện nhân vật, do vậy, là một hướng tìm tòi nhằm nhận diện tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà văn
1.3 Không giống như con đường của một nhà văn chuyên nghiệp,
Nguyễn Trí bước vào nghiệp văn một cách tự nhiên, sống động như cuộc đời của chính ông Đối với Nguyễn Trí, văn chương là nơi để giãi bày những trở trăn, trải nghiệm lắm đắng cay, vất vả, thăng trầm của chính mình Mỗi nhân vật trong tác phẩm của ông đều ẩn dụ cho một số phận, một quãng đời hay cho một hành trình mà nhà văn đã bắt gặp hay trải qua Thế giới nhân vật ấy thể hiện một cái nhìn, sự chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, qua đó cho thấy một xu hướng “tìm kiếm” nhân vật mới mẻ của Nguyễn Trí trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại
Trang 62 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Năm 2013, Nguyễn Trí được giải thưởng cao nhất của Hội Nhà văn với
số phiếu tuyệt đối từ Hội đồng bình chọn về tập truyện ngắnBãi vàng, đá quý,
trầm hương Chính từ dấu mốc này, khá nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn
học, các nhà văn đã đọc và viết nhiều về văn chương của Nguyễn Trí Mở đầu
là các nhà văn như Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Đỗ Chu, Trong các lời tựa cho các tập truyện của Nguyễn Trí, hầu hết các nhà văn đều đánh giá cao sự xuất hiện của hiện tượng Nguyễn Trí Từ một người làm đủ nghề mưu sinh như: nấu rượu, nhảy tàu, đồ tể, tìm vàng, khai thác đá quý, trầm hương, nghề chặt củi, đốt than, xe ôm Nguyễn Trí đã bén duyên với nghề viết văn Nguyễn Trí mang cả cuộc đời mình cùng những quan sát, trải nghiệm vào văn chương Bằng một ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, Nguyễn Trí đã xây dựng thành công thế giới nhân vật đông đảo, đa dạng và gắn với cuộc sống dưới đáy xã hội Thế giới mà ông xây dựng lên là một thế giới đầy khốc liệt, để thử
thách nhân vật và phát lộ nhân tính
Người đầu tiên phát hiện ra tài năng của Nguyễn Trí là nhà văn Hồ Anh
Thái Khi viết lời tựa cho tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương, tác
giả nhận định: “Cái tên Nguyễn Trí thì còn lạ lẫm, nhưng một trang đầu đã chứng tỏ người viết có chữ và biết dùng chữ, có chuyện và biết kể chuyện Văn có không khí màu sắc Chất Nam Bộ Văn cũng rất riêng và có ý thức làm cho độc đáo Cái không lạ của lời ăn tiếng nói thông thường Thực sự là nếm trải của người trong cuộc Văn chương tưng tửng, tung tẩy đối đáp giữa các nhân vật với nhân vật, giữa nhân vật với người đọc, người viết với người
đọc”[53, tr.28]
Về cuốn Thiên đường ảo vọng, Tô Hoàng trong bài Thêm cơ hội tiếp
xúc với văn xuôi của Nguyễn Trí đã đưa ra ý kiến đánh giá: “Nhà văn không
biện minh cho tội lỗi trong quá khứ của các nhân vật một cách gượng gạo,
Trang 7sống sít Nhưng qua từng dòng, từng trang vẫn là cách kể chuyện, dựng
chuyện sao cho thật cuốn hút, thật sống động” [24]
Trên trang báo Văn Hiến Việt Nam đăng ngày 05/10/2015 với bài Đọc
Bãi Vàng của Nguyễn Trí, Huỳnh Thu Hậu đã bước đầu nhận thấy tài năng
nghệ thuật xây dựng nhân vật ở Nguyễn Trí: “Ông đã khắc họa chân dung nhân vật lang bạt như Thành, những nhờn nhợt màu da, về già hết duyên như
bà Năm Tằm, hay đèm đẹp như Li, Dung Trong Bãi Vàng kiểu nhân vật giang hồ rất lão luyện nghề đào vàng, lại giỏi võ nghệ Cuộc ra mắt đầy ấn tượng với các anh chị trong giới đào vàng tại bãi X đã làm cho chúng ta cảm thấy thú vị Đánh đối phương ngã gục đồngthời giúp đối phương tự cứu mình khỏi ngón đòn hiểm hóc điều đó thể hiện tính cách anh hùng hảo hán, mặt tốt đẹp của giang hồ Có thể thấy rằng từ ngôn ngữ của nhân vật cũng phản ánh chân dung số phận trong sáng tác của ông Không màu mè, uốn lượn nhưng
đậm chất giang hồ “đời thường” [21]
Trên diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 235 in vào tháng 08/2014, trong bài tham luận Cám ơn nhân vật của tôi,chính Nguyễn Trí đã chia sẻ: “Tôi là
một người mới chập chững bước vào lĩnh vực văn chương Là một tay mơ thực sự Về học vấn thì với lớp mười tôi là con số không tròn Tôi viết như thôi thúc tâm hồn, không hề mơ ước mình sẽ được như nầy như nọ Tôi không
hề mong mình sẽ chen vai thích cánh với các nhà văn nhà thơ khác Rất may tập truyện của tôi được nhiều người biết và được giải của Hội Nhà văn Việt Nam” [29] Có rất nhiều chuyện Nguyễn Trí lấy nguyên mẫu từ những con
người bằng xương bằng thịt ở ngoài đời như Thành của Bãi vàng, cô My ở
Giã từ vàng Những nhân vật này đều có những điểm giống nhau đó là không
quê hương, không nơi nương tựa Tất cả những hành vi, lời nói của nhân vật
đều nói đúng về cuộc sống từng trải của tác giả
Ngay trên tạp chí Sông Hươngđăng ngày 04/04/2017 có bài Nhà văn
Nguyễn Trí, viết văn như đãi vàng của tác giả Trạc Tuyền[64] Bài viết khẳng
Trang 8định, khác với nhiều nhà văn khác, Nguyễn Trí cầm bút “viết văn để sông thế thôi” Để tác phẩm của mình sống mãi trong lòng người đọc thì việc quan trọng là nhà văn phải cố gắng xây dựng nhân vật của mình không đi vào lối mòn của các nhà văn khác Nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Trí rất khác biệt, đó là những người từng trải, những con người đầy bất hạnh, sống
khổ sở, lang bạt khắp chốn rừng thiêng nước độc
Bài viết Đọc Ảo và sợ của Nguyễn Trí, có quả, có nhân trên trang Văn
hóa - Văn nghệ, tác giả Ngọc Lợi có bàn về vấn về số phận nhân vật trong
truyện ngắn của Nguyễn Trí.Tác giả cho rằng, các nhân vật trong truyện Nguyễn Trí đều có số phận truân chuyên: “Kinh qua hầu hết những sướng khổ của đời người, khi thì “lên voi”, lúc thì “xuống chó”, lúc nghèo đến cùng cực, khi thì giàu đến ngất trời, lúc thì tột đỉnh vinh hoa, lúc lại sa chân
đáy vực” [30]
Trong số các bài viết nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Trí, nổi bật
nhất là bài Nói về nhân vật giang hồ trong truyện ngắn Nguyễn Tríđăng ngày
26/05/2016 của tác giả Tiêu Viết Hải Bài viết này đã đi sâu tìm hiểu hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm của ông: “Kiểu nhân vật giang hồ là kiểu nhân vật đặc biệt, xuất hiện nhiều và độc đáo nhất trong sáng tác của Nguyễn Trí Kiểu nhân vật này chính là hiện thân của con người lý tưởng, thể hiện “ngưỡng cảm nhận” trong tâm thức thẩm mỹ của nhà văn” [18] “Nhân vật Thành Bụi trong truyện ngắnBãi vàng xuất hiện ở Bãi X bằng một vẻ giang hồ đúng nghĩa với tư trang chỉ một cái ba lô cóc Thành vốn xuất thân
là con nhà nòi thượng võ, thuở nhỏ, anh ngang tàng, thích “thượng cẳng chân,
hạ cẳng tay” nên sớm bỏ bê việc học văn hóa Biết tính con, cha Thành đến dọa ra mặt với thầy dạy võ mà rằng: “Nó ăn rồi chuyên đi đập lộn, ông dạy nó
có ngày mang họa” [53, tr.11] Có thể thấy rằng khi miêu tả nhân vật giang hồ,du côn, tác giả thường miêu tả ngoại hình, hành động của nhân vật, và một
Trang 9đặc sản không thể thiếu là tài năng võ nghệ Hơn hết, võ nghệ là cách nhân vật tự bộc lộ bản chất và khẳng định vị trí của mình trong xã hội Đồng thời trong bài viết này, tác giả còn nhắc tới những người “anh hùng” phu bãi như viết về chính cuộc đời của mình: “Những Minh Tàn, Thu Râu, Thành Bụi là hình mẫu lí tưởng minh chứng cho cuộc đời thăng trầm của Nguyễn Trí Một con người từng trải, “anh hùng” một thời nhưng giàu nghĩa tình và run sợ
trước những biến động của cuộc đời” [53]
Khi truyện ngắn Nín lặng khóc được phát trên VOV2, Ban biên tập chuyên mụcVăn nghệ đã có những cảm nhận sâu sắc về truyện ngắn này:
“Bức tranh nông thôn sông nước miền Tây nhiều sắc thái phức tạp được nhà văn lột tả bằng hàng loạt mối quan hệ gia đình chồng chéo Tập trung vào nhân vật Phụng Cuộc đời người phụ nữ với những khát khao thầm lặng và cả những mong muốn rất đỗi bình thường được bóc tách, soi chiếu ở nhiều góc
độ Những chi tiết đời thường dằng xé, khốc liệt được dồn nến, xô đẩy tạo nên sức ép căng thẳng cho nhân vật chính Với người chồng là con ma men không thể cứu vớt Với bi kịch gia đình con gái cũng không thể cứu ván Phụng chỉ còn cách trốn vào con người cá nhân cô đơn nên cảm thấy trống trải, bất hạnh Lúc đó Phụng mới ý thức về cuộc sống riêng tư của mình Kí ức của chị vẫn vẹn nguyên những năm tháng ngọt ngào, hạnh phúc bên người chồng chăm chỉ,hấp dẫn nên khi phải đối mặt với thực tế phũ phàng nên cảm giác của Phụng bị tê liệt, đông cứng Và chị dễ dàng sang vào cái bẫy tình trớ trêu, cắt
cớ của Hùng Nheo Bi kịch này dẫn tới bi kịch khác đẩy chị thành con người bất hạnh” [7] Thiệt tình, nhân vật người phụ nữ trong văn chương Nguyễn Trí cũng thấm khổ Họ bươn chải cuộc sống với một mong muốn duy nhất đó
là hạnh phúc Một hạnh phúc phải trả một cái giá khá đắt Không cần phải diễn giải dài dòng, văn chương Nguyễn Trí đã đào sâu vào tận cùng nỗi đau
của người phụ nữ
Trang 10Đáng chú ý nhất hiện nay là một số luận văn Thạc sĩ văn học Luận văn
Con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí của Phan Minh Phượng[38] khá
dụng công khi đi sâu khảo cứu, phân tích một kiểu dạng nhân vật phổ biến, nổi bật (con người dưới đáy) trong truyện Nguyễn Trí trên các phương diện:
đặc điểm hình tượng và nghệ thuật xây dựng nhân vật Luận văn Nghệ thuật
tự sự của Nguyễn Tríqua: Bãi vàng, đá quý, trầm hương của Chu Thị Thu
Hồng[26] cũng đã bước đầu phân chia các kiểu loại nhân vật cơ bản trong tập truyện trên bình diện đạo đức Và gần đây nhất, trong quá trình chúng tôi đang viết luận văn này, tháng 05 /2018, Phạm Thị Phương Nga đã trình làng
luận văn Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí Tác giả luận văn đã
nhận diện và chia tuyến nhân vật từ góc độ “giới”, v.v…
Như vậy, lịch sử nghiên cứu về văn chương Nguyễn Trí nói chung hầu như mới chỉ dừng lại ở dạng các bài viết nhỏ lẻ trên một số tạp chí, nhiều nhất
là trên các website dành cho nghiên cứu phê bình văn học Dưới dạng là các công trình nghiên cứu công phu mới chỉ có ba luận văn Thạc sĩ kể trên Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến một vài kiểu dạng nhân vật hoặc một số phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật như miêu tả ngoại hình, hành động, tính cách, hoặc chỉ mới tìm hiểu nhân vật trong một phạm vi hẹp là ở thể truyện ngắn, v.v Thực tế, còn thiếu hẳn một công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về vấn đề nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của
những người đi trước, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Nhân vật trong văn xuôi
Nguyễn Trí
Trang 113.2 Phạm vi khảo sát
Văn bản khảo sát của luận văn là toàn bộ văn xuôi của Nguyễn Trí, chủ
yếu tập trung trong các tập:
- Bãi vàng, đá quý, trầm hương, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2013
- Đồ tể, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 2014
- Thiên đường ảo vọng, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2015
- Ngoi lên từ đáy, Nxb Văn hóa Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2016
- Ảo và sợ, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2016
- Tuổi thơ không có cánh diều, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2016
- Bay cao thì mặc bay cao, Nxb Văn học, Hà Nội, 2016
- Trí Khùng tự truyện, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017
- Ngụy, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017
- Bụi đời và thục nữ, Nxb Văn hóa Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2017
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn chỉ ra những đặc sắc về thế giới nhân vật cùng các phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí Từ đây, luận văn nhận diện quan niệm độc đáo của nhà văn về con người, đánh giá chính xác vị trí và đóng góp của hiện tượng văn học mới mẻ này trong nền văn xuôi
Việt Nam đương đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Định vị Nguyễn Trí trong bức tranh văn xuôi Việt Nam từ năm
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính:
Các phương pháp nghiên cứu theo hướng thi pháp học được luận văn đặc biệt chú trọng vì đây là đường dẫn khám phá những đặc sắc của thế giới nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí trên các phương diện cơ bản: nội dung và phương thức thể hiện
Phương pháp cấu trúc - hệ thống giúp cho việc hệ thống hóa các vấn đề
về nội dung và phương thức thể hiện nhân vật theo một cấu trúc mang tính chỉnh thể, khoa học
Ngoài ra, luận văn còn vận dụng nhiều thao tác cần thiết của khoa học nghiên cứu văn học (như: thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, )
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Dự kiến, luận văn sẽ là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu về nhân vật trong văn xuôi của Nguyễn Trí với một cái nhìn tập trung và hệ thống
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Sáng tác của Nguyễn Trí trong văn xuôi Việt Nam từ năm
2000 đến nay
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí
Trang 13Chương 1 SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TRÍ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
1.1 Sự xuất hiện của Nguyễn Trí trong văn xuôi Việt Nam từ năm
2000 đến nay
1.1.1 Nhìn chung về văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay
Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đã diễn ra công cuộc hiện đại hóa sâu sắc và toàn diện, chuyển từ loại hình văn học trung đại sang loại hình văn học hiện đại Từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986 (Đại hội lần thứ VI của Đảng), trên tinh thần đón nhận Nghị quy ết 05 của Bộ chính trị về Văn hóa văn nghệ, văn học Việt Nam lần nữa thực hiện công cuộc đổi mới Sự đổi mới diễn ra rõ nét nhất ở tư duy nghệ thuật Tư duy sử thi chuyển dần sang tư duy tiểu thuyết Quan niệm nghệ thuật về con người cũng khác trước Thay vì tôn sùng ý thức cộng đồng, ý thức cá nhân đã được đánh thức trở lại với những đòi hỏi cụ thể, bình thường nhất Điều này chi phối sâu sắc đến hệ thống đề tài cũng như phương thức thể hiện Nhiều giá trị trong thời chiến đã đổi khác
và thay thế nó là những hệ giá trị mới đang trong quá trình hình thành Đời sống văn xuôi trở nên sôi động và ngày càng biến đổi mạnh mẽ trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế Đội ngũ nhà văn đông đảo hơn với nhiều tác phẩm đạt độ kết tinh về chất Trong đó, phải kể đến Nguyễn Minh Châu - nhà văn tiên phong, dũng cảm mở đường cho công cuộc đổi mới
Những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới và Việt Nam đã có những đổi thay mạnh mẽ Về cơ bản, đất nước vẫn giữ được bình ổn về an ninh, chính trị, nhưng bên cạnh đó vùng Biển Đông, biên ải thỉnh thoảng dậy sóng, các tổ chức phản động và tà giáo có lúc gây căng thẳng Nền kinh tế trên đà phát triển nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều khó
Trang 14khăn, thách thức lớn Đời sống người dân khấm khá hơn, mức sống của văn nghệ sĩ, vì thế, được cải thiện Nhà văn năng động hơn, có thể cùng lúc vừa viết văn vừa làm nhiều nghề khác nhau; vốn kinh nghiệm cuộc sống theo đó cũng đầy lên Hoàn cảnh sống và viết của người cầm bút về cơ bản đã khác trước rất nhiều Đặc biệt, công cuộc hội nhập của nước ta so với những lần hội nhập trước trở nên bình đẳng và sâu rộng hơn bao giờ hết Giao lưu văn hóa được mở rộng, tiềm lực văn hóa của người cầm bút được nâng lên một cấp độ đáng kể Cuộc cách mạng 4.0 về khoa học kĩ thuật một mặt thúc đẩy nhanh hơn quá trình kết nối quốc tế, mặt khác khiến cho đời sống mạng dồn dập thông tin, người viết và người đọc như ngập trong biển lớn Các hình thức nghệ thuật mang tính giải trí mới mẻ, bắt mắt dễ dàng thu hút công chúng Tinh thần “tự do” trong sáng tác thực sự phát huy trong khoảng mười lăm năm cuối thế kỷ XX và mười tám năm đầu thế kỷ XXI, v.v… Trong bối cảnh
đó, văn học cũng từng bước chuyển mình
Nhìn một cách khách quan, mười tám năm đầu thế kỷ XXI, nền văn học nước ta chưa có những thành tựu nổi bật như ở thế kỷ XX “Một nền văn học chịu nhiều phân tán, ngập ngừng, nhiều lần mở, khép Một nền văn học dung hợp cả các yếu tố truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại” [65] Văn xuôi Việt Nam mười tám năm đầu của thế kỷ XXI “đi vào tiếng rì rầm của đời thường, cạnh tranh với các lĩnh vực nghệ thuật khác trong chinh phục công chúng” [65]
Về đội ngũ, lớp nhà văn chủ lực những năm 70, 80, 90 của thế kỷ trước như Ma Văn Kháng, Nguyễn Trí Huân, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Quang Hà, Trung Trung Đỉnh, nay xuất hiện thưa thớt Thế nhưng, trong số đó, có nhiều cây bút vẫn tỏ ra sung sức như
Nguyễn Khắc Phê với ba tiểu thuyết dày dặn: Thập giá giữa rừng sâu (2003),
Những ngọn lửa xanh (2008), Biết đâu địa ngục thiên đường (2010); Chu Lai
Trang 15với chuỗi tác phẩm có tiếng vang: Phố, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng ,
Bãi bờ hoang lạnh và các tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm (2002), Khúc bi tráng cuối cùng (2004); Nguyễn Xuân Khánh với bộ tiểu thuyết lịch sử quy mô: Hồ Qúy Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa; v.v…
Lực lượng sáng tác chủ yếu của văn xuôi giai đoạn này chính là những tác giả đã có vị trí văn nghiệp vững vàng trong khoảng vài chục năm nay như
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Bùi Ngọc Tấn, Nhật Chiêu, Phan Thị Vàng Anh,… Trên nền tiềm lực sẵn có, lớp nhà văn này đã nỗ lực đổi mới
về cách viết, cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị Hồ Anh Thái khẳng định
sức sáng tạo dồi dào bằng một loạt tiểu thuyết: Đức Phật - nàng Savitri và tôi,
Mười lẻ một đêm , Dấu về gió xóa,…và các tập truyện ngắn Sắp đặt và diễn, Bốn lối vào nhà cười , Tự sự 265 ngày, Nói bằng lời của mình Tạ Duy Anh
(với Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật…), Nguyễn Bình Phương (với Ngồi,
Trí nhớ suy tàn , Thoạt kỳ thủy,…), Nguyễn Việt Hà (với Cơ hội của Chúa )
gây chú ý với nhiều đổi thay, tìm tòi về thi pháp thể loại Các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh dày dặn hơn và có chiều sâu hơn : Chuyện về xứ Lang
Biang (2006), Tôi là Bê-tô (2007), Đảo mộng mơ (2010), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2011), v.v… Đặc biệt, cuốn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đạt
giải thưởng ASEAN 2010 và được tái bản 46 lần trong vòng 06 năm (2008 - 2014) Một cây bút nữ rất đáng chú ý là Nguyễn Ngọc Tư với sở trường về
truyện ngắn và ký Có thể kể tới các tập Ông ngoại, Ngọn đèn không tắt ,
Cánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy, Biển người mênh mông , Trong đó,
tập truyện Cánh đồng bất tận đạt Giải thưởng sáng tác 2006 của Hội Nhà văn
Việt Nam Năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư mạnh dạn thử sức ở một thể loại mới
dài hơi hơn dù chưa mấy thành công: tiểu thuyết Sông
Lực lượng sáng tác trẻ đầu thế kỷ XXI phải kể đến thế hệ 8X, 9X Họ cầm bút với một tâm thế khác, nhận thức khác Trên trang viết của họ, chúng
Trang 16ta tìm thấy những cảm thức rất khác về thời đại, mỹ cảm đương thời, những quan điểm hiện đại về giá trị, chức năng của văn chương Trong bối cảnh mới, nhà văn trẻ có rất nhiều cơ hội để khẳng định Để phát hiện và ươm mầm tài năng trẻ, các tổ chức văn học , một số nhà xuất bản đã thúc đ ẩy phong trào sáng tác văn chương Theo thống kê của PGS Trần Hữu Tá: “Nhà xuất bản Trẻ (TP.HCM) kiên trì liên tục tổ chức các cuộc thi “Văn học tuổi 20” tính đến nay đã được 05 lần (1994 - 1995 / 2000 - 2001 / 2004 - 2005 / 2009 - 2010) và lần thứ 05 vừa mới kết thúc (2012 - 2014) Chỉ riêng lần thi thứ05 đã
có những co n số rất đáng khích lệ : 328 tác phẩm dự thi , trong đó có 149 truyện dài và 179 tập truyện ngắn , 18 tác phẩm vào chung khảo và 09 tác phẩm được trao giải Cả 18 tác phẩm này đều đã đến tay bạn đọc Trừ Nguyễn
Ngọc Thuần (tác phẩm Cơ bản là buồn, giải Nhì) đã là cây bút quen thuộc với
06 đầu sách, cả tiểu thuyết và tập truyện ngắn , còn hầu hết đều là “lính mới”,
kể cả người chiếm giải cao nhất (Nhật Phi - tác phẩm Người ngủ thuê)”[24]
Nhìn chung, văn xuôi của thế hệ trẻ được chia thành hai dòng chính: một bên
là những nhà văn nỗ lực viết theo hướng chuyên nghiệp (Nhật Phi với Người
ngủ thuê - giải thưởng Văn học Tuổi 20, Nhật ký một kẻ cô đơn; Đinh Phương
với tiểu thuyết Nhụy khúc, tập truyện ngắn Đợi đến lượt; Dương Bình Nguyên với Giày đỏ; Phong Điệp với Kẻ dự phần; Trọng Khang với Mộ phần tuổi trẻ; Đào Quốc Minh với Mở mắt rồi mơ; Nguyễn Vĩnh Nguyên với Động vật
trong thành phố;…); một bên là những nhà văn trẻ Việt Nam viết theo xu
hướng giải trí, bắt kịp thị hiếu độc giả và nhu cầu thị trường (Minh Nhật, Anh Khang, Gào, Meggie Phạm,…) Chính ở địa hạt này, các cây bút còn gây tranh cãi về giá trị của văn chương
Ngoài ra, còn phải kể đến những đóng góp của các nhà văn Việt Nam sống và viết ở nước ngoài Sáng tác của bộ phận văn học hải ngoại này khá đa
dạng về thể loại (truyện ngắn như Phù phiếm chuyện của Phan Việt; truyện dài như Tuyết hoang của Trần Quốc Quân, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn
Trang 17Mộng Giác, Những đêm không ngủ ở Toronto của Nguyễn Thu Hoài, Quyên của Nguyễn Văn Thọ, Ngã ba đường của Lệ Tân Sitek; tự truyện như Xuyên
Mỹ của Phan Việt; tản văn như Nhật ký Sen trắng và Chuyện trò của Cao Huy
Thuần, Vì cuộc đời là những chuyến đi của Hiên Bonnin Trần, Năm phút với
ga xép của Việt Linh; v.v…) và phong phú về đề tài (thân phận của những
người con xa xứ, bi kịch con người bị chìm trong đau khổ tuyệt vọng hoặc bị tha hoá biến chất, hoặc vấn đề hòa hợp dân tộc, v.v…)
Văn xuôi Việt đầu thế kỷ XXI vừa kế tục nhiều nội dung, đề tài đã được đặt ra trong văn xuôi giai đoạn trước vừa tạo nên những chuyển biến rõ nét so với những gì đã có Tiếp nối các phương pháp sáng tác của chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo, văn học sau năm
2000 đang quan tâm nhiều đến sự giải phóng cái tôi cá nhân, con người cá nhân tự do và hiện sinh Chủ đề về sinh thái, bình đẳng giới, các vấn đề nhức nhối về tôn giáo, dân tộc và nhân loại xuất hiện ngày càng nhiều trong văn học với rất nhiều tên tuổi như Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư… Xét về nghệ thuật, văn xuôi đương đại cũng có những cách tân đổi mới về mặt thể loại Lối viết giản dị, đi thẳng vào những vấn đề nóng của xã hội Xu thế “giản lược”, “phân rã” cốt truyện ngày càng được nhiều nhà văn chú trọng Kết cấu tác phẩm phong phú hơn với các dạng phân mảnh, lắp ghép; trật tự ngôn từ thay đổi, xuất hiện nhiều kí hiệu khác lạ trong văn bản bắt buộc người đọc phải tư duy, động não, v.v… Đồng thời, văn xuôi đương đại cũng quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm - công chúng Và ý thức và trách nhiệm của nhà văn được đặt ra một cách ráo riết hơn bao giờ hết, một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa
và văn học đã thực sự tác động lớn đến đội ngũ những người sáng tác Tất cả những yếu tố nói trên đã làm biến đổi ý thức, nghệ thuật của nhà văn và công chúng văn học, góp phần tạo nên diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Trang 18Tóm lại, văn xuôi Việt Nam từ những năm 2000 đến nay đã và đang vận động mạnh mẽ với nhiều phương diện, giá trị khác nhau; mang đậm hơi thở của thời đại hội nhập; thể hiện được tiếng nói, suy nghĩ của con người trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa Dù chưa đạt đến những tác phẩm lớn như thế kỷ trước, nhưng các nhà văn vẫn không ngừng sáng tạo, miệt mài thể hiện để chuẩn bị cho nhiều thành tựu xuất hiện và khẳng định giá trị của mình trong lòng độc giả, bước đầu đặt nền móng cho thời kỳ văn học mới phát triển, phù hợp với xã hội hiện đại, xã hội văn minh và nhân văn Dĩ nhiên, mười tám năm, một chặng đường đổi mới chưa dài, nhiều sự kiện văn học vẫn còn tươi nguyên, vì thế chúng ta rất cần khoảng cách thời gian lùi
xa cần thiết để có thể đánh giá một cách khách quan, bình tĩnh nhất các giá trị văn học dân tộc
1.1.2 Nguyễn Trí - một hiện tượng của văn xuôi Việt Nam từ năm
2000 đến nay
Trong bức tranh văn xuôi Việt Nam đương đại, nếu tính từ năm 2000 đến nay, Nguyễn Trí quả là một hiện tượng đặc biệt Đặc biệt không chỉ vì một bản lai lịch “gây sửng sốt” của một nhà văn tay ngang từng kinh qua nhiều nghề lao động chân tay nặng nhọc, mà còn đặc biệt từ cách khai thác đề tài, nội dung đến lối viết
Về nội dung, đề tài, nhìn chung, sáng tác của Nguyễn Trí vẫn nằm trong mối quan tâm về con người và cuộc sống đương đại Tuy nhiên, giữa thời buổi thị trường sách “mọc lên như nấm”, nhiều nhà văn chạy theo thị hiếu của xã hội khai thác những đề tài giật gân, bí hiểm, Nguyễn Trí lại quay lại với đề tài viết về những người lao động nghèo vốn đã có nhiều trong văn xuôi từ đầu thế kỷ XX Cách lội ngược dòng văn tìm về một đề tài đã quen nhưng nay ít người còn đề cập; việc tập hợp được một thế giới nhân vật lạ lẫm, vừa bụi bặm vừa hiện hữu dưới đáy cùng của xã hội phồn hoa hiện đại;
Trang 19cùng lối kể chuyện chân chất, mộc mạc, tự nhiên… đã tạo nên một Nguyễn Trí “độc” và “lạ” giữa rất nhiều tên tuổi của văn xuôi Việt đương đại
Tập trung khắc họa bối cảnh cuộc sống hiện đại xù xì, thô ráp, và vô cùng tàn khốc, những câu chuyện của Nguyễn Trí trải rộng từ các bến chợ, tàu xe, phố xá đến các làng quê nghèo Nam bộ, đặc biệt tập trung vào những vùng đất dữ dằn và khắc nghiệt: bãi vàng, rừng sâu, thác hiểm,… “Bến tắm ngựa” ấy là không gian mưu sinh của những kiếp người làm những nghề khốn cùng của xã hội (phu vàng, phu trầm, lâm tặc, đồ tể, hốt cốt, nhảy tàu vận chuyển hàng lậu, đĩ điếm, ) cũng là nơi diễn ra đầy rẫy các tệ nạn (ngoại tình, đề đóm, cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập, trộm cắp, giết người, ) Trong thế giới ấy, những kẻ tứ chiếng giang hồ gặp nhau khao khát tìm vàng với giấc mộng đổi đời, những phận đời phụ nữ lỡ dở mong mỏi tìm hạnh phúc, những mảnh đời đáng thương gặp nhau và tình người còn sót trong lúc khốn cùng,… Cũng trong thế giới ấy, sinh mạng những kẻ làm thuê bị rẻ rúng chỉ
vì tiền; bao gia đình li tán vì đàn ông ngập chìm trong rượu, đánh đập vợ con; cha mẹ bạc đầu vì con cái sa đọa; những đứa trẻ vị thành niên phạm tội vì không được giáo dục, học hành dở dang,… Tất cả cùng nhau sinh sống, hít thở, yêu đương, sinh con đẻ cái; tất cả cùng nhau giết chóc, tranh đoạt, hận thù… bên cạnh lao động cực nhọc là hiểm nguy bủa vây, bên người tốt có kẻ xấu; thiện ác chính tà lẫn lộn… Một bức tranh cuộc sống nhiều chiều, đa diện, chân thật như nó vốn có Chất liệu cuộc đời bao nhiêu năm bôn ba vinh nhục
đã ngấm vào văn chương, trải ra ngồn ngộn sống động trên từng trang viết của ông Rõ ràng, những câu chuyện Nguyễn Trí kể không hề xa lạ trong xã hội đương đại nhưng luôn mang tính tươi mới, nóng hổi vì nó diễn ra cập nhật, thường xuyên trong đời sống hàng ngày Và hơn hết, ẩn đằng sau những câu chuyện đời là những trăn trở, âu lo của nhà văn trước những vấn nạn nhân
Trang 20sinh nhức nhối: giá trị và số phận người trong xã hội hiện đại; bi kịch của con người bị tha hóa trong hoàn cảnh khốn cùng; sự hủy hoại môi trường vì lòng tham ích kỉ của con người; v.v… Những vấn đề mang tầm thời đại được kể trong lốt những câu chuyện có vẻ giản đơn, “quê kiểng” đã thực sự thức gợi ở người đọc “những xúc cảm trắc ẩn, sự sẻ chia, thấu hiểu giữa con người với con người - những giá trị vốn dễ nhạt nhòa trong một thời đại mà giá trị ảo đang tìm cách ngự trị” [36, tr.28]
Ngôn ngữ cũng chính là một điểm nhấn trong văn chương Nguyễn Trí Văn chương Nguyễn Trí không thuộc kiểu trau chuốt, bay bổng về câu chữ
mà thuộc kiểu chân chất, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày Trong khi nhiều nhà văn tìm cách đổi mới ngôn ngữ bằng những lối diễn đạt khác lạ, cầu kì, những kí tự đánh đố, v.v… thì Nguyễn Trí lại tạo thiện cảm cho người đọc bởi lối kể chuyện tự nhiên, tưng tửng, đơn giản nhưng chân thành, đậm chất Nam Bộ Nét duyên trong ngôn ngữ đã giúp Nguyễn Trí khắc ghi sắc nét dấu ấn cá nhân, góp phần đa dạng hóa ngôn ngữ văn xuôi đương đại
Nếu định vị Nguyễn Trí trong văn xuôi Việt Nam đương đại, khách quan mà nói, văn chương của ôngchưa thực sự quá xuất sắc Truyện của ông vẫn chưa có nhiều cách tân trong lối viết Phần lớn, Nguyễn Trí viết theo dòng mạch cảm xúc tuôn trào một cách tự nhiên, “bản năng” mà ít có sự gia công của kĩ thuật, kĩ xảo Có lẽ vì thế nên văn Nguyễn Trí vẫn giữ được nét hồn nhiên, chân chất và mang đậm hơi thở đời sống Cùng với việc hướng vào khai thác một đối tượng thẩm mĩ riêng biệt, sáng tác của ông mang lại một góc nhìn khác về hiện thực, lạ lẫm, độc đáo, kích thích và hấp dẫn người đọc Đây là yếu tố giúp chúng ta định vị văn chương Nguyễn Trí trong dòng chảy văn xuôi đương đại, và cũnglà đóng góp của nhà văn này cho tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam ở thế kỷ XXI
Trang 211.2 Con đường đến với văn chương và những thành công bước đầu của Nguyễn Trí
1.2.1 Con đường đến với văn chương của Nguyễn Trí
Xét về tiểu sử của Nguyễn Trí, nó giống như một “sơ đồ hình sin” vậy Nguyễn Trí sinh năm 1956, tại Bình Định Nguyên quán Quảng Bình Phần lớn cuộc đời, ông lang bạt kì hồ khắp mọi miền của tổ quốc, rồi cuối cùng dừng chân ở Đồng Nai Nguyễn Trí sinh ra trong gia đình có cha từng là lính của vua Bảo Đại Năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị nên cha Nguyễn Trí phải đi làm lính cho Ngô Đình Diệm, rồi lại tiếp tục làm lính dưới trướng cộng hòa của Dương Văn Minh, Vì thế, từ nhỏ ông đã cùng gia đình theo cha đi khắp chốn Cuộc sống gia đình bị xáo trộn, việc học của ông cũng bị gián đoạn Năm 1975, khi Nguyễn Trí đang học lớp 10, cha ông cũng rời ngũ Lúc này gia đình lâm vào tình trạng khó khăn, túng thiếu bộn bề Anh em trong gia đình ông phân tán khắp nơi để duy trì cuộc sống Tại thời điểm đó, mới 17 tuổi, ông phải vào Đồng Nai bắt đầu kiếm kế sinh nhai
Những năm tháng tuổi trẻ, Nguyễn Trí cũng ôm ấp giấc mộng văn chương Niềm yêu thích văn chương của ông nảy mầm từ rất sớm Ông nói:
“Năm 12 tuổi tôi đã biết đọc sách rồi và rất ngưỡng mộ các nhà văn” [8] Năm 16 tuổi, ông từng mơ ước trở thành nhà văn Thế nhưng, gánh nặng mưu sinh cuộc sống chưa cho phép ông cầm bút hiện thực hóa niềm đam mê đó Cuộc sống của ông lúc này gắn liền với những công việc lao động chân tay cực khổ Từ nghề nấu rượu, nghề nhảy tàu, nghề đồ tể, nghề đi tìm vàng, khai thác đá quý, trầm hương, nghề chặt củi, đốt than, xe ôm và “sang” nhất chính là nghề dạy Anh văn (chính xác là dạy tiếng Anh “bồi”) Giữa cảnh đời nghiệt ngã, những bất hạnh cuộc đời lại liên tiếp giáng xuống gia đình ông: vinh hoa của nghề đãi vàng mang lại mất hết trong một lần hùn vốn làm ăn; con gái mất; con trai đầu lòng bị nghiện rồi vướng vào vòng lao lí, người con
Trang 22dâu bỏ đi để lại hai đứa cháu cho ông bà,… Tuy nhiên, điều đáng quý ở Nguyễn Trí là ông không vì những bất hạnh cá nhân mà quay ra thù ác với cuộc đời Ông đã đón nhận cuộc đời nhiều thăng trầm, mất mát đó bằng tất cả những buồn vui, cay đắng; bằng chính nghị lực vươn lên không ngừng và bằng cả thái độ bình thản chấp nhận của một con người từng quá nhiều nếm trải Vì thế, khi luống tuổi, Nguyễn Trí mới bắt đầu viết ước mơ văn chương Nguyễn Trí viết văn không chỉ để thỏa niềm đam mê từ ngày bé Ông viết văn như để chiêm nghiệm về chính cuộc đời mình Và chính cuộc đời ấy lại trở thành nguồn chất liệu đời sống ngồn ngộn làm dày những trang văn của ông Chính ở đây đã làm nên điểm khác biệt trong con đường văn chương của Nguyễn Trí so với nhiều nhà văn khác cùng thời
Nguyễn Trí bắt đầu con đường văn chương từ vị trí của một người lao động, một người nông dân thực thụ chứ không phải một nhà văn chuyên nghiệp Nguyễn Trí có xuất phát điểm thấp, như cách nói của ông là “ngoi lên
từ đáy” Hiếm nhà văn nào từng kinh qua nhiều nghề gai góc như Nguyễn Trí
và cũng hiếm có gã đào vàng nào lại cầm bút viết văn như ông Chính Nguyễn Trí từng chia sẻ rằng: “Tôi là một người mới chập chững bước vào lĩnh vực văn chương Là một tay mơ thực sự Về học vấn thì với lớp mười tôi
là con số không tròn Tôi viết như một thôi thúc của tâm hồn, không hề mơ ước mình sẽ được như nầy như nọ Tôi không hề mong mình sẽ chen vai thích cánh với các nhà văn nhà thơ khác “Năm 12 tuổi tôi đã biết đọc sách rồi và rất ngưỡng mộ các nhà văn”[8] Có lẽ, so với những nghề lao động chân tay cực nhọc, nghề văn là nghề mà ông được trải lòng nhiều nhất Nguyễn Trí viết văn để trả nợ cuộc đời, trả nợ bạn bè và trả nợ chính mình Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Trí chia sẻ mộc mạc: “Cảm ơn đời đã cho tôi cái nghèo, cái khổ…Nhờ cái khổ, cái nghèo mà tôi biết yêu thương, biết tha thứ, chia sẻ với số phận bất hạnh” [30] Đam mê văn chương từ nhỏ nhưng không
Trang 23thực hiện được Rốt cuộc nghề văn chọn Nguyễn Trí, âu cũng là cái duyên với cuộc đời
1.2.2 Những thành công bước đầu của Nguyễn Trí
Nghiệp văn chương của Nguyễn Trí bắt đầu bằng những thành công rất giản dị Thuở mới tập tành viết lách, Nguyễn Trí thường xuyên ghé quầy sách
văn học để “xem thử thiên hạ họ viết cái gì” Ông mua cuốn Mẹ con Đậu Đũa của Nguyên Hương, Cô con gái ngỗ ngược của Võ Diệu Thanh, Biển của
Trương Anh Quốc, v.v về đọc rồi suy nghĩ rằng mình cũng sẽ viết được những trang văn như vậy bằng những sự việc diễn ra trong cuộc sống của mình Ban đầu Nguyễn Trí chỉ viết lại trên giấy cho đẹp rồi đem ra quán internet thuê người gõ Hàng chục truyện ngắn của ông được gửi đến các tờ báo nhưng rồi cũng bặt vô âm tín Nhưng không vì thế mà ông nản chí, ông vẫn kiên trì viết tiếp Ông nhờ một bạn trẻ lập giúp một địa chỉ mail Về nhà,
ông rà soát lại truyện ngắn Tình cho không và mạo muội gửi đến Hồ Anh Thái
chỉ để “chia sẻ cho vui chứ không có hi vọng gì” Nhưng bất ngờ là, nhà văn
Hồ Anh Thái bảo sẽ in truyện ấy vào tờ báo Tuổi trẻ do anh ấy phụ trách và
được đổi tên thành Nín lặng khóc Đó là dấu mốc bắt đầu con đường văn
chương của Nguyễn Trí Từ sau đó, các sáng tác ngắn của ông thường xuyên đăng tải trên các website http://nhavantphcm.com.vn, https://thanhnien.vn
Tuy nhiên, phải đến năm 2013, tên tuổi Nguyễn Trí mới được độc giả
cả nước biết đến Năm 2013, Hội Nhà văn Việt Nam đã duyệt qua 190 tác phẩm thuộc 04 thể loại: thơ, văn xuôi, lý luận phê bình và văn học dịch Giữa một rừng cây bút tên tuổi như Ma Văn Kháng, Mã Giang Lân, Nguyễn Văn
Thái,… Nguyễn Trí bất ngờ giành giải nhất với tập truyện ngắn Bãi vàng, đá
quý, trầm hương Đó là thành công lớn đầu tiên khẳng định sự góp mặt của
Nguyễn Trí trong làng văn xuôi Việt Nam đương đại Tình yêu văn chương của ông cuối cùng cũng được đền đáp một cách xứng đáng Thành quả này
Trang 24như một động lực thôi thúc Nguyễn Trí Ông viết đều tay hơn và liên tiếp các năm sau đó đều cho ra đời nhiều tác phẩm dày dặn Trong đó, truyện ngắn - thể loại sở trường - được ông sáng tác nhiều hơn cả Từ năm 2014 đến nay,
một loạt truyện ngắn được xuất bản: tập truyện Đồ tể (2014), tập truyện Ngoi
lên từ đáy (2016), tập truyện Ảo và sợ (2016), tập truyện Bay cao thì mặc bay cao (2016), tập truyện Ngụy (2017)
Năm 2015, ông thử sức với thể loại tiểu thuyết Tác phẩm Thiên đường
ảo vọng chính thức ra mắt độc giả Câu chuyện nói về những con người nghèo
khổ ở miền Đông Nam Bộ, họ đi tha hương cầu thực và nuôi khát vọng làm giàu từ bãi vàng Cường Linh là nhân vật chính của tiểu thuyết Sau những năm lao tù khổ sai, về nhà, vợ đưa con bỏ đi Vậy là anh phải đi tìm Rồi nghe theo lời đồn thổi, Cường Linh vào bãi vàng nuôi hi vọng làm giàu bất chấp các cuộc ẩu đả, rượt đuổi Qua câu chuyện buồn, nhà văn muốn gửi tới chúng
ta một thông điệp: “tiền bạc chỉ là phù du, quý hơn bạc vàng là giá trị của
lòng tốt” [57].Năm 2017, tiểu thuyết thứ hai Bụi đời và thục nữ ra đời Tác
phẩm được viết với một văn phong rất bụi Câu chuyện từ quán nhậu ra đời,
từ đời quay trở lại quán nhậu, với sự dẫn dắt của nhân vật Trí Khùng, cũng chính là tác giả, như một sự tiếp nối mạch của cuốn tự truyện ra đời trước đó không lâu
Cuốn Trí Khùng tự truyện được xuất bản trước tiểu thuyết Bụi đời và
thục nữít tháng Những “nốt trầm” cuộc đời tác giả được gói gọn trong 254
trang viết bằng một giọng kể vừa bình thản, vừa xen lẫn suy tư, triết lí Tác phẩm mang đến cho người đọc một cách nhìn chân thực về nghị lực vươn lên trong cuộc sống tưởng như có lúc gục ngã của chính nhân vật - nhà văn Nguyễn Trí
Ngoài ra, Nguyễn Trí còn quan tâm đến mảng sáng tác dành cho thiếu
nhi Năm 2016, tập truyện dài Tuổi thơ không có cánh diều được xuất bản
Trang 25Bằng một lối viết rất thật, không hư cấu, Nguyễn Trí đã mang đến kho tàng văn học thiếu nhi Việt Nam một màu sắc mới, một giá trị nhân văn cao cả
Có thể thấy, Nguyễn Trí - một nhà văn tay ngang, nhưng không ngần ngại thử bút ở rất nhiều thể loại, từ truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết và cả
tự truyện nữa Ở thể loại nào, Nguyễn Trí cũng có ý thức trau dồi ngòi bút cùng tinh thần sáng tác nghiêm ngặt Vì thế, từ sau khi gặt hái thành công, bút lực của Nguyễn Trí ngày càng dồi dào và sung mãn Các tác phẩm của ông luôn được độc giả yêu văn đón nhận nhiệt thành Với những thành công đó, Nguyễn Trí đã khắc ghi được dấu ấn của mình trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại
1.3 Cái nhìn về con người và xu hướng tìm kiếm nhân vật của Nguyễn Trí trong văn xuôi
1.3.1.Cái nhìn về con người của Nguyễn Trí trong văn xuôi
“Văn học là nhân học” (Macxim Gorki) Con người và cuộc sống của con người luôn là đối tượng phản ánh chính của văn học Nếu có miêu tả thế giới thiên nhiên, thế giới thần linh hay ma quỷ, hoặc có miêu tả bất kì một đồ vật, loài vật nào thì mục đích hướng tới đằng sau sự miêu tả đó cũng là vì con người Thực tế cho thấy, không một tác phẩm văn học nào, hay cả một nền văn học nào, chỉ nói đến thiên nhiên, sự vật mà không liên quan tới con người Một câu chuyện ngụ ngôn về loài vật luôn chuyển tải những bài học nhân sinh sâu sắc Một bài thơ thuần tả cảnh thiên nhiên đều ẩn chứa tâm tư của thi sĩ, v.v… Tóm lại, mục đích hướng tới của mỗi một nhà văn luôn là vì
con người; con người luôn là nhân vật trung tâm của văn học
Con người trong mỗi một tác phẩm văn học là sự hình tượng hóa những mẫu người trong thực tế đời sống Dù vậy, con người trong đời sống và con người trong nghệ thuật không bao giờ đồng nhất Bởi từ cuộc đời bước vào tác phẩm, dưới sự chi phối của cái nhìn về con người ở mỗi cá nhân nhà văn,
Trang 26con người sẽ được xây dựng theo những cách thức riêng, mang những đặc điểm riêng, thể hiện cảm quan đời sống và tư tưởng thẩm mĩ khác biệt của mỗi nhà văn đó Vì vậy, muốn tìm hiểu thế giới nhân vật trong sáng tác của bất kì nhà văn nào trước hết phải xác định cái nhìn nghệ thuật về con người của chính nhà văn ấy
Chúng tôi đồng tình với quan niệm của GS Trần Đình Sử về khái niệm
“cái nhìn nghệ thuật” Ông cho rằng: “Cái nhìn nghệ thuật là hình thức bên trong cơ bản của sáng tác nghệ thuật, trực tiếp quy định cấu tạo hình thức của tác phẩm, thể hiện khả năng và chiều sâu lí giải con người và thế giới của tác giả”[40] Sự thật đời sống luôn được khúc xạ qua lăng kính của nhà văn trước khi được phản ánh vào trong các tác phẩm nghệ thuật Dĩ nhiên, bản thân cách nhìn cuộc sống trong sáng tác hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phản ánh của cái cơ bản, cái điển hình trong các hiện tượng hiện thực Cách nhìn thể hiện khả năng tư duy, quan sát những quá trình bên trong cuộc sống, khả năng nắm bắt và khám phá tâm lí, tính cách con người của nhà văn “Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh ta càng thâm nhập sâu vào thực chất của
sự vật, những khái quát nghệ thuật của anh ta, những khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn bấy nhiêu” [40].Cái nhìn nghệ thuật của nhà văn luôn mang tính cá nhân; là kết tinh của quá trình tư duy, vốn sống và vốn văn hóa của nhà văn; thể hiện nhãn quan thẩm mĩ và quan niệm riêng của nhà văn về con người và thế giới Vì vậy, cái nhìn nghệ thuật là yếu tố quyết định làm nên tính độc đáo, mới mẻ và sâu sắc trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực ở mỗi tác giả
Nguyễn Trí là nhà văn đương đại hiếm hoi đã có một quãng đời “trày vi tróc vảy” với đủ thứ nghề lao động, nếm trải đủ mọi “hỉ nộ ái ố” của đời sống Tất cả vốn sống ấy kết tinh thành cái nhìn nghệ thuật riêng biệt không thể trộn lẫn của Nguyễn Trí trong làng văn xuôi Việt đương đại Là “người nông dân
Trang 27cầm bút”, cách nhìn về con người của Nguyễn Trí có vẻ chân chất, ít màu mè nhưng thực ra rất sâu sắc và đa diện Nhà văn dành sự quan tâm hơn cả tới
“những con người dưới đáy xã hội” Đó là những con người lao động có vẻ ngoài xù xì, thô ráp nhưng ẩn chứa bên trong những nét tâm hồn cao quý, đẹp
đẽ Nguyễn Trí từng nói: “Cái tốt, cái đẹp của con người đôi khi không phải
từ học vấn, ngoại hình haycông việc họ đang làm mà chính là bản chất bên trong, ngay cả khi ngoại hình họ xù xì gai góc” [53] Những nhân vật chính trong tác phẩm của ông, dù lắm lúc bị xô đẩy, quăng quật nghiệt ngã vẫn giữ được những phẩm chất đáng quý: tự trọng, nghĩa hiệp, thương người
Xuất phát từ cuộc sống nghèo khổ, chịu nhiều đau thương nên thế giới con người hiện lên trong cái nhìn của Nguyễn Trí toàn là những mảnh đời lắm
éo le, bi kịch Từ những mảnh đời được nhìn thấy và từ chính những bất hạnh
mà chính bản thân phải trải qua, Nguyễn Trí viết về họ với cái nhìn thông hiểu sâu sắc nhất Nhân vật của ông dù chịu nhiều vất vả, cơ cực nhưng luôn mang nghị lực sống mãnh liệt Kết thúc các câu chuyện luôn mang tinh thần lạc quan, thậm chí nhuốm màu cổ tích: người tham lam, hung ác bị quả báo; người tốt ít nhiều sẽ gặp may mắn hoặc được giúp đỡ Một số nhân vật còn có kết cục số phận không bi đát như nguyên mẫu ngoài đời Nguyễn Trí từng có một chia sẻ rất hóm hỉnh rằng: “Thằng bạn của tôi đáng lí chết rồi nhưng ngoài đời nó chết oan ức lắm nên trong truyện của tôi, tôi không để nó chết
mà cho nó sống Tôi còn cho nhiều nhân vật được sống và được hạnh phúc nữa” Niềm tin vào luật nhân quả này, dù có lúc phi thực tế, nhưng cho thấy cái nhìn đầy gần gũi và đôn hậu của nhà văn về con người Trân trọng, nâng niu và nỗ lực vun đắp cái đẹp, cái thiện nơi con người là một cái nhìn nghệ thuật chân chính; đồng thời cũng là quan niệm viết văn hết sức tiến bộ của Nguyễn Trí: “chính cái khổ và cái nghèo sẽ làm nhân cách người ta lớn lên một cách không ngờ, nếu họ biết phục thiện” [36]
Trang 281.3.2 Xu hướng tìm kiếm nhân vật của Nguyễn Trí trong văn xuôi
Văn xuôi Việt Nam khoảng hơn chục năm cuối thế kỷ XX và đặc biệt
là từ năm 2000 đến nay đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ Hiện thực đời sống khác trước, con người có nhiều thay đổi; cách nhìn, quan niệm và cách tiếp cận con người của các nhà văn cũng không thể như cũ được nữa Trong một bầu không khí khá “dân chủ”, các nhà văn mặc sức thể hiện cái nhìn nghệ thuật về con người ở nhiều chiều hướng khác nhau, riêng biệt và độc đáo “Việc chuyển hướng cách nhìn nhận, cách cảm nhận và cách đánh giá con người được coi là tự làm mới mình về mặt nhận thức, tư duy bản thể con người” [38, tr.27] Và nhìn chung, các nhà văn vẫn tiếp nối cái nhìn về con người cá nhân với những biến đổi đa diện, phức tạp, bí ẩn,… vốn có từ trước, nhưng giai đoạn này nó được đẩy lên ở một mức độ cao hơn Các nhà văn đương đại đào sâu đến tận cùng bản thể con người; khai thác chiều sâu của thế giới tâm linh, nội cảm; ngắm nghía cái tôi cá nhân ở mọi bình diện, trong nhiều mối quan hệ xã hội chằng chéo, khó phân định Các nhà văn cũng không ngần ngại bóc trần những khía cạnh đời tư giấu kín của con người, thẳng thắn vạch trần những biến tính và tha hóa của nhiều phẩm chất khiến cho các tác phẩm trở nên chân thật và sống động hơn, v.v… Trong xu thế ấy, con người đời thường đi vào tác phẩm hiển hiện như lẽ đương nhiên…
Cái nhìn nghệ thuật về con người sẽ chi phối đến việc lựa chọn, tìm kiếm nhân vật của nhà văn Có thể thấy, tương ứng với sự đa dạng trong cách nhìn nhận con người và đời sống, xu hướng tìm kiếm nhân vật của các nhà văn đương đại cũng khá phong phú Xu hướng viết về nhân vật người lính thời hậu chiến tiếp tục thu hút nhiều nhà văn như Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Lê Minh Khuê, Trung Trung Đỉnh, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Đình Tú, Lý Lan, Lê Lan Anh, Kim Quyên, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Thuần, Huỳnh Trọng Khang, v.v…
Trang 29Xu hướng viết về nhân vật lịch sử không thể không nhắc tới Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Sương Nguyệt Minh, v.v… Xu hướng viết về nhân vật trí thức trong đời sống đương đại phải kể đến sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thị Trường,
Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Lý Lan,Nguyễn Bình Phương, v.v Và xu hướng viết về nhân vật thị dân, công chức có lẽ được nhiều nhà văn, nhất là những nhà văn trẻ, quan tâm hơn cả, như Đỗ Bích Thủy, Nguyễn Ngọc Thuần, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Nguyễn Quỳnh Trang, Phạm Thị Điệp Giang, Nguyễn Thị Cẩm, Chu Quỳnh Anh, Ngọc Cầm Dương, v.v… Nhìn chung, các kiểu nhân vật, dù là nhân vật người lính hay nhân vật lịch sử,… đều đã được “đời thường hóa” Nhân vật được khắc họa đa chiều hơn với cá tính riêng, gắn với số phận đời tư, với những khuất lấp khiếm khuyết…
Cùng quan tâm đến con người đời thường, cái nhìn và xu hướng tìm kiếm nhân vật của Nguyễn Trí vừa có nét kế thừa truyền thống vừa tạo được nét khác lạ trong làng văn xuôi đương đại Từ những trải nghiệm sống của bản thân, với quan niệm viết văn để trải lòng, cùng cái nhìn chân thật và đôn hậu nhất về con người và cuộc đời, Nguyễn Trí có xu hướng tìm kiếm và khai thác thế giới nhân vật người lao động Hình ảnh những người thợ đào vàng, nhân vật giang hồ, dân nghèo thành thị, ma cô, đĩ điếm, lần lượt xuất hiện trong nhiều tác phẩm Đây là thế giới nhân vật chủ đạo trong sáng tác của ông Những người lao động khổ cực gắn với kiếp mưu sinh nhọc nhằn như
Thành trong Bãi vàng, Minh Tàn trong Giã từ vàng, Thu Râu trong Đá quý,
Hoặc những nhân vật phụ nữ có số phận bất hạnh luôn luôn khát khao được
sống hạnh phúc bên chồng con như Phụng trong Nín lặng khóc, Dung trong
Bãi vàng, Linh trong Chẳng có gì là bất thường, Đó là thế giới của những
con người cùngđinh dưới đáy xã hội Ông viết về họ cũng là viết về chính
Trang 30mình Nguyễn Trí từng chia sẻ: “Tôi đã nghèo và nay vẫn nghèo, tôi sinh sống, viết lách giữa những người lao động, tôi yêu mến họ như họ yêu mến tôi Nên đó cũng là niềm tự hào với bản thân tôi Nếu cất tiếng nói của những người lao động cùng khổ nhất mà đánh động được lương tri của người khác tôi cũng vui và có thêm động lực”[30]
Tất nhiên, viết về tầng lớp người lao động dưới đáy xã hội không phải
là đề tài mới Đầu thế kỷ XX, văn xuôi Việt Nam đã có không ít tác giả thành danh với đề tài này, như Thạch Lam, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,… Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại gấp gáp ngày nay, trong một môi trường hội nhập rộng mở với sự ảnh hưởng ào ạt của nhiều trào lưu, lí thuyết văn hóa, văn học mới cùng nhiều khuynh hướng thẩm mĩ phức tạp, xu thế thích đào sâu vào những đề tài bí ẩn, gây sốc chạy theo thị hiếu xã hội đã lôi cuốn không ít nhà văn Giữa bối cảnh ấy, Nguyễn Trí vẫn tiếp tục dòng mạch văn chương truyền thống, viết về con người dưới đáy, nhưng trong một bối cảnh mới (bối cảnh xã hội hiện đại) và với một cách viết mới, riêng biệt và độc đáo
Trang 31Chương 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬTTRONG VĂN XUÔI NGUYỄN TRÍ
2.1 Tiêu chí phân loại các kiểu nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên để thể hiện nhận thức của mình về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật văn học phổ biến nhất là con người, có thể có tên (như Thúy Kiều, Kim Trọng, Thị Nở, Chí Phèo, ), có thể không tên (như viên quan, thằng bán tơ, ), hay có khi chỉ được gọi bằng một đại từ nhân xưng nào đó (y, thị, hắn,
nó, tôi, mình, ta,…) Nhân vật văn học cũng có thể là đồ vật, loài vật, thần linh, ma quỉ,… nhưng đều được gán cho những phẩm chất người hoặc có liên quan đến cuộc đời, số phận của con người
Giữa con người trong tác phẩm văn học và con người có thật trong đời sống thống nhất nhưng không đồng nhất Bởi nhân vật văn học thường được xây dựng từ những nguyên mẫu ngoài đời, có khi là từ những điển hình xã hội, nhưng nó được xây dựng qua trí tưởng tượng, sáng tạo và tài năng của người nghệ sĩ, phục vụ cho dụng ý nghệ thuật của mình, mang phong cách riêng của mình Vì vậy, nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ Đó không phải là sự sao lưu đầy đủ mọi biểu hiện của con người trong đời sống, nhưng qua một số đặc điểm về tính cách, tiểu sử, nghề nghiệp, chúng ta có thể nhận dạng được kiểu/loại con người mà nhà văn muốn khái quát
Khác với nhân vật trong các loại hình nghệ thuật khác (sân khấu, điện ảnh, hội họa, điêu khắc,…), nhân vật trong tác phẩm văn học được thể hiện bằng chất liệu đặc thù là ngôn từ Vì vậy, “nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để nắm bắt một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó”[4]
Trang 32Đối tượng phản ánh trung tâm của văn học chính là con người Nhân vật văn học, do đó, luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Một tác phẩm văn học được tạo tác từ nhiều yếu tố, trong đó, cái quyết định chất lượng tác phẩm chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài
đã có lí khi cho rằng: “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”
Nhân vật chính là linh hồn của một tác phẩm, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực Nói cách khác, thông qua việc sáng tạo và xây dựng nhân vật, nhà văn muốn gửi gắm và thể hiện nhận thức của mình về con người cũng như bản chất và các quy luật xã hội Việc khắc họa sinh động, sắc nét hình tượng nhân vật sẽ tạo nên chiều sâu, giá trị cho tác phẩm văn học Là kết quả của quá trình khám phá, chiêm nghiệm và sáng tạo của nhà văn, nhân vật văn học luôn mang dấu ấn cá nhân của tác giả Vì thế, tìm hiểu nhân vật giúp chúng ta nhận diện được tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Có nhiều cách phân chia kiểu/loại nhân vật tùy thuộc vào từng góc độ, tiêu chí khác nhau Nhìn chung có mấy hướng phân chia cơ bản:
- Căn cứ vào chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ
- Căn cứ vào đặc điểm tính cách và sự đánh giá, thể hiện lý tưởng xã hội của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện
- Căn cứ vào đặc điểm thể loại, chúng ta có các kiểu nhân vật: nhân vật
tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch
Trang 33- Từ góc độ loại hình, có thể có nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, v.v
Tất nhiên, các cách phân chia này rất đa dạng và chỉ mang tính chất tương đối
Nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí, chúng tôi lựa chọn phân loại nhân vật từ góc độ “loại hình” Loại hình, hiểu một cách đơn giản nhất, là sự tập hợp tất cả những sự vật, hiện tượng có chung những đặc điểm nhất định nào đó đã được hình thành ổn định, lâu dài trong lịch sử Còn khái niệm “nhân vật loại hình” (personaj-tip, tiếng Nga), theo định
nghĩa của Từ điển Wiki (Bách khoa toàn thư mở), “là nhân vật thể hiện tập
trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con người; hoặc các phẩm chất, tính cách, đạo đức của một loại người nhất định của một thời đại” [65]
Ví dụ, các nhân vật của Mô-li-e như Ác-pa-gông thể hiện tập trung thói keo kiệt, Tác-tuýp thể hiện thói đạo đức giả và ông Giuốc-đanh là hiện thân cho thói phù phiếm, hiếu danh của gã tư sản muốn làm quý tộc Hạt nhân của nhân vật loại hình là yếu tố loại Với ý nghĩa ấy, các nhân vật người chiến sĩ, người cán bộ, người nông dân, người công nhân trong văn học cách mạng
Việt Nam trước 1975 như Sản, Kha, Độ (Nguyễn Đình Thi, Xung kích), Kinh, Lữ (Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính), A Châu (Tô Hoài, Vợ
chồng A Phủ), Cầm, Thế (Nguyên Ngọc, Đất nước đứng lên), Tuấn (Võ Huy
Tâm, Vùng mỏ), Tuy Kiền (Nguyễn Khải, Tầm nhìn xa) đều là những nhân
vật loại hình
Thông qua việc khảo sát trên 78 tập truyện ngắn, 02 tiểu thuyết, 01 truyện dài và 01 tự truyện của nhà văn Nguyễn Trí, chúng tôi nhận thấy thế giới nhân vật của ông có thể chia ra các kiểu/loại nhân vật đại diện/thể hiện tập trung cho những phẩm chất, tính cách hay đặc điểm số phận nhất định nào
đó Cách phân chia này, theo chúng tôi, khá hợp lí, vì:
Trang 34Thứ nhất, việc phân loại nhân vật từ góc độ loại hình giúp chúng tôi
có một góc nhìn mới, riêng biệt so với một số nghiên cứu trước đó về Nguyễn Trí (xem xét nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí từ góc độ đạo đức, góc độ “giới”, v.v…)
Thứ hai, nhìn từ góc độ loại hình, cho phép chúng tôi nhận diện được đặc điểm tính cách, số phận của thế giới nhân vật dưới đáy đồng, thời cách nhìn này cũng khá phù hợp để lí giải quan niệm về con người và thế giới của Nguyễn Trí
Thứ ba, loại hình nhân vật cũng được nhìn nhận như một phạm trù thuộc về thi pháp học
Cụ thể, phân chia nhân vật từ góc độ này, chúng tôi có: Các kiểu nhân
vật trong cảm quan hiện thực của nhà văn (gồm kiểu nhân vật dưới đáy,
kiểu nhân vật giang hồ, kiểu nhân vật nữ có số phận bất hạnh) và kiểu nhân
vật tôi - hình tượng tác giả Cách phân loại này mang tính tương đối, vì thực
ra một nhân vật nhiều khi mang đặc điểm của cả hai loại hình nhân vật Ví dụ: nhân vật giang hồ phu bãi cũng thuộc tầnglớp con người dưới đáy… Sự chia tách này, vì thế, chỉ nhằm nhận diện những đặc điểm trội của từng kiểu/nhóm nhân vật
2.2 Các kiểu nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Trí
2.2.1 Các kiểu nhân vật trong cảm quan hiện thực của nhà văn
2.2.1.1.Kiểu nhân vật “dưới đáy”
Con người “dưới đáy” là kiểu nhân vật đặc trưng trong sáng tác của Nguyễn Trí.Đó là những người lao động khốn khổ dưới đáy cùng của xã hội
mà Nguyễn Trí đã từng gặp gỡ, quan sát Đó cũng chính là hiện thân của tác giả Nói cách khác, kiểu nhân vật này được xây dựng dựa trên chất liệu từ chính cuộc đời từng trải của tác giả.Vì thế, ông viết về họ bằng cái nhìn của chính người trong cuộc Và khi viết về họ, ông luôn dành vị trí trung tâm
Trang 35trong thế giới nhân vật đông đúc của mình Những người lao động khốnkhó bị cái nghèo, cái đói đeo bám dai dẳng buộc phải đi làm thuê để kiếm miếng cơm, manh áo cho vợ con Họ làm đủ mọi nghề màvẫn không đủ sống: chạy
xe ôm, làm công nhân trong các khu công nghiệp, làm ruộng, làm đồ tể, đốt than, bán củi, nấu rượu, bán vé số…Không gian sống của họ hết sức tạm bợ Không có nhà cửa để nương thân, không có quê hương, họ phải tha phương cầu thực, sống trong những căn chòi tạm bợ, trong căn nhà lá ọp ẹp cũ mèm, những phòng trọ tối tăm bẩn thỉu ngập ngụa trong rác thải bên cạnh những kẻ
xì ke, nghiện ngập… Hoàn cảnh sống của người lao động bỉ đẩy đến tột cùng của bi đát, số phận con người dưới đáy bị đẩy đến tột cùng mong manh Ở bên bờ vực của nghèo đói, tối tăm, chết chóc,… con người “dưới đáy” trong sáng tác của Nguyễn Trí đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã: hoặc bị tha hóa, biến chất; hoặc cam chịu số phận, đánh vật mưu sinh với một với một khát vọng sống mãnh liệt
Diệp trong truyện Trại viên cũ quay lại đông lắm là nhân vật điển hình
đại diện cho những cô gái chân quê lên thành phố mưu sinh, bị sa chân vào con đường nghiện ngập, tù tội Bị người yêu phụ tình, Diệp chán chường bỏ học đi làm công nhân, cuộc đời từ đây rẽ sang một ngả khác Diệp tận dụng
ưu thế về nhan sắc, nhanh chóng dành được vị trí cao trong công ty Trong môi trường mới, tính cách Diệp dần biến đổi Tận dụng vị trí công việc của mình, Diệp ngày càng thông thạo các mánh khóe lừa lọc, ăn chia Chỉ trong một thời gian ngắn, từ một cô gái quê thất tình, Diệp lên đời, xinh đẹp, biết bao ánh mắt thèm muốn Đó là lần thứ nhất Diệp bị biến chất Lần thứ hai, sau khi bị đuổi việc chính thức vì vụ đánh ghen của thằng dân chơi xóm trọ say Diệp như điếu đổ, Diệp bị đẩy đến đỉnh cao của sự tha hóa Bằng lòng cặp
kè với “thằng dân chơi xóm trọ”, Diệp được “dẫn dắt” vào các thú vui chơi của hội nhà giàu ở phố, mà đỉnh điểm là trò hít heroin Cuối cùng, người tình
Trang 36bị bắt và ngồi tù “bóc lịch” vì tội phân phối thuốc lắc và hàng trắng “Diệp rơi vào con đường nghiện ngập, bị đuổi khỏi xóm trọ, đi làm cà phê ôm, thậm chí làm gái đứng đường đón khách, và kết thúc chuỗi hành trình phiêu dạt ở trại cai nghiện Câu chuyện kết thúc bằng những lời trải lòng đầynhức nhối của nhân vật: “ai cũng bảo lần này là lần cuối nhưng không bao giờ kết thúc khi dính vô ma tuý Người tái nghiện nhiều hơn người mới nghiện chú à Từ ngày cháu vô đây thấy trại viên cũ quay lại đông lắm Chắc cháu cũng…”[53, tr.307] Thực tế nghiệt ngã này xoáy vào lòng người đọc nỗi ám ảnh: Biết đâu
cô cũng sẽ là trong số trại viên quay lại lần nữa? Cuộc đời như thế này biết bao giờ kết thúc?Câu chuyện gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay về đạo đức, về lối sống, đồng thờithức tỉnh trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với những người trót sa chân vào con đường tội lỗi
Gần như thế giới nhân vật dưới đáy trong các tác phẩm của Nguyễn Trí
ít ai có đời sống an lành, bằng phẳng Dường như hiện thực xô bồ, nghiệt ngã, lắm cạm bẫy của đời sống hiện đại chỉ chực nhấn chìm con người xuống hố đau thương Và con người luôn phải đánh vật với khó khăn để tồn tại Trong
số đó, có những người không thể giữ được mình, trở nên tha hóa, biến chất như Diệp, Ánh Loan,… Nhưng cũng có những người bền bỉ vươn lên, khát khao hướng tới cái thiện Giữa muôn nghìn cạm bẫy, họ vẫn giữ được nhân phẩm, niềm tin, lương tri của mình
Tiêu biểu nhất cho dạng nhân vật dưới đáy với nghị lực vươn lên và khát khao hướng thiện này là chùm truyện viết về cuộc đời của những kẻ tìm trầm, đãi vàng, đào đá quý Rừng thiêng nước độc, xảo quyệt gian manh, đâm chém tranh giành… ở các bến bãi giang hồ có lẽ là thử thách lớn nhất dành
cho con người Câu chuyện Trầm hương nói về những kẻ liều mình đi tìm
trầm mưu sinh như Ba Thùy, Dũng Đen, Phi Long, Ngọc Để tồn tại với nghề, những phu trầm trước hết phải giỏi võ Công cuộc tìm trầm thực sự là một
Trang 37cuộc chiến sinh tử Đi tìm trầm là “đi để đối diện sự chết rất hiếm hoi kẻ ngậm ngải tìm trầm được phước”[53, tr.133] Lấy được trầm đã khó, giữ được trầm còn khó gấp vạn lần Để tìm được trầm, phu trầm phải băng đèo, vượt suối nên chuyện bị tai nạn khi băng ghềnh thác sẩy chân rơi xuống vực là chuyện bình thường, chưa kể có khi bị rắn cắn, heo húc: “Đã lên rừng - rừng cao - phản xạ không nhanh, tai mắt không tinh tường có thể bỏ thây cho cao xanh Thâm u có vạn nghìn hiểm nguy không lường nổi Hùm, beo, rắn, rết luôn chực chờ trên lối đi qua ”[53, tr.130] Trên đường về, phu trầm phải cảnh giác với bọn cướp rừng Bọn chúng thường nhảy ra cướp ngang hoặc xin đểu Những phu không có kinh nghiệm còn thường bị bọn Tào Khê cò kè ép giá, Nghề tìm trầm mang lại cơm áo gạo tiền nhưng đầy rẫy những bất trắc, hiểm nguy hiện lên ngay trước mắt Muốn có cái ăn, cái mặc, muốn phụ giúp gia đình những con người ấy đều phải gồng mình lên để chiến đấu, để làm việc, biết rằng cái giá phải trả cho cuộc mưu sinh là rất đắt, thậm chí họ có thể
đánh đổi cả mạng sống Cái chết của Phi Long trong Trầm hương gây đau
đớn, xót thương đối với người đọc: “Phi Long đang vắt trên bờ suối Kế bên
là một con rắn hổ mang đang phồng mang, cái đầulắc lư nghênh chiến… Cả
ba lật xác của đồng đội lên Thằng bốn đứa con gái, vợ đang mang bầu đứa thứ năm đã chết.” [53, tr.149].Hiện thực khốc liệt này một mặt phản ánh thảm trạng của những người cùng đinh “bị gạt bên lề” của xã hội hiện đại, mặt khác cũng cho thấy những nỗ lực vươn lên đến mức liều lĩnh ở con người Trong môi trường nghiệt ngã, họ buộc phải can đảm và liều lĩnh mới có thể tồn tại
Sự dấn thân bản lĩnh ấy biểu thị mạnh mẽ một khát vọng sống không bao giờ dừng của con người
Câu chuyện về nhân vật Thu Râu trong Đá quý lại đưa đến một góc
nhìn khác của sự hướng thiện ở những người lao động Ngay từ phần giới thiệu, Thu Râu đã hiện rõ là một hảo hán trọng tình người Hắn là một phu đá
Trang 38quý, thấy hoàn cảnh hai vợ chồng thằng bạn bi quá, đứng ra nhận tội ăn cắp cái đầu máy may, vậy là hắn lãnh bản án tù ba năm bốn tháng trong trại cải tạo Kim Sơn
Khi đã thành tay anh chị ở bến bãi, dù là một “trưởng mâm” vai u thịt bắp, lực lưỡng, giỏi võ nghệ và sẵn sàng hơn thua với những gian manh nơi núi rừng thâm u, hắn vẫn giữ được phẩm tính của mình Hắn động lòng thương trước hoàn cảnh của Sáu Râu Vợ Sáu bụng to đến tháng đẻ mà trong nhà chưa có cái tã, cục than Lúc này, dù biết Sáu Râu là thủ phạm nuốt viên
đá quí vào bụng - vốn là niềm hi vọng đổi đời của năm phu còn lại - Thu cũng không hề trách.Chứng kiến cảnh tượng “bà xã Sáu tha cái bụng lặc lè, đi mua mồi nhậu cho chồng mà tội nghiệp” Cơn giận của hắn tiêu tan: “Giận làm gì? Cùng đường người ta mới làm việc trái lương tâm” [53, tr.111] Thu Râu còn chia phần tiền cho Sáu, bởi một suy nghĩ nghĩ giản đơn nhưng sâu sắc:“chỉ tại cái nghèokhiến con người ta sinh ta túng quẫn” Ai bảo giang hồ chỉ có máu lạnh Tình người, sự hy sinh cho người khác trong hoàn cảnh khốn cùng ở Sáu Râu là điểm sáng nhân cách khó tìm trong cuộc đời đầy gian manh, nghiệt ngã này
Truyện Đồ tể đã cho chúng ta một cái nhìn tiêu biểu của Nguyễn Trí về
người lao động có khao khát hướng thiện Nàng tiểu thư bỏ cả gia đình sắp sang Mỹ sinh sống, quyết định ở lại với Châu - một trai nghèo thứ thiệt Lấy nhau xong, vợ chồng Châu “lôi nhau vô Tà Rua”, dựng tạm cái lều tranh,
“trong đó có hai tim, chả vàng vọt gì nhưng cũng tàm tạm gọi là hạnh phúc” [54, tr.15] Bôn ba nhiều nơi rừng thiêng nước động kiếm miếng ăn nuôi vợ con, Châu đổ bệnh Vợ Châu phải bán nhà lấy tiền đưa Châu vào viện, cắt bỏ chỗ gan bị hư Con gái chỉ mới tám tuổi đã phải bỏ học giữa chừng, đi trông con cho nhà giàu… Bệnh hết cũng là lúc tiền hết Gia đình Châu hết dắt díu nhau về quê rồi lại tha phương cầu thực Được bạn bè giúp đỡ, vợ chồng anh
Trang 39có chỗ tá túc tạm trong cái chòi dưới ruộng “Đó là một đêm tương đối gọi là
bi thiết trong đời vợ chồng Châu Mưa Cha mẹ ơi Mưa và gió nữa mới khủng khiếp Những ai ở miền Đông ắt phải biết những cơn mưa đầu mùa vô cùng cuồng bạo Gió thổi bốn phương tám hướng Nhà kín mít mà gió còn luồn vô hành hạ gia chủ nói chi thông thống như cái chòi Châu ngụ Hai vợi chồng phải lấy đệm che cho ba đứa con Gió hướng nào họ che hướng đó Ôi
là trái tim của bậc làm cha mẹ Ba đứa con ngủ say đến độ không biết mưa gió
đi qua Sau cơn mưa, Châu ôm vợ vào lòng, cả hai cùng cảm nhận sâu thật sâu, sắc thật sắc tình yêu của họ”[54, tr.19].Túng quẫn, đói rách không thể giết chết tình yêu, nghị lực sống ở những người nghèo khổ Câu chuyện không mang dư vị mùi mẫn, lãng mạn Chính tình nghĩa vợ chồng sâu nặng trong hoàn cảnh khốn cùng đã khỏa lấp những bạo tàn của nghề đồ tể
Nghề đồ tể ở quán tiết canh của Thuỷ là cái nghề mà “ai cũng ngán” Nhưng Châu liều mạng làm tất cả miễn có tiền nuôi sống gia đình “Khi cùng đường cái gì người ta cũng làm được tất, trước một đối thủ nặng cân là đói, ba cái tàu há mồm và một bà xã ốm o gầy mòn anh không gan cũng phải gan Bẩn thỉu không chết, chỉ có đói mới chết” [54, tr.19].Triết lí của Châu vừa là đúc rút từ những trải nghiệm xót xa, vừa cho thấy nghị lực vươn lên kiên cường Trong tận cùng đau thương, con người vẫn luôn đấu tranh để tồn tại, vẫn không ngừng hi vọng, vẫn bền bỉ sống và yêu…
2.2.1.2 Kiểu nhân vật giang hồ
Trong thế giới con người dưới đáy, Nguyễn Trí đặc biệt dành sự quan tâm tới kiểu nhân vật giang hồ Kiểu nhân vật này xuất hiện phổ biến ở hầu khắp các tác phẩm, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết và cả tự truyện nữa Kiểu nhân vật giang hồ chiếm số lượng khá đông và nhìn chung được chia thành hai tuyến: kiểu nhân vật giang hồ đầu gấu, đại ca và kiểu nhân vật giang hồ hảo hán
Trang 40Đầu gấu, đại ca cũng là dân giang hồ nhưng loại nhân vật này thích làm
vương, làm tướng, thống trị đàn em và nhân cách bị tha hóa Ngay từ đầu Bãi
vàng, Nguyễn Trí đã đề cập đến kiểu giang hồ này: “Đàn anh trong bãi được
chia làm hai loại Hai loại nhưng một hạng - hạng một Loại thứ nhất là đàn anh địa phương Tất nhiên rồi, đất anh, nhà anh, ai dám cha chú? Loại thứ hai là đàn anh không bến không bờ Loại nầy bí hiểm như ma trơi”[53, tr.8-9].Loại nhân vật này hiện diện khá đông ở các bến bãi: Dũng Inh, Sơn Hí, Ngọc Lùn, Năm Phụng Hoàng, v… Ỉ thế cậy đông, cậy mạnh, các đại ca bến bãi rất ngang ngược, hống hách Ai mới đến bãi vàng kiếm ăn cũng bị ăn bạt tai, và phải biết điều quỳ gối Đấy là luật lệ nhập tục của giới giang hồ
“Giang hồ địa phương vỗ ngực xưng danh, phủ đầu yếu thế để trấn lột” [53, tr.13] Nhưng loại đầu gấu, đại ca này cũng dễ dàng bị khuất phục trước
những giang hồ hảo hán Thành bụi trong Bãi vàng không hề sợ hãi trước Đào
Ba Lan Khi Thành Bụi mới đến sinh nghiệp tại bãi vàng, không chịu khuất phục Đào Ba Lan, hắn lập tức lao vào đánh Thành Bụi như một con ma men Nhưng ngay sau đó, Thành Bụi đã hạ gục được đối thủ Đào Ba Lan “ngã ngửa ra sân, mặt nhăn nhó vì đau đớn, sau ồ là im phắt”[53, tr.14], không dám lên tiếng chống lại Thành Bụi
Bên cạnh nhân vật giang hồ đầu gấu, đại ca là kiểu nhân vật giang hồ hảo hán Trong thế giới những con người dưới đáy, “hảo hán giang hồ” là hình tượng nhân vật trung tâm, thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Trí
Ngay ở tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương - tập truyện thể hiện tập
trung phong cách nghệ thuật của tác giả - nhân vật giang hồ hảo hán xuất hiện khá đông đảo, và gần như mỗi tác phẩm sẽ được dẫn dắt bởi câu chuyện về
cuộc đời của một nhân vật hảo hán đóng vai trò chủ đạo, như là Minh tàn (Bãi
vàng), Lâm Đồng Nai (Giã Từ Vàng), Thu Râu (Đá quý), Ba Thùy, Dũng
Đen, Phi Long (Trầm hương), v.v